Nhận thức của phụ huynh trường mầm non tuổi thơ, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận về giáo dục sớm (Luận văn thạc sĩ)Nhận thức của phụ huynh trường mầm non tuổi thơ, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận về giáo dục sớm (Luận văn thạc sĩ)Nhận thức của phụ huynh trường mầm non tuổi thơ, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận về giáo dục sớm (Luận văn thạc sĩ)Nhận thức của phụ huynh trường mầm non tuổi thơ, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận về giáo dục sớm (Luận văn thạc sĩ)Nhận thức của phụ huynh trường mầm non tuổi thơ, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận về giáo dục sớm (Luận văn thạc sĩ)Nhận thức của phụ huynh trường mầm non tuổi thơ, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận về giáo dục sớm (Luận văn thạc sĩ)Nhận thức của phụ huynh trường mầm non tuổi thơ, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận về giáo dục sớm (Luận văn thạc sĩ)Nhận thức của phụ huynh trường mầm non tuổi thơ, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận về giáo dục sớm (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Trần Linh Trang
NHẬN THỨC CỦA PHỤ HUYNH TRƯỜNG MẦM NON TUỔI THƠ, THÀNH PHỐ
PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
VỀ GIÁO DỤC SỚM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Trần Linh Trang
NHẬN THỨC CỦA PHỤ HUYNH TRƯỜNG MẦM NON TUỔI THƠ, THÀNH PHỐ
PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
VỀ GIÁO DỤC SỚM
Chuyên ngành : Giáo dục học (giáo dục mầm non)
Mã số : 60 14 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN THỊ THANH BÌNH
Thành phố Hồ Chí Minh - 2017
Trang 3Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì công trình nào khác Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình
Học viên
Nguyễn Trần Linh Trang
Trang 4đường học tập trong thời gian qua, tôi thật sự biết ơn gia đình, thầy cô, nhà trường, bạn
bè, đồng nghiệp, các bậc phụ huynh Vì vậy, tôi trân trọng gửi lời cảm ơn đến:
- Tiến sĩ Nguyễn Thị Thanh Bình – giảng viên hướng dẫn trực tiếp, đã tận tình chỉ dẫn, định hướng cho tôi và trên hết là sự quan tâm tinh tế của cô đã giúp tôi có một tâm lí thoải mái, hứng khởi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thiện luận văn;
- Quý thầy cô trường Đại học Sư phạm Tp HCM, Đại học Sài Gòn, Cao đẳng Trung ương Tp HCM đã tận tình giảng dạy, cung cấp cho tôi những kiến thức hữu ích trong suốt thời gian học tập chương trình thạc sĩ tại trường ĐHSP Tp Hồ Chí Minh;
- Quý thầy cô P Sau đại học, K Giáo dục Mầm non trường ĐHSP Tp HCM đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu;
- Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, Phòng Tổ chức, Khoa Sư phạm trường Cao đẳng Cộng đồng Bình Thuận đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi được chuyên tâm học tập nghiên cứu trong hai năm qua; những giảng viên trong Trường đã nhiệt tình hỗ trợ tôi rất nhiều trong quá trình thực hiện luận văn: Thạc sĩ Toán học Trương Văn Chính, thạc
sĩ Đo lường và Đánh giá trong giáo dục Nguyễn Thị Kim Hồng, Thạc sĩ Tâm lí học Bùi Thị Hồng Thắm, giảng viên Xã hội học Ngô Thị Thu Nga, đặc biệt là thạc sĩ Giáo dục học Trần Thị Loan Phương đã nhiệt tình hỗ trợ cũng như chia sẻ cho tôi những kinh nghiệm quý báu trong học tập nghiên cứu;
- Cán bộ Phòng Giáo dục mầm non - Sở Giáo dục & Đào tạo Bình Thuận, Ban Giám hiệu, giáo viên, phụ huynh trường Mầm non Tuổi Thơ, Tp Phan Thiết, T Bình Thuận đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thực hiện, hoàn thiện luận văn;
- Gia đình, đặc biệt là chồng tôi - anh Trần Huy Hoàng như một người bạn đồng hành, tiếp sức cũng như gợi cho tôi nhiều ý tưởng trong học tập nghiên cứu
Tôi xin gởi lời chúc sức khỏe và hạnh phúc đến tất cả những người mà tôi đã được hân hạnh biết đến - với lòng biết ơn chân thành
Tp Hồ Chí Minh, ngày 23 tháng 9 năm 2017
Học viên Nguyễn Trần Linh Trang
Trang 5Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 5
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu về giáo dục sớm và nhận thức của phụ huynh về giáo dục sớm 5
1.1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài 5
1.1.2 Các công trình nghiên cứu ở trong nước 12
1.2 Các khái niệm công cụ 15
1.2.1 Phụ huynh 15
1.2.2 Nhận thức 16
1.2.3 Giáo dục 17
1.2.4 Giáo dục sớm 19
1.2.5 Nhận thức của phụ huynh về vai trò của giáo dục sớm 53
Tiểu kết chương 1 56
Chương 2 THỰC TRẠNG NHẬN THỨC CỦA PHỤ HUYNH TRƯỜNG MẦM NON TUỔI THƠ THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN VỀ GIÁO DỤC SỚM 57
2.1 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu thực trạng 57
2.1.1 Mục tiêu 57
2.1.2 Nhiệm vụ 57
2.2 Phương pháp nghiên cứu thực trạng 57
2.2.1 Các phương pháp thu thập số liệu 57
2.2.2 Phương pháp xử lí số liệu 60
2.3 Kết quả nghiên cứu thực trạng 60
Trang 6non Tuổi Thơ, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận 61
2.3.3 Nguyên nhân của thực trạng nhận thức về giáo dục sớm của phụ huynh 90
2.4 Một số giải pháp nhằm tác động tích cực đến nhận thức của phụ huynh về giáo dục sớm 95
2.4.1 Cơ sở đề xuất giải pháp 95
2.4.2 Những đề xuất giải pháp nhằm tác động tích cực đến nhận thức của phụ huynh về giáo dục sớm 98
2.4.3 Tính hợp lí và khả thi của các giải pháp cải thiện thực trạng nhận thức của phụ huynh về giáo dục sớm nhằm nâng cao công tác phối hợp giữa trường mầm non và phụ huynh trong chăm sóc & giáo dục trẻ nói chung và giáo dục sớm nói riêng 102
Tiểu kết chương 2 114
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 115
TÀI LIỆU THAM KHẢO 118 PHỤ LỤC
Trang 7Bảng 2.2 Bảng quy đổi điểm cho những câu hỏi dạng thang Likert 58
Bảng 2.3 Bảng phân chia các mức độ biểu hiện nhận thức về giáo dục sớm quy theo điểm trung bình với số điểm tối đa là 5 59
Bảng 2.4 Thông tin của phụ huynh được khảo sát 60
Bảng 2.5 Nguồn tham khảo thông tin về giáo dục sớm của phụ huynh 61
Bảng 2.6 Điểm trung bình nhận thức về giáo dục sớm của phụ huynh 62
Bảng 2.7 Độ tuổi tốt nhất để bắt đầu giáo dục cho trẻ 65
Bảng 2.8 Điểm nhận thức của phụ huynh về năm vai trò của giáo dục sớm 71
Bảng 2.9 Điểm trung bình mức độ biểu hiện nhận thức về những nội dung của giáo dục sớm 77
Bảng 2.10 Tỉ lệ lựa chọn mức độ biết về các nội dung của giáo dục sớm (%) 80
Bảng 2.11 Điểm trung bình nhận thức về giáo dục sớm của phụ huynh theo trình độ 83
Bảng 2.12 Điểm trung bình nhận thức về giáo dục sớm của phụ huynh theo nghề nghiệp 85
Bảng 2.13 Điểm trung bình nhận thức về giáo dục sớm của phụ huynh theo thu nhập 87
Bảng 2.14 Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố khách quan đến nhận thức của phụ huynh 92
Bảng 2.15 Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan đến nhận thức của phụ huynh 94
Bảng 2.16 Đánh giá của phụ huynh về những giải pháp nâng cao nhận thức của phụ huynh về giáo dục sớm 102
Bảng 2.17 Đánh giá của cán bộ quản lí giáo dục mầm non, thạc sĩ tâm lí, giáo dục học về những giải pháp nâng cao nhận thức của phụ huynh về giáo dục sớm 103
Trang 8Biểu đồ 2.1 Tỉ lệ chọn khái niệm giáo dục sớm (%) 63
Biểu đồ 2.2 Tỉ lệ chọn mức độ quan trọng của giáo dục sớm đối với sự phát triển của trẻ (%) 69
Biểu đồ 2.3 Tỉ lệ mức độ đồng ý về vai trò của giáo dục sớm (%) 72
Biểu đồ 2.4 Điểm trung bình nhận thức về giáo dục sớm của phụ huynh theo trình độ 84
Biểu đồ 2.5 Điểm trung bình nhận thức về giáo dục sớm của phụ huynh theo nghề nghiệp 86
Biểu đồ 2.6 Điểm trung bình nhận thức về giáo dục sớm của phụ huynh theo thu nhập 89
Biểu đồ 2.7 Tỉ lệ đánh giá tính hợp lí và khả thi của giải pháp 1 (%) 104
Biểu đồ 2.8 Tỉ lệ đánh giá tính hợp lí và khả thi của giải pháp 2 (%) 105
Biểu đồ 2.9 Tỉ lệ đánh giá tính hợp lí và khả thi của giải pháp 3 (%) 106
Biểu đồ 2.10 Tỉ lệ đánh giá tính hợp lí và khả thi của giải pháp 4 (%) 107
Biểu đồ 2.11 Tỉ lệ đánh giá tính hợp lí và khả thi của giải pháp 5 (%) 108
Biểu đồ 2.12 Tỉ lệ đánh giá tính hợp lí và khả thi của giải pháp 6 (%) 110
Biểu đồ 2.13 Tỉ lệ đánh giá tính hợp lí và khả thi của giải pháp 7 (%) 111
Biểu đồ 2.14 Tỉ lệ đánh giá tính hợp lí và khả thi của giải pháp 8 (%) 112
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển Chúng ta đang nói đến giáo dục nhà trường Giáo dục nhà trường dành được sự quan tâm của nhà nước và cả xã hội từng ngày Vì một lí do nào đó, xã hội xem giáo dục gia đình là chuyện của mỗi nhà và bởi vậy chất lượng của giáo dục gia đình phụ thuộc chủ yếu vào sự nỗ lực của bản thân những người làm cha làm mẹ, ít khi nhận được sự trợ giúp một cách chính thức từ phía nhà nước và các cơ quan chức năng Dường như chúng ta đang hành động như thể nguồn lực con người, chất lượng giống nòi phụ thuộc chủ yếu vào giáo dục nhà trường
Trong cuốn sách có nhan đề "Kính gửi các bậc cha mẹ", giáo sư Hồ Ngọc Đại viết: "Văn hóa gia đình có ý nghĩa quyết định đối với công đoạn giáo dục từ 0 đến 6 tuổi và để lại hiệu quả ấy cho cả đời người Sang công đoạn tiếp theo, vai trò quyết định thuộc về giáo dục xã hội dưới hình thức giáo dục nhà trường" [12, tr.130]
Vấn đề giáo dục sớm đã được quan tâm từ lâu trên thế giới Ngay ở Việt Nam, ông cha ta đã nhìn thấy được tầm quan trọng của giáo dục sớm qua lời răn “dạy con từ tuổi còn thơ” Nhưng khoảng 10 năm trở lại đây, làn sóng giáo dục sớm mới bắt đầu lan tỏa Hiện nay, chỉ một phép thử với cụm từ “giáo dục sớm” trên trang tìm kiếm google đã cho ra gần bảy trăm nghìn kết quả Hàng loạt các bài viết bộc lộ quan điểm
về giáo dục sớm Dư luận xã hội Việt Nam hiện đang tồn tại những ý kiến trái chiều về vấn đề này Các bậc phụ huynh cũng bị hút theo những luồng thông tin khác nhau về giáo dục sớm, có những phụ huynh thì thận trọng, khách quan, có những phụ huynh thì ủng hộ một cách tuyệt đối, có những phụ huynh thì phản đối giáo dục sớm… Vì sao?
Phải chăng nhận thức của các bậc phụ huynh về giáo dục sớm chưa đạt đến mức độ biết rõ dẫn đến những ngộ nhận về giáo dục sớm? Và phải chăng, quan niệm giáo dục sớm vẫn chưa được nhiều phụ huynh hiểu đúng mà thường bị đánh đồng
thành dạy trẻ biết đọc sớm hay làm toán sớm?
Những yếu tố trình độ học vấn, nghề nghiệp, điều kiện kinh tế (thu nhập) có làm nên sự khác biệt trong nhận thức của các bậc phụ huynh về giáo dục sớm hay không?
Trang 10Với những lí do trên, tác giả chọn và thực hiện đề tài “Nhận thức của phụ huynh trường Mầm non Tuổi Thơ, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận về giáo dục sớm” với mong muốn góp phần mang lại giá trị nhất định cho việc nâng cao hiệu quả giáo dục và phát triển tiềm năng con người ở địa phương, qua đó góp một tiếng nói nhỏ vào bức tranh giáo dục còn nhiều trăn trở của đất nước nói chung và giáo dục trẻ trong giai đoạn từ 0 – 6 tuổi nói riêng
2 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu nhận thức của phụ huynh trường Mầm non Tuổi Thơ, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận về giáo dục sớm nhằm có một cơ sở thực tiễn cho việc định hướng cải thiện thực trạng, góp phần nâng cao công tác phối hợp giữa trường mầm non và phụ huynh trong giáo dục nói chung và giáo dục sớm nói riêng
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Tìm hiểu cơ sở lí luận liên quan đến đề tài
3.2 Khảo sát thực trạng nhận thức của phụ huynh về giáo dục sớm
3.3 Trên cơ sở phân tích thực trạng nhận thức của phụ huynh về giáo dục sớm,
đề xuất một số giải pháp cải thiện nhận thức của phụ huynh nhằm góp phần nâng cao công tác phối hợp giữa nhà trường và phụ huynh trong chăm sóc và giáo dục trẻ nói chung và giáo dục sớm nói riêng
4 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
* Khách thể: Quá trình giáo dục sớm
* Đối tượng: Nhận thức của phụ huynh về giáo dục sớm
5 Giả thuyết nghiên cứu
- Phần lớn phụ huynh chưa biết rõ về giáo dục sớm và hiểu nhầm giáo dục sớm
là dạy trẻ học đọc, học viết sớm (trước khi vào lớp một)
- Những yếu tố: trình độ, nghề nghiệp, thu nhập có ảnh hưởng đáng kể đến nhận thức của phụ huynh về giáo dục sớm
6 Giới hạn đề tài
- Đối tượng khảo sát: Phụ huynh
- Địa bàn khảo sát: Trường Mầm non Tuổi Thơ, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận
Trang 117 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
Tìm hiểu, thu thập, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa những tài liệu có liên quan nhằm xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài, cho việc lí giải thực trạng
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
* Phương pháp điều tra bằng bản hỏi: Được thực hiện bằng cách phát bản hỏi cho một số phụ huynh trường Mầm non Tuổi Thơ, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận nhằm điều tra nhận thức của họ về giáo dục sớm
Điều tra bằng bản hỏi được thực hiện theo qui trình sau:
- Thiết kế
- Gửi bản hỏi nhờ một số chuyên gia góp ý
- Điều chỉnh bản hỏi
- Khảo sát thí điểm 3 lần (mỗi lần khoảng từ 7- 10 phụ huynh)
- Khảo sát chính thức tại trường mầm non (khoảng 15 ngày)
Bản hỏi gồm hai phần:
- Phần I: Những thông tin cá nhân của phụ huynh, trong đó có nghề nghiệp, trình độ, thu nhập nhằm chứng minh giả thuyết thứ 2 (những yếu tố: trình độ, nghề nghiệp, thu nhập có ảnh hưởng đáng kể đến nhận thức của phụ huynh về giáo dục sớm)
- Phần II: Những câu hỏi khảo sát nhận thức của phụ huynh về khái niệm, vai trò, biện pháp và nguyên tắc giáo dục sớm nhằm chứng minh giả thuyết thứ 2 (phần lớn phụ huynh chưa biết rõ về giáo dục sớm và hiểu nhầm giáo dục sớm là dạy trẻ học đọc, học viết sớm - trước khi vào lớp một)
* Phương pháp phỏng vấn sâu:
- Phỏng vấn ngẫu nhiên 10 phụ huynh (chưa tham gia trả lời phiếu khảo sát) nhằm mục đích tìm hiểu sâu hơn một số ý kiến của họ về độ tuổi tốt nhất để bắt đầu giáo dục, vai trò của giáo dục sớm và tình hình phổ biến, tuyên truyền giáo dục sớm đến phụ huynh của những tổ chức: địa phương, trường học, những tổ chức khác
- Phỏng vấn 20 phụ huynh (đã tham gia trả lời phiếu khảo sát), chủ yếu là những phụ huynh được giáo viên trường Mầm non Tuổi Thơ, thành phố Phan Thiết,
Trang 12tỉnh Bình thuận giới thiệu nhằm trưng cầu ý kiến của họ về những giải pháp nâng cao nhận thức của phụ huynh về giáo dục sớm
- Phỏng vấn 02 giáo viên mầm non, 02 cán bộ quản lí trường mầm non, 01 cán
bộ quản lí phòng Giáo dục mầm non – Sở Giáo dục & Đào tạo tỉnh Bình Thuận, 02 giảng viên sư phạm trường Cao đẳng Cộng đồng Bình Thuận nhằm thu thập ý kiến của
họ về vai trò của giáo dục sớm, việc phổ biến, tuyên truyền giáo dục sớm đến cộng đồng và trưng cầu những giải pháp nâng cao nhận thức của phụ huynh về giáo dục sớm
7.3 Phương pháp xử lí số liệu
Sử dụng phần mềm excel 2013 để xử lí số liệu thu thập được từ phiếu hỏi, từ đó phân tích kết quả số liệu và góp phần đánh giá thực trạng nhận thức của phụ huynh về giáo dục sớm
8 Đóng góp của đề tài
8.1 Đề tài đã hệ thống hóa cơ sở lí luận về giáo dục sớm
8.2 Đề tài đã chỉ ra được thực trạng nhận thức của phụ huynh tại một trường mầm non trọng điểm trên địa bàn thành phố Phan Thiết, có thể làm tiền đề cho những hướng nghiên cứu tiếp theo về giáo dục sớm nhằm góp phần thúc đẩy nâng cao chất lượng giáo dục mầm non tại thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận
8.3 Trên cơ sở phác thảo một bức tranh nhận thức về giáo dục sớm của phụ huynh trường Mầm non Tuổi Thơ, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, bước đầu đề tài đã chỉ ra cơ sở định hướng cải thiện nhận thức của các bậc phụ huynh về giáo dục sớm nhằm nâng cao công tác phối hợp giữa nhà trường và phụ huynh Từ đó, mang lại hiệu quả trong giáo dục nói chung, giáo dục sớm nói riêng, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục mầm non mà ở đó trẻ trong giai đoạn từ 0 tuổi (thai nhi) đến 6 tuổi được hưởng nền giáo dục với tinh thần nhân văn và khai phóng
9 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của đề tài gồm 2 chương
Chương 1: Cơ sở lí luận của đề tài
Chương 2: Thực trạng nhận thức của phụ huynh Trường Mầm non Tuổi Thơ, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận về giáo dục sớm
Trang 13Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu về giáo dục sớm và nhận thức của phụ huynh về giáo dục sớm
1.1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài
Giáo dục sớm đã được quan tâm từ lâu ở các nước: Hoa Kì, Nhật Bản, Anh, Pháp, Đức, Ý… và đã có nhiều tài liệu quan trọng được công bố rộng rãi Công trình đầu tiên về giáo dục sớm cần kể đến là “The Education of Karl Witte” ra mắt công chúng vào năm 1814, tác giả là một mục sư người Đức tên Karl Witte - cuốn sách được coi là “nhật kí đầu tiên trên thế giới viết về việc tự dạy học cho con” Hạt nhân
về lí luận giáo dục trong cuốn sách là con trẻ cần được tiếp thu giáo dục ngay từ khi trí tuệ bừng sáng
Với cách thức giáo dục vừa độc đáo vừa gần gũi: Hầu như không mua đồ chơi cho con, vợ chồng ông thường khuyến khích, tạo điều kiện cho con tiếp xúc, chơi với những nguyên vật liệu mở có sẵn: cát, đá, hòn sỏi, thanh gỗ…; rất hạn chế việc cho con kết bạn vì cho rằng trẻ con khi chơi với nhau sẽ dễ nhiễm những tính cách và thói xấu của nhau nếu không có sự theo dõi, quan tâm của người lớn; thường xuyên trò chuyện, tản bộ, tham quan, du lịch cùng con Nhưng, trên hết, điều làm cho tác giả tâm đắc nhất ở phương pháp giáo dục của Karl Witte là tình yêu bao la của một người cha với sự kiên trì không mệt mỏi, luôn tìm mọi cách tốt nhất để giáo dục con phát triển một cách toàn diện, bất chấp ý kiến và dư luận xung quanh [43]
Nói về lịch sử nghiên cứu giáo dục sớm không thể không kể đến Maria Montessori, một bác sĩ người Ý và cũng là một nhà giáo dục Với quan điểm “Sự cao quí của nhân cách con người bắt đầu ngay từ lúc lọt lòng”, bà đã dành nhiều tâm huyết, dày công nghiên cứu cũng như viết nhiều sách về giáo dục trẻ thơ Qua tác phẩm “Trẻ thơ trong gia đình”, bà đã cho chúng ta thấy “giáo dục thời thơ ấu là vấn đề quan trọng nhất của loài người” Maria Montessori còn cho rằng, trẻ không chỉ đơn thuần là một động vật bé nhỏ cần cho ăn uống, mà ngay từ lúc sinh ra đã là một tạo vật
có tâm hồn, chúng ta phải mở đường cho sự phát triển tâm linh của trẻ [25]
Tác phẩm "Phương pháp giáo dục Montessori, Sức thẩm thấu của tâm hồn" Maria Montessori viết lại dựa trên kết quả quan sát tỉ mỉ và đánh giá chuyên sâu những
Trang 14hiện tượng giáo dục có ý nghĩa quyết định xuất hiện trong cuộc sống của trẻ từ 0 - 6 tuổi Trong đó bà khẳng định: Trẻ có khả năng tự học hay nói cách khác “tâm hồn” trẻ
có khả năng “tự thẩm thấu” kiến thức Do đó, trẻ hoàn toàn có thể “tự dạy chính mình” Ngoài ra, bà tiếp tục khẳng định, con người không đợi đến khi học đại học mới lĩnh hội tri thức, mà quá trình học hỏi đó đã bắt đầu ngay từ khi được sinh ra và lượng tri thức được tích lũy nhiều nhất và tập trung nhất là ba năm đầu đời [23]
Qua tác phẩm “Phương pháp giáo dục Montessori, thời kì nhạy cảm của trẻ”, bà
đã giúp các bậc phụ huynh có thể nắm bắt được các thời kì nhạy cảm của trẻ trong giai đoạn từ 0 - 6 tuổi, giai đoạn vàng của sự phát triển trong cuộc đời mỗi người để từ đó
có sự lựa chọn cách thức giáo dục phù hợp nhằm khai mở tiềm năng của trẻ một cách nhẹ nhàng và hiệu quả Bà khẳng định: “Thay vì ép trẻ khó nhọc học hành, chi bằng cha mẹ cứ kiên nhẫn chờ đợi thời kì nhạy cảm của trẻ đến, để trẻ tự động, tự chủ, tự phát học tập theo sự hướng dẫn của nhu cầu nội tại…Bởi học như thế không chỉ nhẹ nhàng, vui vẻ mà còn hiệu quả hơn gấp bội” [21, tr.1]
Trong tác phẩm “Phương pháp giáo dục Montessori, Phát hiện mới về trẻ thơ”, Maria Montessori giúp người đọc thấy rằng, trẻ em từ 0 - 6 tuổi luôn khao khát được khám phá thế giới xung quanh, được tự mình cảm nhận và học hỏi Bởi vậy, còn gì tốt hơn là tạo môi trường an toàn để trẻ tự do khám phá thay vì giữ trẻ thụ động trong nôi, cũi và lo lắng trẻ sẽ tự làm đau mình Cuốn sách này sẽ hướng dẫn người lớn mang lại những gì tốt nhất cho trẻ, để trẻ được tự do phát triển, được học hỏi qua thế giới xung quanh mình [22]
Xuyên suốt các công trình nghiên cứu của mình, Maria Montessori đề cao sức sống nội tại của trẻ, trẻ đã có sẵn một tâm hồn có khả năng tự thẩm thấu qua các thời
kì nhạy cảm Người lớn chỉ cần hiểu được kế “hoạch của tự nhiên” và có sự hợp tác cần thiết để trẻ phát triển, qua đó tác giả thấy phương pháp giáo dục của bà đặt trên nền tảng sự thấu hiểu sức sống bên trong của trẻ và giáo dục được hiểu như là “sự hỗ trợ cuộc sống”
Một tác phẩm khác, “Sự thật về ba năm đầu đời của trẻ” của bác sĩ chuyên khoa Tâm thần học, giáo sư người Ý giảng dạy về Tâm lí Sư phạm trẻ sơ sinh - Silvana Quattrocchi Montanaro đã đề cập đến những khám phá khoa học gần đây về não bộ trẻ
Trang 15thơ, kết quả quan sát về các bậc cha mẹ và trẻ em của cá nhân tác giả trong nhiều năm qua Từ đó, giúp người đọc hiểu hơn về trẻ thơ, từ sự sống trong bào thai cho tới tuổi lên ba Cuốn sách đã làm nổi bật tầm quan trọng của sự thấu hiểu về con người trong giai đoạn từ thai nhi đến 3 tuổi để từ đó có sự chăm sóc, giáo dục phù hợp nhằm phát triển tiềm năng của con người [19]
Tại Hoa Kì, vào năm 1955, Viện Nghiên cứu phát triển tiềm năng con người - gọi tắt là IAHP được thành lập bởi bác sĩ Glenn Doman cùng một số cộng sự, viện chủ yếu tập trung nghiên cứu, chữa trị cho những trẻ bị tổn thương não và áp dụng những phương pháp giáo dục sớm cho cả những trẻ em bình thường Bác sĩ Glenn Doman cho rằng mỗi trẻ nhỏ đều có thể thông minh ngay từ khi lọt lòng và nhiệm vụ của bố
mẹ phải làm sao để giúp trẻ phát huy được năng lực tiềm ẩn của con mình Ông có những công trình nghiên cứu khác nhau về giáo dục sớm
Tác phẩm "Dạy trẻ thông minh sớm" của ông giúp các bậc phụ huynh đánh giá mức độ phát triển các giác quan và khả năng vận động của trẻ thông qua các chương trình được thiết kế một cách tỉ mỉ Đây là cuốn cẩm nang hữu ích giúp trẻ phát triển não bộ trong 12 tháng đầu đời sau khi sinh Qua đó, bố mẹ sẽ hiểu cách nhìn nhận của trẻ sơ sinh cũng như những khó khăn và cảm xúc bộc phát mà trẻ phải đối diện Nhờ
đó, bố mẹ sẽ hiểu con mình hơn để mối dây liên kết với con sẽ càng thêm lâu bền [9]
“Dạy trẻ về thế giới xung quanh” là cuốn sách mà thông qua đó, Glenn Doman hướng dẫn các bậc phụ huynh những phương pháp kích thích thị giác nhằm phát hiện
và khai thác tiềm năng tự nhiên của trẻ để chúng học bất kì bộ môn nào trẻ muốn Thông qua tập sách, trẻ sẽ thể hiện được niềm yêu thích đối với từng lĩnh vực nhất định như nghệ thuật hay khoa học tự nhiên Nội dung tập sách rất đa dạng và phong phú từ các kiến thức về sâu bọ trong vườn cho đến các quốc gia trên thế giới và nhiều điều thú vị khác [8]
Với tác phẩm “Dạy trẻ biết đọc sớm”, Glenn Doman hướng dẫn các bậc phụ huynh biết cách bắt đầu và mở rộng chương trình tập đọc để giúp trẻ phát triển kĩ năng đọc Sau khi học đọc theo phương pháp của ông, trẻ sẽ thích thú với chuyện phát âm, kết hợp từ vựng và sớm thành thạo ngôn ngữ [5]
Trang 16“Dạy trẻ học toán” là cuốn sách mà thông qua đó, ông hướng dẫn các bậc phụ huynh những phương pháp đơn giản, thú vị khi cho trẻ tiếp cận với các con số và cách thành lập các phép tính cơ bản Ngoài ra, cuốn sách còn chỉ rõ cách bắt đầu và phát triển chương trình toán cho trẻ nhỏ, cách tạo và sắp xếp các dụng cụ học tập cũng như cách phát triển tư duy toán học của trẻ [7]
"Tăng cường trí thông minh cho trẻ" là cuốn sách hướng dẫn một chương trình nuôi dạy con chuyên sâu Trong đó, có các kiến thức giúp trẻ đọc chữ, làm toán và học hỏi về mọi thứ Ngoài ra, tác giả Glenn Doman còn cho chúng ta thấy, việc dạy trẻ thông minh thật dễ dàng và thú vị, từ đó bản thân thêm tự tin khi giáo dục con [6]
Tại Hoa Kì vào năm 1977, một trường đại học đặc biệt - trường dành riêng cho thai nhi được thành lập Giáo trình của trường đại học này bao gồm những bài tập ngôn ngữ, âm nhạc, vận động với phương thức học tập là trò chuyện với thai nhi, cho thai nhi nghe nhạc, vỗ và xoa ở các vị trí nhất định trên bụng thai phụ
Ngoài ra, còn có thể biết đến phương pháp “Giáo dục thai nhi” do Van de Carr (người Mĩ) nghiên cứu từ năm 1979 Hoạt động chính của phương pháp này là kích thích các giác quan, giúp thai nhi đáp ứng với môi trường bên ngoài nhằm
hỗ trợ phát triển trí não của bé trước và sau khi ra đời Bên cạnh đó, các nước Nhật Bản, Anh, Pháp…cũng đã có những công trình thí nghiệm để chứng minh thai nhi có thể nghe được âm thanh và thấy được ánh sáng từ bên ngoài, đặc biệt là trẻ dù đang trong giai đoạn thai nhi nhưng đã có trí nhớ, sau khi ra đời vẫn nhớ lại được những âm thanh quen thuộc mà đã được nghe khi còn trong bụng mẹ [33, tr.49-53]
Đặc biệt, tại Nhật Bản, Viện Giáo dục Shichida được thành lập vào năm 1978 bởi một giáo sư người Nhật Makoto Shichida Đến nay, hơn 450 trung tâm Shichida đã được thành lập trên khắp nước Nhật và một số nước khác như: Đài Loan, Singapore, Malaysia, Indonesia, Thái Lan, Mỹ, Úc, Trung Quốc, Canada và Hong Kong, Việt Nam… Phương pháp Shichida là một trong những phương pháp giảng dạy và học tập tiên tiến trên thế giới hiện nay và được áp dụng rộng rãi cho trẻ em từ 6 tháng đến 6 tuổi Phương pháp giáo dục Shichida là sự kết hợp giữa giáo dục não phải và giáo dục não trái
Trang 17GS Makoto Shichida tiến hành nghiên cứu và đi sâu vào trường phái giáo dục não phải Vì vậy, có thể coi đây là phương pháp khác biệt so với những phương pháp giáo dục sớm khác Trong suốt quá trình nghiên cứu, GS Makoto Shichida đã cho ra đời hơn 100 cuốn sách về giáo dục não phải được xuất bản bằng cả tiếng Nhật và tiếng Anh Trong đó có năm cuốn đã được dịch sang Tiếng Việt Một là, “Ba chìa khóa vàng nuôi dạy con theo phương pháp Shichida yêu thương - khen ngợi - nhìn nhận" Cuốn sách bao gồm những nguyên tắc dành cho ba mẹ trong quá trình nuôi dạy con dựa trên
3 chìa khóa vàng: Yêu thương, sự nghiêm khắc và sự tin tưởng [30]
Hai là, “Bí ẩn của não phải” - công trình qua hơn 50 năm nghiên cứu và 30 năm thực nghiệm của GS Makoto Shichida đã chỉ ra sáu khả năng đặc biệt của não phải: Khả năng về trực giác, khả năng ghi nhớ, khả năng tiếp thu nhiều ngôn ngữ, khả năng tính toán tốc độ nhanh, khả năng cảm thụ âm nhạc, khả năng tự chữa lành, giúp các bậc cha mẹ sẽ có cái nhìn toàn diện về những tiềm năng ẩn dấu của con và có những cách kích hoạt đúng đắn những tiềm năng đó [29]
Sau khi có những kiến thức khoa học rõ ràng và cái nhìn toàn diện về những tiềm năng bí ẩn của não phải, các bậc cha mẹ sẽ được GS Makoto Shichida hướng dẫn chi tiết việc làm thế nào để khơi dậy tiềm năng của trẻ thành công trong cuốn sách
"Giáo dục não phải" Cha mẹ sẽ biết cách dạy con đúng đắn với một tinh thần thoải mái và sẵn sàng trong công cuộc nuôi dạy con thành tài [32]
"Phát triển trí thông minh và tài năng của trẻ" là cuốn sách mà GS Makoto Shichida nói về những kiến thức và giải thích rõ ràng sự phát triển về mặt thể chất cũng như sự biến đổi về mặt tâm sinh lí của trẻ từ 0 - 6 tuổi Ở mỗi giai đoạn của độ tuổi, ông đưa ra những kiến thức về sự tác động của cả 5 giác quan lên trẻ, đồng thời nêu chi tiết những lời khuyên dành cho cha mẹ có con trong độ tuổi tương ứng Bên cạnh đó, tác giả cũng đưa ra những bài tập để cha mẹ luyện tập và phát triển cho con
về mặt thể chất, ngôn ngữ và những kĩ năng cơ bản như kĩ năng giao tiếp ứng xử, kĩ năng xử lí những tình huống đơn giản trong từng giai đoạn Ngoài ra, ông còn hướng dẫn những trò chơi mà cha mẹ có thể áp dụng để giúp bé nâng cao khả năng tư duy lôgic, khả năng tự lập cũng như làm quen và mở rộng kiến thức về thế giới xung quanh Hơn nữa, ông còn giúp các bậc cha mẹ hiểu về tâm lí của con theo từng độ tuổi
Trang 18và từ đó biết cách xử lí những tình huống khó khăn thường gặp trong quá trình nuôi dạy trẻ Và một điều không kém phần quan trọng, thông qua cuốn sách này, cha mẹ ngoài việc hiểu và biết cách nuôi dạy con, họ cũng sẽ biết cách tự thay đổi bản thân để trở thành những bậc cha mẹ yêu thương và luôn biết nhìn nhận con mình [31]
Ngoài ra, cuốn sách “33 bài thực hành theo phương pháp của Shichida” của tác giả Ko Shichida đã giới thiệu 33 bài học phát triển não phải mà các bậc cha mẹ có thể hướng dẫn bé tại nhà một cách dễ dàng Các bài tập này được đúc kết từ những thực nghiệm dựa trên lí thuyết “giáo dục não phải” [28]
Có thể nói, những thành quả nghiên cứu của GS Makoto Shichida đã làm thay đổi ít nhiều các quan niệm trước đây về sự phát triển não bộ của trẻ Đồng thời, tạo nên một phong cách giáo dục trẻ rất khác biệt
Tác phẩm “Chờ đến mẫu giáo thì đã muộn” của tác giả Ibuka Masaru tập trung
đề cập tới khả năng và nhân cách của con người không phải vốn dĩ có sẵn từ lúc mới sinh ra, mà phụ thuộc vào cách nuôi dạy trong ba năm đầu đời Tác giả cũng đã đưa ra nhiều ví dụ thực tế cho thấy giáo dục trong giai đoạn ba năm đầu đời sẽ phát huy tốt nhất tiềm năng vô hạn mà trẻ sơ sinh có [18]
Một tác phẩm khác, “Thiên tài và sự giáo dục từ sớm” của tác giả người Nhật Kimura Kyuichi đã viện dẫn ra nhiều thiên tài, những người đã được thụ hưởng sự giáo dục từ sớm của gia đình cũng như giới thiệu một số quan điểm, phương pháp về giáo dục sớm trên thế giới Từ đó, ông muốn cho chúng ta thấy lập luận giáo dục từ sớm sẽ tạo ra thiên tài không phải là vô căn cứ [16]
Một trong những nước có bề dày lịch sử về nghiên cứu giáo dục sớm phải kể đến là Trung Quốc, một đất nước mà ở đó, thai giáo đã được quan tâm tới từ hơn một ngàn năm trước Rất nhiều cuốn sách cổ ở Trung Quốc có ghi lại học thuyết giáo dục thai nhi như: Trục nguyệt dưỡng thai pháp của Từ Chí Tài đời Bắc Tề, Chư bệnh nguyên hậu luận đời Tùy, Thiên kim yếu phương của Tôn
Tư Mạc, Cổ kim đồ thư tập thanh - Nhất bộ toàn lục đời Thanh …Nội dung chính trong các cuốn sách đó chủ yếu đề cập đến vấn đề chăm sóc thai nhi, thai phụ, những điều nên và không nên làm đối với mẹ, con trong giai đoạn thai kì Ngoài ra, trong y học cổ, một số phương pháp giáo dục thai nhi cũng được nghiên cứu và đề cập như: nuôi dưỡng tính tình: sách Diệp thị trúc lâm nữ
Trang 19khoa); Tấm lòng ngay thẳng, ngồi ngay ngắn: sách Chư bệnh nguyên hầu luận); Gần điều tốt, xa cái xấu: sách Luận về nguồn gốc các bệnh… [33, tr.47-49]
Trung Quốc đã tìm ra giải pháp cho gánh nặng dân số khổng lồ của mình bằng việc giáo dục, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao Từ những năm 1980, GS Phùng Đức Toàn đã phát triển “Phương án 0 tuổi”, chương trình giáo dục ưu việt và phương án thực thi cho trẻ từ 0 - 6 tuổi Với phương án giáo dục này, ông cho rằng nhân loại cần nhận thức lại tiềm năng của thai nhi, trẻ sơ sinh, trẻ mẫu giáo
Nếu như ở cuốn “Chiếc nôi ươm hạt giống tài năng”, GS Phùng Đức Toàn đưa
ra một hệ thống lí luận cơ bản về phương pháp để khai mở tiềm năng của thai nhi, trẻ
sơ sinh và trẻ nhỏ, thì ở tác phẩm “Phát triển ngôn ngữ từ trong nôi” ông đã đưa ra những lí luận mới về ngôn ngữ thị giác và sự phổ cập rộng rãi của nó trong thực tiễn không những giúp xã hội xóa nạn mù chữ, bán mù chữ, mà còn kết thúc lịch sử phát triển giáo dục không toàn diện của trẻ em từ trước đến nay, giúp xã hội loại bỏ được hiện tượng phát triển không bình thường về ngôn ngữ và những hậu quả của nó [37]
“Kinh thánh nuôi dạy con thành tài”, tác giả Thái Tiếu Vãn đã viết về câu chuyện dài về sự nghiệp nuôi dạy 6 người con khôn lớn, thành tài Trong tác phẩm, tác giả không chỉ chia sẻ những cách thức giáo dục con hiệu quả mà còn đề cao tầm quan
trọng của giáo dục sớm: “Trong khi những bậc cha mẹ khác coi giai đoạn từ 0 - 3 tuổi
là giai đoạn trẻ chưa tiếp thu tri thức và nhận biết thế giới, để khoảng thời gian khai phá trí tuệ quý báu nhất của trẻ trôi qua một cách vô ích thì tôi lại cho rằng có thể giáo dục con trẻ ngay từ nhỏ nên đã cố gắng hết sức tiến hành giáo dục sớm cho con ngay từ những năm tháng đầu đời” [40]
Mặc dù chưa đi sâu phân tích vào từng công trình nghiên cứu về giáo dục sớm nhưng những gì tác giả đã trình bày ở trên cũng đã nói lên được tinh thần cơ bản của từng trường phái, từng tác giả Qua những công trình này, chúng ta có được một bức tranh về giáo dục sớm phong phú, toàn diện, có chiều sâu Những công trình này đều dựa trên những cơ sở khoa học đáng tin cậy và đặc biệt có không ít những bằng chứng
về thực nghiệm
Trang 20Tuy nhiên, hầu hết các công trình đều tập trung nghiên cứu về cơ sở khoa học, tầm quan trọng, cách thức giáo dục sớm, chứ không đi sâu vào nghiên cứu nhận thức đặc biệt là nhận thức của phụ huynh về giáo dục sớm Nhận thức của phụ huynh về giáo dục sớm có chăng cũng chỉ được đề cập đến một cách tản mạn như tác giả Shin Yee Jin đã viết trong tác phẩm của mình "Đừng ép con khôn sớm": "Trẻ em phải học hành “trối chết” theo sự bắt buộc của cha mẹ và nhà trường để vào được đại học";
"Người ta cho rằng trẻ bắt đầu học chương trình mẫu giáo hay tiểu học ở độ tuổi còn rất nhỏ sẽ phát triển nhanh hơn những trẻ khác Đa số những người mẹ tôi gặp đều có suy nghĩ như thế về việc giáo dục sớm và thực tế đã dạy tiếng Anh hoặc tiếng bản địa cho con từ khi bé còn rất nhỏ"… và với tư cách là phụ huynh, tác giả Shin Yee Jin cũng bày tỏ quan điểm của mình: "Theo quan điểm cá nhân, tôi không khẳng định rằng việc giáo dục sớm là hoàn toàn xấu So với người lớn thì trẻ càng nhỏ càng dễ tiếp thu nhiều thứ hơn và tôi không muốn phủ nhận hoàn toàn kết quả to lớn có được khi giáo dục đúng thời kỳ" Hoặc trong tác phẩm "Em phải đến Havard học kinh tế", tác giả Lưu Vệ Hoa và Trương Hán Vũ đã viết "người ta cứ tưởng là bắt đầu dạy con càng muộn càng tốt, vì nó sẽ được chuẩn bị chu đáo hơn" Cũng như tác giả Thái Tiếu Vãn
đã viết trong tác phẩm "Sự nghiệp làm cha" của mình, "những bậc cha mẹ khác coi giai đoạn từ 0 – 3 tuổi là giai đoạn trẻ chưa tiếp thu tri thức và nhận biết thế giới, để khoảng thời gian khai phá trí tuệ quý báu nhất của trẻ trôi qua một cách vô ích", hoặc
"các bậc cha mẹ khác vui mừng khi thấy học lực của con mình hơn chúng bạn đôi chút
và hài lòng với những giải thưởng cao trong các cuộc thi của con"; "các bậc cha mẹ khác luôn ca ngợi sự xuất sắc của con với mọi người, vô tình tăng thêm áp lực cho con"…
Như vậy, các công trình nêu trên chỉ phản ánh một phần về nhận thức của các bậc phụ huynh về giáo dục nói chung và giáo dục sớm nói riêng, tuy nhiên cũng chỉ ở mức tản mạn chứ chưa phải là những công trình nghiên cứu cụ thể nhận thức của phụ huynh về giáo dục sớm
1.1.2 Các công trình nghiên cứu ở trong nước
Mặc dù còn hạn chế về những nghiên cứu khoa học về giáo dục sớm, nhưng Việt Nam vẫn là một trong những nước quan tâm tới giáo dục sớm từ lâu Những kiến
Trang 21thức về thai giáo thường thông qua hình thức truyền miệng như: những món ăn, những bài thuốc dân gian, những thói quen, tập tục, bài thơ… đã trở thành những kinh nghiệm quí báu giúp các bậc cha, mẹ thai giáo cho con mặc dù có thể họ không nhận
ra mình đang thai giáo cho con Qua bài Gia huấn ca, ta thấy trong dân gian cũng đã có những bài học rất cụ thể dạy cho người phụ nữ khi mang thai phải ăn uống, đi đứng, nói năng như thế nào thì mới tốt cho thai nhi và xem đó là cách dạy con từ khi mang thai Danh y Tuệ Tĩnh, Hãi Thượng Lãn Ông cũng đưa ra lời khuyên, những điều nên làm và nên tránh khi mang thai để sinh con ngoan, tài giỏi hơn người Tuy nhiên, những tri thức về thai giáo trong truyền thống Việt Nam thường chỉ chú trọng hướng đến sức khoẻ của bé và của mẹ với mong muốn được “mẹ tròn con vuông” chứ chưa xuất phát từ những cơ sở khoa học như ngày nay để nhằm kích hoạt các giác quan và não bộ của trẻ [3]
Trong tác phẩm “Giáo dục thai nhi dưới góc nhìn tâm lí học”, PGS.TS tâm lí Huỳnh Văn Sơn đã khẳng định tầm quan trọng của giáo dục sớm Ông cho rằng,
“Thực hiện tốt việc giáo dục sớm sẽ thúc đẩy sự phát triển trí tuệ, hình thành tính cách
và phẩm chất tốt đẹp của con người Nếu bỏ qua cơ hội chỉ đến một lần trong đời của trẻ thì tiềm năng não bộ của trẻ sẽ giảm dần theo qui luật và hạn chế sự phát triển tối
ưu những tiềm năng cá nhân” Một trong những nội dung đầu tiên của giáo dục sớm là phải tiến hành thai giáo, làm cơ sở để khai mở và tạo tiền đề cho giáo dục trẻ sơ sinh
Vì vậy, nhóm tác giả trong đó PGS.TS Huỳnh Văn Sơn là chủ biên soạn cuốn sách này nhằm mục đích chia sẻ kiến thức để các phương pháp giáo dục thai nhi ngày càng phổ biến, được áp dụng một cách khoa học và chắc chắn [33]
Tác giả Phạm Thị Thúy đã đề cập đến thai giáo trong luận văn thạc sĩ tâm lí lâm sàng “Quan sát lâm sàng phương pháp giáo dục thai nhi của người Việt hiện nay” Trong nghiên cứu của mình, tác giả đã hệ thống những nghiên cứu về thai giáo từ trước đến nay của nhiều nước trên thế giới cũng như tại Việt Nam [3]
Ngoài ra, tác giả còn có những công trình nghiên cứu khác liên quan đến giáo dục sớm tiêu biểu là luận án tiến sĩ “Vai trò của cha mẹ trong việc giáo dục con giai đoạn từ 0 – 6 tuổi” Trong nghiên cứu này, tác giả đã điều tra, khảo sát thực trạng thực hiện vai trò của cha mẹ trong việc giáo dục con 0 - 6 tuổi từ nhận thức đến thực hiện
Trang 22vai trò Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần nâng cao nhận thức và hành
vi của cha mẹ trong việc thực hiện chức năng xã hội hóa ban đầu đối với trẻ em [35 ]
Trong luận văn thạc sĩ “Nhận thức và thái độ đối với thai giáo của vợ chồng trẻ tại thành phố Hồ Chí Minh”, tác giả Quang Thị Mộng Chi cũng đã đề cập về lịch sử thai giáo Ngoài ra, tác giả đã xác định thực trạng nhận thức và thái độ đối với thai giáo của vợ chồng trẻ thông qua khảo sát Qua đó, đề xuất một số biện pháp nhằm tác động tích cực đến nhận thức và thái độ của vợ chồng trẻ [3]
Tiến sĩ Từ Đức Văn đã có bài viết “Phương án 0 tuổi - Một hướng tiếp cận mới trong giáo dục mầm non Việt Nam” được đăng trên tạp chí Giáo dục Trong bài viết, ông đã khái quát chương trình giáo dục thời kì sớm - Phương án 0 tuổi Ông đã giúp người đọc nhận thấy tầm quan trọng của giáo dục thời kì sớm Từ đó, tác giả đã có kiến nghị, các nhà nghiên cứu, quản lí giáo dục cần quan tâm và có định hướng nghiên cứu để Việt Nam cũng có những kết quả nghiên cứu phát triển và áp dụng giáo dục thời kì sớm theo kịp sự tiến bộ trong lĩnh vực phát triển này của thế giới [41]
Khoảng 10 năm trở lại đây, Việt Nam dậy lên làn sóng giáo dục sớm có lẽ nhờ
sự phát triển ồ ạt và phủ sóng sâu rộng của các phương tiện truyền thông cũng như nhu cầu nuôi dạy, chăm sóc con cái mình tốt hơn của các bậc phụ huynh Song song với
đó, nhiều phương pháp, mô hình giáo dục sớm được triển khai ở Việt Nam: phương pháp giáo dục Shichida, phương pháp Glenn Doman, phương án 0 tuổi …một số viện cũng đã được thành lập: Viện Nghiên cứu Giáo dục Phát triển tiềm năng con người (IPD), Viện Nghiên cứu Giáo dục trẻ thông minh sớm VSK, Viện Giáo dục sớm Việt Nam, Viện Giáo dục Shichida Việt Nam…Tuy nhiên, chưa có một sự kiểm nghiệm cụ thể nào đến từ các cơ quan chức năng và cũng không có một thước đo, tiêu chí nào để đánh giá được hiệu quả của hầu hết các cơ sở giáo dục sớm tại Việt Nam trong thời điểm hiện tại
PGS.TS tâm lí Huỳnh Văn Sơn đã nói “Ngày nay, vấn đề giáo dục sớm đã được nhiều quốc gia quan tâm đầu tư phát triển mạnh và trở thành một cuộc “cách mạng” trên thế giới - “cách mạng” giáo dục thời kì sớm [33] Vì vậy, cũng không khó cho chúng ta nói chung và các bậc phụ huynh nói riêng khi muốn tiếp cận các tài liệu
Trang 23nghiên cứu về giáo dục sớm để tìm hiểu, trau dồi những kiến thức và kĩ năng giáo dục sớm cho trẻ
Như vậy, Việt Nam có một số công trình hướng đến nghiên cứu nhận thức của các bậc cha mẹ, phụ huynh về giáo dục con cái giai đoạn 0 (thai nhi) – 6 tuổi Luận văn thạc sĩ "Nhận thức và thái độ đối với thai giáo của vợ chồng trẻ tại thành phố Hồ Chí Minh", tác giả Quang Thị Mộng Chi cũng chỉ mới nghiên cứu nhận thức của phụ huynh (vợ chồng trẻ) về thai giáo mà thai giáo chỉ là bộ phận của giáo dục sớm, chưa nghiên cứu nhận thức của phụ huynh về giáo dục sớm một cách trọn vẹn
Còn trong luận án tiến sĩ: "Vai trò của cha mẹ trong việc giáo dục con giai đoạn
từ 0 – 6 tuổi", tác giả Phạm Thị Thúy đã điều tra, khảo sát thực trạng thực hiện vai trò của cha mẹ trong việc giáo dục con 0 - 6 tuổi từ nhận thức đến thực hiện vai trò cụ thể
là khảo sát nhận thức của phụ huynh về vai trò, nội dung, phương pháp, hình thức, phương tiện trong khuôn khổ giáo dục gia đình
Tóm lại, trên thế giới cũng như tại Việt Nam hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể nhận thức của phụ huynh về giáo dục sớm Đặc biệt, cũng chưa có một công trình nào nghiên cứu về "Nhận thức của phụ huynh trường Mầm non Tuổi Thơ, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận"
1.2 Các khái niệm công cụ
Mặc dù từ phụ huynh không chỉ được hiểu là cha mẹ; nhưng ngày nay, trong các cơ sở giáo dục, hội phụ huynh học sinh được hiểu là hội cha mẹ học sinh Trong đề tài này, chúng tôi dùng từ phụ huynh với nghĩa là cha mẹ, những người có trách nhiệm chính trong việc giáo dục con trẻ
Trang 241.2.2 Nhận thức
1.2.2.1 Khái niệm về nhận thức
Theo quan điểm triết học Mác - Lênin, nhận thức là quá trình phản ánh biện chứng, tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào trong đầu óc con người trên cơ sở thực tiễn [2, tr.294]
Theo quan điểm này thì hiểu biết của con người là kết quả của quá trình phản ánh hiện thực khách quan vào trong não bộ con người, nhưng đó không phải là sự phản ánh thụ động, máy móc, sao chép hiện thực, mà tri thức của con người về thế giới
là kết quả mang tính chủ động, sáng tạo trong quá trình con người tác động vào thế giới khách quan để nhằm thỏa mãn những nhu cầu của đời sống Tính chủ động và sáng tạo trong quá trình nhận thức phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử xã hội, phụ thuộc vào nền tảng sinh học của mỗi cá nhân và nhiều yếu tố khác, do vậy kết quả nhận thức tất yếu không giống nhau
Trong từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, nhận thức được coi là kết quả của quá trình phản ánh và tái hiện lại thế giới khách quan vào trong ý thức con người, kết quả thu được chính là những hiểu biết của con người về hiện thực khách quan [27]
Theo từ điển tâm lí học do Vũ Dũng chủ biên thì nhận thức là hiểu được một điều gì đó, tiếp thu được những kiến thức về điều nào đó, hiểu biết những qui luật, hiện tượng, quá trình nào đó [11, tr.553]
Như vậy, có nhiều cách hiểu về nhận thức nhưng tựu trung đều thống nhất cho rằng nhận thức là một tiến trình (phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ não thông qua hoạt động thực tiễn) hay kết quả của tiến trình ấy (tồn tại dưới dạng tri thức), nhằm mục đích hiểu biết về đối tượng nào đó để phục vụ cho nhu cầu đời sống
Trong khuôn khổ đề tài này, tác giả chỉ quan tâm đến nhận thức dưới góc độ kết quả của một quá trình Cụ thể, tìm hiểu nhận thức của phụ huynh về giáo dục sớm là tìm hiểu về hiểu biết (tồn tại dưới dạng tri thức) của phụ huynh về giáo dục sớm
1.2.2.2 Các mức độ của quá trình nhận thức
Căn cứ vào tính chất phản ánh, có thể chia toàn bộ hoạt động nhận thức thành hai mức độ lớn: nhận thức cảm tính (gồm cảm giác và tri giác) và nhận thức lí tính (tư duy và tưởng tượng)
Trang 25Căn cứ trên tính trọn vẹn và đầy đủ của bản chất sự vật, hiện tượng để phân chia thành các mức độ nhận thức [3, tr.24]:
– Một là, nhận thức đúng, đầy đủ về sự vật, hiện tượng
– Hai là, nhận thức đúng, chưa đầy đủ về sự vật, hiện tượng
– Ba là, nhận thức được một phần về sự vật, hiện tượng nhưng chưa phản ánh đúng bản chất của sự vật, hiện tượng
– Bốn là, nhận thức sai về sự vật, hiện tượng
Trong đề tài này, tác giả dựa vào cách phân loại mức độ nhận thức thứ hai, tuy nhiên chỉ khảo sát nhận thức của phụ huynh ở mức độ nhận biết: Biết hay chưa? Biết đúng hay sai? Biết đầy đủ hay chỉ biết một phần về nội dung kiến thức; nói cách khác, tìm hiểu nhận thức của phụ huynh về giáo dục sớm là xem xét vốn hiểu biết của phụ huynh về giáo dục sớm như thế nào
1.2.3 Giáo dục
Là một khái niệm chung và rộng của Giáo dục học và được diễn giải khác nhau
ở nhiều phương diện: bản chất, hoạt động, phạm vi…Xét về mặt phạm vi, khái niệm này được hiểu qua hai mức độ rộng và hẹp như sau:
1.2.3.1 Giáo dục theo nghĩa rộng
Theo nghĩa rộng, khái niệm giáo dục bao hàm nhiều cấp độ khác nhau, nhưng nhìn chung khái niệm này hàm nghĩa là sự hình thành có mục đích và có tổ chức những sức mạnh thể chất và tinh thần của con người, hình thành thế giới quan, bộ mặt đạo đức và thị hiếu thẩm mĩ cho con người; với nghĩa rộng nhất, khái niệm này bao hàm cả giáo dưỡng, dạy học và tất cả những yếu tố tạo nên những nét tính cách và phẩm chất của con người, đáp ứng các nhu cầu của kinh tế xã hội [14, tr.33]
Con người là những cá thể duy nhất có tự do, không như những loài khác, vốn chỉ sống trong khuôn khổ mà tự nhiên đã áp đặt Là những tạo vật tự do, bởi vậy các phẩm chất để sinh tồn và phát triển nơi con người không sẵn có (nhưng tiềm năng thì
vô hạn) vì vậy con người cần đến một phương tiện mà ngày nay chúng ta gọi là giáo dục để hình thành nên những sức mạnh về thể chất và tinh thần Do nhu cầu cũng như thực trạng kinh tế xã hội ở mỗi thời và mỗi nơi khác nhau nên trong quan niệm về mục đích cũng như phương cách giáo dục sẽ khác nhau; nhưng một nền giáo dục đúng
Trang 26nghĩa phải vì một thế giới tốt đẹp và để có một thế giới tốt đẹp phải khơi dậy những tiềm năng tốt đẹp nơi con người Muốn vậy con người nói chung, trẻ em nói riêng, phải được hưởng một sự giáo dục có tính nhân văn và khoa học
Trước đây, quan niệm về giáo dục chỉ được hiểu là giáo dục các đối tượng đang
ở lứa tuổi đi học và chỉ thực hiện liên tục có hệ thống trong các nhà trường (phổ thông, chuyên nghiệp, đại học…) với mục tiêu chủ yếu là đào tạo học sinh có kiến thức, kĩ năng, thái độ tương ứng với nội dung, chương trình, kế hoạch đào tạo thông qua một
số môn học Ngày nay, quan niệm về giáo dục được mở rộng, người ta hiểu giáo dục dành cho tất cả mọi người được thực hiện ở bất cứ không gian và thời gian nào thích hợp với từng loại đối tượng, bằng các phương tiện dạy học khác nhau, kể cả các phương tiện truyền thông đại chúng với các kiểu học tập rất đa dạng và linh hoạt trong
đó người học là trung tâm
Như vậy, để hiểu đúng khái niệm giáo dục vừa phải dựa vào các định nghĩa chuẩn lại vừa phải theo dõi sát sao sự phát triển của thực tiễn giáo dục để kịp thời mở rộng nội hàm khái niệm, đảm bảo được tính khoa học và sự phát triển phong phú, đa dạng của khái niệm
1.2.3.2 Giáo dục theo nghĩa hẹp
Theo PGS.TS Huỳnh Văn Sơn, giáo dục là hoạt động chuyên biệt nhằm hình thành những phẩm chất, quan điểm, niềm tin cho con người về các phương diện đạo đức, thể chất, thẩm mĩ và lao động Quá trình này được xem là một bộ phận của giáo dục tổng thể, kết quả không chỉ được xem xét về ý kiến mà căn cứ trên các hành vi, thói quen, biểu hiện trình độ phát triển của mỗi con người
Giáo dục theo nghĩa hẹp là một bộ phận của hoạt động giáo dục tổng thể nhằm
tổ chức, hướng dẫn, điều khiển người được giáo dục hình thành thế giới quan khoa học, tư tưởng chính trị, đạo đức, thẩm mỹ, lao động, phát triển thể lực, những hành vi
và thói quen ứng xử đúng đắn của cá nhân trong các mối quan hệ xã hội
Giáo dục trong phạm vi này không chỉ được hiểu và thực hiện trong môn Đạo đức học mà trên thực tế giáo dục còn được áp dụng trong các mặt của cuộc sống: gia đình, nhà trường và ngoài xã hội [33, tr.8-9]
Trang 27Như vậy, giáo dục theo nghĩa hẹp được hiểu là hoạt động chuyên biệt nhằm hình thành những phẩm chất, quan điểm, niềm tin cho con người về các phương diện đạo đức, thể chất, thẩm mĩ và lao động Tức những hoạt động chuyên biệt nhằm hình thành những phẩm chất, quan điểm, niềm tin cho con người về các phương diện đạo đức, thể chất, thẩm mĩ và lao động sẽ được cho là giáo dục
1.2.4 Giáo dục sớm
1.2.4.1 Khái niệm về giáo dục sớm
Theo chuyên gia Lưu Minh Hường: Giáo dục sớm chính là quá trình kích thích các chức năng của não bộ phát triển trong thời kì sinh trưởng nhanh nhất: từ 0 - 6 tuổi nhằm nâng cao tố chất của con người và giúp chúng ta phát huy được những tiềm năng
to lớn [44]
Ở Việt Nam, mặc dù không ai còn xa lạ với châm ngôn: “dạy con từ thuở còn thơ”; nhưng khái niệm giáo dục sớm thì còn khá mới mẻ Vậy, sớm là bắt đầu từ khi nào? Thạc sĩ Quang Thị Mộng Chi cho rằng giáo dục sớm là một khoa học dẫn dắt, bồi dưỡng, phát triển tiềm năng thể lực và trí tuệ cho trẻ từ 0 - 6 tuổi [3] Như vậy theo tác giả Quang Thị Mộng Chi, sớm là từ trong bào thai
GS Phùng Đức Toàn quan niệm giáo dục sớm là quá trình giáo dục kích thích chức năng của não bộ phát triển trong thời kì sinh trưởng của não [36, tr.30]
Giai đoạn nào được coi là thời kì sinh trưởng của não? Trẻ sau khi thụ thai được
2 tháng, não bộ đã chiếm một nửa chiều cao cơ thể, khi trẻ mới sinh ra đầu và chu vi của não có độ rộng bằng nhau Khoảng 9 tháng sau khi chào đời tỉ trọng bộ não tăng gấp 2 lần so với khi mới sinh, đến 3 tuổi tăng gấp 3 lần, tới 5 - 6 tuổi quá trình phát triển của não bộ về cơ bản đến độ hoàn thiện, gần bằng với não người trưởng thành Chính vì vậy, nếu rèn luyện trẻ ngay từ khi còn nhỏ để kích thích các tế bào não hoạt động thì số lượng phân tử ghi nhớ RNA trong tế bào não sẽ tăng lên, từ đó có thể tạo
ra những tế bào não có chất lượng cao, bồi dưỡng nên những con người thông minh Các nhà khoa học đã làm rất nhiều thí nghiệm và chứng minh được sự tồn tại của “thời kì khắc dấu ấn tượng”, ví dụ như gà con phải mất năm ngày để nhận mẹ, cún con phải mất bảy ngày để học cách đào lỗ, thiên nga nhìn thấy cái gì đầu tiên sau khi
ra khỏi vỏ trứng thì chúng coi cái đó là mẹ của chúng…Người ta còn gọi hiện tượng
Trang 28đó là “thời kì mẫn cảm”, “thời kì phát triển” hoặc “giai đoạn tốt nhất” Các nhà tâm lí học thì công nhận, với loài người, từ 0 đến 6 tuổi là giai đoạn tốt nhất để phát triển trí tuệ [36, tr.46] Chính vì thế, theo GS Phùng Đức Toàn, chúng ta cần đặc biệt coi trọng khoảng thời gian từ 0 đến 6 tuổi
Như vậy, theo các tác giả nêu trên giáo dục sớm tốt nhất nên được tiến hành từ khi trẻ còn là thai nhi nhằm khai mở tiềm năng của con người
Theo Maria Montessori, khoa học đã phát hiện não bộ khi tiếp nhận các thông tin từ bên ngoài thường có tính giai đoạn, được gọi là “cánh cửa cơ hội”, cũng chính là thời kì nhạy cảm Thời kì nhạy cảm theo Maria Montessori là thời kì mà trẻ chịu sự chi phối của sức sống nội tại, sẽ chuyên tâm tiếp thu những đặc trưng của sự vật ở trong một môi trường nào đó trong giai đoạn từ 0 đến 6 tuổi Cánh cửa cơ hội được mở và cũng sẽ đóng lại Khi thời kì nhạy cảm của một giai đoạn học tập nào đó xuất hiện, sự khởi động của “cánh cửa cơ hội” sẽ khiến cho việc học hỏi trở nên dễ dàng Ngược lại, khi “cánh cửa cơ hội” đóng lại, việc học sẽ trở nên vô cùng khó khăn
Maria Montessori đã phát hiện, trong giai đoạn từ 0 – 6 tuổi, trẻ trải qua nhiều thời kì nhạy cảm khác nhau: thời kì nhạy cảm về ngôn ngữ, thời kì nhạy cảm về trình
tự, thời kì nhạy cảm về giác quan, thời kì nhạy cảm tập viết, thời kì nhạy cảm về tập đọc… Vì vậy, “nắm bắt thời kì nhạy cảm cho trẻ để chuẩn bị môi trường phong phú, hợp lí cho trẻ cũng quan trọng giống như việc người nông dân nắm bắt được thời điểm gieo trồng thích hợp, chắc chắn sẽ được bội thu” [21, tr.4-7]
Từ quan điểm nêu trên của Maria Montessori, giáo dục sớm được hiểu không chỉ là tiến hành sớm hay muộn, trước hay sau mà còn là giáo dục đúng lúc Tức là quá trình giáo dục dựa trên các thời kì nhạy cảm trong giai đoạn từ 0 - 6 tuổi, giai đoạn được cho là tốt nhất để phát triển về mặt trí tuệ và tâm hồn của trẻ
Mặc khác, giáo dục sớm tuy có thể được diễn giải khác nhau tùy thuộc vào mỗi trường phái; song tất cả các lí thuyết về giáo dục sớm đều dựa trên kết quả nghiên cứu
hệ thần kinh và cơ chế hoạt động của bộ não trẻ em làm cơ sở Từ đó, chúng tôi đi đến
quan niệm: Giáo dục sớm là quá trình giáo dục sớm nhất có thể trong giai đoạn từ 0
tuổi (thai nhi) đến 6 tuổi nhằm khai mở tiềm năng và tạo tiền đề tốt nhất cho sự phát triển của trẻ
Trang 29Ở Việt Nam, khái niệm giáo dục sớm rất dễ bị hiểu nhầm thành giảng dạy, truyền đạt kiến thức và phương pháp giáo dục sớm cũng rất dễ bị thực hành sai thành
ép buộc hoặc tạo áp lực cho trẻ Hiện nay, giáo dục sớm cũng hay bị đánh đồng thành dạy trẻ biết đọc sớm hay làm toán sớm trong khi đó không phải là bản chất, mục tiêu
mà chỉ là hệ quả của việc giáo dục sớm Mục đích của giáo dục sớm không phải là để biến những đứa trẻ trở thành thiên tài hay thần đồng Mục đích nhằm phát huy tốt nhất những khả năng và tố chất của trẻ, tạo nền tảng vững chắc về sức khỏe, trí tuệ, và nhân cách giúp trẻ trở thành những cá nhân có khả năng tự tìm kiếm niềm vui, hạnh phúc cho bản thân khi trưởng thành và trở thành những công dân có ích cho xã hội
1.2.4.2 Đặc điểm tâm lí và não bộ của trẻ từ 0 - 6 tuổi
a Đặc điểm tâm lí
* Giai đoạn bào thai (0 tuổi)
Nguồn thông tin cảm giác dồi dào của đời sống thai nhi sẽ củng cố niềm tin hữu
lí của chúng ta về việc vì sao cần phải tiến hành giáo dục sớm Ngày nay, trước những máy móc hiện đại trong bàn tay của các chuyên gia y học, quan điểm cho rằng tử cung của người mẹ là một nơi không hề có thông tin cảm giác đã bị loại bỏ hoàn toàn Ngược lại, thai nhi là một sinh thể sống trong chuỗi liên hệ liên tục với môi trường Những nghiên cứu mới nhất về trẻ sơ sinh cho chúng ta biết tất cả các giác quan đã được sử dụng trong thời kì bào thai Từ trong bụng mẹ, thai nhi đã có sự chuẩn bị các chiến lược để có thể thích ứng với môi trường sống sau này Hiểu được sự thật này, tại sao những người sắp làm cha làm mẹ không hợp tác để giúp trẻ vào đời một cách tốt nhất có thể?
Sau đây là một số sự thật về sự phát triển của các giác quan của thai nhi trước
sự mô tả của các chuyên gia y học:
- Lớp da là cơ quan cảm giác đầu tiên và quan trọng nhất Nó được hoàn thiện sau 7 đến 8 tuần của thai kì Xúc giác vẫn luôn là nguồn thông tin đầu tiên và quan trọng nhất về bản thể của chúng ta (Trong con mắt của một nhà phân tâm học, da không chỉ là lớp xác thịt mà nó còn là lớp da cái Tôi mang tính chất tâm lí và trừu tượng)
Trang 30Khi các chuyên gia y học xem xét các vấn đề như nước ối bao quanh thai nhi, khả năng vận động của thai nhi, dây rốn, đôi tay của thai nhi ở vị trí gần miệng, họ thấy rằng xúc giác liên tục được kích thích và gắn với môi trường Khoái cảm từ những kích thích xúc giác sẽ được duy trì trong suốt cuộc đời như chúng ta đã thấy Khi nói đến xúc giác – không còn là ngụ ý nữa – mà sự thật là luôn có cảm xúc đi kèm với xúc giác
Frans Veldman, người sáng lập ra viện Aptonomic Communication - một ngành khoa học chuyên nghiên cứu về xúc giác tại Hà Lan – đã khuyên các ông bố tương lai dùng tay sờ nắn bụng bầu của vợ và ấn một lực nhè nhẹ lên
đó Nếu điều này được lặp đi lặp lại hàng ngày trong suốt thai kì sẽ đánh thức
sự nhạy cảm của bé và đánh thức sự gắn bó cảm xúc trước khi sinh của trẻ, thứ
sẽ thành nền tảng cho những mối liên hệ cảm xúc của trẻ sau khi sinh Bằng cách này, não bộ của trẻ sẽ ghi nhận những thông tin tích cực về việc trẻ được chấp nhận và được mong đợi sinh ra Nó như một thứ tin mừng cho trẻ từ ngày
mẹ cho mang cuộc sống con người!
- Khứu giác: Từ tháng thứ 2 của thai kì khứu giác đã hoạt động Từ thức ăn của
mẹ, rất nhiều chất đã được chuyển vào nước ối, tạo thành những ký ức về khứu giác ở trẻ để có thể chấp nhận những thức ăn trong thời kì cai sữa
- Vị giác được hoạt hóa vào tháng thứ 3 Thực tế cho thấy khi các thức ăn được đưa vào nước ối có vị ngọt hoặc vị đắng người ta thấy trẻ nuốt hoặc nhăn nhó, hoặc di chuyển Điều này cho thấy trẻ đã nhận biết được sự khác nhau về vị Những trải nghiệm về mùi vị từ trong bụng mẹ sẽ tạo điều kiện thuận lợi để khi sinh ra có thể dễ dàng tiếp nhận các thức ăn khác nhau từ môi trường bên ngoài
- Tai sẽ hoàn thiện cấu trúc vào khoảng tháng thứ hai đến tháng thứ năm của thai kì Một nghiên cứu được tiến hành tại Nhật Bản đã cho biết, những trẻ sơ sinh có mẹ sống gần khu vực sân bay Osaka trong thời kì mang thai, sau khi sinh ra vẫn có thể ngủ ngon với tiếng gầm rú của động cơ máy bay, trong khi những đứa trẻ khác cảm thấy rất bực bội với những âm thanh tương tự Cũng tương tự như vậy, khi mang thai, người mẹ có thể hát một số bài hát đặc biệt dành cho con mình Những bài hát này sẽ được ghi nhớ và có thể giúp ích rất nhiều trong việc trấn an dỗ dành trẻ sau khi sinh ra Trò chuyện với thai nhi là
Trang 31rất quan trọng, và hát cho thai nhi nghe cũng quan trọng không kém; dạng kích thích này giống như việc mát xa cho não bộ và cơ thể vậy
- Mắt đã hoàn thiện vào tháng thứ tư của thai kì Tử cũng không hẳn là một nơi tối tăm như người ta vẫn nghĩ Môi trường này có thể khác nhau tuỳ theo khí hậu và lối sống của người mẹ Nhưng có một điều chắc chắn đúng là đã có những kích thích thị giác trong thời kì trước khi sinh và thai nhi đã chủ động tìm kiếm bất kì nguồn ánh sáng nào [19]
Tất cả sự phong phú về cảm giác vừa mô tả đã cung cấp cho chúng ta những cơ
sở khoa học về thai giáo Điều này đã chứng minh cho chúng ta thấy thai nhi có khả năng thụ giáo Vì vậy những hiểu biết về tâm lí học thai nhi là rất quan trọng đối với tất cả chúng ta, nhất là đối với những người mà trong tương lai sẽ trở thành những người bố, người mẹ, những người có thể trợ giúp trẻ ngay từ khi thụ thai và có thể tạo
ra một môi trường tốt hơn, với những trải nghiệm tốt hơn, với những ký ức tốt hơn để giúp trẻ có thể phát triển tốt hơn
* Giai đoạn từ lọt lòng đến 3 tuổi
Những hiểu biết về tâm lí thai nhi là điều cần thiết và việc thấu hiểu những nhu cầu tâm lí của trẻ từ khi lọt lòng cũng rất quan trọng nếu muốn trẻ có được sự phát triển tốt Nhưng có một giai đoạn tuy diễn ra ngắn ngủi nhưng có thể ảnh hưởng dài lâu đối với trẻ, đó là giai đoạn sinh nở Nếu một người phụ nữ chưa sẵn sàng cho việc sinh con, họ lo sợ và căng thẳng, các sợi cơ cũng trở nên căng thẳng, đặc biệt là phần dưới tử cung Lúc này quá trình chia tách (giữa mẹ và bé) diễn ra lâu hơn và đau đớn hơn Em bé dường như bị bỏ mặc phải tự mình cố chui ra Nếu tâm thế người mẹ sẵn sàng và thoải mái (các cơ thư giãn, sự co thắt tử cung diễn ra tự nhiên) thì em bé có thể chui ra thuận tiện hơn Điều này cũng đúng với tâm thế của người giáo viên khi dạy học, khi họ không có được tâm lí thoải mái hào hứng để giảng bài thì việc học của học trò cũng bị ảnh hưởng lớn
Sự chia tách giữa hai sinh thể vốn đã là một điều quan trọng, nếu bé còn phải trải qua sự đau đớn về mặt thể chất khi ra đời thì môi trường mới sẽ được bé cảm nhận như một nơi không chào đón mình, điều này có thể khiến bé không còn những mong muốn lành mạnh với việc tiếp tục sống và phát triển nữa Khi sự chia tách diễn ra
Trang 32trong đau đớn nó sẽ để lại những dư âm trong cảm nhận của cả mẹ và con, đặc biệt là
ở trẻ sơ sinh, bởi những cảm nhận trong thời khắc này được tiếp nhận bằng cơ chế vô thức và gắn với những kích thích lên cơ thể còn non nớt, trong khi cấu trúc tâm trí của
bé vẫn còn chưa định hình Trong cái nhìn của các nhà phân tâm học, thời khắc sinh
nở có thể tạo nên những sang chấn kéo dài tới mãi sau này Trong thời khắc này, nếu được mẹ hỗ trợ và giúp đỡ, sinh linh bé nhỏ sẽ có được tất cả sức mạnh cần thiết để thực hiện tốt việc ra đời, một công việc sẽ mở ra tiềm năng tốt đẹp hơn cho sự phát triển sau này Như vậy, thời khắc sinh nở có thể tạo thành một sang chấn (bởi sự chia tách đau đớn) hay trở thành một sự chuyển tiếp hạnh phúc đối với bé, chìa khóa của điều này là người mẹ
Khi hai sinh thể đã tách rời nhau, trẻ sơ sinh trở nên yếu ớt và bất lực, vì vậy sự gắn bó giữa mẹ và bé trở nên cực kì quan trọng Lúc này, bầu vú của người mẹ trở thành nhau thai và cuống rốn Cùng với thức ăn và sự chăm sóc mà trẻ nhận được trẻ
sẻ có cơ hội phát triển những tiềm năng trong con người mình Việc chăm sóc của người mẹ lúc này nhất thiết phải dựa trên hiểu biết về những nhu cầu của trẻ
Dựa trên những nghiên cứu đã được thực hiện và dựa vào những kinh nghiệm của chính chúng ta về trẻ nhỏ, chúng ta có thể nhận biết những nhu cầu cơ bản và trực tiếp nhất của trẻ sơ sinh Sau đây là một số nhu cầu cần được nhấn mạnh:
- Nhu cầu liên hệ trực tiếp với mẹ Sau chín tháng thai nghén, hai sinh thể chia tách ra, nhưng em bé mới sinh chưa sẵn sàng cho một cuộc sống độc lập Con người mới này chưa thể ăn những thức ăn của người lớn cũng như không thể tự mình di chuyển trong không gian xung quanh Đây là một trạng thái không hề bình thường mà người lớn cần phải hiểu và lưu ý để chăm sóc trẻ tốt hơn sau khi sinh Điều này một lần nữa khẳng định, chỉ có tình yêu thương và sự hiểu biết mới có thể đem đến sự phát triển “bình thường” cho con người mới Trong trạng thái yếu ớt và bất lực trẻ cần được liên hệ trực tiếp với mẹ để được biết tới và được chấp nhận như là “con trai” hay “con gái” và
để xây dựng mối quan hệ yêu thương với người mẹ để được nhận thứ thức ăn đặc biệt
từ mẹ, để thiết lập với mẹ một hình thức giao tiếp sẽ là mô hình cho mọi dạng giao tiếp của con người sau này
- Tôn trọng nhịp sinh học Trẻ phải được bú sữa khi thực sự đói và phải được ngủ khi thực sự cần ngủ Người lớn cần tránh can thiệp một cách thô bạo vào nhịp thời gian
Trang 33đặc thù của trẻ sơ sinh nếu không muốn dẫn đến những phản ứng tiêu cực của trẻ cũng như những khó khăn trong mối liên hệ giữa trẻ và cha mẹ
- Trật tự mà mọi việc được thực hiện Trẻ cần thiết lập những mối liên hệ cho đời sống mới của mình và chuyển từ môi trường này sang môi trường khác mà không phải chịu
sự sang chấn Những hoạt động chăm sóc trẻ được lặp đi lặp lại như cho trẻ ăn, thay tã cho trẻ cần phải được tiến hành ở một nơi chốn nhất định để làm nên những điểm gặp
gỡ quen thuộc của trẻ nhằm thúc đẩy mối liên hệ giữa trẻ với một người cụ thể nào đó
và tạo cơ hội cho trẻ dần làm quen với môi trường
- Không gian thích hợp để được tự do nhìn ngó và vận động Trẻ sơ sinh có tính chú ý
và năng lực tập trung rất cao Trẻ sơ sinh cũng có khả năng vận động dù còn rất chậm Nhưng nhìn chung, các loại giường dành cho trẻ vô tình hạn chế khả năng vận động và nhìn ngó của trẻ Quần áo cũng vậy, trẻ thường được quấn trong những loại quần áo như thể nhằm hạn chế sự vận động Khi trẻ tìm cách vận động như đã từng làm trong bụng mẹ nhưng nhận ra điều đó là không thể dẫn đến mọi kĩ năng vận động của trẻ dần biến mất
- Nhu cầu khám phá môi trường mới với tất cả các giác quan Chúng ta đã từng biết đến nguồn thông tin cảm giác phong phú của thai nhi Nhưng thật không may, khi được sinh ra trẻ thường phải bắt đầu một thời kì bị tước mất các thông tin cảm giác, khiến trẻ thấy nhàm chán, không hạnh phúc và cứ khóc để thu hút sự chú ý Chúng ta
có thể dễ dàng cung cấp những kích thích phong phú cho trẻ sơ sinh Không cần phải
có năng lực tài chính mà chỉ cần “những người đã được chuẩn bị” để hiểu trẻ và yêu trẻ là có thể mang lại cho trẻ những trải nghiệm quý giá Đây chính là cách giáo dục như sự “hỗ trợ cuộc sống” mà Montessori đã tận tâm cống hiến [19]
Theo Gorden Dryden & Jeannette Vos, hầu hết con người hiểu biết về thế giới này đều thông qua năm giác quan chính Ngay từ khi còn bé, trẻ đã mò mẫm, sờ mó, ngửi nếm, nghe và nhìn vào bất kì thứ gì xung quanh chúng [10, tr.191] Vì vậy, các bậc phụ huynh cần khuyến khích trẻ sử dụng các giác quan ngay từ ban đầu, càng sớm càng tốt
* Giai đoạn từ 3 đến 6 tuổi
Từ 3 đến 6 tuổi, quan hệ giữa trẻ và người lớn mang tính chất mới Trước kia người lớn cùng hoạt động với trẻ thì giờ trẻ phải thực hiện những nhiệm vụ độc lập
Trang 34theo chỉ dẫn của người lớn Ý thức về cái tôi được tăng cường và củng cố Chơi thành hoạt động chủ đạo
Khoảng 4 tuổi ở trẻ bắt đầu diễn ra một bước ngoặt cơ bản về tư duy: từ trực quan - hành động chuyển dần sang kiểu trực quan - hình tượng
Khi 5 - 6 tuổi, ngôn ngữ của trẻ phát triển mạnh, đạt chất lượng cao về phát âm, vốn từ và các hình thức ngữ pháp [38]
Tuổi mẫu giáo, nhân cách của trẻ đã thực sự bắt đầu hình thành như tự khẳng định, tự ý thức, cảm xúc, ý chí…“Cái tôi” của trẻ đã bắt đầu hình thành từ 3 tuổi, trong suốt tuổi mẫu giáo “cái tôi” phát triển mạnh và dần trở thành ý thức về bản thân Trẻ một mặt ngày càng tách mình ra khỏi người lớn, mặt khác muốn bắt chước để xử sự như người lớn Cuối tuổi mẫu giáo đứa trẻ nhận thức mình là một thành viên của xã hội Ðây là bước phát triển quan trọng trong sự hình thành nhân cách của trẻ
Những đặc điểm phát triển về tâm lí, nhân cách của trẻ em trong tuổi mẫu giáo đánh dấu một bước mới về chất so với tuổi vườn trẻ trước đó Đặc điểm trí tuệ, đặc điểm về nhân cách cho phép trẻ trở thành một thành viên độc lập trong cộng đồng, xã hội Với điều kiện sống và giáo dục phù hợp, trẻ cuối tuổi mẫu giáo đã có đủ những yếu tố sẵn sàng tham gia vào cộng đồng mới như một thành viên độc lập
Những phân tích về đặc điểm tâm lí của trẻ giai đoạn từ 0 – 6 tuổi trên đây đã cho thấy khả năng học hỏi của trẻ rất lớn, ngay từ trong bào thai trẻ đã có khả năng này Đặc biệt, nhu cầu được giáo dục từ cha mẹ qua các hoạt động chăm sóc, vui chơi thể hiện rõ ở tất cả các thời kì của giai đoạn từ 0 – 6 tuổi Khi nghiên cứu một cách sâu sắc và toàn diện về đời sống tâm lí của trẻ, chúng ta nhận thấy sự hiểu biết của cha mẹ
có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự chăm sóc, giáo dục trẻ trong những năm đầu đời
Trang 35Gần một tuổi, trọng lượng não của trẻ lớn gấp hai lần lúc mới sinh
Khi trẻ được 3 tuổi, số lượng tế bào thần kinh đạt đến mức cao nhất vào khoảng
14 tỉ tế bào, khi đó trọng lượng của não đã đạt 80% so với người trưởng thành
Sau ba tuổi, các tế bào thần kinh không được sinh ra thêm mà chỉ hoàn thiện dần về chức năng và cấu trúc
Tác giả Gesell từng nói: Trước 6 tuổi, đại não gần như phát triển hoàn thiện, nếu để lỡ khoảng thời gian này về sau, trí não, tính cách và tâm hồn con người vĩnh viễn không bao giờ có được cơ hội tốt như thế để xây dựng nền tảng cơ sở cho sự phát triển cả về thể chất lẫn tinh thần [33, tr.45]
Ngày nay chúng ta không mấy khó khăn khi tìm kiếm thông tin về sự phát triển của hệ thần kinh con người trong giai đoạn từ 0 - 6 tuổi Nhiều kết quả nghiên cứu đều cho rằng: những năm đầu đời là giai đoạn duy nhất để não bộ sinh trưởng, phát triển và hoàn thiện Nhưng nếu những năm đầu đời có vai trò quan trọng như vậy thì phải chăng chúng ta cứ việc gieo vào đời những phôi thai và chờ đợi những mầm sống xuất hiện rồi tiếp tục chờ đợi để não bộ sinh trưởng và hoàn thiện? Dĩ nhiên không Kết quả nói trên không phải là điểm kết thúc mà là một điểm bắt đầu
Điều quan trọng, các nghiên cứu còn chỉ rõ rằng, một bộ não thông minh và hiệu quả không phải do số lượng các tế bào thần kinh hay trọng lượng của não quyết định, mà là sự kết nối các tế bào thần kinh đó Cấu trúc não người có tới 100 tỉ tế bào thần kinh, trong đó tế bào ở lớp vỏ đại não chiếm tới 14 tỉ Khi trẻ vừa chào đời, mặc
dù số lượng tế bào não đã tương đối đầy đủ, nhưng kích thước các tế bào não còn nhỏ, các sợi nhánh và sợi trục thần kinh vẫn chưa phát triển nhiều, chưa có thông tin truyền qua giữa các tế bào não, mỗi tế bào não đứng riêng rẽ độc lập Chỉ sau khi được tiến hành giáo dục một cách phong phú đa dạng, chịu sự kích thích thông tin từ thế giới bên ngoài, tế bào não mới có thể phát triển, các khớp nối và các sợi thần kinh nhánh bắt đầu phát triển, dần dần chúng liên thông với nhau hình thành các con đường truyền tải thông tin, vì vậy hoạt động tâm sinh lí ngày càng trở nên phong phú đa dạng hơn
Những mối kết nối mang tính giải phẫu (các nhánh dendrite và các sợi trục axon) đã bắt đầu phát triển trong bụng mẹ, đặc biệt sẽ phát triển nhanh ngay sau khi sinh Chúng tạo nên cấu trúc cơ bản của tâm trí Các thông tin trong tương lai sẽ được
Trang 36xử lí bởi mạng lưới cơ bản này Nhưng cấu trúc cơ bản này lại phụ thuộc vào nguồn thức ăn dành cho tâm trí – thức ăn dành cho tâm trí chính là nguồn thông tin từ thế giới bên ngoài – chất liệu mà trẻ sử dụng để xây dựng nên chương trình cá nhân cơ bản của mình "Chính từ những chất liệu đầu tiên này mà những đường mòn thần kinh đã được thiết lập và những cấu trúc liên kết cơ bản của bộ não được hoàn thiện" Hiểu được điều này, chắc chắn chúng ta sẽ cảm thấy trách nhiệm và sự thôi thúc hằng ngày phải cung cấp cho trẻ những thức ăn đúng đắn dành cho tâm trí như chúng ta đã nỗ lực một cách vô điều kiện trong việc tạo ra những thức ăn ngon nhất để phát triển thể chất của trẻ [19]
Bộ não là một cơ quan kì diệu với tiềm năng vô hạn Nhưng về cách thức cũng như khả năng học tập, nhận thức ở trẻ em có gì khác với người lớn; và sự khác biệt đó
có nói với chúng ta điều gì liên quan đến việc giáo dục và phát triển tiềm năng của trẻ hay không?
Ở người lớn chúng ta, việc thực thi những công việc khác nhau được chuyên biệt hóa bởi những bán cầu não khác nhau và được tiến hành với những nỗ lực nhất định Nhưng trong những năm đầu đời, mọi hoạt động học tập đều diễn ra theo một phương thức đặc biệt Mọi thông tin từ môi trường bên ngoài đều được tiếp nhận, xử lí
và lưu trữ lại trong những tế bào não và không cần nỗ lực, nó sử dụng dạng thẩm thấu
vô thức (chúng ta thấy trẻ em dễ dàng học thứ ngôn ngữ được nói ở xung quanh mình như thế nào mới thấy hết sự kì diệu của dạng trí tuệ này), điều mà Maria Montessori gọi là trí tuệ thẩm thấu, GS Phùng Đức Toàn thì gọi đó là việc học tập vô thức
Đây là sự trợ giúp lớn lao mà tự nhiên trao cho những em bé Sự trợ giúp này của tự nhiên sẽ mang đến một kết quả lớn hơn bội phần nếu trẻ em tiếp tục nhận được
sự hợp tác và trợ giúp của người lớn với tình yêu và sự hiểu biết
1.2.4.3 Vai trò của giáo dục sớm
Giai đoạn từ 0 – 6 tuổi là thời kì vàng Theo chuyên gia giáo dục người Trung Quốc Ngô Hải Khê, trẻ trong giai đoạn này giống như loài hải miên (bọt biển) đói khát, sẽ hấp thu toàn bộ những gì mà chúng được tiếp xúc Vì vậy, việc giáo dục sớm
có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của trẻ
Trang 37- Giúp kích thích chức năng não bộ của trẻ phát triển trong thời kì sinh trưởng tốt nhất
Thai nhi vốn đã có sự phân chia thành hàng tỉ tế bào não Các tế bào não này chỉ còn đợi sự kích thích để tạo ra một mạng lưới chức năng cho phép trẻ nhìn, nghe, cảm nhận, nếm, ngửi và các kinh nghiệm giúp phát triển quá trình vận động, ngôn ngữ Ngoài ra, hàng tỉ tế bào não đã hình thành ngay từ lúc trẻ lọt lòng Tuy nhiên, chỉ những tế bào nào sớm được sử dụng, kích thích bằng các biện pháp thường xuyên, liên tục và mạnh mẽ thì mới được củng cố, trở thành mối liên kết thần kinh lâu dài, thực hiện chức năng của các chu trình hay mạng lưới quan trọng Những tế bào não không được sử dụng hiệu quả đều “trơ lì”, có nghĩa là nếu không được dùng đến, các tế bào
đó đều chết đi Nói đơn giản, não bộ phát triển nhờ được sử dụng, một người chỉ có hai lựa chọn “sử dụng hoặc đánh mất tế bào não” (Xem hình tại P15) Theo Glenn Doman, có thể đẩy nhanh quá trình phát triển của bộ não bằng cách tăng cường độ kích thích vào bất cứ giai đoạn nào trong đời, nhưng hiệu quả hơn cả là giai đoạn não
bộ phát triển nhanh nhất: 6 năm đầu đời [9]
Một trong những phát hiện khoa học quan trọng nhất của thời đại chúng ta là phát hiện về tính mềm dẻo của hệ thần kinh con người, là một nghiên cứu đột phá trong khoa học thần kinh, qua đó chứng minh rằng não có khả năng thay đổi, cấu trúc lại hoạt động và liên kết các neuron để đáp ứng với sự tương tác của môi trường Do vậy việc rèn luyện kích thích phát triển trí não bằng một hệ thống các bài tập được thiết kế đặc biệt nhằm tăng cường nhanh chóng các kết nối thần kinh qua đó các neuron kết nối mạnh hơn, nhanh hơn và tương tác hiệu quả hơn Khoa học hiện đại đã chứng minh, trước 6 tuổi, đại não đã phát triển tương đối hoàn thiện và có “tính dẻo” cao nhất Do đó, giai đoạn 0 đến 6 tuổi là cơ hội tốt nhất để xây dựng cho trẻ nền tảng phát triển cả về thể chất lẫn tinh thần Hệ thần kinh con người có tính dẻo, và sự dẻo nhất nằm trong giai đoạn 0 đến 6 tuổi Vì vậy nếu bỏ lỡ điều này vì bất kì lí do nào cũng là một điều đáng tiếc, vì cơ hội khắc phục sẽ trở nên vô cùng khó khăn
Hai giáo sư người Thụy Điển Hiding và Langhe sau khi tiến hành quan sát, thực hiện các thí nghiệm khoa học đã kết luận: “Nếu rèn luyện trẻ ngay từ khi còn nhỏ để
Trang 38kích thích các tế bào não, từ đó có thể tạo ra những tế bào não có chất lượng cao, bồi dưỡng nên những con người thông minh” [36, tr.36]
Mặt khác, khi còn nhỏ, mỗi một vùng não của con người đều trải qua thời kì rất
dễ thay đổi, đó là thời kì mà não rất nhạy cảm với những kích thích đến từ bên ngoài Nếu một con chuột nhỏ bị bịt một mắt ngay từ khi nó vừa ra đời thì mạng thần kinh nối con mắt đó với vỏ não thị giác sẽ bị hư mãi mãi Cũng thế, một em bé nếu không được học nói từ lúc sinh ra cho tới khi trưởng thành thì sẽ bị câm, không nói được nữa [4, tr.35]
Như vậy, trong những năm đầu đời, não bộ rất nhạy cảm với các kích thích từ bên ngoài Làm thế nào để kích thích não bộ phát triển tốt, nhanh và hoàn thiện sớm nhất?
Nuôi dưỡng não bộ bằng hai loại dinh dưỡng đặc biệt là trong giai đoạn từ 0 đến 6 tuổi Một là dinh dưỡng từ thực phẩm với chế độ ăn hợp lí, toàn diện và đầy đủ các chất dinh dưỡng Hai là dinh dưỡng về mặt tinh thần, các kích thích có chọn lọc từ bên ngoài Cả hai loại dinh dưỡng này đều có ý nghĩa quan trọng như nhau đối với sự sinh trưởng của não bộ
- Giúp khai mở tiềm năng của trẻ tốt nhất
Tại sao quá trình phát triển từ một thực thể sống với những tế bào đơn thành một dạng vật chất phức tạp và cao cấp nhất – bộ não của con người, giới tự nhiên phải trải qua quá trình tiến hóa hàng tỉ năm trong khi sự kết hợp giữa các tế bào của tinh trùng và trứng (cũng là các tế bào đơn bào) trong bụng mẹ chỉ mất khoảng 9 tháng để hình thành và phát triển não bộ? Giáo sư Phùng Đức Toàn cho rằng, do trong tế bào của tinh trùng và trứng có chứa tiềm năng vĩ đại được di truyền ở loài người Và vì sao
để tổ tiên động vật của chúng ta tiến hóa thành con người hiện đại, giới tự nhiên cũng phải mất hàng triệu năm, vậy mà từ một đứa trẻ có trình độ tâm lí động vật phát triển thành một thiếu niên có trí tuệ hiện đại lại chỉ cần vỏn vẹn thời gian mười mấy năm?
Sự phát triển khả năng trí tuệ của trẻ nhỏ tại sao chỉ cần một thời gian ngắn như vậy
mà đã đi hết chặng đường dài tiến hóa từ động vật thành con người của giới tự nhiên? Cũng theo Giáo sư Phùng Đức Toàn, đó là vì trong mỗi đứa trẻ đều có chứa trí tuệ của nhân loại được di truyền từ đời này sang đời khác và cho tới ngày nay Nếu chúng ta
Trang 39không hiểu và không khai thác hết tiềm năng vĩ đại đó, chúng ta không chỉ mang tội với chính giọt máu của mình mà còn có lỗi với tổ tiên nòi giống Sau khi nghiên cứu các nhà khoa học kinh ngạc, thốt lên rằng: “Khả năng tiềm ẩn của con người thật to lớn biết bao nhiêu, đáng buồn là phần lớn các tế bào thần kinh trong não bộ không được vận động ngay từ sớm, do đó, về sau khó có thể phát huy chức năng của nó Đây quả là một điều đáng tiếc cho nhân loại!” [36, tr.38]
Có thể nói, những tiến bộ trong ngành nghiên cứu về não bộ, đặc biệt là bộ não của trẻ thơ đã đưa ta đến một niềm tin chắc chắn rằng tiềm năng vô hạn của con người
sẽ không được khai mở tối ưu nếu ngay từ những năm đầu đời không nhận được một
sự giáo dục có tính khoa học
Trong cuốn “Sự thật về ba năm đầu đời của trẻ” bác sĩ Silvana Quattrocchi Montanaro đã đưa ra một so sánh về tầm quan trọng của sự giáo dục trong những năm đầu đời Bà cho rằng trong những năm đầu đời, mỗi con người sẽ tự xây dựng nên chương trình cơ bản của mỗi cá nhân để sử dụng trong suốt phần đời còn lại Cũng như chiếc máy tính, chương trình cơ bản (phần cứng) này cần được xây dựng chính xác và đa dạng nhất có thể nhằm cung cấp một phạm vi nền rộng nhất cho mọi thứ chúng ta muốn làm Trong lĩnh vực ngôn ngữ, vốn từ vựng và tính chính xác trong phát âm cùng ngữ pháp sẽ phụ thuộc hoàn toàn vào “loại ngôn ngữ” mà trẻ có cơ hội được nghe trong những năm đầu đời Điều tương tự cũng diễn ra trong những lĩnh vực phát triển khác ở trẻ Bà khẳng định thêm: “Các nhà giáo dục vẫn chưa ý thức được về hàng trăm tỉ tế bào não hiện diện trong não bộ của những em bé sơ sinh và họ có xu hướng nghi ngờ tính cấp bách của việc thúc đẩy não bộ làm việc ngay lập tức” [19, tr.139]
Ngoài ra, tỉ lệ trao đổi chất trong não bộ của trẻ trong những năm đầu rất cao Trẻ khi mới ra đời có số lượng các tế bào liên kết thần kinh trong não chỉ bằng một phần mười so với người lớn và thông qua những trải nghiệm phong phú đa dạng trong cuộc sống sau này, khi trẻ khoảng 2, 3 tuổi, số lượng này đã tăng gấp 20 lần
Mặt khác, theo thời gian, một số lượng lớn các tế bào liên kết sẽ giảm tốc độ xử
lí thông tin của não bộ, những tế bào liên kết nhỏ bé không cần thiết sẽ bắt đầu loại bỏ khi trẻ được khoảng 21 tháng tuổi, chỉ còn một vài khu vực có kinh nghiệm tiếp nhận
Trang 40thông tin, cũng chính là những liên kết thần kinh đã từng sử dụng qua mới có thể tồn tại được Nói cách khác, nếu những kích thích ở bên ngoài mà trẻ tiếp nhận càng phong phú, thì số lượng tế bào liên kết trong não bộ sẽ càng nhiều! Do đó, sự phát triển trí lực, khả năng học tập trong giai đoạn này rất nhanh thậm chí còn vượt xa cả người trưởng thành [15, tr.20]
Theo giáo sư Perla D Santos – Ocampo, trẻ em khi sinh ra đều có những tiềm năng nổi trội nhất định, nhưng sau này trẻ trở nên như thế nào phụ thuộc vào cách mà trẻ được chăm sóc, đặc biệt là từ lúc còn là thai nhi đến những năm đầu đời của trẻ [33, tr.45] Chăm sóc và đảm bảo cho trẻ có môi trường sống hữu ích để phát triển tiềm năng là điều không dễ dàng, nhưng cha mẹ nên cố gắng tạo đủ điều kiện giúp trẻ phát triển đầy đủ mọi mặt trong cuộc sống tinh thần và thể chất
Những năm đầu đời, trí tuệ và tâm hồn trẻ có một khả năng thẩm thấu kì diệu, điều mà nhà khoa học Maria Montessorri đã “giải phẫu” rất tinh tế trong cuốn “Sức thẩm thấu của tâm hồn” rằng, trí tuệ của trẻ giống như miếng bọt biển, có thể thấm hút tất cả những gì xung quanh Một số tác giả khác thì gọi đó là cơ chế học tập trong vô thức Nghĩa là trẻ học một cách tự nhiên, không cần cố gắng
Chúng ta đều có thể cảm nhận được sự khó khăn, thậm chí gian nan thế nào khi phải học một ngôn ngữ mới ở tuổi trưởng thành Nhiều người thành công với không ít
nỗ lực, nhưng cũng không ít người bỏ cuộc giữa chừng Vậy mà trẻ em, dường như chúng không cần một nỗ lực nào để có thể sử dụng thành thạo, với sự chính xác đến không ngờ, thứ ngôn ngữ mà các em có cơ hội được nghe trong những năm đầu đời
“Bản chất và tính cách con người dường như được hình thành trong 5 năm đầu đời 5 năm ấy cũng chỉ đơn thuần là những ngày tháng, nó chẳng thấm tháp gì đối với