Chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Ninh Thuận giai đoạn 2005 2015 (Luận văn thạc sĩ)Chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Ninh Thuận giai đoạn 2005 2015 (Luận văn thạc sĩ)Chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Ninh Thuận giai đoạn 2005 2015 (Luận văn thạc sĩ)Chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Ninh Thuận giai đoạn 2005 2015 (Luận văn thạc sĩ)Chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Ninh Thuận giai đoạn 2005 2015 (Luận văn thạc sĩ)Chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Ninh Thuận giai đoạn 2005 2015 (Luận văn thạc sĩ)Chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Ninh Thuận giai đoạn 2005 2015 (Luận văn thạc sĩ)Chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Ninh Thuận giai đoạn 2005 2015 (Luận văn thạc sĩ)Chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Ninh Thuận giai đoạn 2005 2015 (Luận văn thạc sĩ)Chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Ninh Thuận giai đoạn 2005 2015 (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS NGUYỄN KIM HỒNG
Thành phố Hồ Chí Minh - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Luận văn “ Chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Ninh Thuận giai đoạn 2005 - 2015” được hoàn thành trong sự nổ lực của bản thân và sự hướng dẫn tận tình của Thầy hướng dẫn khoa học, sự quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiện của cơ quan và đồng nghiệp Tác giả xin cam đoan luận văn này là duy nhất và không trùng lắp với bất kỳ luận văn nào trước đây Các số liệu trong luận văn có tính trung thực cao do được thu thập từ kết quả của các cuộc điều tra và được cung cấp bởi các cơ quan nhà nước Các bản đồ, biểu đồ được tác giả biên tập dựa trên số liệu thu thập được Tác giả xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về kết quả nghiên cứu của luận văn này
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 09/2017
Tác giả luận văn
Phạm Thị Nhung
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn “Chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Ninh Thuận giai đoạn 2005 2015” được hoàn thành nhờ sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của Thầy hướng dẫn khoa học, sự quan tâm tạo điều kiện về số liệu của các cơ quan ban ngành trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận, sự khích lệ động viên của quý cơ quan, bạn bè và đồng nghiệp Tác giả xin gởi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc đến:
-o PGS TS Nguyễn Kim Hồng đã hết lòng giúp đỡ, hướng dẫn tận tình để tác giả hoàn thành luận văn của mình
o Quý thầy cô trong phòng Sau đại học, khoa Địa lí - trường Đại học Sư phạm TP HCM và quý thầy cô trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu của tác giả
o Trường THPT Chuyên Lê Quý Đôn, Ninh Thuận và các cơ quan ban ngành của tỉnh Ninh Thuận đã tạo điều kiện và tận tình giúp đỡ cung cấp những
số liệu quý báu để tác giả hoàn thành luận văn của mình
o Xin gởi lời biết ơn chân thành đến bạn bè, đồng nghiệp, gia đình đã động viên, khích lệ và tạo điều kiện tốt nhất để tác giả được tham gia học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 09/2017
Tác giả luận văn
` Phạm Thị Nhung
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
Danh mục các bản đồ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG DÂN CƯ 8
1.1 Cơ sở lý luận 8
1.1.1 Quan niệm về chất lượng cuộc sống 8
1.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống dân cư 10
1.1.3 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng cuộc sống dân cư vận dụng cho cấp tỉnh 15
1.2 Cơ sở thực tiễn 23
1.2.1 Chất lượng cuộc sống dân cư ở Việt Nam 23
1.2.2 Chất lượng cuộc sống dân cư vùng Duyên hải Nam Trung Bộ 37
Tiểu kết chương 1 43
Chương 2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG DÂN CƯ TỈNH NINH THUẬN GIAI ĐOẠN 2005-2015 45
2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống dân cư Tỉnh Ninh Thuận 45
2.1.1 Vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ 45
2.1.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 46
2.1.3 Các nhân tố kinh tế - xã hội 53
2.1.4 Đánh giá chung 61
Trang 62.2 Thực trạng chất lượng cuộc sống dân cư Tỉnh Ninh Thuận giai đoạn
2005 - 2015 65
2.2.1 Về kinh tế 65
2.2.2 Về y tế và chăm sóc sức khỏe 76
2.2.3 Về giáo dục 87
2.2.4 Phúc lợi xã hội 95
2.2.5 Đánh giá chung 105
Tiểu kết chương 2 110
Chương 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG DÂN CƯ TỈNH NINH THUẬN 111
3.1 Căn cứ xây dựng 111
3.1.1 Bối cảnh khu vực và trong nước ảnh hưởng đến tình hình kinh tế xã hội tỉnh Ninh Thuận 111
3.1.2 Kết quả nghiên cứu chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Ninh Thuận giai đoạn 2005 -2015 112
3.1.3 Định hướng chung về phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Ninh Thuận đến năm 2020 và dự báo đến năm 2025 115
3.2 Giải pháp 118
3.2.1 Nhóm giải pháp về kinh tế 118
3.2.2 Nhóm giải pháp về y tế và chăm sóc sức khỏe 123
3.2.3 Nhóm giải pháp về giáo dục 125
3.2.4 Nhóm giải pháp về phúc lợi xã hội 126
Tiểu kết chương 3 128
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 129
TÀI LIỆU THAM KHẢO 132
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
1 CNH-HĐH Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
6 GINI Hệ số bất bình đẳng trong phân phối thu nhập
11 HDR Báo cáo phát triển con người
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Giá trị biên tính chỉ số HDI theo cách cũ 15
Bảng 1.2 Giá trị biên tính chỉ số HDI theo cách mới 16
Bảng 1.3 Chuẩn nghèo của Việt Nam giai đoạn 2004 – 2015 (nghìn VNĐ/tháng) 18
Bảng 1.4 Chênh lệch thu nhập bình quân đầu người giữa các nhóm ở Việt Nam 25
Bảng 1.5 Tỷ lệ hộ nghèo (%) chia theo thành thị nông thôn giai đoạn 2004-2015 28
Bảng 1.6 Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam phân theo vùng giai đoạn 2006-2015 30
Bảng 1.7 Một số chỉ tiêu y tế của Việt Nam giai đoạn 2006 – 2015 [30], [31] 31
Bảng 1.8 Chi tiêu cho giáo dục/1 học sinh/năm của nước ta giai đoạn 2006 – 2014 34
Bảng 1.9 Chỉ số HDI của Việt Nam trong giai đoạn 2000 – 2009 35
Bảng 1.10 Chỉ số HDI của Việt Nam trong giai đoạn 2010 – 2015 35
Bảng 1.11 Tỷ lệ hộ nghèo, số lượng xã khó khăn thuộc vùng bãi ngang các tỉnh, thành phố của vùng Duyên hải Nam Trung Bộ năm 2015 39
Bảng 1.12 Một số chỉ tiêu y tế của vùng DHNTB giai đoạn 2006 – 2015 40
Bảng 1.13 Một số chỉ tiêu CLCS dân cư vùng DHNTB năm 2014 42
Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu về khí hậu TB năm tỉnh Ninh Thuận 2005 -2015 47
Bảng 2.2 GDP (giá hiện hành)/người (triệu đồng) và tốc độ tăng trưởng GDP/ người (%) của tỉnh Ninh Thuận 65
Bảng 2.3 Thu nhập bình quân đầu người 1 tháng của dân cư tỉnh Ninh Thuận 66
Bảng 2.4 Thu nhập bình quân đầu người hàng tháng của tỉnh Ninh Thuận 67
Bảng 2.5 Phân nhóm thu nhập bình quân đầu người hàng tháng tại Ninh Thuận 68
Bảng 2.6 Thu nhập bình quân đầu người hàng tháng tại các huyện, thị (thành phố) trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận phân theo nhóm 68
Bảng 2.7 Chênh lệch giữa nhóm thu nhập cao nhất và nhóm thu nhập thấp nhất của nước ta và Ninh Thuận giai đoạn 2004 -2014 69
Bảng 2.8 Số hộ nghèo và tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2005 -2015 71
Bảng 2.9 Tỷ lệ hộ nghèo (%) các huyện, thị (thành phố) của Ninh Thuận 72
Bảng 2.10 Phân nhóm tỷ lệ hộ nghèo tại Ninh Thuận qua các năm 73
Bảng 2.11 Tỷ lệ hộ nghèo tại các huyện, thị (thành phố) trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận phân theo nhóm qua các năm 73
Bảng 2.12 Một số chỉ tiêu y tế trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận qua các năm 77
Bảng 2.13 Số cán bộ y tế trên 1 vạn dân tại các huyện, thị (thành phố) trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận qua các năm 78
Bảng 2.14 Phân nhóm số cán bộ y tế trên 1 vạn dân tại Ninh Thuận 79
Bảng 2.15 Số cán bộ y tế trên 1 vạn dân tại các huyện, thị (thành phố) trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận phân theo nhóm qua các năm 79
Bảng 2.16 Số bác sĩ trên 1 vạn dân (người) và số giường bệnh trên 1 vạn dân (giường) ở các huyện, thị (thành phố) trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận qua các năm 80
Bảng 2.17 Phân nhóm số bác sĩ trên 1 vạn dân tại Ninh Thuận qua các năm 82 Bảng 2.18 Số bác sĩ trên 1 vạn dân tại các huyện, thị (thành phố) trên địa bàn tỉnh Ninh
Trang 9Thuận phân theo nhóm qua các năm 82 Bảng 2.19 Phân nhóm số giường bệnh trên 1 vạn dân tại Ninh Thuận qua các năm 83 Bảng 2.20 Số giường bệnh trên 1 vạn dân tại các huyện, thị (thành phố) trên địa bàn
tỉnh Ninh Thuận phân theo nhóm qua các năm 83 Bảng 2.21 Tỷ lệ chi tiêu cho y tế trong cơ cấu chi tiêu ngân sách của Ninh Thuận và
cả nước 85 Bảng 2.22 Tỷ lệ người lớn biết chữ (%) tại các huyện, thị (thành phố) trên địa bàn tỉnh
Ninh Thuận qua các năm 87 Bảng 2.23 Phân nhóm tỷ lệ người lớn biết chữ (%) tại Ninh Thuận qua các năm 88 Bảng 2.24 Tỷ lệ người lớn biết chữ tại các huyện, thị (thành phố) trên địa bàn tỉnh
Ninh Thuận phân theo nhóm qua các năm 88 Bảng 2.25 Tỷ lệ học sinh phổ thông nhập học đúng tuổi tỉnh Ninh Thuận 89 Bảng 2.26 Số học sinh phổ thông trên 1 giáo viên của tỉnh Ninh Thuận qua các năm 91 Bảng 2.27 Tỷ trọng chi phí đầu tư cho giáo dục trong tài khoản quốc dân của tỉnh
Ninh Thuận 93 Bảng 2.28 Tỷ lệ hộ có nhà ở chia theo loại nhà của cả nước, DHNTB và Ninh Thuận 95 Bảng 2.29 Tỷ lệ hộ có nhà ở kiên cố (%) phân theo huyện, thị (thành phố) trên địa bàn
tỉnh Ninh Thuận qua các năm 97 Bảng 2.30 Phân nhóm tỷ lệ hộ có nhà kiên cố tại Ninh Thuận qua các năm 97 Bảng 2.31 Tỷ lệ hộ có nhà kiên cố tại các huyện, thị (thành phố) trên địa bàn tỉnh Ninh
Thuận phân theo nhóm qua các năm 98 Bảng 2.32 Tỷ lệ hộ sử dụng điện lưới tại tỉnh Ninh Thuận qua các năm 99 Bảng 2.33 Tỷ lệ hộ sử dụng điện lưới phân theo huyện, thị (thành phố) trên địa bàn tỉnh
Ninh Thuận qua các năm 99 Bảng 2.34 Tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch tại tỉnh Ninh Thuận qua các năm 100 Bảng 2.35 Tỷ lệ hộ có nhà xí hợp vệ sinh phân theo huyện, thị (thành phố) trên địa bàn
tỉnh Ninh Thuận qua các năm 101 Bảng 2.36 Phân nhóm tỷ lệ hộ có nhà xí hợp vệ sinh tại Ninh Thuận 102 Bảng 2.37 Tỷ lệ hộ có nhà xí hợp vệ sinh tại các huyện, thị (thành phố) trên địa bàn
tỉnh Ninh Thuận phân theo nhóm qua các năm 102 Bảng 2.38 Bảng tổng hợp sự phân hóa chất lượng cuộc sống dân cư trên địa bàn tỉnh
Ninh Thuận năm 2005 và 2015 106 Bảng 3.1 Dự báo tỷ lệ nghèo theo huyện thị đến năm 2025 của Viện Khoa học Lao
động xã hội 116
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Hiện trạng sử dụng đất tỉnh Ninh Thuận năm 2005 và 2015 52
Biểu đồ 2.2 Cơ cấu GDP tỉnh Ninh Thuận năm 2005 và 2015 55
Biểu đồ 2.3 GDP bình quân đầu người của Ninh Thuận, Duyên hải Nam Trung bộ và cả nước qua các năm 65
Biểu đồ 2.4 Cơ cấu thu nhập trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận so với cả nước và vùng Duyên hải Nam Trung bộ năm 2014 70
Biểu đồ 2.5 Tuổi thọ trung bình của người dân cả nước, Duyên hải Nam Trung bộ và tỉnh Ninh Thuận qua các năm 76
Biểu đồ 2.6 Tỷ lệ học sinh các cấp và sinh viên trên địa bàn tỉnh 90
Biểu đồ 2.7 Tỷ lệ HS phổ thông bỏ học và lưu ban trên địa bàn tỉnh 91
Biểu đồ 2.8 Số trường phổ thông trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận 92
Biểu đồ 2.9 Tỷ lệ hộ có nhà ở chia theo loại nhà của Ninh Thuận so với Duyên hải Nam Trung bộ và cả nước năm 2014 96
Biểu đồ 2.10 Tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận so với vùng Duyên hải Nam Trung bộ và cả nước 100
Biểu đồ 2.11 Biểu đồ tổng hợp chất lượng cuộc sống dân cư các huyện, thành phố tỉnh Ninh Thuận 108
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢN ĐỒ
Hình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Ninh Thuận 2015 44
Hình 2.2 Một số nhân tố ảnh hưởng đến CLCS dân cư tỉnh Ninh Thuận 64
Hình 2.3 Thu nhập bình quân đầu người và tỷ lệ hộ nghèo tỉnh Ninh Thuận 75
Hình 2.4 Một số chỉ tiêu y tế tỉnh Ninh Thuận năm 2005 và 2015 86
Hình 2.5 Một số chỉ tiêu giáo dục tỉnh Ninh Thuận năm 2005 và 2015 94
Hình 2.6 Một số chỉ tiêu phúc lợi xã hội tỉnh Ninh Thuận năm 2005 và 2015 104
Hình 2.7 Tổng hợp chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Ninh Thuận 2005 - 2015 109
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Phát triển con người, nâng cao chất lượng cuộc sống cho con người đã được quan tâm không chỉ ở tầm cỡ quốc gia mà cả trên bình diện toàn thế giới Khi xã hội ngày càng phát triển thì chất lượng cuộc sống ngày càng được con người quan tâm chú trọng Hiện nay, để biết được trình độ phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia hay khu vực, người ta thường dựa vào các chỉ số đo chất lượng cuộc sống
Sự chênh lệch về chất lượng cuộc sống luôn thể hiện rất rõ giữa nhiều quốc gia trên thế giới Trong khi tại nhiều nước phát triển phải lo lắng về tình trạng thừa dinh dưỡng thì lại có tới gần 1/3 dân số thế phải đương đầu với tình trạng thiếu lương thực
và nghèo khổ Vậy, chất lượng cuộc sống là gì? Phải sử dụng những tiêu chí nào để đánh giá chất lượng cuộc sống? Cần làm gì để nâng cao chất lượng cuộc sống Đó chính là những vấn đề đặt ra hiện nay đòi hỏi phải được giải quyết
Ninh Thuận là một tỉnh nghèo, khí hậu khô hạn và nắng nóng, có nhiều dân tộc sinh sống Trong mười năm trở lại đây, với nhiều nỗ lực phấn đấu để hoàn thành mục tiêu đề ra, tỉnh đã đạt được những thành tựu nhất định, nhất là nghèo đói đang giảm nhanh Theo các số liệu thống kê chính thức, chất lượng cuộc sống của người dân địa phương đã được cải thiện thể hiện qua thu nhập bình quân đầu người Các yếu tố chủ yếu tạo ra thay đổi này bao gồm hoạt động kinh tế gia tăng, người dân tiếp cận tốt hơn các dịch vụ y tế và giáo dục, cơ sở hạ tầng cũng như các lợi ích khác do các chương trình giảm nghèo hiện nay mang lại Tuy nhiên tình trạng nghèo đói và mức sống cùng cực vẫn còn tồn tại trong tỉnh nói chung và các huyện nghèo trong tỉnh nói riêng Hiệu quả đạt được của các chương trình, dự án xóa đói giảm nghèo tại tỉnh chưa cao, chưa tương xứng với tiền của và công sức bỏ ra, tình trạng đói nghèo của người dân đặc biệt
là người dân các huyện miền núi, vùng sâu vùng xa, các vùng đồng bào dân tộc ít người vẫn diễn ra phổ biến và trầm trọng Nghiên cứu “Chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Ninh Thuận giai đoạn 2005 -2015” để phân tích những chỉ tiêu định lượng về chất lượng cuộc sống từ đó có những định hướng phát triển và đề xuất những giải pháp phù hợp nhằm tiếp tục xóa đói giảm nghèo hiệu quả và nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư tỉnh Ninh Thuận
Trang 132 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Thông qua nhận thức cơ sở lý luận về chất lượng cuộc sống để vận dụng vào đánh giá thực trạng chất lượng cuộc sống của dân cư tỉnh Ninh Thuận; từ đó làm cơ sở khoa học để đề ra những giải pháp thích hợp nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của dân
cư tỉnh Ninh Thuận từ nay đến năm 2025
Để đạt được mục tiêu chung, đề tài có nhiệm vụ:
- Nghiên cứu tổng quan cơ sở lý luận về chất lượng cuộc sống dân cư
- Thu thập và phân tích tài liệu về chất lượng cuộc sống (cả nước, vùng và địa phương)
- Đánh giá thực trạng chất lượng cuộc sống ở tỉnh Ninh Thuận thời kì 2005-2015 (chủ yếu về chỉ tiêu kinh tế, dân trí, y tế và các điều kiện sống như nhà ở, sử dụng điện, nước và vệ sinh môi trường)
- Đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Ninh Thuận đến năm 2025
3 Phạm vi và giới hạn nghiên cứu
Về thời gian và không gian
Trong phạm vi luận văn này, tôi chỉ nghiên cứu chất lượng cuộc sống trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận giai đoạn 2005 – 2015
Về nội dung
Giới hạn tiếp cận chất lượng cuộc sống trên cơ sở thu thập dữ liệu những chỉ tiêu
cơ bản phản ánh chất lượng cuộc sống của dân cư tỉnh Ninh Thuận: chỉ số thu nhập bình quân đầu người, tỷ lệ hộ nghèo, chỉ số về giáo dục, chỉ số về y tế và chăm sóc sức khỏe và các chỉ tiêu phản ánh điều kiện sống (nhà ở, điện, nước, vệ sinh môi trường v.v )
4 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu chất lượng cuộc sống của dân cư có vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước và càng được chú trọng hơn trong giai đoạn hiện nay khi nước ta có những bước tiến bộ đáng kể trong việc thực hiện các tiến bộ của Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDG) Chính tầm quan trọng đó nên từ trước đến nay, mức sống dân cư đã được Tổng cục Thống kê, Ủy ban Kế hoạch hóa Nhà
Trang 14nước (nay là Bộ Kế hoạch và Đầu tư), Ngân hàng Thế giới cùng với sự trợ giúp tài chính của Chương trình Phát triển của Liên hợp quốc (UNDP) tiến hành khảo sát điều tra qua các cuộc Tổng điều tra về dân số, mức sống dân cư Việt Nam Các cuộc điều tra này cung cấp những thông tin về thu nhập, chi tiêu và các chỉ tiêu khác về mức sống hộ gia đình Việt Nam Mỗi một cuộc Tổng điều tra sẽ cho thấy rõ sự thay đổi mức sống của dân cư Việt Nam theo thời gian và sự tiến bộ vượt bậc của Việt Nam trong việc giảm nghèo và nâng cao mức sống Những số liệu này chứng tỏ tính hữu ích đối với các nhà hoạch định chính sách ở các cơ quan phát triển của cả chính phủ lẫn quốc tế Tuy nhiên, các cuộc tổng điều tra này chỉ dừng lại trong việc khảo sát mức sống của dân cư Việt Nam bằng những số liệu cụ thể, chưa đi sâu phân tích mức sống từng địa phương trên cả nước
Đến những năm gần đây, một số nhà nghiên cứu đã bắt đầu có sự quan tâm tìm hiểu đối với mức sống, chất lượng cuộc sống của dân cư một địa phương Trước hết, phải kể đến nhóm tác giả của Viện Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành đề tài
“Diễn biến mức sống dân cư, phân hóa giàu nghèo và các giải pháp xóa đói giảm
nghèo trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế Việt Nam nhìn từ thực tiễn Tp Hồ Chí Minh” [5] Nhóm tác giả này đã trình bày và đi sâu phân tích một cách rất cụ thể và
chi tiết về việc làm, thu nhập và chi tiêu của dân cư Thành phố Hồ Chí Minh, từ đó tác giả minh chứng cho sự phân hóa giàu nghèo ngày càng rõ nét ở đô thị phát triển vào bậc nhất Việt Nam hiện nay
Bên cạnh cách tiếp cận mức sống của dân cư chủ yếu dựa trên đánh giá thu nhập bình quân đầu người, trong bối cảnh phát triển kinh tế xã hội thời gian qua, một hướng nghiên cứu và tiếp cận khác đã được đặt ra đó là xem xét sự thỏa mãn nhu cầu cuộc sống con người Các luận văn thạc sĩ chuyên ngành Địa lí học cũng bắt đầu nghiên cứu
chất lượng cuộc sống dân cư các địa phương Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ “Chất lượng
cuộc sống dân cư tỉnh Bình Thuận-thực trạng và giải pháp”[22] của Bùi Vũ Thanh
Nhật có thể được xem như một trong những công trình đầu tiên Ngoài ra còn có các
luận văn thạc sĩ khác như “Nghiên cứu chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Bình
Định”[27] của Nguyễn Đức Tôn, “Chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Bình Phước: Thực trạng và giải pháp”[20] của tác giả Bùi Thị Thu Hồng và một số luận văn khác
Trang 15Trong các luận văn, chất lượng cuộc sống đã được nghiên cứu, tìm hiểu trong mối quan hệ biện chứng với sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương nghiên cứu Cùng với những giá trị tích cực đạt được, các đề tài cũng chỉ ra những tồn tại phải giải quyết
để có thể ngày một nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân hơn Trên cơ sở đó, các tác giả đưa ra những kiến nghị cũng như đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư, khắc phục những khó khăn
Như vậy, có thể thấy rằng, mảng đề tài mức sống và chất lượng cuộc sống của dân
cư trong những năm qua, đã được quan tâm nghiên cứu dưới nhiều phạm vi và góc độ khác nhau Tuy nhiên, việc tiếp cận một cách trực tiếp, tổng thể chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Ninh Thuận theo quan điểm nhân văn thì vẫn còn rất hạn chế Từ thực tế
đó, một mặt cho phép đề tài “Chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Ninh Thuận giai đoạn
2005 -2015” kế thừa những thành quả của các công trình trước đó, nhưng đồng thời
cũng sẽ là cơ hội cho đề tài có thể tiếp tục đưa ra những ý kiến và kết quả nghiên cứu của mình để bổ sung thêm vào lĩnh vực nghiên cứu đời sống dân cư dưới góc độ địa lí kinh tế - xã hội
5 Hệ quan điểm và phương pháp nghiên cứu
5.1 Hệ quan điểm
Quan điểm hệ thống-lãnh thổ
Quan điểm này được sử dụng rộng rãi trong quá trình nghiên cứu Sự phát triển kinh tế xã hội và việc nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư các tỉnh trong mỗi quốc gia phải được đặt trong mối quan hệ cụ thể và toàn bộ hệ thống quốc gia Đó là cơ sở đầu tiên giúp cho việc tiếp cận và phân tích vấn đề một cách có hệ thống Do đó, khi phân tích các vấn đề liên quan tới chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Ninh Thuận được xem xét trong mối liên hệ giữa các huyện trong tỉnh, giữa tỉnh Ninh Thuận với các tỉnh thành khác thuộc vùng duyên hải Nam Trung bộ và cả nước
Trang 16chính xác và đầy đủ hơn Dựa trên quan điểm tổng hợp có thể nhận thấy được mối tương quan giữa các thành phần, những thành phần còn hạn chế cũng như những thành phần trội tạo nên chất lượng cuộc sống dân cư trên địa bàn tỉnh Từ đó mới có thể đưa
ra những giải pháp cụ thể giúp nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư trên địa bàn tỉnh
Quan điểm lịch sử - viễn cảnh
Phân tích chất lượng cuộc sống dân cư trong điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam
và tỉnh Ninh Thuận trong quá khứ, hiện tại và tương lai sẽ làm rõ được bản chất của vấn đề theo một chuỗi thời gian Nhìn nhận sự thay đổi chất lượng cuộc sống dân cư trên địa bàn tỉnh ở hiện tại trên cơ sở so sánh với quá khứ mới giúp tác giả đánh giá chính xác hơn từ đó có cái nhìn rộng hơn cho những thay đổi chất lượng cuộc sống tỉnh nhà trong tương lai
Quan điểm sinh thái - phát triển bền vững
Nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư thì phải kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế xã hội và môi trường Môi trường sống đóng một phần vai trò quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu cuộc sống của người dân đồng thời cũng là cơ sở đánh giá chất lượng cuộc sống dân cư Do vậy, nghiên cứu vấn đề chất lượng cuộc sống dân cư phải dựa trên quan điểm sinh thái và phát triển bền vững
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập, tổng hợp và phân tích lý thuyết
Nhằm hiểu được cơ sở nền tảng của địa bàn và hoàn cảnh cụ thể nơi dân cư sinh sống; lý thuyết ứng dụng liên quan đến luận văn Tác giả đã sử dụng tư liệu sẵn có qua thu thập thông tin từ các công trình nghiên cứu về chất lượng cuộc sống và mức sống của nhiều nhà khoa học và những bài viết có liên quan đến luận văn Tác giả còn sử dụng nguồn thông tin từ cơ quan hành chính tỉnh, huyện và thông tin của một số thôn
có người dân tộc thiểu số sinh sống Ngoài ra tác giả đã thu thập tài liệu qua sách báo, tạp chí, các văn bản, báo cáo Những nguồn trên là tư liệu quý giá để tác giả phân tích thực trạng chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Ninh Thuận và đưa ra các giải pháp
Phương pháp thống kê
Trên cơ sở nguồn tư liệu thu thập được từ các công trình của các tác giả đi trước như sách, báo, tạp chí, văn bản, các báo cáo, luận văn, luận án…tác giả tổng hợp,
Trang 17thống kê lại nhằm xử lý kết quả nghiên cứu theo chủ đề khác nhau để từ đó có những nhận định ban đầu về tình hình phát triển kinh tế xã hội, văn hóa, đặc biệt là quy mô dân số, cơ cấu nguồn lao động của tỉnh Ninh Thuận Trong đó, tác giả sẽ đặc biệt chú trọng đến gia tăng tự nhiên, gia tăng cơ học và chuyển dịch về cơ cấu kinh tế và lao động qua các năm để làm cơ sở phân tích và so sánh
Phương pháp bản đồ, biểu đồ
Nghiên cứu Địa lí kinh tế - xã hội không thể thiếu phương pháp bản đồ, biểu đồ Những kết quả có được như đánh giá các nhân tố ảnh hưởng, phân tích thực trạng theo ngành và theo lãnh thổ nếu được phản ánh lên bản đồ, bằng biểu đồ sẽ được thể hiện
cụ thể, trực quan và toàn diện hơn Thông qua đó sẽ dễ dàng so sánh, phân tích mối liên hệ giữa các yếu tố cấu thành chất lượng cuộc sống giữa các địa phương trong tỉnh
Phương pháp thực địa
Thực địa là phương pháp nền của ngành Địa lí học Tư liệu thu được bằng phương pháp thực địa hiện nay được xem là nguồn tư liệu tốt nhất dành cho các tác giả muốn tìm kiếm một sự hiểu biết theo quan điểm toàn diện về văn hóa và tình trạng sinh sống của con người Trong quá trình nghiên cứu thực địa, ghi chép là cứ liệu thông tin không thể thiếu, bởi vì nó đánh dấu bước đầu về những điều mới phát hiện của người nghiên cứu Ghi chép là công việc bắt buộc của người nghiên cứu nhằm giúp họ lưu giữ, phân tích, lý giải thông tin một cách chính xác, khoa học và nó cũng là cơ sở minh chứng cho những lập luận sau này của người nghiên cứu
Phương pháp ngũ phân vị
Phương pháp ngũ phân vị là phương pháp đặc thù trong nghiên cứu chất lượng cuộc sống dân cư Sự chênh lệch về mức sống dân cư hay chất lượng cuộc sống dân cư được thực hiện theo phương pháp ngũ phân vị sẽ giúp tác giả thấy rõ hơn sự chênh lệch về thu nhập bình quân đầu người giữa các nhóm dân cư từ đó đưa ra những nhận định và đánh giá chính xác hơn
Phương pháp thang điểm tổng hợp
Phương pháp thang điểm tổng hợp trong đánh giá chất lượng cuộc sống dân cư nhằm giúp tác giả có cái nhìn bao quát và cụ thể hơn về chất lượng cuộc sống dân cư thông qua việc xác định được các tiêu chí đánh giá cũng như xác định được bậc của
Trang 18từng chỉ tiêu Việc lập bảng điểm tổng hợp của tất cả các chỉ tiêu sẽ là một trong những thước đo cụ thể để định lượng chất lượng cuộc sống dân cư
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Về mặt khoa học, góp phần nhất định vào việc làm rõ hơn những lý thuyết và quan điểm đang được sử dụng trong lĩnh vực nghiên cứu Địa lí kinh tế-xã hội, mà đặc biệt
là Địa lí nhân văn và Địa lí dân cư
Về mặt thực tiễn, nếu đề tài hoàn thành thì những kết quả có được từ sự phân tích, đánh giá các dữ kiện trong đề tài hy vọng sẽ có giá trị nhận thức và thực tiễn cao, đóng góp những ý kiến đề xuất và giải pháp cụ thể, nhận định cho các ban ngành có liên quan của tỉnh Ninh Thuận tham khảo và có chính sách phù hợp với thực tế từng địa phương nhằm mang lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho người dân Ngoài ra đề tài còn có thể góp phần vào công việc nghiên cứu chung về cuộc sống dân cư ở địa phương Ninh Thuận
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các bảng, biểu, nội dung của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng cuộc sống dân cư
Chương 2 Các nhân tố ảnh hưởng và thực trạng chất lượng cuộc sống của dân cư tỉnh Ninh Thuận
Chương 3 Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Ninh Thuận
Trang 19Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG DÂN CƯ
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Quan niệm về chất lượng cuộc sống
Chất lượng cuộc sống là một trong những cụm từ được xuất hiện ngày càng nhiều trong các bài báo nghiên cứu khoa học hiện nay Chất lượng cuộc sống là thuật ngữ được sử dụng để đánh giá chung nhất về mức độ của cuộc sống của người dân trên phạm vi của toàn xã hội của một đất nước Chất lượng cuộc sống thể hiện sự thoải mái của con người cả về vật chất lẫn tinh thần Nói cách khác, chất lượng cuộc sống là thước đo về giá trị vật chất cũng như giá trị tinh thần của con người trong cuộc sống mỗi ngày Có thể nói, chất lượng cuộc sống con người tỷ lệ thuận với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia trên thế giới Ngày nay, khi kinh tế càng phát triển thì việc nâng cao chất lượng cuộc sống của con người lại được nhà nước, xã hội và cộng đồng quốc tế quan tâm hơn Vì vậy, đề tài về chất lượng cuộc sống trở nên sôi nổi khi các quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng luôn là vấn đề được mọi người đào sâu nghiên cứu và đưa ra nhiều phương hướng phát triển cũng như các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân
Có rất nhiều khái niệm gần giống với “chất lượng cuộc sống” về ý nghĩa như mức sống hay chất lượng sống Tuy nhiên, hai khái niệm này chỉ thể hiện một phần nhỏ trong khái niệm “chất lượng cuộc sống” Mức sống là thuật ngữ mà tiêu chí chủ yếu khi nghiên cứu về cuộc sống là thu nhập Hay chất lượng sống cũng là một khái niệm chỉ dùng các chỉ số sức khỏe của con người nghiên cứu Trong khi đó, chất lượng cuộc sống là một thuật ngữ được sử dụng trong nhiều ngữ cảnh trên tất cả các lĩnh vực phát triển kinh tế, giáo dục, y tế, sức khỏe và thậm chí là chính trị ở một mức độ nhất định Chất lượng cuộc sống không chỉ nghiên cứu về thu nhập, công việc hay sự giàu nghèo trong cuộc sống của con người mà còn là môi trường xã hội và môi trường sống, sức khỏe tinh thần, giáo dục và giải trí của con người hàng ngày
Chất lượng cuộc sống là một khái niệm động, phát triển từ thấp lên cao phụ thuộc vào sự phát triển của kinh tế, chính trị, văn hóa, truyền thống của mỗi dân tộc trong
Trang 20từng giai đoạn phát triển của hình thái xã hội của mỗi quốc gia Chất lượng cuộc sống
có quan hệ qua lại với nhiều yếu tố như nguồn tài nguyên thiên nhiên, sự phát triển dân số, văn hóa tôn giáo và trình độ phát triển kinh tế - xã hội,… của mỗi quốc gia trên thế giới
Như vậy, chất lượng cuộc sống thường được hiểu rất rộng, phản ánh sự đáp ứng những nhu cầu tối thiểu của con người Mức độ đáp ứng cho nhu cầu của con người càng cao thì chất lượng cuộc sống càng cao
Theo R.C Sharma (1988) trong “Dân số, tài nguyên, môi trường và chất lượng
cuộc sống” [37] nghiên cứu mối quan hệ giữa dân số với tài nguyên môi trường và
chất lượng cuộc sống dân cư của mỗi quốc gia Theo ông, chất lượng cuộc sống là sự đáp ứng đầy đủ về các yếu tố vật chất và tinh thần Nó là cảm giác thỏa mãn, hạnh phúc và hài lòng với những gì con người có được.
Tổ chức UNDP của Liên hiệp quốc (1990) đã đưa ra chỉ số HDI được đánh giá trên 3 tiêu chí về kinh tế, giáo dục và y tế được xem là chỉ số cơ bản đánh giá chất lượng cuộc sống dân cư
Theo Báo cáo phát triển con người của UNDP năm 2009, khái niệm “Chất lượng cuộc sống” đã được mở rộng một cách toàn diện và cụ thể hơn Báo cáo đưa ra 12 đặc trưng thể hiện chất lượng cuộc sống như sau:
- An toàn thể chất cá nhân
- Sung túc về kinh tế
- Công bằng trong khuôn khổ pháp luật
- An ninh quốc gia được đảm bảo
- Bảo hiểm lúc già yếu và ốm đau
- Hạnh phúc về mặt tinh thần
- Sự tham gia của mỗi cá nhân vào đời sống xã hội
- Bình đẳng về giáo dục, y tế
- Chất lượng đời sống văn hóa
- Quyền tự do công dân
- Chất lượng môi trường kĩ thuật giao thông, nhà ở, thiết bị sinh hoạt, thiết
bị giáo dục, y tế,…
Trang 21- Chất lượng môi trường sống và khả năng chống ô nhiễm
Ngày nay, CLCS được hiểu rộng hơn đó là sự thoải mái tối ưu của con người về cả đời sống vật chất và tinh thần Như vậy, chất lượng cuộc sống là một khái niệm tổng hợp, có liên quan đến tất cả mọi mặt của cuộc sống con người Chất lượng cuộc sống thể hiện sự thỏa mãn những nhu cầu về vật chất cũng như tinh thần của con người, cộng đồng và toàn thể xã hội mà trước hết là những nhu cầu tối thiểu của con người Trên cơ sở các quan niệm của các tác giả đi trước và từ các phân tích trên, tác giả đưa
ra quan niệm CLCS như sau: “Chất lượng cuộc sống là mức độ đáp ứng nhu cầu cả
về vật chất lẫn tinh thần của con người được đánh giá thông qua sự thõa mãn của mỗi cá nhân, cộng đồng và xã hội về kinh tế, giáo dục, y tế, điều kiện sống và hưởng thụ văn hóa tinh thần”
1.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống dân cư
1.1.2.1 Vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ
Vị trí địa lí là một trong nhân tố quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia Vị trí địa lí có ảnh hưởng đến khả năng mở rộng, trao đổi, hợp tác phát triển về mọi mặt, đặc biệt là hợp tác phát triển kinh tế và xây dựng các mối quan
hệ song phương hay đa phương giữa các quốc gia trên toàn thế giới Do vậy, vị trí địa
lí cũng có những ảnh hưởng nhất định đến chất lượng cuộc sống dân cư của một quốc gia Vị trí địa lí thuận lợi góp phần thúc đẩy sự giao lưu hợp tác và phát triển kinh tế, đặc biệt là các ngành công nghiệp thế mạnh, góp phần giải quyết việc làm, tạo nguồn thu nhập cho người lao động Từ đó, chất lượng cuộc sống của dân cư sinh sống ngày càng được nâng cao Ngoài ra, vị trí địa lí thuận lợi cũng góp phần thúc đẩy sự giao lưu văn hóa, các hoạt động có giá trị giải trí được liên kết tổ chức nhằm đáp ứng nhu
cầu thoải mái về mặt tinh thần của người dân
1.1.2.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên có ảnh hưởng đến khả năng tập trung sinh sống và hoạt động sản xuất của người dân Môi trường sống tự nhiên cũng có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống của dân cư Sự giàu có hay nghèo nàn về tài nguyên thiên nhiên cũng như khả năng khai thác các nguồn tài nguyên đó là nền tảng
Trang 22của sự phát triển kinh tế làm nguồn sống cho dân cư, đảm bảo một cuộc sống đầy đủ
và phát triển
Trong những năm gần đây, con người luôn phải đối mặt với các hiện tượng suy giảm tài nguyên và biến đổi khí hậu, đe doạ đến nguồn thu nhập của người lao động nói riêng và công cuộc nâng cao chất lượng cuộc sống Việc khai thác các nguồn lợi một cách quá mức như: thuỷ hải sản, lâm sản, khoáng sản,… đã khiến con người lâm vào tình trạng khó khăn trong việc kiếm sống từ các nguồn lợi tự nhiên Bởi các nguồn lợi tự nhiên cần một thời gian rất dài để phục hồi, thậm chí một số tài nguyên không thể phục hồi Song song đó, hiện tượng biến đổi khí hậu, sự thay đổi thời tiết một cách đột ngột đã khiến cho quá trình sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn, thu nhập
của người dân ngày càng bấp bênh hơn
1.1.2.3 Kinh tế - xã hội
* Dân số:
Có rất nhiều khía cạnh của dân số ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của dân cư
ở một địa phương Quy mô dân số, chất lượng dân số, sự phân bố dân cư hay sự gia tăng dân số đều có ảnh hưởng đến khả năng sản xuất, tốc độ phát triển kinh tế và chất lượng cuộc sống của dân cư Trong sản xuất kinh tế, con người vừa đóng vai trò là lực lượng sản xuất và đồng thời cũng là bộ phận tiêu thụ các sản phẩm làm ra Số lượng, đặc biệt là chất lượng của lực lượng lao động càng cao thì khả năng tạo ra một nền sản xuất hiệu quả và chất lượng càng tốt Từ đó, việc nâng cao chất lượng cuộc sống dân
cư trở nên dễ dàng hơn và ngược lại Có thể nói, con người vừa là đối tượng để nâng cao chất lượng cuộc sống, vừa là nhân tố có ảnh hưởng rất lớn đến việc đảm bảo một cuộc sống có chất lượng tốt
Một số nhân tố dân số ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của dân cư như sau:
- Quy mô dân số: có ảnh hưởng gián tiếp đến chất lượng cuộc sống của dân cư địa phương Dân số quá đông tạo áp lực đến khả năng đáp ứng các nhu cầu vật chất cũng như tinh thần thiết yếu cho con người như khám chữa bệnh, học tập, nhà ở, môi trường sống, công việc, Ngược lại, dân số quá ít gây ra sự khan hiếm nguồn nhân lực phục
vụ cho nền sản xuất xã hội Điều này đã ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ phát triển kinh
Trang 23tế và gián tiếp đến công cuộc nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư trong một địa phương
- Gia tăng dân số: gia tăng dân số trong phạm vi một địa phương bao gồm gia tăng dân số tự nhiên và gia tăng dân số cơ học Tốc độ gia tăng dân số, đặc biệt là gia tăng dân số tự nhiên của một địa phương có ảnh hưởng rất lớn đến việc nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư trong một giai đoạn nhất định Theo kết luận của các nhà nghiên cứu đưa ra, giả sử tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên vượt ngưỡng 3%/năm sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân bởi lượng của cải làm ra, đặc biệt là lương thực thực phẩm không đủ để đáp ứng cho nhu cầu hàng ngày của người dân Tuy nhiên, nếu gia tăng dân số quá thấp sẽ dẫn đến tình trạng xã hội thiếu thốn lực lượng lao động phục vụ cho hoạt động sản xuất trong tương lai Tóm lại, tốc độ gia tăng dân số quá cao hoặc quá thấp đều gây ra những ảnh hưởng nhất định đến việc đảm bảo chất lượng cuộc sống dân cư của địa phương
- Di dân: là một trong những nhân tố góp phần vào tỷ lệ gia tăng dân số của một quốc gia nói chung và địa phương nói riêng Di dân có tác động không nhỏ đến việc nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư, đặc biệt là di dân tự do Nhóm người di dân tự
do thường có thu nhập thấp, trình độ dân trí thấp, thiếu việc làm và không có kế hoạch
cư trú rõ ràng Vì vậy, di dân tự do đã và đang đặt ra những thách thức cần được giải quyết kịp thời đối với chính quyền địa phương trước khi thực hiện kế hoạch nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư nơi đó
- Cơ cấu dân số theo độ tuổi: dân số già hay trẻ đều có những ảnh hưởng nhất định đến việc nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư Địa phương có cơ cấu dân số già thường dẫn đến tình trạng thiếu nguồn nhân lực và nhu cầu về các dịch vụ chăm sóc người già, an sinh xã hội tăng nhanh sẽ trở thành gánh nặng của xã hội Ngược lại, cơ cấu dân số trẻ cũng làm nảy sinh hàng loạt các vấn đề xã hội khó giải quyết và gây ảnh hưởng nghiêm trọng Tình trạng thiếu việc làm, dư thừa lao động, thu nhập thấp và bấp bênh, các điều kiện về chăm sóc sức khỏe, giáo dục đối với trẻ em bị hạn chế, môi trường sống và không gian sống của con người bị thu hẹp, thiếu an toàn, các tệ nạn xã hội xuất hiện ngày càng nhiều và diễn biến phức tạp,… Do đó, chất lượng cuộc sống
Trang 24dân cư khó đạt được mức trung bình và việc nâng cao chất lượng cuộc sống người dân
là điều vô cùng khó khăn
- Phân bố dân cư: Sự phân bố dân cư không đồng đều gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển kinh tế nói chung và việc nâng cao chất lượng cuộc sống dân
cư nói riêng của hầu hết các quốc gia trên thế giới Chất lượng cuộc sống ở những khu vực tập trung dân cư sinh sống đông đúc thường cao hơn so với những nơi dân cư thưa thớt Bởi đó là nơi hội tụ tất cả các điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế, xã hội như: nguồn vốn đầu tư phát triển kinh tế lớn, các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, vui chơi giải trí đầy đủ, đa dạng và phong phú Ngược lại, những nơi thưa dân là nơi có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, hẻo lánh, các dịch vụ y tế, giáo dục và các hoạt động vui chơi nhằm đảm bảo cho một cuộc sống có chất lượng hầu như không phát triển
* Dân tộc: Đây là một trong những thành phần quan trọng tạo nên nền văn hóa
độc đáo của mỗi quốc gia trên thế giới Số lượng dân tộc, tập quán sản xuất, phát triển kinh tế, các tập tục văn hóa,… của mỗi dân tộc có tác động đến quá trình nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư của quốc gia nói chung và địa phương nói riêng Phần lớn các dân tộc thiểu số thường có trình độ nhận thức và phát triển kinh tế thấp hơn các dân tộc đa số Bên cạnh những văn hóa có giá trị cho xã hội, đồng bào các dân tộc thiểu số vẫn tồn tại nhiều hủ tục lạc hậu có ảnh hưởng lớn đến việc nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân địa phương Họ thường sống trên những vùng đất cao, khó khăn trong việc đi lại, xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng và tuyên truyền các thông tin xã hội, sức khỏe,… Vì vậy, trong cùng một địa phương, sự chênh lệch về chất lượng cuộc sống dân cư giữa dân tộc đa số và dân tộc thiểu số rất lớn
* Trình độ phát triển kinh tế - xã hội: Đây là nhân tố tác động trực tiếp đến chất
lượng cuộc sống dân cư Trình độ phát triển kinh tế - xã hội phản ánh tình hình hoạt động sản xuất tạo ra của cải vật chất của con người và mức thu nhập của người dân ở mỗi địa phương Trình độ phát triển kinh tế - xã hội càng cao, thu nhập ổn định thì con người có điều kiện tiếp xúc với nhiều loại hình dịch vụ y tế, giáo dục, các phúc lợi xã hội và hoạt động vui chơi giải trí Từ đó, chất lượng cuộc sống của con người ngày càng cao Ngược lại, trình độ phát triển kinh tế - xã hội càng thấp dẫn đến thu nhập của
Trang 25người dân bấp bênh, việc tiếp xúc với các dịch vụ y tế, giáo dục, cơ hội sử dụng điện
và nước sạch trong sinh hoạt kéo theo chất lượng cuộc sống con người không được đảm bảo Thực tế cho thấy, những vùng đô thị thường có trình độ phát triển kinh tế -
xã hội cao hơn vùng nông thôn Vì vậy, chất lượng cuộc sống dân cư giữa hai vùng có
sự chênh lệch khá lớn Sự chênh lệch này thể hiện qua các chỉ số về thu nhập, giáo dục, y tế, các dịch vụ mang giá trị tinh thần khác,…
* Tiến bộ khoa học kĩ thuật và công nghệ: Được xem là một trong những nhân
tố có tác động gián tiếp đến việc nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư Bởi sự tiến bộ khoa học kĩ thuật và công nghệ có tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh tế và quy
mô của nền kinh tế, phản ánh trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi địa phương Tiến bộ khoa học kĩ thuật và công nghệ góp phần sử dụng hợp lí nguồn tài nguyên thiên nhiên và thúc đẩy quá trình sản xuất đạt hiệu quả cao hơn Đặc biệt, tiến bộ khoa học kĩ thuật và công nghệ góp phần nâng cao khả năng chăm sóc sức khỏe của con người bằng cách tìm ra các thiết bị máy móc, thuốc men ngăn ngừa các dịch bệnh có nguy cơ lây lan nhanh, chữa được các căn bệnh hiểm nghèo, giảm tỷ lệ tử vong của con người,… Ngoài ra, tiến bộ khoa học kĩ thuật và công nghệ còn phát minh ra các sản phẩm thông minh góp phần làm cho cuộc sống con người ngày càng hiện đại và tiện lợi hơn
* Đường lối chính sách của nhà nước: Đây là một yếu tố quan trọng đối với các
vấn đề có ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống dân cư Các chính sách, đường lối đúng đắn, các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội được vạch ra theo từng thời kì, từng giai đoạn phát triển sao cho phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương cũng như cả nước Các chính sách thúc đẩy sự phát triển kinh tế (đầu tư vốn,
hỗ trợ vốn, định hướng phát triển các ngành trọng điểm,…) góp phần đảm bảo sự ổn định về thu nhập cho người dân thông qua khả năng giải quyết việc làm cho người lao động, giảm tỷ lệ hộ nghèo của địa phương Bên cạnh đó, các chính sách về xã hội như đầu tư xây dựng trường học, khuyến khích trẻ em đến trường, hỗ trợ các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người dân vùng sâu vùng xa,… góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân Các chính sách xây dựng cơ sở hạ tầng - kĩ thuật, chính sách mở
Trang 26cửa hội nhập, mở rộng thị trường cũng góp phần tạo điều kiện cho người dân tiếp xúc với nền sản xuất kinh tế hiện đại và đạt hiệu quả cao hơn
1.1.3 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng cuộc sống dân cư vận dụng cho cấp tỉnh
Chất lượng cuộc sống là một vấn đề rộng và phong phú, tương đối phức tạp Vấn
đề này thường không có một tiêu chí cụ thể nào mang tính chất tổng hợp để phân tích,
so sánh và đo lường chất lượng cuộc sống của người dân ở một quốc gia nào đó
Chỉ số phát triển con người (HDI) là chỉ tiêu được Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) đưa ra vào năm 1990 nhằm đánh giá chất lượng cuộc sống của người dân trên bình diện quốc tế và quốc gia Chỉ tiêu này phản ánh sự phát triển của con người ở góc độ phát triển kinh tế - xã hội như: con người được sống thọ và khỏe mạnh, được học hành, được ăn no mặc ấm,… Hiện nay, chỉ số phát triển con người là thước đo tổng quát về sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia Đồng thời, đây là công cụ so sánh về thành tựu phát triển con người và tiến bộ xã hội giữa các quốc gia trên thế giới trong cùng một thời điểm Ba chỉ tiêu cơ bản đánh giá chất lượng cuộc
sống con người bằng HDI như sau:
- Chỉ số về sức khỏe: thể hiện một cuộc sống lâu dài và mạnh khỏe của con người, được đo bằng tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh ra
- Chỉ số về giáo dục: thể hiện trình độ kiến thức của con người, được đo bằng chỉ
số năm học bình quân của số người từ 25 tuổi trở lên và chỉ số năm học hy vọng bình
quân của trẻ em ở độ tuổi đi học
- Chỉ số về kinh tế: thể hiện mức sống của con người, được đo bằng GDP hoặc GNI thực tế bình quân đầu người tính theo sức mua tương đương (PPP)
Bảng 1.1 Giá trị biên tính chỉ số HDI theo cách cũ [34]
Trang 27Bảng 1.2 Giá trị biên tính chỉ số HDI theo cách mới [40]
Số năm đi học trung bình (năm) 13,2 0
Đến năm 2010, các chỉ tiêu cơ bản đánh giá chất lượng cuộc sống con người bằng HDI đã được UNDP điều chỉnh cho phù hợp với xu thế mới Theo đó, các giá trị biên tính chỉ số HDI cũng có sự điều chỉnh
Khi chất lượng cuộc sống của người dân tăng lên thì các chỉ số thành phần của HDI cũng tăng lên Các chỉ số về sức khỏe, giáo dục và kinh tế đều nhận giá trị từ 0 đến 1 Khi giá trị càng tiến gần về 1 thì đồng nghĩa với trình độ phát triển và xếp hạng chất lượng cuộc sống của một quốc gia hay lãnh thổ càng cao (với 1 là thứ hạng cao nhất) Ngược lại, chỉ số HDI càng dần về giá trị 0 thì chất lượng cuộc sống càng thấp Đối với cấp độ phạm vi đánh giá là một trong những tỉnh của Việt Nam, Ninh Thuận còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình thống kê các chỉ số phản ánh chất lượng cuộc sống dân cư địa phương Vì vậy, việc đánh giá chất lượng cuộc sống cấp tỉnh chỉ
dựa vào một số tiêu chí cơ bản như sau:
1.1.3.1 Về kinh tế
a GDP/người và thu nhập bình quân đầu người
Hiện nay, phần lớn các quốc gia trên thế giới đều sử dụng tiêu chí thu nhập bình quân đầu người là một trong những tiêu chí chính nhằm đánh giá chất lượng cuộc sống của người dân GDP và GDP bình quân đầu người cũng phần nào phản ánh thu nhập bình quân đầu người của một địa phương nào đó
- GDP (tổng sản phẩm quốc nội) là “giá trị mới của hàng hóa và dịch vụ được tạo ra
của toàn bộ nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định”[17, trang 65] GDP được tính từ tổng giá trị sản phẩm tạo ra trong nước không cần phân biệt là cá nhân trong nước hay người nước ngoài tham gia và không bao gồm các khấu trừ với khoản khấu
hao vốn vật chất hay sự suy giảm xuống cấp của tài nguyên thiên nhiên
Trang 28- GDP bình quân đầu người là “chỉ tiêu phản ánh một cách tổng quan mức sống dân cư, là sự tương quan giữa GDP so với số dân trung bình ở cùng một thời điểm”[17, trang 65] tính theo sức mua tương đương (PPP), có thể được tính bằng nội
tệ (Việt Nam đồng) hoặc bằng ngoại tệ (USD/người) để dễ dàng so sánh giữa các quốc gia với nhau Tiêu chí này được tính cho cả nước, cho từng vùng, từng khu vực và theo cấp tỉnh, thành phố Vì vậy, thông qua GDP/người, chúng ta có thể đánh giá phần nào trình độ phát triển kinh tế cũng như chất lượng cuộc sống của người dân ở một địa phương nhất định Điều này đã được khẳng định bởi thực tế, hầu hết các tỉnh, thành phố có nền kinh tế phát triển đều đảm bảo một cuộc sống có chất lượng tốt về mọi mặt
so với các địa phương còn kém phát triển
- Thu nhập bình quân đầu người là số tiền và giá trị hiện vật mà người lao động nhận được trong một thời gian nhất định được tính bằng Việt Nam đồng (thông thường
là một tháng hoặc một năm)
- Thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật mà hộ gia đình và các thành viên trong hộ gia đình nhận được trong một khoảng
thời gian nhất định, thường là một năm Các khoản thu này bao gồm:
+ Thu nhập từ tiền công, tiền lương
+ Thu nhập từ các hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản (đã trừ chi phí và thuế sản xuất)
+ Thu nhập từ sản xuất các ngành nghề (phi nông, lâm nghiệp, thủy sản) + Các nguồn thu nhập khác như cổ phiếu, lãi tiết kiệm,…
Các khoản thu không được tính vào thu nhập bao gồm tiền thu nợ, thu bán tài sản, vay nợ, tạm ứng và các khoản chuyển nhượng vốn,…
Thu nhập bình quân đầu người trong một tháng (theo công bố của Tổng cục thống kê) được tính bằng cách chia tổng số thu nhập của hộ dân cư cho số nhân khẩu của hộ
và chia cho 12 tháng
b Nghèo, chuẩn nghèo và tỷ lệ hộ nghèo
Ngày nay, do sự phát triển của nền kinh tế thế giới, quan điểm đói nghèo đã được hiểu rộng và sâu hơn qua nhiều cách tiếp cận khác nhau Có rất nhiều khái niệm về đói
Trang 29nghèo được đưa ra thông qua các cuộc hội nghị, hội thảo nhưng nhìn chung, khái niệm đói nghèo được hiểu đơn giản như sau:
Đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư trong xã hội thiếu thốn những nhu cầu
cơ bản của con người Đây là những nhu cầu này được xã hội thừa nhận tùy vào mức
độ phát triển kinh tế và phong tục tập quán của người dân địa phương Nói cách khác, đói nghèo là tình trạng người dân sống dưới mức trung bình của cộng đồng xã hội cả
về mặt vật chất lẫn tinh thần Nhằm đánh giá mức độ nghèo của dân cư ở nước ta, các nhà quản lý và nhà khoa học đã đưa ra tiêu chuẩn về chuẩn nghèo Chuẩn nghèo là mức thu nhập hoặc chi tiêu bình quân đầu người được dùng làm tiêu chuẩn để xác định người nghèo hoặc hộ nghèo Đây được xem là cơ sở cơ bản và quan trọng nhất để xác định các hộ gia đình cần được đưa vào chương trình xóa đói giảm nghèo của địa phương nói riêng và cả nước nói chung
Do trình độ phát triển kinh tế ngày càng cao kéo theo mức sống của người dân cũng tăng theo thời gian, vì vậy, chuẩn nghèo cũng có sự thay đổi nhất định phù hợp với tình hình thực tế Tuy nhiên, do trình độ cũng như tốc độ phát triển kinh tế không đồng đều giữa vùng nông thôn và thành thị nên mức sống của người dân cũng có sự chênh lệch đáng kể Vì vậy, kể từ năm 2004 trở về sau, tiêu chuẩn chuẩn nghèo được
cụ thể hơn bằng cách phân chia thành hai vùng nông thôn và thành thị
Bảng 1.3 Chuẩn nghèo của Việt Nam giai đoạn 2004 – 2015 (nghìn VNĐ/tháng) [30]
Trang 30chuẩn nghèo dựa trên thu nhập có nhiều bất cập Từ năm 2016, Chính phủ quyết định
áp dụng chuẩn nghèo mới đánh giá dựa trên các tiêu chí nghèo đa chiều được áp dụng cho giai đoạn 2016 -2020 như sau [4]:
Khu vực nông thôn: hộ nghèo là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:
- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống;
- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng
và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên
Khu vực thành thị: hộ nghèo là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:
- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống;
- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng
và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên
Tỷ lệ hộ nghèo là phần trăm số hộ nghèo so với tổng số hộ trên địa bàn trong một thời điểm nhất định Vì chuẩn nghèo có sự thay đổi theo từng giai đoạn nên tỷ lệ hộ nghèo cũng có sự thay đổi tùy thuộc vào chuẩn nghèo của thời điểm đó
Ở nước ta ngoài các tiêu chí về hộ nghèo, các tiêu chí về hộ cận nghèo cũng cho thấy một phần chất lượng cuộc sống dân cư vì con số này cũng chiếm một tỷ lệ đáng
kể
1.1.3.2 Về y tế và chăm sóc sức khỏe
Ngày nay, y tế đóng vai trò quan trọng trong công cuộc nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân bởi y tế đảm nhiệm công tác khám chữa bệnh, bảo vệ, chăm sóc sức khỏe của người dân Hệ thống y tế được mở rộng, chất lượng được nâng cao, các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ngày càng đa dạng và đáp ứng đầy đủ nhu cầu của người dân đã góp phần kéo dài tuổi thọ cũng như hạn chế các loại dịch bệnh, bệnh tật mà con người không may mắc phải Người ta thường dùng các chỉ tiêu về tuổi thọ trung bình,
số cán bộ y tế, số bệnh viện, trạm xá, giường bệnh/1 vạn dân hay nguồn ngân sách dành cho y tế,… để đánh giá khả năng chăm sóc sức khỏe cho người dân của một địa phương
Trang 31a Tuổi thọ trung bình
Tuổi thọ trung bình (kì vọng sống) là số năm trung bình của một người có khả năng sống được khi mới sinh ra cho đến hết suốt cuộc đời Tuổi thọ trung bình của con người chịu tác động bởi nhiều yếu tố, trong đó tỷ lệ tử vong ở trẻ em càng cao thì tuổi thọ trung bình của con người tại địa phương càng giảm Trong thời bình, tuổi thọ trung bình của con người thấp có thể do thu nhập thấp đã dẫn đến tình trạng nghèo đói, người dân không có cơ hội tiếp xúc với các dịch vụ y tế tốt, không được chăm sóc sức khỏe tốt,…
b Số cán bộ y tế, số giường bệnh trên 1 vạn dân
Số cán bộ y tế hay số giường bệnh/ 1 vạn dân là tỷ lệ giữa số bác sĩ, y sĩ, y tá hoặc số giường bệnh hiện có tham gia vào quá trình chăm sóc sức khỏe cho người dân
so với 1 vạn dân ở cùng một thời điểm
Ngoài ra, số bệnh viện, trạm y tế phục vụ cho công tác khám chữa bệnh cho người dân cũng được xem là một trong những tiêu chí đánh giá mức độ phục vụ cho người dân trong vấn đề khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe mỗi ngày
c Chi tiêu y tế
Ngân sách dành cho y tế là khoảng chi ngân sách địa phương cho các hoạt động y
tế cũng như nguồn vốn đầu tư nhằm xây dựng cơ sở vật chất, hạ tầng y tế phục vụ cho việc khám và chữa bệnh cho người dân ở địa phương Con số này càng lớn chứng tỏ nhà nước đang đặt sự quan tâm lớn đến việc bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cho người dân nói riêng và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nói chung
1.1.3.3 Về giáo dục
Chỉ số về giáo dục cũng là một trong những thước đo đánh giá chất lượng cuộc sống của người dân Bởi trình độ học vấn của người dân phản ánh khả năng tiếp cận và thích ứng với cuộc sống tiện nghi, hiện đại theo xu hướng phát triển chung của thế giới Vì vậy, hiện nay, một số quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng
đã xem giáo dục là quốc sách hàng đầu trong phát triển đất nước Một số chỉ tiêu về giáo dục được làm thước đo trình độ dân trí đánh giá chất lượng cuộc sống như sau:
a Tỷ lệ người lớn biết chữ
Tỷ lệ người lớn biết chữ là tương quan giữa số người từ 15 tuổi trở lên biết đọc,
Trang 32hiểu và biết viết thông thạo một đoạn văn ngắn về cuộc sống hằng ngày bằng chữ quốc ngữ, chữ dân tộc hoặc chữ nước ngoài so với tổng số dân ở cùng một thời điểm
b Tỷ lệ nhập học tổng hợp
Tỷ lệ nhập học tổng hợp là tương quan số học sinh nhập học ở tất cả các cấp học (tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông) so với tổng số người trong độ tuổi đi học trong cùng một thời điểm Tỷ lệ này được biểu hiện thông qua tỷ lệ nhập học chung và tỷ lệ nhập học đúng tuổi ở các cấp học
c Các chỉ tiêu khác
* Tỷ lệ học sinh/ 1 giáo viên
Tỷ lệ học sinh/ 1 giáo viên là tương quan giữa tổng số học sinh ở các cấp học của bậc phổ thông đang đi học so với tổng số giáo viên đang giảng dạy ở bậc phổ thông trong cùng một thời điểm
* Tỷ lệ học sinh trung học phổ thông/ tổng số học sinh
Tỷ lệ học sinh trung học phổ thông/ tổng số học sinh là tương quan giữa số học sinh đang học ở cấp trung học phổ thông so với tổng số học sinh đang theo học các cấp của bậc học phổ thông trong cùng một thời điểm
* Ngân sách dành cho giáo dục
Ngân sách dành cho giáo dục là khoảng chi tiêu mà địa phương đầu tư cho phát triển giáo dục từ cơ sở vật chất đến các hoạt động được tổ chức mang ý nghĩa tinh thần cho học sinh Chỉ tiêu này cho thấy mức độ quan tâm và đầu tư cho giáo dục, đồng
thời phần nào phản ánh mức độ phát triển dân trí ở địa phương
1.1.3.4 Phúc lợi xã hội
Ngoài các chỉ tiêu về kinh tế, giáo dục, y tế có thể đánh giá chất lượng cuộc sống của người dân, một số chỉ tiêu khác về điều kiện sống cũng góp phần đánh giá chất lượng cuộc sống của một địa phương Các nhu cầu sinh hoạt hằng ngày của con người
và khả năng đáp ứng các nhu cầu đó ngày càng cao cũng thể hiện một cuộc sống đang được cải thiện theo hướng tích cực Ở các địa phương có nền kinh tế phát triển, người dân có nhu cầu về điện, nước rất lớn và yêu cầu một không gian sống rộng rãi, sạch sẽ, chất lượng dinh dưỡng đầy đủ mỗi ngày Và việc đáp ứng các nhu cầu thiết yếu đó của người dân được các tỉnh, thành phố này thực hiện một cách dễ dàng và thuận tiện
Trang 33Ngược lại, ở các địa phương kém phát triển, nhu cầu ăn uống đơn giản chỉ để no và có nhà để ở cũng khó được các địa phương này đáp ứng Thực tế cho thấy, sự khác biệt
về khả năng đáp ứng các nhu cầu thiết yếu cho người dân giữa các địa phương trong cả nước là rất lớn Bởi trình độ phát triển kinh tế - xã hội của giữa các địa phương là hoàn toàn khác nhau
a Nhà ở
Diện tích nhà ở (không gian) và chất lượng nhà ở là hai khía cạnh để đánh giá điều kiện nhà ở của con người Diện tích nhà ở thường được thể hiện dưới hình thức mét vuông/người Chất lượng nhà ở thường được chia làm 4 loại: nhà kiên cố, nhà bán kiên cố, nhà thiếu kiên cố và nhà đơn sơ Điều kiện nhà ở tùy thuộc vào mức thu nhập của mỗi gia đình và điều kiện tự nhiên ở mỗi vùng Đặc điểm về nhà ở có sự phân hóa sâu sắc giữa các hộ gia đình ở vùng nông thôn và thành thị trong cùng một địa phương
b Điện sinh hoạt
Điện là một trong những thành phần không thể thiếu của cuộc sống hiện đại Nhu cầu, mức độ cũng như khả năng sử dụng điện cho thấy trình độ phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia Điện không chỉ đóng vai trò quan trọng trong nền sản xuất kinh
tế mà còn giúp cuộc sống của con người trở nên tiện lợi và hiện đại hơn Vì vậy, điều kiện sử dụng điện của người dân cũng là một trong những tiêu chí đánh giá chất lượng cuộc sống con người của một địa phương Các tiêu chí về điều kiện sử dụng điện thường được dùng để đánh giá chất lượng cuộc sống của con người ở một địa phương là: tỷ lệ các xã có điện, tỷ lệ số hộ dùng điện Cũng như điều kiện nhà ở, điều kiện sử dụng điện cũng có sự khác biệt giữa các hộ gia đình và phân hóa giữa các hộ gia đình sống ở thành thị và nông thôn
c Nước sạch và vệ sinh môi trường
Sử dụng nước sạch luôn là nhu cầu thiết yếu và cơ bản trong cuộc sống hằng ngày của con người Điều kiện sử dụng nước sạch cũng được xem là một trong những tiêu chí đánh giá chất lượng cuộc sống của người dân Ngày nay, nguồn nước đa phần
đã bị ô nhiễm và nguồn nước sạch ngày càng trở nên khan hiếm Trong khi đó, nhu cầu sử dụng nguồn nước sạch của người dân càng tăng đã khiến cho các nhà quản lí luôn phải nỗ lực để tìm ra biện pháp nhằm đảm bảo nguồn nước sạch có thể cung cấp
Trang 34cho người dân mỗi ngày Các tiêu chí về điều kiện sử dụng nước sạch thường được dùng để đánh giá chất lượng cuộc sống của con người là tỷ lệ người dân được sử dụng nước sạch (nước máy, nước ngầm, nước khai thác từ nguồn lộ thiên đã qua xử lí)
Tỷ lệ hộ sử dụng hố xí hợp vệ sinh, tỷ lệ hộ được thu gom rác thải đúng quy định cũng là những tiêu chí được quan tâm đánh giá chất lượng cuộc sống người dân Môi trường sống sạch sẽ, an toàn là một trong những tiêu chí cơ bản ban đầu đảm bảo sức khỏe cho người dân
d Hưởng thụ văn hóa, tinh thần
Các chỉ số khác như số sân vận động, khu vui chơi giải trí, nhà văn hóa, thư viện, cũng góp phần đánh giá chất lượng cuộc sống dân cư Cuộc sống hiện đại, phát triển không chỉ được thể hiện qua những chỉ tiêu về mức sống mà còn thể hiện qua mức độ hưởng thụ văn hóa, tinh thần của người dân Tuy nhiên đây là một trong
những tiêu chí khó đo lường chính xác
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Chất lượng cuộc sống dân cư ở Việt Nam
Trải qua hơn 40 năm xây dựng và phát triển, trình độ phát triển kinh tế và CLCS dân cư của Việt Nam đã có những thay đổi Từ một nước có nền nông nghiệp lạc hậu trở thành nước có nền kinh tế đang phát triển, cơ cấu kinh tế chuyển dần theo hướng tích cực, vấn đề về giáo dục, y tế và các điều kiện sống khác có sự cải thiện đáng kể
1.2.1.1 Nhóm chỉ tiêu về kinh tế
a GDP/người và thu nhập bình quân đầu người
Qua 15 năm từ năm 2000 đến năm 2015, nền kinh tế luôn đạt tốc độ tăng trưởng cao, đã góp phần quan trọng đưa nền kinh tế vượt qua thời kỳ suy giảm và phát triển tương đối toàn diện Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước năm 2010 theo giá so sánh
2010 đạt 6,42% giảm xuống chỉ còn tăng 6,24% trong năm 2011 và 5,25% trong năm
2012, nhưng năm 2013 đã tăng lên đạt 5,42%; năm 2014 đạt 5,98% và sơ bộ năm 2015 đạt 6,68% Tính ra, trong 5 năm 2011-2015, bình quân mỗi năm tổng sản phẩm trong nước tăng 5,91%, đưa quy mô nền kinh tế nước ta năm 2015 gấp 1,33 lần năm 2010 [29], [30] Tốc độ tăng trưởng bình quân của nền kinh tế nước ta trong 5 năm 2011-
2015 tuy thấp hơn tốc độ tăng bình quân mỗi năm của các giai đoạn 5 năm trước và
Trang 35không đạt mục tiêu đề ra là tăng bình quân mỗi năm 6,5-7%, nhưng vẫn đứng vào hàng các nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao của khu vực và thế giới Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn tốc độ tăng dân số nên GDP bình quân đầu người tính theo giá hiện hành đã tăng từ 1273 USD/người năm 2010 lên 1517 USD/người năm 2011;
1748 USD/người năm 2012; 1907 USD/người năm 2013; 2052 USD/người năm 2014
và ước tính đạt 2109 USD/người năm 2015 Tính theo sức mua tương đương năm
2011, tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu người năm 2014 đạt 5629 USD/người, tăng 28,1% so với năm 2010 [29], [30]
Năm 2014, thu nhập bình quân 1 người 1 tháng chung cả nước theo giá hiện hành đạt 2637 nghìn đồng, gấp 1,9 lần so với năm 2010 Năm 2015 đạt 2850 nghìn đồng/người/tháng, gấp 2,06 lần, tăng bình quân mỗi năm 15,5% trong giai đoạn 2011-2015 [30] Thu nhập bình quân đầu người theo giá hiện hành ở khu vực thành thị
và nông thôn năm 2014 đều tăng so với năm 2010 Thu nhập bình quân 1 người 1 tháng ở khu vực thành thị năm 2010 đạt 2130 nghìn đồng, năm 2014 đạt 3964 nghìn đồng; khu vực nông thôn đạt 1070 nghìn đồng và 2038 nghìn đồng, chênh lệch giữa thành thị và nông thôn là 1,9 lần Thu nhập bình quân 1 người 1 tháng của nhóm hộ nghèo nhất năm 2014 đạt 660 nghìn đồng, gấp 1,8 lần so năm 2010; của nhóm hộ giàu nhất đạt 6413 nghìn đồng, gấp 1,9 lần [30]
Thu nhập bình quân đầu người năm 2014 theo giá hiện hành của các vùng đều tăng so với năm 2010, trong đó Đồng bằng sông Hồng là vùng tăng nhanh nhất, bình quân mỗi năm tăng 19,9% Vùng có thu nhập tăng chậm nhất là Trung du và miền núi phía Bắc, chỉ gấp gần 1,8 lần, bình quân mỗi năm tăng 15,6% Thu nhập giữa các vùng luôn có sự chênh lệch Năm 2014, thu nhập bình quân đầu người cao nhất là ở Đông Nam Bộ gấp 2,6 lần vùng có thu nhập bình quân đầu người thấp nhất là vùng Trung du
và miền núi phía Bắc (4125 nghìn đồng so với 1613 nghìn đồng) Tốc độ tăng thu nhập thực tế bình quân năm (thu nhập sau khi loại trừ yếu tố tăng giá) của thời kỳ 2011-2014 là 7,3%, thấp hơn 1,5 điểm phần trăm so với tốc độ tăng thu nhập thực tế bình quân năm của thời kỳ 2006-2010 (tốc độ tăng bình quân năm là 8,8%) [30]
Các cơ hội phát triển được mở rộng cho mọi thành phần kinh tế, mọi tầng lớp dân
cư Kết quả đạt được về phát triển kinh tế và thực hiện công bằng xã hội tương đối có
Trang 36hiệu quả Tuy nhiên, nhìn nhận vấn đề công bằng xã hội theo hướng công bằng về cơ hội phát triển cho mọi người dân thì dường như thực trạng chất lượng cuộc sống ở Việt Nam lại cho thấy nhiều điều đáng bàn Bởi vì, sự khác biệt về cơ hội trong cuộc sống giữa các cá nhân, các nhóm chủng tộc, giới tính và các nhóm xã hội khác nhau là những bất bình đẳng xã hội rất cơ bản Thực hiện công bằng xã hội trong lĩnh vực y tế
là bảo đảm cho sức khoẻ mọi người dân được chăm sóc và bảo vệ, quan tâm chăm sóc sức khoẻ những người có công với nước; những người nghèo, đồng bào các dân tộc thiểu số Thực hiện công bằng xã hội trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo là tạo điều kiện để ai cũng được học hành; người nghèo được Nhà nước và cộng đồng giúp đỡ có
cơ hội học tập; phát triển các trường phổ thông nội trú dành cho con em đồng bào dân tộc thiểu số; có chính sách hỗ trợ đặc biệt đối với những học sinh có năng khiếu nhưng hoàn cảnh sống khó khăn được theo học ở bậc cao
Thu nhập bình quân đầu người tăng nhanh trong 25 năm qua song tình trạng bất bình đẳng và khoảng cách giàu nghèo cũng ngày càng nghiêm trọng Theo báo cáo kết quả khảo sát mức sống hộ gia đình năm 2010 ở Việt Nam, 20% dân số nghèo nhất chỉ chiếm 5,3% thu nhập và chi tiêu quốc gia trong khi đó 20% người giàu nhất chiếm 49,2% [29] Bảng 1.4 thể hiện sự chênh lệch thu nhập bình quân đầu người/tháng ở Việt Nam
Bảng 1.4 Chênh lệch thu nhập bình quân đầu người giữa các nhóm ở Việt Nam [30], [32]
Trang 37Bảng số liệu 1.4 cho thấy, mặc dù thu nhập của các nhóm dân cư đều tăng nhưng chênh lệch giàu nghèo vẫn xảy ra và tiếp tục xu hướng gia tăng Mức sống của người dân Việt Nam tuy đã được cải thiện nhiều, song mức chênh lệch giàu nghèo không giảm mà còn tăng từ 8.1 lần năm 2002 lên đến 9.7 lần năm 2014 là rất cao, đã và đang
là mối quan tâm của toàn xã hội Chênh lệch thu nhập và phân hoá giàu nghèo trong dân cư còn được thể hiện qua Hệ số bất bình đẳng trong phân phối thu nhập (hệ số GINI), hệ số GINI nhận giá trị từ 0 đến 1 Hệ số GINI bằng 0 là không có sự chênh lệch Hệ số GINI càng tiến dần đến 1 thì sự chênh lệch càng tăng và bằng 1 khi có sự chênh lệch tuyệt đối Hệ số GINI về thu nhập tính chung cả nước năm 2014 là 0,43; năm 2012 là 0,424 và năm 2010 là 0,433 Mức độ bất bình đẳng đo lường theo hệ số GINI của thời kỳ 2010-2014 (khoảng 0,43) tăng so với thời kỳ 2004-2008 (khoảng 0,42) [32]
Sự phân hoá giàu nghèo nhanh gắn liền với phân tầng xã hội và bất bình đẳng cũng là một trong những nguyên nhân gây ra bức xúc xã hội trong thời gian gần đây Nhiều vùng nông thôn và miền núi, vùng sâu, vùng xa còn thiếu cả những nhu cầu thiết yếu như: lương thực, nước sinh hoạt, và các dịch vụ công tối thiểu Khu vực có tỷ
lệ bất bình đẳng thấp, gồm có Đồng bằng sông Hồng, một số vùng đồng bằng phía Đông bắc, một số huyện ven biển thuộc Duyên hải Bắc Trung bộ, Đồng bằng sông Cửu Long và Duyên hải Nam Trung bộ Mức độ bất bình đẳng về chi tiêu lớn nhất ở các khu vực đô thị lớn, đặc biệt ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và khu vực miền núi bao gồm cả Đông bắc, Tây bắc và Tây Nguyên
Về chi tiêu, tính chung cả nước, chi tiêu theo giá hiện hành trong năm 2014 bình quân 1 người 1 tháng đạt 1888 nghìn đồng, gấp 1,6 lần năm 2010, bình quân mỗi năm tăng 11,7% trong giai đoạn 2011-2014 Chi tiêu bình quân đầu người 1 tháng ở khu vực nông thôn năm 2014 đạt 1557 nghìn đồng, tăng gấp 1,6 lần; khu vực thành thị đạt
2613 nghìn đồng, tăng gấp 1,4 lần so năm 2010 Tuy chi tiêu bình quân ở thành thị cao hơn nông thôn, nhưng tốc độ tăng chi tiêu bình quân đầu người ở thành thị lại thấp hơn
so với nông thôn gần 4 điểm phần trăm (9,3% so với 13,1%) Ở các vùng, chi tiêu bình quân đầu người trong giai đoạn 2011-2014 đều tăng, trong đó tốc độ tăng chậm nhất là Đông Nam Bộ (8,7%/năm); cao nhất là Trung du và miền núi phía Bắc (15,4%/năm)
Trang 38Tốc độ tăng chi tiêu thực tế bình quân đầu người (chi tiêu sau khi loại trừ yếu tố tăng giá) thời kỳ 2011-2014 tăng 3,7% mỗi năm, thấp hơn so với tốc độ tăng 11,1% mỗi năm của thời kỳ 2006-2010 Chi tiêu thực tế bình quân đầu người năm 2014 chỉ gấp 1,1 lần so với năm 2010 [30]
Trong giai đoạn 2010-2014, cơ cấu thu nhập theo nguồn thu thể hiện theo hướng tăng dần tỷ trọng thu nhập từ tiền lương tiền công (từ 44,9% lên 47,5%), tỷ trọng thu nhập từ các hoạt động nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm dần (từ 20,1% xuống 17,4%) Tốc độ tăng thu nhập từ tiền lương, tiền công bình quân năm trong giai đoạn này cũng đạt mức 19,1%, cao hơn so với tốc độ tăng thu nhập từ các hoạt động nông, lâm nghiệp và thủy sản và từ hoạt động phi nông, lâm nghiệp và thủy sản [29], [30]
hộ tái nghèo, phát sinh nghèo” [24]
Thành tựu xóa đói, giảm nghèo trong thời gian qua là chưa vững chắc, số hộ cận nghèo còn chiếm tỷ lệ lớn và nguy cơ tái nghèo rất cao Các chính sách, chương trình trợ giúp cho người nghèo, hộ nghèo chưa đạt hiệu quả cao Một bộ phận lớn hộ nghèo
có tâm lý ỷ lại, trông chờ vào các chính sách hỗ trợ của chính phủ Điều đáng lo ngại nhất là một số yếu tố tác động đến nhóm nghèo làm cho nghèo hơn chưa được nhận diện, ngăn ngừa thỏa đáng Người nghèo ngày càng trở nên khốn khó khi nền kinh tế phát triển không bền vững, môi trường không được chú trọng Lạm phát không được
Trang 39kiểm soát và chuẩn nghèo mới được áp dụng cho đầu mỗi giai đoạn 5 năm làm cho tỷ
lệ hộ nghèo tăng lên
Bảng 1.5 Tỷ lệ hộ nghèo (%) chia theo thành thị nông thôn giai đoạn 2004-2015 [30], [32]
Năn 2004 2006 2008 2010 2010(*) 2012 2014 2015
Cả nước 18,1 15,5 13,4 10,7 14,2 12,6 8,4 7,0
Nông thôn 21,2 18,0 16,1 13,2 17,4 14,1 10,8 9,2
(2010* Tỷ lệ hộ nghèo năm 2010 tính theo chuẩn mới áp dụng cho giai đoạn 2011 -2015)
Theo điều tra về Mức sống dân cư Việt Nam của Tổng cục Thống kê 2012, tỷ lệ nghèo nói chung, bao gồm nghèo về thực phẩm và phi lương thực thực phẩm năm của
cả nước là 14,2%, tăng rất nhiều so với mức tính của chuẩn nghèo cũ Riêng ở vùng Đông Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên tỷ lệ nghèo trên dưới 24%, tức cứ 4 người dân thì có một người nghèo; vùng Tây Bắc Bộ tỷ lệ nghèo lên tới 40,%, theo đó
cứ hơn 2 người dân thì có một người nghèo Như vậy, khi mở rộng chuẩn nghèo thì tỷ
lệ hộ nghèo đã tăng khá nhanh, từ 10,7% lên 14,2%, tức tăng gần 50% [29] Điều này cho thấy, ngoài bộ phận dân cư nghèo, còn có một bộ phận dân cư khác thu nhập không cao hơn nhiều so với những hộ nghèo Đây là những hộ dễ bị tổn thương, sẵn sàng tham gia vào nhóm các hộ nghèo một khi gặp khó khăn trong sản xuất và đời sống Trên ý nghĩa đó mà xét thì kết quả xoá đói, giảm nghèo chưa thật vững chắc, nguy cơ tái nghèo còn tương đối cao Bên cạnh đó, mạng lưới an sinh xã hội cũng chưa bao phủ hết các đối tượng Việc đào tạo nghề, giới thiệu việc làm cho lao động
hộ nghèo chưa đạt được kết quả như mong đợi Nhiều người không thích học nghề, thay vào đó tìm một việc làm để kiếm tiền phục vụ cuộc sống trước mắt Trong nhiều trường hợp học xong nghề, con đường tìm việc và tự giải quyết việc làm còn gặp rất nhiều khó khăn
Trong giai đoạn 2000 – 2015, 15 năm thì tỷ lệ hộ nghèo trên cả nước và tất cả các vùng đều giảm Cụ thể, tỷ lệ nghèo chung của cả nước năm 2000 là 28,9% và đến năm
2015 còn 7,0%, giảm 21,9% Ở thành thị tỷ lệ hộ nghèo luôn thấp hơn nông thôn, tính đến năm 2015 tỷ lệ hộ nghèo tương ứng là 2,5% và 9,2%, cao hơn 6,7% Tỷ lệ hộ
Trang 40nghèo ở các vùng vẫn còn chênh lệch rất lớn Trung du miền núi phía Bắc tỷ lệ hộ nghèo cao nhất cả nước với tỷ lệ 16% và cao gấp 22,8 lần so với vùng có tỷ lệ hộ nghèo thấp nhất là Đông Nam Bộ với tỷ lệ 0,7% Trong giai đoạn 2011 – 2015, vùng
có tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh nhất là Trung du và miền núi phía Bắc giảm 10,7 điểm phần trăm, vùng giảm chậm nhất là Đông Nam Bộ, giảm 1,0 điểm phần trăm Năm
2015, Trung du miền núi phía Bắc có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất cả nước (16,0%); tiếp đến là 2 vùng Tây Nguyên (11,3%) và vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung (9,8%); Đông Nam Bộ có tỷ lệ hộ nghèo thấp nhất cả nước (0,7%) Tuy nhiên qua những con số thống kê trên chưa có thể đánh giá chất lượng cuộc sống của người nghèo đã được cải thiện [30], [32]
Theo UNDP nhận định, người nghèo ở Việt Nam hưởng lợi từ tăng trưởng kinh tế chỉ bằng 76,6% so với mức bình quân của xã hội, trong khi người giàu hưởng lợi tới 115% [37] Sự đầu tư và sự hưởng thụ về giáo dục, sức khỏe và các dịch vụ khác ngày càng nghiêng về phía người có nhiều tiền sống ở thành thị… Các chính sách xã hội chưa đem lại kết quả như mong đợi khiến các hộ nghèo chịu thiệt nhiều hơn Tăng trưởng quá nóng thường dẫn đến tăng nhanh khoảng cách giàu - nghèo, nảy sinh nhiều
tệ nạn xã hội, gây ô nhiễm môi trường và cạn kiệt các nguồn tài nguyên Việc dồn mọi nguồn lực xã hội cho tăng trưởng kinh tế cũng có nghĩa là phải hy sinh một số mục tiêu xã hội, thiếu sự quan tâm đến người nghèo và các nhóm người dễ tổn thương, từ
đó đẩy mạnh xu thế làm giàu bất chính của một số cá nhân và dẫn đến nguy cơ khủng hoảng xã hội
1.2.1.2 Nhóm chỉ tiêu về y tế và chăm sóc sức khỏe
Trong bảng xếp loại tuổi thọ trung bình trê thế giới, Việt Nam đứng thứ 54/179 nước xếp hạng, trong khu vực Đông Nam Á thì cao hơn Lào (tuổi thọ trung bình: 65