1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài tập hỗ trợ phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh lớp 2 trong giờ Kể chuyện (Luận văn thạc sĩ)

104 759 10

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 2,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài tập hỗ trợ phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh lớp 2 trong giờ Kể chuyện (Luận văn thạc sĩ)Bài tập hỗ trợ phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh lớp 2 trong giờ Kể chuyện (Luận văn thạc sĩ)Bài tập hỗ trợ phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh lớp 2 trong giờ Kể chuyện (Luận văn thạc sĩ)Bài tập hỗ trợ phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh lớp 2 trong giờ Kể chuyện (Luận văn thạc sĩ)Bài tập hỗ trợ phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh lớp 2 trong giờ Kể chuyện (Luận văn thạc sĩ)Bài tập hỗ trợ phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh lớp 2 trong giờ Kể chuyện (Luận văn thạc sĩ)Bài tập hỗ trợ phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh lớp 2 trong giờ Kể chuyện (Luận văn thạc sĩ)Bài tập hỗ trợ phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh lớp 2 trong giờ Kể chuyện (Luận văn thạc sĩ)Bài tập hỗ trợ phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh lớp 2 trong giờ Kể chuyện (Luận văn thạc sĩ)

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Dương Thị Ngọc Giàu

BÀI TẬP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP

CHO HỌC SINH LỚP 2 TRONG GIỜ KỂ CHUYỆN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Dương Thị Ngọc Giàu

BÀI TẬP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP

CHO HỌC SINH LỚP 2 TRONG GIỜ KỂ CHUYỆN

Chuyên ngành: Giáo dục học (Giáo dục tiểu học)

Mã số : 60 14 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS.NGUYỄN THỊ LY KHA

Thành phố Hồ Chí Minh – 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn: “Bài tập hỗ trợ phát triển năng lực giao tiếp cho

HS lớp 2 trong giờ Kể chuyện” là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện

Các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực,

có dẫn trích nguồn rõ ràng và chưa được công bố trong công trình nghiên cứu nào khác

TP.HCM, ngày tháng năm 2017

Người viết

Dương Thị Ngọc Giàu

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Không có bước tiến nào trong học tập mà không gắn liền với những hỗ trợ,

sự giúp đỡ của quý Thầy Cô Xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sự kính trọng đến PGS.TS Nguyễn Thị Ly Kha Cô là người hướng dẫn khoa học cho luận văn của tôi Xin chân thành cảm ơn và tỏ lòng tri ân về tất cả sự nhiệt tình, tận tâm hướng dẫn của cô trong suốt quá trình tôi thực hiện luận văn

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Trường Đại học Sư phạm Tp.HCM, Phòng Sau Đại học, Khoa Giáo dục TH của trường và toàn thể giảng viên giảng dạy khoá Cao học Giáo dục học (TH) K26 đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận văn

Xin cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy cô giáo và các em HS trườngTH Tam Bình 2, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang đã tham gia hợp tác trong quá trình khảo sát, dạy thực nghiệm đề tài tại nhà trường

Xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến bạn Đỗ Thị Mỹ Lệ, Đoàn Văn Hiếu cùng tập thể lớp Cao học Giáo dục TH, khoá 26 trường ĐHSPTPHCM- TG đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn

TP.HCM, ngày tháng năm 2017

Người viết

Dương Thị Ngọc Giàu

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các hình

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP CHO HỌC SINH LỚP 2 QUA GIỜ KỂ CHUYỆN 10

1.1 Một số khái niệm công cụ 10

1.2 Lý thuyết hội thoại và hoạt động giao tiếp 12

1.2.1 Khái niệm về hội thoại 13

1.2.2 Các loại hội thoại 13

1.2.3 Các nhân tố hội thoại bao gồm 14

1.2.4 Hoạt động giao tiếp 14

1.3 Đặc điểm tâm lí nhận thức, ngôn ngữ của học sinh lớp 2 15

1.3.1 Đặc điểm về tâm lí nhận thức 15

1.3.2 Đặc điểm về ngôn ngữ 16

1.4 Giáo dục và phát triển ngôn ngữ giao tiếp cho học sinh lớp 2 16

1.4.1 Quan điểm giao tiếp trong dạy học Tiếng Việt cho học sinh tiểu học 16

1.4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình Giáo dục năng lực giao tiếp cho học sinh lớp 2 17

Chương 2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP CHO HỌC SINH LỚP 2 QUA GIỜ KỂ CHUYỆN 20

2.1 Chương trình, tài liệu dạy học phân môn Kể chuyện ở tiểu học và việc rèn kĩ năng giao tiếp cho học sinh tiểu học 20

2.1.1 Chương trình 20

2.1.2 Tài liệu, phương tiện dạy học trong môn Kể chuyện 22

Trang 6

2.2 Thực trạng biểu hiện năng lực giao tiếp của học sinh lớp 2 trong giờ Kể

chuyện 24

2.2.1 Thực trạng nhận thức của học sinh về sự yêu thích các môn học 24

2.2.2 Thực trạng biểu hiện năng lực giao tiếp của học sinh lớp 2 26

2.2.3 Thực trạng giảng dạy đánh giá của giáo viên, phụ huynh học sinh về phát triển năng lực giao tiếp của học sinh 29

2.3 Vấn đề Giáo dục giao tiếp 34

Tiểu kết chương 2 35

Chương 3 THIẾT KẾ BÀI TẬP HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP CHO HỌC SINH LỚP 2 QUA GIỜ KỂ CHUYỆN 36

3.1 Các nguyên tắc xây dựng bài tập 36

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính phù hợp mục tiêu chương trình 36

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 36

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức 36

3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo quan điểm giao tiếp trong dạy học Tiếng Việt 37

3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi, thiết thực, hiệu quả 37

3.2 Quy trình, phương pháp xây dựng bài tập 37

3.2.1 Quy trình xây dựng bài tập 37

3.2.2 Phương pháp xây dựng bài tập 38

3.3 Một số bài tập hỗ trợ phát triển năng lực giao tiếp qua giờ Kể chuyện 38

3.3.1 Nhóm bài tập rèn luyện năng lực quan sát, năng lực lắng nghe qua kiểu bài tập nhận diện cấu trúc bài Kể chuyện 38

3.3.2 Nhóm bài tập rèn luyện năng lực phản hồi thông tin, năng lực tạo lập mối quan hệ qua kiểu bài nhận diện các nhân tố giao tiếp 41

3.3.3 Nhóm bài tập rèn luyện năng lực chia sẻ thông tin, năng lực giải quyết mâu thuẫn qua kiểu bài khắc phục lỗi sai 43

3.3.4 Nhóm bài tập tích hợp rèn luyện các năng lực giao tiếp qua kiểu bài tập vận dụng 46

3.4 Phạm vi sử dụng bài tập hỗ trợ phát triển năng lực giao tiếp qua giờ Kể chuyện 49

Trang 7

3.4.1 Trong giờ học chính khóa 49

3.4.2 Trong hoạt động ngoại khóa về kể chuyện cho HSTH 49

3.5 Tài liệu, phương tiện dạy học trong giờ Kể chuyện 50

Tiểu kết chương 3 51

Chương 4 THỰC NGHIỆM BÀI TẬP HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP CHO HỌC SINH LỚP 2 QUA GIỜ KỂ CHUYỆN 52

4.1 Chọn mẫu thực nghiệm 52

4.1.1 Cách thức chọn đối tượng thực nghiệm 52

4.1.2 Mô tả mẫu 52

4.2 Công cụ khảo sát và đánh giá: 52

4.3 Tổ chức thực nghiệm 53

4.3.1 Nguyên tắc thực nghiệm 53

4.3.2 Phương pháp thực nghiệm 54

4.3.3 Quy trình thực nghiệm 54

4.4 Kết quả thực nghiệm và phân tích kết quả 54

4.4.1 Kết quả và phân tích kết quả thực nghiệm qua bài làm của học sinh 54

4.4.2 Khảo sát ý kiến sau thực nghiệm 58

4.5 Tiểu kết chương 4 60

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 61

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 64

TÀI LIỆU THAM KHẢO 65 PHỤ LỤC

Trang 8

Giáo dục & ĐT Giáo dục và Đào tạo

SGiáo dục &ĐT Sở Giáo dục và Đào tạo

Giáo dục PT Giáo dục phổ thông

Giáo dục TH Giáo dục Tiểu học

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Phân phối chương trình – lịch trình dạy học Kể chuyện lớp 2 21

Bảng 2.2 Nhận thức của học sinh lớp 2 về các môn học yêu thích 25

Bảng 2.3 Nhận thức của học sinh lớp 2 về các phân môn của Tiếng Việt 25

Bảng 2.4 Lý do yêu thích học các môn học của HS lớp 2 26

Bảng 2.5 Nhận thức của học sinh lớp 2 về các năng lực giao tiếp 26

Bảng 2.6 Phương pháp giảng dạy mà giáo viên thường sự dụng nhằm phát triển năng lực giao tiếp của học sinh 30

Bảng 2.7 Biểu hiện của học sinh về năng lực giao tiếp 33

Bảng 4.1 Kết quả kiểm tra của nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm qua phiếu bài tập 1 54

Bảng 4.2 Kết quả kiểm tra của nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm qua phiếu bài tập 2 56

Bảng 4.3 So sánh kết quả kiểm tra của nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm qua 2 lần thực nghiệm 57

Bảng 4.4 Ý kiến của Ban giám hiệu và giáo viên về dạy học có sử dụng bài tập phát triển năng lực giao tiếp 58

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1 Biểu đồ nhận thức của GV về tầm quan trọng của việc phát triển

NLGT cho HS 29 Hình 4.1 Biểu đồ thể hiện kết quả kiểm tra của nhóm đối chứng và nhóm thực

nghiệm qua phiếu bài tập 1 55 Hình 4.2 Biểu đồ thể hiện kết quả kiểm tra của nhóm đối chứng và nhóm thực

nghiệm qua phiếu bài tập 2 56 Hình 4.3 Biểu đồ so sánh kết quả kiểm tra của nhóm đối chứng và nhóm thực

nghiệm qua 2 lần thực nghiệm 57 Hình 4.4 Biểu đồ thể hiện ý kiến của Ban giám hiệu và GV về dạy học có sử

dụng bài tập phát triển năng lực giao tiếp 59

Trang 11

sử, biến nó thành cái riêng của mình, đồng thời cũng góp phần vào sự phát triển văn hoá chung Xã hội phát triển, khoa học kỹ thuật càng hiện đại càng ảnh hưởng đến hành vi, sự suy nghĩ và cuộc sống con người nên mối quan hệ giữa con người với con người càng được quan tâm, vì thế giao tiếp được xem là vấn đề thời sự trong nhiều lĩnh vực, nhất là những lĩnh vực làm việc trực tiếp với con người như Giáo dục, dạy học, ngoại giao… Ngày nay giao tiếp là phương tiện để con người hợp tác cùng nhau, hướng tới mục đích bình đẳng, hạnh phúc Nhu cầu giao tiếp là nhu cầu quan trọng của con người Giao tiếp là một hoạt động không thể thiếu trong cuộc sống con người Khuynh hướng nghiên cứu ngôn ngữ học hiện đại là ngữ dụng học và lí thuyết về năng lực giao tiếp ngôn ngữ cùng với một số lí thuyết về học tập đã góp phần phát triển trào lưu dạy tiếng theo cách tiếp cận giao tiếp trên thế giới Tiếng Việt cũng là một ngôn ngữ với chức năng chủ yếu là giao tiếp Do đó, nguyên tắc hướng vào hoạt động giao tiếp được xem là nguyên tắc quan trọng hàng đầu trong quá trình dạy học Tiếng Việt ở TH

Nguyên tắc hướng vào hoạt động giao tiếp trong dạy học Tiếng Việt trước hết bắt nguồn từ mục tiêu và tính chất của chương trình môn Tiếng Việt ở TH Mục tiêu tổng quát của chương trình là phát triển năng lực sử dụng Tiếng Việt trong giao tiếp và học tập cho HS Năng lực sử dụng ngôn ngữ còn gọi là năng lực giao tiếp Tính chất

cơ bản của môn Tiếng Việt ở TH là tính chất thực hành kĩ năng ngôn ngữ, kĩ năng giao tiếp

Bồi dưỡng năng lực giao tiếp cho HS là một hoạt động cần thiết cần được bồi dưỡng thường xuyên Tuy nhiên hiện nay, vấn đề giao tiếp của HSTH còn gặp nhiều khó khăn cần tìm biện pháp khắc phục Đây cũng là trở ngại lớn cho cả GV và HS trong dạy và học cũng như cuộc sống sinh hoạt hằng ngày Kĩ năng giao tiếp của các

Trang 12

em còn gặp nhiều hạn chế về nhiều mặt hay nhút nhát, rụt rè, ngại tiếp xúc, ngại giao tiếp, các em không tự tin hòa mình vào cuộc sống bạn bè, thầy cô Chính vì lí do này

mà các em gặp khó khăn trong quá trình học tập và giao tiếp Nếu tình trạng này không được khắc phục sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến quá trình học tập và giao tiếp trong cuộc sống hằng ngày

Dạy học Tiếng Việt nói chung và dạy phân môn Kể chuyện nói riêng có ý nghĩa

vô cùng quan trọng trong việc rèn kĩ năng giao tiếp cho HS Kể chuyện không những giúp HS phát triển vốn từ mà còn giúp các em hoàn thiện ngôn ngữ của mình, các em biết cách giao tiếp sao cho hay hơn Xuất phát từ những lí do trên tôi chọn nghiên cứu

đề tài “Bài tập hỗ trợ phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh lớp 2 trong giờ Kể

chuyện” Thực hiện đề tài này tôi hi vọng có thể đóng góp thêm tiếng nói vào việc đổi

mới phương pháp dạy học phân môn Kể chuyện nói riêng và dạy học môn Tiếng Việt nói chung

2 Lịch sử vấn đề bài tập hỗ trợ phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh lớp 2 trong giờ Kể chuyện

Vấn đề phát triển năng lực giao tiếp cho HSTH hiện nay đã và đang là nội dung

được nhiều nhà Giáo dục quan tâm

Nước ngoài bàn gì về vấn đề này, tác giả V.I Ca-pi-nox đã chú ý đến lí thuyết

hoạt động trong lĩnh vực tâm lí học có tác động cơ bản tới sự hình thành và phát triển

lời nói của HS [50, tr 10] Từ đó, các tác giả đã đưa ra kết luận: Hoạt động nói cần được đặt trong hoạt động giao tiếp

Từ quan điểm trên, nhìn từ phương diện dạy học, cuốn sách “Curriculum

Guidance for the Foundation Stage” đã đặt sự phát triển ngôn ngữ và năng lực sử

dụng ngôn ngữ trong giao tiếp làm trung tâm trong hoạt động học tập của HS [50]

Ở khía cạnh khác, tác giả người Úc Jonh Munro trong cuốn Teaching oral

language (xuất bản đầu tiên năm 2011) không chỉ đưa ra những căn cứ xác định tầm

quan trọng của kĩ năng nghe – nói mà còn đề cập đến vấn đề trọng tâm của ngôn ngữ trong giao tiếp ở những năm đầu bật TH thông qua mô hình có tên gọi ICPALER [50]

Ở Việt Nam theo quan điểm giao tiếp, dạy học tiếng Việt ở TH nói riêng và phổ thông nói chung là quá trình hình thành năng lực bằng tiếng Việt cho người học, hơn

Trang 13

là quá trình nắm vững kiến thức ngôn ngữ đó

Quan điểm trên đã được khẳng định ở nước ta từ thập kỉ 1980 “Mục đích cơ bản của việc giảng dạy và Giáo dục ngôn ngữ trong nhà trường (trước hết là nhà trường phổ thông) là nhằm tạo ra được một trình độ phát triển nhất định của HS về mặt ngôn ngữ, thể hiện ở năng lực nghe, nói, đọc, viết đúng là tốt tiếng Việt văn hóa, tiến tới năng lực sử dụng chính xác và thành thạo tiếng nói đó trong học tập, công tác, trong mọi mặt hoạt động của đời sống” [19]

Qua khảo sát tài liệu và thực trạng dạy học Tiếng Việt hiện nay, nhiều nhà nghiên cứu có chung kết luận thống nhất đang tồn tại trình trạng học lí thuyết Việt ngữ học để nắm vững kiến thức về đặc điểm cấu trúc của tiếng Việt hơn là nắm vững kiến thức về quy tắc sử dụng tiếng Việt và trau dồi năng lực sử dụng tiếng Việt cho HS [5] Năng lực giao tiếp là năng lực sử dụng ngôn ngữ thích hợp với các tình huống giao tiếp khác nhau Năng lực giao tiếp bằng ngôn ngữ không đơn thuần là kiến thức

về ngôn ngữ Trình độ phát triển khả quan về tiếng Việt không thể đạt được chỉ bằng con đường tiếp thu và học tập tri thức Việt ngữ học, mà chủ yếu phải thông qua quá trình rèn luyện, thực hành có trình tự, có hệ thống, thông qua hoạt động giao tiếp ngôn ngữ từ thấp đến cao [19], [57]

Tác giả Lê A đã khái quát một nguyên tắc sư phạm sau: “Dạy tiếng Việt là dạy hoạt động giao tiếp và bằng hoạt động giao tiếp” (2001) Theo nguyên tắc này, việc dạy tiếng không phải là cung cấp một kho tri thức thụ động về ngôn ngữ mà là quá trình phát triển hành động lời nói thông qua một hệ thống hoạt động hay bài tập dạy tiếng lên hàng ưu tiên trong Giáo dục tiếng mẹ đẻ ở bậc TH [45]

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về năng lực và năng lực giao tiếp của các tác giả khác nhau Tiêu biểu có thể kể đến cuốn: “Lí thuyết hoạt động giao tiếp với việc dạy học phần Làm văn trong Tiếng Việt 4” Phát triển năng lực ngôn ngữ cho HS trong việc dạy Tiếng Việt; bài viết Từ khái niệm “Năng lực giao tiếp đến vấn đề dạy

và học Tiếng Việt trong nhà trường phổ thông hiện nay” khái niệm năng lực để chỉ các loại tri thức và thực hiện thuộc các lĩnh vực khác nhau (Tác giả Vũ Thị Thanh Hương) , [37, tr.44]

Trang 14

Tuy nhiên, chưa có một tài liệu nào cung cấp một cách đầy đủ và trọn vẹn nhất những khái niệm và những nội dung xung quanh vấn đề này Tác giả Đỗ Việt Hùng trong bài viết “Phát triển năng lực ngôn ngữ cho HS trong việc dạy Tiếng Việt” khẳng định việc phát triển năng lực cho HS là cấp thiết, trong đó có năng lực sử dụng ngôn ngữ và năng lực giao tiếp Nhưng lại chưa hình thành khái niệm về năng lực, năng lực giao tiếp

Trong giờ đọc văn, Kể chuyện cần chú ý hướng dẫn HS khám phá và khai thác hình thức cảu các văn bản nghệ thuật gắn liền với nội dung ý nghĩa Các hoạt động học tập ngôn ngữ được thiết kế trong tài liệu học hay trong tiến trình giảng dạy trên lớp cần hướng đến những hoạt động có mục đích, có ý nghĩa đối với người học nhằm giúp mỗi cá nhân HS phát triển năng lực sử dụng tiếng Việt

Kể chuyện là một trong những phân môn của dạy học Tiếng Việt có vị trí đặc biệt trong dạy học tiếng mẹ đẻ, trước hết vì hành động “kể” là một hành động „nói” đặc biệt trong hoạt động giao tiếp Kể chuyện vận dụng một cách tổng hợp các kĩ năng tiếng Việt như nghe, đọc, nói trong hoạt động giao tiếp Khi kể lại câu chuyện, HS cố gắng sử dụng những từ, câu có hình tượng học từ các tác phẩm nghệ thuật Các em thể hiện suy nghĩ của mình một cách chặt chẽ, tuần tự, chính xác và có hình ảnh [15, tr.8-9]

Tất cả các sách văn học về Kể chuyện trong nhà trường nói chung và dạy Kể chuyện ở trường TH nói riêng điều đề cập đến việc Kể chuyện cho HS Chẳng hạn như quyển: “Sơ thảo nguyên lý văn học” của Nguyễn Lương Ngọc, các bộ sách lý luận văn học của trường Đại học sư phạm và trường Đại học Tổng hợp thập kỉ 60 Tuy nhiên, các giáo trình trên chỉ nói đến ngôi kể khi phân tích phương thức tự sự của văn học trong đó có việc Kể chuyện bằng lời của nhân vật

Kể chuyện là một trong những phân môn quan trọng ở TH Vì vậy, phân môn Kể chuyện đã được nhiều người quan tâm nghiên cứu Trong số đó, nổi bật nhất phải nói đến tác giả Chu Huy với cuốn “Dạy Kể chuyện ở trường TH”, Nhà xuất bản Giáo dục,

2000 [33]

Tác giả Chu Huy đã đưa ra ý kiến của mình về Kể chuyện như sau:

Khi ở vị trí một thuật ngữ, Kể chuyện bao hàm bốn phạm trù ngữ nghĩa sau:

Trang 15

a Chỉ lại hình tự sự trong văn học (phân biệt với loại hình trữ tình, loại hình hài kịch) – còn gọi là truyện hoặc tiểu thuyết

b Chỉ tên một phương pháp nói trong diễn giảng

c Chỉ tên một loại văn thuật chuyện trong phân môn Tập làm văn

d Chỉ tên một phân môn học ở các lớp trong trường TH

Ở phạm trù ngữ nghĩa (b) Kể chuyện là một phương pháp trực quan sinh động bằng lời nói Khi cần thay đổi hình thức diễn giảng nhằm thu hút sự chú ý của người dùng xen kẽ phương pháp Kể chuyện [33]

Cuốn sách giúp ta nhận thức đúng về phân môn Kể chuyện, các biện pháp hướng dẫn Kể chuyện rất phong phú, là cẩm nang cho nhiều GV Song các biện pháp được trình bày trong sách chỉ phù hợp với tiết Kể chuyện được dạy theo phương pháp cũ (thầy kể, trò nghe, chi nhớ và kể lại), không phù hợp với phương pháp dạy hiện nay [33]

Với cuốn “Phương pháp dạy học Tiếng Việt” của Bộ Giáo dục và Đào tạophát hành năm 1993, các tác giả Lê A – Thành Thị Yên Mĩ – Lê Phương Nga – Nguyễn Trí

đã đưa ra vị trí, vai trò của phân môn Kể chuyện đối với HSTH Từ đó nhóm tác giả cũng đưa ra ý kiến của mình về phương pháp dạy học hiệu quả cho phân môn Kể chuyện Vấn đề Kể chuyện còn được đề cập ở một số cuốn sách khác như: “Giáo trình phương pháp dạy học Tiếng Việt 3” Phân môn Kể chuyện có nhiệm vụ đáp ứng nhu cầu được nghe kể chuyện ở trẻ em, phát triển ngôn ngữ, đặc biệt là kĩ năng nghe – nói, đồng thời phát triển tư duy và bồi dưỡng tâm hồn, làm giàu vốn sống và vốn văn học cho HS Trước hết, phân môn Kể chuyện phát triển kĩ năng nói cho HS Giờ kể chuyện rèn cho HS kĩ năng nói trước đám đông dưới dạng độc thoại thành đoạn bài theo phong cách nghệ thuật Đồng thời với nói, các kĩ năng nghe, đọc, kĩ năng ghi chép cũng được phát triển trong quá trình kể lại truyện đã nghe, kể lại truyện đã đọc Cùng với sự rèn luyện các kĩ năng ngôn ngữ, tư duy cũng được phát triển Đặc biệt, sống trong thế giới các nhân vật, thâm nhập vào các tình tiết của truyện, tiếp xúc với nghệ thuật ngôn từ kể chuyện, tư duy hình tượng và cảm xúc thẩm mĩ của HS cũng được phát triển [47]

Theo tác giả Nguyễn Trí chính trong giao tiếp ngôn ngữ mới thực hiện được

Trang 16

chưc năng quan trọng của nó: chức năng giao tiếp Nói cách khác, ngôn ngữ trở thành ngôn ngữ sống nhờ vào giao tiếp Một ngôn ngữ nếu không được ai sử dụng để giao tiếp, nó trở thành ngôn ngữ chết [67, tr 151]

Giờ kể chuyện giúp HS tiếp xúc với tác phẩm văn học Suốt 5 năm ở bậcTH, HS được nghe và tham gia kể hàng trăm câu chuyện với đủ thể loại Đó là những tác phẩm

có giá trị của Việt Nam và thế giới, từ truyện cổ tích đến truyện hiện đại Nhờ đó, vốn văn học của HS được tích lũy dần Đây là những hành trang quý sẽ theo các em trong suốt cuộc đời mình Giờ kể chuyện còn mở rộng tầm hiểu biết, khêu gợi trí tưởng tượng cho các em Qua từng câu chuyện, thế giới muôn sắc màu mở rộng trước các

em Các em tìm thấy ở trong truyện từ phong tục tập quán đến cảnh sắc thiên nhiên, từ những thân phận và biết bao hành động nghĩa hiệp của con người trong muôn vàn trường hợp khác nhau Truyện kể đã làm tăng vốn hiểu biết về thế giới và xã hội loài người xưa và nay cho HS Truyện kể còn chắp cánh cho trí tượng tượng và ước mơ của HS, thúc đẩy sự sáng tạo ở các em [70]

Hiện nay, chương trình TH mới, phân môn Kể chuyện được giảng dạy theo phương pháp mới, ở đó HS được chủ động Kể chuyện dưới sự hướng dẫn của GV chứ không thụ động nghe, ghi nhớ và kể lại như trước nữa [23, tr.9]

Với phương pháp này, GV trở về đúng vị trí chủ đạo của mình và HS thực sự là người tự giác, tích cực và tự lực trong học tập Tuy nhiên phương pháp mới này chỉ được thực hiện đại trà trong nhiều năm gần đây, nó còn khá mới mẻ Do đó, các công trình nghiên cứu còn chưa nhiều Đề cập đến việc rèn kỹ năng nói qua môn Kể chuyện cho HS, tác giả Nguyễn Minh Thuyết [61] đã nêu lên các mức độ của Kể chuyện bằng lời của nhân vật Song do giới hạn của cuốn sách nên tác giả chỉ mới nói được cái chung mà chưa đi vào cụ thể từng biện pháp

Nhìn chung, mỗi nghiên cứu trên đây điều nghiên cứu ở các khía cạnh khác nhau đều có giá trị và bổ ích đối với GVTH Kết quả nghiên cứu của các đề tài trên đây là tiền đề cơ sở, sự gợi ý cho nhiều vấn đề trong dạy học Kể chuyện được nghiên cứu trong đề tài, việc đề xuất các biện pháp để khắc phục tình trạng trên cũng được đưa ra Tuy nhiên ta thấy đa số việc áp dụng phát triển năng lực giao tiếp trong giờ Kể chuyện chưa thực sự được đi sâu nghiên cứu, giải pháp xây dựng bài tập rèn kĩ năng giao tiếp

Trang 17

trong giờ Kể chuyện chưa đề cập hay chỉ đề cập đến mà chưa phân tích chuyên sâu Từ

đó khẳng định tính cấp thiết vấn đề bài tập hỗ trợ phát triển năng lực giao tiếp cho HS trong giờ Kể chuyện

3 Mục tiêu, mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu lý luận dạy học Tiếng Việt cho HSTH và tìm hiểu thực tiễn về năng lực giao tiếp của HS lớp 2 Trường TH TB, đề tài tập trung xây dựng một số bài tập hỗ trợ nhằm nâng cao năng lực giao tiếp, phát triển và làm giàu vốn từ, giúp HS có khả năng giao tiếp mạnh dạn, tự tin hơn trong học tập, hòa nhập với cuộc sống xung quanh Từ đó giúp các em học phát triển các năng lực giao tiếp (quan sát, lắng nghe, phải hồi tích cực, tạo lập mối quan hệ, giải quyết mâu thuẫn, chia sẻ thông tin)

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

(1) Tìm hiểu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn có liên quan tới đề tài nghiên cứu (2) Xây dựng một số bài tập hỗ trợ nhằm phát triển năng lực giao tiếp cho HS lớp

2 Trường TH TB

(3) Thiết kế thử nghiệm để khẳng định tính khả thi của các bài tập hỗ trợ phát triển năng lực giao tiếp cho HSTH mà đề tài nghiên cứu

5 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Hệ thống bài tập hỗ trợ phát triển năng lực giao tiếp cho HS lớp 2 ở huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang qua phân môn Kể chuyện

5.2 Khách thể nghiên cứu

Quá trình dạy học môn Tiếng Việt, dạy học Kể chuyện cho HS lớp 2

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

- Giới hạn về phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu bài tập hỗ trợ nâng cao năng lực giao tiếp cho HS lớp 2 Trường TH TB qua tiết dạy học phân môn Kể chuyện

- Địa bàn khảo sát, thực nghiệm: Phỏng vấn 6 cán bộ quản lí (gồm 3 Hiệu trưởng,

3 Hiệu phó), khảo sát 60 GV và 165 HS lớp 2 ở 3 trường TH (Trường TH TB ven huyện Cai Lậy; Trường TH PP ở vùng sâu huyện Cai Lậy, Trường TH KS ở thị xã Cai Lậy) thuộc huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang

- Thời gian, tư liệu thực hiện: các bài thực nghiệm là những bài học trong chương

Trang 18

trình lớp 2 năm học 2016 – 2017

7 Giả thuyết nghiên cứu

Nếu trong phân môn Kể chuyện có bài tập hỗ trợ phát triển năng lực giao tiếp phù hợp và phương pháp sử dụng hệ thống bài tập đó một cách hợp lí thì sẽ góp phần vào việc phát triển năng lực giao tiếp nói riêng, và năng lực sử dụng tiếng Việt nói chung cho HS lớp 2

8 Phương pháp nghiên cứu

8.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Nghiên cứu sách, tài liệu có liên quan tới đề tài, đọc và hệ thống hóa các tài liệu

có liên quan đến cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu và tài liệu có liên quan đến cơ sở hình thành và phát triển năng lực giao tiếp cho HSTH

8.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Điều tra, khảo sát thực trạng dạy học Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp của

GV và HS lớp 2 Trường TH TB

Thực nghiệm sư phạm, xác nhận tính khả thi của các biện pháp đề xuất

Thống kê kết quả điều tra, thực nghiệm, phân tích mô tả kết quả nghiên cứu

9 Đóng góp của luận văn

Về lý luận: Góp phần khẳng định dạy Kể chuyện phải chú ý tới dạy khả năng

giao tiếp cho HS; phương pháp dạy học kể chuyện theo quan điểm giao tiếp

Về thực tiễn: Góp phần mô tả thực trạng dạy học phát triển năng lực giao tiếp

thông qua giờ kể chuyện cho HS lớp 2; góp phần xây dựng mô hình bài giảng giờ Kể chuyện theo quan điểm giao tiếp Và bài tập hỗ trợ phát triển năng lực giao tiếp qua giờ Kể chuyện

10 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm có 4 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận của vấn đề phát triển năng lực giao tiếp cho HS lớp 2

trong giờ Kể chuyện

Chương 2: Cơ sở thực tiễn của của vấn đề phát triển năng lực giao tiếp cho HS

lớp 2 trong giờ Kể chuyện

Trang 19

Chương 3: Xây dựng bài tập hỗ trợ phát triển năng lực giao tiếp cho HS lớp 2

trong giờ Kể chuyện

Chương 4: Thực nghiệm bài tập hỗ trợ phát triển năng lực giao tiếp cho HS lớp

2 qua giờ Kể chuyện

Ngoài ra, luận văn còn có 25 trang gồm các Phụ lục: Phiếu xin ý kiến của GV, Phiếu lấy ý kiến của HS, Phiếu xin ý kiến của Phụ huynh HS, Giáo án bài dạy, Một số bài tập sử dụng trong luận văn, Phiếu hướng dẫn hoạt động nhóm, Trích nhật kí việc dạy- học

Trang 20

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP CHO HỌC SINH LỚP 2

QUA GIỜ KỂ CHUYỆN

Ở chương 1, luận văn trình bày về cơ sở lý luận của vấn đề bài tập hỗ trợ phát triển năng lực giao tiếp cho HS qua giờ Kể chuyện: một số khái niệm công cụ như năng lực, phát triển năng lực; giao tiếp, năng lực giao tiếp; bài tập phát triển năng lực;

lý thuyết hội thoại và hoạt động giao tiếp; đặc điểm tâm lí nhận thức và ngôn ngữ của

HS lớp 2

1.1 Một số khái niệm công cụ

Có nhiều cách hiểu về giao tiếp và phát triển năng lực giao tiếp cũng như các khái niệm mà đề tài sử dụng nhưng do giới hạn, phạm vi nghiên cứu và để thuận tiện cho việc nghiên cứu tác giả luận văn chọn những cách hiểu sau về khái niệm công cụ

sẽ dùng trong luận văn

a Kể chuyện, giờ Kể chuyện

Kể chuyện được dùng với ý nghĩa là kể một câu chuyện bằng lời, kể cả câu chuyện có hình thức hoàn chỉnh, được in trên sách báo [34]

Giờ Kể chuyện hay tiết Kể chuyện là thời gian học các em được nghe Thầy (cô)

kể lại câu chuyện đã học trước đó bằng giọng điệu, bằng ngôn ngữ của mình Thông thường giờ Kể chuyện của lớp 2 được nằm ngay ngày thứ 3 của mỗi tuần theo mục lục sách giáo khoa Tiếng Việt sau khi các em đã học bài tập đọc

Kể chuyện vận dụng tổng hợp sự hiểu biết về đời sống và tạo điều kiện để HS rèn luyện một cách tổng hợp các kĩ năng tiếng Việt như nghe, đọc, nói trong hoạt động giao tiếp [44] Qua những câu chuyện được GV kể trong giờ Kể chuyện giúp cho các

em được lắng nghe kết hợp với quan sát những bức tranh, sau đó được chia sẻ, bày tỏ thái độ của mình về các nhân vật trong câu chuyện bằng giọng điệu, bằng ngôn ngữ của mình

b Giao tiếp, năng lực giao tiếp

Có nhiều cách hiểu về giao tiếp và phát triển năng lực giao tiếp cũng như các khái niệm mà đề tài sử dụng nhưng do giới hạn, phạm vi nghiên cứu và để thuận tiện

Trang 21

cho việc nghiên cứu tác giả luận văn chọn những cách hiểu sau về khái niệm giao tiếp

và năng lực giao tiếp trong luận văn:

b.1 Giao tiếp là một quá trình mà thông tin được trao đổi giữa các cá nhân thông qua một hệ thống các biểu tượng, kí hiệu, hoặc hành vi chung GT là trao đổi, tiếp xúc với nhau, ngôn ngữ là công cụ giao tiếp

b.2 Năng lực gồm ba thành tố cơ bản là tri thức, kĩ năng và hành vi biểu cảm (thái độ), trong đó “yếu tố cốt lõi trong bất cứ năng lực cụ thể nào đều là kĩ năng (hoặc những kĩ năng)

Năng lực giao tiếp là năng lực sử dụng ngôn ngữ thích hợp với các tình huống giao tiếp khác nhau Năng lực giao tiếp bằng ngôn ngữ không đơn thuần là kiến thức

về ngôn ngữ

Trong giảng dạy ở TH, năng lực giao tiếp thường được phân loại thành các năng lực:

(1) Năng lực quan sát là khả năng, kĩ năng tri giác và đối tượng được thể hiện

qua việc nhìn nhận, nắm bắt về các đặc điểm của đối tượng

(2) Năng lực lắng nghe là khả năng, kĩ năng tiếp nhận thông tin lời nói

(3) Năng lực phản hồi thông tin là khả năng, kĩ năng bày tỏ thái độ, quan điểm của mình trong giao tiếp

(4) Năng lực tạo lặp mối quan hệ là khả năng, kĩ năng giới thiệu về mình với

người khác; khả năng, kĩ năng duy trì mối quan hệ với người khác (người thân, thầy

cô, bạn bè, v.v.)

(5) Năng lực chia sẻ thông tin là khả năng, kĩ năng chia sẻ thông tin, trao đổi

thông tin với người khác (người thân, thầy cô, bạn bè, v.v.)

(6) Năng lực giải quyết mâu thuẫn là khả năng, kĩ năng phát hiện, giải quyết các

khúc mắc, các mâu thuẫn xảy ra trong học tập, trong xử lý các mối quan hệ trong xúc cảm cá nhân

Việc phát triển 6 loại năng lực trên có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển năng lực giao tiếp trong giờ Kể chuyện Do đó khi giảng dạy, GV cần kết hợp nhiều phương pháp, hình thức dạy học nhằm giúp HS phát huy hết các năng lực vốn có của mình

Trang 22

c Dạy học tích hợp

c.1 Tích hợp là “Sự kết hợp những hoạt động, chương trình hoặc các thành phần khác nhau thành một khối chức năng.Tích hợp có nghĩa là sự thống nhất, sự hòa hợp, sự kết hợp”

c.2 Dạy học tích hợp là một quan niệm dạy học nhằm hình thành ở HS những

năng lực giải quyết hiệu quả các tình huống thực tiễn dựa trên sự huy động nội dung, kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau Dạy học tích hợp đòi hỏi việc học tập trong nhà trường phải được gắn với các tình huống của cuộc sống mà sau này HS

có thể đối mặt vì thế nó trở nên có ý nghĩa đối với các em

Dạy học tích hợp là định hướng về nội dung và phương pháp dạy học, trong đó

GV tổ chức, hướng dẫn để HS biết huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập, thông qua đó hình thành những kiến thức, kĩ năng mới, phát triển được những năng lực cần thiết, nhất là năng lực giải quyết vấn đề trong học tập và trong thực tiễn cuộc sống

d Bài tập, bài tập hỗ trợ

d1 Bài tập là bài ra cho HS làm để tập vận dụng, luyện tập những điều đã học; các môn học đều có hệ thống bài tập để HS luyện tập, vận dụng những kiến thức, kĩ năng đã học

d2 Bài tập hỗ trợ là những bài tập đưa ra nhằm hỗ trợ, giúp đỡ HS rèn một kỹ năng nào đó

e Thực nghiệm sư phạm là phương pháp thu thập thông tin về sự thay đổi số

lượng và chất lượng trong nhận thức và hành vi của các đối tượng Giáo dục do người nghiên cứu tác động đến chúng bằng một số tác nhân điều khiển và đã được kiểm tra Thực nghiệm sư phạm là so sánh kết quả tác động của nhà khoa học lên một nhóm lớp- gọi là nhóm thực nghiệm- với một nhóm lớp tương đương không được tác động- gọi là nhóm đối chứng

1.2 Lý thuyết hội thoại và hoạt động giao tiếp

Luận văn bàn đến vấn đề xây dựng bài tập hỗ trợ phát triển năng lực giao tiếp qua giờ Kể chuyện cho HS lớp 2, nên lý thuyết hội thoại và hoạt động giao tiếp là một

cơ sở lý thuyết quan trọng mà người viết lấy làm nền tảng lí luận của vấn đề mà luận văn đề cập

Trang 23

1.2.1 Khái niệm về hội thoại

Hội thoại được hiểu là việc sử dụng ngôn ngữ vào giao tiếp

“Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ, nó cũng

là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác.” [12]

“Các hành vi ngôn ngữ không đứng độc lập, riêng lẻ Chúng kế tiếp nhau thành chuỗi Sự kết thúc của hành vi này là tiền đề cho những hành vi tiếp theo, dù đó là lời của một người hay là lần lượt của hai người Chuỗi các hành vi đó tạo thành một hội

thoại.” [12]

Lý thuyết hội thoại chỉ rõ: giao tiếp có thể diễn ra ở dạng nói hoặc dạng viết, tuy nhiên dạng nói là phổ biến và chủ yếu Trong giao tiếp dạng nói thì hội thoại là hình

thức giao tiếp phổ biến

Khi giao tiếp, các nhân vật giao tiếp cần phải sử dụng phương tiện giao tiếp để trao đổi thông tin

Có hai loại phương tiện giao tiếp cơ bản là: phương tiện giao tiếp bằng ngôn ngữ

và phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ (bao gồm: hành động, cử chỉ, động tác, hình vẽ, màu sắc, ánh sáng,…)

Phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ tuy nhiều nhưng phạm vi sử dụng hạn chế do dung lượng thông tin ít

1.2.2 Các loại hội thoại

Căn cứ vào số người tham gia hội thoại, có thể chia hội thoại thành 3 loại:

- Song thoại (hai người tham gia cuộc thoại);

- Tam thoại (ba người tham gia cuộc thoại);

- Đa thoại (bốn người hoặc nhiều người hơn nữa tham gia cuộc thoại)[48, tr 20] Căn cứ vào vai trò của người tham gia hội thoại có thể thành các cuộc hội thoại được điều khiển và cuộc hội thoại không được điều khiển Căn cứ vào hình thức hội thoại có thể nói đến các cuộc hội thoại chính thức, không chính thức, quan trọng, không quan trọng, bình thường, dân dã

Ở nhà trường bậc TH tất cả các dạng hội thoại trên đều được thực hiện qua các hoạt động giảng dạy và Giáo dục

Trang 24

1.2.3 Các nhân tố hội thoại bao gồm

- Hiện thực hội thoại: bao gồm toàn bộ thế giới tự nhiên, xã hội, tâm linh, ngôn

ngữ và việc sử dụng ngôn ngữ, các biểu hiện tâm lý của con người

- Hoàn cảnh xã hội: gồm các đặc điểm về lịch sử, địa lí, văn hóa, nghệ thuật, khoa học, kỹ thuật, kinh tế, văn hóa, Giáo dục, ngôn ngữ của cộng đồng, dân tộc nơi diễn ra hội thoại

- Môi trường hội thoại: bất kì cuộc hội thoại nào cũng diễn ra trong không gian

và thời gian xác định Không gian và thời gian ấy là môi trường hội thoại

- Tình huống hội thoại: là hoàn cảnh hội thoại cụ thể, xác định, được các nhân vật

tham gia hội thoại ý thức và làm nảy sinh cuộc hội thoại

- Nhân vật hội thoại: là những người tham gia hội thoại Có hai yếu tố của nhân vật hội thoại gồm:

+ Vai hội thoại: là vị trí của nhân vật trong cuộc hội thoại, các cuộc hội thoại gồm người nói và người nghe và có sự luân phiên thay đổi lượt lời với nhau

+ Quan hệ liên cá nhân: quan hệ liên cá nhân giữa các nhân vật tham gia hội thoại biểu hiện ở các phạm vi: vị thế xã hội, quan hệ thân cận, vị thế giao tiếp

1.2.4 Hoạt động giao tiếp

Hoạt động giao tiếp là hoạt động diễn ra thường xuyên giữa mọi người trong xã hội Giao tiếp có ở mọi nơi, mọi lúc, có thể ở dạng lời nói nhưng cũng có khi tồn tại ở dạng viết Giao tiếp cũng có thể được tiến hành bằng nhiều phương tiện “ngôn ngữ” khác như: cử chỉ, điệu bộ, hành động, nét mặt, các phương tiện kĩ thuật (tất cả được gọi là các hành vi siêu ngôn ngữ) Tuy nhiên phương tiện quan trọng nhất, phổ biến nhất và hiệu quả tối ưu nhất vẫn là ngôn ngữ Nhờ ngôn ngữ và giao tiếp, con người trao đổi thông tin, bộc lộ tình cảm, thái độ, quan hệ để tổ chức xã hội hoạt động [39, tr.15]

Hoạt động giao tiếp có hai quá trình: Quá trình tạo lập lời nói, văn bản do người nói hoặc người viết thực hiện và quá trình tiếp nhận lời nói, văn bản do người nghe hoặc người đọc thực hiện Hai quá trình của hoạt động giao tiếp luôn diễn ra trong quan hệ tương tác nhau Trong giao tiếp, người nói (viết) có thể vừa là người tạo lập nhưng cũng lại vừa là người tiếp nhận lời nói (văn bản) bởi các vai giao tiếp luôn luôn

Trang 25

thay đổi Chính vì vậy khi xem xét các quá trình giao tiếp, chúng ta phải đặc biệt chú ý tới các tình huống giao tiếp cụ thể khác nhau [39, tr.15].

1.3 Đặc điểm tâm lí nhận thức, ngôn ngữ của học sinh lớp 2

1.3.1 Đặc điểm về tâm lí nhận thức

HS lớp 2 rất hồn nhiên, ngây thơ và trong sáng Ở mỗi HS tiềm tàng khả năng phát triển về trí tuệ, lao động, rèn luyện và hoạt động xã hội HS lớp 2 là thực thể đang hình thành và phát triển cả về mặt sinh lý, tâm lý, xã hội, các em đang từng bước gia nhập vào xã hội với mọi mối quan hệ Do đó, các em chưa đủ ý thức, chưa đủ phẩm chất và năng lực như một công dân trong xã hội, mà các em luôn cần sự bảo trợ, giúp

đỡ của người lớn, của gia đình, nhà trường và xã hội

HS lớp 2 dễ thích nghi và tiếp nhận cái mới và luôn hướng tới tương lai nhưng cũng thiếu sự tập trung cao độ, khả năng ghi nhớ và chú ý có chủ định chưa được phát triển mạnh, tính hiếu động, dễ xúc động còn bộc lộ rõ nét HS nhớ rất nhanh và quên

cũng nhanh

Bên cạnh sự phát triển của tri giác, chú ý có chủ định của HS lớp 2 còn yếu, khả năng điều chỉnh chú ý có ý chí chưa mạnh Vì vậy, việc sử dụng ĐDDH là phương tiện quan trọng để giúp HS tập trung sự chú ý vào bài học Nhu cầu hứng thú và duy trì chú

ý của HS không chủ định cho nên GV cần tìm cách làm cho giờ học hấp dẫn để lôi cuốn các em

Ngoài ra, HS lớp 2 có trí nhớ trực quan – hình tượng phát triển chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ – logíc Tư duy của các em là tư duy cụ thể, dựa vào những đặc điểm trực quan của đối tượng và hiện tượng cụ thể mà trong quá trình Giáo dục, GV cần nắm chắc những đặc điểm này để có cách giảng dạy tốt nhất

HS lớp 2 có tính cách hồn nhiên, ham hiểu biết, lòng thương người, lòng vị tha

GV nên tận dụng đặc tính này để Giáo dục phẩm chất cho HS như kính trọng, yêu thương, lễ phép với người lớn; biết tha thứ khi người khác nhận lỗi, yêu trường, mến bạn;

Tình cảm là một mặt rất quan trọng trong đời sống tâm lý, nhân cách của mỗi người, nó là khâu trọng yếu gắn nhận thức với hoạt động Tình cảm được hình thành trong đời sống và trong quá trình học tập của HS Đối với HS lớp 2, tình cảm tích cực

Trang 26

sẽ kích thích HS nhận thức và thúc đẩy các em hoạt động Vì vậy GV cần quan tâm xây dựng môi trường học tập nhằm tạo ra xúc cảm, tình cảm tích cực ở HS để kích thích các em tích cực trong học tập

1.3.2 Đặc điểm về ngôn ngữ

HS lớp 2 có ngôn ngữ nói và viết phát triển vì thế HS có khả năng tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh và tự khám phá bản thân thông qua các kênh thông tin khác nhau

Ngôn ngữ của HS lớp 2 có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm tính và lý tính của HS Nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng của HS phát triển dễ dàng và được biểu hiện cụ thể thông qua ngôn ngữ nói và viết Mặt khác, nhờ khả năng ngôn ngữ của HS mà GV có thể đánh giá được sự phát triển trí tuệ của HS

Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng như vậy nên các nhà Giáo dục phải trau dồi vốn ngôn ngữ cho HS lớp 2 bằng cách hướng hứng thú của HS vào các loại sách báo có lời và không lời, có thể là sách văn học, truyện tranh, truyện cổ tích, báo nhi đồng, Đồng thời GV cũng có thể kể cho HS nghe hoặc tổ chức các cuộc thi kể chuyện, đọc thơ, viết báo, viết truyện, dạy HS cách viết nhật kí, Tất cả đều có thể giúp HS có được một vốn ngôn ngữ phong phú và đa dạng

1.4 Giáo dục và phát triển ngôn ngữ giao tiếp cho học sinh lớp 2

1.4.1 Quan điểm giao tiếp trong dạy học Tiếng Việt cho học sinh tiểu học

Để hình thành mục tiêu “hình thành và phát triển ở HS các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi”, môn Tiếng Việt bậc TH lấy nguyên tắc dạy giao tiếp làm định hướng cơ bản Quan điểm dạy học giao tiếp được thể hiện trên cả hai phương diện nội dung và phương pháp dạy học

Về nội dung, bộ SGK Tiếng Việt TH dạy HS từ những nghi thức lời nói như chào hỏi, cảm ơn, xin lỗi, đồng ý, không đồng ý, từ chối,… đến các kĩ năng làm việc

và giao tiếp cộng đồng như lập danh sách lớp, tra mục lục sách, đọc và thời khóa biểu, viết thư, gọi điện, làm đơn, khai lí lịch, điền vào những tờ giấy cần thiết, phát biểu và điều khiển cuộc họp, làm báo cáo,…

Trang 27

Về phương pháp dạy học, các kĩ năng được dạy thông qua nhiều bài tập mang tính tình huống, phù hợp với những tình huống giao tiếp tự nhiên

Cũng như bộ SGK Tiếng Việt TH cải cách Giáo dục cũ, bộ SGK Tiếng Việt TH mới tổ chức rèn luyện kĩ năng sử dụng tiếng Việt cho HS thông qua các phân môn Tập đọc, Từ ngữ- Ngữ pháp, Chính tả, Tập viết, Kể chuyện và Tập làm văn Trong phân môn Kể chuyện rèn cho HS các kĩ năng nói, nghe và đọc Trong giờ Kể chuyện, HS kể lại những câu chuyện phù hợp với chủ điểm mà các em đã đọc (trong SGK hoặc trong các sách khác), nghe thầy, cô hoặc bạn kể rồi kể lại một câu chuyện bằng lời của mình, trả lời câu hỏi hoặc ghi lại những chi tiết chính của câu chuyện đó [62, tr.4]

1.4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình Giáo dục năng lực giao tiếp cho học sinh lớp 2

Năng lực của giáo viên

Năng lực chuyên môn, kỹ năng sư phạm và kỹ năng giao tiếp của giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng và hiệu quả của quá trình Giáo dục năng lực giao tiếp cho học sinh HS tiểu học đến trường với sự mới mẻ, bỡ ngỡ, các em tiếp thu kiến thức, học theo, làm theo để hình thành thói quen và vận dụng thói quen đó Bởi vậy, thầy giáo, cô giáo là "thần tượng", là chuẩn mực để học tập và làm theo Các em học

và làm theo những gì giáo viên nói và làm, vì vậy năng lực chuyên môn, kỹ năng sư phạm tốt và kỹ năng giao tiếp như lời nói, cử chỉ, thái độ, hành vi ứng xử chuẩn mực Bên cạnh đó, yêu cầu Giáo dục đòi hỏi giáo viên phải hiểu tâm lý HS tiểu học, hiểu vốn ngôn ngữ của các em để điều khiển và có sự điều chỉnh kỹ năng hành vi của trẻ [42]

Kết hợp tính tích cực, chủ động của HS lớp 2 khi tham gia vào quá trình Giáo dục năng lực giao tiếp

Giáo dục năng lực giao tiếp cho học sinh lớp 2 sẽ không hiệu quả nếu chỉ thông qua thuyết trình, giảng giải của giáo viên Để quá trình Giáo dục có hiệu quả thì phải tiến hành đồng thời giữa hoạt động của giáo viên và thông qua hành động, việc làm cụ thể của học sinh Do đó, đòi hỏi học sinh phải tự giác, tích cực tham gia vào quá trình học tập, rèn luyện, kiên trì và thường xuyên tập luyện Với bản chất tâm lý con người

là hoạt động nên kỹ năng giao tiếp của học sinh chỉ được hình thành thông qua hoạt

Trang 28

động và bằng hoạt động Hiệu quả của quá trình Giáo dục nói chung, Giáo dục năng lực giao tiếp nói riêng, ngoài tác động có tính quyết định của giáo viên, đòi hỏi có sự tích cực, chủ động tham gia quá trình Giáo dục của HS [42]

Môi trường Giáo dục năng lực giao tiếp

Môi trường Giáo dục năng lực giao tiếp cho học sinh tiểu học đóng vai trò là điều kiện cần và đủ để Giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh đạt hiệu quả cao Để Giáo dục năng lực giao tiếp cho học sinh có hiệu quả, đòi hỏi phải có sự thống nhất giữa các môi trường giáo dục: nhà trường, gia đình và xã hội, trong việc tổ chức Giáo dục năng lực giao tiếp cho học sinh Thầy cô giáo, cha mẹ học sinh và cộng đồng địa phương phải có sự thống nhất trong việc Giáo dục năng lực giao tiếp có văn hóa cho thế hệ trẻ [42]

Công tác quản lý

Nhà quản lý cần quan tâm đến công tác lập kế hoạch Giáo dục năng lực giao tiếp, công tác tổ chức hoạt động, huy động nguồn lực Giáo dục năng lực giao tiếp và công tác chỉ đạo thực hiện nội dung, chương trình Giáo dục NLGT cho học sinh, đồng thời đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục Đi đôi với việc nâng cao NLGT cần Giáo dục kĩ năng sống cho giáo viên, xây dựng môi trường Giáo dục lành mạnh, thống nhất trong việc thực hiện mục tiêu, nội dung Giáo dục năng lực giao tiếp cho HSTH Công tác quản lý cần quan tâm đến việc chỉ đạo việc đổi mới trong xây dựng chương trình, nội dung Giáo dục năng lực giao tiếp, chỉ đạo giáo viên thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, Giáo dục theo hướng tăng cường Giáo dục năng lực giao tiếp cho học sinh [42]

Trang 29

Tiểu kết chương 1

Môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Kể chuyện nói riêng có vai trò quan trọng đối với HSTH Kể chuyện không chỉ cung cấp cho các em một phương tiện để giao tiếp mà còn là một công cụ để giúp các em học tập và tư duy Các thành tựu này

đã tạo cơ sở cho việc xây dựng nội dung chương trình dạy Kể chuyện ở bậc TH

HS lớp 2 có ngôn ngữ nói thành thạo Do đó, chương trình TH nói chung, chương trình Kể chuyện nói riêng cần cho HS tiếp cận những bài tập về phát triển năng lực giao tiếp

Cơ sở Giáo dục học đặc biệt chú trọng yêu cầu phát huy vai trò tích cực của HS trong quá trình nhận thức Việc dạy học phải lấy HS làm trung tâm, phải hình thành năng lực giao tiếp và những kỹ năng xã hội cho người học

Dạy Kể chuyện không chỉ dừng lại ở việc chiếm lĩnh tri thức mà cốt lõi là sự vận dụng tri thức ấy như thế nào trong cuộc sống Theo đó, nhấn mạnh quan điểm phát triển năng lực giao tiếp cho HS lớp 2 qua giờ Kể chuyện

Trang 30

Chương 2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP CHO HỌC SINH LỚP 2

QUA GIỜ KỂ CHUYỆN

Ở chương này, luận văn đề cập đến cơ sở thực tiễn của vấn đề phát triển năng lực giao tiếp cho HS lớp 2 qua giờ Kể chuyện: Chương trình, tài liệu dạy học phân môn

Kể chuyện ở TH và việc rèn kĩ năng giao tiếp cho HSTH Những cơ sở thực tiễn dưới đây là một trong những cơ sở quan trọng để tác giả luận văn nghiên cứu, đề xuất các bài tập Kể chuyện ở chương 3

2.1 Chương trình, tài liệu dạy học phân môn Kể chuyện ở tiểu học và việc rèn kĩ năng giao tiếp cho học sinh tiểu học

2.1.1 Chương trình

a Chương trình môn Tiếng Việt lớp 2

Kể chuyện ở lớp 2 gắn bó chặt chẽ với phân môn Tập đọc Nội dung cả 31 tiết

Kể chuyện đều là kể lại những câu chuyện HS đã học trong bài tập đọc ở hai tiết mở đầu mỗi tuần Hệ thống 31 văn bản tập đọc – kể chuyện chọn vào SGK Tiếng Việt 2 đều có nội dung phù hợp với chủ điểm của từng đơn vị học, với tâm lí trẻ lớp 2 và được biên soạn lại cho phù hợp với trình độ của các em [44] Dung lượng mỗi văn bản truyện có khoảng trên dưới 200 chữ bao gồm kể chuyện theo tranh, kể chuyện theo dàn ý cho sẵn, kể chuyện phân vai, diễn đoạn

Trang 31

Các bài học kể chuyện ở lớp 2 được phân bố theo chủ đề như sau:

Bảng 2.1 Phân phối chương trình – lịch trình dạy học Kể chuyện lớp 2

- Phần thưởng

Bốn mùa - Chuyện bốn mùa

- Ông Mạnh thắng Thần gió

- Chuyện quả bầu

triển ở HS là: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm Về năng lực,

chương trình hướng đến 10 năng lực cốt lõi gồm:

Trang 32

Những năng lực chung được tất cả các môn học và hoạt động Giáo dục góp phần

hình thành, phát triển: Năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác,

năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo

Những năng lực chuyên môn được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một

số môn học, hoạt động Giáo dục nhất định: Năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán,

năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất

Như vậy, chương trình sau năm 2018 chú trọng đến việc phát triển năng lực giao tiếp Đây là năng lực chung được tất cả các môn học và hoạt động Giáo dục góp phần hình thành và phát triển Trong đó, môn Kể chuyện là một trong những phân môn quan trọng trong việc dạy học phát triển năng lực giao tiếp cho HSTH [79]

2.1.2 Tài liệu, phương tiện dạy học trong môn Kể chuyện

a Sách giáo khoa

Trong cấu trúc sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2, các câu chuyện được phân bố theo các thể loại như sau:

Thần thoại Sơn Tinh Thủy Tinh

Truyền thuyết Chuyện quả bầu, Sự tích cây vú sữa, Hai anh em

Cổ tích Bà cháu, Tìm ngọc, Ông Mạnh thắng Thần gió, Có công mài sắt

có ngày nên kim, Chuyện bốn mùa, Một trí khôn hơn trăm trí khôn, Kho báu, Câu chuyện bó đũa, Quả tim khỉ

Danh nhân lịch sử Ai ngoan sẽ được thưởng, Chiếc rễ đa tròn, Bóp nát quả cam,

Phần thưởng, Bím tóc đuôi sam

Sinh hoạt Chiếc bút mực, Mẩu giấy vụn, Người mẹ hiền, Người thầy cũ,

Người làm đồ chơi, Bông hoa niềm vui, Sáng kiến của bé Hà, Con chó nhà hàng xóm, Những quả đào, Bạn của Nai nhỏ, Chim sơn ca và bông cúc trắng

Đồng thoại Bác sĩ Sói, Tôm càng và cá con

Trang 33

b Sách giáo viên

Trong SGV Tiếng Việt 2 nêu rất rõ về mục đích, yêu cầu và quy trình giảng dạy môn Kể chuyện, cụ thể như sau:

b.1 Mục đích, yêu cầu

(1) Phát triển kĩ năng nói và nghe cho HS, bao gồm:

Kĩ năng độc thoại: kể lại câu chuyện đã học hay đã nghe theo những mức độ khác nhau như kể từng đoạn và kể toàn bộ câu chuyện; kể theo lời lẽ trong văn bản và

kể bằng lời của mình

Kĩ năng đối thoại: tập dựng lại câu chuyện theo các vai khác nhau, bước đầu biết

sử dụng các yếu tố phụ trợ trong giao tiếp (nét mặt, cử chỉ, điệu bộ…)

Kĩ năng nghe: theo dõi được câu chuyện bạn kể để kể tiếp hoặc nêu ý kiến bổ sung, nhận xét

(2) Củng cố, mở rộng và tích cực hóa vốn từ ngữ, phát triển tư duy hình tượng và

tư duy logic, nâng cao sự cảm nhận về hiện thực đời sống thông qua nội dung câu chuyện

(3) Bồi dưỡng tình cảm tốt đẹp, trau dồi hứng thú đọc và kể chuyện, đem lại niềm vui tuổi thơ trong hoạt động học tập

Phân môn Kể chuyện đã phát triển nhiều kĩ năng cho HS, tuy nhiên về góc độ phát triển năng lực giao tiếp cho HS thì tài liệu này chưa đi sâu vào năng lực giải quyết mâu thuẫn, năng lực phản hồi thông tin, năng lực tạo lập mối quan hệ

b2 Quy trình giảng dạy môn Kể chuyện

(1) Kiểm tra bài cũ: HS kể lại một đoạn câu chuyện đã học ở tiết Kể chuyện trước theo yêu cầu ở SGK GV nhận xét, củng cố thêm về nội dung hoặc ý nghĩa câu chuyện

(2) Dạy bài mới:

Giới thiệu bài

Trang 34

nêu nhận xét, cảm nghĩ…(theo yêu cầu trong SGK)

(3) Củng cố, dặn dò: Lưu ý về nội dung, ý nghĩa câu chuyện, về cách kể chuyện; nêu yêu cầu thực hành kể chuyện ở nhà

c Các ĐDDH cần cho tiết Kể chuyện ở lớp 2

- Sách giáo khoa Tiếng Việt 2, tập 2

- Tranh minh hoạ sưu tầm

- Bảng phụ ghi những đoạn văn khó đọc

- Các vật dụng để tổ chức trò chơi như vòng đội đầu có hình chú Tôm Càng, Cá Con, Khỉ con, Cá Sấu,…

Các ĐDDH này đã phát huy được năng lực quan sát, năng lực lắng nghe Tuy nhiên nó chưa phát huy hết các năng lực giao tiếp như năng lực tạo mối quan hệ, giải quyết mâu thuẫn

2.2 Thực trạng biểu hiện năng lực giao tiếp của học sinh lớp 2 trong giờ Kể chuyện

Để tiến hành tìm hiểu về thực trạng phát triển năng lực giao tiếp HS của HS người thực hiện đề tài tiến hành khảo sát 165 HS, 60 GV và 6 CBQL đang theo học và giảng dạy tại các trường (trong đó có 1 trường điểm là trường TH KS, 1 trường trong nội ô là trường TH PP, 1 trường ở vùng ven huyện là trường TH TB, cùng với 50 phụ huynh của các trường Trong số 165 HS được khảo sát đều bình thường, không bị khuyết tật học tập

2.2.1 Thực trạng nhận thức của học sinh về sự yêu thích các môn học

Hoạt động Giáo dục kỹ năng giao tiếp cho HS đã được triển khai ở các cơ sở Giáo dục nhưng việc tiếp nhận Giáo dục năng lực giao tiếp của HS đến đâu trong quá trình thực hiện là một vấn đề cần có sự đánh giá đúng mức Để phản ánh thực trạng trên, người nghiên cứu tiến hành khảo sát trên 165 HS về nhận thức, tiếp nhận của HS Qua khảo sát, đã thu được kết quả như ở bảng 2.2

Trang 35

Bảng 2.2 Nhận thức của học sinh lớp 2 về các môn học yêu thích

Bảng 2.3 Nhận thức của học sinh lớp 2 về các phân môn của Tiếng Việt

Trang 36

Bảng 2.4 Lý do yêu thích học các môn học của HS lớp 2

2.2.2 Thực trạng biểu hiện năng lực giao tiếp của học sinh lớp 2

Hoạt động Giáo dục năng lực giao tiếp cho HS đã được triển khai ở các cơ sở Giáo dục nhưng việc tiếp nhận năng lực giao tiếp của HS đến đâu trong quá trình thực hiện là một vấn đề cần có sự quan tâm đúng mức Để phản ánh thực trạng trên, người nghiên cứu tiến hành khảo sát về mức độ nhận thức các năng lực giao tiếp qua giờ Kể chuyện của HS và thu được kết quả như sau:

Bảng 2.5 Nhận thức của học sinh lớp 2 về các năng lực giao tiếp

thiết của HS lớp 2

Thường xuyên

Thỉnh

1 Khi GV treo tranh- ảnh minh

họa em có chăm chú quan sát

Trang 37

4 Khi gặp bạn bè, thầy cô và

người lớn em có chào hỏi hay

lỗi khi mình mắc lỗi không? 7.69% 5.63% 43,2% 43,48%

7 Em có thường chia sẻ thông tin

“Khi GV giảng bài em có chú ý lắng nghe không?” thì câu trả lời “thường xuyên” chiếm đến (59,5%), “thỉnh thoảng” là (20.64%) và “hiếm khi” là (19,86%), sự tập trung của các em còn chưa lâu, một phần do là HS nhỏ đầu cấp, các em chỉ tập trung khoảng 10 phút đầu của tiết học Với câu hỏi “Khi thắc mắc về bài học, em có trình bày ý kiến của mình với GV hay không?” thì câu trả lời “thường xuyên” chiếm đến (13,42%), “thỉnh thoảng” là (16,72%) “hiếm khi” là (22,75%), và “chưa hề” là (47,11%), lứa tuổi đầu cấp TH tâm lí các em còn sợ sệt, sợ bị sai, sợ bị la khi làm bài chưa đúng, nên việc dù có thắc mắc về một vấn đề việc học nào đó thì các em cũng chỉ suy nghỉ thoáng qua và cho qua, chỉ một số ít HS học giỏi xuất sắt mới dám mạnh dạng ý kiến với GV Khi được hỏi “Khi gặp bạn bè, thầy cô và người lớn em có chào hỏi hay không?” thì câu trả lời “thường xuyên” chiếm đến (86,7%), “thỉnh thoảng” là (8,01%) và “hiếm khi” là (5,29%), HSTH rất ngoan, ngay từ nhỏ các em đã được dạy quy tắc giao tiếp “Đi thưa về trình”, gặp bất cứ ai cũng điều “thưa” “thưa ông ngoại, cháu mới xuống ạ!” Với câu hỏi “Khi bạn em có chuyện buồn, em có an ủi bạn

Trang 38

không?” thì câu trả lời “thường xuyên” chiếm đến (52,3%), “thỉnh thoảng” là (26,38%),“hiếm khi” là (12%) và “chưa hề” là (9,32%), HS lớp 2 rất thích chơi với bạn mới, các em rất quan tâm lẫn nhau, bạn nào hôm nay vắng không đi học sẽ tìm hiểu nguyên nhân và báo ngay với GV chủ nhiệm, sau khi bạn hết ốm vào học, sẽ vây xung quanh hỏi thăm bạn Với câu hỏi “Em có sẵn sàng nhận lỗi và sửa lỗi khi mình mắc lỗi không?” thì câu trả lời “thường xuyên” chỉ chiếm (7.69%), “thỉnh thoảng” còn

ít hơn là (5.63%), “hiếm khi” là (43,2%) và “chưa hề” là (43,48%), 2 mức độ hiếm khi

và chưa hề chiếm tỉ lệ tương đối cao HS lớp 2, lớp đầu cấp TH, tâm lí sợ sệt, rụt rè nên việc các em mắc lỗi sai các em có tâm lí che giấu rất sợ bị phát hiện sẽ bị GV phạt nên rất sợ và xấu hổ Cuối cùng là khi hỏi “Em có thường chia sẻ thông tin học tập với gia đình và bạn bè không?” thì câu trả lời “thường xuyên” chỉ chiếm (15.69%), “thỉnh thoảng” còn ít hơn là (18,75%), “hiếm khi” là (26,82%) và “chưa hề” là (38,74%), thông thường khi về nhà thì các em sẽ được cha mẹ hỏi là “Hôm nay, con học có ngoan không? Cô giáo có nói gì về việc học của con không?” lúc đó các em mới nhớ lại buổi học ngày hôm nay và chia sẻ lại cho cha mẹ nghe, chỉ có một số ít các em khá giỏi thì thường hay chia sẻ cho cha mẹ nghe việc học trong ngày của mình Đa số các

em ít khi chia sẻ việc học với cha mẹ, vì điều do cha mẹ đã chuẩn bị sẵn cho các em, cha mẹ thúc dục các em học bài, làm bài, các em sẽ hiểu đó là điều bình thường nên không cần chia sẻ việc học với cha mẹ

Từ các kết quả ở bảng 2.5 thông qua các câu hỏi nhằm thống kê về năng lực cần thiết của HS lớp 2 Có thể thấy rằng các năng lực cần thiết để phát triển năng lực giao tiếp cho HS là các năng lực như quan sát, lắng nghe, phản hồi thông tin, tạo lập mối quan hệ, chia sẻ thông tin và năng lực giải quyết mâu thuẫn Trong các năng lực đã nêu ra ở trên mà đề tài đã đi vào tìm hiểu thực trạng phát triển năng lực giao tiếp của

HS thông qua phiếu khảo sát câu hỏi thì năng lực phản hồi thông tin, năng lực chia sẻ thông tin và năng lực giải quyết mâu thuẫn thì các em chưa được định hướng và phát triển được tốt hơn so với các năng lực còn lại, các em còn chậm về nhận và đáp lại thông tin, chậm về chia sẻ thông tin với người nghe, với bạn bè, cái mình chưa hiểu để được giúp đỡ kịp thời, chậm về giải quyết các vấn đề mâu thuẫn, biết sai nhưng không dám nhận lỗi, còn sợ sai, sợ bị la và bị phạt

Trang 39

Trên đây cũng là thực trạng mà luận văn muốn đi sâu tìm hiểu nhằm xây dựng hệ thống bài tập hỗ trợ phát triển năng lực giao tiếp cho HS lớp 2 qua giờ Kể chuyện, cụ thể là xây dựng các bài tập phát triển các năng lực phản hồi thông tin, năng lực chia sẻ thông tin và năng lực giải quyết mâu thuẫn

2.2.3 Thực trạng giảng dạy đánh giá của giáo viên, phụ huynh học sinh về phát triển năng lực giao tiếp của học sinh

2.2.3.1 Nhận thức của giáo viên về tầm quan trọng của việc phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh

Để đánh giá về nhận thức của GV về tầm quan trọng của việc phát triển NLGT người thực hiện đề tài tiến hành xây dựng câu hỏi "Theo thầy cô năng lực giao tiếp có cần phát triển cho HS không?", chúng tôi nhận được kết quả sau đây:

Hình 2.1 Biểu đồ nhận thức của GV về tầm quan trọng

của việc phát triển NLGT cho HS

Biểu đồ trên cho thấy 60 GV được khảo sát đều nhận thức được tầm quan trọng của việc phát triển các NLGT cho HS

72%

28%

0%

Rất cần Cần Không cần

Trang 40

2.2.3.2 Thực trạng việc giảng dạy của giáo viên nhằm phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh

Hiếm khi Chƣa hề

Ngày đăng: 03/04/2018, 14:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2001- 2005), Bộ sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2- 5, Nxb Giáo dục, 2001 – 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2- 5
Nhà XB: Nxb Giáo dục
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo(2009), Chương trình Giáo dục PT cấp TH, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình Giáo dục PT cấp TH
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (1998), Đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy cấpTH, sách bồi dưỡng thường xuyên: chu kì 1997 – 2000 cho GVTH, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy cấpTH
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (1998), Một số vấn đề dạy ngôn bản nói và viết ở TH theo hướng giao tiếp, sách bồi dưỡng thường xuyên: chu kì 1997 – 2000 cho GVTH, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề dạy ngôn bản nói và viết ở TH theo hướng giao tiếp
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
5. Lê A (2001), Dạy tiếng Việt là dạy một hoạt động và bằng hoạt động, Ngôn ngữ- Ngữ văn trong nhà trường, số 4,4/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy tiếng Việt là dạy một hoạt động và bằng hoạt động
Tác giả: Lê A
Năm: 2001
6. Lê A, Thành Thị Yên Mĩ, Lê Phương Nga, Nguyễn Trí (1993), Phương pháp dạy học Tiếng Việt, Nxb Bộ Giáo dục và Đào tạo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tiếng Việt
Tác giả: Lê A, Thành Thị Yên Mĩ, Lê Phương Nga, Nguyễn Trí
Nhà XB: Nxb Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 1993
7. Nguyễn Ngọc Bích (2000), Tâm lí học nhân cách, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học nhân cách
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bích
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
8. Hoàng Hòa Bình (2002), Hỏi đáp về dạy học Tiếng Việt 2, Nxb Giáo dục, tr.77-79 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp về dạy học Tiếng Việt 2
Tác giả: Hoàng Hòa Bình
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002
9. Hoàng Hòa Bình, Nguyễn Minh Thuyết (2012), Phương pháp dạy học Tiếng Việt nhìn từ TH, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tiếng Việt nhìn từ TH
Tác giả: Hoàng Hòa Bình, Nguyễn Minh Thuyết
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2012
10. Hoàng Hòa Bình (2015), Năng lực và đánh giá theo năng lực, Tạp chí Khoa học, Nxb Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng lực và đánh giá theo năng lực
Tác giả: Hoàng Hòa Bình
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2015
11. Nguyễn Việt Bắc, Đinh Xuân Hảo, Phan Hồng Liên, Hoàng Diệu Minh, Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
12. Đỗ Hữu Châu (2003), Đại cương ngôn ngữ học, tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội. tr.201 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
13. Nguyễn Đức Dân (1996), Logic và Tiếng Việt, Nxb Giáo dục, TP.HCM. tr.234 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Logic và Tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
14. Nguyễn Đức Dân (2000), Ngữ dụng học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ dụng học
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
15. Nguyễn Kiều Diễm (2015), Vận dụng trò chơi vào dạy học kể chuyện cho HS lớp 3, Khóa luận tốt nghiệp, trường Đại học Hải Phòng, tr.8 - 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng trò chơi vào dạy học kể chuyện cho HS lớp 3
Tác giả: Nguyễn Kiều Diễm
Năm: 2015
17. Lê Quang Dương (2005), Tổ chức các hoạt động ngoại khóa môn Tiếng Việt cho HSTH, Sáng kiến kinh nghiệm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức các hoạt động ngoại khóa môn Tiếng Việt cho HSTH
Tác giả: Lê Quang Dương
Năm: 2005
18. Hồ Ngọc Đại (1983), Tâm lý học dạy học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học dạy học
Tác giả: Hồ Ngọc Đại
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1983
20. Đinh Văn Đức (2001), Về nội dung ngữ pháp trong chương trình sách giáo khoa tiếng Việt bậc phổ thông tới đây, Ngôn ngữ, số 11 (142), 8 – 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về nội dung ngữ pháp trong chương trình sách giáo khoa tiếng Việt bậc phổ thông tới đây
Tác giả: Đinh Văn Đức
Năm: 2001
21. Cao Cự Giác (2017), Dạy học tích hợp – cơ sở cho sự phát triển năng lực cho HS, Khoa Hóa học, trường Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học tích hợp – cơ sở cho sự phát triển năng lực cho HS
Tác giả: Cao Cự Giác
Năm: 2017
22. Bùi Văn Huệ (1994), Chương 1: Hoạt động- Giao tiếp – Nhân cách (tr.17 – 26); Chương 4: Một số đặc điểm tâm lí của HSTH (tr.63 – 71), trong Tâm lí họcTH, Hà Nội: Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí họcTH
Tác giả: Bùi Văn Huệ
Năm: 1994

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w