1. Trang chủ
  2. » Mầm non - Tiểu học

Thực trạng tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ MG 56 tuổi ở các trường mầm non tại Thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang (Luận văn thạc sĩ)

135 3,2K 14
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 2,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ MG 56 tuổi ở các trường mầm non tại Thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang (Luận văn thạc sĩ)Thực trạng tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ MG 56 tuổi ở các trường mầm non tại Thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang (Luận văn thạc sĩ)Thực trạng tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ MG 56 tuổi ở các trường mầm non tại Thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang (Luận văn thạc sĩ)Thực trạng tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ MG 56 tuổi ở các trường mầm non tại Thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang (Luận văn thạc sĩ)Thực trạng tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ MG 56 tuổi ở các trường mầm non tại Thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang (Luận văn thạc sĩ)Thực trạng tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ MG 56 tuổi ở các trường mầm non tại Thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang (Luận văn thạc sĩ)Thực trạng tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ MG 56 tuổi ở các trường mầm non tại Thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang (Luận văn thạc sĩ)

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Nông Khánh Vy

THỰC TRẠNG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI CHO TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI

Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON TẠI

THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Nông Khánh Vy

THỰC TRẠNG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI CHO TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI

Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON TẠI

THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG

Chuyên ngành: Giáo dục học (Giáo dục Mầm non)

Mã số : 60 14 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN ĐỨC DANH

Thành phố Hồ Chí Minh - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai

công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Nông Khánh Vy

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Sau đại học, Phòng đào tạo, Khoa Giáo dục mầm non, Thư viện trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh và quý thầy cô, đặc biệt là TS Nguyễn Đức Danh, người đã dành rất nhiều thời gian, tâm huyết, tận tình hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu và tập thể giáo viên của

18 trường Mầm non trên địa bàn Thành phố Mỹ Tho đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu tại trường

Cuối cùng, tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình và bạn bè đã động viên, giúp đỡ cho tôi rất nhiều trong quá trình nghiên cứu đề tài này

Tp Hồ Chí Minh, ngày 29 tháng 9 năm 2017

Học viên

Nông Khánh Vy

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các biểu đồ

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI CHO TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON 5

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5

1.1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu ở nước ngoài 5

1.1.2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu ở Việt Nam 11

1.2 Một số khái niệm liên quan 13

1.2.1 Hoạt động vui chơi 13

1.2.2 Tổ chức hoạt động vui chơi 15

1.3 Ý nghĩa HĐVC đối với sự phát triển của trẻ 16

1.3.1 Chơi là phương tiện giáo dục toàn diện cho trẻ em 16

1.3.2 Chơi là hình thức tổ chức đời sống cho trẻ ở trường mầm non 19

1.3.3 Mối quan hệ qua lại giữa chơi và lao động, chơi và học tập, chơi và hoạt động nghệ thuật của trẻ 20

1.4 Những đặc trưng của hoạt động chơi 21

1.4.1 Động cơ thỏa mãn trong quá trình chơi 21

1.4.2 Tính tượng trưng, ký hiệu 22

1.4.3 Tính tự do 22

1.4.4 Tích cực, giàu cảm xúc chân thật 22

1.4.5 Tính tự lực, tự điều khiển 22

Trang 6

1.4.6 Bản chất xã hội sâu sắc 23

1.4.7 Khi chơi trẻ bộc lộ cái riêng của mình 23

1.5 Quy trình tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ ở trường Mầm non 23

1.5.1 Xây dựng kế hoạch tổ chức HĐVC cho trẻ 23

1.5.2 Sắp xếp các góc chơi trong lớp một cách khoa học 24

1.5.3 Chuẩn bị đầy đủ phương tiện - đồ dùng - đồ chơi 25

1.5.4 GV gợi ý và hướng dẫn cho trẻ chơi khi cần thiết, khuyến khích môi trường giao tiếp phong phú cho trẻ 27

1.5.5 Quan sát, đánh giá trò chơi của trẻ 28

1.6 Những yêu cầu khi tố chức hoạt động vui chơi ở lớp MG 5 - 6 tuổi 29

1.6.1 Các trò chơi phải hấp dẫn, phù hợp trình độ nhận thức của trẻ để kích thích tính tích cực và tính tự lập của trẻ 29

1.6.2 Khi tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ, nhất là trò chơi học tập, không được nhầm lẫn giữa TCHT và luyện tập thực hành của một “giờ học” 29

1.6.3 Giáo viên tổ chức hoạt động vui chơi phải đảm bảo tính tự do, tự nguyện và sáng tạo của trẻ 30

1.6.4 Thời gian tiến hành trò chơi phải phù hợp với thời lượng giờ chơi tự do 30

1.6.5 Giáo viên phải chú ý đến đặc điểm cá nhân của từng trẻ 30

1.7 Tổ chức HĐVC cho trẻ MG 5-6 tuổi ở trường Mầm non 31

1.7.1 Tổ chức HĐVC theo chế độ sinh hoạt của trẻ ở trường mầm non 31

1.7.2 Hướng dẫn các trò chơi cho trẻ trong giờ hoạt động góc 35

Tiểu kết chương 1 43

Chương 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG VUI CHO TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON TẠI THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG 44

2.1 Khái quát về tình hình giáo dục mầm non tại Thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang 44

2.1.1 Về điều kiện tự nhiên - dân số 44

Trang 7

2.1.2 Về giáo dục 44

2.1.3 Tình hình phát triển giáo dục mầm non của Thành phố Mỹ Tho 45

2.2 Tổ chức khảo sát thực trạng tổ chức HĐVC cho trẻ MG 5 - 6 tuổi ở các trường mầm non tại Thành Phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang 46

2.2.1 Mục đích khảo sát thực trạng 46

2.2.2 Nhiệm vụ khảo sát thực trạng 46

2.2.3 Phương pháp và đối tượng khảo sát 46

2.2.4 Thời gian khảo sát: Từ tháng 3/2017 đến tháng 5/2017 47

2.2.5 Nội dung khảo sát 47

2.3 Quá trình khảo sát thực trạng tổ chức HĐVC của các lớp MG 5-6 tuổi ở các trường mầm non tại Thành Phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang 47

2.4 Kết quả khảo sát thực trạng tổ chức HĐVC ở lớp MG 5-6 tuổi tại một số trường mầm non của Thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang 50

2.4.1 Thực trạng việc lập kế hoạch tổ chức HĐVC ở lớp MG 5-6 tuổi tại một số trường mầm non tại thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang 50

2.4.2 Thực trạng lựa chọn trò chơi trong HĐVC ở lớp MG 5 - 6 tuổi tại một số trường mầm non tại thành phố Mỹ Tho- Tỉnh Tiền Giang 53

2.4.3 Thực trạng đồ chơi, nơi tổ chức HĐVC ở lớp MG 5 - 6 tuổi tại một số trường mầm non tại thành phố Mỹ Tho- Tỉnh Tiền Giang 54

2.4.4 Cách thức tổ chức trò chơi trong HĐVC ở lớp MG 5 - 6 tuổi tại một số trường mầm non tại thành phố Mỹ Tho- tỉnh Tiền Giang 59

2.4.5 Thực trạng nội dung chơi, kỹ năng chơi của trẻ trong HĐVC ở lớp MG 5 - 6 tuổi tại một số trường mầm non tại thành phố Mỹ Tho- Tỉnh Tiền Giang 60

2.4.6 Các loại trò chơi được tổ chức trong HĐVC của trẻ MG 5 -6 tuổi 63

Trang 8

2.4.7 Những khó khăn của GV khi tổ chức HĐVC cho trẻ MG

5 - 6 tuổi 65

Tiểu kết chương 2 68

Chương 3 BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI CHO TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON TẠI THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG 69

3.1 Cơ sở đề xuất các biện pháp để tổ chức có hiệu quả hoạt động vui chơi cho trẻ MG 5-6 tuổi ở các trường mầm non tại thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang 69

3.1.1 Cơ sở lý luận 69

3.1.2 Cơ sở thực tiễn 69

3.2 Những yêu cầu xác lập biện pháp 69

3.3 Biện pháp nâng cao hiệu quả tổ chức HĐVC cho trẻ 5 tuổi trong trường mầm non theo hướng khuyến khích trẻ 5 tuổi tích cực hoạt động 70

3.4 Kết quả trưng cầu kiến ý của chuyên gia về tính cần thiết và tính khả thi của biện pháp đề xuất 82

3.4.1 Mục đích 82

3.4.2 Nội dung 82

3.4.3 Đối tượng 83

3.4.4 Kết quả 83

Tiểu kết chương 3 88

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 89

TÀI LIỆU THAM KHẢO 92 PHỤ LỤC

Trang 9

GD&ĐT Giáo dục và đào tạo

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Quy ước giá trị trung bình ( ) với thang đo các mức độ

đánh giá 48 Bảng 2.2 Trình độ đào tạo của giáo viên tham gia khảo sát 49 Bảng 2.3 Thống kê kết quả lập kế hoạch tổ chức HĐVC ở lớp MG

5-6 tuổi 50 Bảng 2.4 Thống kê thực trạng lập kế hoạch tổ chức trò chơi trong

HĐVC 52 Bảng 2.5 Thống kê kết quả lựa chọn các loại trò chơi trong tổ chức

HĐVC ở lớp 5-6 tuổi 53 Bảng 2.6 Thống kê kết quả thực trạng đồ chơi, nơi chơi trong tổ chức

HĐVC ở lớp MG 5-6 tuổi 55 Bảng 2.7 Thống kê kết quả cách thức GV tổ chức trò chơi trong

HĐVC 59 Bảng 2.8 Thực trạng kỹ năng chơi của trẻ trong HĐVC 60 Bảng 2.9 Các loại trò chơi trong tổ chức HĐVC của trẻ MG 5 -6 tuổi 63 Bảng 2.10 Những khó khăn của GVMN khi tổ chức HĐVC cho trẻ

MG 5 -6 tuổi 65 Bảng 3.1 Quy ước giá trị trung bình ( ) với thang đo các mức độ

đánh giá 83 Bảng 3.2 Đánh giá của CBQL về tính cần thiết của các biện pháp

đề xuất 84 Bảng 3.3 Đánh giá của GVMN là Tổ trưởng khối lớp MG 5-6 tuổi và

giáo viên giỏi về tính cần thiết của các biện pháp đề xuất 85 Bảng 3.4 Đánh giá của CBQL về tính khả thi của các biện pháp

đề xuất 86

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

A.N Lêônchiép nói rằng chơi là hoạt động rất tự nhiên trong cuộc sống

của mọi người, nó đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của trẻ em Đó là một thực tế mang tính quy luật Chơi là một phần không thể thiếu trong đời sống

trẻ thơ, không thể làm việc với trẻ mà không hiểu về việc chơi của trẻ Trẻ em

trong độ tuổi từ 2 đến 6 tuổi là giai đoạn quý giá chứa đựng những cơ hội không lặp lại cho sự hình thành và phát triển của các trò chơi trẻ em Chơi là cuộc sống của trẻ, tổ chức trò chơi chính là tổ chức cuộc sống của trẻ Thế giới cũng như ở Việt Nam, đã có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu về HĐVC ở trường mầm

non F.Freibel là một nhà giáo dục người Đức nói: “Nhiệm vụ giáo dục tiền học

đường không phải là việc “dạy”mà ở việc tổ chức các trò chơi của trẻ”

Vui chơi là hoạt động chủ đạo đã gây ra những biến đổi về chất trong tâm

lý của trẻ MN Trò chơi vừa là phương tiện và đồng thời cũng là con đường để đứa trẻ lĩnh hội tri thức và khám phá thế giới xung quanh Hoạt động vui chơi

có tác động giúp trẻ phát triển đầy đủ toàn diện về nhận thức, tình cảm, ý chí, cũng như các nét tính cách và năng lực xã hội

Các tác giả của Nga đã nghiên cứu so sánh dữ liệu của trẻ mẫu giáo vào giữa thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI cho thấy tỉ lệ giảm đáng kể về giao tiếp cuả trẻ với nhau, giữa trẻ với người lớn trong hoạt động vui chơi và ngoài hoạt động vui chơi Kết quả thu được cho thấy hoạt động vui chơi chưa tiệm cận được với vùng phát triển gần và chưa là hoạt động chủ đạo trong giáo dục trẻ mẫu giáo Trong giai đoạn hiện nay trẻ học nhiều hơn chơi, mặc khác hiện nay trẻ thích chơi các trò chơi với công nghệ hiện đại như: laptop, ipad, Smartphone…

Do đó, hoạt động vui chơi không còn là hoạt động yêu thích của trẻ mầm non Hoạt động vui chơi của trẻ 5-6 tuổi ở các trường mầm non tại TPMT, tỉnh Tiền Giang trong thời gian qua mặc dù đã được các giáo viên quan tâm và đầu

tư rất nhiều nhưng hiệu quả đạt được chưa cao

Trang 12

Làm thế nào để tổ chức một hoạt động vui chơi thực sự có ý nghĩa và đem

lại hứng thú cho trẻ? Đề tài: “Thực trạng tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ

MG 5-6 tuổi ở các trường mầm non tại Thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang” được xây dựng nhằm xác định cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc giải

quyết vấn đề nêu trên

2 Mục đích nghiên cứu

Đánh giá thực trạng tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ MG 5-6 tuổi ở các trường mầm non tại Thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang từ đó đề xuất những biện pháp nhằm tổ chức có hiệu quả hoạt động vui chơi cho trẻ MG 5-6 tuổi ở tại địa phương này

3 Giới hạn đề tài

3.1 Giới hạn về nội dung nghiên cứu

Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ 5-6 tuổi ở các trường mầm non tại Thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang

3.2 Giới hạn nghiên cứu

Khảo sát 100 GV dạy lớp MG 5-6 tuổi ở 18 trường mầm non công lập tại Thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

4.1 Khách thể nghiên cứu

Công tác tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mầm non

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Thực trạng tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ MG 5-6 tuổi ở các trường mầm non tại Thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang

5 Giả thuyết nghiên cứu

Nếu khảo sát và đánh giá đúng thực trạng tổ chức HĐVC của trẻ MG 5-6 tuổi ở các trường mầm non tại Thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang thì người nghiên cứu có thể đề xuất được các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức HĐVC cho trẻ 5-6 tuổi tại các trường mầm non này

Trang 13

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

Hệ thống hóa những cơ sở lý luận có liên quan về tổ chức HĐVC cho trẻ

MG 5-6 tuổi ở các trường mầm non

Khảo sát và đánh giá thực trạng tổ chức HĐVC cho trẻ 5-6 tuổi ở các trường mầm non tại Thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang

Đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức HĐVC cho trẻ MG 5-6 tuổi ở các trường mầm non tại Thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Phân tích, tổng hợp các tài liệu lý luận, phân loại, hệ thống hóa các lý thuyết nói trên để xây dựng khung lý thuyết cho nghiên cứu

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Nghiên cứu thực trạng giáo viên tổ chức HĐVC cho trẻ 5-6 tuổi ở các trường mầm non tại Thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn sau đây được áp dụng:

7.2.1 Phương pháp quan sát

Quan sát việc giáo viên tổ chức HĐVC cho trẻ MG 5-6 tuổi bao gồm các nội dung như: quan sát môi trường học tập trong lớp, việc sắp xếp các góc chơi, việc trang bị đồ dùng, đồ chơi cho từng góc; quan sát phương pháp giáo viên tổ chức HĐVC đối chiếu với các tiêu chí đã xác định; Ảnh hưởng của phương pháp giáo viên tổ chức HĐVC cho trẻ MG 5-6 tuổi; Hoạt động chơi các trò chơi của trẻ MG 5-6 tuổi trong các giờ chơi khác nhau…

7.2.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi

Thứ nhất: Việc điều tra bằng phiếu hỏi được tiến hành để tìm hiểu ý kiến

giáo viên dạy lớp MG 5-6 tuổi ở các trường MN thuộc diện khảo sát về: Bản chất, ý nghĩa, vai trò cũng như cách tổ chức HĐVC cho trẻ MG 5-6 tuổi; Thực trạng tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ 5-6 tuổi ở các trường mầm non tại Thành phố Mỹ Tho – Tiền Giang; Những khó khăn và đề xuất của GV đối với

Trang 14

việc tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ 5-6 tuổi ở các trường mầm non tại Thành phố Mỹ Tho – Tiền Giang Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi được thực hiện với 100 GVMN ở 18 trường được chọn khảo sát

Thứ hai: Lấy ý kiến đánh giá từ các chuyên gia, CBQL và GVMN là tổ

trưởng chuyên môn khối lá tại các trường MN trên địa bàn Thành Phố Mỹ Tho- Tiền Giang về các biện pháp đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức HĐVC cho trẻ MG 5-6 tuổi ở trường mầm non

7.2.3.Phương pháp phỏng vấn sâu

Sử dụng các câu hỏi phỏng vấn sâu đối với 5 cán bộ quản lý và 10 giáo viên dạy trẻ 5 - 6 tuổi của 5 trường được chọn để khảo sát nhằm tìm hiểu thêm cách thức tổ chức HĐVC cho trẻ 5- 6 tuổi và làm rõ những vấn đề mà kết quả quan sát và khảo sát qua phiếu hỏi chưa đáp ứng được

7.2.4.Phương pháp nghiên cứu sản phẩm

Phân tích 20 kế hoạch HĐVC của 10 giáo viên dạy lớp MG 5-6 tuổi, phân tích các biên bản họp chuyên môn của Phó Hiệu trưởng phụ trách chuyên môn tại 12 trường mầm non được chọn khảo sát để thu thập thông tin nhằm đánh giá thực trạng được chính xác hơn

7.2.5 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng phần mềm Microsoft Excel để xử lý thống kê kết quả khảo sát với hai thông số cơ bản là tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình cho các nội dung trong phiếu khảo sát

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG

VUI CHƠI CHO TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu ở nước ngoài

Những năm 30 của thế kỉ XX các nhà tâm lý học, giáo dục học Xô Viết đã đưa ra một cái nhìn mới về bản chất tâm lý người nói chung và hoạt động chơi nói riêng Bằng những lập luận khoa học, họ đã chứng minh sự xuất hiện của trò chơi như hình thức cụ thể của hoạt động chơi, gắn liền với lao động ở giai đoạn phát triển nhất định của xã hội loài người Các nhà khoa học giai đoạn này đã làm sáng tỏ nguồn gốc xã hội của trò chơi, hoạt động chơi của con người gắn liền với lao động ở những giai đoạn phát triển nhất định của xã hội loài người Nội dung trò chơi phản ánh cuộc sống xã hội của con người, trên cơ sở đó làm

rõ bản chất xã hội của trò chơi nói chung và hoạt động chơi nói riêng [19]

Vào những năm 40, các cộng sự và học trò của L.X.Vưgôtxki, Đ.B.Elcônhin, A.V Zaparogiet, A.N.Leonchiep, đã thực hiện hàng loạt nghiên cứu về hoạt động chơi của học sinh nhỏ Điển hình là những công trình nghiên cứu của L.X.Xlavina; L.A.Gersezon; tiến hành dựa trên quan điểm duy vật biện chứng, bắt đầu từ những hoạt động có thực của trẻ để từ đó hiểu những biến đổi tương ứng trong ý thức của trẻ và sau đó tìm hiểu những ảnh hưởng trở lại của sự thay đổi ý thức đối với sự phát triển tiếp theo của hoạt động Từ đó các nhà khoa học đi đến kết luận: hoạt động chơi không nảy sinh một cách tự phát mà do những ảnh hưởng có ý thức hoặc không ý thức từ phía người lớn, bạn bè xung quanh trong đó giao tiếp xã hội đóng một vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển hoạt động chơi của trẻ [24]

Nghiên cứu về chức năng giáo dục của trò chơi: Đối với trẻ nhỏ thì trò chơi là phương tiện và đồng thời cũng là con đường để đứa trẻ lĩnh hội tri thức

và khám phá thế giới xung quanh nó, những luận điểm này mãi cho đến những

Trang 16

năm 30 của thế kỉ XX mới được các nhà khoa học làm sáng tỏ Trong những công trình nghiên cứu của mình, L.X Vưgôtxki đã lý giải và phân tích vai trò của hoạt động chơi nhất là dưới dạng các trò chơi mô phỏng, trên cơ sở những kết quả nghiên cứu của mình ông đã chỉ ra: chính những trò chơi mô phỏng tạo

ra vùng "cận phát triển", là điều kiện đầu tiên thuận lợi nhất cho sự hình thành

và phát triển nhân cách, "hoàn cảnh chơi" mang tính tưởng tượng là con đường dẫn tới trừu tượng hoá; việc thực hiện các qui tắc chơi là trường học rèn luyện các phẩm chất ý chí, phẩm chất đạo đức [24]

Từ những luận điểm trên đây tiếp tục cho những hướng nghiên cứu mới đặc biệt là nghiên cứu sử dụng trò chơi nhằm mục đích giáo dục trẻ về nhiều mặt Nhiều công trình nghiên cứu theo hướng nghiên cứu này được ra đời như "Giáo dục trẻ trong trò chơi" của Đ.B Menđgieritxkaia,

Về vấn đề phân loại trò chơi: J.Piagie bắt đầu học thuyết phát triển trí tuệ dựa trên những hình mẫu về trò chơi mà ông quan sát được ở 3 đứa con của mình trong cuốn “Play, Dreams and Imitation in childhood” (1945) Theo J Piagie các trò chơi lần lượt xuất hiện trong đời sống cá thể trò chơi – hành động chức năng; trò chơi tượng trưng; trò chơi với các qui luật Sự phát triển của trò chơi theo cách mà J Piagie chỉ ra được xem là cách phân loại phổ biến trong lĩnh vực giáo dục trẻ nhỏ Các giai đoạn phát triển trò chơi của trẻ nhỏ được S.Smilanski bổ sung và được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực nghiên cứu cũng như trong thực tiễn công tác giáo dục trẻ nhỏ ở nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam [19]

Vậy chơi là gì? Đó là hoạt động lý thú nhưng cũng rất phức tạp Có nhiều quan niệm khác nhau về hoạt động vui chơi của trẻ em lứa tuổi mầm non

G Spencer (1820-1903) - nhà triết học, nhà xã hội học và nhà sư phạm người Anh cho rằng, chơi chính là sự giải tỏa năng lượng dư thừa ở trẻ em giống như những con vật non Theo ông, những năng lượng dư thừa ở cơ thể con vật non không được sử dụng trong hoạt động thực nên đã được tiêu khiển qua việc

Trang 17

bắt chước các hành động thực đó bằng trò chơi Ở trẻ em, trò chơi là sự bắt chước của bản thân và của người lớn Spencer còn cho rằng, trong trò chơi những bản năng nghịch ngợm, phá phách của trẻ được đáp ứng qua hình thức tinh thần [19]

Học thuyết “sức dư thừa” của Spencer có những khía cạnh được thừa nhận nhưng rõ ràng là mâu thuẫn với thực tiễn Bởi vì tham gia vào trò chơi không chỉ

có những cháu khỏe mạnh mà còn có cả những cháu đang bị bệnh (sức khỏe yếu) Hơn thế nữa, chơi không chỉ có tiêu hao sức lực (dư thừa) mà còn có tác dụng khôi phục sức khỏe cho trẻ Chả thế mà nhiều bệnh viện nhi trên thế giới, trong các phòng điều trị, người ta bố trí đồ chơi, chỗ chơi cho trẻ em Thực ra,

sự dư thừa năng lượng trong cơ thể trẻ đang phát triển chỉ tạo điều kiện thuận lợi

để trẻ thực hiện trò chơi mà thôi, chứ không phải nguyên nhân tạo ra trò chơi S.Freud- bác sĩ người Áo (1856-1933) - người khởi xướng thuyết phân tâm học Theo Freud, trò chơi của trẻ em là hành vi bản năng tình dục Ông cho rằng, niềm say mê, mong ước, những biểu tượng bí ẩn của trẻ đều liên quan đến bản năng tình dục, nhưng chúng không được thể hiện trực tiếp trong cuộc sống của trẻ, nên chỉ biểu hiện trong trò chơi Như vậy, Freud đã gắn trò chơi trẻ em với

sự đam mê tình dục, ông xem việc trẻ chơi cốt là để thỏa mãn niềm đam mê ấy [19]

Quan điểm của Freud là nền tảng của thuyết “Trò chơi trị liệu” Arian

Sumo Seipt là một trong những đại diện cho thuyết đó Trong tác phẩm Niềm

hạnh phúc của con bạn, bà đã xem trò chơi là phương tiện để làm bình thường

hóa quan hệ của đứa trẻ với thực tế xung quanh, xua tan đi những nỗi bực tức, bướng bỉnh Trò chơi có thể giúp đứa trẻ loại bỏ khỏi nhân cách một loạt những điểm yếu như tính nhõng nhẻo, ích kỷ…Trong trò chơi, trẻ mô phỏng lại tình huống này hoặc tình huống kia và như thế sẽ dẫn đến kết quả điều trị tốt, làm lành lại những chấn thương, làm bình thường hóa những mối quan hệ của trẻ với người lớn Mặc dù lý thuyết “Trò chơi trị liệu” chưa thật đúng về phương pháp

Trang 18

luận, nhưng những sự kiện mà Arian Sumo Seipt đưa ra làm cho chúng ta phải quan tâm [19]

G Piagie- nhà tâm lý học Thụy Sĩ coi trò chơi là một trong những hoạt động trí tuệ, là một nhân tố quan trọng đối với sự phát triển trí tuệ của trẻ, tạo ra

sự thích nghi của trẻ với môi trường Theo ông, sự thích nghi thực chất là sự thiết lập mối cân bằng giữa cơ thể với môi trường Sự cân bằng này diễn ra trong quá trình đồng hóa và điều ứng Theo Piagie, cũng giống như đồng hóa sinh học, đồng hóa trí tuệ là quá trình não tiếp nhận thông tin từ các kích thích bên ngoài, biến đổi chúng, tạo thành cái có nghĩa cho bản thân trong quá trình thích ứng với môi trường Còn điều ứng là quá trình thích nghi của cơ thể đối với những đòi hỏi đa dạng của môi trường bằng cách biến đổi những cấu trúc đã có, tạo ra cấu trúc mới, dẫn đến sự cân bằng G.Piagie cho rằng, trò chơi là sự đồng hóa thực

sự với hoạt động riêng cung cấp cho hoạt động riêng nguyên liệu cần thiết và biến đổi thực tại tùy theo nhu cầu của cái tôi [19]

Các quan điểm trên đây dù có hạn chế, song cũng có những đóng góp nhất định: khẳng định vai trò của trò chơi đối với cuộc sống con người, nhất là trẻ

em Coi trò chơi là một hình thức tiêu hao năng lượng “dư thừa” (G.Spencer), giải tỏa những dồn nén đem lại cho con người những hứng khởi, bù đắp những thiếu hụt, khiếm khuyết (J.Freud), là nhân tố quan trọng đối với sự phát triển trí tuệ, tạo ra sự thích ứng với môi trường xung quanh (G.Piagie)…

Các nhà tâm lý học, giáo dục học macxit coi trò chơi như là một hoạt động đặc trưng của xã hội loài người Trò chơi của trẻ em không có nguồn gốc sinh học, mà có nguồn gốc xã hội, được di truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua con đường giáo dục Theo G.V.Plêkhanov, trò chơi là cầu nối các thế

hệ với nhau, là phương tiện chuyển tải thành tựu văn hóa từ đời này sang đời khác Tư tưởng của G.V.Plêkhanov được phát triển trong những công trình nghiên cứu của Đ B Enconhin Ông cho rằng, nhu cầu và sự ham hiểu biết về thế giới xung quanh chính là nguồn gốc, động lực giúp trẻ tích cực hoạt động

Trang 19

trong trò chơi Theo ông, trẻ có nhu cầu chơi vì chúng mong muốn hiểu biết thêm về thế giới xung quanh [19]

F.Freibel là một trong những người đầu tiên trên thế giới chủ trương đưa trò chơi vào nhà trường Ông đã từng khẳng định : “Nhiệm vụ giáo dục tiền học đường không phải là việc “dạy” với nghĩa thông thường của từ này mà ở việc tổ chức các trò chơi của trẻ” Ông đã soạn hệ thống trò chơi - nội dung sinh hoạt cơ bản của trẻ em trong nhà trường mà ông sáng lập ở nước Đức vào thế kỉ XIX [19]

Nhà giáo dục nổi tiếng Nga, Macarencô đã viết: “Trò chơi có một ý nghĩa rất quan trọng trong cuộc sống của đứa trẻ chẳng khác gì sự làm việc, sự phục

vụ của người lớn Đứa trẻ thể hiện như thế nào trong trò chơi thì sau này trong phần lớn trường hợp nó cũng thể hiện ra như thế trong công việc Vì vậy, một nhà hoạt động trong tương lai trước tiên phải được giáo dục trong trò chơi Vậy toàn bộ lịch sử của mỗi con người riêng biệt là một nhà hoạt động có thể quan niệm như một quá trình phát triển của vai chơi, mọi sự chuyển dịch dần từ sự tham gia vào các trò chơi sang thực hiện các công việc Cũng vì vậy mà Nguyễn Ánh Tuyết đã nói: “chơi là trường học của cuộc sống” [20]

Văn hào lỗi lạc Nga, Maxim Goócki đã từng nói “Chơi là con đường dẫn trẻ em đến chổ nhận thức được cái thế giới mà các em sống, cái thế giới mà các

em có sứ mệnh cải tạo” [19, tr.175]

Một số nghiên cứu về trò chơi của các nhà tâm lý học, giáo dục học phương Tây như Vallon, N Khrixtencer…cũng chỉ ra rằng, trò chơi của trẻ phản ánh cuộc sống, là hoạt động của chúng được quy định bởi những điều kiện xã hội Trẻ nhắc lại những ấn tượng đã trải nghiệm vào trò chơi một cách có chọn lọc Theo họ, trò chơi không phải là bất biến, nó phản ánh hiện thực xã hội luôn vận động và phát triển

A.V.Zaporozhets, G.G.Kravtsov, Leontiev, M.I.Lisina, Piaget, S Rubinstein, Elkonin đã nghiên cứu điều kiện quan trọng nhất cho sự phát triển

Trang 20

của cá nhân là các hoạt động của trẻ.Vui chơi là một hình thức của hoạt động có giá trị của trẻ ở độ tuổi mẫu giáo ( V.A.Petrovsky) Vui chơi được xem là các hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo, O.M.Dyachenko, E.E.Kravtsova cho rằng nếu trẻ em không được vui chơi thì sẽ kìm hãm sự phát triển giao tiếp với bạn

bè, kìm hãm sự thể hiện tình cảm của trẻ ( T.L Babaeva, V.V.Vetrova, M.I.Lisina, E.O Smirnova, L.M.Klarina…) Vì vậy sự phát triển của trẻ trong hoạt động vui chơi là đặc biệt quan trọng

Trong những năm gần đây, nhiều nhà nghiên cứu đang lo lắng về sự mất dần hoạt động vui chơi trong cuộc sống của trẻ em, đặc biệt là ở tuổi mầm non (L.V.Venger, N.E.T.Grinyavichene, A.V Zaporozhets, R.I.Zhukovskaya) Phân tích thực tiễn tổ chức hoạt động vui chơi đã chứng minh những mâu thuẫn sâu sắc giữa việc công nhận vai trò cuả trò chơi trong sự phát triển của đứa trẻ trong độ tuổi mẫu giáo và tính ưu việt đầu tư cho hoạt động vui chơi của trẻ mầm non Cốt truyện trò chơi sáng tạo được đưa ra trong thời gian ngắn, nội dung không phù hợp với đặc điểm của trẻ và nét đẹp văn hóa hiện đại

Khả năng phát triển của hoạt động sáng tạo, đạt kết quả cao nó được dựa trên việc thiết lập vị trí của đối tượng trong hoạt động vui chơi ( K.A.Abulhanova-Slavskaya, BG Ananiev, V.V.Gorshkova, M.S.Kagan, M.V.Kruleht, V I.Loginova, …)

Sự liên quan của công nghệ giáo dục, nhằm phát triển các vị trí cuả các đối tượng trẻ em những câu chuyện cuả trò chơi sáng tạo được quyết định bởi các yêu cầu của thời điểm đó Hướng dẫn trò chơi giáo dục mầm non mang đậm dấu

ấn của sách giáo khoa quá mức và tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ diễn ra đơn điệu, hình thức, lỗi thời và không thú vị trong môi trường chơi với những quy định chặt chẽ ( L.A.Venger, N.A.Korotkov, N.Ya.Mykhailenko)

Các tác giả của Nga đã nghiên cứu so sánh dữ liệu của trẻ mẫu giáo vào giữa thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI cho thấy tỉ lệ giảm đáng kể về giao tiếp cuả trẻ với nhau, giữa trẻ với người lớn trong hoạt động vui chơi và ngoài hoạt động

Trang 21

vui chơi Kết quả thu được cho thấy hoạt động vui chơi chưa tiệm cận được với vùng phát triển gần và là hoạt động chủ đạo trong giáo dục trẻ mẫu giáo

1.1.2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu ở Việt Nam

Nếu như trong thập kỷ 70 của thế kỷ XX các tác giả chủ yếu nghiên cứu về những đặc điểm tâm lý trẻ em, thì thập kỷ 80 trở lại đây vấn đề về hoạt động chơi được đặc biệt quan tâm Vào năm 1981 tác giả Nguyễn Thị Ngọc Chúc đã

đề cập đến các loại trò chơi, mức độ các mối quan hệ trong trò chơi Đó là: Chơi không có tổ chức, chơi một mình, chơi cạnh nhau, chơi với nhau trong một thời gian ngắn, chơi với nhau lâu trên cơ sở hứng thú với nội dung chơi Tác giả khẳng định kết quả của hai mức độ thuộc vào kỹ năng hướng dẫn trẻ chơi của mỗi giáo viên Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết (1994) đã phân tích rất cụ thễ bản chất xã hội của trò chơi, cấu trúc, đặc điểm hoạt động chơi của trẻ Tác giả chỉ ra rằng, khẳng định bản chất xã hội của trò chơi trẻ em cũng khẳng định sự tác động tích cực của người lớn lên trò chơi của trẻ, khẳng định việc sử dụng trò chơi như một phương tiện giáo dục quan trọng, trên cơ sở đó tác giả đã đề cập nhiều vấn đề là trung tâm trong việc giáo dục trẻ theo cách tiếp cận tích hợp - cách mà hiện nay đang được vận dụng tích cực trong thực tiễn giáo dục [22] Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết đã nghiên cứu về HĐVC của trẻ em và có nhận xét: HĐVC của trẻ em mang bản chất xã hội, nó phản ánh lao động, và cuộc sống của người lớn, coi trò chơi là sợi dây nối liền các thế hệ với nhau để truyền đạt kinh nghiệm và văn hóa từ đời này sang đời khác HĐVC có liên quan chặt chẽ đến sự phát triển xã hội, cũng như nghệ thuật, HĐVC xuất hiện sau lao động

và trên cơ sở của lao động, cùng với sự thay đổi vị trí chính trẻ em trong các mối quan hệ xã hội Vui chơi cần cho mọi người ở mọi lứa tuổi, đặc biệt đối với trẻ

em thì vui chơi là hoạt động tạo nên cuộc sống của chúng [20]

Người giáo viên phải biết lấy HĐVC là hoạt động trung tâm của đứa trẻ, giúp trẻ tổ chức hoạt động đời sống hàng ngày Hướng dẫn HĐVC cho trẻ phải quán triệt quan điểm khoa học giáo dục hiện đại về giáo dục mầm non từng

Trang 22

bước hoàn thiện những tư tưởng tiên tiến mà cốt lõi là giáo dục trẻ em phát triển

tự nhiên của đứa trẻ Việc lĩnh hội kinh nghiệm và kiến thức thực hiện thông qua nhiều con đường như tiếp xúc với xung quanh, theo các giờ dạy có hệ thống là điều kiện cần thiết để giúp trẻ biết cách chơi [12]

HĐVC có vị trí không thể thay thế trong đời sống trẻ nhỏ Khoảng thời gian từ 2 đến 6 tuổi là giai đoạn quý giá chứa đựng những cơ hội không lặp lại cho sự hình thành và phát triển của các trò chơi trẻ em Trẻ em là chủ thể tích cực của hoạt động chơi và người lớn với vai trò trợ giúp đảm bảo cho sự phát triển kịp thời, đa dạng của các loại trò chơi Chơi là cuộc sống của trẻ, tổ chức trò chơi chính là tổ chức cuộc sống của trẻ Thế giới cũng như ở Việt Nam, đã

có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu về HĐVC ở trường mầm non [22]

Tác giả Nguyễn Thị Thanh Hà đã xây dựng trên cơ sở lý luận về phương pháp tổ chức HĐVC của trẻ ở trường MN Dựa vào đó, CBQL và GVMN có cái nhìn bao quát, có thêm công cụ để thực hiện tốt hơn việc đánh giá công tác tổ chức HĐVC ở trường MN góp phần hiện thực hóa quan điểm hoạt động trong giáo dục, đảm bảo để vui chơi thực sự là “hoạt động chủ đạo của trẻ mầm non” [8]

Như vậy, vui chơi là hoạt động yêu thích của trẻ nhỏ có hình thức cụ thể là trò chơi Trò chơi trẻ em đa dạng về nội dung và cách thức chơi Trong đó có những trò chơi do trẻ tự chế, cũng có những trò chơi mà nội dung và cách chơi

đã được quy ước Hoạt động chơi của trẻ với những đặc trưng vốn có làm nên một phần không thể thiếu trong cuộc sống trẻ nhỏ

Một số luận văn, luận án của các nhà nghiên cứu gần đây cũng đề cập đến việc xây dựng và sử dụng các trò chơi dành cho trẻ mầm non nhằm phát huy

tính tích cực của trẻ Chẳng hạn: Trương Thị Xuân Huệ nghiên cứu việc xây

dựng và sử dụng trò chơi nhằm hình thành biểu tượng toán ban đầu cho trẻ 5 - 6 tuổi Tác giả đã nêu ra một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực học tập của

trẻ thông qua việc xây dựng và sử dụng các loại trò chơi Trần Thị Ngọc Trâm

Trang 23

đã nghiên cứu việc thiết kế và sử dụng trò chơi học tập nhằm phát triển khả

năng khái quát hóa của trẻ Mẫu giáo lớn, tác giả đã biên soạn hệ thống các

TCHT đi sâu vào mục đích phát triển tính khái quát hóa cho trẻ 5 – 6 tuổi Lê

Thị Diệu với đề tài Thực trạng và giải pháp quản lí hoạt động vui chơi cho trẻ

mẫu giáo lớn ở các trường mầm non trong TP Cà Mau…

Các công trình nghiên cứu nói trên đều quan tâm đến các trò chơi dành cho trẻ mầm non trên các lĩnh vực và địa bàn khác nhau Riêng tại thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang thì từ trước tới nay vẫn chưa có một tác giả nào nghiên cứu về thực trạng tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi Chính vì thế chúng tôi muốn nghiên cứu nội dung này nhằm giúp GV tổ chức có hiệu quả hoạt động vui chơi cho trẻ ở trường mầm non

1.2 Một số khái niệm liên quan

1.2.1 Hoạt động vui chơi

A.N Lêônchiép nói rằng chơi là hoạt động rất tự nhiên trong cuộc sống của mọi người, nó đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của trẻ em Đó là một thực tế mang tính quy luật Thuật ngữ chơi có rất nhiều nghĩa khác nhau, nhưng trong phạm trù hoạt động của trẻ em thì chơi được coi là một hoạt động mà động

cơ nằm trong quá trình chứ không nằm trong kết quả hoạt động, khi chơi đứa trẻ không chủ tâm vào một lợi ích thiết thực nào cả, trong trò chơi các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và với xã hội được mô phỏng lại Chơi mang lại cho trẻ em một trạng thái tinh thần vui vẻ, phấn chấn dễ chịu [19]

Trong các thời điểm sinh hoạt khác ngoài giờ chơi thì các trò chơi chủ yếu đóng vai trò thực hiện các nhiệm vụ giáo dục Trong HĐVC trẻ được tạo mọi điều kiện để tự do hoạt động theo ý thích của mình Trẻ được tự do quyết định là

có hay không tham gia vào trò chơi, và khi tham gia chơi trẻ cũng được tự do thực hiện các hành động chơi, qui ước cách chơi, sáng tạo trong trò chơi Trẻ tự

do, tự quyết định việc chơi là nét nổi bật phân biệt giờ chơi với các thời điểm sinh hoạt khác trong ngày của trẻ Để nhấn mạnh tính chất tự do hoạt động của

Trang 24

trẻ trong giờ chơi, tác giả Nguyễn Thị Thanh Hà cho rằng giờ chơi tự do là khoảng thời gian dành cho việc tự do chơi của trẻ [9]

Tùy vào điều kiện cụ thể của trường, để thỏa mãn nhu cầu vui chơi của trẻ, giờ chơi được tổ chức cả ở tronglớp và ngoài trời, có thể sử dụng những khoảng không gian nhất định ngoài phạm vi lớp học để tổ chức cho trẻ chơi Trong phạm vi nghiên cứu đề tài, chúng tôi tìm hiểu về HĐVC trong lớp

HĐVC trong lớp của trẻ MG 5 - 6 tuổi được tổ chức sau thời gian học chính trên lớp và được thực hiện ở các góc lớp: Góc học tập, góc xây dựng, góc phân vai, sân trường Tổ chức góc hoạt động nhằm tạo điều kiện cho trẻ được chơi theo ý thích [2]

HĐVC là lúc trẻ tái tạo lại những gì đã được cô dạy trẻ trong giờ học hoặc những kiến thức chưa chuyển tải hết trong giờ học chung Nó nhằm tạo cho trẻ

sự ghi nhớ vững bền hơn cùng tư duy trừu tượng phát triển, kèm theo là tư duy logic, tư duy ngôn ngữ cũng phát triển… Như vậy, rõ ràng HĐVC được phát triển và mở rộng dần theo sự phong phú và mở rộng các mối quan hệ qua lại của trẻ với môi trường xung quanh

Thời gian giành cho HĐVC ở trường Mầm non được xác định cụ thể: “Ở

lớp MG lớn: Buổi sáng 40-50 phút Chơi, hoạt động ở các góc và 30 - 40 phút

Chơi ngoài trời” [2]

Khi tổ chức cho trẻ chơi tự do, giáo viên đưa các trò chơi phù hợp với chủ

đề giúp trẻ phát huy vốn sống tích cực thông qua các trò chơi.Tuy nhiên, để giờ chơi của trẻ thật sự là HĐVC thì giáo viên phải thận trọng trong quá trình lồng ghép giữa HĐVC với nội dung hoạt động Giáo viên nên tận dụng thời điểm tổ chức HĐVC để thỏa mãn nhu cầu tự do chơi và phát triển các năng lực cá nhân cho từng trẻ trong lớp

Tác giả Đinh Văn Vang có nhận xét HĐVC của trẻ em, đặc biệt là HĐVC của trẻ MG có những đặc điểm cơ bản như: Hoạt động vui chơi mang tính hồn nhiên, vô tư; hoạt động vui chơi của trẻ em là hoạt động không mang tính bắt

Trang 25

buộc mà mang tính tự do, tự nguyện, tự lập Trò chơi của trẻ mang tính tự do, tự lập cao bởi vì trò chơi hấp dẫn trẻ, trẻ tự tạo ra nó, làm chủ được nó; hoạt động vui chơi là hoạt động mang màu sắc xúc cảm chân thực mạnh mẽ Đứa trẻ lao vào cuộc chơi với tất cả sự say mê và lòng nhiệt tình vốn có của nó; hoạt động vui chơi của trẻ là hoạt động mô phỏng lại cuộc sống của con người, mô phỏng lại những mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và xã hội, do đó hoạt động này mang tính chất tượng trưng; hoạt động vui chơi của trẻ em là hoạt động mang tính sáng tạo Như đã trình bày trên đây, hoạt động vui chơi của trẻ mang tính tự do, tự lập, không phụ thuộc nghiêm ngặt vào thế giới hiện thực, điều đó

đã nói nên tính sáng tạo trong hoạt động vui chơi của trẻ Tính sáng tạo trong hoạt động vui chơi của trẻ thể hiện rất đa dạng : Trong việc lực chọn trò chơi, đồ chơi, nội dung chơi, hoàn cảnh chơi, cách chơi…Dù là mô phỏng, bắt chước cuộc sống, hoạt động nghề nghiệp của người lớn, song trẻ không bắt chước một cách nguyên si mà trẻ hành động, tỏ thái độ…theo hứng thú, ý muốn và cảm nhận của mình [23]

Trong phạm vi đề tài, chúng tôi xác định nội hàm của khái niệm HĐVC là một loại hình hoạt động của trẻ ở trường mầm non, là thời điểm trẻ có thể được

tự chơi và hoạt động tích cực theo nhu cầu và hứng thú của cá nhân hoặc của nhóm nhỏ với những trẻ cùng sở thích; HĐVC được người lớn tổ chức, hướng dẫn nhằm giúp trẻ thỏa mãn các nhu cầu vui chơi và nhận thức, đồng thời giáo dục và phát triển toàn diện cho trẻ

1.2.2 Tổ chức hoạt động vui chơi

Tổ chức HĐVC của trẻ ở trường MN là hệ thống tác động sư phạm do GVMN thực hiện nhằm đảm bảo để trẻ được chơi các loại trò chơi đa dạng với

sự phát triển một cách kịp thời khả năng chơi của trẻ trong mỗi loại trò chơi đó Chất lượng, hiệu quả công tác tổ chức HĐVC của trường MN thể hiện trước hết

ở sự đa dạng, mức độ phát triển các loại trò chơi mà trẻ chơi

Trang 26

Tổ chức HĐVC của trẻ ở trường MN phụ thuộc vào những điều kiện nhất định Trong đó, năng lực vận dụng phương pháp tổ chức HĐVC của GVMN giữ

vị trí quan trọng, tiếp đó là những điều kiện về thời gian (đảm bảo thời gian cho trẻ chơi trong chế độ sinh hoạt hàng ngày), về không gian (đảm bảo nơi chơi cho trẻ trong lớp và ngoài trời), về đồ chơi dành cho trẻ và phương tiện trợ giúp cho giáo viên…[8]

Tổ chức để cả nhóm trẻ được hào hứng, tự do chơi những trò chơi yêu thích, làm những việc muốn làm là yêu cầu không dễ dàng đối với mọi GVMN Trong mỗi giờ chơi, họ cần giải quyết các nhiệm vụ không chỉ liên quan đến các trò chơi của trẻ trong ngày mà còn phải thúc đẩy sự phát triển hoạt động chơi của trẻ nói chung [23]

Như vậy, tổ chức HĐVC của trẻ ở trường MN là hệ thống tác động sư phạm do GVMN thực hiện nhằm đảm bảo để trẻ được chơi các loại trò chơi đa dạng với sự phát triển một cách kịp thời khả năng chơi của trẻ trong mỗi loại trò chơi đó Chất lượng, hiệu quả công tác tổ chức HĐVC của trường MN thể hiện trước hết ở sự đa dạng, mức độ phát triển các loại trò chơi mà trẻ chơi

1.3 Ý nghĩa HĐVC đối với sự phát triển của trẻ

1.3.1 Chơi là phương tiện giáo dục toàn diện cho trẻ em

Chơi là hoạt động đặc trưng của trẻ em lứa tuổi mầm non Mỗi lứa tuổi, nội dung chơi, tính chất chơi khác nhau Thoạt đầu, chơi chỉ mang tính ngẫu nhiên, tình cờ, dần dần mang tính chủ tâm hơn, đến tuổi mẫu giáo, chơi trở thành hoạt động chủ đạo, ảnh hưởng mạnh đến sự phát triển mọi mặt trong đời sống tâm lý nhân cách của trẻ Chính vì lẽ đó, các nhà giáo dục sử dụng trò chơi như là phương tiện để giáo dục toàn diện cho trẻ [23]

1.3.1.1 Chơi là phương tiện giáo dục phát triển trí tuệ cho trẻ em

Chơi là phương tiện mở rộng, Củng cố chính xác hóa những biểu tượng của trẻ về cuộc sống xung quanh

Trang 27

Chơi là phương tiện giúp trẻ lĩnh hội tri thức mới Trong một số trường hợp, khi tham gia trò chơi, dưới sự hướng dẫn của ngưới lớn trẻ khám phá ra nhiều điều mới lạ, thú vị ở thế giới xung quanh Trong quá trình thực hiện các hành động chơi, thao tác chơi, trẻ nhận được ra vài thuộc tính, mối quan hệ nào

đó của sự vật hiện tượng Ví dụ trẻ hình dung ra thế nào là cao hơn, thấp hơn, to hơn, nhỏ hơn… Chính nhờ phát hiện ra những tri thức mới đó đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến tích cực nhận thức của trẻ, thôi thúc trẻ tham gia một cách chủ động, sáng tạo trong khi chơi

Trò chơi là phương tiện phát triển các quá trình tâm lý nhận thức của trẻ Chơi không chỉ là phương tiện củng cố, mở rộng, chính xác hóa biểu tượng đã

có, cung cấp những tri thức mới cho trẻ mà còn là phương tiện phát triển các quá trình tâm lý nhận thức cho trẻ, như: cảm giác, tri giác, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng và ngôn ngữ

Khi tham gia vào trò chơi, các chuẩn cảm giác về hình dạng, kích thước, màu sắc của trẻ được củng cố và chính xác hóa, nhờ đó trẻ dễ dàng thực hiện hành động chơi, nội dung chơi (xây được công viên hợp lý, phân loại đồ vật theo màu sắc…)

Khi tham gia vào trò chơi, trí tưởng tượng của trẻ được phát triển mạnh mẽ Trong quá trình chơi, đứa trẻ học thay thế đồ vật này bằng đồ vật khác; nhận đóng vai nọ, vai kia, nảy sinh hoàn cảnh tưởng tượng…để thực hiện hành động chơi, nội dung chơi Dó là cơ sở quan trọng để nảy sinh và phát triển trí tưởng tượng của trẻ Thật vậy, trong khi chơi (đặc biệt là trò chơi đóng vai theo chủ đề) trẻ có thể làm bất cứ việc gì (nào là uốn tóc, lái xe, chữa bệnh…); có bất cứ cái gì mình muốn (muốn có xe ô tô hay xe lửa thì lấy ghế, hai tay nắm vai nhau

là có liền…); trẻ hình dung sàn nhà lớp học khi thì là con đường làng về quê, khi

là đường ray xe lửa…Khi tham gia vào trò chơi trẻ suy nghĩ về hành động chơi, thao tác chơi (làm bác sĩ thì phải làm gì? Làm thế nào? ); sử dụng vật thay thế như thế nào? Trẻ học được cách giải quyết nhiệm vụ, tìm kiếm phương tiện

Trang 28

thích hợp nhất để thực hiện dự định đã đề ra Qua đó tư duy của trẻ được phát triển mạnh mẽ

Vui chơi còn là phương tiện phát triển ngôn ngữ cho trẻ Trước hết khi tham gia trò chơi, trẻ sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp với bạn, trao đổi suy nghĩ của mình với các bạn và nghe ý kiến của các bạn để đi đến thỏa thuận trong khi chơi…, sử dụng ngôn ngữ để suy nghĩ về thao tác, hành động chơi, giao lưu với trẻ khác trong nhóm và các nhóm chơi khác ; đánh giá lẫn nhau…qua đó ngôn ngữ của trẻ được phát triển (vốn từ được phong phú, kĩ năng giao tiếp được phát triển ) [23]

1.3.1.2 Chơi là phương tiện giáo dục đạo đức cho trẻ em

Trò chơi đặc biệt là trò chơi đóng vai theo chủ đề ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhận thức, thái độ và hành vi đạo đức của trẻ Khi tham gia vào trò chơi, đứa trẻ trải nghiệm được những thái độ, tình cảm đạo đức và tập được hành vi ứng xử với người xung quanh bằng cách nhập vai của mình, qua đó trẻ học làm người Những tri thức về biểu tượng hành vi đạo đức được lĩnh hội trong các mối quan hệ chơi ấy dần dần được trẻ vận dụng vào trong các mối quan hệ thực của đời sống: biết ân cần yêu thương giúp đỡ em nhỏ, biết lịch sự với ngưới lớn, biết quan tâm chăm sóc người thân, biết vâng lời cô, ông bà cha mẹ…[23]

1.3.1.3 Chơi là phương tiện giáo dục thể chất cho trẻ em

Chơi mang lại niềm vui cho trẻ, làm cho tinh thần của trẻ được sảng khoái - một yếu tố quan trọng để phát triển thể chất cho trẻ, vì tinh thần sảng khoái, thỏa mãn sẽ làm cho thể lực được phát triển tốt hơn Khi tham gia vào trò chơi, các

cơ quan trong cơ thể được vận động một cách tích cực, thúc đẩy sự trao đổi chất, tăng cường hô hấp và tuần hoàn máu….góp phần tăng cường sức khỏe cho trẻ Những trò chơi phù hợp với sự phát triển của lứa tuổi sẽ góp phần phát triển và hoàn thiện các vận động cơ bản như : đi, chạy, nhảy, leo trèo, ném, bắt

và góp phần rèn luyện tố chất thể lực như: sức nhanh, sức mạnh, sức bền và sự khéo léo [23]

Trang 29

1.3.1.4 Chơi là phương tiện giáo dục thẩm mỹ cho trẻ

Chơi là hoạt động phản ánh cuộc sống của xã hội Khi tham gia trò chơi, trẻ cảm nhận được cái đẹp ở sự phong phú, đa dạng về màu sắc, hình dạng, kích thước, âm thanh của đồ vật, đồ chơi Vấn đề đặt ra là, khi tổ chức các hoạt động giáo dục nói chung, tổ chức HĐVC cho trẻ, cô giáo cần tạo ra môi trường tiện lợi thuận để hấp dẫn, lôi cuốn trẻ tích cực tham gia hoạt động Trong đó yếu tố thẩm mỹ cần được đặc biệt quan tâm, từ việc trang trí lớp học, lựa chọn đồ chơi, đến cách cư xử trong quan hệ chơi cũng như quan hệ thực (quan hệ giữa cô và trẻ, quan hệ giữa trẻ với trẻ…) Cần làm sao cho đẹp để gợi nên ở trẻ những cảm xúc thẩm mỹ lành mạnh

Trò chơi không chỉ giúp trẻ nhận được cái đẹp của đồ dùng, đồ chơi, của hành động chơi, của các hành vi giao tiếp giữa người với người, giữa con người với hiện thực mà còn hình thành ở trẻ nhu cầu sống theo cái đẹp, bảo vệ cái đẹp

và làm ra cái đẹp Điều này thể hiện rõ nhất trong trò chơi lắp ghép xây dựng và trong trò chơi đóng vai theo chủ đề [23]

1.3.1.5 Chơi là phương tiện giáo dục lao động cho trẻ em

Khi tham gia chơi, trẻ tái tạo lại những hành động lao động và những mối quan hệ giữa những người lớn với nhau, qua đó mà thu nhận được những biểu tượng về lao động, về ý nghĩa xã hội và tính hợp tác của nó

Cũng như trong quá trình chơi, dưới sự hướng dẫn của cô giáo, trẻ được giáo dục một số phẩm chất đạo đức cần thiết cho người lao động tương lai; tính mục đích, tính sáng tạo, lòng yêu lao động và thích lao động…

Như vậy có thể nói, chơi là phương tiện giáo dục toàn diện cho trẻ Nhà giáo dục cần khai thác thế mạnh của HĐVC trong quá trình chăm sóc giáo dục trẻ Tổ chức cho trẻ chơi là mang lại hạnh phúc cho tuổi thơ, tạo điều kiện cho trẻ phát triển một cách tự nhiên nhất [23]

1.3.2 Chơi là hình thức tổ chức đời sống cho trẻ ở trường mầm non

Không thể hình dung nổi bầu không khí tâm lý ở trường MN sẽ nặng nề thế

Trang 30

nào khi trẻ không được chơi Hạnh phúc trẻ thơ bị tước đoạt, tâm hồn trẻ thơ dần trở nên khô cứng Như đã trình bày trên đây, chơi là cuộc sống trẻ thơ, tổ chức cho trẻ chơi chính là tổ chức cuộc sống cho trẻ Tại sao như vậy?

Trước hết có thể giải thích rằng, chơi là hoạt động đặc trưng của trẻ, nó có mặt trong các hoạt động khác của trẻ, như hoạt động học tập, hoạt động lao động, trong giao tiếp và trong sinh hoạt hàng ngày của trẻ Do vậy, việc tổ chức cho trẻ chơi vừa là nhiệm vụ, vừa là con đường giáo dục hiệu quả cho trẻ em Chơi là phương thức thỏa mãn nhu cầu được sống và được làm việc như người lớn Nhóm trẻ cùng chơi là một trong những cơ sở xã hội đầu tiên của trẻ

Do đó, người lớn cần tổ chức tốt các hoạt động của “xã hội trẻ em”, tạo ra môi trường lành mạnh, có tác dụng giáo dục mạnh mẽ đối với trẻ Muốn vậy, người lớn phải chú ý tổ chức cho trẻ được chơi thoải mái, tạo môi trường, tình huống cho trẻ phối hợp - liên kết với nhau trong các nhóm chơi và làm cho hoạt động chơi của trẻ thực sự là một hình thức tổ chức đời sống của trẻ ở trường MN [23]

1.3.3 Mối quan hệ qua lại giữa chơi và lao động, chơi và học tập, chơi và hoạt động nghệ thuật của trẻ

1.3.3.1 Mối quan hệ giữa chơi và lao động

Trong chơi và trong lao động đều có sự cố gắng về thể lực và trí tuệ Nhưng giữa chúng có sự khác biệt căn bản là, lao động tạo ra sản phẩm, đó là những giá trị vật chất và văn hóa nhưng nó có mối quan hệ gián tiếp đến quá trình tạo ra sản phẩm ấy Chơi và lao động ở lứa tuổi mẫu giáo có mối quan hệ khăng khít với nhau, chi phối lẫn nhau, bổ sung cho nhau Thông qua chơi, trẻ học được một số kĩ năng lao động cần thiết Thực tế cho hay rằng, hoạt động lao động của trẻ tổ chức một cách nhẹ nhàng như là chơi vậy hoặc đưa yếu tố chơi vào trong hoạt động lao động thì trẻ lao động sôi nổi, hiệu quả hơn Mặt khác những kĩ năng trẻ được luyện tập trong lao động được chuyển vào trò chơi, làm cho hành động chơi mang tính chất thật hơn: dưới sự hướng dẫn của người lớn, trẻ tạo ra đồ chơi từ những nguyên vật liệu khác nhau, phục vụ cho trò chơi của

Trang 31

mình thêm hấp dẫn phong phú Như vậy, trong khi chơi, trẻ lĩnh hội được những

kĩ năng lao động đơn giản và khi lao động của trẻ được tổ chức dưới hình thức chơi giúp cho trẻ lao động tích cực hơn [23]

1.3.3.2 Mối quan hệ qua lại giữa chơi và học tập

Cùng với lao động, HĐVC và hoạt động học tập của trẻ có mối quan hệ khắng khít, chi phối lẫn nhau, bổ sung cho nhau Thông qua chơi mà trẻ học, tiếp nhận nền văn hóa xã hội, biến kinh nghiệm xã hội lịch sử thành kinh nghiệm của bản thân Những tri thức, kĩ năng mà trẻ lĩnh hội được qua trò chơi diễn ra một cách tự nhiên: chơi mà học Mặc khác, hoạt động học tập của trẻ được nảy sinh và phát triển trong lòng HĐVC, do vậy nó mang màu sắc chơi rõ rệt: học trong niềm vui được tham gia vào trò chơi: học mà vui, vui mới học [23]

1.3.3.3 Mối quan hệ giữa chơi và hoạt động nghệ thuật

Chơi và hoạt động nghệ thuật của trẻ rất gần gũi với nhau Ngôn ngữ, kĩ năng hoạt động nghệ thuật được trẻ đưa vào trong trò chơi, giúp trẻ dễ dàng thực hiện được nội dung chơi, hành động chơi Mặt khác, hoạt động nghệ thuật của trẻ cũng diễn ra nhẹ nhàng như là chơi vậy: Trẻ vừa đọc thơ, kể chuyện vừa mô phỏng hành vi, việc làm nhân vật theo nội dung thơ truyện; trẻ đóng kịch cho vui chứ đâu phải diễn viên chuyên nghiệp Thực tế chỉ ra rằng, việc dạy trẻ các

kĩ năng xây dựng tạo điều kiện cho trẻ phát triển các trò chơi của mình

Tóm lại, chơi có mối quan hệ chặt chẽ với học tập, lao động và tạo hình Chính các mối quan hệ này đã cuốn hút trẻ và tạo điều kiện cho sự phát triển chung của trẻ mẫu giáo [23]

1.4 Những đặc trƣng của hoạt động chơi

1.4.1 Động cơ thỏa mãn trong quá trình chơi

Việc chơi là sự thỏa mãn nhu cầu của chính trẻ Với trẻ, điều quan trọng nhất là được chơi, được thể hiện mình, chứ không phải là những gì trò chơi hứa hẹn Với trẻ thắng thua không quan trọng bằng việc chơi Đây là đặc điểm cơ bản để phân biệt chơi với các hoạt động khác như: học tập, lao động

Trang 32

1.4.2 Tính tƣợng trƣng, ký hiệu

Bản thân đồ chơi là những vật tượng trưng, kí hiệu cho vật khác có trong thực tế khung cảnh nơi diễn ra trò chơi cũng được biến thành không gian tùy vào diễn biến của trò chơi Hành động chơi của trẻ cũng đậm màu giả định: chữa bệnh, xây cầu… trẻ đóng vai mọi người với các ngành nghề khác nhau, giả vờ làm các con vật… việc mô phỏng hoạt động cuả người và vật, bản thân của trẻ khi chơi cũng là sự tượng trưng cho những người và vật ấy [7]

1.4.3 Tính tự do

Việc chơi không nhằm tạo ra bất cứ một giá trị thực tiễn nào, người chơi không bị ràng buột bởi những đòi hỏi từ người ngoài Trẻ đến với các trò chơi

do những thôi thúc từ chính mình - trẻ chơi vì thích được chơi Trò chơi của trẻ

sẽ kết thúc nếu trẻ không còn hứng thú nữa Khi chơi trẻ tự do: lựa chọn trò chơi, quyết định tham gia hay không tham gia, liên kết chơi cùng nhau hay chơi một mình, triển khai nội dung của trò chơi theo cách của mình, thực hiện hành động chơi theo kiểu mà mình thích…[7]

1.4.4 Tích cực, giàu cảm xúc chân thật

Tính tích cực là sự bộc lộ các nhu cầu của cơ thể đang lớn, ở trẻ nhỏ tính tích cực thể hiện rất rõ qua việc trẻ thể hiện trong khi chơi Luôn sôi nổi, hào hứng, tích cực, “bận rộn” là những biểu hiện thường xuyên của trẻ trong khi chơi Trẻ thể hiện mình trong khi chơi một cách chân thực, tự nhiên mà không

gò ép, giả tạo, trẻ vui sướng, la hét với diễn biến cuả trò chơi Tính tích cực, chân thật và mang đậm màu sắc cảm xúc là những biểu hiện thường xuyên khi trẻ chơi [7]

Trang 33

chơi cùng thỏa thuận [7]

1.4.7 Khi chơi trẻ bộc lộ cái riêng của mình

Mỗi đứa trẻ bộc lộ mình tự nhiên, đầy đủ nhất trong khi chơi: những hứng thú, say mê, yêu thích hay e sợ? những hiểu biết và cả những điều chưa biết… khả năng vận động, ngôn ngữ, tư duy và bày tỏ cảm xúc… cách mà trẻ ứng xử trong những tình huống nhất định, qua đó cho thấy đặc điểm khí chất, tính cách cuả trẻ và cả hoàn cảnh gia đình của trẻ Không ít trường hợp một đứa trẻ vốn tring bình trên các giờ học song lại là thủ lĩnh với nhiều “phát kiến” trong khi chơi [7]

1.5 Quy trình tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ ở trường Mầm non

1.5.1 Xây dựng kế hoạch tổ chức HĐVC cho trẻ

Có nhiều cách xây dựng kế hoạch tổ chức HĐVC cho trẻ ở trường MN:

- Xây dựng kế hoạch tổ chức HĐVC theo năm học, theo tháng, theo tuần, theo ngày

- Xây dựng kế hoạch tổ chức HĐVC theo chủ đề giáo dục, theo tuần, theo ngày phù hợp với chủ đề giáo dục

Việc lập kế hoạch là khâu không thể thiếu của công tác tổ chức cho trẻ chơi các TCHT trong GCTD; nó có vai trò định hướng trong hoạt động của cô và trẻ trong trò chơi nhằm phát huy tính độc lập, chủ động tích cực của trẻ, đảm bảo hệ thống trò chơi của trẻ có tính liên tục, phát huy được tính chủ động của cô và trẻ trong trò chơi

Trang 34

Hàng tháng, giáo viên cần có kế hoạch trong đó ghi rõ những trò chơi cần tiến hành trong tháng Ví dụ: Tùy theo các nội dung của bài học mà xác định các

TC cần phổ biến chung cho cả lớp Ở các buổi chơi khác nhau, cô giáo có thể xác định những trò chơi nhằm củng cố kiến thức cho những trẻ chưa nắm vững, những trò chơi cụ thể cần rèn luyện đối với từng trẻ [ 9]

1.5.2 Sắp xếp các góc chơi trong lớp một cách khoa học

Thông thường có 6 loại góc chơi như sau: Góc đóng vai; góc xây dựng, lắp ghép; góc học tập; góc tạo hình; góc âm nhạc; góc thiên nhiên và góc khám phá khoa học

Tại góc học tập, trẻ thường chơi các trò chơi hoặc tham gia các hoạt động

để củng cố kiến thức và các kỹ năng thuộc các lĩnh vực làm quen với môi trường xung quanh, hình thành biểu tượng toán, làm quen tác phẩm văn học và đọc viết Nội dung hoạt động ở các góc không cố định, có thể thay đổi theo ý tưởng chơi của trẻ, theo mục đích giáo dục của giáo viên, theo sự thay đổi của các chủ đề giáo dục

Số lượng các góc chơi trong mỗi giờ hoạt động góc tùy thuộc vào không gian phòng lớp, số lượng trẻ có mặt, nhu cầu, ý tưởng chơi và vốn kinh nghiệm của trẻ cũng như sự chuẩn bị đồ dùng, đồ chơi của cô.“Môi trường hoạt động góc (ở đây muốn nhấn mạnh đến môi trường vật chất) được hiểu là những điều kiện cần thiết, đảm bảo cho trẻ hoạt động ở các góc mà trẻ chọn.” [9, tr 123] Nguyên tắc xây dựng các góc hoạt động: “Phù hợp với mục tiêu và yêu cầu giáo dục theo chủ điểm Vị trí góc chơi TCHT phải hợp lý, thuận tiện cho trẻ hoạt động Góc chơi TCHT cần không gian yên tĩnh xa góc hoạt động ồn ào (góc xây dựng, góc đóng vai, góc âm nhạc) Có chỗ cho hoạt động chung và chỗ cho hoạt động cá nhân Các góc nên có khoảng rộng, cách nhau hợp lý để đảm bảo an toàn và vận động của trẻ.Tạo ranh giới giữa các góc chơi (sử dụng giá, tủ nhỏ - thấp, rèm, bìa, ) để giúp trẻ nhận dạng được phạm vi góc từ đâu đến đâu Ranh giới góc không che tầm nhìn của trẻ và không cản trở việc quan sát trẻ của

Trang 35

giáo viên.Thay đổi vị trí hoặc bố trí, sắp xếp lại một số góc chơi sau mỗi chủ điểm để tạo cảm giác mới lạ, kích thích hứng thú của trẻ [25, tr 51]

1.5.3 Chuẩn bị đầy đủ phương tiện - đồ dùng - đồ chơi

Bố trí địa điểm chơi (không gian chơi), đồ dùng, đồ chơi, vật liệu chơi và một số phương tiện kỹ thuật (nếu có) để trẻ thực hiện trò chơi Tốt nhất là sắp xếp, bố trí các phương tiện để chơi trong trạng thái mở để kích thích ý tưởng chơi và tạo cho trẻ có hứng thú với trò chơi

Xây dựng các góc hoạt động trong lớp: “Góc hoạt động là khoảng không gian nơi trẻ có thể được tự chơi và hoạt động tích cực theo nhu cầu và hứng thú của cá nhân hoặc của nhóm nhỏ với những trẻ cùng sở thích” [9, tr 122]

“Chơi và hoạt động ở các góc được hiểu là hình thức tổ chức cho trẻ chơi và hoạt động ở các góc, trong đó mỗi góc có các nội dung chơi và hoạt động khác nhau, tên góc do cô hoặc trẻ đặt, phản ánh nội dung các trò chơi, các hoạt động được chuẩn bị trong các góc” [9, tr 122-123]

Ngoài môi trường vật chất, bầu không khí cởi mở, thân thiện, ấm cúng giữa

cô với trẻ và giữa trẻ với nhau trong suốt thời gian trẻ hoạt động ở các góc có ý nghĩa hết sức quan trọng để kích thích trẻ hoạt động hứng thú, tích cực Cô giáo luôn tạo cơ hội cho trẻ được chia sẻ, đề đạt nhu cầu, nguyện vọng cũng như nhận được sự giúp đỡ của cô khi cần thiết trong quá trình trẻ chơi Tránh sự áp đặt trẻ hoặc chơi hộ, làm thay cho trẻ mà nên là người tạo điều kiện, người giám sát, người cổ vũ trẻ chơi tích cực.Cô cũng cần tập cho trẻ có thói quen quan tâm lẫn nhau như biết sở thích của bạn, biết những mặt mạnh, mặt yếu của bạn, thói quen giúp đỡ nhau, biết hợp tác với nhau trong hoạt động và tuân thủ các quy định chung của nhóm chơi

Với môi trường đồ chơi, đồ dùng phong phú, phản ánh nội dung chơi ở các góc (đặc biệt là chủ đề giáo dục) một mặt góp phần thỏa mãn nhu cầu chơi, mặt khác giúp trẻ củng cố các biểu tượng về môi trường xung quanh, phát triển các năng lực hoạt động trí tuệ của trẻ Môi trường giáo dục ở các góc cũng tạo điều

Trang 36

kiện để thực hiện việc học tập tích hợp của trẻ Ví dụ, ở góc "Bé làm quen với đọc viết" (hay là góc thư viện/sách truyện) cô thiết kế môi trường cho trẻ thực hiện bài tập - trò chơi "Tìm và cắt các chữ cái đã học từ sách, báo, tập chí và dán" Cô chuẩn bị một tờ giấy trắng một mặt, ở giữa có chữ "m" nhiệm vụ của trẻ là "đọc, tìm, cắt, dán các chữ có chứa chữ "m" vào tờ giấy" (cũng có thể là tờ giấy to dán ở trên tường và các trẻ sẽ tìm, cắt, dán lên tranh mảng tường đó trong 2-3 ngày đến khi tờ giấy đã được dán kín) Như vậy, trong hoạt động này trẻ học được các kỹ năng đọc sách khi tìm chữ, qua đó củng cố biểu tượng về chữ "m", phát triển vận động tinh và kỹ năng cắt, dán và nếu trẻ hoạt động theo nhóm thì trẻ còn học được cách chia sẻ, hợp tác với nhau

Với góc chơi các TCHT có thể bố trí, sắp xếp đồ dùng, đồ chơi học tập và vật liệu chơi đa dạng, sinh động nhưng không bày quá nhiều để gây cảm giác hỗn độn và làm trẻ dễ phân tán sự chú ý khi chơi Đặc biệt lưu ý đến việc thay đổi, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu của nội dung chơi và sẽ cất bớt đi nếu nhận thấy thừa với các hoạt động chơi của trẻ

Để các góc chơi TCHT thật sự có hiệu quả, giúp trẻ tự khám phá và phát triển; giúp giáo viên gợi ý, hướng dẫn trẻ chơi theo khả năng của từng cháu thì cần đảm bảo một số nguyên tắc nhất định

Nguyên tắc đồ dùng, đồ chơi phù hợp với mức phát triển của trẻ, thích hợp với điều kiện, đặc điểm địa phương và thường xuyên luân chuyển giữa các góc

để gây hứng thú cho trẻ đồng thời sử dụng cho nhiều hoạt động khác nhau Đồ dùng, đồ chơi, nguyên vật liệu trong góc chơi TCHT được trình bày sao cho trẻ

dễ thấy, dễ lấy, dễ lựa chọn; những thiết bị, đồ chơi nặng đặt ngay trên mặt sàn; những đồ chơi gồm nhiều bộ phận cần để theo bộ với nhau Trang trí trong các góc cần linh hoạt, hấp dẫn và thay đổi theo nội dung chủ điểm Không nên trang trí che khuất các cửa sổ để lấy ánh sáng tự nhiên Cần có bảng biểu, tranh ảnh minh họa cụ thể cho trẻ dễ hiểu Các mảng tường nên sơn màu sáng, ấm áp dễ chịu (nên dùng màu vẽ trung tính: Màu be, xanh nhạt, màu vàng nhạt…)

Trang 37

1.5.4 GV gợi ý và hướng dẫn cho trẻ chơi khi cần thiết, khuyến khích môi trường giao tiếp phong phú cho trẻ

Khi tổ chức hướng dẫn HĐVC, giáo viên cần nghiên cứu thực hiện các khâu sau:

- Tạo tâm thế tích cực, gây hứng thú cho trẻ đến với các TC bằng các câu

đố, bài hát, tình huống có vấn đề…

- Sau đó dùng lời kết hợp với sự chỉ dẫn phổ biến nội dung chơi (Nếu là trò chơi mới), luật chơi và cách tiến hành chơi một cách rõ ràng Khi trẻ chơi giáo viên gợi ý cách giải quyết nhiệm vụ, động viên, khuyến khích những trẻ rụt rè, thường xuyên khích lệ những trẻ còn yếu tham gia vào trò chơi Khi hướng dẫn trẻ chơi, cô có thể hướng dẫn bằng lời, sau đó đề nghị trẻ nhắc lại luật chơi và làm thực động tác chơi Hoặc có thể tạo nhiều tình huống trong một trò chơi giúp trẻ cân nhắc, lựa chọn phương thức thích hợp thực hiện nhiệm vụ nhận thức

mà trò chơi yêu cầu

- Tổ chức cho trẻ tham gia vào chơi một cách tích cực, thoải mái “Trong một buổi chơi, chỉ nên phổ biến một trò chơi mới cho nửa lớp, hoặc một nhóm chơi rồi dần dần sẽ mở rộng sang cho trẻ khác để cả lớp đều được tham gia Số trẻ còn lại cho chơi các trò chơi khác, có thể là ôn lại các trò chơi cũ” [12, tr 29] Khi phổ biến trò chơi mới, giáo viên phải nghiên cứu nội dung, luật lệ, chuẩn bị đầy đủ vật liệu cần thiết cho trò chơi Nếu là trò chơi mà trẻ chưa quen với vật liệu mới, trước khi chơi giáo viên cần phải giới thiệu để trẻ biết

- Khi phổ biến trò chơi giáo viên cần cố gắng cho mỗi trẻ đều cảm thấy lời nói ấy trực tiếp quan hệ đến mình, tránh cách nói dài dòng gây mệt mỏi cho trẻ Trong quá trình chơi, giáo viên cần theo dõi, uốn nắn trẻ chơi, tham gia chơi cùng trẻ khi cần thiết “Các TCHT nói riêng và trò chơi có luật nói chung thường mất dần sự hấp dẫn đối với trẻ theo thời gian, khi việc thực hiện các nội dung và qui tắc chơi trở nên quá quen thuộc và dễ dàng đối với trẻ…Để duy trì hứng thú của trẻ giáo viên cần tạo bối cảnh chơi hấp dẫn, bổ sung qui tắc, thay

Trang 38

đổi hoặc bổsung hành động chơi để giúp trẻ chơi tốt hơn [12, tr 50] Trong quá trình tổ chức hoạt động chơi với các TCHT, cô theo dõi quá trình chơi của trẻ Trên cơ sở đó giáo viên xác định hướng điều khiển, điều chỉnh hoạt động của trẻ sao cho phù hợp

Giáo viên đóng vai trò là người quan sát, giám sát trẻ chơi để nắm bắt kỹ năng chơi, hứng thú chơi của trẻ Giáo viên phải thường xuyên theo dõi trẻ hoạt động trong góc chơi TCHT để tìm hiểu năng lực, mức độ suy nghĩ của từng trẻ, phát hiện ra đồ dùng, đồ chơi hoặc các vật liệu có khó khăn gì so với khả năng của trẻ Thông qua quan sát giúp giáo viên biết được khi nào trẻ cần giúp đỡ, cần phải can thiệp, những gì cần phải bổ sung, thay đổi Từ đó lựa chọn biện pháp tác động, hướng dẫn trẻ chơi phù hợp, hiệu quả trên cơ sở kết quả quan sát Để

tổ chức TCHT trong GCTD đạt hiệu quả, ngoài việc sắp xếp, bố trí, tổ chức, điều khiển, điều chỉnh quá trình chơi của trẻ, giáo viên cần xử lý linh hoạt các tình huống xảy ra trong góc chơi, đảm bảo cho mọi trẻ đều được tham gia hoạt động một cách tích cực, sáng tạo và hiệu quả Kiểm tra cơ sở vật chất tại góc chơi cũng là nhiệm vụ của giáo viên, cần quan tâm đến sự an toàn, loại bỏ những thứ gãy hỏng ở các khu vực chơi, tiếp tục làm phong phú môi trường, cung cấp thêm vật liệu, dụng cụ mới

- Sau khi chơi xong giáo viên nhắc nhở trẻ thu dọn và cất đồ chơi vào nơi quy định, giáo viên cần có nhận xét, đánh giá về cách chơi, cũng như cách cư xử, đồng thời tuyên dương những trẻ nắm vững luật chơi

Cách đánh giá nhận xét phải nhẹ nhàng, linh hoạt Sau mỗi lần trẻ chơi nên có phần rút kinh nghiệm về cách chọn trò chơi và cách tổ chức hướng dẫn thực hiện các TCHT trong GCTD

1.5.5 Quan sát, đánh giá trò chơi của trẻ

Quan sát, đánh giá TCHT của trẻ có một vai trò quan trọng then chốt của quá trình tổ chức GCTD, bởi vì nó vừa là khâu cuối nhưng lại được coi là khâu khởi đầu cho quá trình sư phạm tiếp theo Dựa trên kết quả đánh giá, giáo viên

Trang 39

có thể xác định được chất lượng và hiệu quả của những biện pháp sử dụng, phát hiện ra những thiếu sót, tồn tại của chúng để từ đó điều chỉnh và khắc phục, đồng thời đưa ra những dự kiến cho tương lai, hướng tới một kết quả khả quan hơn trong công tác tổ chức Đánh giá việc chơi của trẻ chính là việc giáo viên xác định chất lượng và hiệu quả của hoạt động chơi cụ thể ở đây là TCHT của trẻ MG 5 - 6 tuổi Dựa trên kết quả quan sát, đánh giá, giáo viên dự đoán khả năng và sự phát triển TCHT trong tương lai và đây sẽ là cơ sở cho việc lập kế hoạch tổ chức TCHT tiếp theo Đối với TCHT, việc quan sát, đánh giá tập trung vào những nội dung như: Việc thực hiện hành động chơi, quy tắc chơi; những biểu hiện hứng thú, tích cực nhận thức của trẻ trong khi chơi

1.6 Những yêu cầu khi tố chức hoạt động vui chơi ở lớp MG 5 - 6 tuổi 1.6.1 Các trò chơi phải hấp dẫn, phù hợp trình độ nhận thức của trẻ để kích thích tính tích cực và tính tự lập của trẻ

Nội dung chơi, hành động chơi và luật chơi phải phù hợp với vốn hiểu biết

và năng lực nhận thức của trẻ và được phức tạp dần theo sự phát triển của trẻ [7,

1.6.2 Khi tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ, nhất là trò chơi học tập, không đƣợc nhầm lẫn giữa TCHT và luyện tập thực hành của một “giờ học”

Trong giờ luyện tập thực hành trẻ thường bắt chước, lặp lại nguyên si công việc, hành động, thao tác mà cô làm mẫu Động cơ, mục đích của giờ luyện tập

là làm đúng theo mẫu (không có tính chất chủ động, sáng tạo của trẻ) Trong trò chơi có luật trẻ tiếp nhận nội dung chơi, hành động chơi, luật chơi một cách chủ

Trang 40

động, sáng tạo, động cơ thôi thúc trẻ hành động là nội dung chơi, hành động chơi, luật chơi

Giáo viên chuẩn bị chu đáo những khả năng giải đáp thắc mắc của trẻ, hướng dẫn và điều chỉnh quá trình chơi, tổ chức tổng thể giờ chơi trong đó có các trò chơi theo đúng loại đặc thù của nó

1.6.3 Giáo viên tổ chức hoạt động vui chơi phải đảm bảo tính tự do, tự nguyện và sáng tạo của trẻ

Giáo viên chú ý tạo điều kiện cho trẻ chơi theo nhiều cách khác nhau nhằm giúp trẻ sáng tạo trong việc thể hiện trò chơi, tự nghĩ ra luật chơi và điều chỉnh hành động chơi cho phù hợp

Giáo viên cần bổ sung quy tắc chơi, luật chơi làm cho trò chơi thêm phần nào khó khăn phức tạp; tạo cho trẻ trạng thái hứng khởi mong muốn giải quyết nhiệm vụ có trong trò chơi và hoàn thành trò chơi Giáo viên sẽ trở thành nhân

tố tích cực trong việc khuyến khích và tăng cường các mối quan hệ hợp tác của trẻ với nhau

Đối với các trò chơi có luật thì các quy luật và quy tắc chơi cần tự nhiên đến mức cao nhất, tránh gò bó; nên giúp trẻ hiểu rõ, chấp nhận trước khi tiến hành chơi

1.6.4 Thời gian tiến hành trò chơi phải phù hợp với thời lƣợng giờ chơi

tự do

Giáo viên lưu ý đảm bảo đủ thời gian cho trẻ khi chơi, tránh hối thúc trẻ, ép buộc trẻ chơi theo cách của mình để dễ kiểm soát kết quả chơi và thời gian chơi của trẻ Ngoài ra, giáo viên cần cân đối giữa thời gian chơi tự do trong góc chơi nhằm đảm bảo đủ thời gian cho trẻ được trải nghiệm, được tích cực vận dụng các kinh nghiệm cá nhân để giải quyết các nhiệm vụ nhận thức đúng và đủ theo yêu cầu trò chơi

1.6.5 Giáo viên phải chú ý đến đặc điểm cá nhân của từng trẻ

Trong quá trình tổ chức HĐVC, giáo viên phải chú ý phát huy tính độc lập

Ngày đăng: 03/04/2018, 14:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Thanh Âm, Trịnh Dân, Nguyễn Thị Hòa, Đinh Văn Vang (2004), Giáo dục học Mầm non tập 3, Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học Mầm non tập 3
Tác giả: Đào Thanh Âm, Trịnh Dân, Nguyễn Thị Hòa, Đinh Văn Vang
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2004
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2016), Chương trình Giáo dục Mầm non, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình Giáo dục Mầm non
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2016
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (1998), Giáo dục học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
4. Phạm Thị Châu, Nguyễn Thị Oanh, Trần Thị Sinh, Giáo dục học mầm non, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học mầm non
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
5. Lê Thị Diệu (2008), Thực trạng và giải pháp quản lí hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo lớn ở các trường mầm non trong TP. Cà Mau, Luận văn Thạc sĩ GDH Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và giải pháp quản lí hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo lớn ở các trường mầm non trong TP. Cà Mau
Tác giả: Lê Thị Diệu
Năm: 2008
6. Nguyễn Thị Thanh Hà (2012), Đánh Giá công tác tổ chức hoạt động vui chơi của trường Mầm non, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh Giá công tác tổ chức hoạt động vui chơi của trường Mầm non
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Hà
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2012
7. Nguyễn Thị Thanh Hà (2011), Tổ chức hoạt động vui chơi của trẻ ở trường Mầm non, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức hoạt động vui chơi của trẻ ở trường Mầm non
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Hà
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2011
8. Nguyễn Thị Thanh Hà (1981), Hướng dẫn tổ chức cho trẻ vui chơi ở trường Mẫu giáo, Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn tổ chức cho trẻ vui chơi ở trường Mẫu giáo
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Hà
Năm: 1981
9. Nguyễn Thị Thanh Hà (1996), Tổ chức cho trẻ vui chơi ở nhà trẻ-mẫu giáo, Trường Cao đẳng SPMG TW3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức cho trẻ vui chơi ở nhà trẻ-mẫu giáo
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Hà
Năm: 1996
10. Nguyễn Thị Thanh Hương (2006), Tuyển tập các bài viết về giáo dục mầm non, Tập2, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập các bài viết về giáo dục mầm non, Tập2
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Hương
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
11. Nguyễn Thị Thu Hiền (2012), Giáo trình phát triển và tổ chức thực hiện chương trình Giáo dục Mầm non (dành cho hệ Cao đẳng sư phạm Mầm non), Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phát triển và tổ chức thực hiện chương trình Giáo dục Mầm non (dành cho hệ Cao đẳng sư phạm Mầm non)
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hiền
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2012
12. Nguyễn Thị Hòa (2009), Giáo trình Giáo dục học mầm non, Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Giáo dục học mầm non
Tác giả: Nguyễn Thị Hòa
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2009
13. Trần Đổng Lâm (1980), Trò chơi Vận động (mẫu giáo), Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trò chơi Vận động (mẫu giáo)
Tác giả: Trần Đổng Lâm
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1980
14. Nguyễn Thị Bích Liên (2006), Giáo trình tổ chức sinh hoạt của trẻ ở trường mầm non, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tổ chức sinh hoạt của trẻ ở trường mầm non
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Liên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
15. Hoàng Phê (2000), Từ điển Tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học Hà Nội, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2000
16. Lê Thu Hương, Nguyễn Ánh Tuyết (2006), Hướng dẫn thực hiện chương trình Giáo dục Mầm non mẫu giáo lớn 5-6 tuổi, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện chương trình Giáo dục Mầm non mẫu giáo lớn 5-6 tuổi
Tác giả: Lê Thu Hương, Nguyễn Ánh Tuyết
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
17. Huỳnh Văn Sơn (2006), Trò chơi phát triển trí tuệ cho trẻ mẫu giáo, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trò chơi phát triển trí tuệ cho trẻ mẫu giáo
Tác giả: Huỳnh Văn Sơn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
18. Huỳnh Văn Sơn (2005), “Thử nghiệm hệ thống trò chơi học tập nhằm nâng cao hiệu quả phát triển trí tuệ của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi”, Tạp chí tâm lý học số 10, tr.25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử nghiệm hệ thống trò chơi học tập nhằm nâng cao hiệu quả phát triển trí tuệ của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi”, "Tạp chí tâm lý học số 10
Tác giả: Huỳnh Văn Sơn
Năm: 2005
19. Nguyễn Ánh Tuyết, Nguyễn Như Mai, Đinh Kim Thoa (1997), Tâm lý học trẻ em lứa tuổi Mầm non (từ lọt lòng đến 6 tuổi), Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học trẻ em lứa tuổi Mầm non (từ lọt lòng đến 6 tuổi)
Tác giả: Nguyễn Ánh Tuyết, Nguyễn Như Mai, Đinh Kim Thoa
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 1997
20. Nguyễn Ánh Tuyết (2000), Trò chơi trẻ em, Nxb Phụ nữ Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trò chơi trẻ em
Tác giả: Nguyễn Ánh Tuyết
Nhà XB: Nxb Phụ nữ Hà Nội
Năm: 2000

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w