1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất trong quá trình đô thị hóa ở huyện Nhà Bè (TP.HCM) (Luận văn thạc sĩ)

142 366 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 142
Dung lượng 4,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất trong quá trình đô thị hóa ở huyện Nhà Bè (TP.HCM) (Luận văn thạc sĩ)Chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất trong quá trình đô thị hóa ở huyện Nhà Bè (TP.HCM) (Luận văn thạc sĩ)Chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất trong quá trình đô thị hóa ở huyện Nhà Bè (TP.HCM) (Luận văn thạc sĩ)Chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất trong quá trình đô thị hóa ở huyện Nhà Bè (TP.HCM) (Luận văn thạc sĩ)Chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất trong quá trình đô thị hóa ở huyện Nhà Bè (TP.HCM) (Luận văn thạc sĩ)Chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất trong quá trình đô thị hóa ở huyện Nhà Bè (TP.HCM) (Luận văn thạc sĩ)Chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất trong quá trình đô thị hóa ở huyện Nhà Bè (TP.HCM) (Luận văn thạc sĩ)Chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất trong quá trình đô thị hóa ở huyện Nhà Bè (TP.HCM) (Luận văn thạc sĩ)

Trang 1

Thân Thị Thủy

CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU SỬ DỤNG ĐẤT TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA Ở HUYỆN NHÀ BÈ (TP.HCM)

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Thân Thị Thủy

CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU SỬ DỤNG ĐẤT TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA

Ở HUYỆN NHÀ BÈ (TP.HCM)

Chuyên ngành : Địa lí học

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS PHẠM THỊ XUÂN THỌ

Thành phố Hồ Chí Minh - 2017

Trang 3

Tôi xin cam đoan bản luận văn “Chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất trong quá trình đô thị hóa ở huyện Nhà Bè (TP HCM)” là công trình nghiên cứu của bản thân tôi Các tài liệu tham khảo và trích dẫn được sử dụng trong luận văn này đều nêu rõ xuất xứ tác giả và được ghi chú trong danh mục các tài liệu tham khảo Kết quả nghiên cứu của luận văn chưa được công bố ở bất kỳ tài liệu nào khác

Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan trên

Tp Hồ Chí Minh ngày 15 tháng 09 năm 2017

Tác giả

Thân Thị Thủy

Trang 4

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tác giả xin gửi lời cảm ơn tới các thầy,

cô giáo trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới TS Phạm Thị Xuân Thọ- người đã tận tình hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn

Qua đây tác giả cũng trân trọng cảm ơn các cơ quan: Văn phòng Ủy ban nhân dân, phòng thống kê, phòng tài nguyên và môi trường, phòng kế hoạch và đầu tư, phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Nhà Bè… đã giúp đỡ tác giả trong quá trình thu thập số liệu, tài liệu và các thông tin liên quan tới đề tài nghiên cứu

Cuối cùng, tác giả xin gửi lời cảm ơn đến trường THCS, THPT Quốc tế Việt- Úc, bạn bè, đồng nghiệp và người thân đã luôn luôn bên cạnh, giúp đỡ và tạo điều kiện cho tác giả trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn

Tp Hồ Chí Minh ngày………tháng……năm 2017

Tác giả luận văn

Thân Thị Thủy

Trang 5

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các bảng

Danh mục các hình

Danh mục các biểu đồ

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU SỬ DỤNG ĐẤT TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA 6

1.1 Khái niệm về đất và chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất 6

1.1.1 Khái niệm về đất 6

1.1.2 Vai trò của đất trong sự phát triển kinh tế - xã hội 6

1.1.3 Phân loại đất 8

1.1.4 Cơ cấu sử dụng đất và chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất 11

1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất trong quá trình đô thị hóa 14

1.1.6 Ảnh hưởng của chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất đối với kinh tế - xã hội và môi trường 17

1.2 Các khái niệm về đô thị và đô thị hóa 18

1.2.1 Khái niệm về đô thị 18

1.2.2 Vai trò của đô thị 19

1.2.3 Khái niệm về đô thị hóa 20

1.2.4 Những biểu hiện cơ bản của quá trình đô thị hóa 21

1.2.5 Ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đối với kinh tế - xã hội và môi trường 23

1.3 Thực tiễn về đô thị hóa và chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất ở Thành phố Hồ Chí Minh 24

Chương 2 HIỆN TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU SỬ DỤNG ĐẤT TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA Ở HUYỆN NHÀ BÈ (TP HCM) 37

2.1 Khái quát về huyện Nhà Bè 37

2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất 39

2.2.1 Vị trí địa lý, phạm vi lãnh thổ 39

Trang 6

2.2.4 Đánh giá chung 53

2.3 Hiện trạng chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất ở huyện Nhà Bè (TP HCM) 54

2.3.1 Khái quát chung 54

2.3.2 Hiện trạng chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất tại huyện Nhà Bè 57

2.3.3 Chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất theo lãnh thổ 71

2.3.4 Ảnh hưởng của chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất trong quá trình đô thị hóa đến kinh tế - xã hội - môi trường ở huyện Nhà Bè 76

2.3.5 Đánh giá chung 84

Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU SỬ DỤNG ĐẤT VÀ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ Ở HUYỆN NHÀ BÈ 87

3.1 Cơ sở của định hướng 87

3.1.1 Định hướng phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố Hồ Chí Minh 87

3.1.2 Định hướng phát triển kinh tế - xã hội của huyện Nhà Bè 89

3.2 Định hướng về sử dụng đất và đô thị hóa đến năm 2020 95

3.2.1 Đánh giá tiềm năng đất đai 95

3.2.2 Định hướng về sử dụng đất ở huyện Nhà Bè 97

3.2.3 Định hướng phát triển đô thị ở huyện Nhà Bè 112

3.3 Một số giải pháp tổ chức thực hiện quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất ở huyện Nhà Bè 123

3.3.1 Giải pháp về chính sách 123

3.3.2 Giải pháp về nguồn lực và vốn đầu tư 123

3.3.3 Giải pháp về khoa học công nghệ 124

3.3.4 Giải pháp bảo vệ đất, cải tạo và sử dụng đất 124

3.3.5 Giải pháp về tổ chức thực hiện 125

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 127

TÀI LIỆU THAM KHẢO 129 PHỤ LỤC

Trang 7

Mục đích sử dụng đất được ghi bằng tên gọi trong Giấy chứng nhận và thể hiện bằng mã trong hệ thống dữ liệu địa chính như sau:

- Mục đích sử dụng thuộc nhóm đất nông nghiệp gồm:

LUA : là đất trồng lúa

COC : là đất cỏ dùng vào chăn nuôi

HNK : là đất trồng cây hàng năm khác

CLN : là đất trồng cây lâu năm

RSX : là đất rừng sản xuất

RPH : là đất rừng phòng hộ

RDD : là đất rừng đặc dụng

NTS : là đất nuôi trồng thuỷ sản

LMU : là đất làm muối

NKH : là đất nông nghiệp khác

- Mục đích sử dụng thuộc nhóm đất phi nông nghiệp gồm

ONT : là đất ở tại nông thôn

ODT : là đất ở tại đô thị

TSC : là đất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp của Nhà nước TSK : là đất trụ sở khác

CQP : là đất quốc phòng

CAN : là đất an ninh

SKK : là đất khu công nghiệp

SKC : là đất cơ sở sản xuất, kinh doanh

SKS : là đất cho hoạt động khoáng sản

SKX : là đất sản xuất vật liệu, gốm sứ

DGT : là đất giao thông

DTL : là đất thủy lợi

DNL : là đất công trình năng lượng

DBV : là đất công trình bưu chính, viễn thông

Trang 8

DGD : là đất cơ sở giáo dục - đào tạo

DTT : là đất cơ sở thể dục - thể thao

DKH : là đất cơ sở nghiên cứu khoa học

DXH : là đất cơ sở dịch vụ về xã hội

DCH : là đất chợ

DDT : là đất có di tích, danh thắng

DRA : là đất bãi thải, xử lý chất thải

TON : là đất tôn giáo

TIN : là đất tín ngưỡng

NTD : là đất nghĩa trang, nghĩa địa

MNC : là đất có mặt nước chuyên dùng

PNK : là đất phi nông nghiệp khác

Trường hợp dữ liệu mục đích sử dụng đất được xây dựng theo kết quả cấp Giấy chứng nhận trước ngày 02 tháng 12 năm 2004 thì trong cơ sở dữ liệu phải được thể hiện lại bằng mã theo quy định tại tiết này

Mục đích sử dụng đất theo quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt được ghi bằng mã quy định tại Thông tư hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của Bộ Tài nguyên và Môi trường

Mục đích sử dụng đất theo chỉ tiêu kiểm kê đất đai được thể hiện bằng mã thống nhất với bản đồ địa chính như sau :

- Mục đích sử dụng thuộc nhóm đất nông nghiệp gồm :

LUC : là đất chuyên trồng lúa nước

LUK : là đất trồng lúa nước còn lại

LUN : là đất trồng lúa nương

COC : là đất cỏ dùng vào chăn nuôi

BHK : là đất bằng trồng cây hàng năm khác

NHK : là đất nương rẫy trồng cây hàng năm khác

LNC : là đất trồng cây công nghiệp lâu năm

LNQ : là đất trồng cây ăn quả lâu năm

Trang 9

RST : là đất có rừng trồng sản xuất

RSK : là đất khoanh nuôi phục hồi rừng sản xuất

RSM : là đất trồng rừng sản xuất

RPN : là đất có rừng tự nhiên phòng hộ

RPT : là đất có rừng trồng phòng hộ

RPK : là đất khoanh nuôi phục hồi rừng phòng hộ

RPM : là đất trồng rừng phòng hộ

RDN : là đất có rừng tự nhiên đặc dụng

RDT : là đất có rừng trồng đặc dụng

RDK : là đất khoanh nuôi phục hồi rừng đặc dụng

RDM : là đất trồng rừng đặc dụng

TSL : là đất nuôi trồng thuỷ sản nước lợ, mặn

TSN : là đất chuyên nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt

LMU : là đất làm muối

NKH : là đất nông nghiệp khác

- Mục đích sử dụng thuộc nhóm đất phi nông nghiệp được ghi bằng mã quy định tại tiết c điểm này và có thêm

SON : là đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối

- Loại đất thuộc nhóm đất chưa sử dụng gồm :

BCS : là đất bằng chưa sử dụng

DCS : là đất đồi núi chưa sử dụng

NCS : là núi đá không có rừng cây

KT - XH : Kinh tế - xã hội

TP.HCM : Thành phố Hồ Chí Minh

ĐTH : Đô thị hóa

HĐH - CNH : Hiện đại hóa - công nghiệp hóa

Trang 10

Bảng 2.2 Cơ cấu và diện tích các nhóm đất chính trên địa bàn huyện

Nhà Bè 43

Bảng 2.3 Diện tích và dân số theo đơn vị hành chính huyện Nhà Bè năm 2016 48

Bảng 2.4 Dân số và lao động và việc làm của huyện Nhà Bè 49

Bảng 2.5 Cơ cấu kinh tế huyện Nhà Bè giai đoạn 2005 - 2015 57

Bảng 2.6 Cơ cấu các loại đất chính của huyện Nhà Bè giai đoạn 2005 - 2015 59

Bảng 2.7 Cơ cấu các loại đất nông nghiệp ở huyện Nhà Bè giai đoạn 2005 - 2015 61

Bảng 2.8 Sản lượng và diện tích nuôi trồng thủy sản huyện Nhà Bè giai đoạn 2005 - 2015 62

Bảng 2.9 Tỷ lệ đất nông nghiệp so với diện tích đất tự nhiên các xã của huyện Nhà Bè giai đoạn 2010 - 2015 64

Bảng 2.10 Cơ cấu các loại đất phi nông nghiệp ở huyện Nhà Bè giai đoạn 2005 - 2015 66

Bảng 2.11 Hiện trạng sử dụng đất phân theo các xã ở huyện Nhà Bè năm 2015 72

Bảng 2.12 Thu hút đầu tư nước ngoài vào các lĩnh vực của huyện Nhà Bè 78

Bảng 2.13 Hiện trạng lao động huyện Nhà Bè giai đoạn 2005 - 2015 79

Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất huyện Nhà Bè giai đoạn 2015 và định hướng đến năm 2020 103

Bảng 3.2 Quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp đến năm 2020 104

Bảng 3.3 Danh mục quy hoạch các công trình trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp 107

Bảng 3.4 Danh mục các công trình đất ở đô thị 108

Bảng 3.5 Danh mục các công trình công nghiệp, TTCN 109

Bảng 3.6 Danh mục các công trình an ninh 110

Bảng 3.7 Thống kê danh mục hệ thống bến bãi xe huyện Nhà Bè 121

Trang 11

Biểu đồ 2.1 Biểu đồ chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất huyện Nhà Bè

giai đoạn 2005 - 2015 (Đơn vị: %) 60 Biểu đồ 2.2 Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp huyện Nhà Bè năm 2005

và 2015 63 Biểu đồ 2.3 Cơ cấu sử dụng đất phi nông nghiệp huyện Nhà Bè năm 2005

và 2015 67 Biểu đồ 2.4 Cơ cấu diện tích đất tự nhiên huyện Nhà Bè giai đoạn 2015 73 Biểu đồ 2.5 Hiện trạng lao động huyện Nhà Bè giai đoạn 2005 - 2015 79

Trang 12

Bản đồ hành chính huyện Nhà Bè (Tp.HCM) 38

Bản đồ thổ nhưỡng huyện Nhà Bè (Tp.HCM) 56

Bản đồ hiện trạng sử dụng đất ở huyện Nhà Bè năm 2010 70

Bản đồ hiện trạng sử dụng đất huyện Nhà Bè năm 2015 74

Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 ở huyện Nhà Bè (Tp.HCM) 111

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá của quốc gia Là tư liệu sản xuất chủ yếu và không thể thay thế được của các ngành nông - lâm nghiệp Đất còn là mặt bằng để bố trí các điểm dân cư (nông thôn, đô thị), các cơ sở công nghiệp, các công trình cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và sinh hoạt, các công trình quốc phòng [6] Chính vì vậy, tại điều 18, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 khẳng định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý theo quy hoạch

và pháp luật, đảm bảo sử dụng đất đúng mục đích và có hiệu quả”[16]

Nhà Bè là huyện ngoại thành nằm về phía Đông Nam của Thành phố Hồ Chí Minh Có vị trí chiến lược quan trọng và là huyện nằm trong định hướng phát triển về phía Nam hướng ra biển Đông cùng với Cần Giờ của Thành phố Chính vì vậy, tốc độ phát triển công nghiệp và quá trình đô thị hóa ở đây diễn ra khá nhanh Cùng với quá trình đô thị hóa là sự chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất, diện tích đất nông nghiệp được chuyển đổi sang đất ở đô thị, đất công nghiệp và đất phát triển cơ sở hạ tầng ngày càng tăng nhanh Đặc biệt, trong những năm gần đây Khu công nghiệp, cảng tân cảng Hiệp Phước đi vào hoạt động, nhiều hệ thống đường giao thông được xây dựng mới và mở rộng, đã nhanh chóng làm thay đổi và tăng giá trị sử dụng đất, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập và cải thiện chất lượng cuộc sống dân cư Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, sự chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất cũng gây ra những tác động tiêu cực đối với phát triển kinh tế - xã hội nói chung và môi trường nói riêng

Vì vậy, trước thực tiễn đó tác giả đã lựa chọn đề tài “Chuyển dịch cơ cấu sử

dụng đất trong quá trình đô thị hóa ở huyện Nhà Bè (TP.HCM)” là vấn đề hết sức

cần thiết và mang ý nghĩa thực tiễn nhằm đánh giá những tác động của quá trình chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất đồng thời đề xuất hướng giải quyết nhằm sử dụng hợp

lý, có hiệu quả về kinh tế, sinh thái, đảm bảo cho sự phát triển bền vững, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường

Trang 14

2 Mục đích nghiên cứu của luận văn

Mục đích nghiên cứu của luận văn:

Nghiên cứu hiện trạng chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất ở huyện Nhà Bè (TP.HCM) trong quá trình đô thị hóa

Định hướng chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất và đề ra một số giải pháp nhằm sử dụng hợp lí đất đai

3 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Để đạt được mục đích trên, đề tài phải thực hiện những nhiệm vụ cụ thể như sau: Tổng quan có chọn lọc cơ sở lí luận về cơ cấu sử dụng đất và đô thị hóa

Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất trong quá trình đô thị hóa

Nghiên cứu hiện trạng chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất ở huyện Nhà Bè (TP.HCM)

Đề xuất một số giải pháp chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất và phát triển đô thị ở huyện Nhà Bè (TP.HCM)

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Về mặt nội dung, luận văn tập trung nghiên cứu hiện trạng chuyển dịch cơ cấu sử

dụng đất trong quá trình đô thị hóa ở huyện Nhà Bè (TP HCM)

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Về mặt không gian, phạm vi nghiên cứu của luận văn được thực hiện ở tất cả các

xã và thị trấn thuộc huyện Nhà Bè (TP HCM)

Về mặt thời gian, đề tài tập trung nghiên cứu giai đoạn từ (năm 2005 đến năm

2015) và định hướng đến năm 2020

5 Lịch sử nghiên cứu của đề tài

Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là tư liệu sản xuất đặc biệt và không thể thay thế được trong phát triển nông nghiệp Vì vậy, từ trước đền nay đã có rất nhiều đề tài khoa học nghiên cứu về đất, đặc biệt về công tác quản lí, đánh giá đất nhằm sử dụng hiệu quả cũng như phục vụ công tác quy hoạch và phát triển bền vững nguồn tài nguyên này Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại thì các công trình

Trang 15

nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất mới chỉ mang tính chất khái quát Phần lớn các đề tài nghiên cứu về các vùng, các tỉnh còn các huyện thì chưa nhiều Một số công trình nghiên cứu về cơ cấu sử dụng đất điển hình như công trình nghiên cứu của

tác giả Lê Văn Nắp trong luận án phó tiến sĩ kinh tế năm 1994 với đề tài “Áp dụng phương pháp mô phỏng để lựa chọn cơ cấu sử dụng đất tối ưu vùng trung du lấy 2 tỉnh Vĩnh Phúc và Hà Bắc làm ví dụ” Tuy nhiên, đề tài này thiên về nghiên cứu

phương pháp mô phỏng để đánh giá hiệu quả sử dụng đất mà chưa đề cập đến hiệu quả kinh tế xã hội của việc chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất mang lại

Gần đây nhất, luận án tiến sĩ kinh tế của các tác giả Phạm Lan Hương năm 2012

với đề tài nghiên cứu “Chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất vùng đồng bằng Sông Hồng trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn” đề tài đã làm

rõ được mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất và quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Tuy nhiên, đề tài chưa cụ thể hết những ảnh hưởng của quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đến nông nghiệp, nông thôn Bên cạnh đó còn có một số công trình nghiên cứu liên quan tới chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất và một số vấn đề liên quan như: Luận văn thạc sĩ nông nghiệp

“Nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp phục vụ cho quy hoạch vùng thâm canh tập trung trên địa bàn huyện Đông Anh - TP Hà Nội, giai đoạn 2010 - 2020” của tác giả Trịnh Quang Hân năm 2010; “Thực trạng chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và những giải pháp quản lí sử dụng đất bền vững huyện Tiên Du - Bắc Ninh” của tác giả Nguyễn Thị Lan Hương; “Nghiên cứu tác động của quá trình chuyển đổi

cơ cấu sử dụng đất đến tình hình quản lí đất nông nghiệp và đời sống người dân huyện Đan Phượng - TP.Hà Nội” của tác giả Nguyễn Thị Thúy Hoa Ngoài các công trình

nghiên cứu kể trên còn có các bài viết của các tác giả được đang tải trên tạp chí và các

buổi báo cáo khoa học như: “Đánh giá hiệu quả của việc chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp tại huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định phục vụ phát triển bền vững và bảo vệ môi trường” của tác giả Thái Thị Quỳnh Như Nhưng chưa có đề tài nào

nghiên cứu về hiện trạng chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất trong quá trình đô thị hóa ở huyện Nhà Bè Tuy nhiên, tất cả các đề tài trên là nguồn tư liệu phong phú và đáng tin cậy giúp tác giả hoàn thiện hơn công trình nghiên cứu của mình

Trang 16

6 Các quan điểm và phương pháp nghiên cứu đề tài

6.1 Quan điểm nghiên cứu

6.1.1 Quan điểm tổng hợp lãnh thổ

Đây được xem là quan điểm cơ bản của Địa lý học Trong thực tế chúng ta có thể thấy tất cả mọi hiện tượng đều thay đổi theo không gian Do đó, khi nghiên cứu hiện trạng chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất trong quá trình đô thị hóa ở huyện Nhà Bè (TP HCM) phải tìm hiểu mối quan hệ bên trong lãnh thổ và mối quan hệ với các lãnh thổ lân cận Đó chính là mối quan hệ tổng hợp lãnh thổ

6.1.2 Quan điểm hệ thống

Đất là một trong những thành phần của tự nhiên, có mối quan hệ chặt chẽ với các thành phần tự nhiên khác Vì vậy, khi nghiên cứu sự chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất chúng ta nghiên cứu trong mối liên hệ với các thành phần tự nhiên khác, bởi vì chúng phát triển tương hỗ và phụ thuộc vào nhau Một thành phần thay đổi sẽ kéo theo các thành phần khác có sự thay đổi

6.1.3 Quan điểm lịch sử viễn cảnh

Quan điểm này thiên về khía cạnh Địa lý lịch sử Mọi sự vật hiện tượng luôn luôn biến đổi theo thời gian và không gian Vì vậy, việc nghiên cứu sự chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất trong quá trinh đô thị hóa ở huyện Nhà Bè (TP HCM) trong mối quan hệ giữa quá khứ và tương lai nhằm đảm bảo tính logic, khoa học và chính xác khi nghiên cứu

6.1.4 Quan điểm sinh thái và phát triển bền vững

Con người luôn luôn chịu tác động của môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Tuy nhiên, trong quá trình tồn tại và phát triển, con người đã làm biến đổi môi trường tự nhiên, môi trường bị ô nhiễm Vì vậy, khi nghiên cứu cần chú ý tới quan điểm sinh thái và phát triển bền vững để đề xuất các giải pháp nhằm mang lại sự phát triển hài hòa giữa kinh tế - xã hội và môi trường

6.2 Phương pháp nghiên cứu

6.2.1 Phương pháp thống kê số liệu

Trong bài tác giả đã sử dụng và phân tích số liệu thống kê của Tổng cục thống

kê, Cục thống kê huyện Nhà Bè … Các số liệu thống kê từ các cơ quan và người dân

Trang 17

địa phương Nhờ đó tác giả có cơ sở để đánh giá hiện trạng chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất tại địa bàn nghiên cứu

6.2.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu, số liệu thống kê

Từ các tài liệu đã thu thập được, tác giả tiến hành chọn lọc, phân loại và phân tích các thông tin, số liệu, sau đó tiến hành so sánh, đối chiếu, tổng hợp thông để có thể trình bày được hiện trạng chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất trong quá trình đô thị hóa ở huyện Nhà Bè (TP HCM) Từ đó, đánh giá được những tác động tích cực và tiêu cực của quá trình chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất

6.2.3 Phương pháp khai thác bản đồ

Với mục đích làm sáng tỏ những vấn đề liên quan đến chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất và đô thị hóa Ngoài việc sử dụng các con số tương đối và tuyệt đối để làm sáng tỏ và minh chứng thì tác giả cũng cụ thể hóa bằng các bản đồ thích hợp

Bản đồ được xem là “ngôn ngữ thứ hai” của Địa lý học Việc sử dụng phương pháp này nhằm làm cho vấn đề cần nghiên cứu trở nên trực quan, sinh động Trong luận văn, một số bản đồ được thực hiện dưới phần mềm Mapinfo 10.5 trên cơ sở các số liệu đã thu thập và xử lí được

6.2.4 Phương pháp khảo sát thực địa

Đây là phương pháp cần thiết nhằm xác định mức độ tin cậy của tài liệu và các số liệu đã thu thập được Tác giả đã tiến hành khảo sát thực tế một số nơi trên địa bàn huyện, theo sát sự biến động về thực trạng chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất trong quá trình đô thị hóa tại địa bàn nghiên cứu

7 Bố cục dự kiến của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung chính của đề tài nghiên cứu bao gồm 3 chương:

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU SỬ DỤNG ĐẤT TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA

Chương 2 HIỆN TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU SỬ DỤNG ĐẤT TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA Ở HUYỆN NHÀ BÈ (TP.HCM)

Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU SỬ DỤNG ĐẤT VÀ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ Ở HUYỆN NHÀ BÈ (TP.HCM)

Trang 18

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU SỬ DỤNG ĐẤT

TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA

1.1 Khái niệm về đất và chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất

1.1.2 Vai trò của đất trong sự phát triển kinh tế - xã hội

Đất là nguồn tài nguyên quý giá của mỗi quốc gia, có một diện tích đất rộng lớn không chỉ là mơ ước của mỗi cá nhân mà còn là mong đợi của tất cả các quốc gia trên thế giới Đất đai tham gia vào tất cả các hoạt động của đời sống kinh tế, xã hội Đất đai là địa điểm, là cơ sở của các thành phố, làng mạc các công trình công nghiệp, giao

thông, thuỷ lợi và các công trình xã hội khác

1.1.2.1 Đất đai là một tư liệu sản xuất

Trong số những điều kiện vật chất cần thiết cho hoạt động sản xuất và đời sống của con người, đất với lớp phủ thổ nhưỡng, lòng đất, rừng và mặt nước chiếm vị trí đặc biệt Đất là điều kiện đầu tiên và là nền tảng tự nhiên của bất kỳ một quá trình sản xuất nào

C Mac cho rằng, đất là một phòng thí nghiệm vĩ đại, là kho tàng cung cấp các tư liệu lao động, vật chất, là vị trí để định cư, là nền tảng của tập thể Khi nói về vai trò và ý nghĩa của đất đối với nền sản xuất xã hội, C Mac đã khẳng định: “Lao động không phải là nguồn duy nhất sinh ra của cải vật chất và giá cả tiêu thụ” - như William Petti đã nói - “Lao động chỉ là cha của của cải vật chất, còn đất là mẹ” Chúng ta đều biết rằng, không có đất thì không thể có sản xuất, cũng như không có sự tồn tại của con người Đất là sản phẩm của tự nhiên, xuất hiện trước con người và tồn tại ngoài ý

Trang 19

muốn của con người Đất tồn tại như một vật thể lịch sử - tự nhiên không phụ thuộc vào hình thái kinh tế - xã hội

Đất đai là điều kiện vật chất chung đối với mọi ngành sản xuất và hoạt động của con người, đất vừa là đối tượng lao động (cho môi trường để tác động như: xây dựng nhà xưởng, bố trí máy móc, làm đất, v.v ), vừa là phương tiện lao động (cho công nhân nơi làm việc, dùng để gieo trồng, nuôi gia súc, v.v )

1.1.2.2 Vai trò của đất trong nông nghiệp

Trong nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu và không thể thay thế được, là cơ sở để tiến hành trồng trọt và chăn nuôi Không thể có sản xuất nông nghiệp nếu không có đất đai Quỹ đất, cơ cấu sử dụng đất, các loại đất, độ phì của đất có ảnh hưởng rất lớn đến quy mô, phương hướng sản xuất cũng như giá trị sử dụng của đất Trong nông nghiệp, đất còn có hai chức năng đặc biệt quan trọng:

Đất là tư liệu, đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của con người trong quá trình sản xuất

Đất tham gia tích cực vào quá trình sản xuất, cung cấp cho cây trồng các chất dinh dưỡng cần thiết để cây trồng sinh trưởng và phát triển Như vậy, đất trở thành một công cụ sản xuất Năng suất và chất lượng sản phẩm phụ thuộc nhiều vào độ phì của đất

Tài nguyên đất nông nghiệp rất hạn chế, chỉ chiếm 12% diện tích tự nhiên toàn thế giới Tuy nhiên, xu hướng bình quân diện tích đất nông nghiệp trên đầu người ngày càng giảm do gia tăng dân số, xói mòn, rửa trôi, do hoang mạc hóa và một phần

do chuyển đổi mục đích sử dụng sang đất công nghiệp, đất đô thị và đất xây dựng cơ sở hạ tầng Vì vậy con người cần phải sử dụng hợp lý diện tích đất nông nghiệp hiện

có, duy trì và nâng cao độ phì cho đất

1.1.2.3 Vai trò của đất trong các hoạt động kinh tế - xã hội khác

Đất tham gia vào tất cả các ngành sản xuất vật chất của xã hội Tuy vậy, đối với từng ngành sản xuất cụ thể của nền kinh tế quốc dân, đất đai có vai trò khác nhau: + Trong các ngành công nghiệp chế tạo, chế biến: đất đai là cơ sở không gian, là nền tảng, vị trí thực hiện quá trình sản xuất Quy trình sản xuất sản phẩm ở đây không phụ thuộc vào tính chất và độ màu mỡ của đất

Trang 20

+ Trong ngành công nghiệp khai khoáng: Đất đai không chỉ là cơ sở không gian, còn là kho tàng cung cấp các nguyên liệu khoáng sản quý giá cho con người Quá trình sản xuất và chất lượng sản phẩm phụ thuộc vào chất lượng đất

1.1.3 Phân loại đất

Đất đai là một trong những tài nguyên vô cùng quý giá mà tự nhiên đã ban tặng cho con người để sinh tồn và phát triển Đất tham gia vào tất cả các hoạt động của đời sống kinh tế - xã hội Đất đai là địa điểm, là cơ sở để xây dựng các thành phố, làng mạc; các công trình công nghiệp, giao thông, thủy lợi, Ngoài ra, đất đai còn cung cấp nguyên liệu cho các ngành xây dựng và vật liệu gốm sứ Vì vậy, có nhiều cách phân loại đất khác nhau phù hợp với từng mục đích riêng Nhằm khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên này

1.1.3.1 Phân loại đất theo nguồn gốc phát sinh và độ phì

Tài nguyên đất của nước ta rất đa dạng, phân hóa theo các tổ hợp của các nhân tố hình thành đất Các loại đất này khác nhau về nguồn gốc phát sinh, độ phì và khả năng khai thác cho các hoạt động nông, lâm nghiệp Theo các nhà nghiên cứu về thổ nhưỡng học, đất gồm 14 nhóm:

Đất cát, đất đen, đất mặn, đất đỏ vàng,đất phèn, đất mùn vàng đỏ trên núi, đất lầy và than bùn, đất mùn thô trên núi cao, đất phù sa, đất xám bạc màu, đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ, đất xói mòn trơ sỏi đá, đất đỏ và xám nâu vùng bán khô hạn, đất Pốtzon [14]

1.1.3.2 Phân loại đất theo tính chất và thành phần cấu tạo

Có nhiều cách phân loại đất dựa vào tính chất và thành phần cấu tạo

Với GS.TS Vũ Tự Lập theo ông phân loại đất theo tính chất và thành phần cấu tạo sẽ gồm các nhóm và loại đất sau:

 Các nhóm và loại đất địa đới

- Nhóm đất feralit đỏ vàng: đất feralit đỏ vàng trên đá biến chất và đá sét, đất feralit vàng đỏ trên đá magma acid, đất feralit vàng nhạt trên đá cát, đất feralit vàng nâu trên phù sa cổ, đất feralit biến đổi do trồng lúa

- Nhóm đất đen: đất đen trên đá bọt, đất đen nâu hay nâu thẫm trên đá bazan, đất đen trên đá vôi, đất đen thủy thành

Trang 21

- Nhóm đất feralit nâu đỏ: đất feralit nâu thẫm trên đá magma bazơ và trung tính, đất feralit nâu đỏ trên đá magma bazơ và trung tính, đất feralit nâu và xám trên đá magma bazơ và trung tính, đất feralit đỏ nâu trên đá vôi, đất nâu bán khô hạn và khô hạn

- Nhóm đất xám: đất xám bạc màu trên phù sa cổ, đất xám bạc màu trên magma acid và đá cát

Nhìn chung, các nhóm và loại đất địa đới, đặc biệt nhóm đất feralit đỏ vàng và đất feralit nâu đỏ rất thuận lợi cho trồng các loại cây công nghiệp lâu năm và cây công

nghiệp hằng năm như: (cao su, cà phê, hồ tiêu, điều), ít có giá trị trong trồng lúa

 Các nhóm và loại đất phi địa đới

- Nhóm đất mùn feralit vàng đỏ trên núi thấp

- Nhóm đất mùn alit trên núi trung bình và núi cao, đất mùn alit trên núi trung bình, đất mùn thô than bùn trên núi cao

 Các nhóm và loại đất nội địa trên lũy tích bồi sông, biển

- Nhóm đất thung lũng

- Nhóm đất phù sa: đất phù sa trung tính và ít chua, đất phù sa chua

Ở Thành phố Hồ Chí Minh nói chung và huyện Nhà Bè nói riêng không tồn tại các nhóm và loại đất phi địa đới Tuy nhiên, nhìn chung các loại và nhóm đất này ít có giá trị trong trồng trọt, thuận lợi cho việc trồng rừng cũng như trồng các loại cây công nghiệp lâu năm và cây công nghiệp hằng năm

1.1.3.3 Phân loại đất theo mục đích sử dụng

Theo Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2013, căn cứ vào mục đích sử dụng; đất đai được phân thành 3 nhóm: nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp và nhóm đất chưa sử dụng Cụ thể được quy định tại điều 10 Luật Đất đai như sau:

 Nhóm đất nông nghiệp

 Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác

 Đất trồng cây lâu năm

 Đất rừng sản xuất

 Đất rừng phòng hộ

Trang 22

 Đất rừng đặc dụng

 Đất nuôi trồng thủy sản

 Đất làm muối

 Đất nông nghiệp khác gồm đất sử dụng để xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép; đất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản cho mục đích học tập, nghiên cứu thí nghiệm; đất ươm tạo cây giống, con giống và đất trồng hoa, cây cảnh

 Nhóm đất phi nông nghiệp

 Đất ở gồm đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị

 Đất xây dựng trụ sở cơ quan

 Đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh

 Đất xây dựng công trình sự nghiệp gồm đất xây dựng trụ sở của tổ chức sự nghiệp; đất xây dựng cơ sở văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục và đào tạo, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, ngoại giao và công trình sự nghiệp khác;

 Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp gồm đất khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất; đất thương mại, dịch vụ; đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp; đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản; đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm

 Đất sử dụng vào mục đích công cộng gồm đất giao thông (gồm cảng hàng không, sân bay, cảng đường thủy nội địa, cảng hàng hải, hệ thống đường sắt, hệ thống đường bộ và công trình giao thông khác); thủy lợi; đất có di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; đất sinh hoạt cộng đồng, khu vui chơi, giải trí công cộng; đất công trình năng lượng; đất công trình bưu chính, viễn thông; đất chợ; đất bãi thải, xử

lý chất thải và đất công trình công cộng khác

 Đất cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng

 Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa táng

 Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng

 Đất phi nông nghiệp khác gồm đất làm nhà nghỉ, lán, trại cho người lao động trong cơ sở sản xuất; đất xây dựng kho và nhà để chứa nông sản, thuốc bảo vệ thực

Trang 23

vật, phân bón, máy móc, công cụ phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và đất xây dựng

công trình khác của người sử dụng đất không nhằm mục đích kinh doanh mà công trình đó không gắn liền với đất ở

Nhìn chung, nhóm đất phi nông nghiệp bao gồm các loại đất chính như: Đất cơ sở hạ tầng công trình sự nghiệp, đất khu công nghiệp, đất ở đô thị, đất an ninh - quốc phòng, đất cơ sở hạ tầng (đất văn hóa, y tế, thể dục - thể thao…)

 Nhóm đất chưa sử dụng

Bao gồm các loại đất chưa xác định mục đích sử dụng [16]

1.1.4 Cơ cấu sử dụng đất và chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất

1.1.4.1 Khái niệm về cơ cấu sử dụng đất

Đất là một trong những tài nguyên thiên nhiên quý giá, được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau như; đất xây dựng nhà ở, khu đô thị, công trình giao thông, Khu công nghiệp và các công trình xã hội khác,…

Vì vậy, có thể hiểu “Cơ cấu sử dụng đất là mối quan hệ tỷ lệ giữa các loại đất được sử dụng vào các mục đích khác nhau so với toàn bộ quỹ đất trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội”

Cơ cấu sử dụng đất không phải là một hệ thống tĩnh, bất biến mà nó luôn ở trạng thái vận động, thay đổi không ngừng theo sự thay đổi của cơ cấu kinh tế trong quá trình phát triển Cơ cấu sử dụng đất duy trì quá lâu hay thay đổi quá nhanh mà không hợp lý sẽ ảnh hưởng rất lớn đến kinh tế - xã hội và môi trường

Chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất không phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế,

xã hội, đặc biệt là cơ cấu kinh tế của địa phương đều có ảnh hưởng nhất định đến hiệu quả của quá trình sản xuất xã hội

Cơ cấu sử dụng đất chuyển dịch nhanh hay chậm không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan mà phụ thuộc vào các điều kiện cần thiết cho sự chuyển dịch, các mục tiêu và định hướng

Một trong các nội dung quan trọng nhất của việc sử dụng hợp lý các nguồn lực đất đai vào phát triển kinh tế là xây dựng cơ cấu sử dụng đất hợp lý để sử dụng vào các mục đích khác nhau Một cơ cấu sử dụng đất hợp lý phải đáp ứng các yêu cầu sau:

+ Phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của từng vùng

Trang 24

+ Đáp ứng yêu cầu của quá trình phát triển các ngành kinh tế

+ Đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao, chuyển dịch theo hướng tiến bộ để khai thác được các lợi thế và tiềm năng kinh tế của các địa phương [12]

1.1.4.2 Khái niệm về chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất

CDCCSDĐ là quá trình vận động, biến đổi các loại đất khác nhau, làm thay đổi vị trí, tương quan tỷ lệ và mối quan hệ giữa các loại đất dưới tác động của kinh tế - xã hội và các điều kiện khách quan khác Trong quá trình chuyển dịch, cơ cấu sử dụng đất luôn vận động và phát triển từ cơ cấu sử dụng đất cũ sang một cơ cấu sử dụng đất mới Quá trình chuyển dịch này đòi hỏi một khoảng thời gian và trải qua các bước tuần tự để đạt đến mục đích cuối cùng là một tổng thể được kết hợp hợp lý, hài hòa từ các bộ phận cấu thành

Việc sử dụng khái niệm trên mang ý nghĩa CDCCSDĐ không chỉ diễn ra một cách khách quan mà còn chuyển dịch theo ý kiến chủ quan của con người, trong điều kiện việc chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất theo định hướng của quá trình đô thị hóa và đây không phải là quá trình diễn ra trong thời gian ngắn mà là một quá trình mang tính biển đổi theo định hướng đã được đặt ra làm thay đổi toàn bộ cơ cấu sử dụng đất, từ một cơ cấu sử dụng đất cũ sang một cơ cấu sử dụng đất mới phù hợp hơn, hiệu quả cao hơn

Đây là quá trình tất yếu, là kết quả của quá trình phát triển kinh tế - xã hội Với vai trò của đất trong tất cả các hoạt động, sự phát triển của các ngành, các lĩnh vực khác nhau, đặt ra yêu cầu đối với nhu cầu sử dụng lượng diện tích đất đai khác nhau phục vụ CDCCSDĐ

Cơ cấu sử dụng đất là mối quan hệ và tỷ lệ giữa diện tích đất sử dụng cho các ngành kinh tế, mối quan hệ giữa các diện tích đất sử dụng cho các vùng khác nhau và giữa diện tích đất sử dụng cho các thành phần kinh tế Do đó, quan niệm về

CDCCSDĐ được hiểu là “Sự chuyển dịch, sự thay đổi tỷ trọng tương đối của diện tích đất sử dụng cho các ngành, các thành phần và các vùng kinh tế”

+ Cơ cấu sử dụng đất hình thành và phát triển mang tính khách quan Luôn luôn biến đổi phù hợp với sự biến đổi của cơ cấu kinh tế Không thể áp đặt chủ quan bất kỳ một cơ cấu sử dụng đất nào cũng như không thể thúc đẩy ép buộc hoặc kìm hãm sự

Trang 25

chuyển dịch của cơ cấu sử dụng đất theo một cơ chế không phù hợp với yêu cầu và khả năng khách quan của điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội

+ Sự tiến bộ của khoa học công nghệ, đặc biệt công nghệ mới trong lĩnh vực trồng trọt đã tạo ra nhiều giống cây trồng mới với năng suất và chất lượng cao, hiệu quả kinh tế đã mang lại nhiều sự thay đổi đáng kể trong việc sử dụng đất với tư cách là

tư liệu sản xuất chủ yếu và trực tiếp đối với ngành nông nghiệp nói chung và ngành trồng trọt nói riêng

+ Năng suất lao động và sản phẩm thu hoạch ngày càng tăng, thay đổi nhu cầu sử dụng đất trong nông nghiệp Diện tích đất đai còn lại từ ngành nông nghiệp là nguồn cung quan trọng cho các ngành kinh tế khác như công nghiệp, thương mại - dịch vụ + Kinh tế phát triển, tốc độ đô thị hóa diễn ra ngày càng nhanh chóng kéo theo nhu cầu về diện tích đất để đáp ứng cho quá trình mở rộng hoạt động sản xuất về chiều rộng và chiều sâu Thực tế khách quan này làm biến đổi cơ cấu kinh tế nói chung, cơ cấu sử dụng đất sử dụng cho các hoạt động kinh tế nói riêng

Một cơ cấu sử dụng đất hợp lý là một cơ cấu phù hợp với cơ cấu kinh tế, hỗ trợ đắc lực góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội địa phương Trong nền kinh tế thị trường như hiện nay, việc phát triển kinh tế - xã hội chỉ dựa vào nguồn lực bên trong của một quốc gia đã trở nên lỗi thời Một nền kinh tế mở, hội nhập sâu rộng, phân công lao động đã trở thành xu thế Do vậy, việc lựa chọn một cơ cấu sử dụng đất hợp lý đáp ứng tốt nhu cầu phát triển của các ngành kinh tế cần phải huy động tốt cả nguồn lực bên trong lẫn nguồn lực bên ngoài, đặc biệt việc thu hút tối đa từ nguồn lực bên ngoài như vốn, công nghệ, khoa học kỹ thuật tiên tiến để có thể khai thác hiệu quả nguồn lực đất đai phục vụ phát triển kinh tế

Bên cạnh đó, để có một cơ cấu sử dụng đất hợp lý mang lại giá trị cao cần phải

có sự hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau của các phương tiện như xây dựng cơ sở hạ tầng, áp dụng những tiến bộ và thành tựu của khoa học, công nghệ vào sản xuất nhằm tăng hiệu quả sử dụng đất [12]

Trang 26

1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất trong quá trình đô thị hóa

1.1.5.1 Vị trí địa lý, phạm vi lãnh thổ

Vị trí địa lý bao gồm vị trí tự nhiên, vị trí kinh tế, giao thông và chính trị Vị trí địa lý có tác động rất lớn đến việc chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất nói riêng và quá trình đô thị hóa nói chung

Nhìn chung, vị trí địa lý có ảnh hưởng rõ rệt đến việc hình thành cơ cấu sử dụng đất và xu hướng chuyển dịch mục đích sử dụng trong điều kiện tăng cường mở rộng các mối quan hệ kinh tế quốc tế và hội nhập vào đời sống kinh tế khu vực và thế giới cũng như đáp ứng yêu cầu của quá trình đô thị hóa Sự hình thành và phát triển của các

xí nghiệp công nghiệp nói riêng và các hoạt động của quá trình đô thị hóa nói chung phụ thuộc rất nhiều vào vị trí địa lý Có thể thấy hầu hết các đô thị thường được bố trí ở các khu vực có vị trí địa lý thuận lợi như gần biển, gần sông, gần các trục đường giao thông, gần sân bay, bến cảng, gần nguồn nước và khu vực tập trung đông dân cư Vị trí thuận lợi hay không thuận lợi có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình đô thị hóa nói chung và chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất nói riêng, vị trí địa lý càng thuận lợi mức

độ đô thị hóa càng cao, quá trình đô thị hóa càng diễn ra nhanh chóng, dân cư tập trung đông đúc kéo theo đó là nhu cầu về sử dụng đất nhằm phục vụ nhu cầu nhà ở, xây dựng cơ sở hạ tầng, các xí nghiệp, khu công nghiệp tập trung và các trục đường giao thông trong các đô thị ngày càng tăng Ngược lại, những khu vực có vị trí địa lý kém thuận lợi sẽ gây khó khăn cho quá trình mở rộng và phát triển đô thị cũng như việc kêu gọi vốn đầu tư

1.1.5.2 Điều kiện tự nhiên - tài nguyên thiên nhiên

Trong quá trình phát triển kinh tế nói chung, phát triển kinh tế địa phương nói riêng thì điều kiện tự nhiên - tài nguyên thiên nhiên là yếu tố có vai trò rất quan trọng, đặc biệt đối với việc chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất càng không thể tách rời Điều kiện tự nhiên là nguồn lực gồm các thành phần tự nhiên mà con người có thể sử dụng chúng nhằm thỏa mãn nhu cầu tồn tại và phát triển của bản thân Điều kiện tự nhiên - tài nguyên thiên nhiên là yếu tố đầu vào của sản xuất do thiên nhiên ban tặng như đất đai, sông suối, rừng núi, biển, thời tiết khí hậu, tài nguyên khoáng sản, động - thực vật

Trang 27

Điều kiện tự nhiên - tài nguyên thiên nhiên tuy quan trọng, song không phải là nhân tố quyết định tới vấn đề chuyển dịch cơ cấu cũng như mục đích sử dụng đất Đây được coi là tài sản của một quốc gia, là tiền đề cho quá trình sản xuất tạo ra của cải đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội nhằm phục vụ con người Tuy nhiên, không phải tài nguyên thiên nhiên nào cũng là vô tận, vì vậy cần phải có kế hoạch sử dụng hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả Ngoài ra, cần phải có chiến lược bảo vệ, tái tạo tài nguyên - thiên nhiên nhằm phát triển bền vững nền kinh tế

1.1.5.3 Điều kiện kinh tế - xã hội

 Dân cư và nguồn lao động

Dân cư và nguồn lao động là nguồn lực quan trọng, là nhân tố quyết định trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội nói chung và chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất nói riêng Dân cư và nguồn lao động là lực lượng lao động cơ bản của xã hội trong hiện tại

và là lực lượng tiêu thụ các sản phẩm trong tương lai

Quy mô dân số đông, kết cấu dân số trẻ và gia tăng dân số nhanh sẽ tạo ra nguồn lao động dồi dào kết hợp người lao động có kỹ năng lao động và khả năng tiếp cận những thành tựu của khoa học - công nghệ cao thì chất lượng lao động sẽ được nâng lên, năng suất và hiệu quả trong lao động cao Là điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội Cơ cấu sử dụng đất luôn có sự chuyển dịch theo hướng phù hợp với tình hình thực tế cũng như đáp ứng nhu cầu nhà ở, phát triển cơ sở hạ tầng, giao thông

và các công trình công cộng của mỗi địa phương, mỗi vùng kinh tế

 Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật

Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội nói chung và quá trình đô thị hóa nói riêng Cơ sở hạ tầng và vật chất

kỹ thuật đảm bảo điều kiện vật chất để các cơ sở sản xuất và dịch vụ hoạt động có hiệu quả Có thể thấy, một bộ phận nhỏ trong hệ thống cơ sở hạ tầng gặp vấn đề thì toàn bộ hệ thống sản xuất sẽ ngưng hoạt động Ngược lại, nếu hệ thống cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật hiện đại, đồng bộ sẽ là điều kiện hết sức thuận lợi cho quá trình sản xuất hoạt động và lưu thông một cách nhịp nhàng Giúp giảm chi phí, tiết kiệm thời gian đồng thời góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm Như vậy, cơ sở hạ tầng và vật chất

kỹ thuật có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất

Trang 28

của từng đơn vị trong toàn bộ nền kinh tế

 Khoa học và công nghệ

Khoa học công nghệ là yếu tố quyết định đối với tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa nền kinh tế Khoa học và công nghệ trực tiếp tác động nhằm nâng cao năng suất, giảm nhẹ cường độ lao động, giảm chi phí, giá thành sản xuất và đa dạng mẫu mã các sản phẩm Cơ cấu lao động có sự thay đổi theo hướng giảm rõ rệt lao động trong các ngành nông nghiệp, tăng nhanh tỷ lệ lao động trong các ngành phi nông nghiệp Đây được coi là tiền đề, động lực cho quá trình chuyển dịch

cơ cấu kinh tế nói chung và chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất nói riêng

Hiện nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều áp dụng thành tựu của khoa học

- công nghệ vào các hoạt động sản xuất không chỉ trong ngành sản xuất công nghiệp

mà cả trong ngành nông nghiệp Điều đó đã góp phần khai thác và sử dụng hợp lý, có hiệu quả, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên (đặc biệt tài nguyên đất đai), tránh lãng phí

và gây ô nhiễm môi trường

 Nguồn vốn

Nguồn vốn là điều kiện hàng đầu đóng vai trò và tiên quyết đối với sự phát triển kinh tế và chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất ở mọi quốc gia Đây là điều kiện quyết định việc mở rộng và tăng cường đầu tư, quy hoạch; chuyển đổi mục đích sử dụng đất đáp ứng yêu cầu của quá trình đô thị hóa cũng như quá trình CNH - HĐH đất nước Nguồn vốn của một quốc gia luôn được duy trì từ nền kinh tế trong nước và ngoài nước Nguồn vốn trong nước được xem là nguồn vốn cơ bản, là nội lực, có vai trò chi phối mọi hoạt động phát triển trong nước, hầu hết các quốc gia đều xem nội lực là nguồn lực chính Sự chi viện từ bên ngoài là yếu tố tạm thời nhưng có vài trò quan trọng góp phần thúc đẩy mạnh mẽ quá trình phát triển kinh tế trong thời kỳ CNH - HĐH của mỗi quốc gia và vùng kinh tế

 Đường lối chính sách

Đây là nhân tố quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến sự tăng trưởng kinh tế nói chung và chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất nói riêng Trong hầu hết các hoạt động của nền kinh tế đều có sự điều tiết của Nhà nước, song Nhà nước không can thiệp trực tiếp mà điều hành qua hệ thống Pháp luật và các chính sách hoạch định

Trang 29

Một quốc gia có đường lối chính sách đúng đắn, sẽ thúc đẩy phát triển kinh tế cũng như quá trình chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất hợp lý mang lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần khai thác có hiệu quả các nguồn lợi từ đất

Tóm lại, hiểu và đánh giá đúng cũng như biết huy động tối đa các nguồn lực không phân biệt nguồn lực tự nhiên hay nguồn lực kinh tế - xã hội, sẽ góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội cũng như quá trình đô thị hóa ở mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ Đối với các quốc gia, các vùng đang trong quá trình phát triển, muốn nhanh chóng thoát khỏi nghèo nàn, tụt hậu, cần phải thực hiện và sử dụng hợp lý các nguồn lực sẵn có trong nước bên cạnh đó kết hợp với sự hỗ trợ từ các quốc gia và vùng phát triển

1.1.6 Ảnh hưởng của chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất đối với kinh tế - xã hội và môi trường

Chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất hợp lý, có hiệu quả góp phần phát triển kinh tế -

xã hội (tăng giá trị và hiệu quả sử dụng đất, động lực chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng “thương mại - dịch vụ, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và nông nghiệp”) Quy hoạch, phân chia đất giúp phát triển các ngành, các lĩnh vực đáp ứng nhu cầu sử dụng đất trong xây dựng khu dân cư, xây dựng cơ sở hạ tầng, các khu, cụm công nghiệp và các khu du lịch Việc chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất một cách hợp lý, góp phần giảm thiểu vần đề ô nhiễm môi trường gắn với bảo vệ môi trường sinh thái (hạn chế việc sử dụng phân hóa học, thuốc trừ sâu trong nông nghiệp)

Chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất theo xu hướng giảm diện tích nhóm đất nông nghiệp do chuyển đổi mục đích sử dụng từ đất nông nghiệp qua đất phi nông nghiệp đã góp phần khai thác có hiệu quả các nguồn thu từ đất, tăng giá trị sử dụng cũng như đáp ứng nhu cầu mở rộng và phát triển, đặc biệt khu công nghiệp Hiệp Phước (xã Hiệp Phước và Long Thới) Góp phần giải quyết việc làm (lao động nông nghiệp có xu hướng giảm rõ rệt do thay đổi mục đích sử dụng đất cũng như nhu cầu về nguồn lao động, khu công nghiệp - cảng tân cảng Hiệp Phước đi vào hoạt động tạo điều kiện giải quyết việc làm cho hàng ngàn lao động địa phương và các vùng lân cận), tăng thu nhập (lao động trong các ngành thương mại - dịch vụ mang lại giá trị kinh tế cao hơn gấp 3 so với các ngành kinh tế khác), khi thu nhập tăng sẽ góp phần nâng cao chất lượng đời sống

Trang 30

Tuy nhiên, trong một thời gian ngắn quy mô diện tích đất nông nghiệp giảm khá nhanh, ảnh hưởng đến chỉ tiêu phát triển của khu vực nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản là điều không thể tránh khỏi Diện tích đất nông nghiệp giảm mạnh, ảnh hưởng đến vấn đề an ninh lương thực cũng như tỷ lệ diện tích cây xanh phục vụ nhu cầu sinh hoạt của mỗi quốc gia và khu vực Vì vậy, cần chuyển đổi nông nghiệp hiện tại sang hướng nông nghiệp đô thị, nông nghiệp gắn với du lịch sinh thái, nhằm nâng cao đời sống nhân dân song song với việc áp dụng các tiến bộ của khoa học kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, giảm sức lao động, tiết kiệm chi phí, thời gian và cải thiện chất lượng cuộc sống dân cư

Trong quá trình đô thị hóa, nhu cầu đất phục vụ mục đích xây dựng nhà ở, xây dựng các trụ sở cơ quan công trình sự nghiệp và các công trình công cộng không ngừng tăng Diện tích nhóm đất phi nông nghiệp tăng qua từng giai đoạn đã tạo bước đột phá trong phát triển thương mại - dịch vụ, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp trong thời gian tới, góp phần đáp ứng nhu cầu xây dựng nhà ở, xây dựng các khu công nghiệp, cơ sở hạ tầng và các công trình giao thông Góp phần hoàn hiện và đồng bộ hệ thống cơ sở hạ tầng quốc gia, tăng sức hút, sức hấp dẫn và khả năng cạnh tranh đối với các quốc gia và vùng lãnh thổ

1.2 Các khái niệm về đô thị và đô thị hóa

1.2.1 Khái niệm về đô thị

Đô thị là sản phẩm của lịch sử, ghi đậm dấu ấn của từng giai đoạn phát triển kinh tế - văn hóa của xã hội loài người, là kiệt tác hoàn chỉnh của nhân loại Đô thị có thể được coi là “một cơ thể” đặc biệt có cấu trúc riêng với những bộ phận phức tạp và bổ sung lẫn nhau

Có nhiều khái niệm về đô thị, một trong những khái niệm được nhiều người đồng

tình và ủng hộ đó là khái niệm đô thị theo luật quy hoạch đô thị Việt Nam “Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn”

Trang 31

1.2.2 Vai trò của đô thị

Đô thị là môi trường không gian chuyên môn hóa được hình thành trong quá trình phát triển của xã hội loài người và mối quan hệ đa dạng về mặt vật chất, tinh thần, đô thị là sản phẩm của xã hội loài người, nó ảnh hưởng rất lớn đến đời sống kinh tế - xã hội

Trong phạm vi của một quốc gia, đô thị là hạt nhân tạo vùng kinh tế với vai trò là trung tâm công nghiệp, dịch vụ, hành chính, văn hóa, khoa học kỹ thuật, đô thị có ảnh hưởng rất lớn tạo ra lực hút kinh tế, dịch vụ và chi phối đời sống kinh tế - xã hội của vùng Sức lan tỏa ảnh hưởng của đô thị càng lớn thì quy mô vùng kinh tế càng lớn và tiềm lực vùng kinh tế càng mạnh Trong vùng kinh tế, các đô thị lớn là hạt nhân chính, các đô thị vệ tinh và các đô thị nhỏ là hạt nhân phụ Hệ thống đô thị trong vùng là bộ khung của vùng kinh tế

1.2.2.1 Vai trò của đất trong đô thị

Đất là tài nguyên quý giá của mỗi quốc gia, đất đô thị được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau (xây dựng các khu dân cư, các công trình giao thông, các cơ sở y tế, văn hóa, thể dục - thể thao, giáo dục) và ngày càng được sử dụng triệt để Việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp, đất đô thị là điều không thể tránh khỏi

Đất đô thị được phân thành nhiều loại khác nhau theo mục đích sử dụng Việc thiết kế, quy hoạch sử dụng đất phải được nghiên cứu, đánh giá cụ thể về địa chất các tầng đất, tính chất lý hóa học của đất và ví trí của khu đất đó với khả năng xây dựng và phát triển các chức năng được quy hoạch trong tương lai

1.2.2.2 Các loại đất chính trong đô thị

Căn cứ vào mục đích sử dụng, đất đô thị có thể chia thành các loại sau:

Đất công nghiệp, đất kho tàng, đất thương mại, dịch vụ, đất giao thông, đối ngoại, đất dân dụng, khu đất đặc biệt

Đất công nghiệp: là loại đất để xây dựng các xí nghiệp công nghiệp tập trung theo khu vực Đất công nghiệp là loại đất quan trọng trong cơ cấu đất đô thị Đất công nghiệp cần được bố trí ở những nơi vị trí thuận lợi cho giao thông vận tải vì các nhà máy cần một nơi thuận tiện cho việc tập trung nhân công và vận chuyển nguyên vật

Trang 32

liệu, hàng hóa Các xí nghiệp với đặc trưng về nhu cầu sản xuất hoặc môi trường có thể được bố trí ở các vị trí khác nhau Những nhà máy xí nghiệp ít độc hại, cần lao động lớn, tay nghề cao có thể được bố trí ở trung tâm thành phố hoặc nơi đông dân cư, ngược lại các nhà máy độc hại gây ô nhiễm môi trường hay cần bảo mật thì cần phân bố xa khu vực dân cư

Đất giao thông: bao gồm các loại đất giành cho hệ thống giao thông đường sắt,

bộ, đường thủy, sân bay, bến cảng…Nhằm bảo đảm cho việc giao thông trong nội thành phố, phục vụ cho việc đi lại, sản xuất của thành phố tạo mối liên hệ chặt chẽ giữa thành phố với các thành phố khác, các vùng trong cả nước và thế giới Mạng lưới giao thông được quy hoạch hợp lý tạo điều kiện thuận lợi đối với sự phát triển kinh tế -

xã hội và tạo cảnh quan đẹp cho thành phố và ngược lại sẽ cản trở sự phát triển của thành phố

Đất dân dụng đô thị: bao gồm các loại đất xây dựng nhà ở, công trình công cộng,

…Phục vụ nhu cầu sinh hoạt, nghỉ ngơi, giải trí của nhân dân

Đất kho tàng: là đất giành cho xây dựng các kho chứa hàng hóa vật liệu của thành phố và trung ương

Đất đặc biệt: giành cho quân sự, các cơ quan hành chính quốc gia và quốc tế (đại sứ quán)

Đất đô thị có giá trị sử dụng rất cao, phụ thuộc vào vị trí không gian, khả năng sử dụng của các loại đất khác nhau và từng chức năng của đô thị Các khu vực thương mại phân bố ở nhưng nơi có vị trí thuận lợi mà họ có thể dễ dàng đến nơi làm việc, gần cửa hàng, trường học, thoáng mát không bị ô nhiễm Ngoài ra, các khu chức năng còn được bố trí ở các địa điểm phù hợp với điều kiện tự nhiên và thuận lợi cho phát triển chức năng đô thị [23]

1.2.3 Khái niệm về đô thị hóa

“Đô thị hóa là quá trình biến các điểm quần cư nông thôn thành quần cư đô thị” Đô thị hóa diễn ra rất sớm từ thế kỷ IV trước Công nguyên Nhưng thuật ngữ này

mới được phổ biến vào những năm đầu của thế kỷ XX, khi quá trình đô thị hóa phát triển mạnh mẽ trên quy mô toàn cầu

Trang 33

Đô thị hóa là khái niệm đa chiều, đa diện về kinh tế - xã hội và môi trường với những biểu hiện thay đổi mạnh mẽ trong sản xuất và đời sống như sự di chuyển dân

cư, thay đổi nơi ở, sự phát triển của sản xuất công nghiệp và sự thay đổi lối sống, mức sống làm xã hội trở nên văn minh hơn

Đô thị hóa phát triển mạnh mẽ không ngừng làm thay đổi cách ứng xử và thái độ của con người đối với thiên nhiên, cũng như làm thay đổi lối sống, cách sinh hoạt của chính bản thân con người trong đô thị [23]

 Theo nghĩa rộng đô thị hóa được hiểu như sau:

+ Quá trình tập trung dân cư vào các đô thị (sự chuyển cư vào các đô thị), hình thành và phát triển đô thị mới

+ Quá trình tập trung dân cư ngày càng đông vào các đô thị lớn

+ Quá trình mở rộng không ngừng diện tích đô thị theo chiều rộng, chiều cao và chiều sâu

+ Quá trình phổ biến lối sống đô thị

+ Quá trình hiện đại hóa cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật đô thị

1.2.4 Những biểu hiện cơ bản của quá trình đô thị hóa

1.2.4.1 Dân số đô thị ngày càng tập trung đông vào các đô thị

Dân cư trên thế giới ngày càng tập trung đông vào các đô thị làm cho số lượng đô thị trên thế giới ngày càng tăng nhanh về số lượng lẫn quy mô dân số đô thị Để đánh giá mức độ đô thị hóa, người ta thường dựa vào tỷ lệ dân số đô thị, tốc độ tăng dân số

đô thị và tốc độ tăng mật độ dân số

Các nước phát triển có tỷ lệ dân số đô thị cao, mức độ đô thị hóa cao (chiếm 82% dân số), ngược lại các nước đang phát triển thường có tỷ lệ dân số đô thị thấp, chiếm 53% dân số (Việt Nam tỷ lệ dân đô thị đạt 35,16% năm 2015) Tuy nhiên, tỷ lệ dân số

đô thị không phản ánh đầy đủ mức độ đô thị hóa cũng như tốc độ đô thị hóa và chất lượng đô thị hóa của tất cả các nước

1.2.4.2 Lãnh thổ đô thị không ngừng mở rộng

Đô thị hóa thể hiện quá trình mở rộng diện tích đô thị và sự tập trung dân cư vào các đô thị lớn, tăng số lượng đô thị cũng như phổ biến lối sống đô thị vào nông thôn Ngày nay, quá trình đô thị hóa làm cho diện tích đất nông nghiệp nông thôn dần thu

Trang 34

hẹp trong khi xu hướng mở rộng diện tích đô thị (đất phi nông nghiệp) trên Trái Đất Nhằm phục vụ nhu cầu xây dựng các tuyến đường giao thông chính, các khu dân cư, khu thương mại, khu giải trí và khu công nghiện

Dân số đô thị tăng, đời sống được cải thiện, nhu cầu sử dụng đất bình quân đầu người của dân cư thành thị trong mấy chục năm gần đây đã tăng lên rất nhiều Đó là các nhu cầu về xây dựng nhà ở, trồng cây xanh, xây dựng công viên, câu lạc bộ…ngày càng tăng Góp phần chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất nói chung và mở rộng diện tích đất đô thị nói riêng

1.2.4.3 Phổ biến rộng rãi lối sống đô thị vào nông thôn

Lối sống bao gồm những điều kiện và hình thức hoạt động sống của con người, là đặc trưng của xã hội, giai cấp, tầng lớp nhất định Đô thị hóa là quá trình chuyển đổi lối sống nông thôn sang lối sống đô thị

Ngày nay, quá trình đô thị hóa nhanh chóng đã phổ biến lối sống thành thị đến các vùng nông thôn Tuy nhiên, sự khác biệt về lối sống, chất lượng cuộc sống rất khác biệt giữa thành thị và nông thôn

Quá trình phổ biến lối sống đô thị làm ảnh hưởng mạnh mẽ đến các hoạt động sinh hoạt và sản xuất ở nông thôn, làm cho các hoạt động của nông thôn xích lại gần với đô thị

Quá trình đô thị hóa ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất, sinh hoạt nông thôn

và nâng cao chất lượng cuộc sống ở nông thôn Hoạt động kinh tế chủ yếu ở nông thôn gắn với hoạt động sản xuất nông nghiệp là chính, nhờ áp dụng máy móc, khoa học kỹ thuật và các dịch vụ do đô thị cung cấp, các vùng nông thôn đã có sự thay đổi mạnh mẽ cơ cấu lao động sản xuất: lao động trực tiếp sản xuất nông nghiệp giảm xuống, lực lượng lao động trong các ngành phi sản xuất tăng lên nhanh chóng Đời sống sinh hoạt các vùng nông thôn cũng được nâng cao rõ rệt

Như vậy, đô thị hóa là quá trình tiến bộ của xã hội loài người, là xu hướng tất yếu của lịch sử, là người bạn song hành của quá trình công nghiệp hóa Đô thị hóa có quy mô mở rộng khắp trên phạm vi toàn cầu, tuy nhiên có sự khác biệt về lịch sử đô thị hóa và mức độ đô thị hóa giữa các nước, các khu vực trên thế giới [23]

Trang 35

1.2.5 Ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đối với kinh tế - xã hội và môi trường

1.2.5.1 Đô thị hóa làm thay đổi nhu cầu sử dụng đất

Đất đô thị khoảng 3 triệu km2 tập trung trên 48% dân số Trái Đất, trong tương lai không xa sẽ tăng lên tới 61% và tập trung trên một diện tích nhỏ của Trái Đất Dân số

đô thị tăng, diện tích đô thị không ngừng tăng lên, gia tăng việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp nhằm phục vụ nhu cầu của con người (làm nơi cư trú, làm công xưởng, khu vui chơi giải trí, phúc lợi công cộng; công viên, bảo tàng, sân vận động)

Đất đai là tài sản vô cùng quý giá, là cơ sở để xây dựng địa bàn cư trú (phân bố dân cư), xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa - xã hội và an ninh - quốc phòng

Đất đô thị đặc biệt có giá trị rất lớn do chức năng và tính chất sử dụng cao độ của

nó Do vậy, quá trình chuyển đổi chức năng từ đất nông nghiệp sang đất đô thị làm cho giá trị đất có sự thay đổi mạnh mẽ và biến động lớn về tính chất và cơ cấu sử dụng đất Đất đô thị sử dụng vào các mục đích khác nhau cần phải có sự đánh giá tiềm năng, giá trị của từng loại, cần có thiết kế và quy hoạch xây dựng một cách bài bản và cụ thể nhất để sử dụng hợp lý, có hiệu quả kinh tế, phù hợp với quy mô dân số cũng như khả năng phát triển kinh tế đô thị và chức năng khác nhau của từng khu vực trong

đô thị, đồng thời tạo môi trường sống thuận lợi cho dân cư Thành phố

1.2.5.2 Đô thị hóa có ảnh hưởng lớn đến kinh tế - xã hội

Đô thị hóa có ảnh hưởng rất lớn đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói riêng và sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung Về phương diện kinh tế, các đô thị lớn có chức năng rất đa dạng như: sản xuất công nghiệp, thương mại và dịch vụ Những chức năng này là cơ sở kinh tế để đô thị có thể tạo ra nhiều việc làm; tăng thêm thu nhập, tạo sự thịnh vượng cho đô thị Ngược lại, các đô thị nhỏ; đơn chức năng, tiềm lực kinh tế, phạm vi ảnh hưởng nhỏ bé, sự tương phản giữa các đô thị lớn và những đô thị nhỏ về mặt kinh tế, chính trị khá rõ Điều này thể hiện rất rõ tại các đô thị lớn bởi sức mạnh kinh tế của các đô thị này rất lớn; có tầm ảnh hưởng tới toàn bộ nền kinh tế, chính trị của toàn thế giới (TP New York, London, Paris, Tokyo…)

Trang 36

1.2.5.3 Đô thị hóa làm thay đổi đặc điểm dân cư

Đô thị hóa làm gia tăng số lượng các đô thị cũng như mức độ tập trung dân cư vào các đô thị, điều đó ảnh hưởng tới cơ cấu dân số đô thị, thay đổi các đặc điểm về dân số (tỷ lệ sinh, tỷ lệ tử)

Lối sống dân cư đô thị sẽ làm giảm tỷ lệ gia tăng tự nhiên nhưng tăng tỷ lệ gia tăng cơ học Tỷ lệ gia tăng dân số đô thị ở nhiều nước, đặc biệt ở các nước đang phát triển hơn nhiều so với vùng nông thôn Ở Việt Nam tỷ lệ gia tăng dân số chung năm

2015 là 1,30% trong khi thành thị là 2,86%, nông thôn chỉ 0,79% như vậy tỷ lệ gia tăng dân số đô thị của nước ta cao gấp 3 lần so với gia tăng dân số chung ở vùng nông thôn Do đó, quá trình đô thị hóa và gia tăng dân số đô thị thực sự đã trở thành một quá trình toàn cầu

Bên cạnh đó, nền kinh tế phát triển càng cao thì tỷ trọng lao động trong khu vực I (khu vực nông nghiệp) xu hướng giảm, tăng lao động trong khu vực II, III Trong đó,

tỷ lệ lao động khu vực III (khu vực dịch vụ) ngày càng chiếm ưu thế, số lượng và chất lượng lao động ngày càng được nâng cao [23]

1.3 Thực tiễn về đô thị hóa và chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất ở Thành phố Hồ Chí Minh

Đô thị hóa (ĐTH) là kết quả tất yếu của sự phát triển KT - XH, nó diễn ra cùng với quá trình CNH, HĐH đất nước, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ Nhịp độ đô thị hóa phụ thuộc vào trình độ phát triển KT - XH, nhưng đồng thời quá trình ĐTH có tác động trở lại quá trình tăng trưởng, phát triển kinh tế Việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế CNH, HĐH phát triển công nghiệp và dịch vụ đòi hỏi phải tập trung dân

cư, phát triển kết cấu hạ tầng KT - XH, từ đó hình thành quá trình ĐTH ở khu vực nông nghiệp, nông thôn nằm trong quy hoạch phát triển ĐTH không chỉ tác động đến quá trình phát triển các ngành và nền kinh tế mà còn tác động đến các vấn đề xã hội, môi trường và cuộc sống của các thế hệ trong tương lai

Theo Quyết định số1570/QĐ - TTg phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch chung xây dựng thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2025 Theo đó TP.HCM là đô thị đặc biệt, một trung tâm lớn về kinh tế, văn hoá, khoa học công nghệ, có vị trí chính trị quan trọng

Trang 37

của cả nước và sẽ trở thành trung tâm công nghiệp, dịch vụ đa lĩnh vực của khu vực Đông Nam Á Mục tiêu xây dựng TP.HCM bao gồm: phát triển bền vững, hài hòa giữa phát triển kinh tế với bảo tồn di tích lịch sử, văn hoá và bảo vệ môi trường; bảo đảm an ninh, quốc phòng theo hướng liên kết vùng để trở thành một thành phố văn minh, hiện đại

Những năm gần đây, quá trình đô thị hóa đang diễn ra nhanh chóng ở nhiều quận, huyện mới của TP.HCM như quận 2, 7, 9, 12, Bình Tân, Tân Phú, Thủ Đức với nhiều khu đô thị mới như Phú Mỹ Hưng, Thủ Thiêm, Nam Sài Gòn, Hiệp Phước Nhiều khu dân cư đô thị tự phát hình thành ở nhiều phường, xã trước đây là nông thôn vùng ven như các phường: Phú Mỹ (quận 7), phường Trung Mỹ Tây (quận 12) Theo thống kê, từ năm 2001 đến 2005 đã có trên 8.000 ha đất nông nghiệp ở các quận mới được chuyển thành đất ở Tuy nhiên, nhiều khu vực đô thị mới được xây dựng tự phát, thiếu cơ sở hạ tầng đã gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng cho đời sống nhân dân tại chỗ như: bị ngập nước vào mùa mưa, thiếu hệ thống xử lý các chất thải gây ô nhiễm môi trường, nhất là không phát huy hết tiềm năng của đất đai, gây lãng phí lớn quỹ đất của Thành phố

Sự biến động về kinh tế trong 5 năm qua tại 5 quận mới (quận 2, 7, 9,12 và Thủ Đức) thể hiện ở việc làm phi nông nghiệp ngày càng được tạo ra nhiều hơn Tuy nhiên, sự chuyển đổi nghề nghiệp không tương thích cũng dẫn đến hiện tượng thất nghiệp tại các quận mới Một số hộ dân (khoảng 11,7%) đã bán đất lấy tiền xây nhà nhưng không có việc làm mới, không có đất canh tác, thiếu vốn kinh doanh đã dẫn đến tình trạng thất nghiệp phải đi làm kiếm sống bằng nhiều nghề Khoảng 8% số hộ vẫn cố gắng theo đuổi nghề nông, canh tác ở những mảnh đất còn sót lại cũng thuộc dạng thất nghiệp vì chỉ canh tác theo thời vụ Qua nghiên cứu ở ngoại thành TP.HCM và các tỉnh lân cận, có đến khoảng 30% nông dân không muốn trở thành thị dân như kiểu hiện nay mặc dù họ muốn hưởng các thành tựu của công nghiệp như điện, nước, dịch vụ xã hội…

Mặt khác, quá trình đô thị hóa còn phải đối mặt với nghèo đói đô thị, do sự chênh lệch về thu nhập cũng như những dịch vụ xã hội giữa nông thôn và đô thị quá cao nên luôn luôn xuất hiện các luồng dân di cư từ nông thôn vào thành thị Đặc biệt khi đô thị

Trang 38

càng phát triển thì lực hút đối với dân di cư càng lớn Cộng đồng di cư vào đô thị bao gồm nhiều thành phần, đồng thời mang theo cả gánh nặng của đói nghèo Nền kinh tế

đô thị không thể tiêu hóa toàn bộ cái nghèo của nông thôn Những cố gắng xoá đói giảm nghèo cho dân đô thị như tạo công ăn việc làm, cung cấp các dịch vụ công cộng vốn không có ở nông thôn lại càng thu hút sự di cư từ nông thôn ra thành thị và làm tiêu tán hết các thành quả tạo ra TP.HCM là một trong những đô thị trong nhiều năm liền phải đối mặt với hiện tượng này Cũng chính quá trình ĐTH đã làm cho một bộ phận dân cư nông thôn rơi vào tình trạng thất nghiệp, thiếu đất nông nghiệp canh tác

do họ chưa chuẩn bị tâm lý của một người dân đô thị với phương thức sản xuất hiện đại hơn, cùng với quá trình ĐTH di dân từ khu vực nông thôn ra thành thị là nhân tố chính) gia tăng áp lực về vấn đề việc làm, thu nhập, nhà ở, dịch vụ y tế - giáo dục,…Vốn là vấn đề nhức nhối ở các đô thị, nó ảnh hưởng đến quá trình tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo

ĐTH tác động xấu đến thị trường bất động sản, giá đất tăng cao tại các khu vực quy hoạch hoặc chờ quy hoạch, một số người dân nông thôn không chuyên tâm trong sản xuất nông nghiệp mà tranh thủ bán đất hoặc chờ bán đất (không trồng hoa màu mà trồng cột bêtông để phân lô đất, nền nhà) Khi giá đất tăng lên do tác động của ĐTH, người nông dân bán đất ồ ạt, nhiều ngôi nhà mới được xây dựng nhưng đó là những ngôi nhà của những người ở nơi khác đến hoặc nhà của họ xây nhưng không biết cách sản xuất trong môi trường mới và đưa họ rơi vào hai trường hợp: họ lại bán nhà và đi vào khu vực nông thôn xa hơn - nơi mà họ phải mất nhiều thời gian để ổn định đời sống và sản xuất, tình trạng nghèo đói rất có thể xảy ra đối với họ; hoặc họ cố gắng ở lại khu vực đô thị này nhưng không kiếm được việc làm, tệ nạn xã hội có cơ hội phát triển do thanh niên nông thôn không được đào tạo nghề, không tìm được việc làm ở thành thị

Đô thị hóa và vấn đề về chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất Đô thị hóa mạnh mẽ,

kinh tế phát triển, dân số đô thị không ngừng tăng, nhu cầu sử dụng đất phục vụ xây dựng nhà ở, công viên cây xanh, xây dựng cơ sở hạ tầng, khu công nghiệp và các trung tâm thương mại mọc lên san sát Cơ cấu sử dụng đất có sự chuyển dịch mạnh mẽ, xu hướng giảm mạnh diện tích đất nông nghiệp, đất chưa sử dụng, tăng diện tích nhóm

Trang 39

đất phi nông nghiệp Hiện nay tỷ lệ đất nông nghiệp vùng ven và các huyện ngoại thành của TP.HCM đang giảm đi nhanh chóng (khoảng trên 3.000 ha/năm và dự kiến đến năm 2020, TP.HCM chỉ còn khoảng 60.000 ha đất nông nghiệp), vành đai xanh của Thành phố giảm đi nhanh chóng

Trong quá trình phát triển các khu đô thị mới ở quận 7, khu đô thị Phú Mỹ Hưng hoặc khu dân cư đô thị Bàu Cát (quận Tân Bình), khu dân cư đô thị Phú Lâm (quận 6) Các kênh mương, bưng biền ao ở các khu vực trên đều bị các nhà xây dựng san lấp hết để tận dụng triệt để trong việc mở rộng mặt bằng xây dựng, trong khi đó hệ thống

cơ sở hạ tầng, nhất là hệ thống cống tiêu thoát nước sinh hoạt ra các con sông lớn chưa được xây dựng hoàn chỉnh, tình trạng mùa mưa các khu vực đô thị mới bị ngập nước diễn ra thường xuyên

Chính quyền cùng nhân dân đối phó bằng cách đường ngập thì nâng đường, nhà ngập thì nâng nhà Tương tự nhiều vùng đất trũng được xem là các vùng sinh thái điều hòa mực nước khi thủy triều các con sông lớn lên xuống như ở các quận 2, 7, 9, Nhà Bè Lại bị quá trình ĐTH làm cho biến mất, nước thủy triều tràn ngập sang những vùng khác thấp hơn, gây nhiều thiệt hại cho người dân

Ngoài ra, theo nhiều chuyên gia môi trường thì thời gian qua nhiều khu công nghiệp, khu đô thị mới phát triển theo hướng tự phát ở các huyện Bình Chánh, quận 9, Củ Chi Với nhiều nhà máy, xí nghiệp nằm dọc hai bên kênh rạch, sông ngòi đã xả nước thải trực tiếp xuống kênh rạch, sông ngòi gây ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước ở nhiều khu vực rộng

Mảng xanh của Thành phố cũng bị “thu hẹp” đáng kể, sự tồn tại của phần nông nghiệp, nông thôn trong một đô thị lớn như TPHCM là rất cần thiết, nhưng vấn đề là tồn tại như thế nào Đến nay, thành phố vẫn chưa có một chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn trong đô thị một cách hoàn chỉnh Nhiều nước trên thế giới đang diễn ra phong trào “chạy trốn đô thị”, trong khi đó ở TP.HCM đã vội vàng xóa bỏ mảng cây xanh, những vùng đất yên bình trong lòng thành phố mà có thể đến khi cần thì phải đi xa mới có được

TP.HCM trong những năm gần đây, quá trình đô thị hóa đang diễn ra nhanh chóng ở nhiều quận huyện mới như các quận 2, 7, 9, 12, Bình Tân, Tân Phú, Thủ Đức

Trang 40

với nhiều khu đô thị mới như Phú Mỹ Hưng, Thủ Thiêm, Nam Sài Gòn, Hiệp Phước Nhiều khu dân cư đô thị tự phát hình thành ở nhiều phường, xã trước đây là nông thôn vùng ven như các phường: Phú Mỹ (quận 7), phường Trung Mỹ Tây (quận 12) Theo thống kê, từ năm 2001 đến 2005 đã có trên 8.000 ha đất nông nghiệp ở các quận mới được chuyển thành đất ở Các khu vực này được xây dựng tự phát, thiếu nhiều cơ sở hạ tầng đã gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng cho đời sống nhân dân tại chỗ như: bị ngập nước vào mùa mưa, thiếu hệ thống xử lý các chất thải gây ô nhiễm môi trường, nhất là không phát huy hết tiềm năng của đất đai, gây lãng phí lớn quỹ đất của Thành phố

Quá trình ĐTH đã làm nước trên mặt bị ô nhiễm nặng nề, nước dưới đất bị suy giảm cả về trữ lượng và chất lượng Mức độ ô nhiễm nước trên mặt có thể dễ dàng nhận thấy ngay qua hiện tượng nước ở các sông, hồ, kênh, mương ở thành phố có màu đen sẫm và bốc mùi hôi thối khó chịu, các sông trong nội thành luôn chứa rác, xác súc vật chết và nhiều chất phế thải hữu cơ và vô cơ khác, không còn là dòng sông với đúng nghĩa của nó như trong kí ức của những người lớn tuổi Mức độ suy thoái về trữ lượng và chất lượng nước dưới đất không thể nhận biết ngay bằng mắt thường, nhưng tác hại của nó thì nặng nề và lâu dài hơn nhiều

Môi trường bị xuống cấp nặng nề trong quá trình ĐTH về cơ bản do các nguyên nhân sau đây:

Thứ nhất - Áp lực từ dân số tăng nhanh và quá trình ĐTH đang đặt ra nhiều sức

ép cho môi trường sống, do mật độ dân số ngày càng tăng trong khi đó năng lực thực

hiện chức năng điều hòa môi trường của hệ thống cây xanh ngày càng giảm Nguyên nhân do trong kế hoạch phát triển KT - XH của Việt Nam nói chung và thành phố nói riêng, tính bền vững của sự phát triển chưa được quan tâm đúng mức, chưa lồng ghép các vấn đề tăng trưởng kinh tế với cải thiện môi trường sinh thái Các chính sách phát triển kinh tế- xã hội vẫn còn thiên về tăng trưởng kinh tế và ổn định xã hội mà chưa quan tâm đầy đủ, đúng mức đến tính bền vững trong phát triển toàn diện Đầu tư được tập trung chủ yếu cho những công trình mang lại lợi ích trực tiếp, còn rất ít đầu tư cho tái tạo các nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường Cơ chế quản lý và giám sát sự phát triển bền vững chưa được thiết lập rõ ràng và có hiệu lực Quá trình ĐTH

Ngày đăng: 03/04/2018, 13:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w