Nghiên cứu đa dạng, phân loại và sinh thái họ Cà (Solanaceae Juss.) tại tỉnh Bình Dương (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu đa dạng, phân loại và sinh thái họ Cà (Solanaceae Juss.) tại tỉnh Bình Dương (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu đa dạng, phân loại và sinh thái họ Cà (Solanaceae Juss.) tại tỉnh Bình Dương (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu đa dạng, phân loại và sinh thái họ Cà (Solanaceae Juss.) tại tỉnh Bình Dương (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu đa dạng, phân loại và sinh thái họ Cà (Solanaceae Juss.) tại tỉnh Bình Dương (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu đa dạng, phân loại và sinh thái họ Cà (Solanaceae Juss.) tại tỉnh Bình Dương (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu đa dạng, phân loại và sinh thái họ Cà (Solanaceae Juss.) tại tỉnh Bình Dương (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu đa dạng, phân loại và sinh thái họ Cà (Solanaceae Juss.) tại tỉnh Bình Dương (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu đa dạng, phân loại và sinh thái họ Cà (Solanaceae Juss.) tại tỉnh Bình Dương (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu đa dạng, phân loại và sinh thái họ Cà (Solanaceae Juss.) tại tỉnh Bình Dương (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Hải Vân
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
T hành phố Hồ Chí Minh - 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Hải Vân
Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã số: 60 42 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.T S TRẦN HỢP
T hành phố Hồ Chí Minh – 2017
Trang 3L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn
Trang 4Tôi xin chân thành cảm ơn thầy PGS.TS Trần Hợp đã hết lòng giúp đỡ và nhiệt tình hướng dẫn tôi trong thời gian tiến hành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Sư phạm thành phố
Hồ Chí Minh, khoa Sinh học, Phòng Sau đại học trường Đại học Sư phạm thành phố
Hồ Chí Minh và các bạn học viên cùng lớp Sinh thái học K26 đã giúp đỡ, động viên và
tạo mọi thuận lợi để tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Sau cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè và những người dân đã rất
rộng lượng giúp đỡ trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tp Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 9 năm 2017
Tác gi ả luận văn
Nguy ễn Hải Vân
Trang 5Lời Cam Đoan
Lời cảm ơn
Mục Lục
Danh Mục Hình Ảnh
Danh Mục Bảng
M Ở ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Đặc điểm họ Cà 3
1.2 Mối quan hệ của họ Cà trong lớp Mộc lan 3
1.3 Sơ lược những nghiên cứu về họ Cà (Solanaceae) trên thế giới và Việt Nam 3
1.3.1 Thế giới 3
1.3.2 Việt Nam 4
1.4 Đặc điểm tự nhiên của tỉnh Bình Dương 7
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12
2.1 Nội dung nghiên cứu 12
2.2 Phương pháp nghiên cứu 12
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa 12
2.2.2 Phương pháp ghi nhật kí 12
2.2.3 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm 13
2.2.4 Phương pháp tham khảo tài liệu 13
2.2.5 Phương pháp chấm điểm phân bố các loài 13
2.2.6 Dụng cụ, hóa chất cần thiết cho việc thực hiện đề tài 13
2.2.7 Xác định tuyến đi thực địa 13
2.2.8 Thời gian thực địa 14
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 16
3.1 Đặc điểm chung của họ Cà (Solanaceae) 16
3.1.1 Hình thái 16
3.1.2 Khóa tra các chi trong họ Cà (Solanaceae) có ở Bình Dương 17
3.2 Thành phần loài thuộc họ Cà (Solanaceae) ở Bình Dương 19
3.2.1 Physalis angulata L 20
3.2.2 Capsicum annuum L 25
3.2.3 Solanum procumbens Lour 30
3.2.4 Solanum torvum Sw 35
3.2.5 Solanum mammosum L 40
3.2.6 Solanum album Lour 45
3.2.7 Solanum melongena L 50
3.2.8 Lycopersicon esculentum Mill 57
Trang 63.2.10 Cestrum nocturnum L 67
3.2.11 Petunia hybrida Vilm 71
3.2.12 Brunfelsia pauciflora (Cham & Schltdl.) Benth 75
3.3 Thảo luận 79
K ẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 80
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 81
Trang 7Hình 1.1 Bản đồ tỉnh Bình Dương 8
Hình 2.1 Các điểm thu mẫu ở khu vực nghiên cứu 14
Hình 3.1 Hình thái loài Physalis angulata L 22
Hình 3.2 Sinh thái loài Physalis angulata L 23
Hình 3.3 Hình vẽ loài Physalis angulata L 24
Hình 3.4 Hình thái loài Capsicum annuum L 27
Hình 3.5 Sinh thái loài Capsicum annuum L 28
Hình 3.6 Hình vẽ loài Capsicum annuum L 29
Hình 3.7 Hình thái loài Solanum procumbens Lour 32
Hình 3.8 Sinh thái loài Solanum procumbens Lour 33
Hình 3.9 Hình vẽ loài Solanum procumbens Lour 34
Hình 3.10 Hình thái loài Solanum torvum Sw 37
Hình 3.11 Sinh thái loài Solanum torvum Sw 38
Hình 3.12 Hình vẽ loài Solanum torvum Sw 39
Hình 3.13 Hình thái loài Solanum mammosum L 43
Hình 3.14 Sinh thái loài Solanum mammosum L 42
Hình 3.15 Hình vẽ loài Solanum mammosum L 44
Hình 3.16 Hình thái loài Solanum album Lour 47
Hình 3.17 Sinh thái loài Solanum album Lour 48
Hình 3.18 Hình vẽ loài Solanum album Lour 49
Hình 3.19 Hình thái loài Solanum melongena var esculentum Nees 52
Hình 3.20 Hình thái loài Solanum melongena var depressum Bail 52
Hình 3.21 Hình thái loài Solanum melongena var serpentinum Bail 53
Hình 3.22 Hình thái loài Solanum melongena L 54
Hình 3.23 Sinh thái loài Solanum melongena L 55
Hình 3.24 Hình vẽ loài Solanum melongena L 56
Hình 3.25 Hình thái loài Lycopersicon esculentum Mill 59
Hình 3.26 Sinh thái loài Lycopersicon esculentum Mill 60
Hình 3.27 Hình vẽ loài Lycopersicon esculentum Mill 61
Hình 3.28 Hình thái loài Datura metel L 64
Hình 3.29 Sinh thái và phân bố loài Datura metel L 65
Hình 3.30 Hình vẽ loài Datura metel L 66
Hình 3.31 Hình thái loài Cestrum nocturnum L 68
Hình 3.32 Sinh thái loài Cestrum nocturnum L 69
Hình 3.33 Hình vẽ loài Cestrum nocturnum L 70
Hình 3.34 Hình thái loài Petunia hybrida Vilm 72
Trang 8Hình 3.36 Hình vẽ loài Petunia hybrida Vilm 74
Hình 3.37 Hình thái loài Brunfelsia pauciflora (Cham & Schltdl.) Benth 76
Hình 3.38 Sinh thái loài Brunfelsia pauciflora
(Cham & Schltdl.) Benth 77
Hình 3.39 Hình vẽ loài Brunfelsia pauciflora (Cham & Schltdl.) Benth 78
Trang 9Bảng 1.1 So sánh các chi thuộc họ Cà (Solanaceae) ở Việt Nam qua một số nghiên
cứu điển hình 7
Bảng 2.1 Địa điểm và thời gian khảo sát thực địa 15
Bảng 3.1 Tên chi, tên loài thuộc họ Cà (Solanaceae) ở Bình Dương 19
Trang 10M Ở ĐẦU
I LÍ DO CH ỌN ĐỀ TÀI
Bình Dương đang là địa phương phát triển mạnh mẽ về mọi mặt Chỉ vài năm
gần đây Bình Dương đã và đang xây dựng rất nhiều khu công nghiệp, với những chính sách hấp dẫn nhằm thu hút các nhà đầu tư trong nước và quốc tế, quá trình này đã tạo
ra một số lượng lớn việc làm cho người lao động Hệ quả là số lượng dân nhập cư tăng lên đáng kể Do đó, diện tích đất rừng tự nhiên và đất sản xuất nông nghiệp giảm
xuống với tốc độ nhanh chóng, gây ảnh hưởng lớn đến môi trường sinh thái, làm suy
giảm đa dạng sinh học nói chung và giảm sự đa dạng của giới thực vật nói riêng
Chính vì vậy cần quan tâm và có những công trình nghiên cứu về thành phần loài, sự phân bố của các loài cũng như giá trị của các loài để phục vụ cho công tác bảo
tồn và phát triển chúng Trong khi đó, họ Cà với nhiều loài đã thường xuyên xuất hiện trên mâm cơm của mỗi gia đình người dân, nhiều loài có giá trị kinh tế cao và được sử
dụng làm thuốc đang cần được quan tâm Tuy nhiên hiện nay chưa có nhiều nghiên
cứu về họ này ở Bình Dương
Cho nên nghiên cứu về họ Cà, đặc biệt thống kê thành phần loài nhằm bảo vệ, gieo trồng để tăng hiệu quả kinh tế, là một việc cần thiết và thời sự
Từ những lí do trên, tôi chọn đề tài “Nghiên cứu đa dạng, phân loại và sinh thái họ Cà (Solanaceae Juss.) tại tỉnh Bình Dương”
II M ỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Điều tra, thu mẫu, miêu tả, định danh để xác định các taxa điều tra được
- Các đặc tính sinh thái, sự phân bố và giá trị sử dụng (đặc biệt làm thuốc và làm
thực phẩm) của các taxa trong họ Cà (Solanaceae) ở tỉnh Bình Dương
III ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Tất cả taxa phân bố ở Bình Dương của họ Cà (Solanaceae)
IV PH ẠM VI NGHIÊN CỨU
Khu vực tỉnh Bình Dương
V ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
Trang 11- Định dạng, mô tả đặc điểm hình thái, sinh học-sinh thái, phân bố của họ Cà
(Solanaceae) ở Bình Dương
- Ghi nhận và xác định giá trị sử dụng của các loài trong họ Cà (Solanaceae) ở
Bình Dương
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 ĐẶC ĐIỂM HỌ CÀ
Họ Cà có khoảng 92 chi và 2300 loài, là một trong những họ phân bố hầu khắp toàn cầu, đa dạng nhất ở Nam Châu Mỹ với nhiều chi đặc hữu Trong đó, chi Solanum
có số lượng loài lớn với khoảng 1500 loài
Theo Hunziker, Gen Solanacearum (2001) họ Cà chia làm 6 họ phụ: Cestroideae (8 tông, 23 chi, 481 loài), Juanulloideae (1 tông, 9 chi, 42 loài), Solanoideae (9 tông,
50 chi, 1727 loài), Salpiglossoideae (1 tông, 9 chi, 42 loài), Schizanthoideae (1 tông, 1 chi, 12 loài) và Anthocercidoideae (1 tông, 7 chi, 31 loài) [16]
Họ Cà (Solanaceae) gồm cây thảo, bụi leo hay cây gỗ nhỏ cao 0.5-7m có gai, có
lông hay nhẵn, đôi khi có nhựa, thuộc nhóm thực vật có hoa, bao gồm nhiều loài được dùng làm thực phẩm, cây cảnh, làm thuốc tuy nhiên nhiều loài có chứa glucozit dạng ancaloit có thể gây độc cho người và động vật
1.2 M ỐI QUAN HỆ CỦA HỌ CÀ TRONG LỚP MỘC LAN
Mối quan hệ của họ Cà (Solanaceae) trong lớp Mộc lan (Magnoliopsida) có 2
quan điểm khác nhau:
- Họ Cà (Solanaceae) có nhiều điểm chung với họ Convolvulaceae, do 2 họ này
đều có libe trong Quan điểm này có ở một số hệ thống phân loại như: J Hutchinson
(1969), A Cronquist (1981) trong bộ Solanales, V H Heywood (1993) trong bộ
1.3 SƠ LƯỢC NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ HỌ CÀ (SOLANACEAE) TRÊN
TH Ế GIỚI VÀ VIỆT NAM
1.3.1 Thế giới
Trang 13Họ Cà (Solanaceae Juss.) lần đầu tiên được đặt tên và mô tả bởi Antonie Laurent
de Jussieu năm 1789
Theo hệ thống Bentham và Hooker trong “Genera plantanum” (1862-1883) thì
họ Solanaceae có 114 chi (bao gồm cả Goetzeaceae và Retziaceae) thuộc bộ
Polemoniales, liên bộ Bicarpellatae
Theo hệ thống Engler của Dalla Torre và Harms trong “Genera Siphonogamarum
ad System Englerianum Conscripta” (1900-1907) thì họ Solanaceae thuộc tông
Solanineae trong bộ Ebnales
Hệ thống Dahlgren (1983) cho biết họ Solanaceae (bao gồm cả họ
Duckeodendraceae) thuộc bộ Solanales trong liên bộ Solaniflorae
Theo hệ thống Takhtajan trong tài liệu “Systema Magnoliophytorum” (1987) họ
Solanaceae nằm trong bộ Solanales thuộc liên bộ Solananae, lớp phụ Lamidae (tách
riêng Nolanaceae, Sclerophylacaceae)
Theo hệ thống Cronquist (1981) trong “An Integrated system of classification of flowering plants”, họ Solanaceae thuộc bộ Solanales trong lớp phụ Asteridae
Theo “Vascular plant families and genera” của R.K Brummitt (1992) thì họ Cà
khai và còn có sự nhầm lẫn giữa các loài với nhau [3]
Công trình nghiên cứu họ Solanaceae dưới dạng một taxon đầu tiên ở Việt Nam
của tác giả G Bonati (1915-1927) [15], trong M.H Lecomte xây dựng bộ thực vật chí đại cương Đông Dương có nghiên cứu họ Cà (Flora Generale de L’Indo-Chine) công
bố từ năm 1907 đến 1942, tác giả đã mô tả 8 chi, với 31 loài có ở Đông Dương; trong
đó ở Việt Nam có 7 chi, với 27 loài Tuy nhiên tác giả đã không phân chia các taxon
Trang 14theo bậc tông như hệ thống của G Bentham & J D Hooker (1864) mà chỉ từ họ
xuống chi [3]
Phạm Hoàng Hộ (1972) [4] trong “Cây cỏ miền Nam Việt Nam” đã mô tả 8 chi
và 31 loài của họ Cà Năm 1993 [5] tác giả mô tả 51 loài thuộc 16 chi trên lãnh thổ
Việt Nam Trong lần tái bản năm 1999 [6] tác giả đã bổ sung 12 loài, đưa tổng số loài
từ 51 lên 63
Lê Khả Kế và cộng sự (1974) trong “Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam” [7] có ghi
họ Cà gồm 8 chi với 24 loài
Nguyễn Văn Phú (1984) [9] trong “Danh lục thực vật Tây Nguyên” cho biết họ
Cà ở Tây Nguyên có 7 chi với 16 loài
Nguyễn Tiến Bân (1997) [1] trong “Cẩm nang Tra cứu và nhận biết các họ Thực
vật hạt kín (Magroliophyta, Angiospermae) ở Việt Nam” cho biết ở Việt Nam có gần
50 loài, 16 chi
Đỗ Tất Lợi (1999) [8] trong “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” cũng cho
biết số loài thuộc họ Cà được xem là thuốc là 15 loài
Võ Văn Chi (2012) [2] trong “Từ điển cây thuốc Việt Nam” (bộ mới) đã chỉ ra
30 loài trong họ này có giá trị làm thuốc chữa bệnh
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về giá trị của các loài thuộc họ Cà như: luận
án “Nghiên cứu lâm sàng tổn thương gan do tiếp xúc nghề nghiệp với TNT và tác
dụng bảo vệ gan của Cà gai leo trên thực nghiệm - 1997”, cho biết: “Dịch chiết toàn
phần cà gai leo có tác dụng bảo vệ gan của chuột bị ảnh hưởng của chất độc TNT với vai trò: hạn chế tăng trọng lượng gan do nhiễm độc, ngăn chặn thoái hóa mỡ và sự
chảy máu vi thể của nhu mô gan; làm giảm sự hủy hoại tế bào và tan rã nhu mô gan,
do đó bảo tồn được cấu trúc nan hoa của tiểu thùy gan” [10], luận án “Nghiên cứu cà gai leo làm thuốc chống viêm gan và ức chế xơ gan - 2002” cho biết: “Dịch chiết toàn
phần và hoạt chất glycoancaloid của cà gai leo làm giảm trọng lượng u trên mô hình u
hạt thực nghiệm; làm giảm hàm lượng colagenasegan trên mô hình xơ gan thực nghiệm” [12], v.v
Trang 15Luận án tiến sĩ (2006) [3] - Nghiên cứu phân loại họ Cà (Solanaceae Juss.) ở
Việt Nam - của Vũ Văn Hợp đã chỉ ra họ này có 57 loài thuộc 15 chi Trong đó tác giả
đã phát hiện một loài mới cho khoa học và bổ sung 2 loài mới cho hệ thực vật Việt Nam
Gần đây hai tác giả người Pháp Sovanmoly Hul & Pauline Dy Phon (2014) đã
xuất bản quyển Flore du Cambodge, du Laos et du Viêtnam cho thấy có 8 chi, với 48
loài ở Đông Dương, trong đó ở Việt Nam có 8 chi với 42 loài [19]
Trang 16Bảng 1.1 So sánh các chi thuộc họ Cà (Solanaceae) ở Việt Nam qua một số
nghiên c ứu điển hình
TT Tên ph ổ thông Tên khoa h ọc (1) (2) (3)
T ổng số loài 63 57 42
Chú thích: (1) Ph ạm Hoàng Hộ, 1999; (2) Vũ Văn Hợp, 2006; (3) Sovanmoly Hul & Pauline Dy Phon, 2014
1.4 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN CỦA TỈNH BÌNH DƯƠNG
V ị trí địa lí
Bình Dương là một tỉnh nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa sườn phía nam của dãy Trường Sơn, nối nam Trường Sơn với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và là tỉnh bình nguyên có địa hình lượn sóng yếu từ tây sang đông từ 10m đến 15m so với mặt
biển Vị trí trung tâm của tỉnh ở vào tọa độ địa dư từ 10o-50’-27’’ đến 11o-24’-32’’ vĩ
độ bắc và từ 106o-20’ đến 106o25’ kinh độ đông
- Phía Bắc giáp tỉnh Bình Phước
Trang 17- Phía Nam giáp Thành phố Hồ Chí Minh
- Phía Đông giáp tỉnh Đồng Nai
- Phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh và Thành phố Hồ Chí Minh
Hình 1.1 B ản đồ tỉnh Bình Dương [18]
Trang 18Đặc điểm khí hậu
Bình Dương có chế độ khí hậu của khu vực miền Đông Nam Bộ: nắng nóng và mưa nhiều, độ ẩm khá cao Đó là khí hậu nhiệt đới gió mùa ổn định, trong năm phân chia thành hai mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5 kéo dài đến cuối tháng 10 dương lịch
Vào những tháng đầu mùa mưa, thường xuất hiện những cơn mưa rào lớn, rồi sau
đó dứt hẳn Những tháng 7, 8, 9, thường là những tháng mưa dầm Có những trận mưa dầm kéo dài 1-2 ngày đêm liên tục Đặc biệt ở Bình Dương hầu như không có bão, mà chỉ bị ảnh hưởng những cơn bão gần
Nhiệt độ trung bình hàng năm ở Bình Dương từ 26oC-27oC Nhiệt độ cao nhất có lúc lên tới 39,3oC và thấp nhất từ 16oC-17oC (ban đêm) và 18oC vào sáng sớm Vào mùa nắng, độ ẩm trung bình hàng năm từ 76%-80%, cao nhất là 86% (vào tháng 9) và thấp nhất là 66% (vào tháng 2) Lượng nước mưa trung bình hàng năm từ 1.800-2.000mm Tại ngã tư Sở Sao của Bình Dương đo được bình quân trong năm lên đến 2.113,3mm
Đặc điểm địa hình
Vùng đất Bình Dương tương đối bằng phẳng, thấp dần từ bắc xuống nam Nhìn tổng quát, Bình Dương có nhiều vùng địa hình khác nhau: vùng địa hình núi thấp có lượn sóng yếu, vùng có địa hình bằng phẳng, vùng thung lũng bãi bồi Có một số núi thấp, như núi Châu Thới (huyện Dĩ An), núi Cậu ở huyện Dầu Tiếng… và một số đồi thấp
Các quy luật tự nhiên tác động lên vùng đất này tạo nên nhiều dạng địa mạo khác nhau: có vùng bị bào mòn, có vùng tích tụ (do có sự lắng đọng của các vật liệu xâm thực theo dòng chảy), có vùng vừa bị bào mòn, vừa tích tụ và lắng đọng Nguyên nhân chủ yếu là do nước mưa và dòng chảy tác động trên mặt đất, cộng với sự tác động của sức gió, nhiệt độ, khí hậu, sự sạt lở và sụp trượt vì trọng lực của nền địa chất Các sự tác động này diễn ra lâu dài hàng triệu năm
Đặc điểm đất đai
Đất đai Bình Dương rất đa dạng và phong phú về chủng loại
Trang 19- Đất xám trên phù sa cổ, có diện tích 200.000ha phân bố trên các huyện Dầu Tiếng, thị xã Bến Cát, thị xã Thuận An, thành phố Thủ Dầu Một Loại đất này phù hợp với nhiều loại cây trồng, nhất là cây công nghiệp, cây ăn trái
- Đất nâu vàng trên phù sa cổ, có khoảng 35.206ha nằm trên các vùng đồi thấp thoải xuống, thuộc các huyện Bắc Tân Uyên, huyện Phú Giáo, khu vực thành phố Thủ Dầu Một, thị xã Thuận An và một ít chạy dọc quốc lộ 13 Đất này có thể trồng rau màu, các loại cây ăn trái chịu được hạn như mít, điều
- Đất phù sa Glây (đất dốc tụ), chủ yếu là đất dốc tụ trên phù sa cổ, nằm ở huyện Bắc Tân Uyên, huyện Phú Giáo, thị xã Bến Cát, huyện Dầu Tiếng, thị xã Thuận An, thị xã Dĩ An; đất thấp mùn Glây có khoảng 7.900 ha nằm rải rác tại những vùng trũng ven sông rạch, suối Đất này có chua phèn, tính axít vì chất sunphát sắt và alumin của chúng Loại đất này sau khi được cải tạo có thể trồng lúa, rau và cây ăn trái, v.v
Đặc điểm thủy văn
Chế độ thủy văn của các con sông chảy qua tỉnh và trong tỉnh Bình Dương thay đổi theo mùa: mùa mưa nước lớn từ tháng 5 đến tháng 11 (dương lịch) và mùa khô (mùa kiệt) từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau, tương ứng với 2 mùa mưa nắng Bình Dương có 3 con sông lớn, nhiều rạch ở các địa bàn ven sông và nhiều suối nhỏ khác
- Sông Đồng Nai là con sông lớn nhất ở miền Đông Nam Bộ, bắt nguồn từ cao nguyên Lâm Viên (Lâm Đồng) dài 635 km nhưng chỉ chảy qua địa phận Bình Dương
ở Tân Uyên Sông Đồng Nai có giá trị lớn về cung cấp nước tưới cho nền nông nghiệp, giao thông vận tải đường thủy và cung cấp thủy sản cho nhân dân
- Sông Sài Gòn dài 256 km, bắt nguồn từ vùng đồi cao huyện Lộc Ninh (tỉnh Bình Phước) Sông Sài Gòn có nhiều chi lưu, phụ lưu, rạch, ngòi và suối Sông Sài Gòn chảy qua Bình Dương về phía Tây, đoạn từ Lái Thiêu lên tới Dầu Tiếng dài
143km, độ dốc nhỏ nên thuận lợi về giao thông vận tải, về sản xuất nông nghiệp, cung cấp thủy sản Ở thượng lưu, sông hẹp (20m) uốn khúc quanh co, từ Dầu Tiếng được
mở rộng dần đến Thủ Dầu Một (200m) Sông Thị Tính là phụ lưu của sông Sài Gòn bắt nguồn từ đồi Cam Xe huyện Bình Long (tỉnh Bình Phước) chảy qua Bến Cát, rồi lại đổ vào sông Sài Gòn ở đập Ông Cộ Sông Sài Gòn, sông Thị Tính mang phù sa bồi
Trang 20đắp cho những cánh đồng ở Bến Cát, Thuận An, cùng với những cánh đồng dọc sông Đồng Nai, tạo nên vùng lúa năng suất cao và những vườn cây ăn trái xanh tốt
- Sông Bé dài 360km, bắt nguồn từ các sông Đắk RơLáp, Đắk Giun, Đắc Huýt thuộc vùng núi tỉnh Đắk Lắk hợp thành từ độ cao 1000m Ở phần hạ lưu, đoạn chảy vào đất Bình Dương dài 80km Sông Bé không thuận tiện cho việc giao thông đường thủy do có bờ dốc đứng, lòng sông nhiều đoạn có đá ngầm, lại có nhiều thác ghềnh, tàu thuyền không thể đi lại
Tài nguyên r ừng
Do đặc điểm khí hậu nhiệt đới ẩm và đất đai màu mỡ, nên rừng ở Bình Dương xưa rất đa dạng và phong phú về nhiều chủng loài Có những khu rừng liền khoảnh, bạt ngàn Rừng trong tỉnh có nhiều loại gỗ quý như: căm xe, sao, trắc, gõ đỏ, cẩm lai, giáng hương Rừng Bình Dương còn cung cấp nhiều loại dược liệu làm thuốc chữa bệnh, cây thực phẩm và nhiều loài động vật, trong đó có những loài động vật quý hiếm
Hiện nay, rừng Bình Dương đã bị thu hẹp khá nhiều do bị bom đạn, chất độc hóa học của giặc Mỹ tàn phá trong chiến tranh Trong những năm tháng chiến tranh diễn ra
ác liệt, Mỹ-Ngụy đã ủi phá rừng, bứng hết cây cối nhằm tạo thành những “vùng trắng”, đẩy lực lượng cách mạng ra xa căn cứ càng làm cho rừng thêm cạn kiệt Mặt khác, sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng, việc khai thác rừng bừa bãi cũng làm cho rừng bị thu hẹp [19]
Trang 21CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 N ỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Thu thập mẫu, làm tiêu bản, định danh, ghi chép đặc điểm hình thái, sinh thái,
sinh học và phân loại của các taxa thuộc họ Cà (Solanaceae) điều tra được ở Bình
Dương
- Tìm hiểu những giá trị của những loài thuộc họ Cà được tìm thấy ở Bình Dương
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa
- Thu thập mẫu: thân, lá, hoa, quả (nếu có) Rồi ép mẫu hoặc ngâm trong foocmon 5% Lưu ý, khi lấy mẫu cần lấy tối thiểu 3 mẫu
- Chụp ảnh nơi thu mẫu, mẫu Khi chụp mẫu, tiến hành chụp:
+ Dạng sống của cây + Cành mang hoa, quả + Mặt trên và mặt dưới của lá + Cụm hoa, 1 hoa, hoa cắt dọc, nhị, nhụy
+ Cụm quả, quả, quả cắt dọc, quả cắt ngang
- Xác định tọa độ GPS nơi thu mẫu
- Sau đó, ghi nhãn cho mẫu gồm các thông tin sau:
+ Số hiệu mẫu:
+ Tên thông thường:
+ Ngày thu mẫu:
+ Nơi thu mẫu:
- Tiếp đó cho mẫu vào túi để đem về làm tiêu bản khô Cần chú ý lấy lá hoặc giấy mềm gói hoa lại tránh hoa bị dập nát
2.2.2 Phương pháp ghi nhật kí
- Ghi chép những đặc điểm hình thái, sinh thái, sinh học của mẫu ngoài tự nhiên
- Ghi chép những điều kiện tự nhiên của nơi thu mẫu
Trang 22- Ghi lại những thông tin từ người dân về công dụng của các mẫu như làm rau ăn, làm thuốc hay làm cảnh
- Ghi phiếu mô tả
- Đặt mẫu vào tờ giấy báo sao cho có lá sấp, lá ngửa Cần lưu ý hoa tránh để bị dính vào các cơ quan khác (có thể lót thêm một mẩu giấy báo để ngăn cách)
- Cho mẫu ép vào tủ sấy khô, rồi tẩm độc sau đó vớt ra ép lại và sấy khô
- Làm tiêu bản khô và dán nhãn Sau đó, chụp hình tiêu bản khô đã được dán nhãn
- Phân tích hình thái các bộ phận dinh dưỡng và sinh sản phục vụ mô tả loài
2.2.4 Phương pháp tham khảo tài liệu
- Thu thập tài liệu cần thiết hiện có ở trong nước cho việc định danh, mô tả, tìm
hiểu công dụng của các loài thuộc họ Cà (Solanaceae)
- Tham khảo tài liệu trên internet
2.2.5 Phương pháp chấm điểm phân bố các loài
Xác định tọa độ bằng GPS rồi chấm trên bản đồ số của tỉnh Bình Dương bằng Google Earth sau đó xử lí ảnh bằng Photoshop CS2
2.2.6 Dụng cụ, hóa chất cần thiết cho việc thực hiện đề tài
- Dụng cụ: máy ảnh, máy xác định GPS, máy tính, kéo cắt cành, kẹp gỗ, giấy báo, thước kẻ, sổ ghi chép
- Hóa chất: cồn 700
2.2.7 Xác định tuyến đi thực địa
- Họ Cà chủ yếu là dạng thân thảo, phân bố nơi nhiều ánh sáng, do đó các tuyến
đi thực địa sẽ phải chú ý các sinh cảnh đồng ruộng, bãi đất hoang, bờ rào, ven đường, ven sông Sài Gòn
- Mỗi tuyến sẽ khảo sát nhiều lần theo các mùa để thu được cả hoa và quả
Trang 23Hình 2.1 Các điểm thu mẫu ở khu vực nghiên cứu
Trang 242.2.8 Thời gian thực địa
B ảng 2.1 Địa điểm và thời gian khảo sát thực địa
Trang 25CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA HỌ CÀ (SOLANACEAE)
Cánh tràng hợp hình ống dạng hoa thị, hình chuông hay hình trụ, đôi khi xòe
rộng ở gốc, trên chia 4 hay 5 đến 9 thùy, dài bằng hay ngắn hơn ống tràng
Nhị đực 4 hay 5, dính lại thành ống trên cánh tràng, bao phấn đính gốc hay đính lưng, mở bằng lỗ ở đỉnh hay thành rãnh dài hay ngắn
Bầu thường có 2 ô đôi khi 4 hay 5, cao bằng hay ngắn hơn ống tràng
Noãn nhiều, vòi nhụy hình sợi, nhẵn hay có lông, đầu nhụy hình đầu, nguyên hay chia 2-4 thùy
• Qu ả
Quả mọng hay nang, không mở hay mở 2-4 mảnh Hạt nhiều, nhỏ hình cầu, hình đĩa hay thuôn
Trang 26
3.1.2 Khóa tra các chi trong họ Cà (Solanaceae) có ở Bình Dương
1a Quả mọng hai ngăn, hay bất định
2a Quả mọng 2 ngăn
3 Ống tràng rất ngắn, cao bằng hay hơi dài hơn thùy tràng
4a Bao phấn thường mở bằng lỗ bên, đôi khi rộng ra thành một rãnh dọc (cf Solanum
lycopersicum L.) Ống đài hiếm có cạnh, thường thành 5 bó mép có 5 thùy, hiếm thấy
6 hay 9 thùy hay nhụt 1 Solanum
4b Bao phấn luôn mở bằng những rãnh dọc, dài Đài nhụt hay chỉ hơi có 5 răng,
không hay hơi đồng trưởng .2 Capsicum
4c Ống tràng dài hơn các thùy rất nhiều Đài đồng trưởng nhiều bao bọc hết quả
mọng, khi chín có cuống 3 Physalis
4d Đài không đồng trưởng, quả mọng khi chín không bao bọc bởi đài 4 Cestrum
2b Quả mọng, ngăn bất định 5 Lycopersicon
1b Quả nang 4 ngăn, hay 2 ngăn
5a Quả nang nhẵn, 2 ngăn
6a Quả nang hình trứng 6 Brunfelsia
6b Quả nang hình nón 7 Petunia
5b Quả nang 4 ngăn, có gai hay có u lồi, có đài rách khi chín 8 Datura
Trang 273.2 THÀNH PHẦN LOÀI THUỘC HỌ CÀ (SOLANACEAE) Ở BÌNH DƯƠNG
Đã ghi nhận được 12 loài thuộc 8 chi trong họ Cà:
Bảng 3.1 Tên chi, tên loài thuộc họ Cà (Solanaceae) ở Bình Dương
STT TÊN PH Ổ THÔNG TÊN KHOA H ỌC
I TÔNG SOLANEAE Phân tông Solaninae
4 Cà d ại hoa trắng Solanum torvum Sw
4 Chi Cà chua Lycopersicon
II TÔNG DATUREAE
5 Chi Cà độc dược Datura
III TÔNG CESTREAE Phân tông Cestrinae
6 Chi D ạ lý hương Cestrum
Phân tông Nicotianinae
7 Chi Dã yên Petunia
Trang 28IV TÔNG SALPIGLOSSIDEAE
8 Chi Cà hoa xanh Brunfelsia L
12 Cà hoa xanh Brunfelsia pauciflora (Cham &
Schltdl.) Benth
3.2.1 Physalis angulata L
Sp Pl 1:183 (1753); Lour., Fl Cochinch 1:132 (1790); Bonati, Fl Indochine 4:335 (1915); D’Arcy, Ann Missouri Bot Gard 60:662 (1974); Hepper, Revis Handb Fl Ceylon 6:394 (1987); Zhi Y.Zhang et al., Fl China 17:312 (1994); P.H.Hộ, Cây cỏ Việt Nam, 2: 764 (1999) – Type: Linné 247.9, Inde (lecto-, cf D’Arcy, op cit., LINN)
Tên thông thường: Tầm bóp
Tên khác: Lồng đèn, Lu lu cái, Thù lù cạnh, Thù đù
Đặc điểm: Cây 1 năm, cao 0,5-0,7(-1)m Thân và cành có cạnh, thường rũ
xuống, nhẵn Lá hình trứng hay hình bầu dục, dài 3-6cm, rộng 2-4cm, nhẵn, chóp có mũi nhọn, gốc hình nêm hoặc hình nêm rộng, mép lá nguyên hoặc có răng; cuống lá dài 1-3cm Hoa đơn độc ở nách lá; cuống hoa mảnh, dài 0,5-1,2 cm Đài hình chuông; thùy dài bằng ống đài, hình mũi mác, có lông tơ Tràng màu vàng, có đốm tím ở gốc, hình chuông Bao phấn màu lam nhạt, đôi khi vàng nhạt, dài 0,15-0,25cm Quả mọng màu vàng khi chín, đường kính 1,2cm, được bao bọc kín bởi đài đồng trưởng hình
trứng, cỡ 3-4 x 2cm; cuống quả dài 1-2,5cm Hạt hình đĩa, đường kính 0,2cm
Sinh h ọc và sinh thái: Ra hoa và kết trái suốt năm Cây ưa sáng, ưa đất ẩm,
thoát nước, chịu được khô hạn, thường xuất hiện ở các bãi đất hoang, trong vườn rau, ven đường
Phân b ố: Ở Bình Dương thu được mẫu ở huyện Phú Giáo, thị xã Bến Cát, thị xã
Tân Uyên
Alcaloit: Rễ có phygrin (Slamet S B R 2001) [14]
Tính v ị, tác dụng: Toàn cây có vị đắng, tính mát, không độc; có tác dụng thanh
nhiệt lợi thấp, khư đàm chỉ khái, nhuyến kiên tán kết Quả có vị chua, tính bình; có tác
dụng thanh nhiệt lợi tiểu, tiêu đờm
Trang 29Công d ụng: Trái chín ăn được, có vị chua Dùng làm thuốc: Thường dùng trị
cảm sốt, yết hầu sưng đau, ho nhiều đờm, phiền nhiệt nôn nấc Dùng 20-40g khô sắc
uống Dùng ngoài trị nhọt vú, đinh độc, đau bìu đái Dùng 40-80g cây tươi giã vắt lấy nước cốt uống, bã thì dùng đắp; hoặc nấu nước rửa Quả Tầm bóp ăn được và dùng
chữa đờm nhiệt sinh ho, thủy thũng và đắp ngoài chữa đinh sang Rễ tươi nấu với tim
lợn, chu sa dùng ăn chữa được chứng đái đường
Ở Ấn độ, toàn cây được sử dụng làm thuốc lợi tiểu; lá được dùng trị các rối loạn
của dạ dày [2]
Trang 30Hình 3.1 Hình thái loài Physalis angulata L
A: dạng sống; B: cành mang quả; C: cành mang hoa quả; D: lá; E: hoa; F: hoa
cắt dọc; G: nhị; H: nhụy; I, K: quả; L: quả cắt dọc; M: quả cắt ngang
Trang 31
Hình 3.2 Sinh thái loài Physalis angulata L
Trang 32Hình 3.3 Hình vẽ loài Physalis angulata L
1 Cành mang hoa qu ả; 2 Quả; 3 Nhụy; 4 Nhị
Trang 333.2.2 Capsicum annuum L
Sp Pl 1:189 (1753); Bonati, Fl Indochine 4:331 (1915); D’Arcy, Ann Missouri Bot Gard 60:591 (1974); R.W.Purdie et al., Australia 29:178 (1982); Symon, J.Adelaide Bot Gard 8:10 (1985); Hepper, Revis Handb Fl Ceylon 6:395 (1987); Zhi Y.Zhang et al.,Fl China 17:313 (1994); R.R.Mill, Fl Bhutan 2:1046 (2001); Léti
at al., Fl Photographique Cambodge:519 (2013) – Type: Clifford 59, Amérique du Sud (lecto-, cf D’Arcy, op cit., BM)
Tên thông thường: Ớt
Đặc điểm: Cây thảo hoặc bụi, cao 0,4-1m, nhiều cành nhánh Lá mọc đơn độc
hay thành cặp; phiến lá có hình bầu dục hoặc mũi mác, dài 4-15cm, rộng 1,5-5 cm, đầu
lá nhọn, mép lá nguyên; cuống lá nhẵn, dài 3-7cm Hoa đơn hay thành cụm ở nách lá hay cành, cuống thẳng hay uốn cong ở đỉnh dài 1-2cm Đài hình chén, có răng hoặc
gợn sóng Tràng màu trắng, dài 1-1,5cm Bao phấn màu tía nhạt Quả mọng đỏ, vàng
hoặc cam, có nhiều hình dạng, cỡ 1,5-10 x 0,5-3cm Hạt dẹt, màu vàng, đường kính 2cm
1-Sinh h ọc và sinh thái: Mùa hoa và quả quanh năm Cây ưa sáng, thích hợp với
nhiều loại đất tơi xốp, thịt hay pha cát, thoát nước, thường trồng bằng hạt
Phân b ố: Cây Ớt xuất xứ từ Nam Mỹ Được trồng phổ biến ở Việt Nam và nhiều
nước Được gieo trồng phổ biến ở khắp tỉnh Bình Dương
Alcaloit: Vỏ quả chứa capsaicine (0.2%)
Tính v ị, tác dụng: Quả Ớt có vị cay, tính nóng; có tác dụng ôn trung tán hàn,
kiện vị tiêu thục Quả dùng trong có tính chất kích thích dạ dày, kích thích chung và
lợi tiểu; dùng ngoài làm thuốc chuyển máu và gây xung huyết Rễ hoạt huyết tán thũng Lá Ớt có vị đắng, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt giải độc, sát trùng, lợi tiểu
Công d ụng: Quả được dùng làm gia vị, rau ăn, làm thuốc trị tiêu chảy hoặc loạn,
tích trệ, sốt rét Lá cũng làm rau ăn được, dùng trị sốt, trúng phong bất tỉnh và phù thũng
Ở Thái Lan, quả được dùng làm thuốc long đờm trị giun ký sinh cho trẻ em và làm thuốc hạ nhiệt
Trang 34Ở Trung Quốc, quả dùng trị tỳ vị hư lạnh, dạ dày và ruột trướng khí, ăn uống không tiêu Rễ dùng ngoài trị nẻ da Lá trị thủy thũng Hạt trị phong thấp
Trong tây y, thường được chỉ định dùng trong chứng khó tiêu do mất trương lực, lên men ruột, tiêu chảy, kiết lị, nôn mửa không cầm được, xuất huyết tử cung, thấp
khớp, thống phong, thủy thũng, viêm thanh quản Dùng ngoài chữa ho co cứng, một số
chứng bại liệt, đau dây thần kinh do khớp, đau lưng, thống phong
Cách dùng: Quả dùng uống trong với liều thấp (để tránh gây nôn mửa, tiêu chảy, viêm dạ dày và thận) Có thể dùng bột Ớt 0.3g-1g trong 1 ngày, dạng viên, hoặc dùng
cồn thuốc tươi (1 phần ớt, 2 phần cồn 33) hoặc dùng 1-4g hằng ngày trong một poxio,
hoặc dùng nấu ăn Nếu dùng ngoài, dùng cồn thuốc tươi để bó hoặc dùng bông mỡ sinh nhiệt trong chứng đau thần kinh do thấp khớp hay ngộ lạnh Lá giã nát vắt lấy nước cốt uống trị sốt, trúng phong bất tỉnh và trị rắn cắn (dùng bã đắp ngoài) Lá sao vàng sắc uống trị phù thũng Ngày dùng 20-30g
Đơn thuốc: Chữa cá trê đâm: Dùng trái Ớt chín, đâm ra lấy chất cay chà vào vết
bị cá đâm, sẽ giảm đau liền [2]
Trang 35Hình 3.4 Hình thái loài Capsicum annuum L
A: dạng sống; B: lá; C: cành mang hoa quả; D: hoa; E: nhụy; F: nhị; G: quả; H: quả
cắt dọc; I: hạt, K: quả cắt ngang;
Trang 36Hình 3.5 Sinh thái loài Capsicum annuum L
Trang 37Hình 3.6 Hình vẽ loài Capsicum annuum L
1 Cành mang hoa, qu ả; 2 Quả; 3 Nhị; 4 Nhụy
Trang 383.2.3 Solanum procumbens Lour
Fl Cochinch.:132 (1790); Nees, Trans Linn Soc London 17:58 (1834); Merr., Comm Fl Cochinch.:348 (1935); Zhi Y.Zhang et al., Fl China 17:321 (1994); P.H.Hộ, Cây cỏ Việt Nam, 4e éd., 2:760, fig 7044 (1999) – Type: Squires 27, Việt Nam, Thừa Thiên Huế, Huế, janv 1923 (néo-, choisi ici, P!; isonéo-, E!, K!)
Tên thông thường: Cà gai leo
Tên khác: Cà gai dây, Cà hải nam, Cà bò, Cà quạnh, Cà quýnh, Cà Vạnh
Đặc điểm: Thân thảo, leo hay đứng, phân nhánh nhiều, nhiều gai Lá hình trứng
hay hình bầu dục, dài 2-4cm, rộng 1-3cm, đầu nhọn hoặc tù, mép gợn sóng, mặt trên
có lông ít hơn mặt dưới, có gai trên cả 2 mặt; cuống lá dài 0,4-0,8cm Thường hoa mọc thành cụm dạng tán ở đỉnh cành, hiếm khi ở nách lá Hoa mẫu 4; cuống hoa dài 0,8-1,2cm Đài hình chén, thùy đài hình tam giác, không đều, ở mặt ngoài có lông măng hình sao Tràng màu trắng, dài 1cm, đỉnh tràng nhọn Có 4 nhị, chỉ nhị ngắn, bao phấn dài 0,5cm Bầu nhẵn, vòi nhụy dài 1cm
Sinh h ọc và sinh thái: Ra hoa và kết trái khoảng tháng 4-12 Cây ưa khí hậu
mát, ẩm, phân bố chủ yếu ở vùng núi Được nhân dân trồng trong vườn và phát tán ở các bãi hoang, bụi lùm
Phân b ố: Ở Bình Dương thu được mẫu ở huyện Bàu Bàng
Alcaloit: Toàn cây, nhất là rễ, chứa saponin steroid và các alcaloid solasodin; còn có diosgenin và các flavonoid [2]
Tính v ị, tác dụng: Cà gai leo có vị hơi the, tính ấm, hơi có độc, có tác dụng tán
phong thấp, tiêu độc, tiêu đờm, trừ ho, giảm đau, cầm máu
Công d ụng: Thường dùng trị cảm cúm, bệnh dị ứng, ho gà, đau lưng, đau nhức
xương, thấp khớp, rắn cắn Liều dùng 16 – 20g rễ hoặc thân lá, dạng thuốc sắc, cao
lỏng hoặc viên Dùng ngoài lấy cây tươi giã nát, chiết nước uống và lấy bã đắp Cao
lỏng Cà gai leo dùng ngậm chữa viêm lợi, viêm quanh răng
Nhân dân còn dùng rễ Cà gai leo xát vào răng khi uống rượu để tránh say rượu; cũng dùng rễ sắc nước cho người bị say uống để giải say
Ở Quảng Tây (Trung Quốc), lá dùng trị viêm tuyến sữa
Trang 40Hình 3.7 Hình thái loài Solanum procumbens Lour
A: dạng sống; B,C: cành mang hoa; D: lá; E: hoa; F: nhị; G: nhụy
E