Thực trạng tổ chức hoạt động vui chơi ngoài trời cho trẻ mẫu giáo ở một số trường mầm non tại thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp (Luận văn thạc sĩ)Thực trạng tổ chức hoạt động vui chơi ngoài trời cho trẻ mẫu giáo ở một số trường mầm non tại thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp (Luận văn thạc sĩ)Thực trạng tổ chức hoạt động vui chơi ngoài trời cho trẻ mẫu giáo ở một số trường mầm non tại thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp (Luận văn thạc sĩ)Thực trạng tổ chức hoạt động vui chơi ngoài trời cho trẻ mẫu giáo ở một số trường mầm non tại thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp (Luận văn thạc sĩ)Thực trạng tổ chức hoạt động vui chơi ngoài trời cho trẻ mẫu giáo ở một số trường mầm non tại thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp (Luận văn thạc sĩ)Thực trạng tổ chức hoạt động vui chơi ngoài trời cho trẻ mẫu giáo ở một số trường mầm non tại thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp (Luận văn thạc sĩ)Thực trạng tổ chức hoạt động vui chơi ngoài trời cho trẻ mẫu giáo ở một số trường mầm non tại thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp (Luận văn thạc sĩ)Thực trạng tổ chức hoạt động vui chơi ngoài trời cho trẻ mẫu giáo ở một số trường mầm non tại thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Lê Thị Bích Vân
THỰC TRẠNG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI NGOÀI TRỜI CHO TRẺ
MẪU GIÁO Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON TẠI THÀNH PHỐ CAO LÃNH, ĐỒNG THÁP
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Lê Thị Bích Vân
THỰC TRẠNG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI NGOÀI TRỜI CHO TRẺ
MẪU GIÁO Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON TẠI THÀNH PHỐ CAO LÃNH, ĐỒNG THÁP
Chuyên ngành : Giáo dục học (Giáo dục Mầm non)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN ĐỨC DANH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi Các thông tin, số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng,
cụ thể Kết quả nghiên cứu trong luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây
Tác giả
Lê Thị Bích Vân
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Kính gửi quý Thầy – Cô, đồng nghiệp, bạn bè và người thân!
Tôi xin ghi lại đây lời cảm ơn chân thành, sâu sắc đến sự hỗ trợ, giúp đỡ, động viên của mọi người để tôi hoàn thành được luận văn cao học
Cảm ơn TS Nguyễn Đức Danh đã dành thời gian quý báu, sắp xếp muôn vàn công việc để định hướng, chỉ bảo cho đề tài, và dạy tôi tính cẩn thận khi làm nghiên cứu Cảm ơn Thầy đã luôn rộng lượng, nhiệt tình, xây dựng cho tôi lòng
tự tin để trình bày quan điểm cá nhân
Cảm ơn quý Thầy – Cô đã dạy các học phần để tôi tích lũy giá trị không chỉ cho luận văn mà còn trong công việc và cuộc sống
Cảm ơn quý Thầy – Cô phụ trách Khoa và Phòng Sau Đại học đã có những công tác hỗ trợ để tôi hoàn thành khóa học và luận văn
Cảm ơn Thư viện trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh, Thư viện trường Cao đẳng Mẫu giáo Trung Ương III và Thư viện trường Đại học Đồng Tháp đã trang bị nhiều tài liệu tham khảo quý giá cho đề tài
Cảm ơn Thầy Phạm Văn Tặc – giảng viên khoa Sư phạm Ngoại Ngữ trường Đại học Đồng Tháp đã hỗ trợ dịch thuật các nội dung
Cảm ơn Thầy Nguyễn Văn Cảnh – chuyên viên phòng Khảo thí và Đảm bảo chất lượng trường Đại học Đồng Tháp đã hướng dẫn, hỗ trợ sử dụng phần mềm SPSS và các kỹ thuật tin học khác
Cảm ơn Sở GD & ĐT Đồng Tháp, cùng quý Cô các trường MN trong TP Cao Lãnh đã tạo điều kiện để tôi được thực hiện nghiên cứu tại cơ sở
Cảm ơn gia đình, bạn bè và những đồng nghiệp luôn là nguồn động viên tinh thần cho tôi
Chân thành tri ân tất cả!
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2017
Tác giả
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI NGOÀI TRỜI CHO TRẺ MẪU GIÁO 9
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 9
1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới 9
1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 14
1.2 Hệ thống các khái niệm 16
1.2.1 Vui chơi ngoài trời 16
1.2.2 Tổ chức HĐVCNT 19
1.2.3 Trẻ mẫu giáo 20
1.3 Lý luận về HĐVCNT 20
1.3.1 Giá trị của HĐVCNT 20
1.3.2 Các loại trò chơi 25
1.4 Tổ chức hoạt động vui chơi ngoài trời 26
1.4.1 Mục tiêu tổ chức HĐVCNT 26
1.4.2 Nguyên tắc tổ chức HĐVCNT 27
1.4.3 Nội dung tổ chức HĐVCNT 28
1.4.4 Hình thức tổ chức HĐVCNT 29
1.4.5 Môi trường HĐVCNT 29
1.4.6 Vai trò giáo viên với HĐVCNT 36
1.4.7 Trẻ MG với HĐVCNT 42
1.4.8 Kết quả HĐVCNT 43
Chương 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI NGOÀI TRỜI CHO TRẺ MẪU GIÁO Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON TẠI THÀNH PHỐ CAO LÃNH, ĐỒNG THÁP 46
Trang 6đối với HĐVCNT 46
2.2 Tình hình Giáo dục MN trên địa bàn TP Cao Lãnh 47
2.2.1 Quy mô trường, lớp, số lượng trẻ bậc học MN tại TP Cao Lãnh 47
2.2.2 Số lượng và chất lượng đội ngũ CBQL và GV ở các trường MN tại TP Cao Lãnh 47
2.3 Thực trạng tổ chức HĐVCNT cho trẻ MG ở một số trường MN tại TP Cao Lãnh, Đồng Tháp 50
2.3.1 Mục đích nghiên cứu thực trạng 50
2.3.2 Phạm vi nghiên cứu 50
2.3.3 Mô hình nghiên cứu thực trạng 52
2.3.4 Quy trình nghiên cứu thực trạng 53
2.3.5 Phương pháp nghiên cứu 54
2.3.6 Đánh giá độ tin cậy thang đo 58
2.3.7 Kết quả nghiên cứu thực trạng tổ chức hoạt động vui chơi ngoài trời cho trẻ mẫu giáo ở một số trường mầm non tại thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp 60
Chương 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP CẢI TIẾN CÔNG TÁC TỔ CHỨC HĐVCNT CHO TRẺ MẪU GIÁO Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MN TẠI TP CAO LÃNH, ĐỒNG THÁP 120
3.1 Các quan điểm đề xuất biện pháp 120
3.1.1 Đảm bảo tính hệ thống – cấu trúc 120
3.1.2 Đảm bảo tính kế thừa và phát triển 120
3.1.3 Đảm bảo tính khả thi 120
3.2 Đề xuất biện pháp 121
3.2.1 Bộ biện pháp xây dựng MT xã hội cho HĐVCNT 121
3.2.2 Bộ biện pháp xây dựng MT vật chất ngoài trời 128
3.2.3 Bộ biện pháp hỗ trợ phát triển năng lực GV trong tổ chức HĐVCNT 121
3.3 Khảo nghiệm biện pháp 131
3.3.1 Phương pháp khảo nghiệm 132
3.3.2 Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của bộ biện pháp 133
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 143
TÀI LIỆU THAM KHẢO 146 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Thống kê quy mô trường, lớp, học sinh bậc học MN tại TP Cao Lãnh 47
Bảng 2.2 Tổng hợp trình độ đội ngũ CBQL ở các trường MN tại TP Cao Lãnh 47
Bảng 2.3 Tổng hợp trình độ đội ngũ GV ở các trường MN Tp Cao Lãnh 49
Bảng 2.4 Tổng hợp một số thông tin cơ bản của các trường nghiên cứu 50
Bảng 2.5 Thông tin về giáo viên các trường nghiên cứu 51
Bảng 2.6 Cấu trúc bảng hỏi 54
Bảng 2.7 So sánh nhận thức về mục tiêu tổ chức HĐVCNT 60
Bảng 2.8 Thống kê nhận thức về vai trò HĐVCNT đối với sự phát triển trẻ MG 61
Bảng 2.9 Thống kê việc thực hiện nguyên tắc lấy trẻ làm trung tâm 63
Bảng 2.10 So sánh việc thực hiện nguyên tắc lấy trẻ làm trung tâm 65
Bảng 2.11 So sánh việc thực hiện nguyên tắc tích hợp GD trong HĐVCNT 67
Bảng 2.12 Thống kê ý kiến GV về vai trò của MT đối với HĐVCNT 69
Bảng 2.13 Thống kê giá trị trung bình mức độ thực hiện nội dung chơi NT 71
Bảng 2.14 So sánh giá trị trung bình mức độ tổ chức các nội dung chơi NT 73
Bảng 2.15 Thống kê việc lựa chọn hình thức HĐVCNT 74
Bảng 2.16 So sánh việc chọn hình thức tổ chức HĐVCNT 75
Bảng 2.17 Thống kê giá trị trung bình sự phối hợp của phụ huynh 77
Bảng 2.18 So sánh sự phối hợp giữa phụ huynh trường CL và NCL 78
Bảng 2.19 Thống kê giá trị trung bình thực hiện công tác quản lý HĐVCNT 79
Bảng 2.20 So sánh về việc thực hiện công tác quản lý HĐVCNT 81
Bảng 2.21 Thống kê giá trị trung bình ý kiến GV về sân chơi 82
Bảng 2.22 So sánh ý kiến GV về sân chơi 82
Bảng 2.23 Thông tin về sân chơi các trường khảo sát 83
Bảng 2.24 Thống kê mức độ sử dụng sân chơi trong và ngoài khuôn viên trường 83
Bảng 2.25 Thống kê ý kiến GV về vật liệu chơi NT 85
Bảng 2.26 So sánh ý kiến GV về vật liệu chơi NT 85
Bảng 2.27 Thống kê số lượng đồ chơi NT ở các trường khảo sát 86
Bảng 2.28 Thống kê mức độ trung bình ý kiến GV về góc chơi 87
Trang 9Bảng 2.30 Thống kê góc chơi NT ở các trường khảo sát 88
Bảng 2.31 Trung bình các công việc của GV trong quá trình tổ chức HĐVCNT 90
Bảng 2.32 So sánh việc lập kế hoạch chơi ngoài trời 93
Bảng 2.33 So sánh việc chuẩn bị sân chơi 95
Bảng 2.34 Thống kê về thời điểm chơi NT 98
Bảng 2.35 So sánh giá trị trung bình việc quan sát trẻ 100
Bảng 2.36 So sánh việc hỗ trợ trẻ giải quyết những bất hòa 102
Bảng 2.37 Kết quả quan sát GV giải quyết những bất hòa khi trẻ chơi 103
Bảng 2.38 So sánh việc chơi cùng trẻ giữa GV trường CL và NCL 104
Bảng 2.39 So sánh giá trị trung bình việc GV hỗ trợ trẻ trong HĐVCNT 105
Bảng 2.40 So sánh việc GV ghi chép lại các HĐVCNT 107
Bảng 2.41 Thống kê mức độ trung bình các nội dung GV đánh giá trẻ 108
Bảng 2.42 So sánh mức độ trung bình các nội dung GV đánh giá trẻ 109
Bảng 2.43 Thống kê ý kiến tự nhận xét của GV trong công tác tổ chức HĐVCNT110 Bảng 2.44 So sánh ý kiến GV tự nhận xét trong công tác tổ chức HĐVCNT 111
Bảng 2.45 Thống kê đánh giá ước lượng về năng lực GV trong HĐVCNT 112
Bảng 2.46 Thống kê giá trị trung bình ý kiến GV về trẻ trong HĐVCNT 113
Bảng 2.47 So sánh sự sáng tạo của trẻ trong HĐVCNT giữa trường CL và NCL 114 Bảng 2.48 So sánh sự khác biệt của trẻ trong HĐVCNT giữa các nhóm tuổi 114
Bảng 2.49 Sự khác biệt của trẻ giữa các nhóm tuổi 115
Bảng 3.1 Biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý HĐVCNT 125
Bảng 3.2 Biện pháp nâng cao hiệu quả phối hợp PH trong HĐVCNT 127
Bảng 3.3 Biện pháp xây dựng MT vật chất ngoài trời 129
Bảng 3.4 Biện pháp hỗ trợ kiến thức HĐVCNT 122
Bảng 3.5 Biện pháp hỗ trợ phát triển kỹ năng tổ chức HĐVCNT 123
Bảng 3.6 Kết quả khảo nghiệm biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý HĐVCNT 135 Bảng 3.7 Kết quả khảo nghiệm biện pháp nâng cao hiệu quả phối hợp PH trong 137 Bảng 3.8 Kết quả khảo nghiệm biện pháp xây dựng MT vật chất ngoài trời 139
Bảng 3.9 Kết quả khảo nghiệm biện pháp hỗ trợ kiến thức HĐVCNT 133
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Sơ đồ về mối quan hệ biện chứng giữa các thành tố của HĐGD 44
Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu thực trạng 52
Hình 2.2 Sơ đồ quy trình nghiên cứu thực trạng 53
Hình 2.3 Thống kê nhận thức về mục tiêu tổ chức HĐVCNT 60
Hình 2.4 So sánh việc thực hiện nguyên tắc lấy trẻ làm trung tâm 65
Hình 2.5 Mức độ thực hiện nguyên tắc tích hợp GD trong HĐVCNT 66
Hình 2.6 So sánh mức độ thực hiện nguyên tắc tích hợp GD 67
Hình 2.7 So sánh việc lựa chọn hình thức tổ chức HĐVCNT 76
Hình 2.8 Thống kê mức độ lập kế hoạch chơi NT 92
Hình 2.9 So sánh mức độ lập kế hoạch chơi NT 93
Hình 2.10 Thống kê mức độ chuẩn bị sân chơi 94
Hình 2.11 So sánh mức độ việc chuẩn bị sân chơi 96
Hình 2.12 Thống kê thời lượng tổ chức HĐVCNT 97
Hình 2.13 Thống kê mức độ thực hiện việc quan sát trẻ khi chơi 99
Hình 2.14 So sánh mức độ quan sát trẻ khi chơi NT 100
Hình 2.15 Thống kê mức độ thực hiện hòa giải 101
Hình 2.16 Thống kê mức độ GV chơi cùng trẻ trong HĐVCNT 104
Hình 2.17 Thống kê mức độ GV ghi chép lại thông tin buổi chơi của trẻ 106
Hình 2.18 So sánh mức độ GV ghi chép các HĐVCNT 107
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Vui chơi được xác định là hoạt động chủ đạo của trẻ mầm non, gây ra những biến đổi về chất trong tâm lí, chi phối toàn bộ đời sống tâm lí và các dạng hoạt
động khác như “học tập”, “lao động” [25]
Vai trò của vui chơi được vô số nhà nghiên cứu như Frued, Frobel, Dewey, Piaget, Vugotxki,… chứng minh có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển của trẻ Chơi là bản năng tự nhiên, là cuộc sống của trẻ, tổ chức vui chơi là tổ chức đời sống cho trẻ Do đó, chơi được xem như là phương tiện, phương pháp và là hình thức GD trẻ hiệu quả [11] Chương trình GD mầm non ban hành năm 2009 và vừa sửa đổi, bổ
sung năm 2017 đều khẳng định “Đối với GD mẫu giáo, phương pháp GD phải tạo
điều kiện cho trẻ được trải nghiệm, tìm tòi, khám phá MT xung quanh dưới nhiều hình thức đa dạng, đáp ứng nhu cầu hứng thú của trẻ theo phương châm chơi mà học, học bằng chơi” [4] Bêdêđốp cho biết “Nếu trong “giờ học” cô giáo sử dụng các phương pháp, biện pháp chơi hoặc tiến hành học dưới hình thức trò chơi thì sẽ đáp ứng được nhu cầu và phù hợp với đặc điểm của trẻ và tất nhiên hiệu quả học của trẻ sẽ cao hơn”
[11]
Hơn hết, vui chơi là quyền của trẻ em, được quy định trong Công ước quốc tế, điều 31 như sau:
“Các quốc gia thành viên công nhận quyền của trẻ em được nghỉ ngơi và giải
trí, tham gia chơi và các hoạt động giải trí phù hợp với tuổi của trẻ và tự do tham gia vào đời sống văn hóa và nghệ thuật
Các quốc gia thành viên phải tôn trọng và thúc đẩy các quyền của trẻ em tham gia đầy đủ trong đời sống văn hóa, nghệ thuật và khuyến khích việc cung cấp các cơ hội phù hợp và bình đẳng cho các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, sáng tạo và giải trí”
Trang 12trẻ thừa cân, ít vận động, “ngộ độc phòng kín”, và căng thẳng với các hoạt động học
tập quá nhiều trong lớp
Richard Louv trong quyển sách The Last Child in the Woods đã cảnh báo tình trạng trẻ tăng cân, dành nhiều thời gian với thiết bị công nghệ hơn tham gia các hoạt động vận động ngoài trời là căn bệnh chung của xã hội hiện đại [47]
Theo báo cáo “Tình hình dinh dưỡng trẻ em đô thị Việt Nam” của BS.TS
Trương Hồng Sơn, Viện nghiên cứu Y-Xã hội học thì tỷ lệ thừa cân, béo phì là 4% (khoảng 300.000 trẻ) Theo đó, vẫn còn hơn 215.000 trẻ suy dinh dưỡng thấp còi và 86.000 trẻ suy dinh dưỡng nhẹ cân Tình trạng thừa cân béo phì ở một số thành phố lớn của Việt Nam ở mức cao so với trung bình của châu Á và các nước đang phát triển Tại TP Hồ Chí Minh, tỷ lệ thừa cân béo phì là 9.6%, cao hơn so với mức trung bình toàn cầu (khoảng 6.9%), còn tại vùng trung tâm thành phố là 12.2% [44] Số liệu tháng 9 2016 của Sở GD Đồng Tháp cho thấy, tại các trường mầm non trong thành phố Cao Lãnh, trẻ thừa cân là 186/4339 trẻ, chiếm tỉ lệ 4.2% ở khối công lập, và 127/890 trẻ, chiếm tỉ lệ 14.2% ở khối ngoài công lập [18]
Nắm bắt được nhu cầu của phụ huynh mong muốn con được “phát triển toàn
diện”, nhiều trường mầm non, đặc biệt là các trường mầm non ngoài công lập tổ chức
rất nhiều các lớp “năng khiếu” cho trẻ như tiếng Anh, vẽ, đàn, hát, thổi kèn, thổi sáo,
aerobic, múa, cờ vua, cờ vây, lớp toán, rèn chữ viết,… Xét ở khía cạnh nào đó, các lớp
học trên là bổ ích Nhưng nếu các “món ăn tinh thần” ấy diễn ra dày đặc và không có
sự tham gia hứng thú của trẻ thì trở nên “bội thực”, lợi bất cập hại
Vì nhiều lý do khác nhau, các kiến trúc nhà ở, trường học hiện đại có khuynh hướng sử dụng thiết bị điều hòa nhiệt độ Nếu sử dụng không đúng cách, trong thời gian lâu dài, sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe
Để giải quyết “căn bệnh thời đại”, trong báo cáo về lợi ích của hoạt động khám
phá ngoài trời của Úc (2008), các tác giả có nêu: hoạt động chơi ngoài trời giúp các em nâng cao về thể chất, tăng cơ hội trải nghiệm, trí óc linh hoạt, giảm cân, điều trị các rối loạn, thúc đẩy tích cực học tập Ngoài ra, vui chơi ngoài trời là hoạt động thay thế đầy hữu ích so với việc sử dụng các thiết bị điện tử như chơi game, xem ti vi, hay lướt web
Trang 13Các quốc gia có nền GD tiên tiến như Thụy Điển, Hàn Quốc, Mỹ… đều rất quan tâm đến hoạt động ngoài trời Ở Nhật, mỗi năm học, trẻ được tham gia rất nhiều hoạt động ngoại khóa như tham quan, dự các lễ hội ở địa phương, leo núi,… Thậm chí các quốc gia này còn tổ chức các trường mầm non ở rừng để trẻ được trải nghiệm hoạt động khám phá thiên nhiên [52], [53]
Có thể thấy, hoạt động vui chơi dù là trong lớp hay ngoài trời, đều đóng vai trò quan trọng đối với công tác giáo dục và trẻ mầm non
1.3 Tuy nhiên, trong những buổi đi thực tế ở trường mầm non tại địa phương, qua quan sát ban đầu, tác giả có một vài thắc mắc:
Thứ nhất, vì sao giáo viên lại cho trẻ ra sân lúc 9h, thậm chí là 9h30 và kéo dài hoạt động này đến hơn 10h khi mà thời tiết đã nắng rất gắt, trẻ đổ mồ hôi, mệt, nhăn
và đi tìm chỗ có bóng cây để trốn Liệu rằng, HĐ chơi ngoài trời có thể diễn ra sớm hơn?
Thứ hai, trong khi ở nhiều nước, sân trường hoàn toàn là cỏ xanh hoặc phủ cát thì tại sao bề mặt sân chơi ở trường MN của chúng ta lại phủ bê tông? Đã có nhiều trẻ, chỉ vì trong lúc hồn nhiên chạy giỡn, gặp chút tai nạn nhỏ mà bị chấn thương, bầm tím hoặc chảy máu, u đầu Vì sao bên dưới thang leo, cầu tuột không có lớp thảm hay cát nào để tránh nguy hiểm cho trẻ?
Thứ ba, khi trẻ chơi cùng nhau ở ngoài sân thì GV cũng nói chuyện cùng nhau
Đã có những lúc trẻ dùng bạo lực để xử lý tranh chấp chỗ chơi trong khi GV ngồi chụp
ảnh Vậy ra sân là giờ chơi của trẻ và cũng là giờ “ra chơi” của cô?
Thứ tư, trong một số hoàn cảnh, dù GV rất cố gắng tổ chức, kéo trẻ về với hoạt động của mình, tác giả vẫn bắt gặt rất nhiều những ánh mắt lo ra, không hứng thú của trẻ, thậm chí có trẻ chỉ muốn ngồi ở ghế đá chứ không muốn tham gia chơi cùng cô và các bạn
Cùng với những băn khoăn như thế, tác giả tự hỏi: Chơi có thật sự là niềm vui của trẻ? Chơi mang lại lợi ích hay những tổn thương cả về thể chất và tinh thần? Hay vấn đề là ở cách tổ chức của nhà sư phạm?
Vì những lý do trên, cộng với niềm đam mê cá nhân dành cho hoạt động vui
Trang 14ngoài trời cho trẻ mẫu giáo ở một số trường mầm non tại thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp” cho luận văn tốt nghiệp thạc sĩ Khoa học Giáo dục, chuyên ngành Giáo
dục học (mầm non) của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận liên quan đến đề tài làm cơ sở đánh giá thực trạng tổ chức HĐVCNT cho trẻ MG ở một số trường MN trên địa bàn TP Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp; từ đó đề xuất biện pháp cải tiến công tác tổ chức HĐVCNT ở một ở một số trường MN trên địa bàn TP Cao Lãnh, Đồng Tháp
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận có liên quan đến công tác tổ chức HĐVCNT cho trẻ mẫu giáo
- Khảo sát và đánh giá thực trạng tổ chức HĐVCNT cho trẻ MG ở một số trường MN trên địa bàn TP Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
- Đề xuất biện pháp nhằm cải tiến công tác tổ chức HĐVCNT cho trẻ MG ở một số trường MN trên địa bàn TP Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
- Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất
4 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
4.1 Giới hạn nghiên cứu
Đề tài tập trung khảo sát thực trạng nhận thức và thực hiện các thành tố của HĐVCNT gồm: mục tiêu, nguyên tắc, nội dung, hình thức, môi trường HĐ, chủ thể và đối tượng của HĐ, kết quả HĐ
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Thực hiện nghiên cứu 8 trường MN ở TP Cao Lãnh gồm:
- Bốn trường công lập: MN Sao Mai (Phường 3), MN Hoa Sữa (Phường 6), MN Hồng Gấm (Phường Hòa Thuận), MN Mỹ Phú (Phường Mỹ Phú)
- Bốn trường ngoài công lập: MN Vườn Tuổi Thơ (Phường 1), MN Tổ Ong Vàng (Phường 3), MN Ngôi Sao (Phường 4), MN Hoa Hồng (Phường 6)
Trang 155 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
5.1 Khách thể nghiên cứu
Công tác tổ chức HĐVCNT cho trẻ MG của GV ở một số trường MN trên địa bàn TP Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
5.2 Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng tổ chức HĐVCNT cho trẻ mẫu giáo ở một số trường MN trên địa bàn TP Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
6 Giả thuyết nghiên cứu
GV ở một số trường MN trên địa bàn TP Cao Lãnh có thể đã có nhận thức tốt
về công tác tổ chức HĐVCNT cho trẻ MG bao gồm mục tiêu, nguyên tắc, nội dung và hình thức tổ chức Tuy nhiên GV vẫn còn hạn chế về kỹ năng, chưa thấu hiểu sâu sắc việc chơi của trẻ hoặc gặp khó khăn về điều kiện môi trường nên đã tổ chức chưa có hiệu quả HĐVCNT Do đó, rất cần phải đánh giá chính xác thực trạng, tìm ra ưu nhược điểm trong tổ chức, phân tích được các nguyên nhân sẽ giúp đề xuất các biện pháp phù hợp, cải tiến được công tác tổ chức HĐVCNT ở địa phương
7 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp luận
7.1.1 Quan điểm hệ thống - cấu trúc
Quan điểm hệ thống - cấu trúc nghiên cứu hiện tượng một cách toàn diện, trên nhiều mặt, dựa vào việc phân tích đối tượng thành các bộ phận Nhờ đó người nghiên cứu xác định mối quan hệ hữu cơ giữa các yếu tố của hệ thống để tìm quy luật phát triển Vận dụng quan điểm hệ thống – cấu trúc, tác giả xem xét HĐVCNT bao gồm toàn bộ các thành tố: mục tiêu, nguyên tắc, nội dung, hình thức, phương tiện tổ chức,
chủ thể và đối tượng của HĐ, kết quả HĐ
7.1.2 Quan điểm lịch sử - logic
Vận dụng quan điểm lịch sử - logic, người nghiên cứu thực trạng tổ chức HĐVCNT cho trẻ đặt vấn đề nghiên cứu trong tương quan quá trình phát triển của nền
GD thế giới nói chung và GD Việt Nam nói riêng Bên cạnh đó, việc trình bày các nội dung và kết quả nghiên cứu phải tuân theo trình tự phù hợp, thể hiện được tính logic,
Trang 167.1.3 Quan điểm thực tiễn
Quan điểm thực tiễn đòi hỏi việc nghiên cứu đề tài dựa vào các hoạt động thực tiễn của giáo viên khi tổ chức HĐVCNT cho trẻ MG ở trường mầm non chưa mang lại được hiệu quả như mong muốn Xuất phát từ thực tiễn trên đòi hỏi phải có một sự đánh giá nhận thức của GV về quan điểm tổ chức hoạt động này; đồng thời đánh giá khả năng tổ chức HĐ của GV; phân tích những khó khăn và thuận lợi của giáo viên
khi tổ chức HĐVCNT cho trẻ Vì vậy, thực hiện nghiên cứu đề tài “Thực trạng tổ
chức hoạt động vui chơi ngoài trời cho trẻ mẫu giáo ở một số trường mầm non tại thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp” là xuất phát từ thực tiễn Từ đó người nghiên cứu
đề xuất các biện pháp để giải quyết các vấn đề cho phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương nghiên cứu
7.1.4 Quan điểm hoạt động
Tiếp cận quan điểm hoạt động khi khám phá nhìn nhận sự vật, sự việc ta phải đặt chúng trong trạng thái động để tìm ra bản chất của sự vật Tiếp cận hoạt động trong nghiên cứu khoa học giáo dục là nghiên cứu, khám phá ra bản chất, quy luật của sự vận động và phát triển của sự vật hiện tượng trong giáo dục thông qua các hoạt động Như vậy, vận dụng quan điểm hoạt động, trong nghiên cứu tổ chức HĐVCNT cho trẻ cần nghiên cứu các hoạt động tổ chức vui chơi ngoài trời của GV, cũng như hoạt động của trẻ trong khi chơi
7.2 Phương pháp nghiên cứu
7.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phương pháp này dùng để phân tích, phân loại hệ thống hóa các thông tin khoa học thu thập được từ các văn bản, tài liệu về nội dung đề tài, từ đó rút ra các kết luận liên quan đến vấn đề nghiên cứu Mục đích của phương pháp này là tìm hiểu các vấn
đề lý luận có liên quan đến đề tài để xây dựng cơ sở lý luận, thu thập thông tin khoa
học về đề tài và lịch sử nghiên cứu vấn đề
7.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.2.1 Phương pháp nghiên cứu định lượng – điều tra bằng phiếu hỏi
- Mục đích: tìm hiểu thực trạng nhận thức về tổ chức HĐVCNT
Trang 17- Nội dung khảo sát: tri thức về HĐVCNT và tri thức về tổ chức HĐ
7.2.2.2 Phương pháp nghiên cứu định tính
a Phương pháp phỏng vấn
* Phỏng vấn GV
- Mục đích: Làm rõ một số thông tin đã trả lời trong phiếu khảo sát, khai thác các thông tin liên quan, tìm hiểu nguyên nhân thực trạng, công tác quản lý của BGH đối với HĐVCNT
- Đối tượng phỏng vấn: Giáo viên đại diện mỗi khối lớp của mỗi trường đã thực hiện phiếu khảo sát
- Nội dung phỏng vấn: tri thức về HĐVCNT, tri thức về tổ chức HĐ, thuận lợi
và khó khăn, nguyện vọng
* Phỏng vấn CBQL
- Mục đích: tìm hiểu công tác quản lý của BGH đối với HĐVCNT, đánh giá công tác tổ chức HĐVCNT của GV, nguyên nhân thực trạng
- Đối tượng phỏng vấn: 1 cán bộ quản lý/ trường nghiên cứu
- Nội dung phỏng vấn: tri thức về HĐVCNT, công tác đánh giá HĐ, công tác phối hợp phụ huynh, thuận lợi và khó khăn của nhà trường, nguyện vọng
* Phỏng vấn giáo viên và cán bộ quản lý
- Mục đích: khảo nghiệm tính “cần thiết” và “khả thi” của bộ biện pháp
- Đối tượng: 6 giáo viên và 2 CBQL
- Nội dung phỏng vấn: mức độ “cần thiết” và “khả thi” của bộ biện pháp
Trang 188 Đóng góp của đề tài
Đề tài nghiên cứu thành công sẽ giúp:
- Bước đầu hệ thống được cơ sở lý luận tổng quan về HĐVCNT
- Đánh giá được thực trạng tổ chức HĐVCNT ở một số trường mầm non tại địa phương
- Phân tích đúng các nguyên nhân của thực trạng
- Đề xuất các biện pháp nhằm cải tiến công tác tổ chức HĐVCNT
Trang 19Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG
VUI CHƠI NGOÀI TRỜI CHO TRẺ MẪU GIÁO
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Với đề tài nghiên cứu về tổ chức HĐVCNT, trong phần cơ sở lý luận, chúng tôi
đi tìm đáp án cho các câu hỏi “Vì sao phải tổ chức HĐVCNT cho trẻ?”; “Ở ngoài trời,
trẻ chơi gì?”, “Ở trường MN, HĐVCNT nên là HĐ chơi tự do hay GV tổ chức? và tổ chức như thế nào?” Do đó, trong phần lịch sử nghiên cứu vấn đề, chúng tôi khái quát
lại các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến các câu hỏi đã đặt ra
1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Vui chơi ngày nay là món ăn “không thể thiếu” đối với trẻ mầm non, tuy nhiên,
nó đã từng được xem là lố bịch và không cần thiết [34] Theo thời gian, giá trị của VC được khẳng định bởi G.Spencer, S.Freud, Karl Groos, Erikson và vô số nhà nghiên cứu khác
Spencer (1873) – nhà triết học, nhà xã hội học và nhà sư phạm người Anh cho rằng, VC giúp trẻ giải tỏa năng lượng dư thừa; còn Patrick (1916) lại chứng minh chơi giúp khôi phục năng lượng Ngày nay, cả hai quan điểm trên đều được ghi nhận ở khía cạnh tích cực, khi thực tế cho thấy, những đứa trẻ béo phì giảm được cân nặng đáng kể nhờ chơi, tập, vận động thường xuyên; hoặc người ta sử dụng trò chơi khởi động đầu giờ học khiến người học cảm thấy phấn khởi, năng lượng dồi dào cho những HĐ mới
như Patrick từng nói “VC là phương thuốc tốt nhất để tái tạo lại năng lượng cần thiết
cho công việc” [32]
Nhà phân tâm học người Áo - S Freud qua nghiên cứu của mình cho thấy, sự tưởng tượng trong trò chơi cho phép đứa trẻ thể hiện lại những ký ức mà chúng yêu thích, bắt chước người lớn để có được ý thức tự chủ và lòng tự trọng; hoặc đứa trẻ chơi
để thoát ra khỏi những rắc rối cá nhân, sợ hãi; và cảm thấy an toàn Nhờ đó, trẻ sẽ đạt được sự hiểu biết tốt hơn về bản thân và thế giới của chúng cũng như khả năng để đối phó với thực tế cuộc sống [32] Nói cách khác, khi chơi, trẻ thể hiện ra ngoài những hành động không được xã hội chấp nhận hoặc mô phỏng lại đặc điểm của người mà trẻ
Trang 20chỉ ra “trẻ con chơi để thực hành những kỹ năng cần thiết trong cuộc sống của chúng
một cách tự nhiên” Quan điểm đó được Erikson nhấn mạnh lần nữa khi nói “VC trở thành con đường để trẻ học về cuộc sống thực, cách quản lý nhiệm vụ cuộc sống, và có kỹ năng để tham gia vào xã hội” [32]
Dần dần, các nhà khoa học khám phá ra mối liên hệ giữa chơi và hình thành
nhân cách VC là cơ hội để trẻ thực hành các kỹ năng Trong tác phẩm Niềm hạnh
phúc của con bạn, Arian Sumo Seipt - một trong những đại diện của thuyết trò chơi trị
liệu - xem TC là phương tiện để làm bình thường hóa các quan hệ của đứa trẻ với thực
tế xung quanh, xua tan đi những nỗi bực tức, bướng bỉnh Trò chơi có thể giúp đứa trẻ loại bỏ khỏi nhân cách một loạt những điểm yếu như tính nhỏng nhẻo, ích kỷ,… Trong trò chơi, trẻ mô phỏng lại tình huống này hoặc tình huống kia và như thế sẽ dẫn tới kết quả điều trị tốt, làm lành lại những chấn thương, làm bình thường hóa mối quan hệ của trẻ với người lớn [26] Đồng loạt, các nhà nghiên cứu nhận thấy VC là phương tiện GD như A.X.Macarencô, Cômenxki, Bêdêđốp, Phơ Bách, E.I.Chikhiepva, N.K.Crupxkaia, K.Đ Usinxki [11] Các tác giả cho biết, nếu sử dụng
trò chơi sẽ giúp trẻ học hiệu quả hơn
Các nhà lý luận đương đại cho rằng chơi là quyền của trẻ em và là một phương tiện quan trọng cho sự phát triển của trẻ về mặt nhận thức, xã hội, thể chất, tình cảm (Rubin, Fein, Vandenberg, (1983)) Vai trò của chơi được nhấn mạnh như là một phần cần thiết và không thể thiếu [34] Trong giai đoạn này, chúng ta nhìn thấy dấu ấn mạnh mẽ của Froebel cho đến tận ngày nay khi ông nhìn nhận trẻ con là một giai đoạn có quyền riêng của chúng chứ không chỉ chuẩn bị cho cuộc sống của người lớn sau này Ông nhấn mạnh sự phát triển và chuyển đổi của trẻ thông qua chơi, trải nghiệm, các HĐ tự thân và động cơ nội tại Ông cho rằng nên tạo điều kiện và những cơ hội
VC cho đứa trẻ được tự HĐ qua các trò chơi Khi đó MT chơi cần có thật nhiều nguyên vật liệu mở và GV khai thác những điều kiện sẵn có để sắp xếp, tổ chức
HĐ chơi phù hợp với khả năng chơi của trẻ và giúp trẻ có thể tự hoạt động [31]
Trong các học thuyết hiện đại, người có rất nhiều đóng góp trong nghiên cứu về trò chơi là Piaget (1969) với Thuyết phát sinh nhận thức Ông coi trò chơi là một trong
Trang 21tạo ra sự thích nghi của trẻ với MT [26] Ông đánh giá cao vai trò của VC: “Khi
chơi, ở trẻ phát triển tri giác, trí thông minh, những khuynh hướng thử nghiệm, những bản năng xã hội…” Vì thế ông phê phán quan điểm xem hoạt động chơi của trẻ chỉ là
một sự giải lao hoặc giải phóng năng lượng dư thừa trong cơ thể trẻ Quan điểm của ông có ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc xây dựng lý luận về trò chơi và đưa HĐVC vào GD trẻ em ở nhiều nước trên thế giới
Bằng những vai trò quan trọng đã được chứng minh, VC rõ ràng là phương tiện để GD trẻ Tuy nhiên, đến khi Froebel xây dựng trường MG đầu tiên thì VC mới chính thức bước chân vào chương trình GD cho trẻ MN Tới lượt Susan Isaccs, bà nhấn mạnh, chơi là trung tâm của chương trình GD của trường MN [31]
Không cùng quan điểm với nhiều người, Maria Montessori chẳng những không đề cao vai trò của chơi mà còn cho rằng, chơi làm ngăn trở sự phát triển của trẻ Bà không nhấn mạnh khuynh hướng chơi tự do, khám phá và tưởng tượng mà cung cấp
MT với học cụ được thiết kế có kích thước vừa với trẻ, tạo điều kiện để trẻ có thể học, thực hành cuộc sống mà không có sự hiện diện và can thiệp của người lớn [31]
Tuy nhiên, đa phần các học giả vẫn tin rằng, chơi có giá trị to lớn đối với trẻ và đó là lý do mà chơi vẫn mang dấu ấn đậm trong nhiều mô hình dạy học hiện đại, thậm
chí ở Iceland, chơi tự do còn thể hiện đến mức “trẻ đóng cửa lại, không cho GV quan
sát thấy những gì chúng đang chơi” [29]
Nếu trước đây, các nhà khoa học nghiên cứu nhiều về giá trị của chơi đối với trẻ, thì sau này, khuynh hướng nghiên cứu thiên về MT chơi NT và sự ảnh hưởng của nó (Frost & Klein (1983), Frost & Suderlin (1985), Frost & Wortham (1988)) Các tác giả cho biết, sân chơi của trẻ đã trải qua nhiều giai đoạn từ sân chơi truyền thống với gạch, thép, sắt, bề mặt sân lót bê tông gây nguy hiểm cho trẻ khi bị té và thiếu thẩm mỹ (Frost & Klein, Rohane); sau đó là các loại sân chơi đương đại chủ yếu là phát triển vận động thô; sân chơi mang tính phiêu lưu là những khoảng đất trống vùng ngoại thành với các vật liệu tái chế (Rohane); sân chơi sáng tạo khuyến khích trẻ tham gia những thử thách về thể chất, xã hội, nhận thức (Frost & Klein) [34], [37]
Một vài sáng tạo của thiết kế MT chơi NT nổi lên ở Mỹ vào cuối thế kỷ 19
Trang 22chơi hợp tác Năm 1986, mô hình sân chơi vườn cát được thành lập bởi Dr Maria Zakerznewska đã nhanh chóng lan sang các nước [34]
Một vài bàn luận về đặc điểm của sân chơi NT như (1) tự do thoát khỏi sự ảnh hưởng của người lớn (Smith & Connolly (1980)), (2) có sự kết hợp giữa các trang thiết bị và vật liệu thiên nhiên, (3) là một không gian mở đa dạng, nơi mà trẻ có thể chạy, nhảy, bò, lăn với bóng, túi đậu (Karin H.Spencer & Paul M.Wright) Về đồ chơi
NT, năm 1931, Lewin nói “Các đồ chơi phải hấp dẫn trẻ, người lớn phải xem xét nhu
cầu của trẻ tại thời điểm đó và kích thích bối cảnh MT” Sau đó, những năm 50, 60
của thế kỷ 20, Nichols (1955), Frost & Worthan (1988) đã mở ra “kỷ nguyên mới lạ”
khi mà chế tác nên các bức tượng có hình động vật và các phương tiện giao thông trang trí cho sân chơi NT Tuy nhiên, Frost & Klein (1983) đã cho rằng nó làm vui lòng phụ huynh hơn là mang lại giá trị và kích thích trẻ chơi Bergen (1987), Perkin (1980), Wohlwill & Helt (1987) cũng đồng ý rằng VL chơi ảnh hưởng trực tiếp đến
cơ hội chơi của trẻ [34]
Thiết kế MT chơi NT được thể hiện trong các tác phầm của Judith Van Hoorn, Patrica Nourot, Barbara Scales, Keith Alward (1993), Vicki Mulligan (1996), Joan P.Isenberq, Mary Renck Jalongo (1997), Kelly Ross Kantz (2004) đề cập đến độ an toàn, tính thẩm mỹ, cung cấp nhiều cơ hội để trẻ chơi, học và làm Khi thiết kế môi trường NT cần tạo điều kiện để trẻ có thể chơi nhiều dạng trò chơi khác nhau Các tác giả còn hướng dẫn cách trang bị, sắp xếp vật liệu chơi và bố trí không gian chơi [30], [37], [40]
Giá trị của VCNT về cơ bản cũng cùng hệ giá trị với VC trong lớp, hay gọi chung là VC Tuy nhiên, chơi ở NT trẻ có cơ hội tương tác cao với MT, đặc biệt là thiên nhiên; không gian mở, không khí thoáng đãng; cơ hội vận động cao có lợi đặc biệt cho sự phát triển của trẻ (Kellert (2005), Bodrova & Leong (2005), Lester & Russell (2008), Frances MingKuo) Do đó, cho trẻ chơi ở NT trở thành xu hướng GD hiện nay Tại các quốc gia có nền GD tiên tiến như Thụy Điển và các nước Bắc Âu, Nhật Bản, Mỹ, Úc rộ lên mô hình trường mầm non ở rừng (Forest Kingdergarten) nơi mà đứa trẻ mỗi ngày được chơi ở NT, khám phá và hòa mình với thiên nhiên, thoát
Trang 23Nói về phương pháp tổ chức HĐVC cho trẻ, K.Đ.Usinxki khuyên người lớn hãy để cho trẻ chơi theo ý của chúng, không được áp đặt trẻ chơi và không chơi hộ trẻ Ellis (1973) cho rằng thiết kế (tạo ra) các trò chơi mới, phối hợp sử dụng VL bằng nhiều cách khác nhau và đa dạng VL chơi NT là biện pháp làm tăng hưng phấn và thích thú của trẻ [34]
Trong tổ chức HĐ chơi nói chung và chơi NT nói riêng, người lớn được đề cập với những vai trò như hỗ trợ trẻ, cung cấp VLC và ý tưởng, quan sát trẻ trong khi chơi, ghi chép và đánh giá HĐ chơi của trẻ Froebel lưu ý, vai trò của người lớn bắt đầu ở nơi người học, cần can thiệp một cách tinh tế trong HĐ của trẻ, gồm cả việc chơi Steiner đề cao vai trò của GV trong việc phát triển cá nhân trẻ Trong khi John Dewey nhấn mạnh con đường mà trẻ học là đồng xây dựng kiến thức, có nghĩa là GV và trẻ tương tác qua lại cùng nhau chứ không phải trẻ HĐ theo hướng dẫn của GV, mà chính trẻ là
người chủ động tham gia tích cực vào MT và trải nghiệm Susan Isaccs bổ sung “vai trò
của GV là người quan sát, xác định nhu cầu và hứng thú của trẻ” [31], [42]
Theo tài liệu tổng hợp của Elizabeth Wood và Jane Attfield [31] xét từ quá khứ đến hiện tại, VC của trẻ nổi bật lên những nội dung sau:
- VC, cũng như các HĐ khác đều lấy trẻ làm trung tâm Nghĩa là HĐ phải xuất phát từ nhu cầu và hứng thú của trẻ thì chúng sẽ sẵn sàng, sốt sắng để tham gia hay học những điều mới mẻ
- Khoảng cách giữa chơi và làm việc là không thể xác định rõ ràng
- Trẻ con học tốt nhất qua MT, nơi mà cung cấp phong phú nguồn tài nguyên cho trẻ lựa chọn, chủ động trong HĐ và giải quyết các vấn đề
- GV cần học cách làm tăng hứng thú và tạo động cơ cho trẻ
- Nhấn mạnh vai trò của GV trong can thiệp, tương tác, đặc biệt trong việc chơi tự do và những HĐ khởi đầu của trẻ
Có thể thấy, các vấn đề về VC, được các nhà nghiên cứu mổ xẻ ở nhiều khía cạnh khác nhau giúp cho tác giả có cái nhìn đa chiều về hoạt động đặc biệt này cũng như cung cấp các dữ liệu cho cơ sở lý luận liên quan đến đề tài
Trang 241.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam
Ở nước ta, vui chơi được xác định là HĐ chủ đạo, là “linh hồn” của chương
trình giáo dục MN HĐVC không chỉ chiếm nhiều thời gian của trẻ mà còn chi phối
các HĐ khác bởi trẻ “học mà chơi, chơi bằng học”, “làm mà vui, vui mới làm”… Trẻ
cần chơi như người lớn cần cơm ăn, nước uống hằng ngày Không chơi, trẻ không phát triển, không chơi, đứa trẻ chỉ tồn tại chứ không phải là đang sống Quan điểm trên được sự đồng thuận cao của nhiều tác giả như Nguyễn Ánh Tuyết, Nguyễn Thị Hòa, Trần Thị Ngọc Trâm, Đinh Văn Vang [11], [23], [25], [26]
Chính vì vậy, các tài liệu là sách tham khảo, giáo trình thường xoay quanh mục tiêu chính là đưa ra những chỉ dẫn giúp GV tổ chức HĐVC đạt hiệu quả Tác phẩm
Hướng dẫn tổ chức HĐVC của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Chúc (1981) [7], quyển sách
Tổ chức hoạt động VC cho trẻ ở trường Mầm non - tác giả Nguyễn Thị Thanh Hà
(2006); Giáo trình Tổ chức hoạt động VC cho trẻ mầm non - tác giả Đinh Văn Vang (2009) Nội dung chính của các tác phẩm là trình bày những thông tin cập nhật về
trò chơi trẻ em, cách thức trợ giúp trẻ chơi và những HĐ để giúp GVMN tổ chức có hiệu quả HĐVC của trẻ Trong đó, tài liệu của cô Nguyễn Thị Thanh Hà giúp tác giả có cái nhìn khái quát về VC nói chung và VCNT nói riêng bao gồm việc xác định HĐVCNT, cách tổ chức của GV, cách xây dựng MT (đặc biệt là trang bị đồ chơi), hiểu sâu sắc hơn về vai trò của người lớn đối với việc chơi của trẻ [10]
Trong những năm gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng nhiều nội dung
chuyên đề Triển khai chương trình đổi mới phương pháp, hình thức hoạt động VC
nhằm hướng dẫn GV cách thức tổ chức hoạt động VC cho trẻ theo quan điểm GD lấy trẻ làm trung tâm GV cần tổ chức hoạt động chơi theo nhiều hình thức đa dạng, phong phú, kích thích sự phát triển của trẻ qua các trang thiết bị NT; kích thích các
vận động khác nhau của trẻ Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho cán bộ quản lí và
giáo viên mầm non năm học 2015 – 2016 [3] đã có hẳn một chuyên đề Hướng dẫn tổ chức HĐCNT giúp hình thành nhận thức đúng đắn về vai trò của chơi NT, hiểu được
nguyên tắc tổ chức, biết được các nội dung và việc cần làm khi tổ chức HĐCNT Tài
liệu Hướng dẫn thực hành áp dụng quan điểm GD lấy trẻ làm trung tâm (2017) đã
Trang 25thiết kế 6 tiêu chí, 18 chỉ số, giúp GV có cơ sở cụ thể để thực hiện quan điểm lấy trẻ làm trung tâm khi tổ chức HĐVC [9]
Những năm gần đây, các tài liệu, bài viết, luận văn nghiên cứu liên quan đến HĐVCNT khá đa dạng:
Bàn về lợi ích của HĐVCNT, có tác giả Lê Thị Thanh Nga (2013) [15], Phạm Thị Loan (2014) [14] như giúp trẻ dễ hòa nhập, thích nghi, mở rộng sự hiểu biết về xung quanh, hình thành những tính tốt
Nói về môi trường chơi NT, có tác giả Trần Thị Hồng Thắm (2016) [19] hay các tác giả Lê Thị Huệ - Trần Thị Hương – Phạm Thị Tâm (2017) đề cập đến các điều kiện cần thiết của sân chơi, hướng dẫn bố trí môi trường chơi
Biện pháp tổ chức các HĐNT cũng là một nội dung được chú ý.Tác giả Nguyễn
Ánh Tuyết khi nghiên cứu Một số biện pháp tổ chức HĐNT nhằm phát triển thể lực
cho trẻ 5 - 6 tuổi, đã đưa ra các biện pháp: cần lựa trò chơi phù hợp, lập kế hoạch, tạo
MT, phương tiện phong phú, đánh giá trẻ trong HĐVCNT, tăng cường rèn luyện có
hệ thống các kỹ năng vận động Đây là cơ sở giúp trẻ tự tin, hứng thú, thích tham gia vào hoạt động ngoài trời Ngoài ra, còn có tác giả Nguyễn Thị Xuân (2007) [28], tác giả Nguyễn Thị Lệ Phú (2016) với luận văn cao học cũng bàn về vấn đề này [16]
Nhằm giúp GV có thêm kho trò chơi phong phú cho giờ chơi NT, các tác giả Nguyễn Thị Kim Anh (2016), Bùi Thị Việt (2016), đã đề xuất một số trò chơi như trò chơi và bài tập với bóng, trò chơi với nước [1], [27]
Có thể thấy, trong lĩnh vực tổ chức HĐVCNT cho trẻ có khá nhiều bài viết và tài liệu đã được giới thiệu Tuy nhiên, nghiên cứu qua các tài liệu, chúng ta nhận thấy các tác giả hầu hết bàn về VC nói chung, còn VCNT thì đang được nhìn nhận ở những
mảng riêng lẻ như giá trị, biện pháp tổ chức, tổ chức MT Do đó, với đề tài “Thực
trạng tổ chức HĐVCNT cho trẻ MG ở một số trường mầm non tại thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp” chúng tôi cố gắng phân tích, tổng hợp các tài liệu, hệ thống dữ
liệu, nhằm bước đầu hình thành khái quát lý luận về HĐVCNT, lấy đó làm cơ sở đánh giá thực trạng HĐ, tìm hiểu những điều hợp lý và bất hợp lý, cũng như ưu nhược điểm trong công tác tổ chức HĐVCNT, tạo nên cơ sở thực tiễn để nghiên cứu tiếp theo
Trang 261.2 Hệ thống các khái niệm
1.2.1 Vui chơi ngoài trời
1.2.1.1 Vui chơi
Từ điển Webster’s New World Dictionary (1972) đưa ra 59 định nghĩa cho từ
“Play”, trong đó có chơi đóng kịch, chơi đàn, chạy lòng vòng, chơi chữ… Trong Từ
điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (1994) của Trung tâm từ điển Nhà xuất bản
GD, từ “Chơi” được xác định với 6 nghĩa cơ bản là: hoạt động giải trí (dạo chơi); dùng
làm thú vui, tiêu khiển (chơi tem); có quan hệ thân thiết cùng chung thú vui (chơi với nhau); hoạt động chỉ nhằm vui không nhằm mục đích gì khác (trẻ con chơi đùa); chỉ trẻ em khỏe không ốm (trẻ chịu chơi, không quấy); hành động gây hại cho người khác xem như trò vui (chơi khăm) [10]
Một số tác giả nêu khái niệm về “Chơi” như sau [29]:
- Groos: Là HĐ bản năng, không nhằm mục tiêu quan trọng nào cả nhưng lại trở nên cần thiết cho cuộc sống của trẻ về sau (Instinctive practice, without serious intent, of activities which will later be essential to life)
- Seashore: Là tự do thể hiện cảm xúc vui vẻ (Free self - expression for the pleasure of expression)
- Froebel: Là sự phô bài tự nhiên của các lá mầm thời thơ ấu (The natural unfolding of the germinal leaves of childhood)
- Hall: Là những thói quen cũng như sự yêu thích vận động được hình thành trước đây thì đến nay cũng sẽ được duy trì (The motor habits and spirit of the past persisting in the present)
- Dewey: Là các HĐ không có ý thức, được thực hiện cho những lợi ích vượt khỏi bản thân chúng (Activities not consciously performed for the sake of any result beyond themselves)
- Schiller: Chơi làm tiêu thụ năng lượng dư thừa (The aimless expenditure of exuberant energy)
- Dulles: Là một hình thức HĐ mang tính bản năng có ý nghĩa trong việc tự thể hiện bản thân hay để bày tỏ cảm xúc (An instinctive form of self expression and
Trang 27- Spencer: Là hành động được thực hiện nhằm thỏa mãn sự hài lòng ngay lập tức mà không quan tâm đến lợi ích tương lai (Activity performed for the immediate gratification derived without regard for ulterior benefits)
- Lazarus: Là HĐ mà bản chất là tự do, không mục đích, vui hoặc thú vị (Activity in itself free, aimless, amusing, or diverting)
- Shand: Là nhằm duy trì niềm vui (A type of play directed at the maintenance
of joy)
- Curti: Là HĐ có động cơ cao, nơi mà trẻ tự do xung đột (vốn không có bất kỳ sự đắn đo, cân nhắc), và không phải lúc nào cũng mang lại niềm vui (Highly motivated activity, which, is free from conflicts, is usually, thought not always, pleasureable)
- Bartlett và Sheridan: Là việc nhiệt tình tham gia vào thế giới xung quanh
thông qua “khám phá, thao tác, vận động nhiều, thực nghiệm và mô phỏng, hoặc chơi
một mình hoặc với những người khác” (Sheridan, Bartlett defines play as passionately
engaging in the surrounding world through “exploration, manipulation, physical
exuberance, experimentation and pretence, either alone or with others”) [30]
- Garvey: Chơi như một thái độ hoặc định hướng có thể tự biểu hiện trong nhiều loại hành vi (Garvey regards play as an attitude or orentation that can manifest itself in numerous kinds of behavior) [31]
Tác giả Đinh Văn Vang định nghĩa: “Chơi là một HĐ mà động cơ của nó nằm
trong quá trình chơi chứ không phải nằm trong kết quả của HĐ, khi chơi trẻ không chú tâm vào một lợi ích thiết thực nào cả, trong trò chơi, các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và xã hội được mô phỏng lại, chơi mang lại cho trẻ trạng thái tinh thần vui vẻ, phấn chấn, dễ chịu” [26]
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Hà nói “Giờ chơi là khoảng thời gian trong ngày
dành cho việc chơi tự do của trẻ ở trường MN Giờ chơi chứa đựng những nội dung
HĐ đa dạng thể hiện hứng thú và khả năng của trẻ Giờ chơi của trẻ ở trường MN được diễn ra nhẹ nhàng với ba phần liên tục Tự do, phát triển và GD là những yêu cầu cần đặt ra đối với giờ chơi” [10]
Trang 28“chơi” Rõ ràng, đưa ra một khái niệm chỉnh chu là điều rất khó khăn Do đó, một số
nhà nghiên cứu chỉ nêu đặc điểm của hoạt động chơi:
Theo Rubin, Fein, & Vandenberg (1983) “chơi” có năm đặc điểm [35]: (1)
chơi là hoạt động xuất phát từ động lực bên trong/nội tại; (2) chơi là vui; (3) chơi là không thực tế; (4) người chơi tham gia tích cực vào trò chơi; (5) khi chơi, đứa trẻ được
tự do lựa chọn
Meckley (2002) nêu bảy đặc điểm [31]: (1) Chơi là sự lựa chọn của trẻ Trước khi chơi, trẻ đưa ra ý tưởng chơi cái gì và chơi với ai Khi bắt đầu chơi, trẻ chọn vật liệu chơi, HĐ và những người chơi khác, tự đề
ra quy tắc chơi Nếu người lớn chọn hoạt động chơi và chỉ định trẻ vào
những khu vực chơi nào thì trẻ sẽ cho rằng đó là “làm việc” chứ không phải “chơi” (2) Chơi là do trẻ phát minh Trẻ luôn sáng tạo ra những
điều mới mẻ trong khi chơi Trong VC, trẻ là người đầu tư và cũng là người thử nghiệm Trẻ có thể liều lĩnh thực hiện các ý tưởng mới hoặc là
đề xuất ý tưởng chưa bao giờ có (3) Trò chơi là mô phỏng nhưng lại được làm như thật Khi chơi trẻ học được rất nhiều từ việc mô phỏng thực tế, những điều có ích cho cuộc sống của trẻ nhưng lại không có thực (vì là trò chơi) Đứa trẻ phát triển nhận thức, xã hội và các khái niệm cảm xúc Trẻ phát triển quan niệm về con người, sự kiện, mối quan hệ và các quy tắc thông qua chơi Trẻ con sử dụng trò chơi để hình thành thế giới của chúng (4) VC tập trung vào quá trình chứ không phải là kết quả (5) VC được thực hiện bởi trẻ chứ không phải là người lớn Người lớn không thể lập kế hoạch cho trẻ chơi, nhưng có thể giúp đỡ trẻ khi chơi và hỗ trợ trẻ lập kế hoạch Người lớn cung cấp MT phù hợp, an toàn, có quy tắc và hỗ trợ trẻ đạt được mục tiêu học tập một cách tốt nhất (6) Chơi yêu cầu sự tham gia tích cực Cơ thể và trí não của trẻ năng động khi chúng tham gia VC Nghiên cứu cho thấy rằng, đứa trẻ học tốt nhất khi mà tương tác và phối hợp với MT, VL và những người khác VC là nơi để sự năng động của trẻ xuất hiện (7) Chơi là vui Vì trẻ
Trang 29chúng
Từ những nghiên cứu trên, tác giả đề xuất khái niệm “chơi” như sau:
“Chơi là hoạt động mà trẻ chủ động phản ánh thế giới xung quanh theo cách riêng của mình”
Khái niệm trên được hiểu như sau:
1 “Chủ động” nghĩa là trẻ tự mình khởi xướng HĐ chơi bao gồm thời điểm
muốn chơi, chơi gì, chơi như thế nào, chơi với ai, chơi đến khi nào thì dừng lại Điều này nói lên, chơi là việc của trẻ
2 “Phản ánh thế giới xung quanh” nghĩa là sự tác động trở lại của trẻ đối với
MT xung quanh gồm cả MT vật chất và MT xã hội
3 “Theo cách riêng của mình” nghĩa là, trẻ, bằng vốn kinh nghiệm, tư duy,
hứng thú cá nhân mà thể hiện việc chơi
1.2.1.2 Vui chơi ngoài trời
Trẻ con thích chơi cả trong lớp lẫn NT Hầu hết những gì có thể chơi trong lớp thì cũng có thể chơi được ở ngoài trời Chẳng hạn như chơi mô phỏng, đọc truyện, làm
dự án tạo hình, chơi với cát, nước… Ở NT, nhiều trẻ tham gia các HĐ nhiệt tình và tự tin hơn hẳn so với các HĐ trong lớp [45]
Tài liệu Hướng dẫn thực hiện chương trình GDMN 2009 (sau sửa đổi, bổ sung)
xác định “Giờ chơi ngoài trời là khoảng thời gian dành cho việc tự do chơi của trẻ ở
ngoài lớp học” [6] Tác giả hoàn toàn thống nhất với khái niệm trên và sử dụng là một
khái niệm công cụ cho hệ thống lý luận liên quan trong luận văn
1.2.2 Tổ chức HĐVCNT
Từ điển tiếng Việt định nghĩa “Tổ chức là làm những gì cần thiết để đạt hiệu
quả tốt nhất”
Hay nói cách khác, “tổ chức” có nghĩa là quá trình sắp xếp và bố trí các công
việc, giao quyền hạn và phân phối các nguồn lực sao cho chúng đóng góp một cách tích cực và có hiệu quả vào mục tiêu chung [17]
Có quan điểm cho rằng tổ chức HĐ là sự vận dụng tri thức tổ chức vào thực tiễn HĐ Tri thức tổ chức bao gồm những hiểu biết về công tác tổ chức, hiểu rõ mục
Trang 30cơ sở đó, con người vận dụng những tri thức tổ chức, kết hợp với những hiểu biết, kinh nghiệm về hoạt động để tổ chức hoạt động đạt hiệu quả mong muốn, kể cả trong những điều kiện hoạt động đã bị thay đổi [16]
Như vậy, tổ chức HĐVCNT đòi hỏi người tổ chức phải:
- Nắm vững tri thức về HĐVCNT như vai trò của HĐ đối với sự phát triển của trẻ, nội dung, hình thức, cách thức xây dựng sân chơi, đặc điểm chơi NT của trẻ
1.3 Lý luận về HĐVCNT
1.3.1 Giá trị của HĐVCNT
1.3.1.1 Giá trị của HĐVC nói chung
Giá trị của VC đối với trẻ nhỏ đã được nhiều nhà nghiên cứu chứng minh Tổng hợp từ các tài liệu nghiên cứu [10], [26], chúng tôi nhận thấy VC được xem là phương tiện giúp trẻ phát triển toàn diện
Chơi là phương tiện GD phát triển trí tuệ cho trẻ, giúp mở rộng, củng cố, chính xác hóa những biểu tượng của trẻ về cuộc sống xung quanh, lĩnh hội tri thức mới, phát triển các quá trình tâm lý nhận thức và ngôn ngữ Chơi phát triển nhu cầu sáng tạo và tự khẳng định mình Các trò chơi là cơ hội thỏa mãn nhu cầu tự do sáng tạo mà không bị ràng buộc, gò bó bởi các tiêu chuẩn ấn định sẵn Chơi là không gian thoáng đãng cho sự sáng tạo cá nhân, mà ở đó, trẻ thể hiện mình như một thực thể không lặp lại
Chơi là phương tiện GD phát triển đạo đức cho trẻ, đặc biệt là trò chơi đóng vai theo chủ đề ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhận thức, thái độ, hành vi đạo đức của trẻ giúp
Trang 31Một số phẩm chất đạo đức cao quý được hình thành như sự thật thà, dũng cảm, tính chủ động, kiên trì, đặc biệt là lòng nhân ái
Chơi là phương tiện GD phát triển thể chất cho trẻ khi mang lại nhiều niềm vui, làm cho tinh thần của trẻ được sảng khoái, thể lực được phát triển tốt hơn Tham gia vào trò chơi, các cơ quan trong cơ thể trẻ được vận động một cách tích cực, thúc đẩy sự trao đổi chất, tăng cường hô hấp và tuần hoàn máu… góp phần tăng cường sức khỏe Các trò chơi phù hợp với lứa tuổi sẽ góp phần phát triển và hoàn thiện các tố chất thể lực như sức nhanh, sức mạnh, sức bền và sự khéo léo
Chơi là phương tiện GD phát triển thẩm mỹ cho trẻ Khi tham gia vào trò chơi, trẻ cảm nhận được cái đẹp của đồ chơi, ngôn ngữ, hành vi, giao tiếp, các mối quan hệ ứng xử giữa người với người, giữa người với thế giới hiện thực Trò chơi còn giúp trẻ hình thành nhu cầu sống theo cái đẹp, bảo vệ và làm ra cái đẹp
Chơi là phương tiện GD phát triển lao động cho trẻ vì có thể tái tạo lại những hành động lao động và những mối quan hệ giữa người lớn với nhau, qua đó trẻ thu nhận được những biểu tượng về lao động về ý nghĩa xã hội và tính hợp tác của nó Như vậy, chơi giúp trẻ hình thành được một số kỹ năng lao động đơn giản, phẩm chất đạo đức của người lao động tương lai
1.3.1.2 Giá trị của HĐVCNT
Chúng ta thấy rằng, VC có thể diễn ra trong và ngoài lớp học, do đó, nếu VC mang lại lợi ích trong MT lớp học thì giá trị đó cũng tương đương khi trẻ chơi NT Tuy nhiên, với đặc trưng là thiên nhiên, không gian thoáng đãng, cơ hội trải nghiệm với tất cả các giác quan; HĐ thể chất; quan sát; tham gia các HĐ nghệ thuật, khoa học, toán học, ngôn ngữ; tiếp xúc với nhiều người; chơi xây dựng với cát, nước, bùn; đóng kịch Do đó, VCNT mang lại rất nhiều lợi ích cho trẻ nhỏ Theo Kellert (2005),
“thiên nhiên là yếu tố quan trọng để giúp trẻ phát triển trí tuệ, tình cảm, xã hội, tinh
thần và thể chất, hỗ trợ sáng tạo và giải quyết vấn đề” [47]
a Phát triển thể chất
Nếu xem bộ não là một ngôi nhà thì năm giác quan chính là năm cánh cửa mở
ra thế giới, tiếp nhận thông tin và kích thích sự phối hợp làm việc của các nơ - ron thần
Trang 32đó, con đường nhiều hơn, não càng lớn hơn [49] Các con đường thần kinh ấy được hình thành bởi sự tiếp xúc giữa người với người và với MT Khi chơi, đứa trẻ huy động toàn bộ các giác quan chính là thành tố quan trọng cho sự phát triển não bộ, cơ thể và trí tuệ, tạo ra nhiều mạng thần kinh hơn trong não và khắp cơ thể, làm cho toàn
bộ cơ thể là một công cụ học tập [46] Khi đứa trẻ tự mình tích cực theo đuổi các HĐ hoặc tích cực tham gia cùng với người khác, các mạch não mới được phát triển để đáp ứng với các HĐ đó Trẻ cần thực hành nhiều để phát triển, liên hợp và củng cố các mạch mới Khi quan sát kỹ các trò chơi của trẻ em, có thể thấy rằng tất cả các quy trình liên quan đến chơi, chẳng hạn như khám phá, lặp lại các HĐ, kết nối, mở rộng kỹ năng, kết hợp vật liệu, sự liều lĩnh, phản ánh chính xác những gì mà bộ não cần để phát triển và HĐ có hiệu quả Trong quá trình trẻ chơi, tế bào thần kinh não bộ được
HĐ một cách liên tục làm tăng sản xuất các dẫn chất thần kinh thúc đẩy việc tái tạo các tế bào não Lester & Russell cho rằng, trong trò chơi có sự tích hợp của cảm xúc, suy nghĩ và động cơ tạo ra sự liên kết các nơ - ron thần kinh, làm phát triển chức năng của não
Ngoài lợi ích đặc biệt với bộ não, Frances Ming Kuo nói “MT xanh là một
thành phần thiết yếu cho MT sống khỏe mạnh của con người” [47]
Khi chơi ở ngoài trời, trẻ được tiếp xúc với không khí trong lành của thiên nhiên, có lợi cho hô hấp của trẻ Bộ xương của trẻ phần lớn được cấu tạo bằng sụn, độ rắn thấp, độ xốp cao, chứa nhiều nước Vận động tích cực có tác dụng thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng các xương ống theo chiều dài, đồng thời tăng độ vững chắc của xương nhờ độ đông đặc trưng của xương ở trẻ tuổi MG [49] Trong giai đoạn 3 – 5 tuổi, xương hấp thụ nhiều canxi hơn nên khi vận động ngoài trời thường xuyên với thời gian thích hợp cơ thể trẻ sẽ tự tổng hợp vitamin D góp phần giúp hệ xương phát triển
Ra ngoài trời, trẻ được tiếp xúc với thiên nhiên, trong đó có các điều kiện khí hậu (nóng, lạnh, mát mẻ), các loại thời tiết (nắng, gió, mưa) giúp cơ thể trẻ thích nghi được với MT sống Hơn nữa, trẻ có thể lao động, tự trồng và chăm sóc các loại rau, trái cây Theo các nghiên cứu, điều này chẳng những mang lại kiến thức về dinh
Trang 33thành thói quen ăn uống khỏe mạnh [47]
Bên cạnh đó, NT là không gian thoáng đãng, nơi trẻ có thể tự do chạy, nhảy, la hét, leo trèo giúp củng cố cơ quan vận động, hình thành tư thế người hợp lý và giúp hoàn thiện các chức năng của cơ quan thực vật [49] Ngoài vận động cơ bản, các tố chất vận động, VCNT giúp trẻ phát triển các vận động tinh Chẳng hạn như khi chơi ở góc cát, trẻ không chỉ biết dùng sức mạnh để xúc, bưng cát mà còn dùng sự khéo léo của ngón tay để tạo các hoa văn trên cát ướt [38]
b Phát triển trí tuệ
Như đã nói ở trên, không gian NT là nơi lý tưởng để trẻ thỏa thích vận động, nhờ đó, vùng đồi thị sẽ lớn hơn Đây là vùng não bộ đảm nhiệm trí nhớ dài hạn và trí nhớ liên hệ (khả năng học và nhớ mối liên hệ giữa những sự vật với nhau) [49] Đồng thời, nâng cao khả năng tập trung chú ý của trẻ [47]
Sự phát triển của kỹ năng nhận thức bao gồm ý muốn học tập (như sự tò mò, lòng kiên trì), trí nhớ, kỹ năng suy nghĩ, kỹ năng học tập có sự liên kết mạnh mẽ với
VC Theo Marianne B Staempfli, chơi giúp trẻ em phát triển “tư duy linh hoạt và khác
biệt” từ đó trẻ có khả năng giải quyết các vấn đề trong thế giới thực
Chơi với nước giúp trẻ học về số lượng, đo lường, biết những vật thể có hình dạng khác nhau nhưng cùng thể tích, hiểu về tính thuận nghịch, nhận biết các vật nổi hay chìm [35] Chơi với các đồ chơi ngoài trời, trẻ có thể học cách thăng bằng; đánh giá được mức độ để thể hiện sức mạnh, tốc độ; có kế hoạch cho các chuỗi chuyển động Chơi ở góc cát, trẻ biết đo, đếm số xuổng; tính chất của cát (ướt hay khô), cát khô để đổ/ chở, cát ướt, dính để xây [38] Như vậy, CNT giúp trẻ mở rộng kiến thức về thế giới xung quanh
Ở ngoài trời, trẻ có thể tham gia trò chơi mô phỏng chẳng hạn như làm thợ xây, bán hàng, chơi giao thông, Trong vài nghiên cứu, trò chơi mô phỏng ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển ngôn ngữ của trẻ bao gồm khả năng nhận thức tốt hơn khi nói, phát triển khả năng giao tiếp, hiểu về từ loại và chức năng của từ , hay hiểu cấu trúc ngữ pháp HĐVCNT còn giúp trẻ hiểu được ý nghĩa thực sự của ngôn ngữ Các
nhóm từ liên quan đến các trò chơi vận động như “đi, dừng, đứng, chạy, nhảy, leo, bò,
Trang 34của từ “trong suốt, đầy, lưng, trống rỗng, nặng, nhẹ” Trẻ học ngôn ngữ về thời gian
“hôm qua, hôm nay, ngày mai, chút nữa, một lát sau” Trẻ có thể cảm nhận về đồ vật
và mùi, vị như “mặn, ngọt, thơm, mát, nóng nực, oi bức” Trẻ học được các từ về nghệ
thuật, khoa học, toán học, âm nhạc, tự nhiên, thực vật và cả về con người [29], [38]
c Phát triển cảm xúc và các năng lực xã hội
Trong khi chơi, trẻ phát triển năng lực xã hội và trưởng thành về cảm xúc Smilansky và Shefatya cho rằng thành công ở trường học phụ thuộc vào sự tương tác tích cực giữa trẻ với bạn bè và người lớn VC đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển về mặt xã hội cho trẻ [36] vì nó cho phép đứa trẻ:
- Luyện tập kỹ năng giao tiếp bằng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ để đàm phán, nỗ lực giúp cho cuộc chơi được liên tục hoặc làm tăng thêm cảm xúc cho người khác
- Biết đáp lại cảm xúc, chia sẻ vật liệu và trải nghiệm chơi cùng nhau
- Trải nghiệm với vai trò của các thành viên trong gia đình, trường học, cộng đồng
- Trải nghiệm những quan điểm của người khác khi trẻ tích cực làm việc thông qua xung đột về chỗ chơi, vật liệu hoặc các quy tắc chơi
Chơi NT cung cấp cho trẻ cơ hội chơi tự do, nghĩ theo cách trẻ muốn, không bị ảnh hưởng trực tiếp bởi người lớn, do đó, chơi đóng góp vào sự phát triển các hệ thống
tự thân (lòng tự trọng, tự trị, tự nhận thức, tự lực) [31]
VC hỗ trợ phát triển tình cảm bằng cách cung cấp con đường để trẻ thể hiện cảm xúc và hoàn cảnh mà trẻ phải đối mặt, và đối mặt với cảm xúc của chính mình khi thể hiện sự tức giận, buồn bã, hoặc lo lắng Trò chơi mô phỏng cho phép trẻ suy nghĩ nhiều về những trải nghiệm đầy cảm xúc hài lòng và không hài lòng
Nghiên cứu của Gordon, O’Toole & Whitman cho thấy chơi làm tăng thêm cảm xúc hạnh phúc của trẻ giúp tinh thần trở nên mạnh khỏe Niềm vui, sự thỏa thích và tự
do thể hiện khi chơi giúp trẻ hiểu được ý nghĩa của sự hạnh phúc
Một số trò chơi NT giúp phát triển cảm xúc và năng lực xã hội như chơi với các
đồ chơi NT, trẻ có thể biết cách làm việc cùng nhau hoặc tránh né một số người; giảm căng thẳng (khi chạy tự do) Chơi ở góc cát, trẻ có thể nói chuyện với người lớn và bạn
Trang 35[38]
Có thể thấy rằng, hoạt động VC nói chung, VCNT nói riêng đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các yếu tố nhân cách trẻ em
1.3.2 Các loại trò chơi
Có nhiều cách phân loại trò chơi, tác giả thống nhất với cách phân loại sau [45]:
- Chơi sáng tạo (Creative play): Trẻ có thể sử dụng chính cơ thể mình hay các
VL để tạo ra sản phẩm như nhảy múa, vẽ, nặn, làm đồ chơi
- Trò chơi có luật (Games with rules): gồm các trò chơi có những quy định
những gì mà người chơi có thể làm hay không thể làm Chẳng hạn như chơi “vật gì
biến mất”, luật chơi là trẻ phải nhắm mắt khi giáo viên cất đi vật gì đó
- Trò chơi ngôn ngữ (Language): trẻ chơi với âm và từ, bao gồm cả việc nghe
kể chuyện
- Trò chơi thể chất (Physical): Ở đây, trò chơi còn được chia thành:
+ Chơi thể lực (Physical play): trẻ luyện tập, phát triển và kiểm soát các vận động cơ thể gồm vận động toàn thân, tứ chi, phối hợp và cân bằng nhằm phát triển vận động thô và vận động tinh
+ Chơi khám phá (Exploratory play): trẻ sử dụng cơ thể, các giác quan để khám phá thế giới xung quanh
+ Chơi thao tác (Manipulative play): liên quan đến thực hành và điều chỉnh kỹ năng vận động cho hoàn thiện Loại HĐ chơi này tăng cường sự khéo léo về thể chất
và phối hợp tay - mắt Theo thời gian, trẻ em cần phải trải nghiệm một loạt các thao tác ở những mức độ khác nhau nếu chúng muốn hoàn thiện các kỹ năng vận động của
họ Kiểu chơi này bao gồm các thao tác cầm nắm các đồ chơi và vật liệu chơi
+ Chơi xây dựng (Constructive play): trẻ sử dụng vật liệu thiên nhiên hay vật liệu được sản xuất để xây dựng nên các công trình
- Trò chơi mô phỏng (Pretend): Trẻ mô phỏng lại các đối tượng, những hành động, tình huống thế giới xung quanh mình
Các loại trò chơi trên đều có thể xảy ra ở trong lớp hoặc ngoài trời
Trang 361.4 Tổ chức hoạt động vui chơi ngoài trời
Tổ chức HĐVCNT là tổ chức HĐGD Tiếp cận HĐGD theo quan điểm hệ thống – cấu trúc cần phải xác định rõ các nhân tố cấu trúc của HĐGD bao gồm mục tiêu, nguyên tắc, nội dung, hình thức, phương tiện, chủ thể và đối tượng HĐ, kết quả của hoạt động [13]
1.4.1 Mục tiêu tổ chức HĐVCNT
Trẻ nhỏ học từ tất cả những gì xảy ra xung quanh chúng, không thể chia tách việc học và chơi riêng biệt Các HĐ học và chơi luôn luôn đồng hành sẽ giúp trẻ hiểu các kiến thức và kỹ năng trong hoàn cảnh có ý nghĩa, trẻ phát hiện sự vật từ quan sát, nghiên cứu, khám phá và các HĐ thực hành thông qua HĐVC là nhu cầu thiết thực của trẻ mầm non, nhằm thỏa mãn sự tò mò, khám phá, tìm hiểu về thế giới xung quanh, thông qua HĐ này giúp trẻ hoàn thiện về các mặt, đáp ứng được mục tiêu GD đặc
trưng cho lứa tuổi “Chơi mà học, học mà chơi”
Tổ chức HĐVC không chỉ thỏa mãn nhu cầu được chơi của trẻ qua đó còn GD
và hình thành toàn diện nhân cách trẻ: Tạo cảm giác vui vẻ, thoải mái; cơ hội cho trẻ được trải nghiệm, vận dụng, củng cố kiến thức, kỹ năng Giúp trẻ có thái độ tích cực khám phá thế giới xung quanh; phát triển kỹ năng tư duy, giải quyết vấn đề, khả năng sáng tạo, khả năng ngôn ngữ; kỹ năng giao tiếp, tạo cơ hội cho trẻ phát triển các kỹ năng xã hội như lựa chọn, ra quyết định, hợp tác, chia sẻ; phát triển các kỹ năng vận động và tăng cường vận động
Như vậy, tổ chức HĐVCNT cho trẻ MG cũng đồng nghĩa việc thực hiện
chương trình GDMN tại các cơ sở GD đã được xác định: “Mục tiêu của GDMN là
giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp một; hình thành và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm sinh lí, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kĩ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời” [4]
Tóm lại, mục tiêu tổ chức HĐVCNT cho trẻ là nhằm giúp trẻ thỏa mãn nhu cầu
Trang 371.4.2 Nguyên tắc tổ chức HĐVCNT
Nguyên tắc là những luận điểm cơ bản và bao trùm nhất mang tính quy luật mà nhà GD phải tuân theo khi chỉ đạo và thực hiện các nhiệm vụ GD nhằm đảm bảo mục đích GD và hiệu quả của quá trình GD [11]
Tổ chức HĐVCNT hay tổ chức HĐGD cần tuân thủ các nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc lấy trẻ làm trung tâm Tư tưởng chính của nguyên tắc này là nhằm nhấn mạnh quá trình chăm sóc – GD phải hướng vào đứa trẻ, GD phải xuất phát từ nhu cầu hứng thú của trẻ Trong các HĐ chăm sóc GD trẻ, nhà GD không được áp đặt trẻ theo ý muốn chủ quan của mình, đứa trẻ phải được coi là chủ thể tích cực trong các
HĐ của chúng, còn GV giữ vai trò là “điểm tựa”, là người tổ chức hướng dẫn, tạo cơ
hội, điều kiện thuận lợi cho trẻ trong các HĐ của chúng ở trường MN
Cụ thể hóa nguyên tắc này trong HĐVCNT là trẻ được (1) tự chọn thời điểm chơi, (2) tự do lựa chọn trò chơi, (3) tự chọn bạn chơi, (4) tự chọn đồ chơi, (5) triển khai nội dung chơi theo cách của mình, (6) tự quyết định thời lượng chơi, (7) tự giải quyết các vấn đề phát sinh khi chơi [6], [3]
- Nguyên tắc GD trẻ thông qua MT và tạo MT HĐ đa dạng, phong phú hấp dẫn trẻ Đây là quan điểm GD gắn trẻ với cuộc sống hiện thực xung quanh và xây dựng
MT GD phong phú, hấp dẫn, lành mạnh gần gũi với cuộc sống thực của trẻ
Cần lưu ý, MT vật chất chơi NT phải được cung cấp các đồ chơi mang tính GD; còn MT xã hội, GV và những người xung quanh là những hình mẫu và mối quan hệ con người, các sự việc lành mạnh để trẻ tiếp nhận và thể hiện giá trị GD của trò chơi và HĐ
- Nguyên tắc GD trẻ theo hướng tích hợp Nội dung GD trẻ hướng theo các chủ đề, các vấn đề gần gũi của cuộc sống thực của trẻ và được lồng ghép, đan cài trong các HĐGD đa dạng, phong phú trên cơ sở lấy HĐ chủ đạo (HĐVC của trẻ MG) là HĐ công cụ để tích hợp các HĐ khác ở trường MN Như vậy, thông qua HĐVCNT, GV có thể tích hợp các mục tiêu GD
- Nguyên tắc cá biệt hóa trong GDMN Điểm căn bản của nguyên tắc này là coi trọng đặc điểm cá nhân của từng trẻ GD trẻ phải xuất phát từ việc đảm bảo lợi ích của
Trang 38trẻ
1.4.3 Nội dung tổ chức HĐVCNT
Nội dung chơi NT được xác định trong Hướng dẫn tổ chức thực hiện chương trình GDMN 2009 (sau sửa đổi, bổ sung) Ở ngoài trời, trẻ có cơ hội thực hiện các hoạt động yêu thích (1) quan sát sự việc, hiện tượng xung quanh; (2) tiến hành các thử nghiệm khám phá với cát, nước… mà không sợ bị rớt, đổ; (3) chơi vận động, leo trèo, đạp xe… (4) lao động chăm sóc thiên nhiên [4], [6]
Ngoài ra, không gian NT là nơi dễ dàng tìm thấy các vật liệu thiên nhiên như lá cây, cành khô, các loại hạt, viên sỏi Chỉ với những chiếc lá, trẻ có thể làm mũ đội, con cào cào, kèn để thổi, hay thắt nem tầng lầu, làm bún để bán hàng; thậm chí, trẻ còn có thể làm nhẫn để rồi chơi trò cô dâu chú rễ Các cành khô có khi được biến thành hàng rào của lâu đài, có khi là cột cờ, thậm chí là vũ khí chiến đấu
Ở góc cát nước, trẻ có thể xúc - ịn; làm bánh; xây nhà; khám phá các đặc tính của cát như cát khô dùng để mua bán, vận chuyển, các ướt dùng để xây, cát trộn với bùn và nhiều nước thì trông sềnh sệt như là một món ăn Nước giúp trẻ chơi thả thuyền, bắt cá, lội nước, đổ nước vào chai, khám phá thử nghiệm vật chìm vật nổi
Góc thiên nhiên là nơi trẻ có thể nuôi, trồng và chăm sóc các loài sinh vật như rau, hoa, cây ăn quả, vật nuôi, thú cưng Bóng mát là nơi lý tưởng để trẻ cùng ngồi quây quần bên nhau, đọc sách, kể chuyện, đố vui, vẽ tranh, dùng đất để nặn bất kỳ sản phẩm nào theo ý thích
Những khi trời có nhiều gió, trẻ có thể xé giấy làm diều, cảm nhận sự mát mẻ, gửi mùi quả chín, nhìn mây bay rồi tưởng tượng thành các hình thù kỳ thú
Có những trẻ lại thích đi dạo, tận hưởng không khí trong lành, trò chuyện với
cô, xem bác bảo vệ cắt cành, tỉa lá kết hợp với việc giúp trẻ ghi nhận sự lớn lên của cây, sự thay đổi của trái từ khi còn nhỏ cho đến lúc ăn được
Những ngày trời mưa vừa và nhỏ, được tắm mưa là một niềm vui bất tận, một trải nghiệm đầy thú vị với trẻ thơ Trẻ cũng thích mặc áo mưa, hay che dù để đi dạo, quan sát cây cối cuối đầu đón mưa hay các loài động vật đáng thương tìm nơi ẩn trú, thỉnh thoảng, chúng đưa tay, đưa mặt ra mà hứng giọt nước mưa ướt, lạnh lạnh Những
Trang 39cơn mưa to, trẻ có thể đứng bên trong mà nhìn cây cối ngả nghiêng, nước mưa cuốn trôi đi những vật nhỏ hay nước dâng lên cao vì chưa kịp thoát
NT là không gian vô cùng thuận lợi để trẻ leo trèo, chạy nhảy thỏa thích; chơi các trò chơi vận động như cướp cờ, chuyền bóng; hay chơi các trò dân gian như chơi keng, tạc lon, cò chẹp, mèo đuổi chuột, rồng rắn lên mây; hoặc chơi thể thao (đá bóng, cầu lông, nhảy dây, đạp xe) Sân trường thường bố trí các thiết bị như cầu tuột, nhà banh, bập bênh, thang leo, xích đu, trẻ có thể chơi vận động tự do với các thiết bị này
Ngoài ra, các trò chơi đóng vai cũng có thể được thực hiện ở ngoài trời, trẻ có thể làm cảnh sát giao thông, điều khiển các phương tiện; hay làm mẹ tắm cho em búp bê; hoặc giả vờ bán hàng
Như vậy, ở ngoài trời, trẻ có thể chơi tất cả các loại trò chơi đã được xác định ở mục 1.3.2
1.4.5.1 Môi trường xã hội
MT xã hội được hiểu là toàn bộ những điều kiện xã hội như chính trị, văn hóa, các mối quan hệ xã hội
Trong HĐ giữa cô và trẻ, có thể hiểu MT xã hội để tổ chức HĐVCNT là cách ứng xử giữa GV và trẻ trong HĐVCNT bao gồm việc GV cho phép trẻ được tự quyết định việc chơi (tự chọn đồ chơi, bạn chơi, trò chơi, thời điểm và thời lượng khi chơi,
Trang 40không vội vàng can thiệp vào tình huống xảy ra trong khi chơi; luôn tin tưởng, khuyến khích trẻ; tạo cơ hội cho mọi trẻ được chơi; cách giao tiếp giữa trẻ với nhau khi thỏa thuận chơi, thực hiện quy tắc chơi, hợp tác với bạn chơi
Trong thực hiện HĐVCNT của GV, MT xã hội là sự quản lý của phòng GD, BGH trường và sự phối hợp của PH
BGH là linh hồn của trường MN, có tác dụng quyết định đến chất lượng HĐ của nhà trường Nhiệm vụ của BGH là lãnh đạo thực hiện nội dung, phương pháp, có nghĩa là giải quyết bất cứ các vấn đề liên quan nhằm nâng cao chất lượng GD trẻ theo mục tiêu đào tạo [20] Trong phạm vi HĐVCNT của trường, BGH là người trực tiếp quản lý chuyên môn và phối hợp phụ huynh
- Quản lý chuyên môn về HĐVCNT:
+ Bồi dưỡng nghiệp vụ BGH cần hướng dẫn cho GV các nội dung liên quan đến HĐVCNT qua các chuyên đề báo cáo, mô phạm kỹ năng bằng cách tổ chức thực hành sư phạm
+ Tạo MT chơi NT Chỉ đạo quy hoạch sân chơi, đầu tư đồ chơi, VLC, bố trí góc chơi phù hợp
+ Tổ chức kiểm tra, đánh giá HĐVCNT qua quan sát, dự giờ
- Phối hợp với phụ huynh:
+ Chủ trương phối hợp với phụ huynh trong thiết kế sân chơi, trang bị VL chơi
NT
+ Đề nghị phụ huynh hỗ trợ VL chơi, kinh phí HĐ và đưa đón trẻ chơi ngoài khuôn viên trường
+ Mời phụ huynh tham gia một số HĐVCNT cùng trẻ
Như vậy, BGH là người chỉ đạo tạo ra MT bên trong và bên ngoài của HĐVCNT của GV và trẻ
Về phía PH, sự ủng hộ của PH có ý nghĩa rất lớn về mặt tinh thần, hỗ trợ kinh phí và chia sẻ trách nhiệm Trong sự tôn trọng lẫn nhau, ý kiến PH có giá trị quyết định đối với việc trẻ có được tham gia HĐVCNT hay không vì lý do an toàn cá nhân Những đóng góp về mặt vật chất giúp nhà trường có cơ hội xây dựng, cải tạo sân chơi