1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Đánh giá hoạt động XKLĐ điều dưỡng viên Việt Nam sang Nhật Bản theo chương trình JVEPA (2012 - 2016) (Luận văn thạc sĩ)

136 288 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 4,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá hoạt động XKLĐ điều dưỡng viên Việt Nam sang Nhật Bản theo chương trình JVEPA (2012 2016) (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá hoạt động XKLĐ điều dưỡng viên Việt Nam sang Nhật Bản theo chương trình JVEPA (2012 2016) (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá hoạt động XKLĐ điều dưỡng viên Việt Nam sang Nhật Bản theo chương trình JVEPA (2012 2016) (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá hoạt động XKLĐ điều dưỡng viên Việt Nam sang Nhật Bản theo chương trình JVEPA (2012 2016) (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá hoạt động XKLĐ điều dưỡng viên Việt Nam sang Nhật Bản theo chương trình JVEPA (2012 2016) (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá hoạt động XKLĐ điều dưỡng viên Việt Nam sang Nhật Bản theo chương trình JVEPA (2012 2016) (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá hoạt động XKLĐ điều dưỡng viên Việt Nam sang Nhật Bản theo chương trình JVEPA (2012 2016) (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá hoạt động XKLĐ điều dưỡng viên Việt Nam sang Nhật Bản theo chương trình JVEPA (2012 2016) (Luận văn thạc sĩ)

Trang 1

Nguyễn Thị Hội

ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG

ĐIỀU DƯỠNG VIÊN VIỆT NAM SANG NHẬT BẢN

THEO CHƯƠNG TRÌNH JVEPA (2012-2016)

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Hội

ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG

ĐIỀU DƯỠNG VIÊN VIỆT NAM SANG NHẬT BẢN

THEO CHƯƠNG TRÌNH JVEPA (2012-2016)

Chuyên ngành: Địa lí học

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS PHẠM THỊ BÌNH

Thành phố Hồ Chí Minh – 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu của đề tài là trung thực và chưa từng công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hội

Trang 4

LỜI CÁM ƠN

Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ

quý báu Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Phạm Thị Bình - người đã trực

tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo cũng như tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô giáo Khoa Địa lý – Trường Đại học Sư phạm Tp.Hồ Chí Minh đã trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ và góp nhiều ý kiến quý giá cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành đề tài tốt nghiệp

Trong thời gian làm luận văn, tôi luôn nhận được sự động viên, giúp đỡ tốt nhất

từ thành viên lớp Địa lý học Khóa K26, cũng như người thân và bạn bè Bên cạnh đó, tôi cũng trân trọng cám ơn những anh/chị EPA ở Nhật Bản và anh/chị điều dưỡng ở Việt Nam đã tham gia khảo sát Tôi gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới những người đã luôn ủng hộ, chia sẻ và đồng hành cùng tôi

Xin chân thành cám ơn !

Tp.Hồ Chí Minh, ngày 28 tháng 9 năm 2017 Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hội

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các biểu đồ và sơ đồ

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG 10

1.1 Cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu 10

1.1.1 Khái niệm liên quan 10

1.1.2 Hoạt động XKLĐ 16

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài nghiên cứu 20

1.2.1 Tổng quan về tình hình XKLĐ của Việt Nam 20

1.2.2 Thị trường lao động Nhật Bản 24

1.2.3 Các chương trình XKLĐ điều dưỡng và hộ lý theo Hiệp định các nước 28

Chương 2 ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG XKLĐ ĐIỀU DƯỠNG VIỆT NAM THEO CHƯƠNG TRÌNH JVEPA (2012-2016) 39

2.1 Nguồn cung cầu lao động điều dưỡng và hộ lý 39

2.1.1 Nguồn cung 39

2.1.2 Nhu cầu điều dưỡng viên và hộ lý 42

2.2 Đánh giá kết quả các đợt tuyển dụng và đào tạo điều dưỡng viên và hộ lý 44

2.2.1 Giai đoạn ở Việt Nam 45

2.2.2 Giai đoạn lao động xuất cảnh và làm việc ở Nhật Bản 53

2.3 Thực trạng cuộc sống của ĐDV đang ở Nhật 57

2.3.1 Nguyên nhân thúc đẩy XKLĐ của 30 lao động VN 60

2.3.2 Khó khăn lao động điều dưỡng đối mặt tại Nhật 61

2.3.3 Ý kiến đề xuất của lao động điều dưỡng 63

Trang 6

2.4 Tác động của chương trình đến các ứng viên tiềm năng 64

2.4.1 Nhóm có nhu cầu đi XKLĐ theo chương trình EPA 65

2.4.2 Nhóm không có nhu cầu đi XKLĐ theo chương trình EPA 68

Tiểu kết chương 2 72

Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG – GIẢI PHÁP 73

3.1 Định hướng 73

3.1.1 Cơ sở định hướng 73

3.1.2 Định hướng 80

3.2 Giải pháp để nâng cao chất lượng, tăng cường hiệu quả XKLĐ điều dưỡng và hộ lý trong tình hình hiện nay 81

3.2.1 Mở rộng thêm mạng lưới cơ sở đào tạo nhân lực cho chương trình 82

3.2.2 Nâng cao chất lượng cho các ứng viên điều dưỡng và hộ lý VN 82

3.2.3 Quảng bá, cung cấp thông tin đầy đủ về chương trình XKLĐ 83

3.2.4 Mở rộng và phát triển thị trường lao động điều dưỡng 83

3.2.5 Tăng cường quản lý của Nhà nước và các bộ ngành có liên quan đến hoạt động XKLĐ theo Hiệp định EPA 84

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 86

TÀI LIỆU THAM KHẢO 88 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC VIẾT TẮT

ASEAN : Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

BLĐTBXH : Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội

CHXHCN : Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

CNH-HĐH : Công nghiệp hóa- hiện đại hóa

DOLAB : Cục quản lý lao động ngoài nước

ILO : Tổ chức lao động quốc tế

IOM : Tổ chức di cư quốc tế

NPO : Tổ chức phi lợi nhuận

JICWELS : Bộ Y tế Phúc lợi xã hội Nhật Bản

JIEPA : Hiệp định hợp tác kinh tế Nhật Bản – Indonexia JPEPA : Hiệp định hợp tác kinh tế Nhật Bản Philipin JVEPA : Hiệp định hợp tác kinh tế Nhật Bản – Việt Nam XKLĐ : Xuất khẩu lao động

WB : Ngân hàng thế giới

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Phân biệt khái niệm điều dưỡng và hộ lý (theo chương trình EPA) 15

Bảng 1.2 Các tiêu chí của chương trình EPA 35

Bảng 1.3 Nhân viên chăm sóc y tế nước ngoài ở Đài Loan giai đoạn 2000-2015 37

Bảng 2.1 Quy mô - cơ cấu ứng viên phỏng vấn (2012-2016) 47

Bảng 2.2 Quy mô – cơ cấu ứng viên tham gia khóa đào tạo 12 tháng (2012-2016) 49

Bảng 2.3 Số lượng ứng viên tham gia khóa đào tạo phân theo vùng (2012-2016) 50

Bảng 2.4 Quy mô-cơ cấu ứng viên xuất cảnh 53

Bảng 2.5 Trình độ ngoại ngữ của các ứng viên giai đoạn 2012-2016 54

Bảng 2.6 Kết quả thi kỳ thi CCQG Nhật Bản của điều dưỡng VN giai đoạn 2015-2017 55

Bảng 2.7 Tỉ lệ đậu kỳ thi CCQGNB của lao động Indonexia, Philipin và Việt Nam giai đoạn 2015-2017 56

Bảng 2.8 Thông tin về 30 mẫu khảo sát 57

Bảng 2.9 Những yếu tố được ứng viên đánh giá ban đầu trước khi XKLĐ 60

Bảng 2.10 Khó khăn của lao động điều dưỡng 61

Bảng 2.11 Sự hiểu biết về chương trình 65

Bảng 2.12 Kỳ vọng của nhóm sinh viên 66

Bảng 2.13 Kỳ vọng của nhóm điều dưỡng 67

Bảng 2.14 Nguyên nhân nhóm sinh viên ngại tham gia chương trình EPA 68

Bảng 3.1 Nhu cầu lao động điều dưỡng Việt Nam của Đức và Nhật giai đoạn 2018-2025 75

Trang 9

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1.1 Cơ cấu XKLĐ Việt Nam phân theo thị trường tiếp nhận năm

2016 24 Biểu đồ 1.2 Quy mô lao động Việt Nam xuất khẩu sang Nhật Bản giai đoạn

2005-2016 25 Biểu đồ 1.3 Dân số theo nhóm tuổi giai đoạn 1950-2015 và dự báo đến năm

2050 ở Nhật Bản 30 Biều đồ 2.1 Tỉ lệ điều dưỡng, hộ sinh phân theo trình độ năm 2015 40 Biểu đồ 2.2 Cung-cầu lao động điều dưỡng và hộ lý theo chương trình EPA

của Việt Nam, Philipin và Indonexia giai đoạn 2008-2015 42 Biểu đồ 2.3 Số lượng điều dưỡng, hộ lý Việt Nam làm việc ở Nhật Bản theo

chương trình EPA giai đoạn 2012-2016 44 Biểu đồ 2.4 Quy mô ứng viên tham gia đào tạo phân theo 7 vùng (2012-2016) 51 Biểu đồ 2.5 7 tỉnh/thành có lượng ứng viên tham gia khóa đào tạo đông nhất

qua 4 khóa (2012-2016) 52 Biểu đồ 2.6 Tỉ lệ đậu kì thi CCQGNB của ba nước trong giai đoạn 2015-2017 56 Biểu đồ 2.7 Mức độ hài lòng của lao động điều dưỡng Việt Nam về thu nhập

tại Nhật 2017 59 Biểu đồ 2.8 Mức thưởng trung bình hàng năm của điều dưỡng VN 2017 59 Biểu đồ 2.9 Đánh giá thu nhập của 2 nhóm 66

Trang 10

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1.1 Quy trình tuyển điều dưỡng và hộ lý Việt Nam theo chương trình

EPA 32

Sơ đồ 1.2 Quy định về việc làm và kỳ thi lấy chứng chỉ quốc gia Nhật Bản của

điều dưỡng và hộ lý theo chương trình EPA 34

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngày nay, khi quá trình toàn cầu hóa diễn ra sâu sắc, việc giao lưu hợp tác giữa các quốc gia phát triển lên một bậc mới, lao động di chuyển từ nước này sang nước khác trở nên rất phổ biến Bắt đầu từ năm 1980, Đảng và nhà nước ta đã bắt đầu hoạt động trao đổi lao động thông qua Hiệp định được thỏa thuận và ký kết giữa hai quốc gia Càng về sau, XKLĐ càng được đẩy mạnh Đây là một hoạt động tất yếu trong quá trình hội nhập Hoạt động này không chỉ góp phần giải quyết công ăn việc làm, cải thiện đời sống cho người dân mà còn mang lại nguồn thu ngoại tệ cho đất nước và tăng cường hợp tác quốc tế giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới Đông Bắc Á được xem là thị trường nhập khẩu lao động lớn của Việt Nam do có sự tương đồng về văn hóa cũng như gần nhau về khoảng cách địa lý Khu vực này gồm những quốc gia có nền kinh tế phát triển, có trình độ cao về khoa học công nghệ và hiện nay đang có nhu cầu nhập khẩu lao động lớn Nhật Bản là một trong số đó

Từ năm 1992, Nhật Bản bắt đầu tiếp nhận lao động Việt Nam, chủ yếu là những ngành nghề như cơ khí, xây dựng, chế biến hải sản, thực phẩm, hay trong lĩnh vực nông nghiệp Đáng chú ý, những năm gần đây, do sự già hóa dân số ngày càng trầm trọng, nên nhu cầu tuyển điều dưỡng và hộ lý rất lớn Hiện tại, Nhật đã tiếp nhận lao động đến từ ba nước trong khu vực Đông Nam Á, gồm có: Indonexia, Philipin và Việt Nam

Nằm trong khuôn khổ Hiệp định Đối tác kinh tế Việt Nam- Nhật Bản (JVEPA) được ký kết vào ngày 25 tháng 12 năm 2008, chương trình đưa lao động điều dưỡng và hộ

lý Việt Nam sang làm việc tại Nhật Bản đã bắt đầu triển khai từ năm 2012 Đến năm

2014, có 138 điều dưỡng và hộ lý Việt Nam đã đến Nhật đợt đầu tiên khởi đầu cho làn sóng XKLĐ về lĩnh vực chăm sóc sức khỏe Đây là cơ hội rất tốt để lao động VN làm việc và học tập những tiến bộ về y tế, kiến thức chuyên môn cũng như tác phong làm việc chuyên nghiệp của Nhật Bản Đến nay, đã có 4 khóa với 674 điều dưỡng và hộ lý đang làm việc ở Nhật Bản

JVEPA là một trong những chương trình đưa lao động đã qua đào tạo đi làm việc ở nước ngoài của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội Không giống với những làn sóng di

Trang 12

dân khác, Nhà nước có vai trò rất quan trọng trong việc quản lý, điều tiết số lượng và chất lượng của lao động Nhằm đánh giá, phân tích hoạt động XKLĐ của điều dưỡng Việt Nam theo chương trình JVEPA giai đoạn 2012-2016, tác giả chọn nghiên cứu đề tài:

“Đánh giá hoạt động XKLĐ điều dưỡng viên Việt Nam sang Nhật Bản theo chương trình JVEPA (2012-2016)” làm luận văn thạc sĩ

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài

2.1 Những nghiên cứu trong nước

Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề XKLĐ nói chung Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu chính thức nào về XKLĐ điều dưỡng và hộ lý theo chương trình JVEPA được thực hiện

Những đề tài có liên quan đến XKLĐ như “Triển vọng XKLĐ của Việt Nam sang Nhật Bản trong bối cảnh mới (2013-2020)”là luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị

Nhung (2015) Tác giả đã phân tích đánh giá được hoạt động XKLĐ của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản đồng thời đưa ra rất nhiều giải pháp nhằm hạn chế những tiêu cực phát sinh và thúc đẩy hoạt động XKLĐ hơn nữa trong thời gian tới

Luận văn thạc sĩ “XKLĐ của Việt Nam sang thị trường khu vực Đông Bắc Á- Thực trạng và giải pháp” (2012) của Trần Thị Thanh Trà cũng đã phân tích, đánh giá

nhu cầu tuyển dụng lao động nước ngoài của khu vực Đông Bắc Á cũng như là hoạt động XKLĐ của Việt Nam tới ba nước Hàn Quốc, Nhật Bản và Đài Loan Ngoài ra, luận văn đã làm rõ được thực trạng hoạt động XKLĐ của Việt Nam trong những năm gần đây và rút ra một số bài học kinh nghiệm

Bên cạnh đó, một số luận văn và luận án nghiên cứu về hoạt động XKLĐ như

sau: Luận án của Nguyễn Lương Trào (1993): “Mở rộng và nâng cao hiệu quả đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài”, hay“Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng nhu cầu XKLĐ của Việt Nam đến năm 2020” của Bùi Sỹ Tuấn (2012) và “Phát triển XKLĐ Việt Nam trong hội nhập kinh tế” của Nguyễn Tiến

Dũng (2010) cũng đã đưa ra những lý luận cơ bản về XKLĐ và đánh giá được chất lượng lao động VN nói chung

2.2 Những nghiên cứu ngoài nước

Trong ba nước có lao động sang Nhật Bản theo chương trình EPA, những vấn đề

Trang 13

liên quan đến điều dưỡng và hộ lý người Indonexia, Philipin đã được nghiên cứu và thu hút được sự quan tâm của những chuyên gia và nhà nghiên cứu nước ngoài liên ngoài trong nhiều lĩnh vực, trong đó có địa lý học Nhìn chung, các tác giả đều phân tích mục đích di cư, số lượng, chất lượng và xu hướng cung ứng lao động trong tương lai của những nước này

- Ballesca, Maria Rosario Piquero (2009), “Filipino Caregivers in Japan: The State, Agents, and Emerging Issue” Bài báo tổng quan về tình hình XKLĐ của

Philipin nói chung và XKLĐ theo Hiệp định JPEPA nói riêng Ballesca cũng nhắc lại lịch sử nhập cư của lao động Philipin thông qua Hiệp định kinh tế năm 1973, đồng thời nhấn mạnh Philipin đã có kinh nghiệm trong việc XKLĐ qua Nhật Bản Và đây cũng chính là tiền đề cho những Hiệp định kinh tế sau này Tác giả cũng làm rõ bối cảnh lịch sử Hiệp định JPEPA được ký kết và vai trò của nhà nước trong việc quản lý, điều tiết XKLĐ của ứng viên điều dưỡng và hộ lý Philipin Cuối cùng, bài báo cũng đưa ra một số vấn đề nổi cộm trong quá trình nhập cư của những lao động này

Trong nghiên cứu “Sharing Care: Economic Partnership Agreement and Beyond” của Ballesca (2010) đã nêu lên được vai trò của nhà nước Philipin trong việc

quản lý và điều tiết lao động của nước này theo chương trình JVEPA; đồng thời cũng giới thiệu về lộ trình ký kết của Hiệp định JPEPA Về nội dung chính, tác giả đưa ra kết quả phỏng vấn về cuộc sống và công việc của 16 ứng viên tại các bệnh viện, cơ sở chăm sóc sức khỏe tại Nhật Bản

Nghiên cứu của Yoshiko Naiki (2011) “Migration of Health Workers, Under the Japan – Philipinies and Japan – Indonesia, Economic Partnership Argreement: Challenge and Implications of Japanese Training Framework”,đã phân tích tác động

của Hiệp định kinh tế EPA đối với việc di chuyển lao động của hai nước Philipin và Indonexia và ảnh hưởng của quá trình này đến xã hội Nhật Bản Bên cạnh đó, tác giả cũng giới thiệu về khung đào tạo cũng như quá trình học tập mà các ứng viên điều

dưỡng và hộ lý sẽ trải qua khi tham gia chương trình này

Nghiên cứu của Ogawa Reiko (2012), “Globalization of Care and the Context of Reception of Southeast Asian Care Workers in Japan”, đã đưa ra kết quả khảo sát về

sự thay đổi của của bệnh viện và cơ sở chăm sóc sau khi tiếp nhận những ứng viên

Trang 14

điều dưỡng và hộ lý EPA Trước đó, tác giả đã làm rõ được bản chất của di cư theo Hiệp Định JIEPA Cuối cùng, những tình huống khó khăn, bế tắc cũng được phân tích trong bài báo này

Nghiên cứu của Ohno Shun (2012), “Southeast Asian Nurses and Caregiving Workers: Transcending the National Boundaries: An Overview of Indonesian and Filipino Workers in Japan and Abroad”, bàn về các vấn đề xoay quanh quá trình di cư

và công việc tại các cơ sở tiếp nhận của điều dưỡng và hộ lý của hai nước Philipin và Indonexia Đặc biệt, tác giả cũng đưa ra đánh giá về kỳ thi chứng chỉ quốc gia Nhật

Bản đối với nhân viên nước ngoài

Nghiên cứu của Ballesca (2007), “For whose care? Filipino nurses and Caregivers in Japan: Bilateral issues and concerns”, đã đưa ra một số vấn đề về sự di

chuyển nguồn nhân lực từ Philipin sang Nhật Bản theo Hiệp định song phương EPA cũng như đánh giá quá trình tuyển dụng ở Philipin, cư trú, điều kiện làm việc và kỳ thi

Nghiên cứu của Michele Ford & Kumiko Kawashima (2013) “Temporary Labor Migration and Care Work: The Japanese Experience”, đã phân tích toàn bộ quá trình

ký kết, khung thể chế, quy định trách nhiệm của các cơ quan điều phối của chương trình và các ứng viên điều dưỡng và hộ lý nước Philipin và Indonexia thông qua khuôn khổ của Hiệp định đối tác kinh tế EPA của mỗi nước Từ đó, tác giả đưa ra một số bài học kinh nghiệm trong vấn đề di cư trong lĩnh vực y tế của Nhật Bản

3 Mục đích, nhiệm vụ và giới hạn của đề tài

3.1 Mục đích

Đề tài đánh giá, phân tích hoạt động XKLĐ điều dưỡng Việt Nam theo chương trình JVEPA, giai đoạn 2012-2016; từ đó đề xuất một số định hướng, giải pháp nhằm

Trang 15

góp phần thúc đẩy và nâng cao hiệu quả của chương trình này

3.2 Nhiệm vụ

-Tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn về XKLĐ

-Tìm hiểu về mục tiêu của chương trình, quy trình, tiêu chí tuyển dụng lao động điều dưỡng Việt Nam của chương trình JVEPA

- Phân tích, đánh giá kết quả 4 đợt tuyển dụng điều dưỡng Việt Namgiai đoạn 2012-2016 về số lượng, chất lượng và sự phân bố của ứng viên ở Việt Nam

-Tìm hiểu thực trạng cuộc sống của một số lao động điều dưỡng EPA Việt Nam tại Nhật Bản

-Khảo sát nhu cầu đi XKLĐ điều dưỡng của các ứng viên tiềm năng (sinh viên

và nhân viên ngành điều dưỡng)

- Phân tích, đánh giá những cơ hội và thách thức của lao động ngành điều dưỡng Việt Nam trong hiện tại, tương lai và đưa ra một số kiến nghị nhằm thúc đẩy hơn nữa chương trình này

3.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.3.1 Đối tượng nghiên cứu

-Hoạt động xuất khẩu điều dưỡng Việt Nam theo chương trình JVEPA

-Các điều dưỡng Việt Nam (đã đi, ứng tuyển, tiềm năng)

3.3.3 Phạm vi nghiên cứu

- Thời gian: Phân tích hoạt động XKLĐ điều dưỡng giai đoạn 2012 -2016, tầm

nhìn đến 2025

-Không gian: Việt Nam, Nhật Bản

4 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu

4.1 Quan điểm nghiên cứu

Trang 16

đến hoạt động XKLĐ, từ đó xác định được những nhân tố quyết định XKLĐ là một hoạt động kinh tế nằm trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại và không thể tách rời với nền kinh tế chung Bởi thế, khi ta phân tích, đánh giá hoạt động XKLĐ, chúng ta phải đặt chúng trong xu thế vận động của di cư lao động tên phạm vi quốc tế cũng như tình hình phát triển của thị trường lao động Việt Nam

4.1.3 Quan điểm lịch sử- viễn cảnh

Quan điểm lịch sử-viễn cảnh được vận dụng trong nghiên cứu này nhằm tìm hiểu sự biến động của XKLĐ điều dưỡng theo thời gian Phải nhìn nhận vấn đề từ quá khứ đến hiện tại và định hướng đến tương lai Đặc biệt là phải hiểu rõ lịch sử của hoạt động XKLĐ giữa Việt Nam và Nhật Bản Có như vậy, ta mới có thế có những nhận định đúng đắn và khách quan về triển vọng của hoạt động này, từ đó đưa ra những

định hướng cho giai đoạn sau

4.1.4 Quan điểm phát triển bền vững

Phát triển bền vững là mục tiêu, là xu hướng tất yếu với mọi ngành sản xuất Hoạt động XKLĐ cũng vậy, cần phải đạt sự cân bằng giữa yếu tố xã hội, kinh tế và môi trường Quan điểm phát triển bền vững trong đề tài thể hiện ở việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến môi trường làm việc, đề xuất giải pháp, kiến nghị liên quan đến

sử dụng lao động quyền lợi của người lao động

4.2 Phương pháp nghiên cứu:

4.2.1 Phương pháp thu thập và xử lý và phân tích số liệu

Trong quá trình thực hiện luận văn này, tác giả đã thu thập rất nhiều nguồn tài liệu thứ cấp dưới dạng bản in, điện tử, tờ rơi, brochure từ nhiều nguồn, và các cơ quan khác nhau bao gồm: Cục quản lý lao động ngoài nước (Dolab), Trung tâm lao động ngoài nước( Colab), Bộ Thương binh- Lao động và Xã hội (Molisa), trang web của Tổ chức Di cư Quốc tế - Cơ quan Di cư Liên Hiệp Quốc tại Việt Nam (Vietnam.iom.int), trang Tổ chức di cư Thế giới (www.iom.int), trang thông tin về Di cư Việt Nam, trang web Ngân hàng thế giới (WB), thư viện Đại học Sư phạm Tp.Hồ Chí Minh, thư viện Khoa học Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh,…

Sau khi thu thập, tác giả đã phân tích, tổng hợp, xử lý, thống kê, so sánh các dữ liệu Tác giả cũng sử dụng phần mềm excel và SPSS trong quá trình xử lý số liệu

Trang 17

- Các dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn, khảo sát online và trực tiếp, quan sát, ghi chép,

4.2.3 Phương pháp điều tra xã hội học

Tác giả đã điều tra 2 nhóm đối tượng:

Nhóm 1: Lao động điều dưỡng tại Nhật

Nhóm 1.a Lao động điều dưỡng và hộ lý EPA ở 15 tỉnh/quận ở Nhật Bản

Các bước thực hiện:

-Xác định nội dung điều tra:

Mục đích: tìm hiểu về động cơ ban đầu thúc đẩy những ứng viên tham gia

chương trình và những khó khăn mà họ đang phải đối mặt

Đối tượng: Lao động điều dưỡng và hộ lý theo chương trình EPA, khóa

1(2012-2013) và khóa 2(2013-2014)

Nội dung: Bảng khảo sát gồm 2 phần: thông tin cá nhân và bảng hỏi Về bảng

hỏi bao gồm 3 nội dung: đánh giá mức độ các yếu tố khiến lao động tham gia chương trình; đánh giá mức độ khó khăn mà bạn đang đối mặt hiện nay; đưa ý kiến và đề xuất

để phát triển chương trình

Địa điểm: Khảo sát online

Chọn mẫu: ngẫu nhiên trong khóa 1(2012-2013) và khóa 2(2013-2014)

- Tiến hành điều tra: từ ngày 5/9/2017 – 10/9/2017

Nhận được 30 câu trả lời, tất cả đều hợp lệ

- Xử lý kết quả điều tra: Phân tích từ kết quả sẵn của google survey

Nhóm 1.b: 2/30 lao động trong nhóm 1.a tiếp tục tham gia phỏng vấn online

Nội dung: Tìm hiểu thêm các thông tin về số ngày nghỉ, môi trường làm việc,

trải nghiệm làm việc và cuộc sống ở Nhật Bản

Nhóm 2: Ứng viên tiềm năng tại Việt Nam

Trang 18

Nhóm 2.a Sinh viên đang theo học ngành điều dưỡng

Các bước thực hiện

-Xác định nội dung điều tra:

Mục đích: tìm hiểu nhu cầu và mức độ kỳ vọng về chương trình EPA

Đối tượng: Sinh viên năm đang học ngành điều dưỡng của ĐH Y Dược Tp,HCM

; trường ĐH Nguyễn Tất Thành

Nội dung: Bảng khảo sát gồm 2 phần: thông tin cá nhân và bảng hỏi Về bảng

hỏi bao gồm 2 nội dung: đánh giá mức độ kỳ vọng về chương trình; đánh giá yếu tố được cân nhắc khi tham gia chương trình

Địa điểm : Tại bệnh viện Chợ Rẫy, quận 5, Tp.HCM; trường ĐH Y Dược;

trường ĐH Nguyễn Tất Thành

Chọn mẫu: Sinh viên năm 4 (lớp chính quy 13) ngành điều dưỡng của ĐH Y

Dược Tp,HCM ; sinh viên năm 3 trường ĐH Nguyễn Tất Thành

- Tiến hành điều tra: thực hiện từ tháng 6 đến tháng 8 năm 2017

Điều tra bao nhiêu phiếu 100 phiếu Có 76 phiếu hợp lệ

- Xử lý kết quả điều tra: sử dụng phần mềm SPSS

Nhóm 2.b Lao động điều dưỡng

Các bước thực hiện:

-Xác định nội dung điều tra:

Mục đích: tìm hiểu nhu cầu và mức độ kỳ vọng về chương trình EPA

Đối tượng: Người đã ra trường và đang đi làm điều dưỡng cho các bệnh viện,

trạm y tế, cơ sở chăm sóc chữa bệnh

Nội dung: Bảng khảo sát gồm 2 phần: thông tin cá nhân và bảng hỏi Về bảng

hỏi bao gồm 2 nội dung: đánh giá mức độ kỳ vọng về chương trình; đánh giá yếu tố được cân nhắc khi tham gia chương trình

Địa điểm: Khảo sát online

Chọn mẫu: ngẫu nhiên ở 12 tỉnh/thành trên cả nước

- Tiến hành điều tra: từ ngày 15/8-30/8/2017

Nhận được 52 câu trả lời, tất cả đều hợp lệ

- Xử lý kết quả điều tra: Phân tích từ kết quả sẵn của google survey

Trang 19

5 Những đóng góp của đề tài

-Tổng quan những vấn đề lý luận chung và thực tiễn về XKLĐ

-Phân tích, đánh giá hoạt động XKLĐ điều dưỡng theo chương trình JVEPA trong giai đoạn từ 2012- 2016

- Khảo sát cuộc sống của lao động điều dưỡng tại Nhật Bản

-Khảo sát nhu cầu XKLĐ của ứng viên điều dưỡng tiềm năng,

-Đưa ra những giải pháp, kiến nghị phù hợp nhằm thúc đẩy hoạt động XKLĐ điều dưỡng sang Nhật Bản

6 Cấu trúc của luận văn

Cấu trúc luận văn bao gồm 3 chương (không kể mở đầu và kết luận)

Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn về XKLĐ

Chương 2: Đánh giá thực trạng hoạt động XKLĐ điều dưỡngtheo chương trình

JVEPA sang Nhật Bản giai đoạn 2012-2016

Chương 3: Định hướng và giải pháp

Trang 20

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA HOẠT

ĐỘNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG

Chương 1 trình bày những khái niệm có liên quan tới lao động, việc làm, di cư lao động quốc tế, XKLĐ, di cư quốc tế có tổ chức, trong đó XKLĐ là một dạng của di

cư lao động quốc tế

1.1 Cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu

1.1.1 Khái niệm liên quan

1.1.1.1 Khái niệm về lao động

a Lao động, sức lao động: Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của

con người nhằm thay đổi những vật thể tự nhiên để phù hợp với lợi ích của mình Lao động là sự vận động của sức lao động trong quá trình tạo ra của cải, vật chất cho xã hội, là quá trình kết hợp sức lao động và tư liệu sản xuất

Sức lao động hay năng lực lao động là toàn thể những năng lực thể chất và tinh

thần tồn tại trong cơ thể, trong một con người đang sống, và được người đem ra sử dụng mỗi khi sản xuất ra một sản phẩm giá trị nào đó Sức lao động là một loại hàng hóa đặc biệt, vì nó nằm trong sự kiểm soát của con người, hay nói cách khác, con người là chủ thể lao động, sức lao động được xác định bằng giá cả, nên hàng hóa lao

động cũng sẽ phù hợp với quy luật cung - cầu trong thị trường lao động

b Nguồn lao động: Nguồn lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động và

có khả năng lao động Theo định nghĩa này thì những người trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật (ngoại trừ người tàn tật, mất sức) đều thuộc nguồn lao động [9] Nước ta, độ tuổi lao động quy định từ 15-55 đối với nữ và 15-60 đối với nam

c Lực lượng lao động: về nguyên tắc, lực lượng lao động là một bộ phận của dân

số trong độ tuổi lao động đang làm việc hoặc không có việc làm (thất nghiệp) nhưng

có nhu cầu làm việc và đang tìm kiếm việc làm Tuy nhiên, trong thực tế lực lượng lao động còn tính cho cả những người trên và dưới tuổi lao động hiện đang tham gia hoạt động lao động [9]

d Việc làm, thất nghiệp

Trang 21

“Mọi hoạt động tạo ra thu nhập không bị pháp luật ngăn cấm gọi là việc làm” (theo quy định của luật lao động Việt Nam [3]

Theo quan điểm của C.Mác: “Việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ,, ) để

sử dụng sức lao động đó”

Thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động và có

nhu cầu làm việc, đang không có việc làm, đang đi tìm việc làm

1.1.1.2 Khái niệm về hoạt động XKLĐ

a XKLĐ

Trong Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng “

XKLĐ là quá trình đưa người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài hợp pháp, được quản lý và hỗ trợ của nhà nước theo hợp đồng của các doanh nghiệp hoạt động dịch vụ, các tổ chức sự nghiệp, các doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu, các tổ chức, các cá nhân đầu tư ra nước ngoài, hợp đồng nâng cao tay nghề, hoặc theo hợp đồng cá nhân giữa người lao động và chủ sử dụng lao động” Theo đó, người lao động

đi làm việc ở nước ngoài được gọi là người lao động xuất cư, nước mà họ ra đi thì nước xuất cư Ngược lại, nước mà họ đến được được gọi là nước nhập cư, người lao động lúc này được gọi là người lao động nhập cư

Với mục đích nâng cao hiệu quả và giảm thiểu rủi ro mà XKLĐ mang lại, nước xuất khẩu tiến hành quản lý, hỗ trợ và cấp phép các tổ chức đưa lao động hoặc cho phép các cá nhân lao động ra nước ngoài làm việc, tất cả những hoạt động này được gọi là hoạt động XKLĐ

Từ quan niệm trên, ta thấy vai trò của Nhà nước trong hoạt động XKLĐ là rất

quan trọng Một số học giả quốc tế cho rằng “di cư tạm thời là một hiện tượng được tạo ra và duy trì dưới sự điều hành của Chính phủ để tạo ra thu nhập(kiều hối)/giải quyết cho tình trạng thất nghiệp cao trong nước” Scott Solomon (2005) [24]

Scott Solomon tiếp tục giải thích rằng “Nhà nước là một nhân tố chủ động tham gia vào việc hình thành chính sách để đáp lại quá trình thích ứng với toàn cầu hóa, thay cho khái niệm người ta hay dùng là toàn cầu hóa làm hạn chế khả năng của Nhà nước”

Trang 22

Michale Teitelbaum (2002) [23] nhận định: “Nhà nước có vai trò quan trọng trong “khởi đầu, chọn lọc, ngăn chặn, và kết thúc quá trình di cư quốc tế này” Dù

Nhà nước có thúc đẩy hay kiềm chế xuất cư/nhập cư, dù quốc gia đó là nước xuất cư

hay hạn chế xuất cư, Teitelbaum nhấn mạnh “tất cả các quốc gia hiện đại đều can thiệp để nâng cao hiệu quả và giảm thiểu tác động tiêu cực ảnh hưởng đến số lượng

và thành phần của chuyển cư quốc tế”

Thông qua các chính sách tuyển chọn, đào tạo và giáo dục định hướng quan hệ lao động, thanh lý hợp đồng trong hoạt động xuất khẩu, khuyến khích hay kiềm hãm hoạt động XKLĐ thông qua chính sách, nghị luật, văn bản pháp lý, Nhà nước có khả năng điều tiết nhất định đến quá trình này Bên cạnh đó, mối quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam và các nước cũng ảnh hưởng to lớn đến các chính sách lao động, việc làm Việc mở rộng thị trường cũng thắt chặt hơn mối quan hệ đối tác giữa các quốc gia Mối quan hệ này có ảnh hưởng hai chiều

b Thị trường XKLĐ

Thị trường lao động: là thị trường mà tại đó sức lao động được trao đổi, bao gồm người sở hữu sức lao động và người muốn sử dụng sức lao động đó để tiến tới thỏa thuận bằng hợp đồng lao động và các điều kiện khác cho một công việc cụ thể nào đó

Ở thị trường này, sức lao động của người sở hữu nó là hàng hóa đặc biệt Vì vậy, thị trường này cũng tuân theo quy luật kinh tế, đặc biệt là quy luật cung-cầu Nước cung cấp lao động phải dựa vào yêu cầu của thị trường lao động để có sự cung ứng phù hợp, chuẩn bị những điều kiện khác giải quyết vấn đề phát sinh để chuẩn bị sẵn sàng XKLĐ khi cần thiết

-Kiều hối (international remittances) Puri và Ritzema (1999) nhận định là “phần thu nhập của người lao động kiếm được ở nước ngoài gửi về nước” Bên cạnh đó, bài

báo cũng khẳng định số tiền gửi về nước thật sự thậm chí còn nhiều hơn số tiền được thống kê Nó giống như phần nổi của tảng băng vậy, vì kiều hối lúc này gửi theo cách thông thường không qua ngân hàng và các dịch vụ khác Ví dụ: tự giữ tiền,gởi bạn bè,

người thân, hoặc chuyển tiền bằng cách mua quần áo hay đồ tiêu dùng khác Puri, Shivani &Tineke Ritzema (1999)

Kiều hối là một nguồn lực quý giá theo nhiều nghĩa, là nguồn thu ngoại tệ lớn

Trang 23

cho đất nước Bởi lẽ, chi phí sản xuất hàng, chi phí vận chuyển mang ra nước ngoài, còn chịu thuế nhập khẩu, chịu hạn ngạch, chịu kiện bán phá giá, chi phí tiếp thị, quảng cáo để thu lợi luận từ việc xuất khẩu một mặt hàng, trong khi tiền gửi về nước lại ít chịu thuế cao như vậy Theo thống kê của ngân hàng thế giới (WB) trong năm 2011,

số tiền ở nước ngoài gửi về Việt Nam đạt mức 9 tỉ USD, trong số 20 quốc gia nhận được tiền kiều hối cao nhất thế giới

* Các khái niệm có liên quan khác

- Tu nghiệp sinh: là chương trình tiếp nhận người lao động nước ngoài chưa đáp

ứng được yêu cầu và về trình độ chuyên môn của nước nhập khẩu, nếu muốn vào làm việc ở các nước này họ phải được hợp pháp hóa dưới hình thức tu nghiệp sinh là vừa làm vừa được đào tạo trình độ chuyên môn kỹ thuật, nghề nghiệp tại các công ty ở Nhật Bản/ Hàn Quốc trong thời gian một năm hoặc ba năm Khái niệm này chỉ có ở Nhật Bản

Về mặt lý thuyết, tu nghiệp sinh là đối tượng học tập chứ không phải lao động nên áp dụng luật Lao động và được đối xử và bảo hộ theo luật nhập cảnh của nước sở tại Kết thúc năm đầu học việc, tu nghiệp sinh sẽ bắt đầu chương trình thực tập sinh và làm việc như những lao động nhập khẩu trong 2 năm sau đó Thật ra, các chương trình

tu nghiệp sinh như vậy là một phương cách giúp Nhật Bản dễ dàng thuê nhân công từ các nước Châu Á với mức lương rẻ mạt hơn, và hiển nhiên những lao động này ít được pháp luật bảo vệ hơn

- Hiệp định đối tác kinh tế (Economic Partnership Agreement/EPA)

Hiệp định đối tác kinh tế là tên mà Nhật Bản gọi các FTA của mình

FTA(Hiệp định thương mại tự do là một hiệp định có đi có lại trong đó các hàng rào thương mại giữa các quốc gia tham gia hiệp định được xóa bỏ Song, mỗi thành viên của hiệp định có quyền duy trì các hàng rào thương mại riêng đối với các nước không phải thành viên của hiệp định) bao gồm những lĩnh vực như thuận lợi hóa thương mại, hoạt động đầu tư, mua sắm chính phủ, chính sách cạnh tranh, các biện pháp thuế quan, thương mại dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ, cơ chế tranh chấp, tiêu chuẩn và hợp chuẩn, lao động, môi trường, thậm chí còn gắn với những vấn đề dân chủ hay nhân quyền hay chống lại khủng bố…

Trang 24

- Di chuyển thể nhân (Movement of Natural Person)

Nhằm đáp ứng nhu cầu thiết hụt lao động trong ngành y tế, Nhật Bản nhập khẩu lao động Việt Nam Di chuyển thể nhân là quá trình di cư của điều dưỡng và hộ lý Việt

Nam được nhập cảnh, cư trú và làm việc ở Nhật Bản theo theo cam kết trước đó [19]

- Di cư lao động quốc tế: “Sự di chuyển người từ quốc gia này sang quốc gia khác, hoặc trong phạm vi quốc gia cư trú của họ, với mục đích làm việc” Phần lớn

các quốc gia đều quy định vấn đề di cư lao động trong luật di cư Ngoài ra, một số quốc gia còn đóng vai trò tích cực trong việc điều tiết di cư lao động ra nước ngoài và tìm kiếm cơ hội việc làm cho công dân họ ở nước ngoài [12]

- Di cư xoay vòng (circular migration): “sự di chuyển linh hoạt của con người giữa các nước, bao gồm cả tạm thời hay dài hạn, có thể làm lợi cho tất cả các bên liên quan nếu diễn ra một cách tự nguyện và liên quan đến nhu cầu lao động của nước gốc

và nước tiếp nhận”[12]

- Di cư thay thế (replacement migration): “Là hiện tượng di cư nội địa khi có

một lượng công nhân từ nơi khác đến lấp chỗ cho số công nhân đã đi sang nước khác

Là hiện tượng di cư quốc tế khi một nước muốn bù đắp cho tình trạng dân số giảm và già đi do kết quả của tỷ lệ sinh tử thấp” [12]

- Thỏa thuận di cư lao động song phương: (bilateral labour migration agreements): Các cơ chế chính thức được ký kết giữa các quốc gia bao gồm những cam kết ràng buộc về pháp lý chủ yếu liên quan đến việc hợp tác liên quốc gia về di cư lao động Thuật ngữ này còn được sử dụng để mô tả những dàn xếp ít chính thức hơn điều tiết việc di chuyển lao động giữa các nước với sự tham gia của các quốc gia, cũng như riêng từng Bộ, ngành, các tổ chức giới chủ [12]

XKLĐ theo chương trình Hiệp định đối tác kinh tế EPA được coi là một dạng di

cư lao động quốc tế có tổ chức

- Điều dưỡng và hộ lý (theo chương trình EPA)

Trang 25

Bảng 1.1 Phân biệt khái niệm điều dưỡng và hộ lý (theo chương trình EPA)

Tên gọi chung -Tương đương với khái

niệm điều dưỡng (trước là y tá)

-Tương đương với khái niệm hộ lý (nhân viên chăm sóc)

Nội dung

công việc

-Giống hệt công việc của điều dưỡng tại bệnh viện Việt Nam như: theo dõi dấu hiệu sinh tồn của bệnh nhân, xử trí

và thực hiện theo y lệnh của bác sĩ, báo cáo tình trạng của bệnh nhân tới bác sỹ…

-Có thể sử dụng các thiết

bị y tế để phục vụ cho trị liệu của bệnh nhân

-Trợ giúp người già ăn uống, tắm rửa, vệ sinh, di chuyển, nghỉ ngơi, -Quản lý sức khỏe cho người già, bệnh nhân

-Trợ giúp công việc gia đình

-Lập kế hoạch chăm sóc người cao tuổi

-Tuyệt đối cấm sử dụng thiết bị y tế như: máy thở, máy moniter, bơm tiêm điện, máy truyền

dịch…không được tiêm, truyền, quản lý dược phẩm

Nguồn: [31]

Trang 26

1.1.2 Hoạt động XKLĐ

Năm 1980, XKLĐ Việt Nam bắt đầu khởi động với hình thức đưa lao động sang các nước Xã Hội Chủ Nghĩa làm việc theo các Hiệp định hợp tác quốc tế lao động Từ năm 1991cho đến nay, hoạt động XKLĐ đã được chuyển sang dạng cơ chế thị trường

có sự quản lý của Nhà nước, phù hợp với xu thế phát triển chung của thế giới Sau 37 năm, hoạt động XKLĐ đã đạt được nhiều thành tựu to lớn Số lượng lao động xuất khẩu năm sau cao hơn năm trước Hiện nay, có trên 500 ngàn lao động Việt Nam làm việc ở 41 quốc gia và vùng lãnh thổ Hoạt động XKLĐ đã làm thay đổi không nhỏ đời sống vật chất- tinh thần của người xuất khẩu nói riêng và bộ mặt kinh tế- xã hội địa phương nói chung

1.1.2.1 Bản chất và hình thức của XKLĐ

Sơ đồ bản chất của xuất khẩu lao động

Sơ đồ trên cho thấy, XKLĐ là 1 phần của di cư lao động quốc tế Như vậy, di cư lao động quốc tế bao hàm luôn cả XKLĐ Nó được hiểu là quá trình di chuyển lao động từ nước này đến nước khác để tìm việc làm Sự khác biệt là XKLĐ mang tính tự giác, có tổ chức, có mục đích, có thời hạn, có hợp đồng lao động, được sự cho phép, chịu sự quản lý và được Nhà nước hỗ trợ Nói cách khác, XKLĐ là một loại hình di cư

có tổ chức, trong đó các doanh nghiệp, cơ quan, ban ngành, Chính phủ có vai trò rất quan trọng trong việc quản lý và điều tiết về số lượng cũng như chất lượng

Ở Việt Nam, một số quan niệm khác về XKLĐ như là “trao đổi quốc tế về sức lao động” “hợp tác quốc tế về sức lao động”, “di chuyển lao động quốc tế” “tạo việc làm ngoài nước”, “đưa người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng”, cũng thường xuyên được dùng trong các văn kiện, tài liệu, công trình nghiên cứu

Di cư Di cư

quốc

tế

Di cư lao động quốc tế

XKLĐ

Trang 27

Trong luận văn này, khái niệm “di chuyển lao động quốc tế” khá phù hợp với tính chất của chương trình EPA Khi được tuyển chọn, làm việc tại các bệnh viện, cơ

sở y tế tại Nhật Bản, các ứng viên vẫn phải tiếp tục học tập để chuẩn bị cho kỳ thi chứng chỉ quốc gia Có ba trường hợp xảy ra sau đó; thứ nhất, các ứng viên sẽ được phép ở lại làm việc dài hạn và là nhân viên y tế chính thức ở Nhật Bản nếu thi đậu kỳ thi chứng chỉ quốc gia (chuyển từ hình thức XKLĐ sang hình thức di cư lâu dài); thứ hai, thì các ứng viên sẽ phải quay về nước nếu thi rớt và không trở lại Nhật Bản nữa (hình thức XKLĐ); thứ ba, ứng viên sẽ phải về quay về nước nếu thi rớt Tuy nhiên,

họ có thể quay lại Nhật Bản để tham dự kỳ thi chứng chỉ quốc gia vào năm sau (chuyển từ hình thức lao động xuất khẩu đến di cư xoay vòng)

*Có hai hình thức XKLĐ ở nước ta:

Thứ nhất, đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài Đây là hình thức đầu tư lao động sống ở nước ngoài nhằm thu hút thu nhập quốc dân từ nước ngoài về cho đất nước Hình thức này bao gồm: đi theo Hiệp định chính phủ ký kết giữa hai nhà nước; hợp tác lao động và chuyên gia; thông qua doanh nghiệp Việt Nam nhận thầu, khoán xây dựng công trình, liên doanh, liên kết chia sản phẩm ở nước ngoài và đầu tư

ra nước ngoài; thông qua doanh nghiệp Việt Nam làm dịch vụ cung ứng lao động; người lao động ký trực tiếp hợp đồng lao động cá nhân, tổ chức nước ngoài

Thứ hai là XKLĐ tại chỗ Theo luật Đầu tư nước ngoài của nước ta, là hình thức đầu tư lao động sống trong nước để thực hiện giá trị sức lao động cho/của mình đối với nước ngoài bao gồm: các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao; tổ chức, cơ quan ngoại giao, văn phòng đại diện…của nước ngoài tại Việt Nam [6]

Trong luận văn này, hình thức XKLĐ thứ nhất sẽ được tập trung phân tích XKLĐ điều dưỡng và hộ lý sang Nhật Bản theo chương trình JVEPA là hình thức đi làm việc tại các cơ sở y tế, viện dưỡng lão và bệnh viện tại Nhật trong 3 năm với điều dưỡng và 4 năm với hộ lý

1.1.2.2 Một số mô hình, lý luận về XKLĐ

a Mô hình “lực hút - lực đẩy” của Ravenstien (người Anh) được đưa ra vào

những năm 1889 Ravenstien đã tìm hiểu về nguyên nhân vì sao một số người lại di cư

Trang 28

trong khi một số khác không di cư Khi phân tích các dòng di cư ở nước Anh, ông cho rằng các yếu tố “ lực hút” quan trọng hơn các yếu tố “lực đẩy” Cụ thể hơn, ông đưa ra các luật lệ tồi hoặc ngột ngạt, thuế khóa nặng nề, khí hậu không thuận hòa, môi trường

xã hội xung quanh không cởi mở, thậm chí có sự cưỡng bức (trong buôn bán, vận chuyển nô lệ), tất cả những điều đó đã và đang tạo ra các hình thức di dân Tuy nhiên, không có loại hình di dân nào có thể so sánh với khát vọng tiềm ẩn trong mỗi người

“làm tốt hơn” cuộc sống của chính họ về phương diện vật chất Đây là bản chất chính của việc di cư

b Quan hệ về cung-cầu về lao động: Thị trường lao động luôn biến đổi và gắn

liền với chu kỳ kinh tế Vì thế, nền kinh tế tăng trường hay xuống dốc cũng ảnh hưởng đến thị trường lao động, biểu hiện qua sự gia tăng hay giảm lượng nhân công Một nước nhập khẩu lao động khi nguồn lao động của nước đó không đáp ứng được thị trường lao động nội địa do sự phát triển của nền kinh tế Cho nên, những nước này sẽ thu hút một số nguồn cung từ các nước dư thừa lao động Mối quan hệ giữa bên cung

và bên cầu là yếu tố quyết định đảm bảo cho hoạt động XKLĐ của mỗi quốc gia

Di dân lao động theo Hiệp định chính phủ

Trong xu hướng toàn cầu hóa phát triển mạnh mẽ như hiện nay, ngày càng có các Hiệp định kinh tế đa phương, song phương được ký kết Những Hiệp định này chủ yếu nhằm thúc đẩy hoạt động đầu tư, hợp tác kinh tế, kèm theo là sự trao đổi về nguồn nhân lực Điều này đồng nghĩa là thị trường lao động quốc tế sẽ rộng mở hơn và lao động Việt Nam hiện nay có nhiều cơ hội làm việc ở nước ngoài Việc XKLĐ dựa trên hợp tác giữa hai Chính phủ là một hoạt động di cư lao động hợp pháp, có tổ chức, được đảm bảo bởi pháp luật và đang tạo được sức hút rất lớn từ lao động trong nước

1.1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến XKLĐ

Xuất hiện đã rất lâu, di cư lao động từ nước này sang nước khác bắt nguồn sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế giữa các quốc gia và sự khác nhau về nhu cầu

và khả năng cung ứng lao động do chênh lệch mức tăng dân số tự nhiên

a Chênh lệch trình độ phát triển kinh tế

Trình độ phát triển kinh tế- xã hội giữa các quốc gia không đều, chênh lệch giàu nghèo giữa nhóm nước phát triển và đang /kém phát triển trên thế giới ngày càng tăng

Trang 29

Sự chênh lệch về mức sống là yếu tố tiên quyết dẫn đến di cư lao động Các nước có thu nhập quốc dân tính theo đầu người cao luôn thu hút lao động đến làm việc và sinh sống như: Nhật Bản (32.479 USD), Hàn Quốc (27.222 USD), Hồng Kong (42.295 USD), gấp 15-17 lần so với các nước Philipin: 3.002 USD, Indonexia: 3.362 USD, Việt Nam: 2.088 USD (thống kê của IMF, 2015)

b Chênh lệch về mức tăng dân số tự nhiên

Tốc độ tăng dân số không đều giữa các nhóm nước, 1% ở các nước phát triển, 2,3% ở các nước đang phát triển dẫn đến mâu thuẫn giữa sự phát triển kinh tế và dân

số Vì vậy, lao động dư thừa ở các nước đang phát triển sẽ đến làm việc tại các nước thiếu lao động (chủ yếu là lao động trình độ thấp) Hiện tượng này đây chính là sự phân công sức lao động trên phạm vi quốc tế

Hiện nay, già hóa dân ở các nước phát tiển gây nhiều hệ lụy Do lao động bản địa không muốn làm những công việc “thấp kém”, nặng nhọc, độc hại, khó khăn (hay 3D-jobs “Dangerous, Dirty, Difficult”), nên các nước có thu nhập cao như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, CHLB Đức, Anh, Pháp, Nga, Hoa Kỳ, có nhu cầu nhập khẩu từ các quốc gia kém phát triển hơn Do đó, các nước phát triển phải nới lỏng chính sách nhập cư, chính sách lao động như cấp visa miễn phí, thậm hạ mức độ yêu cầu của công việc để thu hút được lao động

Ngoài ra, trong quá trình toàn cầu hóa, khu vực hóa một số tổ chức liên kết kinh

tế trong khu vực được hình thành, các hiệp định thương mại hóa, tự do hóa được xây dựng dựa vào lợi ích của các bên đã thúc đây sự tăng trường và phát triển kinh tế Đồng thời, cũng thúc đẩy quá trình mở cửa thị trường, trao đổi hàng hóa, buôn bán, khoa học- công nghệ và trao đổi nhân lực

1.1.2.4 Hiệu quả và rủi ro từ XKLĐ

“Migrants make significant and essential contributions to the economic, social and cutural development of their host countries and their communities back home But too often these contributions go unrecognized…” Guy Ryder, ILO Diretor-General

Tổng giám đốc của Tổ chức di cư thế giới đã khẳng định: “di cư nói chung và di

cư lao động quốc tế nói riêng có những đóng góp rất quan trọng và cần thiết cho nền kinh tế, xã hội và văn hóa của nước nhập cư Nhưng, thường không ai thừa nhận

Trang 30

những đóng góp đó”

a Đối với nước xuất cư lao động

Với việc gửi một lực lượng lớn nhân công sang nước ngoài làm việc, các nước xuất cư vừa giải quyết nạn thất nghiệp trong nước, xóa đói giảm nghèo vừa thu lại lợi nhuận to lớn từ số tiền mà những lao động này gửi về Bên cạnh đó, những lao động sau thời gian làm việc ở các nước phát triển đã lĩnh hội được công nghệ kỹ thuật,tác phong công nghiệp, đáp ứng được các yêu cầu trong công việc phù hợp với quá trình đổi mới và xu thế phát triển tất yếu của đất nước Tuy nhiên, bên cạnh những luồng di

cư hợp pháp, việc di cư trái phép diễn biến khá phức tạp, dẫn tới sự mất kiểm soát trong quản lý nhà nước.Những vấn nạn buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em, hiện tượng chảy máu chất xám… ở các nước XKLĐ ngày càng tăng

b Đối với nước nhập khẩu lao động

Thứ nhất, giải quyết lao động nhất thời, đây là tác động dễ thấy nhất của hoạt động nhập khẩu lao động Những nước đang cần lao động ngay lập tức được cung cấp một lượng đáng kể nhân công bán chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp để duy trì quy trình sản xuất Thứ hai, các doanh nghiệp có thể hạ giá thành sản phẩm vì họ trả lương cho công nhân thấp hơn hẳn so với lao động bình thường và dĩ nhiên điều này đem tới cho họ nhiều lợi nhuận hơn vì khả năng cạnh tranh lớn hơn so các doanh nghiệp công ty trong nước đang sử dụng từ nguồn lao động nội địa Tuy vậy, nhân công nước ngoài cũng làm nảy sinh nhiều vấn đề liên quan đến lĩnh vực kinh tế, chính trị và văn hóa-xã hội của nước nhập lao động như bất ổn trong xã hội do những người nhập cư gây ra, lao động chui, kết hôn giả, lao động bỏ trốn, đơn phương hủy hợp đồng

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài nghiên cứu

1.2.1 Tổng quan về tình hình XKLĐ của Việt Nam

1.2.1.1 Chủ trương, chính sách XKLĐ của Đảng và Nhà nước

Từ Đại hội VIII (1996) Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Phải đẩy mạnh XKLĐ” Mới đây, chỉ thị số 41-CT/TW ban hành ngày 05/02/2015, Đảng và nhà nước coi XKLĐ là “một hoạt động kinh tế - xã hội góp phần phát triển nguồn nhân lực, giải quyết việc làm, tạo thu nhập và nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động, tăng

Trang 31

nguồn ngoại tệ cho đất nước”, được nhấn mạnh là “có vai trò trước mắt và lâu dài” Bên cạnh đó, tại hội nghị tổng kết thực hiện công tác XKLĐ, Bộ trường Bộ lao động- Thương binh xã hội đã phát biểu: “Khi thực hiện đường lối mở cửa, từng bước hội nhập với nền kinh tế thế giới, lao động Việt Nam có nhiều ưu thế nhất là trình độ văn hóa, tay nghề khéo léo và giá cả lao động tương đối rẻ so với khu vực Với ưu thế này, khả năng đưa lao động Việt Nam đi ra nước ngoài, đặc biệt là ở các khu vực châu Á như Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Malaixia ngày càng tăng”

Nhà nước cũng ban hành luật pháp quy định các hoạt động của lao động xuất khẩu và bảo vệ người lao động khi ra nước ngoài Trong lĩnh vực di cư lao động cũng

đã ghi rõ: Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (Luật số 72/2006/QH11) được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29/11/2006, có hiệu lực thi hành từ 1/7/2007 Nghị định số 126/2007/NĐ-CP 01 tháng

8 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng Một loạt các văn bản, quy phạm pháp luật liên quan, là khung pháp lý tương đối hoàn chỉnh, tạo thuận lợi cho hoạt động đưa người lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc theo hợp đồng, quy định rõ quyền và nghĩa vụ của người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp đưa người lao động

đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và các tổ chức, cá nhân có liên quan góp phần thúc đẩy di cư hợp pháp, nghiêm cấm và trừng phạt nặng các hành vi vi phạm pháp luật đưa người lao động Việt Nam ra làm việc trái phép ở nước ngoài

1.2.1.2 Khái quát hoạt động XKLĐ Việt Nam từ năm 1980 đến nay

Từ những thập niên 80 của thế kỷ XIX, hoạt động XKLĐ ở Việt Nam đã được triển khai lần đầu tiên Qua gần ba mươi năm, chủ trương Nhà nước cũng đã có sự thay đổi khá rõ trong các thời kỳ cho phù hợp với tình hình phát triển chung của đất nước Vì thế, có thể phân chia hoạt động XKLĐ thành hai giai đoạn tương ứng với hai hướng chủ trương, chính sách và hình thức khác nhau liên quan đến sự ảnh hưởng và tác động của tình hình địa chính trị trên thế giới

Một là, thời kỳ 1980-1990 giai đoạn chiến tranh lạnh và mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp Lúc này, “Hợp tác lao động” được triển khai với một số

Trang 32

nước XHCN Đông Âu, Trung Đông và châu Phi với mục tiêu là đào tạo đội ngữ lao động có tay nghề cao, có tác phong công nghiệp, có kinh nghiệm quản lý tiên tiến để phục vụ công cuộc kiến thiết sau này của đất nước Việc ký kết với các nước Đông Âu(1980) và Liên Xô (1981) tuy đã mở ra cơ hội cho người lao động sang làm việc ở nước ngoài nhưng lại khá hạn chế về số lượng cũng như về phạm vi thị trường tiếp nhận lao động Việt Nam Người lao động lúc này không những không trả bất cứ khoản phí nào mà còn được cấp toàn bộ đồ dùng, được đào tạo nghề và cả ngôn ngữ đã được quy định rõ ràng trong bản Hiệp định, được triển khai bởi cơ quan đại diện của hai Nhà nước

Hai là, thời kỳ từ 1991 đến nay là giai đoạn gắn với mô hình kinh tế thị trường xuất phát từ yêu cầu khách quan của đất nước, cũng như của thế giới hiện đại Không chỉ dừng lại ở một số nước theo khối xã hội chủ nghĩa, tới lúc này lao động Việt Nam hầu như có thể đến với bất cứ nước nào mà Việt Nam đã đặt mối quan hệ ngoại giao Với tâm lý “Việt Nam muốn làm bạn của tất cả các nước”, thị trường lao động cho nhân công Việt Nam đã được mở rộng đáng kể đồng nghĩa với việc tăng lên sự đóng góp của hoạt động này cũng lớn hơn Về hình thức tổ chức, ngoài các Bộ, cơ quan, ban ngành Nhà nước thì các doanh nghiệp thuộc đoàn thể trung ương cũng như doanh nghiệp ngoài Nhà nước có đủ điều kiện đều được Nhà nước xem xét cấp phép hoạt động XKLĐ Nếu giai đoạn trước thị trường XKLĐ chủ yếu là 4 nước XHCN cũ (Liên

Xô, Tiệp Khắc, CHDC Đức và Bulgaria), Irac và một số nước châu Phi, thì từ cuối những năm 1980 đến đầu những năm 1990 thì Nhà nước ta đã mở rộng thị trường sang khu vực Đông Á, đặc biệt là Đông Bắc Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và Đông Nam Á như Malaysia… Bên cạnh đó, thị trường một số nước Bắc Phi, nam Thái Bình Dương và Tây Âu cũng được chú ý đầu tư khai thác

Thống kê đến năm 2017, dân số Việt Nam đã tăng lên 94,4 triệu người Nguồn lao động Việt Nam dồi dào được cung cấp mỗi năm khoảng 1,7 triệu người Thống kê đến Quý 1 năm 2017, cả nước có gần 53,4 triệu lao động có việc làm và có 1,14 triệu người thất nghiệp (85% con số đó tập trung ở nông thôn) Lao động nông thôn đông đảo, hiện chiếm 67,8% lực lượng lao động mặc dù tiến trình đô thị hóa ở Việt Nam đã

và đang diễn ra

Trang 33

XKLĐ là hoạt động di chuyển của người lao động ra nước ngoài để làm việc, nói cách khác, đây là cơ hội cho lao động có công ăn việc làm Ngoài tạo thu nhập cho bản thân, việc họ gửi tiền về nước còn làm tăng thu nhập quốc dân Theo Ngân hàng thế giới, lao động Việt Nam sống ở nước ngoài đã gửi tiền về nước khoảng 12,2 tỉ USD, đứng thứ 11 thế giới, xếp thứ 3 khu vực Đông Á-Thái Bình Dương (2015) Giai đoạn 2012-2014, tổng lượng kiều hối gởi về Việt Nam đạt 10-12 tỉ USD/năm

Theo báo cáo của Bộ Lao động Thương Binh và Xã Hội, hiện tại nước ta có khoảng 500.000 người đang làm việc ở 40 quốc gia và vùng lãnh thổ với khoảng 30 kiểu công việc khác nhau từ phổ thông, bán chuyên nghiệp đến chuyên nghiệp Trung bình mỗi năm, có gần 80.000 lao động Việt Nam đến các quốc gia trên thế giới để làm việc, vào năm 2010 là gần khoảng 85.000 người, chiếm hơn 5% tổng số lao động cả nước Theo số liệu này, Việt Nam trở thành nước XKLĐ lớn, tức là có trên 2% lực lượng lao động làm việc ở nước ngoài (theo quy định của Tổ chức Di dân quốc tế IOM) Phần lớn lao động VN đi XK thông qua trung tâm môi giới và tổ chức trong nước

Việt Nam tham gia vào thị trường lao động quốc tế khá muộn so với các nước Đông Nam Á như Indonexia, Philipin hay Thái Lan Từ năm 1980, lao động động nước ta đã đi làm việc ở các nước như Đông Âu thông qua các Hiệp định hợp tác giữa chính phủ hai nước Đến năm 2000, số lượng lao động đi xuất khẩu ngày càng tăng,

mở rộng thêm các nước như Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Lào, Maylaixia, Trung Đông, Bắc Phi,… bên cạnh đó các nước Châu Âu như Síp, Cộng Hòa Séc, Phần Lan, Pháp, Ý, Phần Lan và ngay cả Mỹ cũng là điểm đến của lao động VN Tuy nhiên, thị trường lớn nhất là khu vực Đông Á

Trang 34

15.9

7.4 2.5 2.5

Xuất khẩu lao động Việt Nam phân theo một số thị

trường trọng điểm năm 2016

Đông Bắc Á Đông Nam Á Trung Đông Bắc Phi Khu vực khác

Đơn vị tính: %

Biểu đồ 1.1 Cơ cấu XKLĐ Việt Nam phân theo thị trường tiếp nhận năm 2016

Nguồn: xử lý từ nguồn [10]

Nhìn vào biểu đồ ta thấy, thị trường Đông Bắc Á chiếm ưu thế là 71,82%, trong

đó, chủ yếu là Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, và Hồng Kong Xếp thứ hai là Đông Nam Á với 15,90%, chủ yếu đến Maylaxia Khu vực Trung Đông chiếm 7,34%, thấp

nhất là khu vực Bắc Phi là 2,46%

Với lực lượng lao động đông, trẻ, có truyền thống cần cù, tỉ mỉ, chịu khó trong công việc, lao động Việt Nam được đánh giá khá cao ở các thị trường quốc tế Bên cạnh đó, vẫn còn tồn tại một số hạn chế như chất lượng lao động còn thấp, trình độ ngoại ngữ, tay nghề chưa đáp ứng được nhu cầu công nghệ sản xuất hiện đại Lao động xuất khẩu chủ yếu có trình độ phổ thông Hơn nữa, tình trạng lao động hủy hợp đồng, trốn về nước thường xảy ra cũng làm giảm đáng kể uy tín của lao động Việt Nam trên trường quốc tế

1.2.2 Thị trường lao động Nhật Bản

1.2.2.1 Khái quát chung về thị trường lao động Nhật Bản

Nhật Bản là một nước đông dân, dân số hiện nay vào khoảng 125.891.742 người Tuy nhiên tốc độ tăng dân số hằng năm thấp và có xu hướng giảm dần Dân số Nhật hiện tại đang già hóa quá nhanh, dẫn đến rất nhiều hệ lụy, đặc biệt là thiếu hụt trầm trọng nguồn nhân lực Tính đến đầu năm 2016, số người trên độ tuổi lao động chiếm 26,6% và ngày càng tăng trong khi lực lượng lao động sẽ cung cấp trong tương lai chỉ chiếm 12,82% và tiếp tục giảm trong thời gian tới Dân cư phân bố không đều, phần lớn tập trung ở Tokyo, Yokohama, Nagoya, Osaka, Kobe và Kyoto Khoảng 4/5 dân

Trang 35

Trong ba thập kỷ từ năm 1960, thế giới đã chứng kiến tốc độ tăng trưởng kinh tế thần kỳ của Nhật Bản, với tốc độ tăng lần lượt là 10% (1960), 5% (1970), 4% (1980) Năm 2016, giá trị GDP của Nhật Bản là 4.730.300 USD

1.2.2.2 Chính sách nhập khẩu lao động của Nhật Bản

Từ lâu, Nhật Bản vốn có quốc gia khép kín, không thực hiện chính sách “mở cửa” đối với lao động nước ngoài Đất nước có nền kinh tế đứng thứ 2 thế giới này chỉ chấp nhận nhập khẩu lao động có trình độ cao, chủ yếu là các chuyên gia Tuy nhiên, đến năm 1992, nhằm đáp ứng lượng nhân công đang thiếu hụt trầm trọng, giảm thiểu lao động bất hợp pháp cũng như chuyển giao công nghệ cho những nước đang phát triển, Nhật bắt đầu mở cửa tiếp nhận lao động từ các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam sang Nhật Bản tu nghiệp nâng cao tay nghề Hình thức này được gọi là tu nghiệp sinh Nhật Bản Ngày nay, các quy định về lương, làm thêm lại được mở rộng hơn nữa, đem lại thu nhập cao cho người lao động Xu hướng đi XKLĐ Nhật Bản ngày càng phổ biến ở nhiều tỉnh thành trong cả nước Việt Nam hiện đang có lượng lao động cao hai đang làm việc ở Nhật Bản, chỉ sau Trung Quốc

Biểu đồ 1.2 Quy mô lao động Việt Nam xuất khẩu sang Nhật Bản giai đoạn

2005-2016

Nguồn: [10]

Trang 36

Biểu đồ cho thấy, tổng số lao động của Việt Nam xuất khẩu qua thị trường Nhật Bản giai đoạn 2005-2016 tăng qua các năm Vào năm 2005 chỉ đạt 2.955 người, và vẫn dao động từ khoảng 3.000 đến 5.000 người trong giai đoạn 2005-2012 Nhưng đến năm 2013, con số này đã tăng lên 9600 người, và tiếp tục tăng mạnh mẽ đến năm 2016 đạt mốc 40.000 lao động, lớn gấp 13 lần chỉ trong 10 năm trở lại đây Như vậy, Nhật Bản hiện nay được coi là thị trường thu hút lao động Việt Nam đến làm việc nhiều nhất, chỉ sau Đài Loan Trong đó, nhiều lao động Việt Nam được Nhật Bản tiếp nhận dưới hình thức là tu nghiệp sinh

Chương trình Tu nghiệp sinh là một dạng “XKLĐ Nhật Bản”, dưới danh nghĩa

đi học tập tại các nhà máy, xí nghiệp nhằm nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật

Chương trình này nhấn mạnh đến đào tạo nghề tại nhà máy, xí nghiệp dành cho lao động phổ thông, lao động có tay nghề đến từ các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam (Katama, 2008)

Về mặt lý thuyết, chính phủ Nhật Bản hỗ trợ và tạo điều kiện để tu nghiệp sinh vừa học vừa làm việc tại một công ty nào đó ở Nhật trong 3 năm Sau đó khi trở về có thể áp dụng những kinh nghiệm và kỹ năng đã thu nhận được để phục vụ phát triển kinh tế, đất nước

Hiện tại, có 3 chương trình đưa tu nghiệp sinh Việt Nam sang Nhật Bản làm việc

* Chương trình hợp tác với Tổ chức Hợp tác tu nghiệp quốc tế Nhật Bản (JITCO) Trong bản ghi nhớ về “Chương trình phái cử và tiếp nhận thực tập sinh nước ngoài vào tu nghiệp tại Nhật Bản” đã được Bộ Lao động Thương binh và Xã hội ký với Tổ chức Hợp tác tu nghiệp quốc tế Nhật Bản (JITCO), sau này là OTIT Trong mấy chục năm hoạt động, chương trình này đã hình thành 21 doanh nghiệp phái cử Việt Nam uy tín, đủ điều kiện được JITCO chấp nhận JITCO là tổ chức phi chính phủ không trực tiếp nhận tu nghiệp sinh mà chỉ thực hiện những hoạt động như trao đổi thông tin với cơ quan Chính phủ các nước có nhu cầu đào tạo lao động tại Nhật Bản và các doanh nghiệp /tổ chức tiếp nhận của Nhật Bản Thông thường, JITCO sẽ đảm đương luôn nhiệm vụ chỉ dẫn, giúp đỡ, cung cấp thông tin liên quan về việc xuất nhập cảnh, thay đổi hay gia hạn thời gian lưu trú của tu nghiệp sinh Bên cạnh đó, JITCO còn hỗ trợ khởi nghiệp cho các lao động hết thời hạn về nước, hay tạo việc làm cho họ

Trang 37

bằng cách liên hệ với các doanh nghiệp, tổ chức Nhật Bản tại Việt Nam Tu nghiệp sinh thường làm trong các lĩnh vực như điện tử, gia công cơ khí, đóng tàu biển,

* Chương trình hợp tác với cơ quan phát triển nguồn nhân lực Nhật Bản (IM JAPAN)

Năm 2005, Bộ Lao động –Thương binh và xã hội đã ký bản thỏa thuận với IM JAPAN để đưa lao động đi thực tập sinh Lao động theo các chương trình của IM JAPAN được hỗ trợ tiền học phí đào tạo 4 tháng, không phải đóng chi phí ban đầu (trừ

ăn ở, hộ chiếu, visa, chi phí ăn ở trong thời gian đào tạo tại VN IM JAPAN cũng kết hợp với Bộ Lao động- Thương binh xã hội để tìm việc ở những công ty Nhật BảnViệt Nam cho người lao động khi trở về Việt Nam

* Chương trình hợp tác theo khuôn khổ Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản (JVEPA) thực hiện từ năm 2012 Hai Chính phủ thống nhất đưa điều dưỡng

và hộ lý Việt Nam sang Nhật Bản với sự điều phối của Bộ Lao động- Thương binh và

xã hội, cụ thể là Cục quản lý lao động ngoài nước sẽ trực tiếp chịu trách nhiệm thực hiện Đây là cơ hội rất lớn để lao động ngành điều dưỡng được học tập và làm việc trong môi trường chuyên nghiệp, nâng cao trình độ chuyên môn

Ngoài ba chương trình này ra, cũng có một lượng lớn lao động Việt Nam có hợp đồng lao động cá nhân với các công ty dưới dạng chuyên gia Họ là những kỹ sư, kỹ thuật viên có tay nghề cao, công nghệ thông tin, những người có trình độ đại học và trên đại học đến làm việc tại Nhật Bản Những đối tượng này được học tập và làm việc trong thời gian 3 năm và có thể gia hạn thêm 2 năm với mức lương trung bình là 250.000yên/tháng (khoảng 50-60 triệu đồng), được cung cấp nhà ở tiện nghi, môi trường làm việc hiện đại Tuy nhiên, yêu cầu về chuyên môn và ngoại ngữ (tiếng Nhật, tiếng Anh) cũng rất cao

Trước đây, chương trình tu nghiệp sinh đi Nhật Bản có hai hình thức: hợp đồng 3 năm và hợp đồng 1 năm Tuy nhiên, trong chuyến thăm chính thức Nhật Bản và tham

dự Hội nghị tương lai Châu Á lần thứ 23, tổ chức ngày 6/6/2017, hai chính phủ đã ký kết Bản ghi nhớ hợp tác về Chương trình thực tập kỹ năng MOC1, quy định từ tháng 1/11/2017 chính thức tăng visa lao động từ 3 đến 5 năm trong lĩnh vực nông nghiệp,

1 MOC: Bản ghi nhớ hợp tác về chế độ thực tập sinh kỹ năng giữa Dolab và JICWELS

Trang 38

chế biến thực phẩm và chăm sóc sức khỏe

Thêm vào đó, cuối tháng 11 năm 2016, Nhật Bản quyết định cấp quyền vĩnh trú cho lao động trình độ cao làm việc chỉ sau 1 năm (trước đây là 5 năm) Quyết định này được thực thi vào cuối tháng 3/2017 khiến Nhật được coi là một trong những quốc gia cấp thẻ xanh nhanh nhất thế giới Đối tượng của chính sách này là những lao động công nghệ thông tin, du lịch, người có chức vụ cao trong các công ty, đạt trên 70 điểm cho tay nghề, kinh nghiệm làm việc và thu nhập hằng năm theo thang đo đánh giá của văn phòng nhập cư Nhật Bản Hiện nay, khoảng 2.700 lao động nước ngoài có khả năng được cấp thẻ xanh trong năm 2017 Con số này tuy nhỏ so với tổng lượng lao động nước ngoài tại Nhật Bản, tuy nhiên con số này có thể sẽ được tăng trong thời gian tới Chính sách này cũng rất phù hợp với đề nghị của thủ tướng Nhật về việc nhập khẩu khoảng 200.000 lao động nước ngoài mỗi năm bắt đầu từ 2015 Đồng thời, với chính sách mới này mở ra cơ hội việc làm cho hàng ngàn lao động, đặc biệt là những quốc gia có nền văn hóa tương đồng và có lao động trẻ, dồi dào như Việt Nam

1.2.3 Các chương trình XKLĐ điều dưỡng và hộ lý theo Hiệp định các nước

1.2.3.1 Khái quát hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam-Nhật Bản EPA

a Giới thiệu chung và lịch sử ký kết : Được coi là hiệp định FTA song phương

đầu tiên của Việt Nam JVEPA là hiệp định đối tác kinh tế Nhật Bản- Việt Nam được

ký kết vào ngày 25 tháng 12 năm 2008 và có hiệu lực vào ngày 1 tháng 10 năm 2009 Hiệp định JVEPA có nhiều thỏa thuận, cam kết giữa hai chính phủ về nhiều lĩnh vực như thương mại hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, cải thiện môi trường kinh doanh, di chuyển lao động, nhằm tạo nên một khung khổ pháp lý toàn diện, ổn định và thuận lợi cho hoạt động thương mại và đầu tư giữa các doanh nghiệp hai nước Đặc biệt, tiếp nhận lao động Việt Nam là một trong những nội dung quan trọng của Hiệp định Trong đó, một số nhóm lao động được phía Nhật Bản “khuyến khích” tiếp nhận là lực lượng có trình độ, chuyên môn cao như kỹ sư, luật sư Ngoài ra, Việt Nam cũng có nhu cầu đưa lao động có tay nghề trung bình trong khi Nhật Bản tiếp tục yêu cầu cao đối với lao động nhập cư Vì thế, Nhật Bản đã dành cho Việt Nam một chương trình hỗ trợ ODA với lãi suất thấp để mỗi năm đào tạo 200-300 điều dưỡng và hộ lý đến bệnh viện và cơ

sở chăm sóc tại Nhật Bản Đồng thời, hỗ trợ xây dựng hệ thống cấp chứng chỉ cho điều

Trang 39

dưỡng và hộ lý Việt Nam để sau có thể tiếp nhận trực tiếp lao động này sang Nhật Bản làm việc [1]

b Bối cảnh xã hội già hóa ở Nhật Bản

Năm 2016, Nhật Bản là quốc gia có tuổi thọ trung bình cao nhất thế giới (nam:

80 tuổi, nữ: 87 tuổi), Nhật Bản hiện nay đang phải đối mặt với tình trạng già hóa dân

số trầm trọng nhất trong lịch sử của nước này Tỷ lệ sinh thấp, tuổi thọ cao, hệ thống y

tế chăm sóc sức khỏe chất lượng cao, chất lượng cuộc sống HDI đứng 17 thế giới [35], tất cả những yếu tố đã đẩy Nhật Bản vào tình khó khăn tình trạng thiếu hụt nguồn lao động trong ngành y tế Với sự gia tăng chưa từng thấy của dân số già, thì công việc chăm sóc người cao tuổi cũng ngày càng nhiều và phổ biến Ngày nay, sẽ không hiếm thấy khi cô con gái tầm 65 tuổi chăm sóc cho người mẹ 90 tuổi của mình ở Nhật Bản (Ogawa Reiko, 2012) [20]

Điều này có tác động quá lớn đến xã hội Nhật Bản, từ tháng 10 năm 2006 đến tháng 9 năm 2007, có khoảng 144.800 lao động bỏ việc hoặc chuyển sang các nghề khác với mục đích thuận tiện cho việc chăm sóc cho người già trong gia đình2 Sự thay đổi ảnh hưởng đến: 1- lao động việc làm trong các ngành kinh tế, 2- ảnh hưởng sâu sắc đến khả năng cung ứng và nhu cầu về công việc chăm sóc người già Nếu tình trạng này còn tiếp tục, thì khả năng 1,2 người lao động sẽ nuôi 1 người già phụ thuộc vào những giữa thế kỷ 21 (theo Viện nghiên cứu quốc gia Nhật Bản) Trong khi chi phí cho dịch vụ bảo hiểm dài hạn càng tăng thì phúc lợi xã hội càng bị cắt giảm Thậm chí phương án trước mắt, Bộ y tế Nhật Bản đã giảm một số thuốc quá đắt tiền ra khỏi danh mục bảo hiểm y tế để giảm thiểu gánh nặng cho quỹ bảo hiểm y tế quốc dân Thêm vào đó, bối cảnh nền kinh tế đang suy thoái làm ảnh hưởng đến tiền lương nhân viên chăm sóc sức khỏe khiến cho lao động trong ngành y Nhật Bản ngày càng thiếu hụt trầm trọng

Quan sát biểu đồ 1.3, ta thấy quy mô dân số của Nhật Bản cũng bị thu hẹp trong vài năm gần đây Dân số Nhật Bản tăng theo các năm 2000 là 12.693 nghìn người, tiếp tục tăng vào 2005 là 12.777 nghìn người cho đến ngưỡng 12.806 nghìn người(2010) Trong vòng 5 năm đã giảm 146 nghìn người, bức tranh nhân khẩu càng trầm trọng hơn

2 Asahi Shimbun, 31 tháng 10 năm 2009

Trang 40

khi dự báo đến năm 2050, dân sẽ còn giảm ở mức 9.708 nghìn người, giảm 30 triệu

người trong 35 năm

Biểu đồ 1.3: Dân số theo nhóm tuổi giai đoạn 1950-2015, dự báo đến năm 2050 ở

Nhật Bản

Nguồn: [18]

Như vậy, tỉ lệ dân số từ 65 tuổi trở lên ngày càng tăng nhanh Đến năm 2000 đã đạt 17,4%, gấp 3,5 lần trong vòng 50 năm(vào năm 1950 là 4,9%.) Tỷ lệ này còn tiếp tục tăng và đạt 26,0% (tương đương gần với 34 triệu người già) vào năm 2015 Dự báo đến năm 2050, tỉ lệ người từ độ tuổi 65 trở lên sẽ chiếm 38.8% trong tổng dân số.Nghĩa là, cứ 3 người Nhật thì sẽ có 1 người trên 65 tuổi

Nhật Bản chính thức bắt đầu trở thành một “xã hội siêu già” vào năm 2007, [21] với tỉ lệ người ngoài độ tuổi lao động trên 21% dẫn đến khủng hoảng chăm sóc người già chưa từng có Theo một quy tắc chung được ngành y tế Nhật Bản xây dựng để đảm bảo chất lượng chăm sóc bệnh nhân, tỷ lệ điều dưỡng trên bệnh nhân tối đa là 7/1, điều này có nghĩa là một điều dưỡng phải chăm sóc nhiều nhất là 7 bệnh nhân Tuy nhiên, hiện tại, các bệnh viện tại Nhật Bản đang rất khó khăn để duy trì tỉ lệ này Không chỉ ở

Ngày đăng: 03/04/2018, 12:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ Công thương (2014.), Ấn phẩm Những điều doanh nghiệp cần biết về Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam- Nhật Bản, Nxb Hồng Đức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điều doanh nghiệp cần biết về Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam- Nhật Bản
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
9. Nguyễn Nam Phương (2011), Giáo trình Dân số và phát triển, Nxb Đại học kinh tế Quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Dân số và phát triển
Tác giả: Nguyễn Nam Phương
Nhà XB: Nxb Đại học kinh tế Quốc dân
Năm: 2011
11. Tổng cục thống kê, tài liệu và niên giám thống kê Việt Nam, các năm 2010-2016 12. Richard Perruchoud, Jillyanne Redpath- Cross (2011), Giải thích thuật ngữ về dicư, xuất bản trong khuôn khổ dự án Nâng cao năng lực quản lý di cư quốc tế.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải thích thuật ngữ về di "cư
Tác giả: Tổng cục thống kê, tài liệu và niên giám thống kê Việt Nam, các năm 2010-2016 12. Richard Perruchoud, Jillyanne Redpath- Cross
Năm: 2011
14. Ballesca (2010) Sharing Care: Economic Partnership Agreement and Beyond 15. Ballesca (2007), For whose care? Filipino nurses and Caregivers in Japan:Bilateral issues and concerns Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sharing Care: Economic Partnership Agreement and Beyond "15. Ballesca (2007)", For whose care? Filipino nurses and Caregivers in Japan
Tác giả: Ballesca (2010) Sharing Care: Economic Partnership Agreement and Beyond 15. Ballesca
Năm: 2007
17. Douglas, M. 2006, Global Householding, the missing Dimention of Transnational Migration Research and Policy in Pacific Asia, Global Movement in the Asia Pasific, Pitsumeikan Asia Pacific University. Beppu, pp17 18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Global Householding, the missing Dimention of Transnational Migration Research and Policy in Pacific Asia, Global Movement in the Asia Pasific
18. Kamiya (2016), International migration of care personnel in the context of global aging, National Institude of Population and Social Security Research, Japan Sách, tạp chí
Tiêu đề: International migration of care personnel in the context of global aging
Tác giả: Kamiya
Năm: 2016
21. Ohno Shun (2012), Transcending the National Boundaries: An Overview of Indonesian and Filipino Workers in Japan and Abroad, Southeast Asian Nurses and Caregiving Workers Sách, tạp chí
Tiêu đề: Transcending the National Boundaries: An Overview of Indonesian and Filipino Workers in Japan and Abroad
Tác giả: Ohno Shun
Năm: 2012
22. Oishi, N., 2002, Gender and Migration : An Intergrative Approach , Working Paper 49, Center for Comparative Immigration Studies Working Papers.Unversity of California, San Diego, p.8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gender and Migration : An Intergrative Approach
24. Yoshiko Naiki (2011), Migration of Health Workers, Under the Japan – Philipinies and Japan – Indonesia, Economic Partnership Argreement:Challenge and Implications of Japanese Training Framework Sách, tạp chí
Tiêu đề: Migration of Health Workers, Under the Japan – Philipinies and Japan – Indonesia, Economic Partnership Argreement
Tác giả: Yoshiko Naiki
Năm: 2011
25. Solomon, S., 2005, Migration, the State, the Democracy: the Case of Philipines. Paper presented at annual meeting of International Studies Association, Hilton Haiwaiian Village, Honolulu, Hawaii, March 05, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Migration, the State, the Democracy: the Case of Philipines
30. www.molisa.gov.vn/ website của bộ Lao động Thương binh- Xã hội 31. http://tomonivj.jp/dieu-kien-de-co-lam-dieu-duong-ho-ly-tai-nhat/ Link
1. Bộ Y tế (2014), Cục khoa học công nghệ và đào tạo _Tổng hợp từ 12 trường Đại học công lập có báo cáo Khác
3. Bộ Luật lao động nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1994), Nhà xuât bản Chính trị quốc gia Hà Nội Khác
4. Bộ Y tế, Cục Quản lý khám, chữa bệnh (2017), Kết quả công tác điều dưỡng năm 2015 và nhiệm vụ trọng tâm năm 2016-2017 Khác
8. NPO, Pháp nhân NPO AHP Networks (2011), báo cáo Dự án đào tạo nhân lực Y tế, Phúc lợi người nước ngoài Khác
10. Tổng cục thống kê (2017), Báo cáo tình hình kinh tế-xã hội quý 1 năm 2017 Khác
13. Ballesca, Maria Rosario Piquero (2009), Filipino Caregivers in Japan: The State, Agents, and Emerging Issue Khác
16. Chantal Thomas and Joel P.Trachtman eds(2009), Development by Moving Khác
19. Ministry of Industry Trade(2012), Agreement between Japan and Socialist Republic of Vietnam, April 17, 2012 Khác
20. Ogawa Reiko (2012), Globalization of Care and the Context of Reception of Southeast Asian Care Workers in Japan Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w