1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá sản phẩm du lịch sinh thái biển, đảo tỉnh Cà Mau (Luận văn thạc sĩ)

136 273 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 4,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá sản phẩm du lịch sinh thái biển, đảo tỉnh Cà Mau (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá sản phẩm du lịch sinh thái biển, đảo tỉnh Cà Mau (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá sản phẩm du lịch sinh thái biển, đảo tỉnh Cà Mau (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá sản phẩm du lịch sinh thái biển, đảo tỉnh Cà Mau (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá sản phẩm du lịch sinh thái biển, đảo tỉnh Cà Mau (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá sản phẩm du lịch sinh thái biển, đảo tỉnh Cà Mau (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá sản phẩm du lịch sinh thái biển, đảo tỉnh Cà Mau (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá sản phẩm du lịch sinh thái biển, đảo tỉnh Cà Mau (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá sản phẩm du lịch sinh thái biển, đảo tỉnh Cà Mau (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá sản phẩm du lịch sinh thái biển, đảo tỉnh Cà Mau (Luận văn thạc sĩ)

Trang 1

Phạm Hồng Mơ

ĐÁNH GIÁ SẢN PHẨM DU LỊCH SINH THÁI BIỂN, ĐẢO TỈNH CÀ MAU

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2017

Trang 2

Phạm Hồng Mơ

ĐÁNH GIÁ SẢN PHẨM DU LỊCH SINH THÁI BIỂN, ĐẢO TỈNH CÀ MAU

Chuyên ngành : Địa lí học

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS PHẠM XUÂN HẬU

Thành phố Hồ Chí Minh – 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này là của riêng tôi Các số liệu,

kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực Các trích dẫn và tài liệu tham

khảo có nguồn gốc xác thực

Tác giả

Phạm Hồng Mơ

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và bày tỏ lòng kính trọng sâu sắc đến

PGS.TS Phạm Xuân Hậu! Trong thời gian qua, thầy là người đã nhiệt tình

hướng dẫn, giúp đỡ tôi để thực hiện và hoàn thành luận văn

Tôi xin cảm ơn cán bộ Phòng Quản lí du lịch thuộc Sở Văn hóa-Thể thao-Du

lịch và Cục thống kê tỉnh Cà Mau đã nhiệt tình cung cấp nguồn số liệu về tình

hình phát triển du lịch tại vùng biển, đảo Cà Mau, làm cơ sở quan trọng cho đề

tài nghiên cứu

Tôi xin cảm ơn Phòng Sau đại học, trường Đại học Sư phạm đã tạo điều kiện

thuận lợi để tôi học tập, nghiên cứu trong thời gian học tập tại trường

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình và bạn bè đã luôn ủng hộ tinh

thần cho tôi trong khi thực hiện luận văn này!

Tác giả

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các hình

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN VÀ ĐÁNH GIÁ SẢN PHẨM DU LỊCH 11

1.1 Một số khái niệm 11

1.1.1 Du lịch 11

1.1.2 Du lịch sinh thái 11

1.1.3 Du lịch sinh thái biển, đảo 12

1.1.4 Sản phẩm du lịch và sản phẩm du lịch đặc thù 13

1.1.5 Đánh giá sản phẩm du lịch 14

1.2 Các yếu tố tạo sản phẩm du lịch 15

1.3 Kinh nghiệm thực tiễn đánh giá sản phẩm du lịch 16

1.3.1 Trên thế giới 16

1.3.2 Ở Việt Nam 17

1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc đánh giá sản phẩm du lịch 18

1.4.1 Quy mô mẫu 18

1.4.2 Đặc trưng của sản phẩm du lịch 18

1.4.3 Khách du lịch 19

1.4.4 Đánh giá tài nguyên du lịch 19

1.5 Phương pháp đánh giá 19

1.5.1 Phương pháp khảo sát 20

1.5.2 Tiêu chí và tiêu chuẩn đánh giá 21

Tiểu kết chương 1 25

Trang 6

Chương 2 ĐÁNH GIÁ SẢN PHẨM DU LỊCH SINH THÁI BIỂN, ĐẢO

TỈNH CÀ MAU 26

2.1 Khái quát về tỉnh Cà Mau 26

2.1.1 Vị trí địa lí 26

2.1.2 Phạm vi không gian vùng biển, đảo Cà Mau 26

2.1.3 Đặc điểm tự nhiên 28

2.1.4 Đặc điểm kinh tế - xã hội 31

2.2 Hiện trạng phát triển DLST biển, đảo tỉnh Cà Mau 33

2.2.1 Số lượt khách du lịch 33

2.2.2 Doanh thu 35

2.2.3 Cơ sở hạ tầng - vật chất kĩ thuật phục vụ du lịch 36

2.2.4 Các tuyến du lịch chủ yếu 37

2.2.5 Các điểm du lịch chủ yếu 37

2.2.6 Các sản phẩm du lịch chủ yếu 41

2.3 Đánh giá sản phẩm du lịch sinh thái biển, đảo của tỉnh Cà Mau 43

2.3.1 Đánh giá tài nguyên du lịch sinh thái biển, đảo của tỉnh Cà Mau 43

2.3.2 Đánh giá cơ sở hạ tầng - vật chất kĩ thuật du lịch 52

2.3.3 Đánh giá sự hài lòng của du khách đối với sản phẩm du lịch sinh thái biển, đảo Cà Mau 57

2.4 Những thế mạnh và hạn chế của sản phẩm du lịch sinh thái biển, đảo tỉnh Cà Mau 66

2.4.1 Thế mạnh 67

2.4.2 Hạn chế 68

Tiểu kết chương 2 71

Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP KHAI THÁC PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DU LỊCH SINH THÁI BIỂN ĐẢO TỈNH CÀ MAU 72

3.1 Căn cứ xây dựng định hướng 72

3.1.1 Chiến lược phát triển sản phẩm du lịch biển, đảo của Bộ Văn Hóa - Thể thao - Du lịch 72

3.1.2 Nhu cầu tiêu thụ sản phẩm du lịch sinh thái biển, đảo của thị trường 72

Trang 7

3.1.3 Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và du lịch của tỉnh 73

3.1.4 Kết quả đánh giá sản phẩm du lịch sinh thái biển, đảo Cà Mau 74

3.2 Định hướng phát triển sản phẩm du lịch sinh thái biển, đảo tỉnh Cà Mau 75

3.2.1 Định hướng chung 75

3.2.2 Định hướng cụ thể 75

3.3 Các giải pháp phát triển sản phẩm du lịch sinh thái biển, đảo tỉnh Cà Mau 76

3.3.1 Nhóm giải pháp về nâng cao sức hút của sản phẩm du lịch 76

3.3.2 Nhóm giải pháp về vốn đầu tư 79

3.3.3 Nhóm giải pháp về nguồn nhân lực 79

3.3.4 Nhóm giải pháp về thị trường, quảng bá, xúc tiến du lịch 80

3.3.5 Nhóm giải pháp về cơ sở hạ tầng-vật chất kĩ thuật du lịch 81

3.3.6 Nhóm giải pháp về liên kết du lịch 82

3.3.7 Nhóm giải pháp về phát triển bền vững 82

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO 87 PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Quy mô và tốc độ gia tăng dân số Cà Mau giai đoạn 2010 – 2015 31

Bảng 2.2 Thu nhập bình quân đầu người/1 tháng và tỉ lệ hộ nghèo 31

Bảng 2.3 Số lượt khách du lịch chung và DLST biển, đảo tỉnh Cà Mau 34

Bảng 2.4 Số lượt khách đến các khu, điểm DLST biển, đảo tỉnh Cà Mau 35

Bảng 2.5 Doanh thu du lịch 35

Bảng 2.6 Số khách sạn trên địa bàn tỉnh Cà Mau giai đoạn 2010-2015 36

Bảng 2.7 Tính hấp dẫn của TNDL sinh thái biển, đảo Cà Mau 44

Bảng 2.8 Thời vụ du lịch của TNDL sinh thái biển, đảo Cà Mau 46

Bảng 2.9 Tính bền vững của TNDL sinh thái biển, đảo Cà Mau 47

Bảng 2.10 Tính an toàn của TNDL sinh thái biển, đảo Cà Mau 49

Bảng 2.11 Sức chứa du khách của TNDL sinh thái biển, đảo Cà Mau 50

Bảng 2.12 Tính liên kết của TNDL sinh thái biển, đảo Cà Mau 51

Bảng 2.13 Đánh giá hạ tầng giao thông phục vụ du lịch sinh thái biển, đảo Cà Mau 53

Bảng 2.14 Đánh giá cơ sở lưu trú phục vụ du lịch sinh thái biển, đảo Cà Mau 54

Bảng 2.15 Đánh giá cơ sở ăn uống phục vụ du lịch sinh thái biển, đảo Cà Mau 55

Bảng 2.16 Đánh giá các cơ sở dịch vụ cơ bản phục vụ DLST biển, đảo Cà Mau 56

Bảng 2.17 Sở thích của du khách đối với cảnh quan tự nhiên khu vực biển, đảo Cà Mau 58

Bảng 2.18 Mức độ hài lòng của du khách đối với dịch vụ lữ hành 59

Bảng 2.19 Mức độ hài lòng với cơ sở lưu trú Đơn vị: % 60

Bảng 2.20 Mức độ hài lòng của du khách đối với dịch vụ ăn uống, vui chơi giải trí 62

Bảng 2.21 Mức độ hài lòng của du khách đối với công tác bảo vệ và giáo dục môi trường 64

Bảng 2.22 Khả năng giữ chân du khách của SPDL sinh thái biển, đảo Cà Mau 66

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Bản đồ khu vực biển, đảo Cà Mau và địa bàn nghiên cứu 27Hình 2.2 Mức độ hài lòng của du khách đối với SPDL sinh thái biển, đảo

Cà Mau 65Hình 3.1 Bản đồ hiện trạng và định hướng phát triển SPDL sinh thái khu vực

biển, đảo Cà Mau 78

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay, du lịch đã và đang trở thành một ngành kinh tế quan trọng của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, với xu thế ngày càng phát triển đa dạng hơn, phong phú hơn về các loại hình, cũng như sản phẩm du lịch (SPDL) nhằm phục vụ nhu cầu ngày càng đa dạng của du khách Trong đó, loại hình du lịch sinh thái (DLST) đang ngày càng được ưa chuộng bởi tính thân thiện với thiên nhiên và môi trường, nhất là trong nền kinh tế thị trường đầy căng thẳng, con người luôn muốn tìm đến thiên nhiên

để nghỉ ngơi, giải tỏa áp lực… Đặc biệt là trong bối cảnh thiên nhiên đang bị đe dọa bởi những sự cố môi trường và biến đổi khí hậu, DLST còn đóng vai trò là công cụ để góp phần tôn tạo và bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên Trong những năm qua, ngành du lịch Việt Nam đã có những bước phát triển đáng kể, trong xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa diễn ra ngày càng sâu rộng Trên dải đất hình chữ S, mỗi vùng, mỗi miền đều có những đặc điểm tự nhiên đặc sắc, chính vì thế DLST được xem

là một trong những SPDL nổi bật và độc đáo của Việt Nam

Thế kỉ XXI, là thế kỉ cả thế giới hướng ra biển, vì vậy vấn đề biển, đảo là một trong những vấn đề nhạy cảm hiện nay Trong bối cảnh những tranh chấp ngày càng căng thẳng, đặt các quốc gia vào tình thế tăng cường những hoạt động nhằm khẳng định chủ quyền quốc gia trên biển Trong đó, các hoạt động kinh tế biển nói chung và du lịch nói riêng được xem là những lựa chọn hàng đầu Du lịch biển, đảo không chỉ góp phần phát triển kinh tế mà còn góp phần khẳng định chủ quyền biển, đảo thông qua việc giới thiệu và quảng bá hình ảnh của quốc gia trên biển với du khách trong và ngoài nước Kết hợp giữa DLST và du lịch biển, đảo là một loại hình SPDL đã được phát triển ở nhiều nước trên thế giới và ở Việt Nam

Không nằm ngoài xu thế chung của cả nước và thế giới, tỉnh Cà Mau từ nhiều năm qua đã tận dụng những thế mạnh và tiềm năng sẵn có để khai thác và đem đến cho du khách SPDL sinh thái đặc trưng Trong những năm qua, tỉnh cũng đã triển khai các tour du lịch phục vụ SPDL sinh thái biển, đảo, nhờ tận dụng lợi thế về tự nhiên, với 3 mặt giáp biển và nhiều đảo, cụm đảo ven bờ Được biết đến với địa danh ở cực Nam của tổ quốc, mặc dù không có lợi thế về bãi biển đẹp như môt số tỉnh duyên hải miền

Trang 12

Trung như Khánh Hòa, Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế…tuy nhiên, Cà Mau cũng đã và đang trở thành một trong những điểm thu hút du khách bởi những đặc điểm sinh thái độc đáo và hoang sơ, du khách đến đây với mong muốn được một lần đến với cực Nam của đất nước Tuy nhiên, theo nhiều đánh giá, việc thu hút khách du lịch đến với tỉnh Cà Mau nói chung và loại hình DLST biển, đảo nói riêng còn chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh Việc đi tìm nguyên nhân vẫn đang là một câu hỏi lớn đặt ra cho ngành du lịch tỉnh

Trong thời gian qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu về DLST tỉnh Cà Mau, trong đó chủ yếu tập trung vào thực trạng và định hướng phát triển, song chưa có công trình nào đi sâu vào tìm hiểu về một SPDL Trong khi đó, SPDL lại là một trong những yếu tố định hình và khẳng định vị trí của ngành du lịch, đồng thời, đây cũng là

cơ sở quan trọng để đánh giá được khả năng phát triển và định hướng phát triển du lịch một cách bền vững SPDL sinh thái biển đảo tỉnh Cà Mau vẫn còn khá mới mẽ đối với

du khách trong và ngoài nước, so với một số tỉnh miền Trung, SPDL sinh thái biển đảo

đã được đưa vào khai thác từ lâu thì SPDL này vẫn còn khá non trẻ Là một người con sinh ra và lớn lên tại vùng đất cuối trời tổ quốc, tác giả luôn mong muốn đươc đóng góp một phần nhỏ vào sự phát triển chung của tỉnh nhà Chính vì vậy, tác giả đã mạnh

dạn lựa chọn đề tài “Đánh giá sản phẩm du lịch sinh thái biển, đảo tỉnh Cà Mau” để

làm đề tài tốt nghiệp thạc sĩ Thông qua việc tiến hành nghiên cứu đề tài, tác giả có thể hiểu biết nhiều hơn nữa về quê hương mình nói chung và SPDL biển đảo nói riêng, đồng thời đưa ra được những lý luận khoa học về SPDL sinh thái biển đảo, từ đó đề xuất những định hướng phát triển phù hợp, nhằm đóng góp một phần nhỏ vào sự phát triển của ngành du lịch tỉnh nói riêng và sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Cà Mau nói chung

2 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài

Trang 13

- Đề xuất một số định hướng và giải pháp phát triển SPDL sinh thái biển, đảo của tỉnh

- Đề xuất những định hướng và giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả khai thác SPDL sinh thái biển đảo tỉnh Cà Mau theo hướng phát triển bền vững

3 Quan điểm nghiên cứu

3.1 Quan điểm cấu trúc- hệ thống

Du lịch là một trong những ngành của hệ thống kinh tế quốc dân, nằm trong mối liên hệ tác động qua lại với các ngành kinh tế khác Vì vậy, khi xem xét các vấn đề của

du lịch nói chung và SPDL sinh thái biển đảo nói riêng cần đặt chúng trong mối quan

hệ với các ngành, các lĩnh vực khác; bao gồm các vấn đề về tự nhiên, dân cư xã hội, tình hình phát triển kinh tế của địa bàn nghiên cứu và mối quan hệ với các ngành nông – lâm – ngư nghiệp, công nghiệp – xây dựng và các ngành dịch vụ khác như giao thông vận tải, thông tin liên lạc…Từ đó, có thể phân tích được các yếu tố tác động đến đối tượng nghiên cứu, đảm bảo tính toàn diện của vấn đề nghiên cứu

3.2 Quan điểm lãnh thổ

Quan điểm lãnh thổ là quan điểm đặc thù của địa lí Trên thực tế, mỗi sự vật hiện tượng địa lí luôn có sự phân bố và phân hóa theo không gian tạo nên sự khác biệt giữa lãnh thổ này với lãnh thổ khác Chính vì vậy, trong nghiên cứu khoa học, mỗi đối tượng nghiên cứu cần gắn với một lãnh thổ nhất định để đảm bảo tính chính xác và khoa học

Trang 14

Khi nghiên cứu đánh giá SPDL sinh thái biển, đảo tỉnh Cà Mau cần dựa trên những đặc điểm về lãnh thổ và sự phân bố của đối tượng trên địa bàn tỉnh, để có được kết quả đánh giá chính xác, khách quan và có giá trị thực tiễn

3.3 Quan điểm lịch sử - viễn cảnh

Mỗi vấn đề nghiên cứu đều có nguồn gốc phát sinh, quá trình phát triển Vì vậy khi nghiên cứu đánh giá SPDL sinh thái biển đảo cần xem xét cả về quá khứ, hiện tại,

để có những định hướng đúng đắn và giải pháp phù hợp cho việcphát triển bền vững trong tương lai

3.4 Quan điểm phát triển bền vững

Phát triển bền vững hiện đang là mục tiêu hướng tới nhiều quốc gia trên thế giới, mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa lí, văn hóa riêng để hoạch định chiến lược phù hợp nhất với quốc gia đó PTBV phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa 3 lĩnh vực chính: kinh tế -

xã hội - môi trường Với vai trò là một ngành kinh tế, du lịch cũng luôn đặt mục tiêu phát triển bền vững là nhiệm vụ hàng đầu, đóng góp vào sự phát triển bền vững chung của nền kinh tế nói riêng và sự phát triển của đất nước nói chung Vì vậy, khi nghiên cứu các vấn

đề về du lịch, thì cần đứng trên quan điểm phát triển bền vững để xem xét và đưa ra những giải pháp và định hướng phát triển, hướng đến mục tiêu chung của toàn nhân loại,

là đảm bảo sự phát triển vì cá thế hệ mai sau

3.5 Quan điểm thực tiễn

Đây là một quan điểm rất quan trọng nhằm nghiên cứu một cách tổng quan về thực trạng của vấn đề Vận dụng quan điểm này, giúp người nghiên cứu hiểu rõ được bản chất của vấn đề nghiên cứu, mà cụ thể là SPDL sinh thái biển, đảo tỉnh Cà Mau, đánh giá những mặt đạt được và chưa được, các yếu tố tác động đến đối tượng nghiên cứu…Để từ đó có thể đề xuất những định hướng, giải pháp và vận dụng vào thực tiễn nhằm phát huy những mặt tích cực và khắc phục những hạn chế đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững

Trang 15

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu, số liệu thống kê

Lựa chọn và thu thập tài liệu là bước đầu tiên và rất quan trọng trong bất kì hoạt động nghiên cứu nào Nguồn thông tin, số liệu sử dụng trong nghiên cứu được thu thập chủ yếu từ các nguồn như: Sách, các bài báo, tạp chí khoa học, các bài nghiên cứu, luận văn, luận án và các trang thông tin trên Internet có liên quan đến SPDL sinh thái biển đảo trong và ngoài nước… để đảm bảo khối lượng thông tin đầy đủ và chính xác đáp ứng cho việc thực hiện đề tài Thông qua việc tổng hợp các nguồn tài liệu này tác giả có thể nắm được tình hình phát triển của SPDL sinh thái biển đảo hiện nay, đồng thời hình thành cơ sở lý luận cho bài nghiên cứu

4.2 Phương pháp điều tra xã hội học

Điều tra xã hội học là một trong những phương pháp phổ biến trong nghiên cứu, nhằm thu thập những số liệu sơ cấp để làm rõ và đưa đến kết quả cho vấn đề nghiên cứu Thông qua việc khảo sát bằng bảng câu hỏi về các vấn đề có liên quan đến việc đánh giá SPDL sinh thái biển, đảo tỉnh Cà Mau như tính hấp dẫn của tài nguyên du lịch, sự hài lòng của du khách, những ý kiến đóng góp…Hình thức khảo sát bao gồm khảo sát tại các điểm du lịch, kết hợp với vận dụng tính phổ biến của mạng xã hội facebook để tiến hành khảo sát bằng biểu mẫu online Kết quả khảo sát sẽ được xử lí, thống kê bằng phần mềm SPSS, dựa trên các ưu điểm về tính tiện lợi, dễ sử dụng, báo cáo thống kê trên tập số liệu cơ sở đa dạng và linh hoạt với nhiều chiều phân tổ khác nhau để làm cơ sở cho các phân tích thống kê mô tả trong chương 2

4.3 Phương pháp đánh giá tổng hợp

Đây là phương pháp sử dụng tổng hợp các kết quả của việc xử lý số liệu, quan sát thực tế, tổng hợp các nguồn tài liệu, tác giả tiến hành đánh giá, nhận xét chính xác, khách quan về SPDL sinh thái biển, đảo Đồng thời, từ những phân tích, đánh giá đó

đề xuất những giải pháp, kiến nghị về vấn đề phát triển SPDL sinh thái biển đảo tỉnh

Cà Mau theo hướng bền vững

4.4 Phương pháp bản đồ, biểu đồ

Phương pháp bản đồ, biểu đồ được sử dụng với vai trò là một trong những phương pháp đặc trưng của khoa học địa lí Phương pháp này thể hiện trực quan và sinh động

Trang 16

các số liệu được sử dụng trong bài viết, giúp người xem dễ dàng phân tích, so sánh Trong khi nghiên cứu SPDL sinh thái biển, đảo, bên cạnh những số liệu trình bày dưới dạng bảng, tác giả sử dụng những bản đồ để thể hiện sự phân bố các điểm du lịch và quy hoạch phát triển du lịch tỉnh Cà Mau Ngoài ra, các biểu đồ được sử dụng để thể hiện các số liệu về số lượt khách, doanh thu, số lượng các cơ sở lưu trú…

4.5 Phương pháp phỏng vấn chuyên gia

Phương pháp phỏng vấn chuyên gia là phương pháp ngày càng phổ biến trong các nghiên cứu của ngành Địa lí học Chuyên gia là những người nắm vững và có những hiểu biết sâu sắc về vấn đề chuyên môn của họ, vì vậy việc hỏi chuyên gia sẽ cung cấp cho người nghiên cứu những thông tin cần thiết mà các cuộc khảo sát thông thường không thể có được Trong nội dung đề tài tác giả sử dụng phương pháp phỏng vấn chuyên gia đối với các các bộ quản lí du lịch tỉnh, chính quyền địa phương để làm tư liệu tham khảo, so sánh với kết quả khảo sát bằng phiếu câu hỏi, nhằm khẳng định tính đúng đắn và độ tin cậy của kết quả nghiên cứu

5 Đối tượng và giới hạn nghiên cứu của đề tài

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là các họat động tổ chức, quản lí, khai thác SPDL sinh thái biển, đảo tỉnh Cà Mau Bên cạnh đó, đề tài cũng nghiên cứu các đối tượng là các yếu tố liên quan như tài nguyên phục vụ DLST biển, đảo tỉnh Cà Mau, khách du lịch, cộng đồng ở địa phương, các công ty du lịch, lữ hành, các cơ sở lưu trú…để tiến hành xem xét, đối chiếu, so sánh

5.2 Giới hạn nghiên cứu

*Về thời gian: Đề tài sử dụng số liệu từ năm 2010 đến năm 2015 để thực hiện phân

tích, đánh giá

*Về không gian: Đề tài nghiên cứu các yếu tố của SPDL sinh thái tại khu vực biển,

đảo Cà Mau bao gồm phạm vi không gian của 4 huyện Ngọc Hiển, U Minh, Năm Căn

và Trần Văn Thời

*Về nội dung:

- Đề tài tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến việc đánh giá SPDL và kinh nghiệm đánh giá SPDL sinh thái biển, đảo trên thế giới và ở Việt Nam

Trang 17

- Về đánh giá SPDL sinh thái biển, đảo tỉnh Cà Mau, bao gồm đánh giá tài nguyên thiên nhiên đối với việc hình thành SPDL; đánh giá về mức độ hài lòng của du khách đối với các dịch vụ du lịch cung cấp tại các điểm du lịch

- Đề xuất những định hướng và giải pháp phát triển SPDL sinh thái biển, đảo tỉnh

Cà Mau

6 Các công trình nghiên cứu có liên quan

6.1 Các công trình nghiên cứu ngoài nước

DLST nói chung và DLST biển, đảo nói riêng đang là loại hình du lịch du lịch được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm, nghiên cứu Theo đó, trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu có liên quan đến DLST và DLST biển, đảo Trong nội dung nghiên cứu này, tác giả xin trình bày một số công trình tiêu biểu như sau:

* Những nghiên cứu thực tiễn về DLST biển, đảo:

- Đề tài “Marine Ecotourism and Community Participation: Case Studies from

Bohol, Philippines” năm 2002 của tác giả Stuart James Green, đã báo cáo tại hội thảo

chuyên đề DLST trên thế giới tại Malaysia Đề tài nghiên cứu về DLST biển gắn với

sự tham gia của cộng đồng dựa trên các SPDL kết hợp giữa 3 hệ sinh thái ven biển khác nhau gồm các rặng san hô, vùng biển sâu và vùng cửa sông

- Đề tài “Marine ecotourism as a potential agent for sustainable development in

Kaikoura, New Zealand” của tác giả Mark B Orams đăng trong tạp chí International

Journal Sustainable Development năm 2002 Trong đó, đề tài tiếp cận DLST biển, đảo dưới góc độ là một nhân tố tiềm năng cho sự phát triển bền vững bằng những đánh giá tác động của du lịch đến môi trường biển, du khách, cộng đồng địa phương…

- Đề tài “Marine ecotourism in the New Zealand urban context: Emerging trends,

new challenges and developing opportunities” năm 2003 của các tác giả Micheal Luck

và James Higham Đây là đề tài đem đến hướng đi mới cho DLST biển khi nghiên cứu tại khu vực ven đô và đô thị ở New Zealand

- Đề tài “The Concept of Marine Ecotourism: Case Study in a Mediterranean

Island” của tác giả Fani Sakellariadou thực hiện năm 2014, về nghiên cứu ứng dụng

khái niệm DLST biển, đảo tại các đảo trong vùng biển Địa Trung Hải Đề tài đã nêu

Trang 18

lên các hoạt động liên quan đến DLST biển, các tác động tích cực và tiêu cực của DLST biển…

* Những nghiên cứu liên quan đến đánh giá DLST:

- Đề tài “An evaluation of ecotourism in Amazonas, Brazil” thực hiện năm 1994 bởi

Geogre N Wallace và Susan M Pierce Bằng việc đăng kí một tour DLST, các tác giả tiến hành quan sát và phỏng vấn du khách, nhân viên và người dân địa phương Theo

đó, nghiên cứu đưa ra kết luận về những đóng góp của DLST cho kinh tế, môi trường

và cộng đồng dân cư địa phương ở khu vực Amazonas, Brazil

- Đề tài “A survey of ecotourism on island in Northwestern Mexico” của các tác giả

B.R Tershy, L.Bourilon, L.Metzler và J.Barnes thực hiện năm 1998, đã tiến hành khảo sát 42 công ty DLST có tour đến các đảo vùng Tây Bắc Mexico để khảo sát về chi phí và những lợi ích từ du lịch mang lại

- Đề tài “Evaluating ecotourism: The case of North Sulawesi, Indonesia” đăng trong

tạp chí Tourism Management năm 1999 của các tác giả Sheryl Ross và Geoffrey Wall,

đã tiến hành đánh giá DLST tại 3 khu bảo tồn ở Bắc Sulawesi Từ đó, đi đến kết luận

về mối tương quan giữa con người, tài nguyên và du lịch vẫn chưa đạt được hiệu quả

để phát triển du lịch bền vững và đề xuất những chiến lược quản lí thích hợp cho phát triển DLST tại các khu bảo tồn

Các công trình nghiên cứu đều đã đạt được những thành tựu nhất định trong nghiên cứu thực tế về DLST biển, đảo tại các nước Đây là một trong những tài liệu tham khảo hữu ích để tác giả học hỏi kinh nghiệm khi tiến hành nghiên cứu này

6.2 Các công trình nghiên cứu trong nước

DLST và DLST biển, đảo là loại hình du lịch đang được ưa chuộng ở Việt Nam, đồng thời cũng đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều tác giả

Những lý luận về DLST đã được trình bày trong các cuốn sách “DLST những vấn

đề lí luận và thực tiễn phát triển ở Việt Nam” do Phạm Trung Lương chủ biên;

“DLST” của tác giả Lê Huy Bá và “Du lịch và DLST” của tác giả Thế Đạt

- Đề án “Phát triển du lịch biển, đảo và vùng ven biển đến năm 2020”, đây là một

đề tài cấp bộ của Viện nghiên cứu phát triển du lịch, đã trình bày các điều kiện, nguồn

Trang 19

lực và hiện trạng phát triển du lịch biển Việt Nam, từ đó đưa ra những định hướng phát triển du lịch biển Việt Nam đến năm 2020

- Đề tài cấp bộ “Nghiên cứu xây dựng SPDL biển, đảo vùng du lịch Bắc Bộ” đã

trình bày tiềm năng và hiện trạng phát triển SPDL biển, đảo và định hướng xây dựng

hệ thống SPDL biển, đảo tại vùng du lịch Bắc Bộ

- Đề tài cấp bộ “Nghiên cứu xây dựng SPDL Việt Nam có tính cạnh tranh trong khu

vực, quốc tế” đã tiến hành phân tích, so sánh SPDL của Việt Nam với các đối thủ cạnh

tranh và nhu cầu của thị trường đối với SPDL, từ đó đề xuất những định hướng và giải pháp xây dựng SPDL Việt Nam có tính cạnh tranh

- Đề tài luận án Tiến sĩ “Phát triển DLST ở các tỉnh duyên hải cực Nam Trung Bộ”

của tác giả Đinh Kiệm năm 2013 đã tìm hiểu thực trạng phát triển DLST vùng duyên hải cực Nam Trung Bộ Luận án cũng đã ứng dụng mô hình SWOT để nghiên cứu về phát triển DLST tại vùng, đồng thời đưa ra những định hướng chiến lược và một số giải pháp phát triển DLST của vùng đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030

- Đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành du lịch “Phát triển DLST biển, đảo Cù Lao

Chàm – tỉnh Quảng Nam” của Trần Xuân Mới, bảo vệ năm 2012 Nội dung chính của

đề tài bao gồm thực trạng và đánh giá sự phát triển DLST biển, đảo Cù Lao Chàm; đồng thời đề xuất một số giải pháp phát triển

- Bài báo khoa học “Khảo sát mức độ hài lòng của du khách nội địa tại một số điểm

DLST ở Đồng bằng sông Cửu Long” của tác giả Phan Thị Dang đăng trong tạp chí

khoa học trường Đại học Cần Thơ Bài báo đã đưa ra những đánh giá về mức độ hai lòng của du khách, phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của du khách ở một số địa điểm DLST ở Đồng bằng sông Cửu Long

- Trong đề tài cấp Bộ của Viện nghiên cứu và phát triển du lịch năm 2008, “Đánh

giá khả năng cạnh tranh của SPDL Việt Nam với SPDL của Trung Quốc” Trong đó,

tập trung đánh giá sức cạnh tranh của SPDL hai nước thông qua việc so sánh các chỉ tiêu về tính hấp dẫn của TNDL, giá cả, khả năng tiếp cận, tổ chức quản lí, khả năng xúc tiến, đầu tư…Qua đó kết luận, trong nhiều tiêu chí Việt Nam và Trung Quốc có nhiều sự tương đồng, riêng khả năng đầu tư, xúc tiến du lịch Việt Nam còn nhiều hạn chế so với Trung Quốc

Trang 20

Các công trình nghiên cứu trên không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận, mà còn có giá trị về mặt phương pháp và thực tiễn, là cơ sở để tác giả rút ra kinh nghiệm trong khi thực hiện đề tài này

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Đề tài cũng đề xuất những giải pháp cụ thể, thiết thực có thể vận dụng vào việc phát triển SPDL sinh thái biển, đảo Cà Mau theo hướng bền vững

8 Cấu trúc luận văn: Gồm 03 chương (không kể mở đầu và kết luận)

Chương 1: Cơ sở lí luận về phát triển và đánh giá SPDL

Chương 2: Đánh giá SPDL sinh thái biển, đảo tỉnh Cà Mau

Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển SPDL sinh thái biển đảo tỉnh

Cà Mau

Trang 21

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN

VÀ ĐÁNH GIÁ SẢN PHẨM DU LỊCH 1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Du lịch

Ngày nay, mặc dù du lịch đã trở nên phổ biến và là một phần không thể thiếu trong trong đời sống của con người, tuy nhiên khái niệm du lịch vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau

Theo I.I.Pirôgionic, 1985, “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời

gian rỗi, liên quan với sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên, nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức – văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hóa” [Dẫn theo 21, tr.15]

1.1.2 Du lịch sinh thái

Du lịch sinh thái (DLST) là một khái niệm mới xuất hiện vào cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 của thế kỉ XX, đã tạo nên hàng loạt những tranh luận và các ý kiến khác nhau

Định nghĩa DLST được xem như hoàn chỉnh được công bố lần đầu tiên bởi Hector

Ceballos – Lascurain năm 1987: “DLST là du lịch đến những khu vực tự nhiên còn ít

bị thay đổi, với những mục đích đặc biệt: nghiên cứu, tham quan với ý thức trân trọng thế giới hoang dã và những giá trị văn hóa được khám phá” [7, tr.11]

Còn theo định nghĩa của Hiệp hội du lịch sinh thái quốc tế: “DLST là việc đi lại có

trách nhiệm tới các khu vực thiên nhiên mà bảo tồn được môi trường và cải thiện phúc lợi cho người dân địa phương” [9, tr.10]

Ngoài ra, tùy theo mục tiêu, chiến lược phát triển mà mỗi quốc gia trên thế giới cũng đưa ra khái niệm DLST riêng:

Tại Việt Nam, DLST đã thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu từ giữa thập niên 90 của thế kỉ XX Theo đó, cũng có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm DLST Để tạo ra sự thống nhất về mặt lí luận cho công tác nghiên cứu, Tổng cục Du lịch Việt Nam đã đưa ra khái niệm về DLST trong Hội thảo quốc gia về “Xây dựng

Trang 22

chiến lược phát triển DLST ở Việt Nam” tháng 9 năm 1999: “DLST là loại hình du

lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nổ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương” [9, tr.11]

1.1.3 Du lịch sinh thái biển, đảo

DLST biển, đảo hay còn gọi là du lịch biển, đảo Trong tiếng Anh có khái niệm

“Marine Ecotourism” có nghĩa là DLST biển, được hiểu là du lịch gắn với hệ sinh thái

tự nhiên vùng biển và các giá trị nhân văn gắn liền với chúng Trong khái niệm này, phạm vi vùng đảo không được đề cập đến, tuy nhiên, trong nghiên cứu này, tác giả tiếp cận loại hình DLST gắn liền với phạm vi vùng biển và các đảo lân cận (Marine and Island Ecotourism)

Theo tác giả Đinh Kiệm (2013): “DLST biển, đảo là loại hình du lịch cụ thể, dựa

vào môi trường biển, bờ và hải đảo có trách nhiệm hỗ trợ cho các mục tiêu bảo tồn môi trường thiên nhiên, các giá trị văn hóa của cộng đồng dân cư đang sinh sống ở vùng duyên hải và hải đảo DLST biển, đảo chú trọng đề cao sự tham gia tích cực của người dân địa phương vào việc hoạch định quản lí và khai thác một cách có hiệu quả các nguồn TNDL trên cơ sở bảo tồn và phát triển bền vững, tạo điều kiện mang lại lợi ích kinh tế - xã hội cho toàn cộng đồng” [7, tr.14]

Có thể hiểu, DLST biển, đảo và loại hình DLST dựa vào thiên nhiên là bờ biển, đảo

để tắm biển, nghỉ ngơi, vui chơi…kết hợp với những giá trị văn hóa bản địa gắn với

giáo dục môi trường

DLST biển, đảo được xây dựng và phát triển trên cơ sở khai thác tài nguyên du lịch

tự nhiên ven biển, gồm vùng nước, bờ cát…và các hòn đảo tự nhiên Trên cơ sở khai thác đồng thời với tài nguyên du lịch nhân văn

Trong phát triển du lịch biển, đảo yếu tố tự nhiên có ảnh hưởng rất lớn, bên cạnh việc tạo ra nguồn tài nguyên du lịch phong phú, tự nhiên cũng tạo nên một số hạn chế nhất định, đặc biệt là tạo nên tính mùa vụ và khó khăn, tốn kém trong việc xây dựng

và cải tạo cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất phục vụ du lịch

Trang 23

1.1.4 Sản phẩm du lịch và sản phẩm du lịch đặc thù

1.1.4.1 Khái niệm

Sản phẩm du lịch (SPDL) là điểm đặc trưng của ngành du lịch, trên thế giới có nhiều khái niệm SPDL khác nhau:

Theo Từ điển du lịch tiếng Đức, nhà xuất bản Berlin, năm 1984, “SPDL là sự kết

hợp những dịch vụ và phương tiện vật chất trên cơ sở khai thác các tiềm năng du lịch nhằm cung cấp cho du khách một khoảng thời gian thú vị, một kinh nghiệm du lịch trọn vẹn và sự hài lòng”

Ở Việt Nam, SPDL là tập hợp các dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu của du khách trong các chuyến du lịch (Theo điều 4, chương 1, Luật Du lịch Việt Nam)

Như vậy, có thể hiểu SPDL là các yếu tố hữu hình gồm hàng hóa, cơ sở vật chất và

yếu tố vô hình là các dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu và mong muốn của khách du lịch được tạo nên bởi tài nguyên du lịch

Về cơ cấu, SPDL bao gồm 3 yếu tố: tài nguyên du lịch, cơ sở vật chất và các hàng hóa, dịch vụ du lịch

1.1.4.2 Đặc điểm

SPDL mang những đặc điểm sau:

- SPDL có tính tổng hợp Đặc điểm này được biểu hiện ở chổ SPDL kết hợp nhiều loại dịch vụ do nhiều đơn vị, cá nhân thuộc các ngành khác nhau cung cấp nhằm đáp ứng nhu cầu của du khách SPDL vừa bao gồm sản phẩm vật chất tinh thần, vừa bao gồm sản phẩm phi lao động và cả các tài nguyên thiên nhiên Đặc điểm này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phận tham gia cung ứng SPDL để tạo ra SPDL tốt nhất

- Các SPDL gồm các sản phẩm hữu hình và sản phẩm vô hình Một số dịch vụ du lịch có tính hữu hình như hàng hóa bán lẻ, đồ ăn uống…Ngoài ra, hầu hết các SPDL là sản phẩm vô hình như các dịch vụ như lưu trú, tham quan…

- Quá trình sản xuất và tiêu dùng SPDL diễn ra đồng thời SPDL thường gắn với tài nguyên du lịch, chính đặc điểm này đã tạo nên tính không thể chuyển dịch của SPDL Khách du lịch chỉ có thể tiến hành tiêu dùng sản phẩm tại chổ, không thể di chuyển từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ, cũng như không thể chuyển quyền sở hữu sản phẩm giữa

Trang 24

người mua và người bán Khách du lịch chỉ có quyền sử dụng tạm thời chứ không có quyền sở hữu SPDL

- SPDL có tính không đồng nhất và dễ thay đổi Đặc tính này chủ yếu là do SPDL thường gắn với nhu cầu của khách hàng và điều kiện tài nguyên Không thể tiêu chuẩn hóa các SPDL và các SPDL không hoàn toàn như nhau ở mọi thời điểm vì nhu cầu của khách hàng luôn thay đổi và thị hiếu ngày càng cao, chính vì thế SPDL cũng phải thay đổi để thích nghi với yêu cầu của thị trường Bên cạnh đó, tùy vào điều kiện tài nguyên

mà các SPDL ở từng vùng mang những đặc điểm khác nhau

- Có nhiều nhà cung ứng, nhiều ngành kinh tế tham gia tạo ra Một SPDL luôn có

sự phối hợp giữa các nhà cung ứng để tạo ra sản phẩm như hệ thống nhà hàng, khách sạn, giao thông, công ty du lịch lữ hành, cộng đồng địa phương…

- Tính thời vụ trong tiêu dùng SPDL Tính thời vụ trong du lịch thể hiện rất rõ ràng,

“mùa du lịch” chịu sự chi phối của điều kiện tự nhiên và các hoạt động kinh tế xã hội khác Ở nước ta, “mùa du lịch” thường là mùa hè hoặc vào các dịp lễ, tết…

1.1.4.3 Vai trò

SPDL là một trong số ít những yếu tố có vai trò quyết định đến sự phát triển du lịch về quy mô và loại hình SPDL cùng với tài nguyên du lịch và cơ sở hạ tầng vật chất kĩ thuật là những yếu tố quyết định sự phát triển và quy mô của ngành du lịch một vùng, một quốc gia SPDL đóng vai trò là nhân tố tạo nên sức hút của toàn ngành du lịch, tạo điều kiện để mở rộng thị trường khách du lịch Trong đó, chất lượng SPDL và tính đặc thù sẽ mang lại khả năng cạnh tranh cao cho SPDL

1.1.5 Đánh giá sản phẩm du lịch

Thuật ngữ đánh giá, trong tiếng Anh là Evaluation, được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau Theo nghĩa chung nhất, đánh giá được xem là việc đưa ra những nhận định, xác nhận giá trị thực trạng của một sự việc, một vấn đề nào đó như chất lượng, trình độ, sự phát triển…so với mục tiêu hay tiêu chuẩn đã được đề ra

Như vậy, đánh giá SPDL là việc đưa ra những nhận định về trình độ, sự phát triển và chất lượng của SPDL so với các tiêu chí, tiêu chuẩn đã được đề ra

Đánh giá SPDL bao gồm việc đánh giá các thành phần: tài nguyên du lịch, cơ sở

hạ tầng vật chất kĩ thuật phục vụ du lịch, các dịch vụ cung cấp…

Trang 25

1.2 Các yếu tố tạo sản phẩm du lịch

SPDL là một khái niệm phức tạp, không chỉ bởi tính vô hình mà còn phức tạp bởi những yếu tố cấu thành Dựa trên khái niệm SPDL, có thể thấy một SPDL được tạo thành từ 3 yếu tố cơ bản chính là: Tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng - vật chất kĩ thuật

và các dịch vụ, hàng hóa… phục vụ nhu cầu của du khách

- Tài nguyên du lịch

Đây là yếu tố cơ bản của SPDL, là nền tảng để hình thành và phát triển SPDL Ngoài ra, TNDL còn quyết định quy mô, cơ cấu và khả năng khai thác SPDL của một địa phương cụ thể Có nhiều quan điểm khác nhau về TNDL:

Theo sách Địa lí du lịch của PGS.TS Nguyễn Minh Tuệ và nhóm tác giả: “Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên và văn hóa - lịch sử các thành phần của chúng góp phần khôi phục và phát triển thể lực và trí lực của con người, khả năng lao động và sức khỏe của họ, những tài nguyên này được sử dụng cho nhu cầu trực tiếp và gián tiếp cho việc sản xuất dịch vụ du lịch” [21, tr.33]

TNDL còn được hiểu là “cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình lao động sáng tạo của con người có thể sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch; là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sức hấp dẫn du lịch” [Dẫn theo 9, tr 36]

Trong đó, TNDL sinh thái được xem là một bộ phận của TNDL, bao gồm các thành phần và các thể tổng hợp tự nhiên, văn hóa bản địa, gắn với hệ sinh thái được khai thác, sử dụng để tạo ra SPDL gắn với hệ sinh thái

Về cơ cấu, tài nguyên du lịch được phân thành 2 loại:

+ Tài nguyên du lịch tự nhiên: các cảnh quan, hệ sinh thái tự nhiên, các yếu tố sinh, khí hậu khác…

+ Tài nguyên du lịch nhân văn: cảnh quan nhân tạo, di tích lịch sử-văn hóa, kiến trúc, lễ hội, truyền thống văn hóa,…

- Cơ sở hạ tầng-vật chất kĩ thuật phục vụ du lịch

Cơ sở hạ tầng-vật chất kĩ thuật ảnh hưởng đến việc khai thác TNDL Trong đó, cơ

sở hạ tầng bao gồm hệ thống giao thông, điện, nước…trong đó giao thông là yếu tố quan trọng nhất, đảm bảo sự kết nối giữa du khách với điểm du lịch và khả năng tiếp

Trang 26

cận của điểm du lịch Cơ sở vật chất kĩ thuật bao gồm cở sở vật chất kỹ thuật của ngành du lịch và của các ngành kinh tế khác được sử dụng để phục vụ du lịch Các cơ

sở này bao gồm hệ thống cơ sở phục vụ lưu trú, ăn uống, giải trí, trung tâm mua sắm,

hệ thống thông tin liên lạc, cơ sở y tế, các cơ sở phục vụ khác như trạm xăng, sửa chữa

xe, giặt ủi, tiệm tóc, spa…

- Các dịch vụ du lịch phục vụ nhu cầu du khách

Các dịch vụ du lịch chính là các sản phẩm từ việc khai thác TNDL và CSHT-VCKT

để phục vụ nhu cầu của du khách Các dịch vụ này thường mang tính chất vo hình vì thế, thông thường các dịch vụ được gắn với một cơ sở vật chất cụ thể, để định hình SPDL

1.3 Kinh nghiệm thực tiễn đánh giá sản phẩm du lịch

1.3.1 Trên thế giới

Trên thế giới, việc đánh giá SPDL thể hiện thông qua việc đánh giá chất lượng dịch

vụ du lịch, trong đó có các mô hình đánh giá chất lượng dịch vụ thông qua cảm nhận của khách hàng được sử dụng phổ biến Các mô hình bao gồm1:

- Mô hình đánh giá chất lượng cảm nhận được của Gronroos năm 1990

- Mô hình năm khoảng cách của Parasuraman, Zeithaml và Berry năm 1997

- Các công cụ như bảng hỏi sự hài lòng của khách hàng, đánh giá thị trường, báo

cáo điều tra, đánh giá theo hệ thống các tiêu chuẩn đã được đặt ra…

+ Tại Anh, việc đánh giá SPDL thông qua việc cấp chứng chỉ cho các điểm tham quan, được quản lí bởi VisitEngland Hệ thống này được đưa vào thử nghiệm năm

1998, đến năm 2007 đã được phổ biến trên cả nước Anh Các giám định viên sẽ đóng vai trò là một khách hàng để đánh giá chất lượng dịch vụ tại các điểm đến một cách bất ngờ Với những điểm đến đạt tiêu chuẩn sẽ được cấp chứng chỉ Ngoài ra, với những điểm đến nhỏ, chưa đủ chuẩn tham gia vào hệ thống thì cũng được đánh giá để

cấp chứng chỉ cho điểm đến thú vị

+ Tại Hàn Quốc, một hình thức của việc đánh giá SPDL chính là đánh giá chất lượng tour du lịch trọn gói Seoul Chương trình này được giới thiệu vào năm 2013 bởi

1 Bài viết “Kinh nghiệm quốc tế về quản lí chất lượng du lịch” của phòng Quản lí khoa học và hợp tác quốc

tế, thuộc Viện nghiên cứu phát triển du lịch, đăng ngày 17/11/2014

Trang 27

cơ quan quản lí du lịch Seoul Với mục tiêu là nâng cao chất lượng các tour du lịch tại Seoul, giảm thiểu các vấn đề tiêu cực ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng Đáng chú ý, trong chương trình này có sử dụng các bảng hỏi, phiếu điều tra sự hài lòng của khách du lịch về tour du lịch đã tham gia Đây cũng là phương pháp tác giả

sử dụng trong quá trình thực hiện nghiên cứu của mình Việc đánh giá chất lượng của tour được thực hiện theo các yếu tố như cơ sở lưu trú, các điểm tham quan, điểm ăn uống, hướng dẫn viên và các dịch vụ hỗ trợ khác…Các tiêu chí đánh giá gồm tính độc đáo, sự an toàn, sức hút của tour và hiệu quả kinh tế, trên thang điểm 100, những doanh nghiệp nào đạt từ 70 điểm trở lên sẽ được cấp chứng chỉ chất lượng

+ Ở Tây Ban Nha, đã sử dụng mô hình Q trong đánh giá chất lượng SPDL Năm

1996, Tổng cục du lịch Tây Ban Nha đã thực hiện đề án về Hệ thống chất lượng du lịch Tây Ban Nha, nhằm mục tiêu cung cấp cho các doanh nghiệp du lịch hệ thống quản lí và nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ của họ Bằng việc sử dụng nhãn chất lượng du lịch Tây Ban Nha (Nhãn Q), đại diện cho cả ngành du lịch Tây Ban Nha, thông qua đó, các SPDL của doanh nghiệp được công nhận bởi các tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ

Từ kinh nghiệm đánh giá SPDL của các nước, Việt Nam đã rút ra được những bài học quý báu cho việc quản lí chất lượng SPDL của Việt Nam về hệ thống tiêu chuẩn, các mô hình và hình thức áp dụng…Ngoài ra, đối với nghiên cứu này, tác giả cũng đã lựa chọn được những phương pháp phù hợp và những tiêu chí để đánh giá SPDL sinh thái biển, đảo của tỉnh Cà Mau

Trang 28

tiêu chí đánh giá riêng, tùy theo từng địa phương được nghiên cứu, trong đó các tiêu chí cơ bản là tính hấp dẫn, thời gian hoạt động du lịch, độ bền vững, sức chứa, vị trí…Đây là một trong những kinh nghiệm quan trọng mà tác giả có thể học tập để áp dụng trong phần đánh giá TNDL sinh thái biển, đảo- một bộ phận quan trọng của SPDL

Với nội dung khảo sát mức độ hài lòng của du khách, nhiều tác giả đã sử dụng phương pháp khảo sát thực tế tại các điểm du lịch bằng các mẫu hỏi và phỏng vấn trực tiếp Sau đó sử dụng các phần mềm thống kê như SPSS, STATA, SAS…, trong đó SPSS được nhiều tác giả lựa chọn trong thống kê mô tả kết quả khảo sát Trong nội dung nghiên cứu này, tác giả sử dụng phương pháp khảo sát để đánh giá sự hài lòng của du khách đối với các dịch vụ, chất lượng phục vụ của SPDL

1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc đánh giá sản phẩm du lịch

Từ những kinh nghiệm đánh giá SPDL trong và ngoài nước, tác giả rút ra một số nhân tố ảnh hưởng đến việc đánh giá một SPDL Trong quá trình đánh giá, người nghiên cứu cần chú ý đến các nhân tố này để đảm bảo việc đánh giá chính xác, khách quan và hiệu quả

1.4.1 Quy mô mẫu

Việc lựa chọn quy mô mẫu thể hiện độ tin cậy của kết quả khảo sát Vì vậy việc lựa chọn quy mô mẫu cần phù hợp và phải mang tính đại diện so với quy mô khách du lịch của địa điểm nghiên cứu Nếu quy mô khảo sát quá nhỏ sẽ dẫn đến kết quả khảo sát thiếu chính xác, độ tin cậy thấp Ngược lại, quy mô mẫu quá lớn sẽ tạo ra nhiều khó khăn và mất nhiều thời gian trong việc thu thập và xử lí thông tin Việc chọn mẫu khi đánh giá SPDL phải phù hợp với yêu cầu và mục đích của việc nghiên cứu

1.4.2 Đặc trưng của sản phẩm du lịch

SPDL về bản chất là một yếu tố phức tạp bao gồm nhiều bộ phận cấu thành, trong khi các bộ phận này lại mang tính tương đối, không định hình một cách rõ ràng Vì tính chất vô hình của SPDL, nên việc đánh giá SPDL gặp nhiều khó khăn, mà trước hết là việc lựa chọn phương pháp đánh giá

Trang 29

1.4.3 Khách du lịch

Khách du lịch là thành tố quan trọng nhất của hoạt động du lịch, không thể có hoạt động du lịch nếu không có du khách Vì vậy sự hài lòng của du khách là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của bất kì một SPDL nào Việc đánh giá SPDL dựa trên sự hài lòng của du khách sẽ bị chi phối bởi các yếu tố mang tính cá nhân như trình

độ, tuổi tác, giới tính, sở thích và nhu cầu… của mỗi người Mỗi du khách có một đặc điểm khác nhau, chính vì thế việc đánh giá sự hài lòng ở mức độ nhất định chỉ mang tính tương đối Một số du khách không sẵn lòng với việc khảo sát, gây khó khăn cho công tác thu thập thông tin Ngoài ra, kết quả khảo sát còn bị chi phối bởi việc một số

du khách chưa nhiệt tình, trả lời câu hỏi một cách qua loa, không đọc kĩ câu hỏi nên phần trả lời đôi khi chưa khách quan Vì vậy, công tác chọn lọc các mẫu có ý nghĩa sau khi khảo sát là công việc cần thiết để tránh những sai sót như trên làm ảnh hưởng đến tính chính xác của kết quả

Ngoài các nhân tố trên, việc đánh giá SPDL còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố như

sự hỗ trợ của các cơ quan quản lí du lịch, ban quản lí các khu, điểm du lịch, việc lựa chọn đối tượng khảo sát…

1.4.4 Đánh giá tài nguyên du lịch

Như đã trình bày, TNDL là một trong những yếu tố cơ bản, là cơ sở để hình thành SPDL Để đánh giá SPDL, cần thông đánh giá yếu tố TNDL, vì vậy việc đánh giá TNDL có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả đánh giá của một SPDL Tuy nhiên, TNDL lại là yếu tố mang tính vô hình, vì vậy việc đánh giá một cách chính xác gặp rất nhiều khó khăn Thông thường, việc đánh giá TNDL chỉ mang tính tương đối, dẫn đến việc đánh giá SPDL cũng mang tính chất tương đối Bên cạnh đó, yếu tố TNDL cũng chi phối mạnh mẽ các yếu tố khác như điều kiện CSHT-VCKT và sự hài lòng, sự yêu thích của du khách đối với SPDL Qua đó, có thể thấy, việc đánh giá SPDL là một trong những thao tác quan trọng và hết sức cần thiết trong việc đánh giá SPDL

1.5 Phương pháp đánh giá

Việc lựa chọn phương pháp đánh giá là yếu tố rất quan trọng vì phương pháp là cách thức tạo ra kết quả cuối cùng của việc đánh giá SPDL Tính khoa học, khách quan của việc đánh giá chịu ảnh hưởng trực tiếp của phương pháp đánh giá Chọn lựa

Trang 30

phương pháp đánh giá phù hợp với yêu cầu và mục đích nghiên cứu là yếu tố quan trọng đầu tiên khi tiến hành đánh giá SPDL nói chung và SPDL sinh thái biển, đảo nói riêng

Phương pháp chủ yếu tác giả sử dụng để đánh giá SPDL sinh thái biển, đảo tỉnh

Cà Mau là đánh giá định tính dựa trên kết quả khảo sát khách du lịch và phỏng vấn chuyên gia Nội dung đánh giá gồm tài nguyên du lịch và sự hài lòng của du khách đối với SPDL Nguồn số liệu sử dụng bao gồm số liệu thứ cấp do các cơ quan chức năng cung cấp và số liệu sơ cấp thu thập từ kết quả khảo sát

1.5.1 Phương pháp khảo sát

Việc lấy ý kiến khảo sát được tiến hành bằng 2 phương pháp: khảo sát bằng phiếu hỏi (du khách) và phỏng vấn trực tiếp (chuyên gia)

Về địa bàn đánh giá SPDL sinh thái biển, đảo tỉnh Cà Mau, tác giả lựa chọn 9 điểm

du lịch tiêu biểu thuộc 4 huyện trong vùng biển đảo Cà Mau gồm Ngọc Hiển, U Minh, Năm Căn và Trần Văn Thời Dựa trên hiện trạng phát triển của du lịch tỉnh Cà Mau, đây là 4 huyện ven biển có hoạt động du lịch nổi bật hơn cả Hai huyện còn lại là Phú Tân và Đầm Dơi hầu như hoạt động du lịch còn rất hạn chế, không có điểm du lịch nào thu hút được số lượng du khách đáng kể Các địa điểm được chọn đánh giá là những địa điểm tiêu biểu về du lịch, thu hút được một lượng khách đáng kể như KDL Mũi Cà Mau, VQG U Minh Hạ, KĐDSH Sông Trẹm, KĐDSH 184, Hòn Đá Bạc, KDL Khai Long Trong đó, 3 địa điểm KĐDSH Sông Trẹm, KĐDSH 184, VQG U Minh Hạ được lựa chọn khảo sát trong mối quan hệ liên kết với các địa điểm còn lại,

vì đặc điểm phát triển SPDL tại khu vực biển, đảo Cà Mau là khai thác theo tuyến Vì vậy, tác giả đưa thêm 3 điểm khảo sát này để có cái nhìn tổng quan hơn về SPDL sinh thái biển, đảo của tỉnh Riêng 3 địa điểm Hòn Khoai, Cồn Ông Trang, Bến Vàm Lũng tuy chưa có hoạt động du lịch sôi nổi nhưng là các điểm du lịch nằm trong quy hoạch phát triển du lịch của tỉnh

Đối tượng được lựa chọn khảo sát bao gồm khách du lịch tại các điểm, khu du lịch, cán bộ quản lý, chính quyền địa phương và người dân địa phương Trong đó, phiếu khảo sát sẽ áp dụng cho đối tượng là khách du lịch, người địa phương và cán bộ quản

Trang 31

lí du lịch Phương pháp phỏng vấn trực tiếp sử dụng cho đối tượng là cán bộ quản lí, người dân và chính quyền địa phương

Với đối tượng khách du lịch, quy mô mẫu tiến hành khảo sát là 200 mẫu Việc khảo sát sẽ tiến hành ngẫu nhiên với các du khách tại 9 điểm du lịch tiêu biểu bao gồm VQG U Minh Hạ, KDL Mũi Cà Mau, KĐDSH Sông Trẹm, Hòn Đá Bạc, KDL Mũi Khai Long, Hòn Khoai, Bến Vàm Lũng, Cồn Ông Trang, KĐDSH 184; Đối tượng khảo sát gồm khách nội địa và khách quốc tế, do số lượng khách du lịch có trên 98%

là khách nội địa, nên việc phân bố mẫu khảo sát gồm 185 mẫu khách nội địa và 15 mẫu khách nước ngoài Trong đó, tỉ lệ nam và nữ khá đồng đều với với 50.6 % nam và 49.4% nữ Độ tuổi của người được khảo sát nằm trong khoảng từ 15 đến 47 tuổi, trong

đó chiếm tỉ lệ cao nhất là độ tuổi từ 23 đến 27 tuổi (chiếm 72.3%) Trình độ học vấn của người được khảo sát từ cấp tiểu học đến thạc sĩ, trong đó đa phần có trình độ đại học chiếm 46.1% Số du khách tham gia khảo sát là người Cà Mau chiếm 41.7%, còn lại là du khách đến từ các tỉnh trong khu vực ĐBSCL (chiếm 39.4%), Thành phố Hồ Chí Minh (chiếm 8.4%), các tỉnh khác và khách nước ngoài (chiếm 10.5%)

Với phương pháp phỏng vấn trực tiếp, mẫu khảo sát là 20 người, trong đó bao gồm cán bộ quản lý của các địa điểm du lịch nêu trên, chính quyền địa phương, cán bộ quản

lí du lịch của tỉnh và người dân địa phương

Việc lựa chọn 2 phương pháp khảo sát và đối tượng khảo sát đa dạng, nhằm đảm bảo tính khách quan và chính xác cho kết quả nghiên cứu Đồng thời, với quy mô mẫu như trên, kết quả khảo sát đáp ứng được yêu cầu về tính khách quan, khoa học và đáng tin cậy

1.5.2 Tiêu chí và tiêu chuẩn đánh giá

1.5.2.1 Đánh giá tài nguyên du lịch

* Tiêu chí đánh giá

Tài nguyên du lịch được đánh giá bằng thang điểm 4 bậc theo 6 tiêu chí: tính hấp dẫn, tính thời vụ, tính bền vững, tính an toàn, sức chứa và tính liên kết

* Tiêu chuẩn đánh giá

Với mỗi tiêu chí sẽ được đánh giá theo tiêu chuẩn 4 bậc tương ứng với số điểm từ thấp đến cao là 1,2,3,4 Tiêu chuẩn đánh giá 4 bậc của các tiêu chí cụ thể như sau:

Trang 32

-Tiêu chí 1: Tính hấp dẫn

Tính hấp dẫn của tài nguyên du lịch là yếu tố quan trọng nhất vì nó tạo ra sức hút đối với du khách và cũng quyết định sức hấp dẫn của SPDL Các tiêu chuẩn đánh giá tính hấp dẫn gồm 4 bậc:

(1)- Kém hấp dẫn: TNDL có ý nghĩa hạn chế, sức hút đối với du khách kém

(2)- Trung bình: TNDL có ý nghĩa địa phương, sức hút đối với du khách ở mức trung bình

(3)- Khá hấp dẫn: Nơi có TNDL quan trọng, có ý nghĩa đối với một vùng, sức hút đối với du khách cao

(4)-Rất hấp dẫn: Nơi có TNDL nổi bật, có ý nghĩa đối với cả nước và quốc tế, sức hút đối với du khách rất cao

(1)- Kém: Có từ 1-2 yếu tố bị phá hủy nặng nề, cần sự khôi phục của con người, hoạt động du lịch bị gián đoạn

(2)- Trung bình: Có từ 1-2 yếu tố bị phá hủy đáng kể, phải có con người hỗ trợ mới khôi phục được, hoạt động du lịch bị hạn chế

(3)- Khá bền vững: Có từ 1-2 yếu tố bị phá hủy nhẹ, có thể tự khôi phục, hoạt động

du lịch diễn ra thường xuyên

Trang 33

(4)- Rất bền vững: Hầu như không có yếu tố nào bị phá hủy, hoạt động du lịch diễn

(1)- Kém: Có 1 hoặc không có điểm TNDL nào có thể liên kết

(2)- Trung bình: Có 2-3 điểm TNDL có thể liên kết

(3)- Khá tốt: có từ 4-5 điểm TNDL có thể liên kết

(4)- Rất tốt: Có trên 5 điểm TNDL có thể liên kết

1.5.2.2 Đánh giá cơ sở hạ tầng-vật chất kĩ thuật

Đây là yếu tố có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến hoạt động khai thác TNDL để phát triển SPDL Yếu tố này được đánh giá thông qua số lượng, chất lượng và tính đồng bộ của chúng và cũng được đánh giá theo tiêu chuẩn 4 bậc:

Trang 34

(1)- Kém: Thiếu CSHT-VCKT, những điều kiện đã có thì chất lượng thấp hoặc chỉ mang tính tạm thời

(2)- Trung bình: Có CSHT-VCKT, nhưng chưa đầy đủ, chưa tiện nghi

(3)- Khá tốt: Có CSHT-VCKT tương đối đồng bộ, đủ tiện nghi, đạt tiêu chuẩn quốc gia

(4)- Rất tốt: Có CSHT-VCKT đồng bộ, đủ tiện nghi, đạt tiêu chuẩn quốc tế

1.5.2.3 Đánh giá sự hài lòng của du khách

Trên cơ sở những đánh giá về TNDL và kết quả khảo sát từ bảng hỏi, sự hài lòng của du khách được đánh giá theo 5 mức độ: không hài lòng, trung bình, khá hài lòng, hài lòng và rất hài lòng Đánh giá sự hài lòng dựa trên phần trăm du khách đánh giá theo các mức độ, từ đó đưa ra những kết luận cần thiết

Trên cơ sở đánh giá các yếu tố của SPDL, tác giả đưa ra những đánh giá chung về thế mạnh và hạn chế của SPDL sinh thái biển, đảo tỉnh Cà Mau

Trang 35

Tiểu kết chương 1

SPDL sinh thái biển, đảo là loại hình DLST dựa trên hệ thống tài nguyên (tự nhiên

và nhân văn) của khu vực bờ biển và đảo để đáp ứng nhu cầu của du lịch của du khách SPDL có vai trò quan trọng trong việc định hình sự phát triển và khả năng cạnh tranh của du lịch một tỉnh, vùng, quốc gia…Chính vì vậy, việc đánh giá SPDL là công việc cần thiết và được chú trọng ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam Đánh giá SPDL thể hiện ở mức độ nhất định trình độ phát triển, chất lượng của sản phẩm để qua đó đưa ra những định hướng và giải pháp phát triển phù hợp Tuy nhiên, công tác đánh giá SPDL là việc không dễ dàng và bị chi phối bởi nhiều nhân tố như phương pháp đánh giá, quy mô mẫu, đặc điểm khách du lịch…

Trang 36

Chương 2 ĐÁNH GIÁ SẢN PHẨM DU LỊCH SINH THÁI

BIỂN, ĐẢO TỈNH CÀ MAU 2.1 Khái quát về tỉnh Cà Mau

2.1.1 Vị trí địa lí

Cà Mau là tỉnh nằm ở cực Nam của Việt Nam, thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) Nằm trong hệ tọa độ 8o34’B đến 9o33’B và 104o43’Đ đến 105o25’Đ, với phần diện tích đất liền trên 5,294 km2, cách thành phố Hồ Chí Minh 370 km, cách thành phố Cần Thơ 180 km về phía Nam [4] Phía Bắc giáp tỉnh Kiên Giang, phía Đông Bắc giáp tỉnh Bạc Liêu, phía Đông và Đông Nam giáp biển Đông, phía Tây giáp Vịnh Thái Lan Cà Mau nằm trên bán đảo Cà Mau, có vị trí địa lí khá đặc biệt, với 3 mặt giáp biển Cà Mau nằm ở trung tâm vùng biển các nước Đông Nam Á nên rất thuận lợi giao lưu, hợp tác kinh tế với các nước trong khu vực

Mũi Cà Mau cũng là nơi duy nhất trên đất liền có thể ngắm được cả buổi bình minh trên biển Đông và buổi hoàng hôn trên biển Tây

2.1.2 Phạm vi không gian vùng biển, đảo Cà Mau

Cà Mau là tỉnh duy nhất có 3 mặt giáp biển, với chiều dài đường bờ biển hơn 254

km [20] Trên địa bàn tỉnh Cà Mau, có 6/9 huyện, thành phố giáp biển bao gồm U Minh, Trần Văn Thời, Phú Tân, Năm Căn, Ngọc Hiển, Đầm Dơi Tuy nhiên, việc phát triển du lịch chỉ nổi bật ở 4 huyện Ngọc Hiển, U Minh, Trần Văn Thời, Năm Căn tương ứng với các điểm du lịch như Khu du lịch (KDL) Mũi Cà Mau, KDL Khai Long, Khu đa dạng sinh học (KĐDSH) sông Trẹm, Vườn Quốc gia (VQG) U Minh

Hạ, Hòn Đá Bạc, KĐDSH 184 Vì vậy, trong nội dung nghiên cứu này, tác giả chỉ tiến hành đánh giá việc phát triển SPDL sinh thái tại các khu du lịch tại 4 huyện ven biển

kể trên

Trang 37

Hình 2.1 Bản đồ khu vực biển, đảo Cà Mau và địa bàn nghiên cứu (Nguồn: Tác giả)

Trang 38

2.1.3 Đặc điểm tự nhiên

2.1.3.1 Địa hình

Tỉnh Cà Mau là một vùng đồng bằng thấp, địa hình bằng phẳng, độ cao trung bình 0,5 m đến 1,5 m so với mặt nước biển Hướng địa hình cao ở phía Bắc, Đông Bắc thấp dần xuống phía Nam, Tây Nam

Ven biển là vùng bãi bồi phù sa, là nơi sinh sống của các loài động, thực vật tạo nên một khu vực hệ sinh thái ngập mặn độc đáo đa dạng Đây cũng là một trong những tài nguyên phục vụ đắc lực cho du lịch và tạo nên nét đặc trưng cho du lịch tỉnh Cà Mau

và nóng lên toàn cầu

Gió là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận của du khách đến các vùng biển, đảo đặc biệt là các đảo hòn Đá Bạc, hòn Khoai, hòn Chuối… Chế độ gió ở đây vừa chịu ảnh hưởng của gió Tín Phong nhiệt đới, vừa mang tính chất của gió mùa châu Á Hàng năm có 2 mùa gió gió mùa mùa đông và gió mùa mùa hạ Tuy nhiên, nhìn chung tốc độ gió trung bình hàng năm ở Cà Mau nhỏ, trong đất liền chỉ từ 1,0 đến 2,0 m/s, ngoài khơi cũng chỉ từ 2,5 đến 3,5 m/s Vào mùa mưa thỉnh thoảng có dông, lốc, tốc độ gió tăng lên cấp 7, cấp 8 [35] Trên biển có bão nhưng không nhiều Đây là một trong những điều kiện thuận lợi cho các hoạt động kinh tế biển nói chung

và hoạt động du lịch trên biển, đảo nói riêng

2.1.3.3 Tài nguyên thiên nhiên

Nổi bật nhất trong đặc điểm tự nhiên đó là hệ thống tài nguyên rừng và tài nguyên biển

Trang 39

đa dạng, đứng thứ hai trên thế giới sau rừng Amazone ở Nam Mỹ Hệ thực vật phong phú với nhiều loại cây như: đước, mắm, vẹt, bần, sú, chà là, dương xỉ Theo thống kê, rừng ngập mặn Cà Mau có 101 loài cây trong đó có 32 loài chính thức, thuộc 27 họ

Về thành phần động vật có 28 loài thú, thuộc 12 họ, trong đó có 5 loài nằm trong sách

đỏ Việt Nam, 1 loài trong sách đỏ IUCN như bộ linh trưởng (khỉ đuôi dài, voọc), bộ móng guốc ngón chẵn (heo rừng), bộ ăn thịt (chồn mướp, cáo mèo, cáo cộc, rái cá…),

74 loài chim, 17 loài bò sát, 5 loài lưỡng cư, 14 loài tôm, 175 loài cá, 133 loài động thực vật phiêu sinh [35]

Ngoài ra, trên các cụm đảo Hòn Khoai, Hòn Chuối… có hơn 710 ha rừng [6] Các

hệ sinh thái rừng là nguồn tài nguyên phục vụ đắc lực cho DLST và góp phần tạo nên những SPDL đặc thù của vùng đất cuối trời tổ quốc Rừng ngập mặn Cà Mau là hệ sinh thái đa dạng và độc đáo vào loại bậc nhất Việt Nam, trong đó VQG Mũi Cà Mau

và KĐDSH 184 là hai khu rừng ngập mặn ven biển được đề xuất ưu tiên bảo vệ và quản lí trong tương lai Theo nhận định của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, hai khu rừng này có giá trị rất lớn trong việc bảo tồn các hệ sinh thái tự nhiên và phát triển du lịch Bên cạnh đó, nơi đây rất thích hợp cho việc du lịch kết hợp với nghiên cứu, bởi cảnh quan tự nhiên còn khá hoang sơ, chưa chịu ảnh hưởng nhiều bởi bàn tay con người

Với những người yêu thích tự nhiên, muốn khám phá tự nhiên, thì đây là địa điểm lí tưởng, bởi vùng đất ngập mặn này là nơi sinh sống của một quần thể sinh vật vô cùng phong phú, đa dạng Đây cũng là tiềm năng để tỉnh phát triển SPDL trải nghiệm, khám phá thiên nhiên hoang dã Đặc biệt, khi VQG Mũi Cà Mau được công nhận là khu Ramsar thứ 2088 của thế giới, thì hình ảnh của vùng đất cuối trời Việt Nam càng được

Trang 40

nhiều người biết đến, đây cũng là một lợi thế trong việc quảng bá hình ảnh du lịch của tỉnh với bạn bè thế giới

Ngoài ra, trong khu Ramsar này còn có khu vực cồn Ông Trang, đây là một khu vực

có cảnh quan thiên nhiên lý thú, được bồi tụ tự nhiên, cùng với hệ động, thực vật và nguồn lợi hải sản phong phú rất thích hợp cho hoạt động du lịch kết hợp nghiên cứu và tìm hiểu về hệ sinh thái đất ngập nước ven biển điển hình

Bên cạnh hệ sinh thái đất ngập mặn, tỉnh Cà Mau còn ở hữu một hệ sinh thái độc đáo khác là các khu rừng tràm trên đất phèn Trong đó có hai khu rừng nổi bật là VQG

U Minh Hạ và KĐDSH Sông Trẹm VQG U Minh Hạ thuộc hai huyện U Minh và Trần Văn Thời, nơi đây có hệ động thực vật vô cùng phong phú, trong đó đặc sản mật ong rừng U Minh đã trở nên nổi tiếng khắp cả nước

Rừng tràm U Minh Hạ có diện tích khoảng 35,000 ha [35] Là một trong hai nơi duy nhất ở Việt Nam có hệ sinh thái đất ngập nước, rừng tràm trên đất phèn và đất than bùn Rừng tràm U Minh có giá trị đa dạng sinh học cao và đóng vai trò quan trọng đối với môi trường địa phương Trong rừng ngập lợ, cây tràm chiếm ưu thế, cũng nhiều loài động vật như heo rừng, khỉ, chồn, trăn, rùa…Đặc biệt, mật ong rừng tràm trở thành một trong những thương hiệu nổi tiếng và cho hiệu quả khai thác cao KĐDSH Sông Trẹm thuộc huyện U Minh, nơi đây cũng cung cấp nhiều sản vật và

là khu vực phát triển DLST tiêu biểu của huyện Với hai điểm này, Cà Mau có nhiều điều kiện phát triển du lịch trải nghiệm cuộc sống của người dân sống trong lâm phần, tham quan nghiên cứu Đến đây du khách được đắm mình trong thiên nhiên hoang sơ

và thưởng thức những đặc sản của các khu rừng tràm, được xem là nét đặc trưng của vùng đất Cà Mau

- Tài nguyên biển

Trên biển có các đảo Hòn Khoai, Hòn Chuối, Hòn Buông, Hòn Đá Bạc với cảnh trí hoang sơ là điểm thu hút du khách đến với vùng đất này Biển Cà Mau là một trong 4 ngư trường trọng điểm của cả nước, với trữ lượng hải sản dồi dào, phong phú với trữ lượng khoảng 850 ngàn tấn cá, với 661 loài, 319 giống, thuộc 138 họ [35] Nhiều loại tôm cá có giá trị và sản lượng lớn như tôm, mực, ghẹ, cá hồng, cá sạo, cá thu, cá chim,

cá mú, cá bốp… Vùng mặt nước ven biển có khả năng nuôi các loại thủy, hải sản như

Ngày đăng: 03/04/2018, 13:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w