Thiết kế trò chơi nhằm phát triển vốn từ cho trẻ 3 4 tuổi ở trường mầm non Hướng Dương, huyện 3 Bình Đại, tỉnh Bến Tre (Luận văn thạc sĩ)Thiết kế trò chơi nhằm phát triển vốn từ cho trẻ 3 4 tuổi ở trường mầm non Hướng Dương, huyện 3 Bình Đại, tỉnh Bến Tre (Luận văn thạc sĩ)Thiết kế trò chơi nhằm phát triển vốn từ cho trẻ 3 4 tuổi ở trường mầm non Hướng Dương, huyện 3 Bình Đại, tỉnh Bến Tre (Luận văn thạc sĩ)Thiết kế trò chơi nhằm phát triển vốn từ cho trẻ 3 4 tuổi ở trường mầm non Hướng Dương, huyện 3 Bình Đại, tỉnh Bến Tre (Luận văn thạc sĩ)Thiết kế trò chơi nhằm phát triển vốn từ cho trẻ 3 4 tuổi ở trường mầm non Hướng Dương, huyện 3 Bình Đại, tỉnh Bến Tre (Luận văn thạc sĩ)Thiết kế trò chơi nhằm phát triển vốn từ cho trẻ 3 4 tuổi ở trường mầm non Hướng Dương, huyện 3 Bình Đại, tỉnh Bến Tre (Luận văn thạc sĩ)Thiết kế trò chơi nhằm phát triển vốn từ cho trẻ 3 4 tuổi ở trường mầm non Hướng Dương, huyện 3 Bình Đại, tỉnh Bến Tre (Luận văn thạc sĩ)Thiết kế trò chơi nhằm phát triển vốn từ cho trẻ 3 4 tuổi ở trường mầm non Hướng Dương, huyện 3 Bình Đại, tỉnh Bến Tre (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1Trần Thị Thu Sang
THIẾT KẾ TRÕ CHƠI NHẰM PHÁT TRIỂN
VỐN TỪ CHO TRẺ 3 – 4 TUỔI
Ở TRƯỜNG MẦM NON HƯỚNG DƯƠNG, HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2017
Trang 2Chuyên ngành : Giáo dục học (Mầm non)
Trang 3Tôi xin cam đoan luận văn “Thiết kế trò chơi nhằm phát triển vốn từ cho trẻ 3 - 4 tuổi ở trường mầm non Hướng Dương, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre” là sản phẩm của quá trình dày công nghiên cứu của bản thân tôi không sao chép bất kì tài liệu nào mà không có trích dẫn Những kết quả,
số liệu nêu trong luận văn đúng là sự thật và chưa có ai công bố trong bất
kì công trình nào khác
Bến Tre, ngày 20 tháng 9 năm 2017
Tác giả
Trần Thị Thu Sang
Trang 4Trong quá trình thực hiện đề tài “Thiết kế trò chơi nhằm phát triển vốn
từ cho trẻ 3-4 tuổi ở trường mầm non Hướng Dương, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre”, tôi đã nhận được rất nhiều sự động viên, giúp đỡ của nhiều
cá nhân và tập thể cùng với sự cố gắng, sự nỗ lực của bản thân để hoàn thành luận văn này
Trước hết, tôi xin được gửi lời cảm ơn và bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Thị Thanh Bình đã tận tình hướng dẫn, động viên tôi hoàn thành tốt luận văn này
Tiếp đến tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Mầm non, khoa tâm lý giáo dục của trường Đại học
Sư phạm Tp.HCM, các thầy cô khoa Giáo dục Mầm non trường Đại học Sài gòn và trường Cao đẳng TW Tp.HCM cùng toàn thể các thầy cô là những người đã đem lại cho tôi những kiến thức bổ trợ vô cùng có ích trong thời gian theo học vừa qua Qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau Đại học đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành khoá học
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, tập thể GV, các cháu trường mầm non Hướng Dương, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình khảo sát, thử nghiệm để hoàn thành luận văn này
Bến Tre, ngày 20 tháng 9 năm 2017
Tác giả
Trần Thị Thu Sang
Trang 5Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VIỆC THIẾT KẾ TRÕ CHƠI
ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ 3-4 TUỔI 5
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu ở nước ngoài 5
1.1.2 Lịch sử nghiên cứu ở trong nước 7
1.2 Các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 10
1.2.1 Từ và vốn từ 10
1.2.2 Trò chơi 13
1.2.3 Phân loại trò chơi 15
1.2.4 Thiết kế trò chơi 18
1.2.5 Phát triển vốn từ 18
1.2.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển vốn từ của trẻ 20
1.2.7 Đặc điểm phát triển vốn từ của trẻ 3-4 tuổi 21
1.3 Nội dung phát triển ngôn ngữ của trẻ 3-4 tuổi 24
1.3.1 Nội dung phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3-4 tuổi 24
1.3.2 Nội dung phát triển vốn từ cho trẻ 3-4 tuổi 25
1.3.3 Phương pháp phát triển vốn từ 25
Tiểu kết chương 1 29
Trang 62.1 Nội dung khảo sát 32
2.1.1 Mục đích khảo sát 32
2.1.2 Đối tượng khảo sát 33
2.1.3 Nội dung khảo sát 33
2.1.4 Phương pháp nghiên cứu thực trạng 33
2.2 Phân tích kết quả khảo sát 35
2.2.1 Trình độ chuyên môn và thâm niên công tác của giáo viên mầm non tham gia trả lời khảo sát 35
2.2.2 Nhận thức của giáo viên về việc thiết kế và tổ chức trò chơi phát triển vốn từ cho trẻ 3 – 4 tuổi 36
2.2.3 Mức độ phát triển vốn từ của trẻ 3 – 4 tuổi 46
Tiểu kết chương 2 51
Chương 3 THIẾT KẾ VÀ THỬ NGHIỆM MỘT SỐ TRÕ CHƠI
NHẰM PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ 3 - 4 TUỔI 53
3.1 Nguyên tắc thiết kế trò chơi cho trẻ 53
3.2 Giới thiệu một số trò chơi đã thiết kế 53
3.3 Thử nghiệm và phân tích kết quả thử nghiệm 69
Tiểu kết chương 3 81
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87 PHỤ LỤC
Trang 7STT CHỮ VIẾT TẮT CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ
1 BGH Ban giám hiệu
2 CĐSP Cao đẳng sư phạm
3 ĐC Đối chứng
4 ĐHSP Đại học sư phạm
5 GV Giáo viên
6 GVMN Giáo viên mầm non
7 HĐVC Hoạt động vui chơi
8 MN Mầm non
9 MNHD Mầm non Hướng Dương
10 MNSC Mầm non Sơn Ca
11 MGTT Mẫu giáo Thới Thuận
12 MGSH Mẫu giáo Sen Hồng
13 MGVK Mẫu giáo Vành Khuyên
Trang 8Bảng 2.2 Thâm niên công tác của GVMN 35 Bảng 2.3 Đánh giá của giáo viên về mức độ cần thiết của việc phát triển
vốn từ cho trẻ ở trường mầm non 36 Bảng 2.4 Thực trạng việc giáo viên mầm non lựa chọn hình thức tổ chức
phát triển vốn từ cho trẻ 3-4 tuổi 37 Bảng 2.5 Thứ tự hoạt động theo mức độ từ quan trọng đến ít quan
trọng hơn 39 Bảng 2.6 Những biểu hiện của trẻ trong quá trình phát triển vốn từ qua
trò chơi 41 Bảng 2.7 Những khó khăn trong quá trình phát triển vốn từ cho trẻ
3-4 tuổi 42 Bảng 2.8 Bảng tổng hợp và đánh giá chung về mức độ phát triển vốn từ
của trẻ 3-4 tuổi 49 Bảng 2.9 Kết quả độ khó của các trò chơi đã được lựa chọn để tính toán 71 Bảng 3.1 Mức độ phát triển vốn từ qua hoạt động vui chơi của trẻ nhóm
đối chứng và nhóm thử nghiệm trước thử nghiệm 73 Bảng 3.2 Mức độ phát triển vốn từ qua trò chơi học tập của trẻ nhóm thử
nghiệm sau thử nghiệm 74 Bảng 3.3 Mức độ phát triển vốn từ qua trò chơi vận động của trẻ nhóm
thử nghiệm sau thử nghiệm 76 Bảng 3.4 Mức độ phát triển vốn từ qua trò chơi đóng kịch của trẻ nhóm
thử nghiệm sau thử nghiệm 78 Bảng 3.5 Mức độ phát triển vốn từ qua trò chơi đóng vai theo chủ đề của
trẻ nhóm đối chứng và nhóm thử nghiệm sau thử nghiệm 79
Trang 9từ cho trẻ ở trường mầm non 36 Biểu đồ 2.2 Thực trạng giáo viên lựa chọn hình thức phát triển vốn từ
cho trẻ 3-4 tuổi 38 Biểu đồ 2.3 Thứ tự hoạt động theo mức độ từ quan trọng đến ít quan
trọng hơn 40 Biểu đồ 2.4 Những loại trò chơi giáo viên đã sử dụng để phát triển vốn từ 42 Biểu đồ 2.5 Thực trạng phát triển vốn từ của trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi 50 Biểu đồ 3.1 Mức độ phát triển vốn từ qua trò chơi học tập của trẻ nhóm
thử nghiệm sau thử nghiệm 75 Biểu đồ 3.2 Mức độ phát triển vốn từ qua trò chơi vận động của trẻ nhóm
thử nghiệm sau thử nghiệm 77 Biểu đồ 3.3 Mức độ phát triển vốn từ qua trò chơi đóng kịch của trẻ nhóm
thử nghiệm sau thử nghiệm 79 Biểu đồ 3.4 Mức độ phát triển vốn từ qua trò chơi đóng vai theo chủ đề
của trẻ nhóm đối chứng và nhóm thử nghiệm sau thử nghiệm 80
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Phát triển ngôn ngữ trẻ thơ là một trong những mục tiêu quan trọng của ngành giáo dục mầm non Ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành và phát triển của xã hội loài người Ngôn ngữ là phương tiện cơ bản để giao tiếp giữa con người với nhau và là phương tiện để nhận thức thế giới khách quan, là công cụ của tư duy, ngôn ngữ cũng chính là chìa khóa để nhận thức, là
vũ khí để chiếm lĩnh kho tàng kiến thức của nhân loại Nó cũng giữ vai trò quan trọng trong việc phát triển tâm lý của trẻ, là phương tiện hình thành và phát triển nhận thức, tình cảm, đạo đức, thẩm mỹ của trẻ về thế giới xung quanh Bên cạnh đó, tuổi mầm non là thời kì phát triển mạnh mẽ nhất về ngôn ngữ Trẻ tiếp nhận ngôn ngữ, nghe hiểu và nói với tốc độ rất nhanh Việc hiểu và diễn đạt suy nghĩ của mình bằng lời sẽ giúp trẻ dễ dàng giao tiếp và tích cực giao tiếp với người lớn, với bè bạn hơn nữa Vì vậy, việc rèn luyện, phát triển ngôn ngữ cho trẻ là hết sức quan trọng và phải bắt đầu từ rất sớm, ngay từ lứa tuổi mầm non Một trong những nội dung phát triển ngôn ngữ cho trẻ cần được chúng ta chú trọng là phát triển vốn từ Có được một vốn từ phong phú, trẻ sẽ dễ dàng nắm bắt những gì mà trẻ nghe được từ mọi người xung quanh trong môi trường sống trực tiếp của trẻ, dễ dàng thể hiện cảm xúc của cá nhân, biết và hiểu được những gì người khác nói với mình, trẻ sẽ nói tốt hơn và có khuynh hướng học tốt hơn so với những đứa trẻ cùng lứa có vốn từ hạn hẹp Và với vốn từ phong phú luôn sẵn có trong đầu, trẻ sẽ có thể tự bày tỏ mong muốn, cảm nghĩ của bản thân với nhiều người một cách có hiệu quả, qua đó nâng cao khả năng giao tiếp
xã hội của trẻ, hình thành sự tự tin ở các em
Trò chơi đóng vai trò rất lớn trong việc xây dựng và làm phong phú vốn từ cho trẻ Qua vui chơi, qua trò chơi trẻ lĩnh hội ngôn ngữ, phát triển lời nói trong giao tiếp một cách dễ dàng và mau chóng Vì vậy “ Học mà chơi, chơi mà học” trở thành nét đặc trưng trong hoạt động học tập của trẻ mẫu giáo Hơn nữa, ở
Trang 11lứa tuổi mẫu giáo vui chơi là hoạt động chủ đạo Qua trò chơi trẻ rèn luyện được tính độc lập, sáng tạo Nhà tâm lý học G Piaget cho rằng, trò chơi là một nhân
tố quan trọng đối với sự phát triển trí tuệ của trẻ, tạo ra sự thích nghi của trẻ với môi trường Có thể nói khi trẻ tham gia vào hoạt động vui chơi, trẻ thật sự là một chủ thể hoạt động tích cực, vì thế hoạt động vui chơi có ảnh hưởng lớn đến các mặt phát triển của trẻ Trò chơi sẽ là một phương tiện giáo dục toàn diện cho trẻ, trong đó có phát triển ngôn ngữ, xây dựng lời nói cho các em Nhà tâm
lý sư phạm Xô Viết – E.I Chikhieva - người rất thành công trong việc soạn thảo các hệ thống trò chơi học tập cho trẻ mẫu giáo đã đánh giá cao vai trò của trò chơi đối với sự phát triển trí tuệ của trẻ Bà cho rằng, trò chơi giúp trẻ phát triển một số năng lực và phẩm chất trí tuệ như sự chú ý, sự cố gắng, phát triển ngôn ngữ, biểu tượng về thế giới xung quanh, phát triển vốn từ Nhận định trên cho thấy vị trí quan trọng của trò chơi trong công tác giáo dục trẻ ở trường mầm non Trò chơi không chỉ là một phương pháp, biện pháp dạy học mà còn là một hình thức dạy học phù hợp với trẻ mẫu giáo Thông qua vui chơi, đứa trẻ được thỏa mãn nhu cầu chơi và nhu cầu khám phá thế giới xung quanh của mình Vì thế việc sử dụng trò chơi để dạy học rất phổ biến
Tuy nhiên trong thực tế, ở một số trường mầm non hiện nay, nhất là các trường ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa việc sử dụng trò chơi chưa được giáo viên chú trọng trong việc tổ chức hoạt động học, làm giàu từ ngữ của trẻ, thường thì công việc phát triển vốn từ chỉ được thực hiện khi cô trao đổi với trẻ
về một điều gì đó, hoặc thông qua những cuộc đối thoại giữa trẻ với người lớn Giáo viên ít khi để ý đến việc trẻ có từ phù hợp để diễn tả ý nghĩ hay không? phát ra âm thanh của từ và hiểu ý nghĩa của từ đó đúng hay không? Mặt khác do lớp đông, giáo viên bận rộn với quá nhiều việc, giáo viên chưa có ý thức, chưa biết cách tổ chức trò chơi, chưa có nhiều trò chơi mới Là một giáo viên mầm non, tôi rất quan tâm đến việc làm thế nào để trẻ lĩnh hội vốn từ một cách tự
nhiên, không bị gò bó, căng thẳng Việc chọn đề tài “Thiết kế trò chơi nhằm
phát triển vốn từ cho trẻ 3 - 4 tuổi ở trường mầm non Hướng Dương, huyện
Trang 12Bình Đại, tỉnh Bến Tre” nhằm đẩy mạnh việc phát triển vốn từ cho trẻ, đồng
thời giúp giáo viên có thêm nhiều trò chơi phù hợp để phát triển vốn từ cho trẻ tại trường mình công tác, thiết nghĩ là phù hợp
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở tìm hiểu thực trạng trò chơi nhằm phát triển vốn từ cho trẻ, thiết
kế và thử nghiệm một số trò chơi nhằm phát triển vốn từ cho trẻ 3 - 4 tuổi
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Xây dựng cơ sở lí luận liên quan đến thiết kế trò chơi nhằm phát triển vốn
Quá trình phát triển vốn từ cho trẻ 3 - 4 tuổi
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Một số trò chơi nhằm phát triển vốn từ cho trẻ 3 - 4 tuổi
5 Giả thuyết nghiên cứu
Hiện trẻ em 3–4 tuổi trường Mầm Non Hướng Dương, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre chưa có nhiều trò chơi, chưa được vui chơi thỏa thích Nếu thiết kế được một số trò chơi hợp lý thì việc phát triển vốn từ cho trẻ 3- 4 tuổi sẽ đạt hiệu quả cao
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng và tổ chức thử nghiệm ở 2 lớp trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi
ở trường Mầm Non Hướng Dương, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận: Thu thập, đọc và tổng hợp các tài liệu lí luận có liên quan đến vấn đề sử dụng trò chơi nhằm phát triển vốn từ cho trẻ
Trang 137.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp quan sát
Quan sát trẻ vui chơi và trò chuyện với các bạn chơi, với cô trong tìm hiểu thực trạng, khi trẻ tham gia chơi trò chơi mới xây dựng trong thử nghiệm sư phạm và quan sát cách thức tổ chức vui chơi cho trẻ 3- 4 tuổi của giáo viên
7.2.2 Phương pháp sử dụng phiếu điều tra
Dùng phiếu điều tra tìm hiểu nhận thức của giáo viên về việc sử dụng trò chơi cho trẻ 3–4 tuổi nhằm phát triển vốn từ, tìm hiểu cách thức giáo viên tổ chức trò chơi phát triển vốn từ cho trẻ, đánh giá tính hiệu quả của chúng; những khó khăn của giáo viên khi thiết kế trò chơi giúp trẻ phát triển vốn từ
7.2.3 Phương pháp phỏng vấn, trò chuyện
Trên cở sở các câu trả lời của giáo viên mầm non thu được từ phiếu điều tra, trên cơ sở quan sát các giờ vui chơi của trẻ, trò chuyện với giáo viên mầm non về các trò chơi và cách sử dụng chúng nhằm phát triển vốn từ cho trẻ 3 – 4 tuổi
7.2.4 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Lấy ý kiến chuyên gia về tầm quan trọng của việc thiết kế trò chơi nhằm phát triển vốn từ cho trẻ
7.2.5 Phương pháp thử nghiệm
Sau khi nghiên cứu thực trạng và đọc tài liệu, thiết kế một số trò chơi đã xây dựng và đem thử nghiệm trên trẻ để xem hiệu quả như thế nào
8 Đóng góp mới của đề tài
Đánh giá thực trạng việc thiết kế trò chơi nhằm phát triển vốn từ cho trẻ 3–4 tuổi ở trường Mầm Non Hướng Dương, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre, đưa vào chương trình sinh hoạt của trường một số trò chơi phát triển vốn từ cho trẻ 3–4 tuổi
Trang 14Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VIỆC THIẾT KẾ TRÕ CHƠI ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ 3-4 TUỔI
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu ở nước ngoài
Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu thứ 2 của con người, là công cụ của tư duy,
là phương tiện để con người giao tiếp, hỗ trợ và hiểu được tâm tư tình cảm của của người khác Đối với trẻ em, việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ là một nhiệm
vụ quan trọng, bởi vì với trẻ sự phát triển trí tuệ chỉ diễn ra khi trẻ tiếp nhận kiến thức về môi trường xung quanh và đương nhiên luôn luôn phải có mặt của ngôn ngữ trong quá trình đó Nhiệm vụ phát triển ngôn ngữ không thể thực hiện trong một sớm một chiều mà nó diễn ra trong một khoảng thời gian rất dài Hiểu được tầm quan trọng của sự phát triển ngôn ngữ đối với trẻ em trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu hướng đến sự phát triển ngôn ngữ của trẻ Hoạt động ngôn ngữ của cá nhân mỗi người có tính chất tích hợp, trong quá trình đó có sự kết hợp giữa các chức năng tình cảm-ý chí, năng lực xã hội, thể chất và tâm vận động Khi nghiên cứu về sự phát triển ngôn ngữ chủ yếu các tác giả đi nghiên cứu về 3 mặt: ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp
E Smirnova cho rằng: “Giáo viên cần phải dạy trẻ nói chuyện với nhau Nhưng không phải dạy trực tiếp, mà thông qua việc tổ chức điều kiện cần thiết cho giao tiếp” [14]
K Uxinski quan niệm: “Tiếng mẹ đẻ là cơ sở của mọi sự phát triển, là vốn quý của mọi tri thức” [51]
L X Vưgotxki trong cuốn: "Tư duy và ngôn ngữ" đã lập luận rằng hoạt
động tinh thần của con người chính là kết quả học tập mang tính xã hội chứ không phải chỉ là của cá thể Theo ông, khi trẻ em gặp phải những khó khăn trong cuộc sống, trẻ tham gia vào sự hợp tác của người lớn và bạn bè có năng lực cao hơn, những người này giúp đỡ trẻ và khuyến khích trẻ Ngôn ngữ là
Trang 15phương thức đầu tiên mà qua đó, con người trao đổi các giá trị xã hội, L X Vưgotxki coi ngôn ngữ là vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của tư duy
[48]
F Ănghen viết: “Đem so sánh con người với các loài động vật, ta sẽ thấy rõ ngôn ngữ bắt nguồn từ trong lao động và cùng nảy sinh với lao động, đó là cách giải thích duy nhất đúng về nguồn gốc của ngôn ngữ” [21] K Mác nhận xét
“ngôn ngữ cũng cổ xưa như ý thức vậy” và “là ý thức thực tại, thực tiễn” [4]
Triết học Mác – Lênin đã đưa ra luận điểm về ngôn ngữ có vai trò quan trọng trong việc xác định hệ thống các nội dung, phương pháp và hình thức phát triển ngôn ngữ cho trẻ Trẻ ở độ tuổi mầm non nói chung lĩnh hội ngôn ngữ bằng cách bắt chước người khác trong quá trình giao tiếp, điều này đòi hỏi phải tạo môi trường ngôn ngữ tốt sẽ tạo điều kiện cho ngôn ngữ của trẻ phát triển
Với tác phẩm “Dạy nói cho trẻ trước tuổi đi học” M Konxova đưa ra các hình thức, biện pháp để dạy trẻ nói trước khi trẻ đến tuổi đi học Tác phẩm đã giúp các nhà nghiên cứu, các nhà giáo dục và cha mẹ trẻ có những định hướng
và chọn lựa cho mình biện pháp dạy nói phù hợp với từng trẻ
Các tác giả như L P Phêdorenko, G A Phomicheva, V K Lomarev, trong tác phẩm “Phương pháp phát triển tiếng cho trẻ, trước tuổi khi vào nhà trường” (1977) đã đề cao vai trò của tiếng mẹ đẻ đối với sự phát triển của trẻ mẫu giáo Đồng thời muốn phát triển ngôn ngữ cho trẻ phải tạo ra môi trường ngôn ngữ trong trường mầm non
X L Rubinxtêin cho rằng: Điều cơ bản trong phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ là chỉnh sửa và hoàn thiện kỹ năng sử dụng lời nói như một phương tiện giao tiếp… Phát triển vốn từ cũng như việc nắm vững các hình thức ngữ pháp đã ảnh hưởng đến lời nói mạch lạc ở từng thời điểm nhất định
Tác giả E I Tikhêêva đã đề ra phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ một cách hệ thống Bà nhấn mạnh cần phát triển ngôn ngữ dựa trên cơ sở tổ chức cho trẻ tìm hiểu thế giới thiên nhiên xung quanh trẻ, dạo chơi, xem
Trang 16tranh, kể chuyện cho trẻ nghe… Bà đưa ra các biện pháp cụ thể để phát triển
ngôn ngữ nói cho trẻ Mẫu giáo như: nói chuyện với các em, giao nhiệm vụ
cho các em, đàm thoại, kể chuyện, đọc chuyện, thư từ, học thuộc lòng thơ ca
Những tư tưởng này đến nay vẫn còn nguyên giá trị đối với việc giáo dục
phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non [45]
Khi đi nghiên cứu về sự phát triển tâm lí trẻ em J Piaget cho rằng quá trình
phát triển ngôn ngữ của trẻ em gắn liền với khả năng hình dung của nó Trong
quá trình phát triển của trẻ ngôn ngữ có ảnh hưởng đến cấu trúc trí tuệ ở ba
phương diện: thứ nhất, nó đã làm không gian và thời gian được tiến lên ở mức
độ mới; thứ hai, khả năng tư duy nhờ vào ngôn ngữ mà nhanh hơn rất nhiều so
với khi trẻ thực hiện trên hành động; thứ ba, hệ thống biểu tượng của trẻ nhờ
ngôn ngữ mà trở nên khái quát hơn
1.1.2 Lịch sử nghiên cứu ở trong nước
Ở trong nước cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu về sự phát triển ngôn
ngữ của trẻ Tác phẩm “Phương pháp phát triển lời nói cho trẻ” do các tác giả
Bùi Kim Tuyến, Hồ Lam Hồng, Đặng Thu Quỳnh biên soạn sách dùng để bồi
dưỡng chuẩn hoá giáo viên trung học sư phạm mầm non hệ 9+1 và 12+1 (1998)
ở những thời kì đầu mới phát triển của ngành học Giáo dục mầm non đã đưa ra
những nội dung, phương pháp, hình thức phát triển lời nói cho trẻ một các khái
quát nhất Giáo trình đào tạo giáo viên THSP mầm non hệ 12+2 (1998) “Tiếng
việt và Phương pháp phát triển lời nói cho trẻ em” của các tác giả Nguyễn
Quang Ninh, Bùi Kim Tuyến, Lưu Thị Lan, Nguyễn Thanh Hồng các tác giả
làm rõ mối quan hệ giữa sự phát triển tâm lí và sự phát triển lời nói của trẻ “sự
phát triển lời nói của trẻ em có mối quan hệ qua lại chặt chẽ với sự phát triển
tâm lí, việc tiếp thu ngôn ngữ còn phụ thuộc vào sự nhanh nhạy của hệ thần kinh
và ý chí của đứa trẻ…” [24]
Đến những năm sau này nhiều tác giả tập trung nghiên cứu về sự phát triển
ngôn ngữ của trẻ một cách hoàn thiện hơn: Tác giả Nguyễn Huy Cẩn có “Từ
Trang 17hoạt động đến ngôn ngữ trẻ em” (2001) đi sâu nghiên cứu về cơ chế bên trong
và đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ qua từng độ tuổi; đồng thời đề cập đến vấn đề mà hiện nay vẫn còn tranh cãi đó là nên hay không nên cho trẻ học tiếng nước ngoài
Tác giả Nguyễn Xuân Khoa có tác phẩm “Phương pháp phát triển ngôn
ngữ cho trẻ mẫu giáo” (2004) đề cập đầy đủ các mặt phát triển của ngôn ngữ
đồng thời cho thấy các nhà tâm lý học khác có chung nhận định ngôn ngữ có quan hệ với các quá trình tâm lý của trẻ đó là quá trình nhận thức cảm tính và
nhận thức lý tính Quan trọng nhất là quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy [18]
Ngôn ngữ là hình thức tồn tại là phương tiện vật chất để thể hiện tư duy Như thế có thể xem ngôn ngữ là cái biểu hiện và từ là cái được biểu hiện Có thể xem mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy như “hai mặt của một tờ giấy” đã có mặt này ắt phải có mặt kia Vốn ngôn ngữ của một người càng dồi dào thì tư duy của người đó càng phong phú, sâu sắc Mặt khác, ngôn ngữ giúp con người tàng trữ, bảo toàn, cố định hóa, chính xác hóa kết quả nhận thức của con người để lưu truyền làm cơ sở phát triển nhận thức ở nguời sau
Trong tác phẩm “Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non” của
Đinh Hồng Thái, Trần Thị Mai cũng đưa ra được các phương pháp và biện pháp hướng dẫn cụ thể để phát triển ngôn ngữ cho trẻ: giáo dục chuẩn mực ngữ âm tiếng Việt, hình thành và phát triển vốn từ cho trẻ, dạy trẻ mẫu câu tiếng Việt, phương pháp phát triển lời nói mạch lạc, cho trẻ làm quen tác phẩm văn chương, chuẩn bị cho trẻ học đọc học, viết…
Các tác giả Hoàng Thị Oanh, Phạm Thị Việt, Nguyễn Kim Đức với tác
phẩm “Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ dưới 6 tuổi” Tác giả Nguyễn Thị Phương Nga với công trình nghiên cứu “Phương pháp phát triển ngôn ngữ
cho trẻ mầm non” Tài liệu học tập “Phương pháp phát triển ngôn ngữ của trẻ trước tuổi học”, của trường CĐSP Nhà trẻ - Mẫu giáo TW2 Tạ Thị Ngọc Thanh
có “Dạy trẻ phát âm đúng và làm giàu vốn từ cho trẻ”
Trang 18Tác giả Nguyễn Thị Phương Nga với công trình nghiên cứu “ Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non” cũng đã đưa ra các mặt phát triển của ngôn ngữ, nhưng có hướng nghiên cứu mới trong lĩnh vực phát triển vốn từ cho trẻ Trong tài liệu nghiên cứu đã xác định các nhiệm vụ cần phát triển : Dạy trẻ nghe và phát âm đúng, phương pháp phát triển vốn từ, dạy trẻ nói đúng ngữ pháp, dạy trẻ nói mạch lạc, chuẩn bị cho trẻ học ngôn ngữ viết…Ở lĩnh vực phát triển vốn từ, tác giả đã đề cập đến nội dung phát triển vốn từ ở một khía cạnh khác với Nguyễn Xuân Khoa, tác giả đã dựa trên cách nghiên cứu của một tác giả người nước ngoài V.I.Lôginôva và tác giả đã đưa ra nguyên tắc khi dạy vốn
từ cho trẻ : từ dễ đến khó, từ gần đến xa, từ việc dạy trẻ biết sử dụng từ đúng đến biết dùng từ mang tính biểu cảm
Luận văn thạc sĩ nghiên cứu về sự phát triển ngôn ngữ của trẻ có: "Một số
biện pháp dạy trẻ mẫu giáo lớn kể chuyện về sinh hoạt nhằm phát triển lời nói mạch lạc" của Hoàng Thị Thu Hương; "Một số biện pháp dạy trẻ kể chuyện theo chủ đề nhằm phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi tại Thành phố Hồ Chí Minh" của Huỳnh Ái Hồng; "Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua kể chuyện sáng tạo" của Hoàng Thị Hồng Mát (2002); “Đặc điểm ngôn ngữ của trẻ em lứa tuổi mẫu giáo (3-6 tuổi) của Nguyễn Thị Mai Linh…
Các bài viết trên các tạp chí tâm lí, giáo dục cũng dành sự quan tâm đến
sự phát triển ngôn ngữ của trẻ:
- “Một số yếu tố ảnh hư ng đến s phát triển k năng giao tiếp của trẻ
mẫu giáo” của Nguyễn Thị Cẩm Bích, Tạp chí Khoa học Giáo dục, 2014, Số 12
(111), tr 18-20, 21;
- Th c trạng s phát triển ngôn ngữ - giao tiếp của trẻ em 1 đến 3 tuổi”
của Trương Thị Khánh Hà; Hoàng Thị Quang - Tạp chí Tâm lý học, 2014, Số
12, tr 1-15;
Trang 19- Biện pháp hình thành và phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua các hoạt
động can thiệp” của Nguyễn Thị Thanh Huyền, Tạp chí Giáo dục, 2007, Số 161,
tr.45-46;
- “Một số biện pháp hướng dẫn trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi kể chuyện sáng tạo”
của Nguyễn Thị Cẩm Bích - Tạp chí Khoa học giáo dục, 2010, - Số 8, tr 19-22;
- “Tranh động - Một loại hình nghệ thuật phù hợp với việc phát triển ngôn
ngữ trẻ thơ” của Trần Yến Mai, Tạp chí Giáo dục, 2012, Số 280, tr 23-25;
- “Ảnh hư ng của sách báo trong thời kì đổi mới và hội nhập quốc tế tới
s phát triển ngôn ngữ trẻ em” của Lã Thị Bắc Lý, Tạp chí Giáo dục, 2011, Số
255, tr 39-40
Những nghiên cứu về sự phát triển ngôn ngữ của trẻ nói chung có rất nhiều nhưng chưa có sự quan tâm đúng mức đến việc thiết kế trò chơi nhằm phát triển vốn từ cho trẻ 3-4 tuổi Trong khi đó, trẻ 3-4 tuổi đang trong thời kì phát cảm về ngôn ngữ, tập trung phát triển và rèn luyện về ngôn ngữ là một điều kiện hết sức quan trọng để trẻ mở rộng phạm vi giao tiếp của mình, giúp trẻ lĩnh hội được những kiến thức mang tính chất khoa học của các môn học ở phổ thông…Để có được những điều đó trước tiên trẻ cần phải có một vốn từ nhất định và trẻ thể hiện tốt vốn từ đó qua việc nghe và nói Trong luận văn này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu thiết kế một số trò chơi nhằm phát triển vốn từ cho trẻ với hi vọng sẽ góp phần nhỏ vào việc phát triển vốn từ, đồng thời tạo điều kiện để trẻ “học mà chơi, chơi mà học”
1.2 Các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài
1.2.1 Từ và vốn từ
Từ là gì?
Trẻ con học nói, phải bắt đầu học từng từ riêng lẻ “Bà”, “Gà”, “Cá”,
“Má”…sau lâu dần trẻ ghép các từ có được lại thành câu nói của trẻ “gà gáy”,
“Má chơi”, “đau lắm”…Hay như người lớn học tiếng nước ngoài cũng vậy, ta phải học các từ riêng lẻ và nhớ từ Từ là đơn vị tồn tại hiển nhiên trong trí óc của
Trang 20từng người bản ngữ Tuy nhiên, trả lời câu hỏi từ là gì? không phải là chuyện đơn giản Ðã có hàng trăm định nghĩa khác nhau về từ, song chưa có một định nghĩa nào thỏa mãn được đầy đủ ý nghĩa về từ Tựu trung các định nghĩa đưa ra tập trung vào 2 khuynh hướng Khuynh hướng 1: Cố gắng đưa ra một định nghĩa đúng cho mọi ngôn ngữ trên thế giới Ðây là một việc khó bởi vì như L.V Sherba đã nhận xét: Trong thực tế các ngôn ngữ khác nhau, từ sẽ khác nhau Do
đó, hẳn nhiên sẽ không có khái niệm từ nói chung Khuynh hướng 2: Khảo sát từ
của từng ngôn ngữ riêng biệt để đưa ra một định nghĩa về từ chỉ đúng cho một ngôn ngữ Tuy nhiên theo V.M Solncev, từ cũng mang những thuộc tính phổ quát Những thuộc tính phổ quát ấy là:
Từ là đơn vị ngôn ngữ độc lập, có sẵn, là chỉnh thể gồm hai mặt âm và
nghĩa Tính độc lập và sẵn có của từ thể hiện ở chỗ từ được toàn xã hội chấp
nhận và sử dụng chứ không phải lâm thời được tạo nên trong quá trình giao tiếp Còn nói chỉnh thể gồm hai mặt của từ là muốn nhấn mạnh tính hoàn chỉnh của nó về cấu trúc hình thái và ý nghĩa cho dù nó có cấu tạo nội bộ
Từ là đơn vị nhỏ nhất để tạo câu Từ là đơn vị cơ bản của từ vựng, của
ngôn ngữ Từ vựng là tập hợp toàn bộ các từ và các đơn vị tương đương: các
thành ngữ, quán ngữ Thành ngữ, quán ngữ do các từ cấu tạo nên, do đó từ là đơn vị cơ bản của từ vựng Ðể tạo nên các câu nói, lời nói, người ta phải lựa chọn, kết hợp các đơn vị từ vựng, trong đó từ là đơn vị cơ bản nên từ cũng là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ
Tác giả Phan Thiều trong cuốn Tiếng Việt - Văn học và phương pháp giáo dục, định nghĩa: Từ là vật liệu gốc để trực tiếp xây dựng câu, xây dựng lời nói
Từ là đơn vị ngôn ngữ bao gồm đầy đủ 2 mặt là hình thức âm thanh và nội dung
ý nghĩa và mang tính độc lập về mặt ngữ pháp [36] Trong tiếng Việt: “Từ là một đơn vị của ngôn ngữ, gồm một hoặc một số âm tiết, có ý nghĩa nhỏ nhất có cấu tạo hoàn chỉnh và được vận dụng tự do để cấu tạo nên câu” [23] Cũng có thể xem “Từ” là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ, độc lập về ý nghĩa và hình
Trang 21thức, là vật liệu xây dựng không thể thiếu được của ngôn ngữ Từ là đơn vị trung tâm của hệ thống từ vựng - ngữ nghĩa Từ là vật liệu làm nên ngôn ngữ,
là đơn vị trung tâm trong toàn bộ cơ cấu của ngôn ngữ đảm nhiệm nhiều chức năng nhất trong hệ thống ngôn ngữ, chẳng hạn như chức năng biểu thị sự vật, khái niệm, chức năng cấu tạo nên câu, chức năng biểu cảm
Từ là đơn vị rất linh hoạt về nghĩa Ngoài ý nghĩa tiềm tàng khi nằm trong
hệ thống từ vựng, từ còn có những ý nghĩa hết sức sống động khi đi vào những lời nói cụ thể Cấu trúc ý nghĩa của từ cũng rất phức tạp, ngoài ý nghĩa từ vựng, khi đi vào lời nói từ còn thể hiện các ý nghĩa hình thái, ý nghĩa ngữ pháp, ý nghĩa chức năng Các ý nghĩa này của từ ràng buộc, chi phối nhau, quan hệ chặt chẽ với nhau
Từ những điều trình bày trên đây, chúng tôi đưa ra một định nghĩa khái quát về từ như sau: từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, có cấu trúc là một chỉnh thể gồm hai mặt: âm thanh lời nói và nội dung ý nghĩa Từ được sử dụng như là chất liệu sẵn có để tạo nên âm thanh mang ý nghĩa riêng biệt
Vốn từ là gì?
“Vốn từ” hay còn gọi là “Từ vựng” trong đó “Vựng” là một yếu tố gốc Hán
có nghĩa là cái kho, là nơi chứa Từ vựng là kho từ, vốn từ của một ngôn ngữ gồm các từ và các đơn vị tương đương với từ Vốn từ của một cá nhân là một hệ thống từ có giới hạn, là một bộ phận quan trọng của ngôn ngữ, phát triển liên tục cùng với sự phát triển của xã hội Mỗi từ trong hệ thống bao giờ cũng đối lập với các từ còn lại, đồng thời chỉ có giá trị khi được xét trong mối tương quan với các từ khác trong hệ thống Từ vựng của một ngôn ngữ thường có thể gồm vài trăm ngàn từ Nhưng vốn từ của một cá nhân tích luỹ được chỉ khoảng 6000 đến
9000 từ đã có thể được coi cá nhân đó là có trình độ văn hóa cao, vốn từ phát triển phụ thuộc vào sự phát triển trí tuệ, nhận thức, văn hoá của mỗi cá nhân Dựa vào tần số sử dụng của các từ trong đời sống xã hội, người ta phân chia vốn từ thành hai loại: vốn từ tích cực và vốn từ thụ động Vốn từ tích cực là
Trang 22những từ được con người nắm vững, có tần số sử dụng cao trong cuộc sống hằng ngày Vốn từ thụ động: gồm những từ ít hoặc không được sử dụng Đó là những
từ không còn phù hợp với cuộc sống hiện tại (bao cấp, tem phiếu ) hoặc mang nghĩa riêng, chưa được sử dụng rộng rãi
Đối với trẻ mầm non, vốn từ tích cực là những từ trẻ hiểu được và biết vận dụng trong các tình huống giao tiếp Còn vốn từ thụ động là những từ trẻ chưa hiểu ý nghĩa hoặc có hiểu nhưng không biết vận dụng trong giao tiếp (không nói
ra được) Như vậy nghiên cứu phát triển vốn từ cho trẻ không chỉ là mở rộng vốn từ, làm giàu vốn từ về mặt số lượng mà phải tích cực hoá vốn từ trong giao tiếp
Từ những điều trình bày trên đây, chúng tôi đưa ra một định nghĩa khái
quát về vốn từ như sau: Vốn từ là hệ thống từ ngữ được con người tích luỹ, sử
dụng trong suốt quá trình sống và hoạt động
1.2.2 Trò chơi
Khái niệm về trò chơi
Khi đi nghiên cứu về trò chơi hay hoạt động vui chơi của trẻ các nhà khoa học đã có quan niệm khác nhau Nhiều nhà nghiên cứu đã gọi trò chơi và đồ chơi là một trong số những vật mầu nhiệm của thế giới, một trong số những hiện tượng văn hoá gây nhiều hứng thú nhất Loài người ra đời trong bao nhiêu năm thì trò chơi cũng có bấy nhiêu năm Trò chơi rất đáng tôn trọng vì nó chứa chấp những khả năng cực lớn mà trước đây đôi khi những nhà giáo dục chưa nhận thấy được hết [2] PGS.TS.Nguyễn Ánh Tuyết phát biểu: “Chơi là cuộc sống của trẻ, không chơi đứa trẻ chỉ tồn tại chứ không sống” [13] Vui chơi là một loại hoạt động sống của con người, cùng với lao động và học tập, vui chơi và giải trí làm cho cuộc sống của con người thêm phong phú Hơn bất cứ lứa tuổi nào khác, trẻ nhỏ có nhu cầu chơi vô cùng to lớn, chúng chạy nhảy, chơi đùa không biết mệt, chúng say mê với các trò chơi như “Mèo đuổi chuột”, “Bịt mắt bắt dê”,
“Bán hàng” Vui chơi là người bạn đường của tuổi thơ, vui chơi luôn đem lại
Trang 23cho trẻ sự thoải mái, thỏa mãn, phấn chấn Đối với trẻ nhỏ, “việc chơi không bao giờ kết thúc, trò chơi nọ tiếp nối trò chơi kia làm nên cuộc sống đầy hạnh phúc
cho các cháu” [10] Chơi là một công việc đầy háo hức kéo theo sự nỗ lực cả về
thể chất và tinh thần để có được cảm giác thoả mãn Người chơi kiểm soát được hành động của mình Theo N.K.Crupxkaia thì: “trẻ có nhu cầu chơi vì trẻ mong muốn hiểu biết về thế giới xung quanh hơn nữa trẻ mẫu giáo rất thích bắt chước người lớn, thích được hoạt động tích cực với bạn bè cùng tuổi hoạt động chơi giúp trẻ thoả mãn hai nhu cầu trên…” [9]
Các nhà tâm lý học, giáo dục học Macxit nhìn nhận trò chơi như là một hoạt động đặc trưng của xã hội loài người, phản ánh cuộc sống lao động, sinh hoạt của con người Trò chơi của trẻ em cũng có nguồn gốc xã hội, được lưu giữ
và truyền lại cho thế hệ sau qua con đường giáo dục Theo P.G.Xamarukova: trò chơi là một trong những loại hoạt động của con người Là một hiện tượng sống phức tạp và lý thú, trò chơi thu hút được chú ý của nhiều nhà nghiên cứu thuộc nhiều lĩnh vực ngành nghề [49] M Gocki khi nghiên cứu về trò chơi của trẻ nhỏ, ông cho rằng: trò chơi là con đường dẫn trẻ em đến chỗ nhận thức được cái thế giới mà ở trong đó các em đang sống, cái thế giới mà các em có sứ mệnh phải biến đổi Trò chơi có một sức hút mạnh mẽ vô cùng đối với trẻ, gây cho trẻ những cảm xúc, tình cảm, niềm say mê hoạt động, khám phá thế giới Đối với trẻ thơ trò chơi chính là nội dung chính của cuộc sống, là hoạt động chủ đạo của trẻ, nó chi phối các hoạt động lao động, học tập Để tham gia vào một trò chơi, trẻ không chỉ thể hiện hành động của mình mà trẻ còn phải sử dụng ngôn ngữ để diễn tả cho bạn cùng chơi hiểu được điều trẻ muốn làm và muốn nói Khi ngôn ngữ của trẻ phát triển tốt sẽ giúp cho quá trình chơi của trẻ diễn ra một cách dễ dàng và sẽ mang lại một kết quả tốt khi chơi
Từ những điều trên, dưới góc độ lý thuyết hoạt động, ta có thể hiểu: Trò chơi là một hình thức hoạt động độc đáo không thể thiếu trong cuộc sống của trẻ
Trang 24được người lớn tổ chức Qua chơi trẻ thoả mãn nhu cầu nhận thức về thế giới xung quanh, là phương tiện trẻ học làm người
Ý ngh a trò chơi của trẻ mẫu giáo
Vai trò của trò chơi với sự phát triển của trẻ không có gì có thể thay thế được Trò chơi là phương tiện phát triển toàn diện cho trẻ Trước hết trò chơi chính là phương tiện giáo dục nhân cách của trẻ Hơn bất cứ hoạt động nào, trò chơi thúc đẩy sự hình thành những chức năng tâm lí mới ở trẻ, mà nổi lên trên hết là trí tưởng tượng Trẻ chơi với thái độ tin tưởng một cách chân thành vào những hoàn cảnh được chính mình tưởng tượng, bởi thế, trẻ được trải nghiệm những cảm xúc mạnh mẽ không một chút giả tạo [33] Qua chơi trẻ thoả sức tưởng tượng ra mọi thứ: nhà, xe, vượt biển cả, bay liệng trên bầu trời,…qua trò chơi trẻ nghiên cứu về tên gọi, màu sắc, hình dáng, thuộc tính của đồ vật, của sự vật hiện tượng ở thế giới xung quanh
N.K.Krupxkaia cũng chỉ rõ: các cháu không chỉ học tập trong các môn học
mà cả trong quá trình chơi, chúng học cách tổ chức, học cách nghiên cứu cuộc sống [20] Trong trò chơi trẻ lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử xã hội loài người, biến những kinh nghiệm ấy thành vốn kinh nghiệm cá nhân; song song đó trẻ lĩnh hội những kỹ năng, kỹ xảo, những chuẩn mực đạo đức Trong trò chơi trẻ được trải nghiệm những cung bậc cảm xúc khác nhau, tạo ra những mối quan hệ bạn bè tích cực: đoàn kết, hợp tác chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau hoàn thành nhiệm vụ; giúp trẻ phát triển thể lực, lao động và từng bước hình thành thị hiếu thẩm mỹ
1.2.3 Phân loại trò chơi
* P.G.Xamarukova phân trò chơi thành các loại sau:
- Trò chơi sáng tạo bao gồm: trò chơi đóng vai theo chủ đề; trò chơi đóng kịch; trò chơi xây dựng
- Trò chơi với đồ vật ở tuổi nhà trẻ: đây là trò chơi tạo tiền đề hình thành trò chơi đóng vai theo chủ đề sau này
Trang 25- Trò chơi học tập: nét đặc trưng của trò chơi này là quy tắc chơi mà người chơi cần tuân thủ
- Trò chơi vận động: đặc điểm cơ bản của trò chơi là hệ thống những vận động cơ bản giúp trẻ phát triển vận động
* Ở nước ta vào những năm 60 trò chơi được phân thành 2 nhóm: nhóm trò chơi phản ánh sinh hoạt và nhóm trò chơi vận động
* Hiện nay ở nước ta trò chơi được chia thành 2 nhóm chính:
Nhóm 1: nhóm trò chơi sáng tạo gồm trò chơi đóng vai theo chủ đề; trò chơi xây dựng – lắp ghép; trò chơi đóng kịch
Nhóm 2: nhóm trò chơi có luật bao gồm trò chơi học tập; trò chơi vận động
1.2.3.1 Trò chơi đóng vai theo chủ đề
Trò chơi đóng vai theo chủ đề là trò chơi sáng tạo tiêu biểu của trẻ mẫu giáo Khi chơi trẻ tái hiện lại những sự việc diễn ra trong cuộc sống xã hội bằng những hành động chơi mang tính tượng trưng độc đáo
Trò chơi đóng vai theo chủ đề được xem là hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo Không phải vì nó chiếm thời gian nhiều hơn trong hoạt động của trẻ, mà vì
nó gây ra những biến đổi về chất trong sự phát triển tâm lí của trẻ Đó là sự phát triển của tư duy, tưởng tượng, trí nhớ, tình cảm, ngôn ngữ,…Khi tham gia chơi trò chơi Đóng vai theo chủ đề trẻ phải có vốn ngôn ngữ nhất định, trẻ phải trình bày ý kiến của mình cho các bạn hiểu, hiểu các bạn đang muốn chơi như thế nào Đồng thời khi tham gia chơi cùng bạn trẻ cũng bổ sung thêm vốn từ cho mình một cách chủ động và thụ động
1.2.3.2 Trò chơi xây d ng lắp ghép
Trò chơi xây dựng lắp ghép là loại trò chơi sáng tạo Hoạt động chủ yếu của trẻ trong những trò chơi này là tạo ra các mô hình mô phỏng bề ngoài hình dạng, cấu trúc,…của sự vật xung quanh và chơi với những mô hình vừa tạo được
Trang 26Trò chơi xây dựng lắp ghép được xem như là biến dạng của trò chơi đóng vai theo chủ đề do nó cũng phản ánh cuộc sống xung quanh trẻ Trong chừng mực nào đó trò chơi xây dựng lắp ghép luôn gắn với trò chơi đóng vai theo chủ
đề khi mà các công trình của trẻ trở thành một phần của trò chơi đóng vai theo chủ đề Do đó nó cũng mang đầy đủ ý nghĩa của trò chơi đóng vai theo chủ đề đem lại cho trẻ cả về mặt ngôn ngữ
1.2.3.4 Trò chơi học tập
Trò chơi học tập là loại trò chơi có luật tiêu biểu có nội dung và quy tắc xác định trước mà người chơi cần phải tuân theo Khi tham gia vào trò chơi này trẻ gián tiếp giải quyết các nhiệm vụ nhận thức
Trò chơi học tập ở trẻ mẫu giáo vô cùng phong phú và đa dạng như: trò chơi học tập phát triển tư duy, trò chơi học tập phát triển óc tưởng tượng, trò chơi học tập phát triển trí nhớ, trò chơi học tập phát triển khả năng chú ý, trò chơi học tập phát triển ngôn ngữ Khi đó với trò chơi học tập mang ý nghĩa phát triển vốn từ cho trẻ, người lớn sẽ thiết kế, xây dựng và lập kế hoạch phát triển vốn từ cho trẻ phù hợp với lứa tuổi
1.2.3.5 Trò chơi vận động
Trò chơi vận động là trò chơi khi trẻ tham gia trẻ giải quyết nhiệm vụ vận động dưới hình thức chơi vui vẻ, không bó buộc
Trang 27Trong trò chơi vận động thường kèm theo lời hát hoặc những bài đồng dao giúp cho trẻ thực hiện nhiệm vụ vận động thật vui nhộn, hấp dẫn
1.2.4 Thiết kế trò chơi
Trong hoạt động dạy học, việc thiết kế các trò chơi nói chung sẽ làm cho tiết dạy của giáo viên thêm hấp dẫn, sinh động lôi cuốn trẻ tham gia vào các hoạt động Có được những trò chơi hay, ý tưởng sáng tạo còn là yếu tố quyết định quan trọng cho thành công của bài dạy Giáo viên cần chú ý đến mục đích dạy học (loại bài nào? Hình thành kiến thức mới, củng cố kiến thức hay rèn luyện kỹ năng) để thiết kế trò chơi cho phù hợp Khi thiết kế trò chơi có luật giáo viên nên thực hiện theo các bước sau:
Bước 1: Xác định mục đích trò chơi: Giáo viên xác định được nhiệm vụ nhận thức mà trẻ cần đạt Giáo viên phải trả lời được câu hỏi “Trẻ học được gì qua trò chơi này?”
Bước 2: Tạo tình huống chơi: Giáo viên phải suy nghĩ để tạo ra những tình huống chơi mới, gần gũi, sinh động
Bước 3: Xây dựng luật chơi, hành động chơi: Giáo viên đưa ra luật chơi cụ thể, hình thức tổ chức chơi, hành động chơi sao cho phù hợp với tình huống đã được chọn
Bước 4: Dự kiến đồ chơi sẽ sử dụng: Tùy theo nội dung trò chơi, giáo viên
dự kiến phải chuẩn bị những vật dụng nào để đáp ứng đầy đủ cho việc tổ chức chơi
Bước 5: Tổ chức chơi thử và điều chỉnh nếu cần thiết
Có thể nói: Thiết kế trò chơi là quá trình tạo ra một trò chơi mới một cách
có mục đích, có kế hoạch Nhằm đạt được mục đích giáo dục và thoả mãn nhu cầu vui chơi của trẻ
1.2.5 Phát triển vốn từ
Phát triển vốn từ cho trẻ là cơ sở của công tác phát triển ngôn ngữ Bởi vì
từ là đơn vị có nghĩa của lời nói, có thể dùng độc lập, bao gồm đầy đủ cả hai
Trang 28mặt: âm thanh và ý nghĩa Trong từ phản ánh những sự vật, hiện tượng của thế giới xung quanh cũng như các đặc điểm của nó Việc phát triển vốn từ cho trẻ phải được tiến hành cùng với việc mở rộng và nâng cao nhận thức của trẻ về thế giới xung quanh Đây là hai mặt có quan hệ hữu cơ và không thể tách rời nhau Trường mầm non có nhiệm vụ phát triển vốn từ cho trẻ cả về số lượng và chất lượng Dạy trẻ không chỉ biết nhiều từ, mà còn phải hiểu từ, sử dụng từ đúng, loại ra những từ không đẹp trong lời nói của trẻ, dạy trẻ biết cách sử dụng một
số biện pháp tu từ đơn giản trong giao tiếp hàng ngày
Ngôn ngữ của trẻ phát triển nhờ quá trình lĩnh hội và rèn luyện những hiểu biết về cách thức hành động về mặt ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp Trẻ phát triển vốn từ chính là lĩnh hội những tri thức về từ và cách thức dùng từ Tác giả Hồ Lam Hồng đã viết: “trẻ xây dựng vốn từ chính là lĩnh hội những tri thức về từ và cách dùng từ” [52] Phát triển vốn từ cho trẻ là giúp trẻ nắm được nhiều từ, hiểu
ý nghĩa của từ và biết sử dụng từ trong các tình huống giao tiếp
Trẻ nói được nhờ nghe người lớn nói và bắt chước Phát triển vốn từ cho trẻ là việc tổ chức có kế hoạch, có khoa học nhằm cung cấp, làm giàu vốn từ, nâng cao khả năng hiểu nghĩa của từ, củng cố và tích cực hoá vốn từ cho trẻ Giúp trẻ biết vận dụng phù hợp vốn từ đó trong hoạt động
Phát triển vốn từ được hiểu như là một quá trình lâu dài trẻ tích lũy vốn từ, hiểu nghĩa của từ và hình thành cách sử dụng từ trong các tình huống giao tiếp
cụ thể Trẻ chỉ lĩnh hội nghĩa của từ khi nào từ được sử dụng trong câu, trong lời nói Vì vậy, công tác phát triển vốn từ cần được tiến hành chặt chẽ với việc phát triển ngôn ngữ mạch lạc ở trẻ [25] Xem xét quá trình hình thành và phát triển vốn từ ở trẻ, ta có thể thấy được trẻ lĩnh hội nghĩa cụ thể của từ và nội dung khái niệm của từ, nó có liên quan đến quá trình nhận thức của trẻ; đồng thời, trẻ còn lĩnh hội vốn từ như là một yếu tố của lời nói như cách sử dụng từ, dùng từ thay thế, dùng từ có mức độ khác nhau, dùng từ trái nghĩa, đồng nghĩa , cách sử dụng từ trong câu
Trang 29Do đó, phát triển vốn từ là hoạt động giáo dục có mục đích, có kế hoạch của giáo viên nhằm giúp trẻ củng cố, l nh hội, và sử dụng từ có hiệu quả
1.2.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển vốn từ của trẻ
1.2.6.1 Yếu tố môi trường
Môi trường gia đình là nơi trẻ dễ dàng tiếp nhận ngôn ngữ Nếu trẻ sống trong môi trường giao tiếp nghèo nàn, ít có cơ hội tiếp xúc và trò chuyện với mọi người trong gia đình sẽ làm cho trẻ ít nói
Môi trường xã hội: trẻ sống trong môi trường quá ầm ĩ, ảnh hưởng đến sự nhạy cảm của tai nghe, làm trẻ nghe kém sẽ dẫn đến việc trẻ ít nói hoặc nói không chính xác
Môi trường giáo dục: Trẻ thường xuyên được dạy nói, cung cấp từ mới, trò chuyện, tạo cơ hội trau dồi ngôn ngữ, phát triển vốn từ sẽ mau chóng có vốn từ phong phú Tránh để trẻ tiếp xúc với những hình thái ngôn ngữ không chính xác, không đẹp
1.2.6.2 Yếu tố sinh lý
Nhược điểm về vận động: Khả năng phân tiết, cấu tạo, cũng như khả năng phối hợp vận động của cơ quan phát âm chưa tốt, vì vậy trẻ không thể phát âm đúng ngay tất cả các âm thanh ngôn ngữ Ngoài ra còn có nhược điểm về tri giác: Do tri giác chưa tinh tế, khả năng chú ý còn yếu nên trẻ chưa phân biệt được sự khác biệt tinh tế trong cách phát âm (luộc – luột) Trẻ chưa chú ý đồng đều đến các thành phần trong âm tiết, cách sử dụng các từ trong câu Các âm tiết gần giống nhau, các âm đệm được đọc lướt, các từ không được nhấn mạnh thường không được trẻ chú ý (xoài – xài, uống – uốn)…
Khả năng ghi nhớ của trẻ còn hạn chế, trẻ không nhớ hết các âm đã tiếp thu, trật tự các từ trong câu, vì thế có hiện tượng trẻ bỏ bớt từ, bớt âm khi nói, hay trật tự từ trong câu không chính xác Tư duy của trẻ cũng vậy, cũng còn khá hạn chế, kinh nghiệm sống và kinh nghiệm dùng từ của trẻ chưa được luyện tập nhiều, vì vậy có hiện tượng trẻ dùng từ sai dẫn đến việc trẻ nói câu sai
Trang 30dù trước đó trẻ đã biết nói
Ngoài những nguyên nhân trên, chúng ta còn thấy ở trẻ nhỏ thường mắc một bệnh lý rất đặc trưng, đó là nói lắp Điều này thường xảy ra khi trẻ suy nghĩ nhanh hơn nói hoặc trẻ sợ rằng người khác sẽ ngắt lời chúng Hầu hết trẻ em lớn lên sẽ khỏi nói lắp, nhưng với một số trẻ thì nói lắp lại trở thành tật của trẻ
1.2.7 Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ 3-4 tuổi
+ Vốn từ: Số lượng từ ngữ trẻ em lĩnh hội được từng giai đoạn 3 - 4 tuổi
khoảng từ 1300 - 2000 từ Trong đó phần lớn là danh từ, động từ, còn tính từ
và các từ loại khác còn ít sử dụng [18]
Tỷ lệ từ loại trẻ 4 tuổi hay sử dụng như sau: [25]
37,91% là danh từ 33,6% là động từ 2,82% là đại từ Các từ trẻ sử dụng thường là tên gọi của đồ chơi, đồ dùng, con vật, cây cối, hoa lá xung quanh mà hàng ngày trẻ thường xuyên được tiếp xúc Trẻ đã
sử dụng những từ chỉ hành động, công việc của chính bản thân trẻ và mọi người xung quanh như ăn, ngủ, tắm rửa, dọn, giặt, đi chợ, đi làm… hoặc các
từ chỉ hành động của các con vật mà trẻ biết như cào, cắn, nhảy, bơi, mổ, kêu…
Trang 31- Theo một số kết quả nghiên cứu khác đó là nghiên cứu về ngôn ngữ trẻ
em lứa tuổi mẫu giáo ở nội thành Hà Nội của Trung tâm nghiên cứu giáo dục mầm non cho biết số lượng từ của trẻ tăng dần theo tháng tuổi
Cụ thể: 39 tháng tuổi: 515 từ
42 tháng tuổi: 574 từ
45 tháng tuổi: 683 từ
48 tháng tuổi 724 từ Những kết quả nghiên cứu trên đã nói lên vốn từ của trẻ 3 - 4 tuổi đã tăng lên đáng kể so với trẻ 25 - 36 tháng, trẻ 25 - 36 tháng chỉ có từ vài chục đến vài trăm từ (300 - 400) [41] Trẻ 3 - 4 tuổi cũng đã lĩnh hội được các loại
từ phong phú, đa dạng tuy phần lớn vẫn là danh từ và động từ như trẻ ấu nhi
+ Đặc điểm về phương diện ngữ âm
Trẻ 3-4 tuổi phát âm chưa được thành thạo Do bộ máy phát âm đang trong quá trình hoàn thiện nên ngôn ngữ của trẻ chưa phát triển đầy đủ Trong phát âm trẻ còn mắc nhiều lỗi, phát âm chưa chuẩn về dấu thanh, âm đệm, âm
cuối của tiếng, của từ Ví dụ: "mũi" thành "múi", "ngủ" thành "ngú", "mỡ" trẻ phát âm thành từ "mớ", từ "con hươu" phát âm thành "con hưu", "ếch" phát
âm thành"ất"…
Giọng của trẻ vẫn còn ê a kéo dài, chưa gẫy gọn Khả năng sử dụng
giọng biểu cảm còn hạn chế [25]
+ Đặc điểm về phương diện từ ngữ
Trẻ 3-4 tuổi đã nắm được ngữ pháp cơ bản, để diễn đạt khá chính xác những nhu cầu cơ bản hàng ngày Ngôn ngữ của trẻ được xây dựng từ các câu ngắn (câu đơn) đến câu nhiều âm tiết (câu phức) Trong giao tiếp trẻ vẫn còn dùng câu thiếu thành phần, mang tính chất tình huống Các từ trẻ dùng để diễn đạt thành câu thỉnh thoảng vẫn chưa có sự liên kết chặt chẽ với nhau
Trang 32Trẻ có thể sử dụng tất cả các kiểu câu theo mục đích nói, cũng như các kiểu câu theo cấu trúc ngữ pháp Tác giả Nguyễn Xuân Khoa liệt kê ra các kiểu câu đơn sau:
Câu có vị ngữ tính từ Tóc cô Hà dài nhỉ!
Câu có nhóm danh từ Các bạn trai lớp cháu sẽ làm các
chú công anCâu có trạng ngữ chỉ thời gian, địa
Trẻ đã biết dùng từ mang tính biểu cảm có hình ảnh, màu sắc, âm thanh
như: “Mẹ ơi, trong tủ có con gì lục đục vậy nè? [25] Con tắm một mình, xối
nước ào ào, mát lắm đó” Mặc dù khả năng dùng từ của trẻ có tiến bộ hơn so với
lứa tuổi trước nhưng trẻ em ở độ tuổi 3-4 vốn kinh nghiệm sống còn ít, điều kiện giao tiếp của trẻ chưa được mở rộng, trẻ chưa thật sự hiểu được đầy đủ nghĩa của từ cho nên trong các câu nói của trẻ còn thể hiện việc sử dụng từ chưa đúng, chưa chuẩn xác Trẻ còn gặp nhiều khó khăn khi xác định và sử dụng đúng những từ có tính chất trừu tượng, tương đối Theo nghiên cứu của tác giả Vũ Bá Hùng, ta thấy khả năng hiểu từ và sử dụng đúng từ chỉ thời gian của trẻ 3-4 tuổi như sau:
Trang 33Lứa tuổi Hôm nay Hôm qua Ngày mai Nhanh Chậm
1.3 Nội dung phát triển ngôn ngữ của trẻ 3-4 tuổi
1.3.1 Nội dung phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3-4 tuổi
Nội dung phát triển ngôn ngữ của trẻ 3-4 tuổi trong chương trình giáo dục mầm non ban hành kèm theo Thông tư số 17/2009/TT - BGDĐT ngày 25 tháng
7 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đề ra như sau:
Thực hiện được yêu cầu đơn giản, ví dụ: “Cháu hãy lấy quả bóng, ném vào rổ”
Hiểu nghĩa từ khái quát gần gũi: quần áo, đồ chơi, hoa, quả…
Lắng nghe và trả lời được câu hỏi của người đối thoại
Nói rõ các tiếng
Sử dụng được các từ thông dụng chỉ sự vật, hoạt động, đặc điểm
Sử dụng được câu đơn, câu ghép
Kể lại được những sự việc đơn giản đã diễn ra của bản thân như: thăm ông
bà, đi chơi, xem phim,…
Đọc thuộc bài thơ, ca dao, đồng dao
Kể lại truyện đơn giản đã được nghe với sự giúp đỡ của người lớn
Bắt chước giọng nói của nhân vật trong truyện
Mạnh dạn tham gia vào các hoạt động, mạnh dạn khi trả lời câu hỏi
Cố gắng thực hiện công việc đơn giản được giao (chia giấy vẽ, xếp đồ chơi )
Nhận ra cảm xúc: vui, buồn, sợ hãi, tức giận qua nét mặt, giọng nói, qua tranh ảnh
Biết biểu lộ cảm xúc vui, buồn, sợ hãi, tức giận
Nhận ra hình ảnh Bác Hồ
Thích nghe kể chuyện, nghe hát, đọc thơ, xem tranh ảnh về Bác Hồ
Trang 341.3.2 Nội dung phát triển vốn từ cho trẻ 3-4 tuổi
Theo tác giả Nguyễn Xuân Khoa việc phát triển vốn từ cho trẻ gồm những nội dung sau:
- Những từ ngữ nói về cuộc sống riêng: cho trẻ làm quen với những đồ dùng hàng ngày trong gia đình vào trong lớp, tên gọi các đồ dùng, tên từng bộ phận chính của một số đồ dùng, những đặc điểm cơ bản của chúng; quan sát kỹ từng bộ phận của vật, khái quát chúng theo đặc điểm cơ bản giống nhau; dạy trẻ biết nói đúng họ, tên, chỗ ở của mình, nói đúng tên của cha, mẹ, anh, chị, em ruột, tên của trường mẫu giáo đang học, tên của cô giáo, của một số bạn trong lớp; tên gọi một số nơi trong nhà, trong trường; cho trẻ biết một số công việc của người lớn trong gia đình, trong trường mẫu giáo và gọi đúng các công việc
- Những từ ngữ nói về thế giới tự nhiên: cho trẻ nhận biết gọi đúng tên một
số loại rau quen thuộc; cho trẻ nhận biết gọi đúng tên một số con vật phổ biến; dạy trẻ nói đúng những từ chỉ hiện tượng thiên nhiên
1.3.3 Phương pháp phát triển vốn từ
* Phương pháp tr c quan:
Phương pháp trực quan được xem là phương pháp chủ đạo trong quá trình phát triển ngôn ngữ cho trẻ Vì vậy, nó được sử dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực dạy nói cho trẻ và được tiến hành trên giờ học, mọi lúc, mọi nơi.Trong quá trình quan sát trẻ tập trung chú ý quan sát đặc điểm, tính chất, gọi tên các bộ phận của đối tượng,…giúp hình thành và phát triển vốn từ mới cho trẻ Quan sát cũng tạo điều kiện cho trẻ củng cố kiến thức, củng cố vốn từ, biết sử dụng vốn kinh
Trang 35nghiệm sẵn có để đặt câu hỏi, biết trả lời câu hỏi của cô, biết diễn đạt ý kiến nhận xét của mình cho mọi người hiểu Vì vậy, quan sát vừa là phương pháp vừa
là điều kiện giúp trẻ cách đặt câu, cách diễn đạt, làm giàu vốn từ và tích cực hoá vốn từ cho trẻ
Để phát huy được những ưu điểm của phương pháp quan sát giáo viên cần
có sự phối hợp chặt chẽ giữa phương pháp quan sát và phương pháp đàm thoại Giáo viên chủ động đưa ra gợi ý, hệ thống câu hỏi để trẻ tập trung quan sát đối tượng, khuyến khích trẻ tích cực suy nghĩ Đồng thời nên phối hợp với phương pháp trò chơi, yếu tố thi đua thưởng phạt đúng lúc sẽ khích lệ trẻ hăng hái phát biểu, đưa ra ý kiến cá nhân
Các dạng trực quan thường sử dụng là quan sát, vật thật, tham quan, xem phim
* Phương pháp dùng lời:
- Trò chuyện, đàm thoại, giảng giải:
Trò chuyện, đàm thoại, giảng giải là quá trình giao tiếp giữa người với người Phương pháp trò chuyện thường được dùng củng cố vốn từ cho trẻ Qua trò chuyện giáo viên phát hiện ra những thiếu sót trong vốn từ của trẻ như phát
âm sai, dùng từ sai hay hiểu sai nghĩa của từ Từ đó giáo viên thực hiện giảng giải cho trẻ hiểu, nói mẫu cho trẻ nghe và tập nói theo cho đúng Còn phương pháp đàm thoại cô sử dụng hệ thống câu hỏi đàm thoại về một chủ đề nào đó có tác dụng định hướng nhận thức cho trẻ, buộc trẻ phải suy nghĩ và bằng sự quan sát, bằng vốn hiểu biết sẵn có của mình trẻ trả lời câu hỏi đặt ra Quá trình đó trẻ tập diễn đạt ý kiến sao cho cô và các bạn có thể hiểu; trẻ tập trình bày sao cho ngắn gọn xúc tích; trẻ tập đặt câu hỏi cho những vướng mắc của bản thân
- Kể chuyện, đọc thơ, ca dao, tục ngữ:
Sử dụng những yếu tố văn học này có tác dụng cung cấp vốn từ mới cho trẻ Trẻ được nghe những từ xa lạ, chưa xuất hiện trong vốn hiểu biết của trẻ bao giờ như: trong truyện “Tấm cám” có xuất hiện “cái chum”; trong bài ca dao
Trang 36“công Cha như núi Thái Sơn/ nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra/ một lòng thờ Mẹ kính Cha/ cho tròn chữ hiếu mới là đạo con” trẻ sẽ được làm quen với từ
“nguồn” từ “đạo con”,…Qua việc nghe giáo viên kể chuyện trẻ hiểu được những
từ mang ý nghĩa khái quát: xấu, đẹp, ngoan, hư, hiền, dữ, ác,…
Lời thơ, ca dao, tục ngữ có vần điệu, nhịp điệu, mang tính nhạc cao Nên khi đọc cho trẻ nghe cô cần lưu ý đọc chậm rãi, vừa phải, chú ý ngắt giọng sau mỗi câu và nhấn vào các từ mang vần Cần truyền đạt được âm điệu vui tươi, sảng khoái đến với trẻ
Khi kể chuyện cho trẻ nghe cô chú ý dùng cử chỉ, điệu bộ, nét mặt diễn tả đúng ngữ điệu giọng nói của nhân vật, lột tả được đặc điểm, tính cách nhân vật Tốc độ đọc, kể vừa phải vừa có tác dụng lôi kéo sự chú ý của trẻ, vừa giúp trẻ lắng nghe, ghi nhớ câu từ của truyện giúp trẻ tích luỹ vốn từ
* Phương pháp trò chơi
Như đã biết hoạt động chủ đạo của trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo là hoạt động vui chơi Cho nên trò chơi chiếm giữ một vị trí vô cùng quan trọng trong các hoạt động giáo dục cho trẻ ở trường mầm non Đối với việc phát triển vốn từ điều này lại càng rõ:
Với trò chơi học tập giáo viên bằng trò chơi sẵn hoặc thiết kế trò chơi giúp trẻ tăng vốn từ trong quá trình chơi như những trò chơi dùng lời (kể đủ 3 thứ, ai đoán giỏi, cô vừa nhắc đến con vật gì…); trò chơi kết hợp với đồ dùng trực quan (chiếc túi kì diệu; ai thông minh hơn,…)
Khi cô tổ chức cho trẻ chơi những trò chơi sáng tạo như trò chơi đóng vai theo chủ đề, trò chơi đóng kịch trẻ được nhập vai thể hiện lời nói, cử chỉ, điệu
bộ của nhân vật đúng với vai chơi mình đóng … Qua đó giúp trẻ phát triển ngôn ngữ mạch lạc, phát triển vốn từ.Với trò chơi đóng vai theo chủ đề khi tham gia trò chơi trẻ còn có thể học hỏi lẫn nhau cách dùng từ, học thêm được từ mới như “bố sao lại gọi mẹ bằng “mày””, “thức ăn thật tuyệt”,
Trang 38Tiểu kết chương 1
Trẻ trong giai đoạn 3-4 tuổi là giai đoạn phát cảm về ngôn ngữ, sự phát triển ngôn ngữ của trẻ phát triển một cách đầy kinh ngạc cùng với sự mở rộng sự giao tiếp của trẻ về thế giới xung quanh Ngôn ngữ rõ ràng đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong giao tiếp của trẻ, ngôn ngữ phát triển tốt giúp trẻ biết diễn đạt ý nghĩ một cách rõ ràng, thể hiện xúc cảm, tình cảm, sự quan tâm đến người khác một cách chính xác nhất Ngôn ngữ cũng là công cụ của tư duy, điều đó giúp trẻ giải quyết vấn đề một cách nhanh chóng, phát triển và duy trì các mối quan hệ của trẻ Trên hết ngôn ngữ của trẻ trong giai đoạn này là nền tảng cho trẻ học chữ, học đọc học viết ở những giai đoạn tiếp theo
Riêng đối với sự phát triển vốn từ của trẻ nó có liên quan đến thành tích học tập chung của trẻ Trẻ càng có nhiều từ trẻ càng tìm kiếm được nhiều thông tin trẻ cần giúp trẻ suy nghĩ và tìm hiểu về thế giới Hiểu được tầm quan trọng của vốn từ đối với sự phát triển của trẻ người lớn (đặc biệt là cha mẹ và thầy cô) cần khuyến khích sự phát triển vốn từ của trẻ để trẻ phát triển kỹ năng ngôn ngữ
và khả năng đọc viết cần thiết cho trẻ học tập tốt khi bước vào tiểu học Có rất nhiều cách có thể phát triển vốn từ cho trẻ như trò chuyện với trẻ thường xuyên trong lúc đó chờ đợi sự phản ứng của trẻ; cho trẻ nghe một từ nhiều lần, lặp đi lặp lại từ ấy trong những ngữ cảnh khác nhau; nói một từ nào đó phải đi kèm hành động, cử chỉ điệu bộ nét mặt,… Điểm mấu chốt là ở chỗ người lớn dùng phương pháp gì để thực hiện những cách ấy nhằm phát triển vốn từ cho trẻ Để làm được điều đó cần dựa trên hoạt động chủ đạo của trẻ trong giai đoạn này đó chính là hoạt động vui chơi Hoạt động vui chơi là một phần quan trọng trong cuộc sống của trẻ nhỏ, và người lớn cũng là một phần quan trọng trong hoạt động phát triển ngôn ngữ qua hoạt động vui chơi Tổ chức và cùng tham gia vào trò chơi của trẻ là điều cần thiết, chơi là một cơ hội tuyệt vời để trẻ gắn kết ý nghĩa của từ và xây dựng từ vựng Đó là những trò chơi như trò chơi học tập, trò chơi vận động, trò chơi xây dựng, trò chơi đóng vai theo chủ đề Trong quá trình
Trang 39chơi cùng trẻ người lớn nắm bắt sự thiếu hụt về vốn từ của trẻ, dạy trẻ cách sử dụng từ phù hợp ngữ cảnh, sửa lỗi phát âm, thêm vào câu nói của trẻ những từ, cụm từ để trẻ hình thành mô hình cấu trúc câu, bổ sung vào kho từ vựng của trẻ những từ mới, từ đồng nghĩa,…đặc biệt là trò chơi Đóng vai theo chủ đề Trò chơi của trẻ giai đoạn này thật đáng yêu, nó liên quan đến ăn mặc, diễn lại những sự kiện trong quá khứ trẻ đã trải nghiệm hoặc cho búp bê ăn…
Trong chương 1 chúng tôi đã nêu lên một số khái niệm cơ bản được sử dụng trong luận văn như : Từ là gì ? vốn từ là gì ? thế nào là trò chơi và thiết kế trò chơi ?, đồng thời đã hệ thống hoá cơ sở lí luận của việc phát triển vốn từ cho trẻ 3-4 tuổi thông qua hoạt động vui chơi Việc nghiên cứu cơ sở lí luận ở chương 1 là nền tảng để tìm hiểu thực trạng của việc phát triển vốn từ cho trẻ 3-
4 tuổi tại trường mầm non Bình Đại Bến Tre ở chương 2 Đây cũng là một trong những căn cứ để thiết kế các trò chơi mang tính khả thi nhằm phát triển vốn từ cho trẻ 3-4 tuổi
Trang 40Chương 2 THỰC TRẠNG VIỆC THIẾT KẾ TRÕ CHƠI NHẰM PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ 3 – 4 TUỔI
Xác định rõ nhiệm vụ trồng người là trọng tâm Vì vậy,về mặt giáo dục S Giáo Dục và Đào Tạo Bến tre đặc biệt chú trọng đổi mới mục tiêu, nội dung và phương pháp giáo dục phù hợp với đặc điểm của địa phương Nhằm không
ngừng nâng cao chất lượng dạy và học, những năm qua, ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bến Tre đã triển khai nhiều giải pháp đồng bộ, thiết thực Bên cạnh việc đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học, ngành còn triển khai kế hoạch nâng cao chất lượng chuyên môn cho đội ngũ cán bộ, giáo viên Các phong trào thi đua cũng diễn ra sôi nổi, đặc biệt là phong trào thi đua “Dạy tốt – học tốt” trong toàn ngành Song song đó ngành chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, nâng cao chất lượng dạy và học, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của ngành; góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa,
xã hội của tỉnh Bến Tre
Toàn ngành đã tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học và các hoạt động chuyên môn, thông qua việc soạn và giảng bài bằng giáo án điện
tử, nhất là sử dụng các phần mềm dạy học phù hợp đặc điểm học sinh Theo đó, chất lượng giáo dục toàn diện của ngành Giáo dục và Đào tạo Bến Tre luôn ổn định, phát triển cả về số lượng và chất lượng
Bên cạnh đó, ngành Giáo dục và Đào tạo của tỉnh cũng đã huy động các nguồn lực đầu tư xây dựng phòng học, phòng bộ môn và trang thiết bị dạy học Theo đó, đã sửa chữa, nâng cấp trên 450 phòng học của 207 trường, kinh phí trên 90 tỷ đồng; xây dựng mới 16 phòng, sửa chữa nâng cấp 35 phòng học phục
vụ công tác phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi với kinh phí trên 20 tỷ đồng; đầu tư mua sắm trang thiết bị dạy và học với tổng kinh phí 30,6 tỷ đồng