1. Trang chủ
  2. » Mầm non - Tiểu học

Thực trạng giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 56 tuổi trong trò chơi đóng vai theo chủ đề ở một số trường mầm non tại Thành phố Hồ Chí Minh (Luận văn thạc sĩ)

150 592 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 150
Dung lượng 2,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 56 tuổi trong trò chơi đóng vai theo chủ đề ở một số trường mầm non tại Thành phố Hồ Chí Minh (Luận văn thạc sĩ)Thực trạng giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 56 tuổi trong trò chơi đóng vai theo chủ đề ở một số trường mầm non tại Thành phố Hồ Chí Minh (Luận văn thạc sĩ)Thực trạng giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 56 tuổi trong trò chơi đóng vai theo chủ đề ở một số trường mầm non tại Thành phố Hồ Chí Minh (Luận văn thạc sĩ)Thực trạng giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 56 tuổi trong trò chơi đóng vai theo chủ đề ở một số trường mầm non tại Thành phố Hồ Chí Minh (Luận văn thạc sĩ)Thực trạng giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 56 tuổi trong trò chơi đóng vai theo chủ đề ở một số trường mầm non tại Thành phố Hồ Chí Minh (Luận văn thạc sĩ)Thực trạng giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 56 tuổi trong trò chơi đóng vai theo chủ đề ở một số trường mầm non tại Thành phố Hồ Chí Minh (Luận văn thạc sĩ)Thực trạng giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 56 tuổi trong trò chơi đóng vai theo chủ đề ở một số trường mầm non tại Thành phố Hồ Chí Minh (Luận văn thạc sĩ)Thực trạng giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 56 tuổi trong trò chơi đóng vai theo chủ đề ở một số trường mầm non tại Thành phố Hồ Chí Minh (Luận văn thạc sĩ)

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Lê Nữ Thái Thụy

THỰC TRẠNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI TRONG TRÒ CHƠI ĐÓNG VAI THEO CHỦ ĐỀ Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON TẠI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Lê Nữ Thái Thụy

THỰC TRẠNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI TRONG TRÒ CHƠI ĐÓNG VAI THEO CHỦ ĐỀ Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON TẠI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Lê Nữ Thái Thụy

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin trân trọng cảm ơn Phòng Sau đại học, Phòng Đào tạo, Khoa Giáo dục mầm non, Thư viện trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh và quý thầy cô, đặc biệt là PGS.TS Trần Thị Thu Mai, người đã dành rất nhiều thời gian tận tình hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu và tập thể giáo viên của các lớp 5-6 tuổi của các trường Mầm non trong Quận 7 đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu tại trường

Cuối cùng, tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình và bạn

bè đã động viên, giúp đỡ cho tôi rất nhiều trong quá trình nghiên cứu đề tài này

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 9 năm 2017

Học viên

Lê Nữ Thái Thụy

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các biểu đồ

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI TRONG TRÒ CHƠI ĐÓNG VAI THEO CHỦ ĐỀ 8

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 8

1.1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài 8

1.1.2 Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam 11

1.2 Một số khái niệm có liên quan đến đề tài 13

1.2.1 Kỹ năng 13

1.2.2 Kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 - 6 tuổi 16

1.3 Trò chơi đóng vai theo chủ đề 20

1.3.1 Trò chơi 20

1.3.2 Trò chơi đóng vai theo chủ đề 22

1.4 Giáo dục KNGT cho trẻ 5 - 6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ 28

1.4.1 Khái niệm giáo dục KNGT cho trẻ 5 - 6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ 28

1.4.2 Nội dung giáo dục KNGT cho trẻ 5 - 6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ 31

Trang 6

1.4.3 Hình thức giáo dục KNGT cho trẻ 5 - 6 tuổi trong trò chơi

ĐVTCĐ ở trường mầm non 40

1.4.4 Một số đặc điểm KNGT của trẻ 5 - 6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ 42

1.5 Tiêu chí và thang đánh giá KNGT của trẻ 5 - 6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ 48

1.5.1 Tiêu chí đánh giá KNGT của trẻ 5 - 6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ 48

1.5.2 Thang đánh giá KNGT của tr ẻ5 - 6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ 49

Tiểu kết chương 1 51

Chương 2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI TRONG TRÒ CHƠI ĐÓNG VAI THEO CHỦ ĐỀ Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON TP HCM 52

2.1 Khái quát điều tra thực trạng 52

2.1.1 Mục đích khảo sát 52

2.1.2 Nhiệm vụ khảo sát thực trạng 52

2.1.3 Phương pháp và đối tượng khảo sát 52

2.2 Kết quả điều tra thực trạng giáo dục KNGT cho trẻ 5 - 6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ ở một số trường mầm non TP.Hồ Chí Minh 57

2.2.1 Đánh giá mức độ biểu hiện KNGT của trẻ 5 - 6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ 57

2.2.2 Đánh giá biện pháp giáo viên sử dụng nhằm giáo dục KNGT cho trẻ 5 - 6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ tại một số trường mầm non TP Hồ Chí Minh 66

Trang 7

2.2.3 Thực trạng nhận thức của GVMN về giáo dục KNGT cho trẻ 5

- 6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ 69

2.2.4 Nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng đến KNGT của trẻ 5 - 6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ 76

Tiểu kết chương 2 80

Chương 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC NÂNG CAO KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI TRONG TRÒ CHƠI ĐÓNG VAI THEO CHỦ ĐỀ 81

3.1 Những định hướng xác lập giải pháp 81

3.1.1 Cơ sở lý luận 82

3.1.2 Cơ sở thực tiễn 82

3.2 Những nguyên tắc xác lập giải pháp 83

3.3 Một số biện pháp giáo dục nâng cao KNGT cho trẻ 5 - 6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ theo hướng khuyến khích trẻ tích cực giao tiếp 84

3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 97

3.4.1 Mục đích khảo nghiệm 98

3.4.2 Đối tượng khảo nghiệm 98

3.4.3 Mô tả cách thức tiến hành 99

3.4.4 Kết quả khảo nghiệm 99

Tiểu kết Chương 3 104

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 106

TÀI LIỆU THAM KHẢO 111 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CBQL Cán bộ quản lý

GVMN Giáo viên mầm non

KNGT Kỹ năng giao tiếp

ĐVTCĐ Đóng vai theo chủ đề

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.2 Biểu hiện kỹ năng giao tiếp của trẻ 5 - 6 tuổi qua trò chơi

ĐVTCĐ 39

Bảng 1.3 Tiêu chí đánh giá KNGT của trẻ 5 - 6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ 48

Bảng 2.1 Thang đánh giá mức độ khảo sát 54

Bảng 2.2 Bảng phương pháp và đối tượng khảo sát 55

Bảng 2.3 Khái quát thông tin về đối tượng khảo sát 56

Bảng 2.4 Biểu hiện kỹ năng nghe hiểu lời nói trong giao tiếp của trẻ 5 - 6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ 58

Bảng 2.5 Biểu hiện kỹ năng sử dụng lời nói trong giao tiếp của trẻ 5 - 6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ 60

Bảng 2.6 Biểu hiện kỹ năng thực hiện một số quy tắc thông thường trong giao tiếp của trẻ 5 - 6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ 62

Bảng 2.7 Biểu hiện KNGT của trẻ 5 - 6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ 64

Bảng 2.8 Thống kê quan sát kết quả GV sử dụng các biện pháp giáo dục KNGT cho trẻ 5 - 6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ 67

Bảng 2.9 Ý kiến của GV về mức độ hiệu quả của của việc giáo dục KNGT cho trẻ 5 - 6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ 71

Bảng 2.10 Giáo viên đánh giá biểu hiện KNGT của trẻ 5 - 6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ 73

Bảng 2.11 Nguyên nhân dẫn đến một số KNGT của trẻ 5 - 6 tuổi chưa được hình thành trong trò chơi ĐVTCĐ 76

Bảng 2.12 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc giáo dục KNGT cho trẻ 5 - 6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ 78

Bảng 3.1 Quy ước điểm trung bình (ĐTB) với thang đo các mức độ đánh giá 99

Bảng 3.2 Ý kiến đánh giá của GV về tính cần thiết của các biện pháp 100

Bảng 3.3 Ý kiến của giáo viên về tính khả thi của các biện pháp 102

Trang 10

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Trình độ chuyên môn của GVMN 56 Biểu đồ 2.2 Đánh giá chung biểu hiện KNGT của trẻ 5 - 6 tuổi trong trò

chơi ĐVTCĐ 65 Biểu đồ 2.3 Đánh giá chung về kết quả mức độ KNGT của trẻ 5 - 6 tuổi

trong trò chơi ĐVTCĐ 65 Biểu đồ 2.4 Tổng hợp mức độ sử dụng các biện pháp giáo dục KNGT

cho trẻ 5 - 6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ 68 Biểu đồ 2.5 Nhận thức của GVMN về hình thức rèn luyện KNGT cho trẻ

5 - 6 tuổi 70

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong xu thế hội nhập quốc tế toàn cầu hóa như hiện nay, mục tiêu phát triển con người luôn là chiến lược quan trọng của mỗi quốc gia Để phát triển con người, họ coi giáo dục – đào tạo là “quốc sách hàng đầu” Chiến lược phát triển giáo dục mầm non Việt Nam là “phát triển một số năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kỹ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy

và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời” [4, tr.3]

Trong nội dung giáo dục phát triển tình cảm và kỹ năng xã hội cho trẻ mầm non [4, tr.51], giáo dục kỹ năng giao tiếp (KNGT) chiếm một vị trí quan trọng giúp trẻ thích ứng được với các mối quan hệ giữa con người với con người trong môi trường sống; đồng thời tạo điều kiện cho sự phát triển các chức năng tâm lý khác như trí tuệ, ngôn ngữ, tình cảm xã hội và phát triển thẩm mỹ Trẻ có

kỹ năng giao tiếp tốt sẽ thuận lợi hơn khi tham gia hoạt động học tập ở tiểu học

Vì vậy, việc phát triển KNGT phải được hình thành ngay từ lứa tuổi mầm non KNGT không phải là kỹ năng do bẩm sinh hay di truyền mà nó được hình thành

và phát triển trong quá trình sống, qua những hoạt động giao tiếp xã hội, những trải nghiệm cuộc sống và qua quá trình rèn luyện Giai đoạn trẻ mầm non là những năm quan trọng nhất cho sự giáo dục để phát triển toàn diện cho trẻ, trong

đó có ngôn ngữ và KNGT Trẻ ở giai đoạn này đang bắt đầu học nói, do vậy mà phát triển KNGT cho trẻ rất quan trọng vì nó sẽ ảnh hưởng đến tư duy và quá trình học sau này Ngôn ngữ là phương tiện phát triển tình cảm, đạo đức, thẩm

mĩ giúp trẻ giao lưu cảm xúc với những người xung quanh hình thành những cảm xúc tích cực trong giao tiếp cho trẻ Nó còn là công cụ giúp trẻ nhanh chóng hoà nhập với cộng đồng và trở thành một thành viên của cộng đồng Nhờ có ngôn ngữ mà trẻ dần hiểu được những quy tắc chung của cộng đồng, trẻ cũng có thể dùng ngôn ngữ để giao tiếp với mọi người, điều đó giúp trẻ nhanh chóng hoà nhập với cộng đồng

Trang 12

L N Tônxtôi đã nhận định: “Tất cả những cái gì mà đứa trẻ sẽ có sau này khi trở thành người lớn đều thu nhận được trong thời thơ ấu” Từ khi lọt lòng trẻ được nghe tiếng hát ru của bà, của mẹ trong từng giấc ngủ, trong cả tiếng dỗ dành, trò chuyện cùng trẻ Khi bắt đầu đi học, ngoài việc được cô giáo chăm sóc, được vui chơi, học hành cùng với các bạn, trẻ còn được làm quen, tiếp xúc với rất nhiều những điều mới lạ xung quanh Đặc biệt trẻ được học phát âm đúng, cách dùng câu và luôn được uốn nắn lời nói qua các hoạt động hàng ngày của trẻ nhờ vậy mà trẻ hình thành nhân cách, đạo đức, dần dần trẻ biết sử dụng ngôn ngữ chính xác, biểu cảm rõ ràng những suy nghĩ của mình thông qua ngôn ngữ cũng như có thể kết hợp được các cử chỉ điệu bộ, sắc thái biểu cảm để thể hiện cảm xúc trong giao tiếp Đặc biệt là trẻ 5 - 6 tuổi đang ở giai đoạn chuẩn bị vào lớp 1, đây là giai đoạn cực kỳ quan trọng để giáo dục KNGT giúp trẻ dễ dàng hòa nhập và tiếp cận với môi trường học tập mới Khi trẻ có được KNGT tốt trẻ

sẽ dễ dàng thích ứng được với những mối quan hệ mới trong môi trường hoàn toàn mới và điều này cũng đồng thời tạo điều kiện cho sự phát triển các chức năng tâm lý khác như trí tuệ, cảm xúc, ngôn ngữ, tạo điều kiện cho hoạt động học tập ở tiểu học được tốt hơn

Ở trẻ 5 - 6 tuổi, hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo mà trọng tâm là trò chơi đóng vai theo chủ đề (ĐVTCĐ) Trong trò chơi ĐVTCĐ, trẻ được chơi thỏa thích với các chủ đề chơi đa dạng, phong phú theo cuộc sống thực của chính trẻ Trẻ được tự do trải nghiệm, tự lực trong khi chơi Kharlamov đã viết:

“Trong cuộc sống thực tế các cháu hoàn toàn là trẻ con, chúng chưa có tính tự lực nào cả, chúng bị lôi cuốn theo dòng chảy của cuộc sống một cách mù quáng

và thờ ơ, nhưng trong trò chơi chúng là những con người trưởng thành, đang thử sức lực của mình và tự lực tổ chức sự sáng tạo của mình Trò chơi là phương tiện để phát triển tính sáng tạo, hình thành cho trẻ những năng lực như: năng lực cảm giác vận động, năng lực trí tuệ, ngôn ngữ” [17, tr.10] Trong trò chơi ĐVTCĐ, trẻ có cơ hội chơi thể hiện những điều mà trẻ yêu thích, lúc này “Vị

Trang 13

thế chủ thể của trẻ được phát huy và khẳng định” [6, tr.136] Chính vì được tự

do thể hiện mình nên trẻ rất hào hứng, tích cực giao tiếp trong khi chơi, điều đó

có một ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ trong trò

chơi ĐVTCĐ

Trò chơi ĐVTCĐ luôn nảy sinh những hoàn cảnh giao tiếp buộc trẻ phải chú ý lắng nghe, tôn trọng ý kiến người nói, cố gắng hiểu ngôn ngữ và sử dụng được ngôn ngữ để có thể tương tác với bạn cùng chơi Trẻ có thể dùng ngôn ngữ của mình để cùng nhau bàn bạc, thảo luận, thể hiện ý kiến cá nhân và thuyết phục các thành viên đồng ý với quan điểm, ý của mình…Từ đó phát triển tốt KNGT ở trẻ

Hiện nay, chương trình giáo dục trẻ 5 – 6 tuổi trong chương trình GDMN [4] có chú trọng đến giáo dục KNGT cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non nhưng giáo viên chưa nhận thức được những ưu thế của trò chơi ĐVTCĐ đối với sự hình thành và phát triển KNGT cho trẻ 5 - 6 tuổi Một số giáo viên cũng chưa biết cách tổ chức tốt các trò chơi ĐVTCĐ để tạo môi trường tích cực giúp trẻ 5 -

6 tuổi phát triển KNGT

Chính vì những lý do trên, tôi đã lựa chọn đề tài "Thực trạng giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi trong trò chơi đóng vai theo chủ đề ở một số trường mầm non tại Thành phố Hồ Chí Minh" để nghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu

Khảo sát thực trạng giáo dục KNGT cho trẻ 5 - 6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ ở một số trường mầm non tại TP Hồ Chí Minh, trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp giúp giáo viên giáo dục KNGT cho trẻ 5 - 6 tuổi trong trò chơi

ĐVTCĐ ở trường mầm non theo hướng khuyến khích trẻ tích cực giao tiếp

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

- Khách thể nghiên cứu: Quá trình tổ chức trò chơi ĐVTCĐ cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non

Trang 14

- Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng giáo dục KNGT cho trẻ 5 - 6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ

4 Giả thuyết nghiên cứu

Việc giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ 5 - 6 tuổi trong quá trình tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề ở một số trường mầm non trên địa bàn TP HCM hiện nay còn nhiều hạn chế Nguyên nhân là do giáo viên chưa tổ chức hiệu quả những biện pháp giáo dục KNGT cho trẻ 5 - 6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ Nếu thực hiện một số biện pháp giáo dục KNGT cho trẻ 5 - 6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ theo hướng khuyến khích trẻ tích cực giao tiếp một cách phù hợp sẽ giúp trẻ phát triển kĩ năng giao tiếp tốt hơn

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về giáo dục KNGT cho trẻ 5 - 6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ

- Điều tra thực trạng các biện pháp giáo viên đã sử dụng để giáo dục KNGT cho trẻ 5 - 6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ, thực trạng về biểu hiện KNGT của trẻ 5 - 6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ ở một số trường mầm non tại TP Hồ Chí Minh

- Đề xuất một số biện pháp giáo dục KNGT cho trẻ 5 - 6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ ở trường mầm non

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

- Về đối tượng nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu thực trạng giáo dục kỹ

năng giao tiếp cho trẻ 5 - 6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ, khảo sát mức độ biểu kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 - 6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ theo Chương trình giáo

dục mầm non 2009 và Bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi

- Về khách thể nghiên cứu: Chỉ nghiên cứu ở trẻ 5 - 6 tuổi và giáo viên

mầm non dạy trẻ 5 – 6 tuổi tại một số trường mầm non ở TP.HCM

- Về địa bàn nghiên cứu: một số trường mầm non tại TP HCM

Trang 15

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp lí luận

Phương pháp phân tích, tổng hợp: Sử dụng phương pháp phân

tích, tổng hợp để hệ thống hóa các vấn đề lí luận có liên quan đến đề

tài nghiên cứu

Mục tiêu: Làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu

Nội dung: Hệ thống hoá cơ sở lý luận từ các tài liệu và công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu

Đối tượng: Sách, báo và công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài nghiên cứu

Nội dung: Quan sát quá trình giáo viên tổ chức trò chơi ĐVTCĐ cho trẻ 5

- 6 tuổi; quan sát những kỹ năng giao tiếp mà trẻ biểu hiện trong quá trình tham gia trò chơi ĐVTCĐ

Đối tượng: Giờ hoạt động chơi góc trong lớp (Góc chơi đóng vai theo chủ đề)

Cách thức: chụp hình, thu âm, quay video hoạt động giao tiếp của trẻ, ghi chép để làm tư liệu nghiên cứu

7.2.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Mục tiêu: Đánh giá thực trạng biểu hiện KNGT của trẻ 5 - 6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ; xác định mức độ nhận thức của giáo viên về giáo dục KNGT cho trẻ 5 - 6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ; xác định các biện pháp mà giáo viên đã

Trang 16

thực hiện nhằm giáo dục KNGT cho trẻ 5 - 6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ

Nội dung: hệ thống các câu hỏi trong bảng hỏi

Đối tượng: giáo viên lớp lá, Ban Giám hiệu

Cách thức: gửi bảng hỏi cho từng người

7.2.3 Phương pháp phỏng vấn

Mục tiêu: thu thập thông tin về biểu hiện KNGT của trẻ 5 - 6 tuổi, làm rõ thêm những ý kiến của giáo viên; xác định thực trạng các biện pháp mà giáo viên đã thực hiện nhằm giáo dục KNGT cho trẻ 5 - 6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ làm cơ sở đề xuất một số biện pháp giáo dục KNGT cho trẻ 5 - 6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ

Nội dung: những biểu hiện về KNGTcủa trẻ 5 - 6 tuổi, những biện pháp

mà giáo viên đã thực hiện

Đối tượng: giáo viên mầm non, chuyên gia nghiên cứu về KNGT

Cách thức: phỏng vấn trực tiếp, ghi chép, thu âm

7.2.4 Phương pháp khảo nghiệm

Mục tiêu: khảo sát tính khả thi của các biện pháp tác động nhằm rèn luyện

kĩ năng giao tiếp của trẻ 5 - 6 tuổi

Nội dung: khảo nghiệm một số biện pháp giáo dục KNGT cho trẻ 5 - 6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ

Đối tượng: giáo viên lớp lá, Ban Giám hiệu

Cách thức: Gửi tài liệu hướng dẫn thực hiện nội dung các biện pháp cho giáo viên áp dụng thực hiện các biện pháp, thực hiện trên trẻ; lấy ý kiến phản hồi về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất

Trang 17

Đối tượng: dữ liệu khảo sát từ phiếu điều tra, thông tin phỏng vấn

Phần II: Nội dung nghiên cứu

Chương 1: Cơ sở lý luận về giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 - 6 tuổi

trong trò chơi đóng vai theo chủ đề

Chương 2: Thực trạng giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 - 6 tuổi trong trò chơi đóng vai theo chủ đề ở một số trường mầm non TP.HCM

Chương 3: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 - 6 tuổi

trong trò chơi đóng vai theo chủ đề

Phần III: Kết luận và kiến nghị

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 18

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI TRONG TRÒ CHƠI

ĐÓNG VAI THEO CHỦ ĐỀ 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài

Giao tiếp là một thuật ngữ đã được một số nhà triết học cổ đại Hy Lạp như Platon (428 – 347 trước công nguyên), Socrate (460 – 399 trước công nguyên) đề cập đến như là sự giao tiếp trí tuệ, phản ánh các mối quan hệ giữa con người với con người

Đầu thế kỷ XX, các nhà tâm lý học, giáo dục học và các nhà xã hội học đã

có những công trình nghiên cứu sâu sắc hơn về giao tiếp: A N Lêonchiev và các cộng sự của ông coi giao tiếp như là một dạng hoạt động với đầy đủ động

cơ, mục đích, điều kiện và phương tiện hoạt động

L.X.Vưgôtxki [19] cho rằng: Giao tiếp xem như là sự thông báo hoặc quan hệ qua lại thuần túy giữa con người, như là sự trao đổi quan điểm và xúc cảm Như vậy sự giao tiếp luôn thể hiện cảm xúc của người với người trong các

mối quan hệ giao tiếp Kĩ năng giao tiếp sẽ được phát triển khi trong quá trình giao tiếp có biểu hiện của cảm xúc tích cực

Trong những thập kỷ cuối của thế kỷ XX, giao tiếp đã được đông đảo các nhà tâm lý học và giáo dục học nghiên cứu sâu sắc trong những chuyên ngành hẹp Đặc biệt có rất nhiều công trình nghiên cứu về giao tiếp của học sinh, những công trình đó tập trung vào những vấn đề: đặc điểm, hình thức và nhữngkhó khăn tâm lý trong giao tiếp của học sinh; vai trò của giao tiếp trong sự hình thành phát triển nhân cách của học sinh; cách thức phát triển khả năng giao tiếp của học sinh

Các công trình nghiên cứu về giáo dục KNGT cho trẻ em rất đa dạng dưới những khía cạnh khác nhau

Trang 19

Hướng thứ nhất, nghiên cứu về vai trò, chức năng của giao tiếp trong sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ em Những tác giả nghiên cứu theo hướng này gồm có M.I.Lixina, G.A.Uruntaeva, Iu.A.Aphôkina, M.X.Cagan… Những tác giả này đã xem giao tiếp như là điều kiện cơ bản để trẻ có thể phát triển toàn diện, nhờ có giao tiếp mà trẻ có thể nhận thức và đánh giá bản thân thông qua người khác Việc hình thành quan hệ giao tiếp tốt của trẻ với những người xung quanh là điều kiện để trẻ bộc lộ và hình thành KNGT của mình

Hướng thứ hai, nghiên cứu về việc phát triển KNGT của trẻ em gồm các tác giả X.V.Pêcherina, E.I.Sibireva, A.D.Vôrônôva, T.A.Nhicôla, v.v… Theo những tác giả này, cần dựa vào cuộc sống thực của trẻ để phát triển KNGT cho trẻ, thông qua những hoạt động đa dạng và gần gũi với chúng như vui chơi, học tập, lao động, sinh hoạt vệ sinh… Trong đó, vui chơi là hoạt động chủ đạo ở lứa tuổi mẫu giáo

Hướng thứ ba, các tác giả Tara Winterton, Đavid Warden, A S Charles… quan tâm đến vấn đề hình thành KNGT cho trẻ nhỏ Họ cho rằng yếu

tố hoàn cảnh (gia đình, nhà trường, cộng đồng) có ảnh hưởng rất lớn tới KNGT của trẻ Theo họ, cần tìm kiếm, quan sát và sử dụng những yếu tố tích cực trong những môi trường đó để giáo dục KNGT cho trẻ

Còn rất nhiều các nhà tâm lý học khác cũng nghiên cứu về KNGT của trẻ mầm non, vì vấn đề nghiên cứu này là một hướng nghiên cứu ứng dụng giao tiếp vào các lĩnh vực của đời sống được các tác giả quan tâm, chú trọng Nhiều công trình nghiên cứu khẳng định: ảnh hưởng to lớn và mối quan hệ giữa các yếu tố KNGT với sự phát triển các chức năng tâm lý của trẻ

Các nhà tâm lý học như L.V.Vưgôtxki, A.N.Leônchiev… đều cho rằng, chơi là sản phẩm sáng tạo của cá nhân dưới ảnh hưởng trực tiếp của môi trường xung quanh Thông qua chơi trẻ lĩnh hội được kinh nghiệm lịch sử - xã hội và chơi chỉ trở thành phương tiện giáo dục khi có sự hướng dẫn sư phạm đúng đắn Đứa trẻ cần phải có môi trường xã hội và trẻ sống trong đó Khi hoạt động bản

Trang 20

thân trẻ giao tiếp với môi trường xung quanh sẽ tạo ra hứng thú giao tiếp và điều

đó có ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển của hoạt động giao tiếp của trẻ mẫu giáo trong tương lai [19], [20]

Theo Đ.B.Encônin, lịch sử phát triển trò chơi gắn liền trong mối quan hệ với sự phát triển của xã hội loài người và sự thay đổi vị trí của đứa trẻ trong hệ thống các mối quan hệ xã hội Ông cho rằng, vào thời kỳ này xã hội loài người mới hình thành, trò chơi của trẻ mẫu giáo chưa xuất hiện Tiếp theo thời kỳ sau

đó, công cụ lao động phức tạp dần, có sự phân công lao động theo lứa tuổi và vị trí của đứa trẻ trong xã hội cũng có sự thay đổi theo Khi đứa trẻ không thể tham gia lao động trực tiếp cùng người lớn, cũng không thể tham gia trực tiếp vào các mối quan hệ xã hội của họ như trước, khi ấy hoạt động chơi và các đồ chơi cũng xuất hiện Đồ chơi giống như công cụ lao động, nhưng trẻ không thể tập luyện như công cụ lao động mà chỉ có thể miêu tả được các hành động của lao động

mà thôi Trò chơi ĐVTCĐ xuất hiện, khi trẻ chơi các trò chơi này chúng được thỏa màn nguyện vọng của chính mình là vươn tới cuộc sống xã hội của người lớn, được hành động và đối xử như người lớn thực sự

Theo A.X.Macarenco đã viết, trò chơi có một ý nghĩa rất quan trọng với trẻ Ý nghĩa này chẳng khác gì ý nghĩa của sự hoạt động, sự làm việc và sự phục

vụ đối với người lớn Đứa trẻ thể hiện như thế nào qua trò chơi thì sau này trong phần lớn trường hợp nó cũng thể hiện như thế trong công việc Ông còn nhấn mạnh ý nghĩa đặc biệt của trò chơi Ông nhìn nhận trò chơi ở nhiều khía cạnh khác nhau và trước tiên là trong việc chuẩn bị cho đứa trẻ bước vào cuộc sống, vào hoạt động lao động Trò chơi có ý nghĩa lớn trong cuộc sống của đứa trẻ, tương tự như hoạt động, công việc có ý nghĩa quan trọng đối với người lớn Đứa trẻ qua trò chơi như thế nào nó sẽ như thế trong công việc sau này khi lớn lên Cho nên giáo dục trẻ những KNGT như một con người hoạt động tương lai trước hết phải đi từ trò chơi

Vấn đề nghiên cứu về sử dụng trò chơi với mục đích giáo dục trẻ phát

Trang 21

triển toàn diện là vấn đề cần thiết trong mọi giai đoạn lịch sử phát triển của sự nghiệp giáo dục mầm non [8]

Như vậy, công trình nghiên cứu nước ngoài chủ yếu tập trung vào những

vấn đề lý luận chung về giao tiếp, KNGT, nghiên cứu những vấn đề trò chơi của trẻ và có những thành công nhất định Chúng ta không phủ nhận thành quả nghiên cứu về giao tiếp của trẻ 5 - 6 tuổi mà các nhà khoa học đã đem lại Nhưng vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về giáo dục KNGT cho trẻ em mầm non, nhất là các công trình nghiên cứu sự hình thành, phát triển KNGT cho trẻ 5 - 6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ

1.1.2 Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam

Các tác giả có công trình nghiên cứu về KNGT ở trẻ mầm non như tác giả Nguyễn Ánh Tuyết, Lê Xuân Hồng, Nguyễn Thạc, Ngô Công Hoan, Nguyễn Xuân Thức… đã tập trung nghiên cứu những khía cạnh tâm lý của giao tiếp ở trẻ

em Các tác giả đã chỉ ra những đặc điểm giao tiếp của trẻ và đưa ra những phương hướng hình thành tính tích cực trong giao tiếp cho trẻ 5 - 6 tuổi

Các công trình nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Thạc, Nguyễn Công Hoan, PGS TS Nguyễn Ánh Tuyết với cuốn sách “Giáo dục mầm non những vấn đề lý luận và thực tiễn” hay “Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non” [27] Trong những cuốn sách này tác giả đã đề cập đến vai trò của trò chơi ĐVTCĐ với sự phát triển khả năng giao tiếp của trẻ một cách khái quát

Vấn đề phát triển KNGT cho trẻ em trong quá trình giáo dục quan trọng hơn cả Trẻ cần được trợ giúp để bồi dưỡng và phát triển KNGT này bởi chúng còn đang ở trong giai đoạn hình thành, phát triển nhân cách và trí tuệ Các tác giả Nguyễn Văn Lê, Trần Trọng Thuỷ, Trần Ngọc Thêm, Bằng Giang lại nghiên cứu sâu hơn về những đặc trong văn hoá giao tiếp của con người Việt Nam và những vấn đề về phương tiện giao tiếp Trong những công trình nghiên cứu của những tác giả này còn đề cập đến những KNGT đặc trưng, các nét tính cách biểu

lộ qua giao tiếp, v v…

Trang 22

Tác giả Nguyễn Quang Uẩn (1995) trong “Tâm lý học đại cương”, đã quan niệm tri thức - kỹ năng - kỹ xảo là điều kiện cần thiết để hình thành năng lực trong một lĩnh vực nào đó cho người học [33]

Các tác giả Lưu Thu Thuỷ, Võ Nguyễn Du, Phạm Ngọc Định tập trung nghiên cứu vấn đề giao tiếp ở học sinh tiểu học Những kết quả nghiên cứu của

họ về quy trình giáo dục, nội dung, phương pháp giáo dục và các điều kiện giáo dục hành vi giao tiếp có văn hoá cho học sinh tiểu học là một trong những cơ sở quan trọng giúp chúng ta nghiên cứu sâu hơn về quá trình phát triển KNGT cho trẻ 5 - 6 tuổi trong các hoạt động chăm sóc giáo dục ở trường mầm non

Tác giả Ngô Công Hoàn [10], Hoàng Anh [2] đặc biệt đi sâu nghiên cứu cấu trúc của 3 nhóm KNGT sư phạm đó là nhóm kỹ năng định hướng giao tiếp, nhóm kỹ năng định vị, nhóm kỹ năng điều khiển quá trình giao tiếp Theo các tác giả các kỹ năng này có mối quan hệ chặt chẽ và chi phối lẫn nhau

Tác giả Trần Trọng Thuỷ đã làm rõ khái niệm kỹ năng và điều kiện để hình thành kỹ năng trong hoạt động lao động Trong đó, tác giả đã phân tích mối quan hệ giữa văn hoá và giao tiếp cụ thể: “Văn hoá giao tiếp có liên quan mật thiết với KNGT, có một số KNGT đặc trưng của con người như kỹ năng chỉnh sửa các ấn tượng ban đầu của mình về người khác khi mới quen với họ, kỹ năng bước vào giao tiếp với người khác một cách không có định kiến Những kỹ năng này không có sẵn, mà phải thông qua học tập và rèn luyện” [32]

Ở Việt Nam có hai thuật ngữ thường dùng để chỉ khái niệm giao tiếp đó là giao lưu và giao tiếp Phần lớn các nhà Tâm lý học Việt Nam đều đồng tình với cách tiếp cận khái niệm giao tiếp theo hướng xem giao tiếp là quá trình hiện thực hoá các mối quan hệ giữa người với người, trong quá trình đó diễn ra sự trao đổi thông tin sự nhận thức lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau; kết quả là tâm lý

cả hai đều phát triển Vì thế các tác giả theo hướng này phủ nhận việc tồn tại

giao tiếp trong thế giới động vật

Như vậy, giao tiếp là công cụ đắc lực cho hoạt động, là yếu tố cơ bản để

Trang 23

thiết lập quan hệ giữa chủ thể và đối tượng, giữa người với người, tạo ra cơ sở cho sự tồn tại của con người, để hiểu biết lẫn nhau, hợp tác với nhau nhằm hướng tới mục đích lao động, học tập, vui chơi giải trí KNGT vừa có tính ổn định, vừa có tính mềm dẻo, linh hoạt, sáng tạo, vừa có tính mục đích Bản chất của KNGT là sự phối hợp phức tạp giữa chuẩn mực hành vi xã hội và cá nhân với sự vận động của cơ thể (cơ mặt, ánh mắt, nụ cười, môi, tác động tay, chân, đầu, cổ, vai, tư thế vận động) và ngôn ngữ Sự phối hợp đó có tính hài hoà, hợp

lý có nghĩa là nó mang một nội dung thông tin nhất định, phù hợp với mục đích giao tiếp và mang lại hiệu quả trong quá trình giao tiếp”

Đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu về trò chơi, sử dụng chúng vào việc hình thành và phát triển nhân cách, giáo dục đạo đức, giáo dục lòng nhân ái, giáo dục tính cực nhận thức, giáo dục tính tích cực giao tiếp, giáo dục tính hợp tác, giáo dục thể chất cho trẻ em nói chung và trẻ mẫu giáo nói riêng

Tác giả Lê Minh Thuận trong tài liệu “Trò chơi ĐVTCĐ và việc hình thành nhân cách cho trẻ mẫu giáo” đã đi sâu vào phân tích vai trò của trò chơi ĐVTCĐ đối với việc hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ mẫu giáo [31]

Tác giả Nguyễn Văn Lũy, Trần Thị Tuyết Hoa chỉ ra rằng, ảnh hưởng của trò chơi tới sự phát triển nhân cách của đứa trẻ thể hiện ở chỗ, thông qua trò chơi, trẻ tìm hiểu hành vi và những mối quan hệ qua lại của người lớn mà đứa trẻ coi là mẫu mực đối với hành vi của nó Qua trò chơi, đứa trẻ cũng rèn luyện được những KNGT cơ bản, những phẩm chất cần thiết để tiếp xúc với các bạn cùng tuổi Để gây hứng thú cho bạn chơi, đứa trẻ phải [19]

1.2 Một số khái niệm có liên quan đến đề tài

Trang 24

phương thức hành động là con người đã có kỹ năng, không cần đến kết quả của

hành động [18]

Trong cuốn "Tâm lý học cá nhân" A.G.Côvaliôv nhấn mạnh: "Kỹ năng là

sự phù hợp của hành động với mục đích và điều kiện hành động" Ông cũng

không đề cập đến kết quả của hành động vì theo ông, kết quả của hành động phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó quan trọng hơn cả là năng lực của con người chứ không đơn giản là cứ nắm vững cách thức hành động thì đem lại kết quả tương ứng [6]

Khi bàn về kỹ năng, tác giả Trần Trọng Thủy cũng cho rằng, kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành động, con người nắm vững cách thức hành động, tức là

nắm vững kỹ thuật hành động là có kỹ năng [33] Còn các tác giả Lê Văn Hồng,

Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng cho rằng, kỹ năng là khả năng vận dụng kiến thức (khái niệm, cách thức, phương pháp ) để giải quyết một nhiệm vụ mới

[14] Ở đây, các tác giả cũng không đề cập đến kết quả của hành động Khác với các tác giả trên, K K Platonốv và G G Gôlubev khi bàn về kỹ năng đã rất chú

ý tới mặt kết quả của hành động Họ đồng quan điểm cho rằng "kỹ năng là khả năng của con người thực hiện một hoạt động bất kỳ nào đó hay các hành động trên cơ sở của kinh nghiệm cũ" Như vậy, họ đã nhấn mạnh, kỹ năng là năng lực

của người thực hiện công việc có kết quả với một chất lượng cần thiết trong những điều kiện khác nhau và trong khoảng thời gian tương ứng Bất kỳ một kỹ năng nào cũng bao hàm trong đó cả biểu tượng, khái niệm, vốn tri thức, kỹ xảo tập trung và phân phối, di chuyển chú ý, kỹ xảo tri giác, quan sát, tư duy sáng tạo, tự kiểm tra, điều chỉnh quá trình hoạt động cũng như kỹ xảo hành động Theo hai ông, trong quá trình hình thành kỹ năng, các biểu tượng, khái niệm đã

có sẽ được mở rộng ra, được làm sâu sắc hơn, được hoàn thiện và và được "dày hơn lên" bằng những nhân tố mới Kỹ năng không mâu thuẫn với vốn tri thức,

kỹ xảo mà kĩ năng được hình thành trên cơ sở của chúng K.K.Platônôv khẳng

định: "Cơ sở tâm lý của kỹ năng là sự thông hiểu mối liên hệ giữa mục đích

Trang 25

hành động, các điều kiện và phương thức hành động" [25, tr.77, tr.101, tr.162]

A.V.Pêtrovxki nhận định: "Kỹ năng là sự vận dụng những tri thức, kỹ xảo

đã có để lựa chọn và thực hiện những phương thức hành động tương ứng với mục đích đặt ra" [26]

Trong "Từ điển Tâm lý học" do Vũ Dũng chủ biên, kỹ năng được định

nghĩa: "Là năng lực vận dụng có kết quả tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng" [6, tr.132]

Như vậy, về kỹ năng có rất nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu

và đã đưa ra những quan điểm khác nhau Ta thấy có hai quan niệm về kỹ năng như sau:

Quan niệm thứ nhất: Kỹ năng được xem xét nghiêng về mặt kỹ thuật của

thao tác hay hành động hoạt động Đó là quan niệm của các tác giả: V.X.Rudich, V.A.Krutexki, A.G.Côvaliôv, Trần Trọng Thủy v.v

Quan niệm thứ hai: Kỹ năng được xem xét nghiêng về mặt năng lực của con người Theo quan niệm này, kỹ năng vừa có tính ổn định, vừa có tính mềm dẻo, tính linh hoạt, sáng tạo và vừa có tính mục đích Đại diện cho quan niệm này có các tác giả: X.I.Kixegôv, K.K.Platônôv, G.G.Golubev, Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Ánh Tuyết,

Cách xem xét kỹ năng nghiêng về năng lực của con người để thực hiện các công việc có kết quả đã bao hàm cả quan niệm KN là kỹ thuật hành động trong đó, bởi chỉ khi sự vận dụng tri thức vào thực tiễn một cách thuần thục thì mới có được kết quả công việc đạt chất lượng

Về thực chất, hai quan niệm trên không phủ định nhau Sự khác nhau chỉ

ở chỗ bàn đến kỹ năng ở phạm vi rộng hay hẹp, và do đó mở rộng hay thu hẹp thành phần cấu trúc của kỹ năng cũng như những đặc tính của chúng Theo chúng tôi, khi bàn bàn tới kỹ năng của một hoạt động nào đó, đặc biệt là hoạt động nghề nghiệp lúc bắt đầu hình thành, thì cần xem xét kỹ năng ở mặt kỹ thuật của các thao tác, của hành động hay hoạt động Còn khi ở con người, kỹ

Trang 26

năng đã hình thành ổn định, con người biết sử dụng nó một cách sáng tạo trong các hoàn cảnh khác nhau, khi đó, kỹ năng được xem xét như một năng lực, một vốn quý của con người

Như vậy: Kỹ năng là năng lực thực hiện có kết quả một hành động bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có phù hợp với những hoàn cảnh thực tiễn khác nhau Kỹ năng không chỉ đơn thuần về mặt kĩ thuật

của hành động, mà còn là biểu hiện năng lực của con người Đây là khái niệm

mà chúng tôi sử dụng làm công cụ nghiên cứu chính trong đề tài

1.2.2 Kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 - 6 tuổi

1.2.2.1 Giao tiếp

Giao tiếp là một hoạt động rất phong phú, đa dạng của con người Khi bàn

về vấn đề giao tiếp, các nhà tâm lý học đã đưa ra những định nghĩa khác nhau Mỗi định nghĩa đều đứng trên những quan điểm riêng, phản ánh những góc độ khác nhau của giao tiếp

Theo A N Leônchiev [21], giao tiếp là các biểu hiện ở mối quan hệ giữa người với người; sự tiếp xúc về tâm lý; có sự trao đổi thông tin, tình cảm và điều

chỉnh lẫn nhau Ông định nghĩa: "giao tiếp là một hệ thống những quá trình có mục đích và động cơ bảo đảm sự tương tác giữa người này với người khác, trong hoạt động tập thể thực hiện các quan hệ xã hội và nhân cách, các quan hệ tâm lý và sử dụng phương tiện đặc thù " Theo định nghĩa trên, khái niệm giao

tiếp được khai thác dưới góc độ là một quá trình có mục đích, động cơ, nội dung

Trang 27

Tác giả Ngô Công Hoàn cho rằng: "Giao tiếp là quá trình tiếp xúc giữa con người với con người nhằm mục đích trao đổi tư tưởng, tình cảm, vốn sống,

kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp" [10]

Tác giả Trần Trọng Thủy quan niệm: "Giao tiếp của con người là một quá trình có chủ định hay không có chủ định, có ý thức hay không có ý thức mà trong đó, các cảm xúc và tư tưởng được biểu đạt trong các thông điệp bằng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ" [33]

Tác giả Nguyễn Quang Uẩn viết: "Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa người và người, thông qua đó con người trao đổi với nhau về thông tin, về cảm xúc, tri giác lẫn nhau, ảnh hưởng tác động qua lại lẫn nhau Hay nói cách khác

đi, giao tiếp xác lập và vận hành các quan hệ người - người, hiện thực hóa các quan hệ xã hội giữa chủ thể này với chủ thể khác" [34] Tác giả đã xem giao tiếp

như điều kiện của sự tồn tại và phát triển của con người Thông qua giao tiếp,

các mối quan hệ liên nhân cách của con người được phát triển

Giao tiếp là nhu cầu tất yếu, đặc trưng của xã hội loài người, giao tiếp được tiến hành bằng nhiều hình thức có ngôn ngữ hay phi ngôn ngữ, khả năng giao tiếp của trẻ em phụ thuộc nhiều vào KNGT và vốn kinh nghiệm sống của

từng trẻ Từ những dấu hiệu chung của giao tiếp, chúng tôi quan niệm: Giao tiếp của trẻ 5 - 6 tuổi là quá trình tiếp xúc tâm lý của trẻ với những người khác nhằm mục đích truyền đạt, tiếp nhận, trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm và hành động của trẻ với các chủ thể qua việc hiểu ngôn ngữ và diễn đạt ngôn ngữ bằng lời nói, nét mặt, cử chỉ, điệu bộ Thông qua giao tiếp nhân cách của trẻ được hình thành và phát triển

1.2.2.2 Kỹ năng giao tiếp của trẻ 5 – 6 tuổi

Có nhiều quan điểm khác nhau về một thuật ngữ KNGT Các nhà khoa học đã có những quan niệm khác nhau với cách nhìn và khai thác khác nhau về KNGT

Nghiên cứu về KNGT, tác giả Hoàng Anh quan niệm KNGT là năng lực

Trang 28

của con người biểu hiện trong quá trình giao tiếp Đó là các khả năng sử dụng hợp lý các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ là hệ thống các thao tác cử chỉ, điệu bộ hành vi được chủ thể giao tiếp phối hợp hài hòa [1]

Dưới góc độ nhìn nhận khả năng tri giác những biểu hiện bên ngoài và những diễn biến bên trong của hiện tượng, tác giả Ngô Công Hoàn đã coi KNGT

“là khả năng tri giác hiểu được những biểu hiện bên ngoài cũng như những diễn biến bên trong của các hiện tượng, trạng thái, phẩm chất tâm lý của đối tượng giao tiếp” [10] Trong thực tế, KNGT của con người không chỉ phụ thuộc vào

phương tiện giao tiếp mà nó phụ thuộc khá nhiều vào vốn sống, vốn kinh nghiệm của cá nhân, phụ thuộc vào những nét văn hóa đặc trưng vùng miền mà người đó sinh sống, có khi còn chịu ảnh hưởng của sự giáo dục, quản lý của gia đình

Các quan điểm trên đồng nhất quan điểm KNGT là nhóm kỹ năng bao gồm các hành động liên quan đến việc hình thành mối quan hệ hợp tác giữa chủ thể và đối tượng giao tiếp, giữa đối tượng giao tiếp với nhau Trong xã hội và trong hoạt động giao tiếp của con người, KNGT chính là khả năng sử dụng ngôn ngữ và khả năng biểu cảm của con người, với sự phối hợp hài hòa giữa lời nói

và cử chỉ của chủ thể và đối tượng giao tiếp

Từ những quan niệm khác nhau về giao tiếp và KNGT, chúng tôi hiểu KNGT là một hiện tượng tâm lý rất phức tạp về nhiều mặt và nhiều cấp độ khác nhau, KNGT của trẻ là sự tiếp xúc giao lưu tâm lý giữa trẻ với mọi người, thông qua đó trẻ trao đổi với nhau về thông tin, về cảm xúc, tri giác lẫn nhau, ảnh hưởng tác động qua lại với nhau Để giao tiếp có hiệu quả đòi hỏi mỗi đứa trẻ phải có KNGT Đó là toàn bộ thao tác, cử chỉ trong hoạt động giao tiếp

Trong đề tài này chúng tôi hiểu khái niệm KNGT như sau: “KNGT là sự vận dụng các tri thức, kinh nghiệm cũng như việc sử dụng hợp lí các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, nhằm giúp chủ thể giao tiếp thực hiện có hiệu quả việc trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm với đối tượng giao tiếp”

Trang 29

1.2.2.3 Phân loại kỹ năng giao tiếp

Tác giả Hoàng Anh [2] đi sâu vào nghiên cứu các nhóm kỹ năng giao tiếp

và chia kỹ năng giao tiếp thành ba nhóm kỹ năng:

Nhóm thứ nhất, kỹ năng sử dụng ngôn ngữ là sự chủ động chào khi gặp mặt và nói lời tạm biệt khi chia tay; trẻ biết dùng ngôn ngữ để yêu cầu về đồ vật,

về thông tin, về sự giúp đỡ với bạn bè trong khi chơi, để trao đổi với bạn một cách chủ động; đồng thời trẻ biết dùng ngôn ngữ để từ chối sự giúp đỡ, từ chối thông tin từ chối đồ vật khi những điều ấy không đáp ứng nhu cầu của trẻ; trẻ biết chia sẻ thông tin, cung cấp thông tin, đề nghị giúp đỡ bạn trong khi chơi thông qua hoạt động hằng ngày giúp trẻ biết thiết lập mối quan hệ trong giao tiếp với bạn bè một cách chủ động và tự tin hơn

Nhóm thứ hai, kỹ năng diễn đạt nghĩa trong câu bao gồm trẻ biết miêu tả

sự vật, hiện tượng đang ở trong tình huống hiện tại, trẻ biết diễn tả đúng những điều mình mong muốn cho bạn hiểu; trẻ biết dùng câu để diễn tả sự phủ định, sự

từ chối của trẻ, sự biến mất hay sự ngừng lại của một sự vật hiện tượng; trẻ biết nói về vị trí, thuộc tính của sự vật, hiện tượng; trong câu nói của trẻ thể hiện sự

sở hữu sự vật, hiện tượng, trẻ có thể đặt ra về nơi chốn, cái gì, tại sao, ai và về những câu hỏi có, không

Nhóm thứ ba, kỹ năng diễn đạt các đặc điểm văn phạm trong câu: ở kỹ năng này xem xét xem trẻ có sử dụng giới từ để nói về vị trí hay trạng thái của các sự vật hiện tượng hay không? trẻ có biết sử dụng ngôn ngữ để miêu tả về đặc điểm đơn giản của đồ vật, trẻ có biết sử dụng từ “đang” để nói về hoạt động xảy ra ở hiện tại; về các đại từ sở hữu, đại từ nhân xưng mà trẻ sử dụng, về các câu trẻ muốn nói về thời tương lai và thời quá khứ Mặc dù, đây là một trong những mục tiêu đặt ra để xây dựng những biện pháp giúp trẻ có kỹ năng giao tiếp tốt hơn nhưng đây là mục tiêu thứ trong các mục tiêu ưu tiên ở trên

Nếu cách phân chia nhóm KNGT như phân tích trên chủ yếu dựa vào khả năng sử dụng ngôn ngữ thì cách phân chia của Ngô Công Hoàn [10] toàn diện

Trang 30

hơn vì đã dựa vào các bước tiến hành của một pha giao tiếp cho rằng kỹ năng giao tiếp gồm có kỹ năng sau:

- Kỹ năng thiết lập các mối quan hệ trong giao tiếp

- Kỹ năng cân bằng nhu cầu của chủ thể và đối tượng giao tiếp

- Kỹ năng lắng nghe và biết cách lắng nghe đối tượng giao tiếp – Kỹ năng

tự chủ cảm xúc và hành vi

- Kỹ năng nhạy cảm trong giao tiếp

- Kỹ năng diễn đạt dễ hiểu, gọn gàng, mạch lạc

- Kỹ năng linh hoạt mềm dẻo trong giao tiếp

- Kỹ năng thuyết phục trong giao tiếp

- Kỹ năng điều khiển quá trình giao tiếp

- Kỹ năng tự kiềm chế và kiểm tra đối tượng giao tiếp

Tóm lại, các công trình nghiên cứu về KNGT nêu trên đã chỉ ra các khía cạnh khác nhau của KNGT trong sự phát triển giao tiếp nói chung và giao tiếp của trẻ 5 - 6 tuổi nói riêng Các tác giả đã xác định được đặc điểm của KNGT; vai trò của ngôn ngữ đối với sự phát triển KNGT của trẻ; chỉ ra các nhóm KNGT cần có ở trẻ… Những nghiên cứu này là sự gợi mở giúp chúng tôi xây dựng hướng nghiên cứu cho đề tài của mình

1.3 Trò chơi đóng vai theo chủ đề

1.3.1 Trò chơi

Có nhiều quan niệm khác nhau về trò chơi Trò chơi được xem như một hiện tượng liên quan đến thời gian rảnh rỗi và sự giải trí của con người do chịu ảnh hưởng của sự phát triển tôn giáo - văn hóa – kinh tế và xã hội của nhân loại

J.Piaget cho rằng, trò chơi là hoạt động trí tuệ thuần túy là một nhân tố quan trọng đối với sự phát triển trí tuệ Hoạt động chơi là hoạt động thiết yếu và

an toàn nhất cho trẻ nhiều cơ hội vui thú để trải nghiệm và khám phá không ngừng, thúc đẩy liên tục sự phát triển trí tuệ của trẻ Theo Piaget, có ba loại trò chơi chính lần lượt xuất hiện trong quá trình phát triển của trẻ Đó là: trò chơi

Trang 31

hành động chức năng, trò chơi tượng trưng (bao gồm trò chơi mô phỏng và trò chơi xây dựng) và sau cùng là trò chơi ĐVTCĐ Đến nay, cách phân loại này vẫn còn có ý nghĩa đối với việc tổ chức chơi cho trẻ ở các độ tuổi khác nhau Trong đó, trò chơi ĐVTCĐ có ý nghĩa lớn đối với trẻ mẫu giáo Qua trò chơi này trẻ được thỏa mãn nhu cầu giao lưu với các bạn cùng nhóm chơi

Với tác giả Đặng Thành Hưng thì trò chơi là một thuật ngữ có hai nghĩa khác nhau tương đối xa [16]

Một là kiểu loại phổ biến của chơi Nó chính là chơi có luật (tập hợp quy tắc định rõ mục đích, kết quả và yêu cầu hành động) và có tính cạnh tranh hoặc tính thách thức đối với người tham gia

Hai là những thứ công việc được tổ chức và tiến hành dưới hình thức chơi, như chơi bằng chơi, chẳng hạn: học bằng chơi, giao tiếp bằng chơi, rèn luyện thân thể dưới hình thức chơi

Các trò chơi đều có luật lệ, quy tắc, nhiệm vụ, yêu cầu tức là có tổ chức

và thiết kế, nếu không có những thứ đó thì không có trò chơi mà chỉ có sự chơi đơn giản Như vậy, trò chơi là tập hợp các yếu tố chơi, có hệ thống và có tổ chức, vì thế luật hay quy tắc chính là phương tiện tổ chức tập hợp đó

Trong phạm vi đề tài, chúng tôi hiểu trò chơi của trẻ em là một hình thức hoạt động vui chơi của trẻ trong một điều kiện nhất định nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm lý nhất định; trò chơi của trẻ em luôn hướng đến sự tái tạo, lĩnh hội kinh nghiệm xã hội của loài người

Phân loại trò chơi cho trẻ mẫu giáo

Hiện nay, trò chơi cho trẻ mẫu giáo rất đa dạng, phong phú Có nhiều cách phân loại trò chơi cho trẻ em Tuy nhiên, chúng tôi đề cập đến cách phân loại có trong chương trình mẫu giáo hiện hành ở nước ta, trò chơi của trẻ mẫu giáo gồm 3 nhóm:

 Nhóm trò chơi sáng tạo:

 Trò chơi đóng vai theo chủ đề (phản ánh sinh hoạt)

Trang 32

 Nhóm trò chơi dân gian

Trò chơi là phương tiện phát triển toàn diện nhân cách của trẻ, là phương tiện để trẻ học làm người Từ định nghĩa của trò chơi ta rút ra được các đặc điểm của trò chơi như sau:

Thứ nhất, trò chơi mang tính chất tượng trưng-kí hiệu Ở đó, tính hiện thực được tái hiện ở dạng biểu tượng hay là các dấu hiệu Các trò chơi được hoàn thiện ở hình thức tượng trưng trừu tượng

Thứ hai, trò chơi mang bản chất xã hội sâu sắc Trò chơi của trẻ gắn liền với cuộc sống xã hội Nội dung của trò chơi phản ánh những gì đang diễn ra xung quanh và để lại ở trẻ ấn tượng sâu sắc

Thứ ba, trò chơi mang tính giải trí cao Khi chơi, nhu cầu chơi của cá nhân được thỏa mãn

Thứ tư, trò chơi có cấu trúc: chủ đề chơi, luật chơi, nội dung chơi, mối quan hệ khi chơi, đồ chơi, hoàn cảnh chơi

1.3.2 Trò chơi đóng vai theo chủ đề

Trò chơi ĐVTCĐ hay còn gọi là trò chơi giả bộ, có tính tượng trưng độc đáo, mô tả lại những sự việc diễn ra trong cuộc sống sinh hoạt của trẻ Đây là một hoạt động chủ đạo vui chơi của trẻ em lứa tuổi mẫu giáo, giúp trẻ hình thành kỹ năng và phát triển nhân cách

Để hiểu khái niệm trò chơi ĐVTCĐ, cần xem xét những đặc điểm cơ bản trong trò chơi này như sau:

Một, trò chơi ĐVTCĐ bao giờ cũng có một chủ đề nhất định: trong khi chơi, trẻ phản ánh cuộc sống xung quanh rất đa dạng với các mảng hiện thực vô

Trang 33

cùng phong phú Các mảng hiện thực được phản ánh qua trò chơi được gọi là chủ đề chơi Ví dụ các chủ đề chơi về sinh hoạt gia đình, về lớp học, Phòng khám bác sĩ, về cảnh sát, v.v Theo tác giả Hoàng Thị Oanh, phạm vi tiếp xúc của trẻ càng rộng, kinh nghiệm của trẻ càng nhiều thì chủ đề chơi của trẻ càng phong phú [23, tr.5-6]

Hai, chính vì trò chơi ĐVTCĐ mô phỏng hoạt động của người lớn xung quanh, mô phỏng mối quan hệ giữa người với người, cho nên, khi tham gia vào trò chơi này cần phải có nhiều trẻ, cùng chơi, cùng hợp tác (Bác sĩ không thể không có bệnh nhân; người bán hàng không thể thiếu những người đi mua hàng;

cô giáo không thể không có học sinh v v ) Điều này cho thấy kỹ năng hợp tác

và KNGT là một đặc điểm rất rõ nét của loại trò chơi này

Ba, để chơi được trò chơi này trẻ cần phải đóng vai Có nghĩa là trẻ phải giả làm người lớn, ướm mình vào vị trí của một người nào đó với các chức năng

xã hội mà người đó đảm nhận và bắt chước hành động của họ [40, tr.1,3], [21, tr.58, 59]

Bốn, trò chơi ĐVTCĐ mang tính ký hiệu tượng trưng, tính khái quát, mô phỏng Mặc dù, trò chơi ĐVTCĐ phản ánh những hiện tượng có thực trong cuộc sống xung quanh trẻ, nhưng hành động của trẻ chỉ có tính chất mô phỏng lại một cách khái quát, tượng trưng (hành động giả vờ) Mặt khác, trong khi chơi, trẻ sử dụng những đồ vật, đồ chơi thay thế Những vật thay thế này mang tính ký hiệu tượng trưng và được trẻ sử dụng không theo đúng chức năng của chúng Ví dụ: ghế làm ôtô; que làm xa-lanh; khăn làm giường v v Hoặc trẻ dùng hành động của mình để thực hiện chức năng của một vật Ví dụ: lấy ngón tay chọc vào cánh tay của bạn - hành động tiêm cho bệnh nhân; đưa tay lên tai - hành động nghe điện thoại v.v Chính đặc tính này của trò chơi ĐVCCĐ làm nảy sinh hoàn cảnh tưởng tượng Đây là đặc điểm đặc trưng của trò chơi ĐVCCĐ Khi chơi, trẻ đắm mình trong hoàn cảnh chơi, kết thúc trò chơi cũng là lúc trẻ ra khỏi hoàn cảnh này Đặc điểm này của trò chơi ĐVTCĐ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng

Trang 34

trong sự phát triển nhận thức của trẻ Nhờ đó mà trẻ bước sang một loại hình nhận thức mới, đặc trưng của con người Đó là sự nhận thức thế giới xung quanh thông qua một hệ thống ký hiệu [28, tr.18], [9, tr.74-75]

Năm, trò chơi ĐVTCĐ thể hiện rõ tính tự lập cao [38] Trên cơ sở kinh nghiệm đã có của mình, trẻ tự nghĩ ra chủ đề chơi, nội dung chơi, tự thỏa thuận với nhauvaichơi, tự điều hành, kiểm tra diễn biến quá trình chơi Ở đây, người lớn chỉ giữ vai trò là người tổ chức, hướng dẫn, là "thang đỡ" [38, tr.19] giúp trẻ trong quá trình chơi để thỏa mãn nhu cầu được làm người lớn của mình

Dựa trên cơ sở những đặc điểm của trò chơi ĐVTCĐ đã nêu trên, theo

chúng tôi: Trò chơi đóng vai theo chủ đề là dạng trò chơi sáng tạo, đặc trưng của tuổi mẫu giáo Trẻ thực hiện các vai của người lớn theo một chủ đề nhất định và thực hiện hành động theo chức năng xã hội mà họ đảm nhận

Cấu trúc của trò chơi đóng vai theo chủ đề

Trò chơi ĐVTCĐ có cấu trúc khá phức tạp, các nhà nghiên cứu thường quan tâm tới những thành tố cấu trúc sau:

Thứ nhất, chủ đề và nội dung chơi ĐVTCĐ

Trò chơi ĐVTCĐ đã phản ánh cuộc sống xung quanh rất đa dạng với các mảng hiện thực hết sức phong phú Các mảng hiện thực được phản ánh vào trò chơi coi là chủ đề của trò chơi Do đó chủ đề của trò chơi cũng mang tính muôn mầu, muôn vẻ

Cụ thể như: Chủ đề sinh hoạt gia đình, chủ đề bán hàng, chủ đề bệnh viện bác sĩ, chủ đề dạy học cô giáo, sinh hoạt gia đình, cửa hàng buôn bán… Phạm vi hiện thực mà trẻ tiếp xúc càng rộng bao nhiêu thì các chủ đề của trò chơi càng

đa dạng phong phú bấy nhiêu Số lượng chủ đề chơi của trẻ được tăng dần cùng với sự phát triển của chúng

Chủ đề chơi được phát triển không chỉ theo số lượng mà còn được phức tạp hoá dần và được mở rộng ra Bên cạnh các chủ đề chơi ta phải chú ý đến mặt nội dung chơi Nội dung của trò chơi là những hoạt động của người lớn mà đứa

Trang 35

trẻ nhận thức được và phản ánh vào trò chơi của mình Đó là những hoạt động của người lớn với các đồ vật, mối quan hệ giữa người với người, những yếu tố đạo đức thẩm mỹ

Với nội dung trò chơi, ta cần phải xem xét khía cạnh tích cực hay tiêu cực của mảng hiện thực mà trẻ em tái tạo bởi lẽ đời sống xã hội người lớn hết sức phong phú và phức tạp Bên cạnh những việc tốt, người tốt còn có bao yếu tố tiêu cực xen lẫn vào Điều này cũng được phản ánh nhạy bén vào trò chơi của trẻ em Nếu không quan tâm giáo dục thì trẻ có thể có những hành vi giao tiếp kém văn hóa, mang tính tiêu cực như: say rượu, bố mẹ cãi nhau hoặc cảnh đánh chửi nhau…

Vai trò của người giáo dục không những giúp trẻ có được những chủ đề chơi ngày càng phong phú, rộng lớn mà còn giúp trẻ có được những KNGT như người lớn trong cuộc sống thực, hiểu được những mối quan hệ qua lại giữa người lớn trong xã hội theo chức năng của mỗi người và đặc biệt là giúp trẻ biết phân biệt được cái xấu, cái đẹp, cái đúng, cái sai trong những quan hệ ấy, nhằm giúp trẻ tái tạo được cái hay, cái đẹp trong mảng hiện thực xung quanh và tránh bắt chước hành vi giao tiếp sai trái thô bạo mà trong xã hội vẫn còn tồn tại

Thứ hai, vai chơi và hành động chơi

Trò chơi ĐVTCĐ xuất hiện là để thoả mãn nhu cầu của trẻ muốn được giống người lớn Trong thực tế, trẻ chưa thực hiện một chức năng xã hội của một người nào đó mà trẻ đã trông thấy bằng cách nhập vào một vai tức là ướm mình vào vị trí của người lớn và bắt chước hành động giao tiếp của người đó Vai chơi là yếu tố quan trọng để tạo nên trò chơi, đóng vai có nghĩa là tái tạo hành động của một người lớn với đồ vật trong những mối quan hệ nhất định với những người xung quanh Trong vui chơi trẻ nhận làm một chức năng xã hội của một người nào đó, thường là chức năng mang tính chất nghề nghiệp như lái xe, dạy học, chữa bệnh, bán hàng… Đây chính là con đường để trẻ xây dựng hành vigiao tiếp chuẩn mực, và có KNGT tốt phù hợp với chuẩn mực xã hội

Trang 36

Muốn trở thành một vai trong trò chơi, điều quan trọng nhất là trẻ phải biết thực hiện KNGT của vai chơi Ví dụ: Bác sĩ phải biết nói chuyện và khám bệnh, người bán hàng là phải biết giao tiếp với khách hàng để bán hàng… Những hành động này phải xuất phát từ hành động thực tế mà trẻ đã trông thấy trong cuộc sống đời thực hay nghe kể lại, nhưng thao tác của hành động giao tiếp lại phụ thuộc vào đồ chơi Vai chơi trong trò chơi, quy định hành động của trẻ đối với đồ vật và cả hành động của trẻ đối với bạn cùng chơi

Tuy nhiên đây chỉ là hành động mô phỏng, nó không hoàn toàn giống như hành động của người lớn, bởi với mục đích của hành động chơi không nhằm vào kết quả mà nhằm vào chính quá trình chơi Do đó hành động chơi không đòi hỏi phải có thao tác đúng kỹ thuật mà chỉ cần phỏng theo hình thức của nó và mang tính khái quát

Chính tính khái quát mang tính ước lệ của hành động chơi cho phép trẻ tiến hành trò chơi trong các điều kiện các đồ chơi khác nhau Ví dụ: Khi làm đoàn tàu trẻ có thể dùng ghế xếp thành dãy mà cũng có thể dùng nhiều khối hình vuông và chữ nhật để xếp tạo thành đoàn tàu…

Thứ ba, những mối quan hệ qua lại của trẻ trong trò chơi

Trò chơi là một hoạt động chung đầu tiên và cơ bản của trẻ mẫu giáo, trong đó có hai mối quan hệ qua lại giữa những trẻ cùng tham gia trò chơi đó là quan hệ thực và quan hệ chơi

Những quan hệ chơi: Đó là những quan hệ qua lại của các vai trong trò chơi theo một chủ đề nhất định mô phỏng lại mối quan hệ của người lớn trong

xã hội như quan hệ giữa mẹ và con trong trò chơi gia đình, quan hệ giữa người mua và người bán trong trò chơi bán hàng… Đó là những quan hệ được trẻ quan tâm và trở thành đối tượng hành động của chúng

Những quan hệ thực: Đó là những quan hệ qua lại giữa những trẻ là những người cùng tham gia vào trò chơi, những người bạn cùng thực hiện một công việc chung, trẻ tập hợp nhau thành nhóm để bàn bạc với nhau về chủ đề

Trang 37

chơi, về việc phân vai, thoả thuận với nhau về quy tắc, hành vi của vai này, vai

nọ và giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá trình chơi

Trò chơi ĐVTCĐ là mô hình của những quan hệ xã hội của người lớn và

là phương tiện định hướng cho trẻ em vào những mối quan hệ ấy Trong đó trò chơi ĐVTCĐ, các quan hệ được hiện ra rõ rệt Việc thực hiện hành động của vai chơi là phải tạo ra các mối quan hệ với các vai khác nhau, sức sống của trò chơi ĐVTCĐlà ở chỗ nó tạo ra được những mối quan hệ giữa các vai Đó chính là bản chất xã hội của trò chơi ĐVTCĐ

Trò chơi của trẻ đó chính là cái xã hội người lớn thu nhỏ lại và cũng chứa đầy những mối quan hệ phức tạp Những mối quan hệ xã hội được mô phỏng vào trò chơi có một đặc điểm đáng lưu ý là nó làm nảy sinh luật lệ hành động của các vai, buộc trẻ phải tuân theo như là những quy tắc xã hội (Luật chơi), chơi như thế đứa trẻ tự nguyện chấp nhận những chuẩn mực của cuộc sống xã hội, của những quan hệ giữa người lớn với nhau, giữa trẻ em với người lớn, giữa trẻ với trẻ… Chẳng hạn khi chơi trò chơi “Bán hàng” người mua phải trả tiền (dù tiền chỉ là mảnh giấy nhỏ) mới được lấy hàng, vì nếu không tuân theo luật lệ

ấy thì bị coi là đồ ăn cắp Như vậy, luật lệ hành động của các vai được nảy sinh

từ các mối quan hệ được xác lập giữa những đứa trẻ tham gia vào trò chơi Những trò chơi theo nhóm như vậy làm bộc lộ lên những mối quan hệ xã hội rõ ràng và hành vi của trẻ phải phục tùng các luật lệ do các mối quan hệ đó quy định sự phát triển đó là điều kiện quan trọng nhất để nhận biết chính nguyên lý của luật chơi và đó cũng là cơ sở làm nảy sinh ra bản thân: “Trò chơi có luật”

Thứ ba, đồ chơi và hoàn cảnh chơi

Có 2 loại đồ chơi:

Một loại là do người lớn làm cho trẻ, mô phỏng theo những đồ vật thực, như con búp bê, đồ dùng nấu ăn bằng nhựa, đồ chơi bác sĩ, các loại phương tiện giao thông…

Một loại là những vật thay thế cho đồ vật thực Trong khi thực hiện hành

Trang 38

động của vui chơi trẻ không có được những đồ vật tương ứng Để cho hành động được tiến hành theo chủ đề và nội dung chơi đã được đặt ra, trẻ cần phải lấy các

đồ vật khác để thay thế cho các đồ vật thực tương ứng Chẳng hạn trẻ dùng cái gối thay cho em bé, dùng ghế thay cho toa tàu, dùng gậy thay cho con ngựa…

Do đồ chơi không phải là đồ vật thực tương ứng với hành động của vai

mà chỉ là vật thay thế nên khi trẻ thao tác với đồ vật thay thế những thao tác này không tương ứng với hành động chơi từ đó buộc trẻ phải tưởng tượng ra một hoàn cảnh chơi tương ứng

Nhiều công trình nghiên cứu trò chơi của trẻ mẫu giáo đã nhận định rằng:

Do đồ chơi là vật thay thế nên thao tác chơi của trẻ không trùng khớp với hành động chơi, đó là lý do làm nảy sinh hoàn cảnh tưởng tượng (tức là hoàn cảnh chơi) Từ đó cần phải nhấn mạnh rằng hành động chơi không được sinh ra từ hoàncảnh tưởng tượng mà ngược lại, hoàn cảnh tưởng tượng lại trùng khớp với hành động của vai Nói cách khác hoạt động chơi của trẻ đã tạo ra kết quả là hoàn cảnh tưởng tượng (A N Leônchiev) có nghĩa là hoạt động chơi làm nảy sinh trí tưởng tượng chứ không phải trí tưởng tượng có trước khi chơi, mà nó là kết quả của hoạt động chơi

1.4 Giáo dục KNGT cho trẻ 5 - 6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ

1.4.1 Khái niệm giáo dục KNGT cho trẻ 5 - 6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ

Giáo dục là một quá trình tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch của một chủ thể này (nhà giáo dục) vào một chủ thể khác - chủ thể cần được phát triển KNGT (đối tượng giáo dục) Trong quá trình này, đối tượng giáo dục

có thể tham gia các hoạt động do nhà giáo dục tổ chức với những mục đích và tính tích cực khác nhau, song thông qua những hoạt động đó những KNGT của

họ được phát triển đúng hướng

Giáo dục KNGT cho trẻ 5 - 6 tuổi là quá trình tác động sư phạm có mục đích, có kế hoạch nhằm hình thành cho trẻ những kỹ năng tương tác trong giao tiếp dựa trên những tri thức và vốn kinh nghiệm đã có trong những tình huống

Trang 39

giao tiếp nhất định

Hai quá trình đó có phần khác nhau về hình thức, song đều là những quá trình tác động từ bên ngoài làm thay đổi những yếu tố bên trong, và động lực nằm chính trong quá trình hoạt động của chủ thể sở hữu những KNGT cần được hình thành

Quá trình giáo dục KNGT cũng tuân theo qui luật của sự phát triển: từ những biến đổi về lượng dẫn tới những biến đổi về chất; từ thấp đến cao; từ đơn giản đến phức tạp

Quá trình giáo dục KNGT với tư cách là một quá trình giáo dục (quá trình

có mục đích, có kế hoạch), trước hết cần tập trung vào phát triển những nhóm kỹ năng giao tiếp cốt lõi: kỹ năng định hướng giao tiếp; kỹ năng phán đoán đối tượng giao tiếp; kỹ năng thu nhận, khai thác thông tin từ đối tượng giao tiếp; kỹ năng sử dụng ngôn từ; kỹ năng sử dụng phương tiện giao tiếp phi ngôn từ; kỹ năng điều khiển các yếu tố tâm lý của bản thân Tuy nhiên, trong quá trình giáo dục KNGT cho đối tượng giáo dục, nhà giáo dục cần chú ý đầy đủ và toàn diện tới sự phát triển của những KNGT, tránh tình trạng quá tập trung vào việc phát triển kỹ năng này mà không chú ý hoặc coi nhẹ việc phát triển những kỹ năng khác, đồng thời chú ý đến những đặc điểm tâm lí lứa tuổi để có những tác động phù hợp

Từ những vấn đề lý luận trên chúng tôi xây dựng khái niệm: Giáo dục KNGT cho trẻ 5 - 6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ là sự vận dụng các tri thức, kinh nghiệm của trẻ để thực hiện có hiệu quả quá trình thực hiện trò chơi ĐVTCĐ và được thể hiện qua kỹ năng hiểu lời nói, kỹ năng sử dụng lời nói và kĩ năng thực hiện một số quy tắc thông thường trong trò chơi” để tìm hiểu những biểu hiện

về KNGT của trẻ 5 - 6 tuổi trong phạm vi luận văn này

Các hoạt động nhằm giáo dục KNGT cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường mầm non:

Có rất nhiều hình thức tổ chức hoạt động giáo dục KNGT cho trẻ như

Trang 40

thông qua các giờ hoạt động trong ngày bao gồm các hoạt động đón trẻ, hoạt động học tập, hoạt động vui chơi – sinh hoạt, các trò chơi và hoạt động tham gian ngày hội ngày lễ [4] Trong khuôn khổ đề tài của luận văn chúng tôi chọn hình thức tổ chức trò chơi ĐVTCĐ để giáo dục KNGT cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường mầm non

Các phương pháp giáo dục KNGT cho trẻ 5 – 6 tuổi:

Phương pháp giáo dục KNGT cho trẻ 5 – 6 tuổi được lựa chọn sử dụng, phải phù hợp với phương pháp giáo dục trẻ mầm non theo Chương trình GDMN [4] Phương pháp giáo dục KNGT cho trẻ 5 – 6 tuổi phải tạo điều kiện cho trẻ được trải nghiệm, tìm tòi, khám phá môi trường xung quanh dưới nhiều hình thức đa dạng, đáp ứng được nhu cầu, hứng thú của trẻ theo phương châm “chơi

mà học, học bằng chơi” Chú trọng đổi mới tổ chức môi trường giáo dục nhằm kích thích cơ hội cho trẻ tích cực khám phá, thử nghiệm và sáng tạo ở các khu vực hoạt động một cách vui vẻ [4, tr.4] Bao gồm các phương pháp như: Nhóm phương pháp thực hành trải nghiệm; Nhóm phương pháp trực quan- minh họa; Nhóm phương pháp dùng lời nói; Nhóm phương pháp giáo dục bằng tình cảm

và khích lệ; Nhóm phương pháp nêu gương - đánh giá [4, tr.74]

Nhóm phương pháp thực hành, trải nghiệm sử dụng trong trò chơi

ĐVTCĐ với các yếu tố chơi phù hợp để kích thích trẻ tự nguyện, hứng thú hoạt động tích cực giải quyết các tình huống giao tiếp GV nêu tình huống cụ thể nhằm kích thích trẻ tìm tòi, suy nghĩ dựa trên vốn kinh nghiệm để giải quyết những tình huống giao tiếp ngôn ngữ có trong trò chơi ĐVTCĐ

Sử dụng phương pháp này nhằm cho trẻ thực hành lặp đi lặp lại các động tác, lời nói, cử chỉ, điệu bộ theo tình huống giao tiếp của chủ đề chơi nhằm củng cố kiến thức về xã hội và phát triểnkỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 -7 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ

Nhóm phương pháp trực quan - minh họa (quan sát, làm mẫu, minh hoạ) được sử dụng cho trẻ quan sát, tiếp xúc, giao tiếp với các bạn trong chủ đề chơi

Ngày đăng: 03/04/2018, 13:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Anh (2004), Nguyễn Thanh Bình; Vũ Kim Thanh, Giáo trình tâm lý học giao tiếp, Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tâm lý học giao tiếp
Tác giả: Hoàng Anh
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2004
2. Hoàng Anh, Đỗ Thị Châu, Nguyễn Thạc (2007), Hoạt động giao tiếp nhân cách, Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động giao tiếp nhân cách
Tác giả: Hoàng Anh, Đỗ Thị Châu, Nguyễn Thạc
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2007
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010), Bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2010
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2017), Chương trình GDMN, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình GDMN
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2017
5. Nguyễn Thanh Bình (2009), Giáo trình chuyên đề giáo dục kỹ năng sống, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chuyên đề giáo dục kỹ năng sống
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2009
6. Côvaliôv A. G, (1971), Tâm lý học cá nhân, Tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học cá nhân
Tác giả: Côvaliôv A. G
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1971
7. Vũ Dũng (2000), Từ điển Tâm lý học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tâm lý học
Tác giả: Vũ Dũng
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2000
8. Nguyễn Thị Thanh Hà (2012), Đánh giá công tác tổ chức hoạt động vui chơi của trường Mầm non, Nxb Giáo dục Việt Nam, tr.136 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá công tác tổ chức hoạt động vui chơi của trường Mầm non
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Hà
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2012
9. Phạm Minh Hạc, (1996), Tuyển tập tâm lý học J. Piaget, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập tâm lý học J. Piaget
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
10. Ngô Công Hoàn (1992), Một số vấn đề về tâm lý học về giao tiếp sư phạm, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về tâm lý học về giao tiếp sư phạm
Tác giả: Ngô Công Hoàn
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1992
11. Ngô Công Hoàn (2001), Giao tiếp ứng xử của cô giáo với trẻ em, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội I Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao tiếp ứng xử của cô giáo với trẻ em
Tác giả: Ngô Công Hoàn
Năm: 2001
12. Lê Xuân Hồng (1996), Đặc điểm giao tiếp của trẻ em mẫu giáo trong nhóm chơi không cùng độ tuổi, Luận án tiến sĩ Tâm lí học, Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm giao tiếp của trẻ em mẫu giáo trong nhóm chơi không cùng độ tuổi
Tác giả: Lê Xuân Hồng
Năm: 1996
13. Lê Xuân Hồng (1996), Đặc điểm giao tiếp của trẻ mẫu giáo không cùng độ tuổi, Nghiên cứu giáo dục, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm giao tiếp của trẻ mẫu giáo không cùng độ tuổi
Tác giả: Lê Xuân Hồng
Năm: 1996
14. Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng (1998), Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm (1995), Tài liệu dùng cho các trường Đại học Sư Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm
Tác giả: Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng (1998), Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm
Năm: 1995
15. Lê Xuân Hồng, Lê Thị Khang, Hồ Lai Châu, Hoàng Mai (2000), Những kỹ năng sư phạm mầm non - Phát triển những kỹ năng cần thiết cho trẻ mầm non Tập 2, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những kỹ năng sư phạm mầm non - Phát triển những kỹ năng cần thiết cho trẻ mầm non Tập 2
Tác giả: Lê Xuân Hồng, Lê Thị Khang, Hồ Lai Châu, Hoàng Mai
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
16. Đặng Thành Hưng (2002), Dạy học hiện đại – Lý luận, biện pháp, kĩ thuật, Nxb ĐH Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học hiện đại – Lý luận, biện pháp, kĩ thuật
Tác giả: Đặng Thành Hưng
Nhà XB: Nxb ĐH Quốc gia
Năm: 2002
17. Kharlamov I. F (1979), Phát huy tính tích cực của học sinh như thế nào, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy tính tích cực của học sinh như thế nào
Tác giả: Kharlamov I. F
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1979
18. Krutexki A. V, Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm
Nhà XB: Nxb Giáo dục
19. Nguyễn Văn Lũy, Trần Thị Tuyết Hoa (2006), Giáo trình Giao tiếp với trẻ em, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Giao tiếp với trẻ em
Tác giả: Nguyễn Văn Lũy, Trần Thị Tuyết Hoa
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
20. L. X. Vưgotsky (1996), Tâm lý học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học
Tác giả: L. X. Vưgotsky
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm