Đô thị hóa tỉnh Long An Thực trạng và định hướng phát triển (Luận văn thạc sĩ)Đô thị hóa tỉnh Long An Thực trạng và định hướng phát triển (Luận văn thạc sĩ)Đô thị hóa tỉnh Long An Thực trạng và định hướng phát triển (Luận văn thạc sĩ)Đô thị hóa tỉnh Long An Thực trạng và định hướng phát triển (Luận văn thạc sĩ)Đô thị hóa tỉnh Long An Thực trạng và định hướng phát triển (Luận văn thạc sĩ)Đô thị hóa tỉnh Long An Thực trạng và định hướng phát triển (Luận văn thạc sĩ)Đô thị hóa tỉnh Long An Thực trạng và định hướng phát triển (Luận văn thạc sĩ)Đô thị hóa tỉnh Long An Thực trạng và định hướng phát triển (Luận văn thạc sĩ)Đô thị hóa tỉnh Long An Thực trạng và định hướng phát triển (Luận văn thạc sĩ)Đô thị hóa tỉnh Long An Thực trạng và định hướng phát triển (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS ĐÀM NGUYỄN THÙY DƯƠNG
Thành phố Hồ Chí Minh – 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của bản thân tôi Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực chưa từng công bố trong những công trình nào khác Mọi trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc
TP Hồ Chí Minh, ngày……tháng … …năm 2017
Tác giả ký tên
Lê Ngọc Thuật
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn và kính trọng sâu sắc, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý Thầy giáo, Cô giáo Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả học tập và hoàn thành luận văn
Tác giả xin chân thành cảm ơn TS Đàm Nguyễn Thùy Dương – người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giải đáp những vướng mắc mà tác giả gặp phải trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tiếp theo, tác giả cũng xin chân thành cảm ơn các cơ quan, ban ngành ở tỉnh Long An: UBND tỉnh Long An, Cục thống kê tỉnh Long An, Sở xây dựng, Sở Giao thông vận tải, Sở Tài Nguyên và Môi Trường đã hỗ trợ tận tình giúp tác giả thu thập được những số liệu, tài liệu quý giá phục vụ cho đề tài nghiên cứu Tác giả rất biết ơn Ông Nguyễn Văn Thiệp – bí thư huyện ủy Cần Giuộc là người đã động viên và giúp đỡ tác giả liên hệ với các cơ quan, ban ngành ở tỉnh Long An trong quá trình tìm kiếm số liệu phục vụ cho bài luận văn
Cuối cùng, tác giả xin gửi lời cảm ơn đến tập thể giáo viên trường THCS & THPT Nguyễn Thị Một, bạn bè, người thân và gia đình đã luôn ủng hộ, động viên và giúp đỡ tạo mội điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn
TP Hồ Chí Minh, ngày……tháng …… năm 2017
Tác giả
Lê Ngọc Thuật
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục biểu đồ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÔ THỊ HÓA 10
1.1 Cơ sở lí luận về đô thị hóa 10
1.1.1 Khái niệm 10
1.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình đô thị hóa 14
1.1.3 Đặc trưng của quá trình đô thị hóa 20
1.1.4 Các tiêu chí đánh giá quá trình đô thị hóa 23
1.1.5 Tác động của đô thị hóa đến phát triển kinh tế – xã hội và môi trường 24
1.2 Cơ sở thực tiễn về đô thị hóa ở một số vùng và địa phương trong cả nước 31
1.2.1 Ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long 31
1.2.2 Ở tỉnh Bình Dương 33
Tiểu kết chương 1 36
Chương 2 THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA Ở TỈNH LONG AN 37
2.1 Giới thiệu về tỉnh Long An 37
2.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình đô thị hóa của tỉnh Long An 38
2.2.1 Vị trí địa lý 38
2.2.2 Nhóm nhân tố tự nhiên 41
2.2.3 Nhóm nhân tố kinh tế – xã hội 47
2.3 Thực trạng đô thị hóa ở tỉnh Long An 56
2.3.1 Sự gia tăng dân số đô thị 56
2.3.2 Tỷ lệ dân thành thị 65
2.3.3 Mật độ dân số đô thị 67
Trang 62.3.4 Sự mở rộng lãnh thổ đô thị 69
2.4 Tác động của quá trình đô thị hóa đến kinh tế – xã hội và môi trường 72
2.4.1 Tác động tích cực 72
2.4.2 Tác động tiêu cực 87
Tiểu kết chương 2 99
Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ TỈNH LONG AN ĐẾN NĂM 2030 101
3.1 Cơ sở định hướng phát triển đô thị tỉnh Long An đến năm 2030 101
3.1.1 Quan điểm phát triển đô thị của vùng đồng bằng sông Cửu Long 101
3.1.2 Quan điểm phát triển kinh tế và đô thị của tỉnh Long An đến năm 2030 103
3.2 Định hướng phát triển đô thị tỉnh Long An đến năm 2030 106
3.2.1 Định hướng phát triển quy mô dân số đô thị tỉnh Long An 106
3.2.2 Định hướng phát triển không gian đô thị tỉnh Long An 108
3.2.3 Định hướng phát triển CSHT và mạng lưới GTVT tỉnh Long An 111
3.2.4 Định hướng phát triển các hành lang đô thị 118
3.3 Giải pháp thúc đẩy quá trình đô thị hóa tỉnh Long An 119
3.3.1 Giải pháp phát triển liên kết vùng trong quá trình phát triển đô thị 119
3.3.2 Giải pháp phát triển quy hoạch đô thị tỉnh Long An 121
3.3.3 Giải pháp huy động nguồn vốn phát triển đô thị tỉnh Long An 122
3.3.4 Giải pháp quản lý Nhà nước 123
3.3.5 Giải pháp phát triển công nghiệp 124
3.3.6 Giải pháp bảo vệ môi trường đô thị 125
3.3.7 Giải pháp phát triển, đào tạo nguồn nhân lực 126
Tiểu kết chương 3 128
KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 129
TÀI LIỆU THAM KHẢO 132 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CNH – ĐTH : Công nghiệp hóa – đô thị hóa
CNH – HĐH : Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Quy mô dân số và tỷ lệ dân thành thị trên thế giới giai đoạn
1960 – 2015 và dự báo đến năm 2050 21 Bảng 2.1 Tổng dân số, dân thành thị và tỷ lệ dân thành thị phân theo các đơn vị
hành chính trên địa bàn tỉnh Long An, năm 2015 60 Bảng 2.2 Mật độ dân số đô thị phân theo đơn vị hành chính trên địa bàn tỉnh
Long An, năm 2015 68 Bảng 2.3 Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh Long An phân theo khu vực kinh tế,
giai đoạn 2005 -2015 73 Bảng 2.4 Số trường THPT phân bố theo thành thị và nông thôn trên địa bàn các
huyện ở tỉnh Long An, năm 2015 83 Bảng 2.5 Tỷ suất sinh thô, tử thô phân theo thành thị và nông thôn trên địa bàn
tỉnh Long An, giai đoạn 2005 – 2015 86 Bảng 2.6 Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động phân theo thành thị và nông
thôn trên địa bàn tỉnh Long An, giai đoạn 2005 – 2015 88 Bảng 2.7 Tỷ lệ hộ nghèo, mức thu nhập hàng tháng phân theo thành thị và nông
thôn trên địa bàn tỉnh Long An, giai đoạn 2010 – 2015 92 Bảng 2.8 Tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên phân theo thành thị và nông thôn trên
địa bàn tỉnh Long An, giai đoạn 2005 – 2015 93 Bảng 2.9 Cơ cấu dân số tỉnh Long An phân theo nhóm tuổi, giai đoạn
2010 – 2015 94 Bảng 3.1 Mục tiêu cơ cấu ngành kinh tế tỉnh Long An đến năm 2020 và tầm
nhìn đến năm 2030 104
Trang 9Long An, giai đoạn 2005 – 2015 78Hình 2.10 Biểu đồ tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên phân theo khu vực thành thị
và trên địa bàn tỉnh Long An, giai đoạn 2005 – 2015 85
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Đô thị hóa (ĐTH) là quá trình vận động, biến đổi phức tạp có liên quan sâu sắc đến
sự phát triển kinh tế – xã hội và môi trường sống của nhân loại Trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội, ĐTH là một quy luật tất yếu mà tất cả các quốc gia trên thế giới đều phải trải qua Công nghiệp hóa (CNH) là tiền đề cần thiết đảm bảo cho sự thành công của quá trình ĐTH, đô thị được xem là người “bạn” song hành và là kết quả sau cùng của quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa (CNH – HĐH) Ngày nay, các đô thị phản ánh sức mạnh của nền kinh tế và là thước đo cho trình độ phát triển của một quốc gia Do đó, nhiều quốc gia trên thế giới đã tạo điều kiện cho quá trình ĐTH diễn
ra một cách thuận lợi để nhanh chóng gặt hái được những thành công như: Đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, tạo tiền đề chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, tạo việc làm, thay đổi sinh kế, nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống của cư dân… Tuy nhiên, ĐTH tự phát và không gắn liền với quá trình CNH ở nhóm các quốc gia đang phát triển cũng đã để lại nhiều hệ lụy như: Môi trường đô thị xuống cấp, xuất hiện phân hóa giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị, hình thành các khu nhà ổ chuột, sự quá tải về
phát triển cơ sở vật chất – hạ tầng kĩ thuật…
Từ sau Đổi Mới (năm 1986) đến nay, đường lối tự do hóa nền kinh tế đã góp phần đưa Việt Nam thoát khỏi tình trạng khủng hoảng và trở thành một trong những quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trên thế giới Đến Đại hội VIII (năm 1996), Đảng
ta đề ra mục tiêu mới: Xác định CNH – HĐH là con đường duy nhất đưa nước ta thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu và sớm cơ bản trở thành một nước công nghiệp (CN) theo hướng hiện đại vào năm 2020 Những đường lối trên là tiền đề quan trọng thúc đẩy quá trình CNH – ĐTH ở nước ta phát triển ngày càng mạnh mẽ Song, trong quá trình phát triển CN và đô thị cũng đã bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém gây ra những
hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng lâu dài đến sự phát triển của đất nước
Tỉnh Long An nằm ở vị trí “bản lề” kết nối vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (KTTĐPN) Đồng thời, Long An lại liền kề với TP HCM Vị trí lãnh thổ này đã tạo ra nhiều lợi thế cho quá trình tập trung dân cư và phát triển đô thị trên địa bàn tỉnh Trong gần hai thập niên qua, Long An đã
Trang 11nhanh chóng hình thành các khu – cụm công nghiệp (K – CCN) bao quanh TP HCM, góp phần quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn tỉnh Theo như Engels đã nhận định: “Nhà máy sinh ra đô thị” nghĩa là khi quá trình CNH trên địa bàn tỉnh Long An phát triển mạnh mẽ sẽ làm biến đổi vùng nông thôn trở thành đô thị và góp phần mở rộng lãnh thổ các đô thị Hơn nữa, vị trí lãnh thổ kề bên TP HCM – siêu đô thị lớn nhất cả nước, đã đưa Long An nằm trong không gian vùng đô thị mở rộng của TP Từ đó, nhiều đô thị trên địa bàn tỉnh được quy hoạch trở thành các đô thị
vệ tinh, đảm nhận nhiệm vụ mở rộng không gian đô thị của TP HCM về phía nam
Sở hữu riêng cho mình nhiều thế mạnh, các đô thị tỉnh Long An được kì vọng sẽ phát triển nhanh, mạnh và tiến xa hơn nữa trong quá trình ĐTH Thế nhưng, vì nhiều nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan, quá trình ĐTH ở tỉnh vẫn phát triển chưa tương xứng với tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế và chưa khai thác được hết tiềm năng từ vị trí địa lý Do đó, nghiên cứu đề tài nhằm làm sáng tỏ thực trạng ĐTH trên địa bàn tỉnh Long An trong những năm gần đây, cùng với tác động của quá trình này đến sự phát triển kinh tế – xã hội và môi trường Lấy đó làm căn cứ đưa ra những định hướng, cùng các giải pháp thúc đẩy quá trình ĐTH trên địa bàn tỉnh phát triển Khi đô thị tỉnh Long An phát triển sẽ tạo ra động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cải thiện chất lượng cuộc sống dân cư và nâng cao hơn nữa vị thế “cửa ngõ” phía nam, thúc đẩy giao thương giữa TP HCM với các tỉnh miền Tây Nam Bộ Xuất phát từ những lý do trên, nghiên cứu ĐTH trên địa bàn tỉnh Long An ngày càng trở nên bức thiết và cùng mong muốn đóng góp một phần sức của bản thân vào công tác quy hoạch chuẩn bị cho sự
phát triển đô thị trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới, tác giả chọn đề tài: “Đô thị hóa
tỉnh Long An: Thực trạng và định hướng phát triển” để nghiên cứu
2 Mục tiêu của đề tài
Tổng quan cơ sở lí luận và thực tiễn về ĐTH để phân tích thực trạng ĐTH ở tỉnh Long An, từ đó đề xuất những định hướng và giải pháp thúc đẩy quá trình ĐTH trên địa bàn
3 Nhiệm vụ của đề tài
Đúc kết các cơ sở lí luận và thực tiễn về quá trình ĐTH
Phân tích các nhân tố ảnh hưởng quá trình ĐTH ở tỉnh Long An
Trang 12 Nghiên cứu thực trạng quá trình ĐTH trên địa bàn tỉnh
Đề xuất định hướng và giải pháp phát triển đô thị ở tỉnh Long An đến năm
2030
4 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Về nội dung: đề tài tập trung nghiên cứu về thực trạng ĐTH trên địa bàn tỉnh Long An Từ đó đưa ra những định hướng và giải pháp phát triển phù hợp cho đô thị
của tỉnh trong những năm tiếp theo
Về không gian: đề tài nghiên cứu trong phạm vi toàn tỉnh Long An
Về thời gian: nghiên cứu quá trình ĐTH ở tỉnh Long An từ năm 2005 đến năm
2015, định hướng đến năm 2030 Riêng về lịch sử hình thành tỉnh Long An mở rộng
thêm thời gian trước năm 2000
5 Lịch sử nghiên cứu đề tài
ĐTH và phân tích những tác động của quá trình này đến sự phát triển kinh tế – xã hội và môi trường, từ lâu đã là một đề tài được nhiều nhà khoa học quan tâm và nghiên cứu Do vậy, cho đến thời điểm hiện nay đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về đô thị và ĐTH ở Việt Nam như: “Quy hoạch xây dựng phát triển đô thị” của GS TS Nguyễn Thế Bá năm 1997, “Quản lý đô thị thời kỳ chuyển đổi” của TS Võ Kim Cương năm
2004 đã trình bày tổng quan khái niệm về đô thị và ĐTH, cũng như khái quát một số ảnh hưởng từ quá trình ĐTH đến sự phát triển kinh tế – xã hội đô thị Bên cạnh đó, tác giả cũng đã trình bày những thay đổi của đô thị nước ta trong quá trình phát triển kinh
tế, cũng như một số vấn đề trái chiều do quá trình ĐTH để lại “Địa lí đô thị” của TS Phạm Thị Xuân Thọ năm 2008 đã tổng hợp nhiều quan điểm, cách nhìn nhận về đô thị
và ĐTH hiện nay Trong giáo trình này, tác giả cũng đã khái quát được lịch sử, tình hình phát triển đô thị trên Thế giới cũng như ở Việt Nam Giáo trình này đã trình bày một số vấn đề mà đô thị Việt Nam đang gặp phải trong quá trình phát triển Đồng thời, tác giả đã đưa ra một số giải pháp khắc phục được nhiều quốc gia đi trước áp dụng thành công… Bên cạnh những giáo trình trên, ở nước ta cũng có nhiều nghiên cứu và báo cáo liên quan đến vấn đề đô thị và ĐTH như: “Đánh giá đô thị hóa ở Việt Nam” năm 2010 do Ngân hàng thế giới phối hợp thực hiện đã đánh giá sự phát triển của hệ thống đô thị Việt Nam thông qua phân tích sự chuyển đổi về địa giới hành chính,
Trang 13không gian, kinh tế, dân số và phúc lợi Báo cáo này cũng đã đưa ra nhận định quá trình ĐTH ở nước ta sẽ sớm chuyển sang giai đoạn trung gian gắn liền với nền kinh tế
CN hiện đại thông qua phân tích 5 sự chuyển đổi trên Ở chương 3, báo cáo đã nêu lên những thành công của Việt Nam về vấn đề nhà ở đô thị trong giai đoạn đầu của quá trình ĐTH ở Việt Nam Tuy nhiên, báo cáo này cũng chỉ ra sự yếu kém trong công tác quản lý thị trường bất động sản của chính quyền các đô thị đã làm nảy sinh tình trạng chênh lệch bất thường về giá trị bất động sản giữa giá do nhà nước quy định và giá trên thị trường Ngoài ra, còn có chuyên khảo về “Di cư và đô thị hóa ở Việt Nam” do Quỹ dân số Liên Hợp Quốc phối hợp cùng Tổng cục thống kê thực hiện thông qua cuộc điều tra dân số giữa kì ở Việt Nam năm 2014 Phần đầu của chuyên khảo này đã
đề cập về thực trạng di cư, tìm hiểu các đặc điểm về nhân khẩu học và tình trạng kinh
tế của người di cư Ở phần sau, chuyên khảo đã cung cấp khái niệm về đô thị và ĐTH,
xu hướng ĐTH ở nước ta thông qua các cuộc tổng điều tra dân số Chuyên khảo cũng
đã nêu lên sự phân hóa trong quá trình phát triển đô thị giữa các tỉnh, TP và các vùng kinh tế ở nước ta Đặc biệt, trong chuyên khảo này đã nêu bật lên mối liên hệ giữa các luồng di cư với quá trình ĐTH
Bên cạnh đó, ĐTH cũng là vấn đề đã được nhiều nghiên cứu sinh, học viên cao học quan tâm và lựa chọn làm đề tài nghiên cứu như: Luận án “Nghiên cứu quá trình
đô thị hóa và ảnh hưởng của nó đến sự phát triển kinh tế – xã hội Thành phố Cần Thơ” của TS Phạm Đỗ Văn Trung năm 2014 đã trình bày khái quát các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình ĐTH TP Cần Thơ Đồng thời, tác giả đã nhận diện quá trình ĐTH trên địa bàn TP Cần Thơ bằng phương pháp phân cụm thứ bậc Luận văn cũng đã làm sáng
tỏ tác động của quá trình ĐTH đến sự phát triển kinh tế – xã hội của TP Cần Thơ như: thúc đẩy quá trình tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn, sự thay đổi sinh kế của người dân TP Cần Thơ trong quá trình trở thành thị dân, quá trình chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất ở TP trong thời gian qua… Đồng thời, căn cứ vào thực tiễn cùng quan điểm phát triển của chính quyền TP Cần Thơ, tác giả đã mạnh dạn đưa ra những định hướng và giải pháp góp phần thúc đẩy quá trình phát triển đô thị trên địa bàn TP Hay luận văn “Tác động của quá trình đô thị hoá đến sự phát triển kinh tế – xã hội huyện Bình Chánh – Thành phố Hồ Chí Minh” của Th.S Dương Lệ Mẫn năm
Trang 142009, “Quá trình đô thị hoá quận 2 – Tp Hồ Chí Minh và những tác động đối với kinh
tế – xã hội” của Th.S Trần Thị Bích Huyền năm 2009, luận văn “Quá trình đô thị hóa của tỉnh Khánh Hòa” của Th.S Đỗ Nguyễn Thùy Trang năm 2013 và luận văn “Đô thị hóa tỉnh An Giang: Thực trạng và giải pháp” của Th.S Trần Phước Hậu năm 2015 Các luận văn trên đã trình bày hiện trạng của quá trình ĐTH ở địa bàn các huyện Bình Chánh, quận 2 – TP HCM, tỉnh Khánh Hoà, tỉnh An Giang và các tác giả đã đưa ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình ĐTH ở các địa phương trên Luận văn “Tác động của quá trình đô thị hóa thành phố Hồ Chí Minh đến huyện Cần Giuộc, Cần Đước tỉnh Long An dưới góc độ địa lý kinh tế – xã hội” của Th.S Huỳnh Thị Thu Tâm năm 2009 đã trình bày tổng quan cơ sở lí luận về đô thị, ĐTH và tổ chức lãnh thổ đô thị Tác giả Huỳnh Thị Thu Tâm đã trình bày quá trình phát triển của không gian đô thị TP HCM và nêu lên những tác động của quá trình ĐTH ở TP HCM đến sự phát triển về kinh tế lẫn xã hội của hai huyện Cần Giuộc và Cần Đước (tỉnh Long An) Sau
đó, căn cứ vào thực trạng nghiên cứu, tác giả cũng đã đưa ra một số định hướng thúc đẩy quá trình phát triển đô thị trên địa bàn TP HCM, cũng như ở hai huyện Cần Giuộc
và Cần Đước (tỉnh Long An) trong quá trình lan tỏa ĐTH từ TP HCM
Các giáo trình, chuyên khảo, đề tài nghiên cứu ở trên đã đề cập rất nhiều về cơ sở lí luận cũng như thực tiễn của quá trình ĐTH Đó sẽ là nguồn tài liệu tham khảo vô cùng quý giá và bổ ích cho tác giả khi thực hiện nghiên cứu đề tài này Dù đã có nhiều đề tài
đi trước nghiên cứu về cơ sở lí luận và thực tiễn của quá trình ĐTH, nhưng nhìn chung còn ít đề tài tập trung nghiên cứu một cách có hệ thống về vấn đề ĐTH ở tỉnh Long
An Đề tài này dựa trên sự kế thừa nền tảng cơ sở lí luận của những đề tài đi trước để phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình ĐTH, cũng như tác động của quá trình ĐTH đến phát triển kinh tế – xã hội và môi trường của tỉnh Long An Từ đó, làm căn cứ để đề xuất những định hướng phát triển đô thị trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới
Trang 156 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
6.1 Quan điểm nghiên cứu
6.1.1 Quan điểm tổng hợp lãnh thổ
Đây là quan điểm truyền thống của địa lý học Theo quan điểm này, các đối tượng địa lý gồm địa lý tự nhiên và địa lý kinh tế – xã hội đều có sự phân hóa theo không gian lãnh thổ do sự khác biệt về các nhân tố ảnh hưởng Do đó, quá trình ĐTH trên địa bàn tỉnh Long An được tác giả xem xét một cách tổng thể bằng cách đặt quá trình ĐTH ở tỉnh vào quá trình ĐTH của toàn vùng ĐBSCL và vùng KTTĐPN Quan điểm này giúp luận văn có cách nhìn nhận tổng quát và đưa ra những phân tích, đánh giá, định hướng và giải pháp phù hợp, sâu sắc hơn cho tình hình phát triển đô thị trên địa bàn các huyện ở tỉnh Long An
Với quan điểm này, quá trình ĐTH của tỉnh Long An được tác giả xem xét dựa trên những tác động qua lại với quá trình ĐTH của các vùng lãnh thổ kề bên (đặc biệt là TP HCM) Đồng thời, tác giả cũng quan tâm đến mối liên hệ giữa ĐTH và quá trình phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh Long An, để có thể đưa ra được những đánh giá mang tính hệ thống về những tác động giữa ĐTH đến quá trình phát triển kinh tế – xã hội và môi trường
6.1.3 Quan điểm lịch sử – viễn cảnh
Đây cũng quan điểm thường xuyên được sử dụng trong nghiên cứu địa lý học Dựa trên quan điểm này: Mỗi đối tượng địa lý đều có quá trình hình thành, phát triển và biến đổi theo không gian lẫn thời gian Vì vậy, khi tiến hành nghiên cứu cần chú ý đến yếu tố lịch sử để nhìn nhận lại quá trình phát triển của đối tượng, lấy quá khứ lí giải cho hiện tại, căn cứ trên hiện tại dự báo cho tương lai Từ đó, bài nghiên cứu có thể đưa ra những phân tích và định hướng xác đáng
Trang 16Đô thị tỉnh Long An được hình thành từ lâu, có quá trình xây dựng, phát triển và
mở rộng Do đó, tác giả đứng trên quan điểm này nhìn nhận quá trình ĐTH ở tỉnh Long An trong quá khứ kết hợp với thực trạng phát triển trong những năm trở lại đây,
để đưa ra những phân tích, nhận định cùng những phương hướng, giải pháp phát triển phù hợp trong tương lai Những phân tích, nhận định nếu tách rời quá khứ thì việc đánh giá thực trạng phát triển đô thị của tỉnh sẽ thiếu đi độ chính xác, do quá trình phát triển đô thị hiện tại là kết quả của quá trình ĐTH trong quá khứ Nếu xa rời hiện tại thì những định hướng phát triển đô thị cho tương lai lại thiếu tính thực tế và càng không
có cơ sở để lập quy hoạch phát triển các đô thị trên địa bàn tỉnh
6.1.4 Quan điểm sinh thái và phát triển bền vững
Trong quá trình phát triển kinh tế, con người đã ít nhiều tác động đến môi trường
tự nhiên làm cho môi trường xung quanh diễn biến theo nhiều chiều hướng khác nhau Những biến đổi của môi trường tự nhiên sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống con người Vì vậy, hiện nay bất cứ một vấn đề phát triển kinh tế – xã hội nào đi chăng nữa đều được con người đặt vấn đề bảo vệ môi trường và phát triển bền vững lên hàng đầu Đây là quan điểm xuyên suốt của tác giả trong quá trình thực hiện luận văn
Không thể phủ nhận những tác động tích cực của quá trình ĐTH tỉnh Long An đến
sự phát triển kinh tế – xã hội và môi trường Tuy nhiên, quá trình này cũng để lại không ít những ảnh hưởng xấu đến môi trường sống của con người Do vậy, quán triệt quan điểm này khi đề xuất phương hướng phát triển, cùng quy hoạch đô thị tỉnh Long
An, tác giả đặc biệt chú ý đến vấn đề bảo vệ môi trường Kiến nghị phát triển đô thị tỉnh Long An theo hướng đô thị sinh thái, phát triển bền vững hướng tới đô thị xanh đảm bảo hài hòa nhu cầu phát triển cho hiện tại và cả thế hệ mai sau
6.2 Phương pháp nghiên cứu
6.2.1 Phương pháp thu thập tài liệu
Cũng như những ngành khoa học khác, địa lý học là ngành khoa học kế thừa những thành tựu của nhân loại, những nghiên cứu đi trước Do đó, trong nghiên cứu khoa học địa lý thì phương pháp thu thập tài liệu là phương pháp không thể thiếu
Trong đề tài này, tác giả chủ yếu thu thập tài liệu về đề tài đô thị và ĐTH từ các ấn phẩm, giáo trình, luận án, luận văn, tạp chí, các thông tư, nghị định, niên giám thống
Trang 17kê, cùng với các tài liệu về kinh tế – xã hội của tỉnh Long An trong giai đoạn 2005 –
2015 Các tài liệu này trước hết là tiền đề giúp tác giả tổng quan được cơ sở lí luận và thực tiễn về quá trình ĐTH tạo dựng nên dàn ý của bài luận văn
6.2.2 Phương pháp thống kê – xử lí số liệu
Trong luận văn có sử dụng phương pháp phân tích, xử lí số liệu từ tổng cục thống
kê, niên giám thống kê của Cục thống kê tỉnh Long An, cùng với các số liệu từ Sở xây dựng tỉnh Long An cùng nhiều ban ngành khác có liên quan Tuy nhiên, việc thu thập các số liệu từ nhiều nguồn khác nhau chắc chắn giữa chúng sẽ có độ vênh nhất định
Do đó, quá trình tính toán, phân tích và xử lí số liệu sao cho phù hợp với tình hình trên thực tế khách quan của tỉnh Long An là một công đoạn không thể thiếu trong quá trình làm luận văn Nhờ phương pháp này, tác giả có thể đưa ra những đánh giá nhận định
và kết luận mang tính khoa học hơn, sâu sát với thực tế hơn về quá trình ĐTH của tỉnh
6.2.3 Phương pháp bản đồ
Đây là phương pháp đặc trưng của khoa học địa lý, các đối tượng được thể hiện trên bản đồ sẽ giúp người xem định vị được không gian phân bố, phát triển của đối tượng địa lý một cách cụ thể, trực quan hơn
Trong đề tài này, tác giả sử dụng nhiều bản đồ khác nhau như: bản đồ hành chính, bản đồ các KCN tỉnh Long An, bản đồ giao thông, bản đồ dân cư và đô thị tỉnh Long An… Trong đó, một số bản đồ được xây dựng bởi phần mềm Mapinfo 10.5 từ các số liệu đã được xử lý
6.2.4 Phương pháp phân tích – so sánh – tổng hợp
Dựa trên những tài liệu, số liệu thu thập được cùng với thực tiễn phát triển của các
đô thị trên Thế giới và ở Việt Nam Tác giả lấy đó làm căn cứ để đối chiếu, phân tích
và tìm ra những sự đồng điệu lẫn khác biệt trong quá trình ĐTH tỉnh Long An Từ những phát hiện mới, tác giả có thể nhận định một cách tổng hợp, chính xác hơn với tình hình phát triển, xây dựng đô thị trong tương lai trên địa bàn tỉnh Long An sao cho phù hợp với xu hướng chung trong quá trình ĐTH ở vùng ĐBSCL và cả nước
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đúc kết cơ sở lí luận và thực tiễn về quá trình ĐTH vận dụng vào địa bàn tỉnh Long An
Trang 18 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình ĐTH ở tỉnh Long An
Phân tích được thực trạng ĐTH tỉnh Long An
Tìm ra những thành tựu và tồn tại trong quá trình ĐTH trên địa bàn tỉnh Long
An
Đề xuất những định hướng và giải pháp phát triển đô thị trên địa bàn đến năm
2030
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu gồm lời cam đoan, lời cảm ơn, mục lục và danh mục bảng
biểu Nội dung của luận văn gồm có 3 chương cụ thể:
Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn về ĐTH
Chương 2 Thực trạng quá trình ĐTH ở tỉnh Long An
Chương 3 Định hướng phát triển đô thị tỉnh Long An đến năm 2030
Trang 19Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÔ THỊ HÓA 1.1 Cơ sở lí luận về đô thị hóa
1.1.1 Khái niệm
1.1.1.1 Đô thị
Khái niệm
Trải qua các hình thái kinh tế – xã hội khác nhau, thì nơi cư trú của con người cũng
đã có nhiều thay đổi Con người từ sinh sống trong những hang động vào thời kì công
xã nguyên thủy cho đến các thành thị trong chế độ chiếm hữu nô lệ, phong kiến và đến ngày nay là ở các thành phố hiện đại Các đô thị đầu tiên trên thế giới được cho là đã xuất hiện ở vùng Lưỡng Hà cách đây khoảng 6.000 – 7.000 năm Do đô thị là sản phẩm lịch sử trong quá trình phát triển của xã hội loài người nên trải qua từng thời kì phát triển khác nhau của lực lượng sản xuất thì quan điểm nhìn nhận về đô thị cũng chưa thật sự có được sự thống nhất hoàn toàn giữa các quốc gia trên thế giới Hiện nay, có khá nhiều quan điểm và cách nhìn nhận khác nhau về định nghĩa đô thị
Theo Ratzel: “Đô thị là sự tích tụ lâu dài của con người và chổ ở của họ, chiếm một không gian đáng kể và nằm giữa một cộng đồng lớn…” [20, tr.7] Cách định nghĩa về
đô thị của ông Ratzel chưa thật sự rõ ràng về không gian bao nhiêu mới được quy định
là một đô thị Một bộ lạc sống trên thảo nguyên rộng lớn cũng chiếm một không gian đáng kể và nằm giữa một cộng đồng nhưng không được xem là một đô thị Hơn nữa, theo ông Ratzel thì đô thị là sự tích tụ lâu dài của con người nhưng nhiều vùng nông thôn vẫn có đặc trưng này
Theo Yu.G.Xauskin: Đô thị là một điểm quần cư có mật độ nhân khẩu cao và cư dân ở đây không có hoạt động nông nghiệp trực tiếp [20, tr.7] Theo quan điểm này có thể thấy tác giả chú ý đến tỷ lệ lao động phi nông nghiệp, mật độ dân số cao để nhận diện một đô thị Tuy nhiên, định nghĩa này vẫn chưa thể hiện được đầy đủ các dấu hiệu
để nhận dạng một đô thị như: yêu cầu về cơ sở hạ tầng, quy mô dân số, là nơi cư trú lâu dài của con người … Nếu theo tác giả chỉ dựa vào mật độ dân số và tỷ lệ lao động phi nông nghiệp thì một vùng khai thác tài nguyên khoáng sản (than, sắt…) đều có những dấu hiệu này nhưng vẫn không được coi là một đô thị
Trang 20Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc: “Các điểm dân cư có quy mô dân số trên 20.000 dân và trên 70% dân số phi nông nghiệp được coi là đô thị” Như vậy, tiêu chí
để nhận diện một đô thị của Liên Hợp Quốc là chú trọng vào quy mô dân số và tỷ lệ lao động phi nông nghiệp mà chưa chú ý nhiều đến những dấu hiệu khác như: mật độ dân số, yếu tố cơ sở hạ tầng…
Ở nước ta, theo quyết định 132/HĐBT ngày 5 tháng 5 năm 1990 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) quy định đô thị là điểm dân cư có những yếu tố cơ bản sau đây [1, tr.5]:
+ Là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của một vùng lãnh thổ nhất định
+ Quy mô dân số nhỏ nhất là 4.000 người (vùng núi và biên giới có thể thấp hơn) + Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp ≥ 60% trong tổng số lao động, là nơi có sản xuất và dịch vụ thương mại hàng hóa phát triển
+ Cơ sở hạ tầng kĩ thuật và các công trình công cộng phục vụ dân cư đô thị
+ Mật độ dân cư được xác định tùy theo từng loại đô thị phù hợp với đặc điểm từng vùng
Theo Luật Quy Hoạch đô thị năm 2009: Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ dân số cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của một thành phố; nội thị, ngoại thị của một thị xã, thị trấn [18, Điều 3, mục 1]
Như đã trình bày ở trên, do đô thị là sản phẩm lịch sử của xã hội loài người Do vậy, tùy theo trình độ phát triển kinh tế ở từng giai đoạn lịch sử mà quan niệm và cách nhìn nhận về đô thị cũng có sự khác biệt để phù hợp với tình hình cụ thể
Phân loại đô thị
Cũng như định nghĩa về đô thị, cách phân loại đô thị cũng chưa hoàn toàn được thống nhất giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới Tuy có nhiều cách phân loại khác nhau, nhưng công tác phân loại đô thị đều sẽ dựa vào một số tiêu chí nhất
Trang 21định như: quy mô dân số, chức năng, cấp quản lý… Quan điểm cũng như tiêu chí phân loại đô thị luôn luôn thay đổi cùng với quá trình phát triển kinh tế – xã hội
Ở Việt Nam, trước đây dựa vào tiêu chí về quy mô dân số, tác giả Trương Quang Thao (năm 1960) đã phân đô thị thành 6 loại [20, tr.21]:
đô thị lúc bấy giờ trong một thời gian dài Hiện nay, cách phân loại này đã không còn phù hợp khi quy mô dân số của nhiều đô thị ở nước ta đang tăng lên rất nhanh và đã xuất hiện nhiều TP triệu dân Chẳng hạn, TP HCM có quy mô dân số hơn 8 triệu người
Đến thời điểm hiện tại, chính phủ đã ban hành nhiều nghị định về phân loại và phân cấp đô thị Nhiều nghị định mới được ra đời thay thế cho các nghị định cũ không còn phù hợp với tình hình phát triển đô thị của đất nước Gần đây nhất là Nghị định số 42/2009/NĐ – CP về phân loại và phân cấp đô thị Theo Nghị định này, đô thị ở nước
ta được chia thành 6 loại là: Đô thị loại đặc biệt, đô thị loại I, II, III, IV và loại V (xem phụ lục 1) Trong đó, TP HCM và Thủ đô Hà Nội được xếp vào đô thị loại đặc biệt
Trang 22Tuy nhiên, cách phân loại đô thị theo Nghị định 42 vẫn còn nhiều điểm chưa thỏa đáng, nhất là về cấp quản lý đô thị và các tiêu chí của từng loại đô thị 1/ Trong Nghị định này, chúng ta nhận thấy: Ở cấp quản lý, đô thị loại II có phân ra trường hợp trực thuộc quản lý của Trung Ương, nhưng trong thực tế ở Việt Nam chưa có đô thị loại II nào được cấp Trung Ương quản lý 2/ Tình trạng nhiều đô thị chưa đảm bảo được các tiêu chí vẫn được nâng hạng Chẳng hạn, Thủ đô Hà Nội sau mở rộng có nhiều tiêu chí không đạt chuẩn đô thị loại đặc biệt như: Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp dưới 90%, tỷ
lệ dân thành thị thấp, khoảng 49% năm 2015 Như vậy, giữa văn bản pháp luật và thực
tế vẫn còn nhiều điểm chưa được thống nhất, do đó, các cơ quan có thẩm quyền cần nên xem xét điều chỉnh ở những Nghị định sau này
1.1.1.2 Đô thị hóa
ĐTH theo tiếng Anh là Urbanzation, từ này nguồn gốc có từ tiếng Latin, Urbanus
là “thuộc về đô thị” còn Urbas là “thành phố” ĐTH được xem là một quá trình vận động, biến đổi mang tính quy luật về phát triển kinh tế – xã hội và môi trường [22, tr.1] Hiểu giản đơn, ĐTH là quá trình biến đổi nông thôn trở thành đô thị và tập trung dân cư nông thôn vào các đô thị ĐTH là quá trình đã xuất hiện từ rất lâu ở các quốc gia phát triển và đang diễn ra mạnh mẽ trong thời gian gần đây ở nhóm các quốc gia đang phát triển, song khái niệm về ĐTH chỉ mới xuất hiện vào đầu thế kỉ XX Cũng như khái niệm đô thị, quan điểm về ĐTH cũng có nhiều cách tiếp cận và được nhìn nhận trên nhiều góc độ khác nhau
Có thể hiểu ĐTH là quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động từ những hoạt động sơ khai nhằm khai thác tài nguyên thiên nhiên sẵn có như nông, lâm, ngư nghiệp, khai khoáng, phân tán trên diện tích rộng khắp như toàn quốc sang những hoạt động tập trung hơn như công nghiệp chế biến, sản xuất, xây dựng cơ bản, vận tải, sữa chửa, dịch
vụ thương mại, tài chính, văn hóa, khoa học kĩ thuật… hoặc có thể hiểu ngắn gọn là sự chuyển dịch hoạt động nông nghiệp phân tán sang hoạt động phi nông nghiệp tập trung [20, tr.47]
Theo nhà đô thị học Đàm Trung Phường cho rằng: “Đô thị hóa là một quá trình diễn thế về kinh tế – xã hội – văn hóa – không gian gắn liền với những tiến bộ khoa học kĩ thuật trong đó diễn ra sự phát triển nghề nghiệp mới, sự chuyển dịch cơ cấu lao
Trang 23động, sự phát triển đời sống văn hóa, sự chuyển đổi lối sống và sự mở rộng phát triển không gian thành hệ thống đô thị, song song với tổ chức bộ máy hành chính, quân sự” [19, tr.24]
Một khái niệm khác của GS.TS.Nguyễn Thế Bá: “Đô thị hóa là quá trình tập trung dân số vào các đô thị, là sự hình thành nhanh chóng các điểm dân cư đô thị trên cơ sở phát triển sản xuất và đời sống Quá trình đô thị hóa cũng là quá trình biến đổi sâu sắc về cơ cấu sản xuất, nghề nghiệp, cơ cấu tổ chức sinh hoạt xã hội, cơ cấu tổ chức không gian kiến trúc xây dựng từ nông thôn sang thành thị” [1, tr.15]
Theo TS Phạm Thị Xuân Thọ, ĐTH được biểu hiện theo nghĩa rộng với những nội dung sau [20, tr.48]:
+ Quá trình tập trung dân cư vào các đô thị (sự chuyển cư vào các đô thị) hình thành và phát triển các đô thị mới
+ Quá trình tập trung các dân cư ngày càng đông vào các đô thị lớn
+ Quá trình mở rộng không ngừng diện tích đô thị theo chiều rộng, chiều cao và chiều sâu
+ Quá trình phổ biến rộng rãi lối sống đô thị
+ Quá trình hiện đại hóa cơ sở vật chất, hạ tầng kĩ thuật đô thị
Trong giáo trình kinh tế – xã hội đại cương, PGS TS Nguyễn Minh Tuệ đã nhận định ĐTH là một quá trình lịch sử nâng cao vai trò của đô thị trong sự vận động phát triển của xã hội Quá trình này bao gồm những thay đổi trong phân bố lực lượng sản xuất, trước hết là trong phân bố dân cư, trong cơ cấu lao động và nghề nghiệp, trong
cơ cấu dân số, trông lối sống, văn hóa, trong tổ chức không gian môi trường sống của cộng đồng [23, tr.137 – 138] Như vậy, ĐTH là quá trình biến đổi đa diện, đa chiều diễn ra trên nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội loài người
1.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình đô thị hóa
1.1.2.1 Vị trí địa lý
Từ xa xưa, con người đã nhận thấy vai trò của vị trí địa lý trong việc lựa chọn địa bàn cư trú Khu vực nào có vị trí càng thuận lợi thì mức độ tập trung dân cư càng đông đúc, từ đó tạo điều kiện cho quá trình hình thành các điểm quần cư lớn mạnh trong không gian kinh tế Đó là hạt nhân cho quá trình phát triển đô thị sau này Các đô thị
Trang 24cổ thường được bố trí ở những nơi thuận lợi cho giao thương, ở các đồng bằng châu thổ rộng lớn, dọc theo các lực vực sông lớn hoặc ở những vị trí tiền tiêu, thiết yếu cho phòng chống ngoại xâm Trong Chiếu dời đô, khi vua Lý Công Uẩn dời kinh đô nước
ta từ Hoa Lư về thành Đại La cũng đã đề cao vai trò của vị trí địa lý lên hàng đầu:
“Huống chi thành Đại La, kinh đô cũ của Cao Vương, ở vào nơi trung tâm của trời đất; được thế rồng cuộn hổ ngồi Đã đúng ngôi nam bắc đông tây; lại tiện hướng nhìn sông dựa núi [ ] Xem ra khắp đất Việt ta, chỉ nơi này là thắng địa Thật là chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước; cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời” Vị trí địa lý không chỉ ảnh hưởng sâu sắc đến quá trình lựa chọn địa bàn xây dựng phát triển đô thị mà còn quy định cả chức năng của đô thị
Trong điều kiện hiện nay, nhân tố vị trí địa lý càng được đề cao trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội của một quốc gia Vị trí địa lý góp phần tạo ra những điều kiện thuận lợi (hay hạn chế) cho việc huy động các nguồn lực, thu hút đầu tư, mở rộng quan hệ kinh tế với các địa phương và các quốc gia trên thế giới Trong thực tế, các đô thị lớn đều có xu hướng tập trung quanh các trục đường chính, các địa điểm thuận lợi
về giao thông để có thể khai thác hết tiềm năng, lợi thế về “địa kinh tế” và giảm chi phí vận chuyển [15, tr.13] Ở nước ta, các đô thị lớn được phát triển dọc theo các tuyến giao thông huyết mạch, vùng ven biển hay men theo các lưu vực sông lớn… để có thể khai thác hết “địa lợi” do vị trí địa lý mang lại nhằm thúc đẩy quá trình phát triển kinh
tế của đô thị Hiện nay, nhiều đô thị lớn ở nước ta được hình thành dọc theo quốc lộ 1 như: TP Hà Nội, TP Đà Nẵng, TP HCM, TP Cần Thơ…
Trang 25 Địa hình
Địa hình có ảnh hưởng quyết định đến sự phân bố các hoạt động sản xuất của dân
cư, từ đó có ảnh hưởng sâu sắc đến là quá trình hình thành, xây dựng và mở rộng các
đô thị Các khu vực có địa hình thuận lợi cho cư trú và phát triển kinh tế thì sẽ tập trung đông dân và được con người lựa chọn là địa bàn xây dựng các đô thị lớn Đặc biệt, các vùng đồng bằng châu thổ rộng lớn là nơi có địa hình khá bằng phẳng và độ cao dưới 500m đã tập trung 82% dân số thế giới [23, tr.130] và trên thực tế đây cũng là nơi tập trung hầu hết các đô thị lớn trên thế giới như: TP Newyork, TP Paris, TP Bắc Kinh, TP Thượng Hải… Ở nước ta, hầu hết các đô thị lớn như TP Hà Nội, TP HCM,
TP Cần Thơ, TP Đà Nẵng… tập trung chủ yếu ở vùng đồng bằng châu thổ ven biển Vùng núi có địa hình hiểm trở gây khó khăn cho tập trung dân cư quy mô lớn nên mạng lưới các đô thị khá thưa thớt, chủ yếu là các đô thị nhỏ mang chức năng hành chính
Đất đai
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố dân cư, xây dựng các cở sở kinh tế văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng [1, tr.69] Hơn nữa, đất đai còn ảnh hưởng rất lớn đến khả năng mở rộng đô thị và sử dụng đất cho các đô thị [22, tr.27] Do đó, chọn đất có vị trí hợp lý sẽ có tác dụng lớn cho mọi hoạt động và phát triển đô thị về tổ chức đời sống, tổ chức sản xuất, giảm giá thành xây dựng, cải tạo cảnh quan và môi trường đô thị phong phú, hấp dẫn [1, tr.73] Có thể nhận thấy những đồng bằng châu thổ màu mỡ như: Hoa Bắc, Ấn – Hằng, Hoa Trung… là những vùng tập trung hầu hết các đô thị lớn trên thế giới
Khí hậu
Các điều kiện khí hậu đã tạo ra những thuận lợi (hay khó khăn) đến khả năng tập trung dân cư, ảnh hưởng đến quá trình tổ chức các hình thức sản xuất kinh tế Hơn nữa, các đặc điểm khí hậu sẽ quy định cả việc lựa chọn vật liệu cho các công trình xây dựng đô thị Trên Trái Đất, các khu vực có khí hậu thuận hòa sẽ là những nơi tập trung đông đúc dân cư và hình thành nên các đô thị lớn Trong ba đới khí hậu trên Trái Đất, môi trường ôn đới có khí hậu điều hòa thuận lợi cho con người cư trú đã tập trung tới
Trang 2658% dân số thế giới, tiếp theo là môi trường nhiệt đới (40%) [23, tr.130] Các đô thị đầu tiên trên thế giới cũng đã lần lượt xuất hiện ở hai đới khí hậu này Các đô thị ở vùng khí hậu hàn đới chỉ xuất hiện trong những năm gần đây nhờ sự hỗ trợ từ tiến bộ khoa học kĩ thuật (KHKT) đã khắc phục phần nào những khó khăn của điều kiện ngoại cảnh
Nguồn nước
Nước mặt và nước ngầm: Đây là nguồn cung cấp nước cho các hoạt động kinh tế
và sinh hoạt của dân cư Trước đây, các đô thị ở nước ta thường phân bố dọc theo các lưu vực sông lớn, tận dụng giá trị giao thông thủy và khai thác nguồn nước ngọt phục
vụ cho đời sống cư dân, hình thành nên nhiều đô thị ven sông sầm uất trong quá khứ như: Phố Hiến, Cù Lao Phố, Hội An, Gia Định, Tây Đô (Cần Thơ)… Trong bối cảnh toàn cầu hóa, nhu cầu buôn bán, trao đổi và vận chuyển hàng hóa bằng đường biển giữa các quốc gia trên thế giới ngày càng gia tăng Vì vậy, các đô thị cảng biển ngày càng phát triển và đóng một vai trò quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế giữa các quốc gia trên thế giới
Ngày nay, KHKT phát triển nhanh như vũ bão đã giúp con người khắc phục được phần nào những khó khăn về điều kiện tự nhiên trong quá trình cư trú và xây dựng các
đô thị Chẳng hạn, vùng cận cực hay trong môi trường hoang mạc đã hình thành nên các đô thị lớn như đô thị Las Vegas (Hoa Kì)… Tuy nhiên, các nhân tố tự nhiên vẫn chi phối rất lớn đến quá trình hình thành và phát triển đô thị
1.1.2.3 Nhóm nhân tố kinh tế – xã hội
Sự phát triển của nền kinh tế
Kinh tế của một quốc gia càng phát triển thì các ngành phi nông nghiệp càng chiếm
tỷ trọng cao trong cơ cấu nền kinh tế Sản xuất CN và dịch vụ càng phát triển sẽ tạo điều kiện cho tích tụ dân cư và từ đó góp phần thúc đẩy quá trình ĐTH Điều này có thể dễ dàng nhận thấy ở các nhóm quốc gia có nền kinh tế phát triển: mức độ ĐTH luôn tỷ lệ thuận với tỷ trọng của nhóm ngành CN và dịch vụ trong cơ cấu nền kinh tế + Công nghiệp: ĐTH và CNH có mối quan hệ hữu cơ, nhân quả khắng khít với nhau Một mặt, nhiều khu đô thị mới được hình thành là kết quả của quá trình CNH – HĐH Trong không gian kinh tế, các KCN là những hạt nhân ban đầu thu hút lao động
Trang 27đến làm việc, định cư và dần hình thành nên các đô thị Hiện nay, hàng loạt khu đô thị mới được quy hoạch đầy đủ với các trung tâm thương mại, các công trình thấp tầng như biệt thự, trường học, nhà trẻ, biệt thự đơn, nhà chung cư được xây dựng với kiến trúc đa dạng và phong phú xuất hiện bên cạnh các KCN [11, tr.80] Biểu hiện rõ ràng nhất là các đô thị tỉnh Bình Dương đều được hình thành và phát triển gắn liền với hoạt động của các KCN TP Thủ Dầu Một nhanh chóng mở rộng khu vực nội đô sau khi một loạt xã được chuyển đổi thành các phường với sự đóng góp rất lớn của các KCN Đại Đăng, Đồng An 1, Đồng An 2, Kim Huy, Phú Gia, Thới Hòa, Sóng Thần 3, VSIP
II Hay TX Dĩ An được thành lập nhờ sự hình thành của các KCN Bình Đường, Tân Đông Hiệp A, Tân Đông Hiệp B, Sóng Thần 1, Sóng Thần 2 Tương tự, TX Thuận An được thành lập nhờ sự phát triển của KCN Bình Chuẩn, Đồng An, Việt Hương, VSIP… Mặt khác, khi đô thị phát triển sẽ trở thành địa chỉ hấp dẫn các hoạt động sản xuất CN và dịch vụ [23, tr.138] Như vậy, CNH – HĐH đóng một vai trò to lớn trong quá trình thúc đẩy ĐTH ở nhóm các quốc gia đang phát triển
+ Nông nghiệp: CNH – HĐH đã tạo tiền đề thúc đẩy cho sự phát triển của nông nghiệp nói chung và khu vực nông thôn nói riêng Việc ứng dụng máy móc, tiến bộ KHKT vào sản xuất nông nghiệp đã góp phần tăng năng suất lao động, tăng sản lượng nông sản Năng suất trong nông nghiệp tăng lên tạo tiền đề giải phóng bớt sức lao động, đưa lao động dư thừa từ nông thôn di chuyển vào trong các đô thị cung cấp nguồn lao động cho các ngành thuộc khu vực II và III [15, tr.11] Sự phát triển của nông nghiệp đã gián tiếp góp phần đẩy nhanh quá trình ĐTH Tuy nhiên, ở một số quốc gia sự chênh lệch về mức sống, thu nhập giữa khu vực nông thôn và thành thị mới chính là nguyên nhân thúc đẩy quá trình di dân tự do vào trong khu vực đô thị Trong trường hợp này, quá trình ĐTH tự phát sẽ để lại nhiều hậu quả nặng nề cho nền kinh tế các đô thị
+ Dịch vụ: Sự phát triển của dịch vụ là thước đo cho trình độ phát triển của một nền kinh tế Trong giai đoạn cuối của quá trình ĐTH, dịch vụ sẽ là ngành kinh tế chủ đạo của nền kinh tế quốc dân và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của cư dân
đô thị [20, tr.28 – 29] Dịch vụ càng phát triển càng tạo thêm sức hút cho các đô thị đối với dân cư, thúc đẩy luồng di dân vào đô thị ngày càng lớn
Trang 28 Di dân
Trong không gian địa kinh tế, các khu vực sở hữu nhiều điều kiện thuận lợi sẽ tạo
ra sức hấp dẫn rất lớn đối với cư dân và trở thành địa bàn có tỷ lệ nhập cư cao Song song đó, nhiều địa bàn với sức hút kém hơn sẽ là nơi xuất cư thuần Thu nhập ở đô thị, các phúc lợi xã hội, chất lượng phục vụ đời sống cao hơn vùng nông thôn, đã tạo ra lực hút đối dân cư đến với các đô thị Gia tăng cơ học là động lực cho quá trình gia tăng dân số ở các đô thị trong bối cảnh gia tăng dân số tự nhiên thấp Gia tăng cơ học thường cao hơn gia tăng tự nhiên từ 2 – 3 lần trong thời kì đầu của quá trình ĐTH [20, tr.115] Trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế, nhiều địa phương ở nước
ta có tỷ lệ nhập cư khá cao như: TP HCM có tỷ lệ nhập cư thuần là 16,5‰; Đồng Nai
là 14,6‰; Bình Dương là 54,5‰… Do đây là địa bàn tập trung nhiều đô thị lớn cùng với hàng loạt K – CCN nên có sức hút mạnh mẽ đối với các luồng di dân Rõ ràng, di dân và quá trình ĐTH có liên hệ mật thiết với nhau, di dân sẽ là động lực cho quá trình gia tăng dân số đô thị Chưa một quốc gia nào từng đạt được trình độ phát triển là một quốc gia có thu nhập trung bình mà lại không gặp phải tình trạng di dân hàng loạt từ nông thôn ra thành thị [15, tr.1] Có thể thấy, di dân hàng loạt từ nông thôn ra các đô thị là đặc trưng chính trong quá trình ĐTH ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam
Đường lối, chính sách đô thị hóa
Đường lối, chính sách, chiến lược phát triển đô thị có ảnh hưởng trực tiếp và lâu dài đến quá trình ĐTH, là cơ sở cho quá trình hình thành và phát triển hệ thống đô thị của từng quốc gia Ở mỗi quốc gia, trong từng thời kì khác nhau sẽ có những đường lối phát triển kinh tế khác nhau, từ đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của các đô thị
Từ sau Đại hội VIII (1996), Đảng ta xác định phải đẩy mạnh sự nghiệp CNH – HĐH phát triển kinh tế đất nước đã góp phần thúc đẩy quá trình ĐTH diễn ra một cách nhanh chóng Ngoài ra, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp lý quy định, định hướng phát triển đô thị, quản lý đất đai, bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu… Những chính sách này đã có ảnh hưởng to lớn đến quá trình phát triển đô thị trên cả nước
Trang 29 Sự điều chỉnh địa giới hành chính
Quá trình phát triển đô thị dẫn đến tích tụ dân cư cùng với sự “phình to” của các hoạt động kinh tế đã làm gia tăng nhu cầu đất sử dụng đất ở đô thị Quá trình ĐTH đã góp phần mở rộng không gian của các đô thị, sự điều chỉnh địa giới hành chính ở các
đô thị đã thúc đẩy quá trình chuyển đổi chức năng từ xã, thị trấn, TX lên một mức cao hơn như phường, TX, TP [11, tr.80] Các điều chỉnh địa giới hành chính đô thị có ảnh hưởng rất lớn đến quy hoạch không gian đô thị, quy mô dân số và diện tích các đô thị… Đồng thời, quá trình này sẽ thúc đẩy sự phát triển cơ sở hạ tầng, chuyển đổi sinh
kế, cơ cấu kinh tế của địa bàn được sáp nhập vào đô thị
Tuy nhiên, ở nước ta, đôi khi sự điều chỉnh địa giới hành chính chỉ để đảm bảo tiêu chí về diện tích cho các đô thị, phục vụ cho quá trình nâng hạng của các đô thị và sự điều chỉnh này chủ yếu là đảm bảo không gian phát triển của đô thị trong tương lai
Từ ngày 1 – 8 – 2008, diện tích của Thủ đô Hà Nội được mở rộng gấp 3,6 lần so với trước đó Không gian mở rộng bao gồm: Thủ đô Hà Nội hiện tại, toàn bộ tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh (tỉnh Vĩnh Phúc) và 4 xã của huyện Lương Sơn (tỉnh Hòa Bình) Tổng diện tích của Thủ đô mới là hơn 3.300 km2 Phạm vi điều chỉnh quy hoạch vùng Thủ đô gồm toàn bộ ranh giới của Hà Nội với 9 tỉnh xung quanh Trong đó, tỉnh Phú Thọ, Thái Nguyên và Bắc Giang nằm trong không gian đô thị mở rộng của Thủ đô với tổng dân số 17,6 triệu người Toàn bộ quy hoạch vùng thủ đô sẽ có tổng diện tích trên 24.300 km2, tăng gần gấp đôi so với hiện tại và chiếm 7,3% diện tích tự nhiên toàn quốc
1.1.3 Đặc trưng của quá trình đô thị hóa
1.1.3.1 Sự tập trung dân số vào các đô thị và gia tăng tỷ lệ dân thành thị
Từ khi xuất hiện cho đến nay, đô thị là nơi có sức thu hút lớn đối với dân cư từ các khu vực lân cận trong không gian lãnh thổ Do đó, quy mô dân số đô thị đã tăng lên liên tục với tốc độ nhanh Tốc độ đô thị hóa trên toàn thế giới cao nhất đạt khoảng 3,7%/năm trong giai đoạn 1950 – 1970 Năm 1950, chỉ có 30% dân số thế giới sống trong các thành phố Đến đầu thế kỉ XXI, đã có hơn 50% dân số toàn thế giới sống ở trong các đô thị và xu hướng này sẽ còn tiếp tục tăng lên trong thời gian tới Theo dự
Trang 30báo của UN, trong thời gian tới dân số đô thị còn tiếp tục tăng lên chủ yếu đến từ các quốc gia đang phát triển (giai đoạn 2000 – 2030) tăng 65 triệu người/năm [11, tr.2]
Bảng 1.1 Quy mô dân số và tỷ lệ dân thành thị trên thế giới giai đoạn 1960 – 2015
Trang 31quá trình ĐTH ở các quốc gia đang phát triển diễn ra nhanh như hiện nay thì diện tích đất đô thị sẽ còn tiếp tục tăng nhanh chóng trong khoảng 150 năm tới với cơ cấu như sau: đất nông nghiệp 37%; đất đô thị và đô thị hóa 30% và đất cho các khu bảo tồn 33% [20, tr.56]
Tuy nhiên, quá trình mở rộng lãnh thổ đô thị đôi khi chuyển đã đổi một phần lớn diện tích đất màu mở, có hiệu quả cao trong sản xuất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp gây ra lãng phí lớn Đồng thời, trong Đánh giá đô thị hóa Việt Nam của Ngân hàng Thế giới cũng đã cảnh báo quá trình mở rộng đô thị dẫn đến chuyển đổi mục đích
sử dụng đất từ khu vực nông thôn sang đất đô thị khiến cho giá đất tăng “phi mã”, quá giá trị thực đã gây ra nhiều hệ lụy xấu trong quá trình ĐTH
Do vậy, công tác quy hoạch chuyển đổi mục đích sử dụng đất phục vụ cho quá trình ĐTH cần phải được nghiên cứu cẩn thận, nhằm đáp ứng cho nhu cầu phát triển bền vững của toàn xã hội
1.1.3.3 Phổ biến lối sống thành thị
Lối sống hay phong cách sống, nếp sống là những nét điển hình, được lặp đi lặp lại
và định hình thành phong cách, thói quen trong đời sống của cá nhân hay một nhóm xã hội, dân tộc hay là cả một nền văn hóa ĐTH góp phần thay đổi, chuyển đổi lối sống tiểu nông sang lối sống CN, hiện đại, văn minh đô thị Do sự phát triển quá nhanh của nền kinh tế đô thị nên lối sống giữa thành thị và nông thôn có sự khác biệt rất lớn ở giai đoạn đầu của quá trình ĐTH Lối sống thành thị có những đặc điểm [20, tr.57]: + Tác phong công nghiệp của người lao động: dễ thay đổi nơi ở và nơi làm việc, tác phong, giờ giấc làm việc chính xác, giờ nào việc nấy
+ Lối sống phụ thuộc và gắn chặt với các hoạt động thương mại, dịch vụ, mức sống
và nhu cầu hưởng thụ cao
+ Nhu cầu về du lịch, giáo dục và giải trí ngày càng cao và đa dạng, có nhiều hoạt động văn hóa văn nghệ đáp ứng nhu cầu của cư dân đô thị, đo đó người dân đô thị có điều kiện phát huy năng lực sáng tạo của bản thân
+ Giao tiếp của người dân thành thị khá phong phú, đa dạng, phức tạp, ảnh hưởng lớn đến quan điểm, cách đánh giá của cá nhân
Trang 32+ Sử dụng thời gian nhàn rỗi vào các hoạt động văn hóa thể thao, giải trí và các hoạt động đa dạng khác một cách tự do và hiệu quả
Ngày nay, lối sống thành thị đang dần được phổ biến về vùng nông thôn và có tác động mạnh mẽ đến sinh hoạt và sản xuất tại khu vực nông thôn, làm thu hẹp sự khác biệt trong đời sống giữa nông thôn và thành thị Nguyên nhân, trước hết là do một bộ phận cư dân sống ở nông thôn nhưng thường di chuyển vào thành thị theo kiểu con lắc đồng hồ Họ chịu ảnh hưởng lối sống của đô thị và phổ biến về vùng nông thôn Bên cạnh đó, các hoạt động phi nông nghiệp bắt đầu lan tỏa về vùng nông thôn cũng đã góp phần thúc đẩy quá trình thay đổi sinh kế và lối sống dân cư ở khu vực này
1.1.4 Các tiêu chí đánh giá quá trình đô thị hóa
1.1.4.1 Sự gia tăng dân số đô thị
Gia tăng dân số đô thị bao gồm gia tăng tự nhiên và gia tăng cơ học Tuy nhiên, quá trình gia tăng dân số đô thị chủ yếu đến từ gia tăng cơ học hay đó là luồng di dân hàng loạt từ các khu vực nông thôn ra các đô thị Nhân tố này đã thúc đẩy quá trình tập trung dân cư vào các đô thị từ đó góp phần mở rộng lãnh thổ đô thị và gia tăng tỷ lệ đô thị hóa [20, tr.48]
Sau Đổi Mới, dân số sống ở khu vực đô thị nước ta có xu hướng ngày càng tăng lên Năm 2005, dân số đô thị ở nước ta là 22,3 triệu người Sau 10 năm, quy mô dân số
đô thị cả nước tăng lên 31,1 triệu người
1.1.4.2 Tỷ lệ dân thành thị
Đây là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá quá trình ĐTH của một quốc gia hoặc một đô thị Tỷ lệ dân thành thị hay mức độ ĐTH tỷ lệ thuận với trình độ phát triển của một quốc gia và phần nào phản ánh trình độ phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia
đó Tuy nhiên, nhiều quốc gia trên thế giới có tỷ lệ ĐTH rất cao nhưng trình độ phát triển kinh tế – xã hội vẫn còn ở mức thấp, do quá trình ĐTH còn mang tính tự phát, không bắt nguồn từ quá trình CNH
Tỷ lệ dân số thành thị được xác định bằng tổng dân số sống ở khu vực đô thị so với tổng dân số Đơn vị là % [20, tr.48] Năm 2015, ở nước ta, dân số sống ở khu vực đô thị là 31,1 triệu người trên tổng dân số cả nước là 91,7 triệu người Như vậy, tỷ lệ dân
Trang 33thành thị của Việt Nam vào năm 2015 là 33,9% Theo chuyên khảo di cư và đô thị hóa
ở Việt Nam, dự báo đến năm 2049, mức độ ĐTH ở nước ta sẽ đạt khoảng 58,2%
1.1.4.4 Mức độ tập trung đô thị
Mức độ tập trung đô thị là mức độ phân bố đô thị dày đặc hay thưa thớt [20, tr.48] Mức độ tích tụ đô thị tỷ lệ thuận với thì quá trình ĐTH Trên lãnh thổ nước ta, vùng KTTĐPN là nơi có mức độ tập trung đô thị tương đối cao với nhiều đô thị lớn phân bố liền kề nhau và tập trung xung quanh đô thị hạt nhân là TP HCM như: TP Thủ Dầu Một, TX Thuận An, TX Dĩ An (tỉnh Bình Dương), TP Biên Hòa (tỉnh Đồng Nai),
TP Vũng Tàu, TP Bà Rịa (tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu) và TP Tân An (tỉnh Long An) Mức độ tập trung các đô thị này tạo tiền đề cho quá trình hình thành nên vùng đô thị (Mega City) lớn nhất cả nước
Tốc độ ĐTH: chỉ sự thay đổi tỷ lệ dân số đô thị theo thời gian Tốc độ ĐTH được xác định bằng hiệu số giữa số dân đô thị cuối kỳ với số dân đầu kỳ trên tích của số dân đầu kỳ với thời gian giữa 2 kỳ Đơn vị: %/năm [10, tr.12]
Chẳng hạn năm 2005, dân số đô thị của Việt Nam là 23.332.000 người tăng lên 31.113.500 người vào năm 2015 Vậy, tốc độ đô thị hóa của nước ta trong giai đoạn
2005 – 2015 là:
31.113.500 23.332.000
10023.332.000 10
Trang 34Đô thị là nơi có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao chủ yếu do sự khác biệt về phân bố các ngành sản xuất (chế tạo và dịch vụ) so với vùng nông thôn Điều này đã được Đô thị hóa và tăng trưởng đã khẳng định lại: Các đô thị là động lực cho tăng trưởng, 86% giá trị tăng trưởng ở các quốc gia đang phát triển giữa những năm 1980 và 1988 xuất phát từ các ngành dịch vụ và chế tạo [15, tr.9] Các hoạt động chế tạo và dịch vụ là những ngành có tốc độ tăng trưởng nhanh, mang lại hiệu quả kinh tế lớn, tạo ra nhiều việc làm và góp phần tăng thêm thu nhập của dân cư Từ đó, góp phần tạo nên sự thịnh vượng cho các đô thị Ở nước ta, kinh tế đô thị có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển đất nước, các đô thị hiện nay chiếm 70% GDP cả nước [22, tr.53] Nhiều đô thị lớn là các đầu tàu tăng trưởng kinh tế, là trung tâm CN và dịch vụ lớn của cả nước Hiện nay, TP HCM là đô thị lớn nhất cả nước, có tốc tăng trưởng kinh tế bình quân hằng năm luôn ở mức hai con số và chiếm giữ tới 21,5% GDP cả nước
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
ĐTH gắn liền với quá trình CNH, hai quá trình này đã dẫn đến chuyển dịch các hoạt động kinh tế của dân cư từ lĩnh vực sản xuất nông nghiệp sang lĩnh vực sản xuất
CN và dịch vụ [23; tr.138] Theo lý thuyết 3 thành phần kinh tế của J Fourastier, khi mức độ ĐTH càng cao thì đóng góp của khu vực II và III vào cơ cấu GDP ngày càng gia tăng và đồng thời làm suy yếu tỷ trọng của khu vực I Đến giai đoạn sau cùng của quá trình ĐTH, tỷ trọng khu vực II bắt đầu giảm sút và tỷ trọng của các ngành dịch vụ
sẽ gia tăng nhanh chóng và chiếm tỷ trọng áp đảo so với hai khu vực còn lại trong cơ cấu GDP Nguyên nhân giải thích cho hiện tượng trên là do ĐTH đã góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư thông qua nâng cao mức thu nhập Từ đó, nhu cầu tiêu dùng, hưởng thụ các loại hình dịch vụ chất lượng cao của dân cư đô thị sẽ ngày càng tăng lên Chính những nhu cầu này đã góp phần thúc đẩy và nâng cao sự phát triển của ngành dịch vụ ở khu vực đô thị Mặt khác, các ngành CN và dịch vụ đều chiếm tỷ trọng khá cao trong cơ cấu kinh tế của các đô thị Điều này được lý giải là do quy mô dân số đô thị góp phần làm gia tăng hiệu suất và hiệu quả của các ngành này [15, tr.13] CN và dịch vụ là những ngành có tốc độ tăng trưởng nhanh, nhu cầu lao động lớn và hiệu quả kinh tế cao hơn so với sản xuất nông nghiệp, do đó đã thu hút các
Trang 35luồng di dân vào đô thị Khi kinh tế đô thị phát triển càng cao thì quá trình chuyển dịch
cơ cấu ngành kinh tế diễn ra càng nhanh
Thay đổi sinh kế
Các TP là mảnh đất “màu mỡ” cho dân cư ở vùng nông thôn đến tìm kiếm việc làm với mức thu nhập cao và ổn định trong các nhà máy, xí nghiệp, các KCN và các ngành dịch vụ Từ đó góp phần giải quyết việc làm cho lao động dư thừa ở vùng nông thôn
và thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động phân theo ngành kinh tế Xu thế chính trong quá trình ĐTH là tỷ lệ lao động trong các ngành CN và dịch vụ sẽ ngày càng gia tăng Do ĐTH gắn liền với quá trình phát triển của lực lượng sản xuất Trong thời kì đầu của quá trình ĐTH, trình độ sản xuất còn ở mức thấp nên lực lượng lao động chủ yếu tham gia sản xuất trong nông nghiệp Ở giai đoạn văn minh CN, khi năng suất lao động tăng lên gắn với thời kì CNH, lao động sẽ chuyển sang hoạt động trong các ngành CN Đến giai đoạn kết của quá trình ĐTH tương ứng với thời kì hậu
CN, nền kinh tế phát triển ở trình độ cao và máy móc hầu như sẽ thay thế cho sức lao động của con người Do đó, lực lượng lao động trong ngành dịch vụ ngày càng tăng và chất lượng ngày càng nâng cao [20, tr.112] Đặc biệt, tỷ lệ lao động trong các ngành: tài chính ngân hàng, du lịch, thương mại… sẽ ngày càng gia tăng lên nhanh chóng
Nâng cao thu nhập
Tại sao con người lại tình nguyện di dân từ vùng nông thôn vào sống chen chúc trong các đô thị với chi phí đắt đỏ? Nguyên nhân là chính do sự chênh lệch về thu nhập giữa khu vực nông thôn và thành thị Sự chênh lệch về thu nhập này xuất phát từ
sự khác biệt về năng suất lao động giữa các ngành các ngành kinh tế [15, tr.15] Có thể
dễ dàng nhận thấy: Mối tương quan giữa thu nhập và tỷ lệ ĐTH, thu nhập càng cao thì mức độ đô thị hóa càng lớn và ngược lại Chưa một quốc gia nào đạt ngưỡng thu nhập 10.000 USD trên đầu người trước khi mức ĐTH đạt mức 60% [15, tr.3] Thu nhập của người dân đô thị luôn luôn cao hơn so với khu vực nông thôn Hầu như, mức độ ĐTH
tỷ lệ thuận với thu nhập bình quân đầu người Ví dụ, GDP bình quân đầu người của Singapore năm 2006 là 26.836 USD, mức độ đô thị hóa của họ là 100%; GDP bình quân đầu người của Iceland là 48.604 USD, mức độ đô thị hóa của họ là 93% [2, tr.38] Như hiện nay, thu nhập bình quân đầu người ở TP HCM hiện nay là hơn 5.538
Trang 36USD Mức thu nhập đầu người của TP HCM cao hơn 2,5 lần so với cả nước, hơn gấp
5 lần so với khu vực nông thôn
Bên cạnh đó, do nhu cầu tìm kiếm việc làm trong khu vực II và III ở đô thị cũng đã thôi thúc nhu cầu nâng cao trình độ học vấn và chuyên môn kĩ thuật của cư dân Các
đô thị không những góp phần đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho chính mình
mà còn cho cả vùng nông thôn
Giảm tỷ lệ gia tăng dân số
Tỷ lệ gia tăng tự nhiên: ĐTH đã làm thay đổi sâu sắc các quá trình sinh, tử [23,
tr.146] Ở các đô thị mức sinh giảm nhanh và luôn duy trì ở mức thấp góp phần làm chậm lại quá trình gia tăng dân số tự nhiên và ổn định quy mô dân số Mức sinh ở đô thị thấp hơn hẳn so với vùng nông thôn được lý giải là do trình độ học vấn của người dân đô thị khá cao mà đặc biệt là người phụ nữ Họ đã ý thức được vai trò, vị trí của mình trong xã hội hơn và hiểu được mối liên hệ giữa số con với chất lượng cuộc sống, cùng với gánh nặng chăm sóc con cái Chi phí nuôi dưỡng một đứa bé ở khu vực thành thị cao hơn nhiều lần so với nông thôn, đông con sẽ là gánh nặng cho bố mẹ [2, tr.20],
sẽ làm giảm đi thu nhập và tích lũy của gia đình Do vậy, tỷ lệ sinh ở thành thị thường thấp hơn so với vùng nông thôn
Bên cạnh đó, độ tuổi kết hôn ở đô thị lớn hơn so với nông thôn từ 3 – 5 tuổi [20; tr.110], chính điều này cũng là nguyên nhân góp phần kéo giảm tỷ lệ sinh ở thành thị
Có thể thấy, các đô thị là nơi có mức sinh thấp và có xu hướng ngày càng giảm đi Như vậy, ĐTH phần nào đã làm chậm lại quá trình gia tăng dân số
Trang 37môi trường đô thị để đáp ứng đời sống tinh thần của con người đô thị
1.1.5.2 Tác động tiêu cực
Quá trình ĐTH phát triển song hành với quá trình CNH đã có nhiều tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế – xã hội và môi trường Tuy nhiên, ĐTH diễn ra quá nhanh vượt quá tốc độ phát triển của quá trình CNH đã để lại nhiều hậu quả nặng nề như: thiếu việc làm, ô nhiễm môi trường, sức ép tới cơ sở hạ tầng – GTVT…
Kinh tế
Thất nghiệp
Thiếu việc làm là vấn đề nan giải ở cả nông thôn và thành thị Nguyên nhân thúc đẩy quá trình tích tụ dân cư vào đô thị là do sự chênh lệch về mức sống, vấn đề tiếp cận các phúc lợi xã hội, nhu cầu tìm kiếm việc làm và tình trạng dư thừa lao động ở nông thôn… đã thôi thúc dân cư nông thôn di chuyển ra các đô thị Tuy nhiên, quá trình tập trung dân cư quá lớn vào các đô thị đã làm cho khả năng cung ứng việc làm cho tất cả người lao động là điều không thể Hơn nữa, khi ĐTH không bắt nguồn từ CNH, người dân nông thôn ra đô thị tìm việc trong khi bản thân họ lại chưa được đào tào ngành nghề phù hợp, học vấn không cao và thiếu trình độ chuyên môn kĩ thuật phù hợp sẽ làm cho tình trạng thiếu việc làm ở các đô thị thêm trầm trọng [23, tr.147] Tỷ
lệ thất nghiệp cao sẽ làm trầm trọng hơn đến sự phát triển kinh tế – xã hội, môi trường
và an ninh đô thị
Sức ép kết cấu hạ tầng đô thị
Kết cấu hạ tầng đô thị bao gồm hệ thống cung cấp điện, nước, mạng lưới đường giao thông, các công trình công cộng, hệ thống thu gom xử lý chất thải… Ở các nhóm nước đang phát triển, sự phát triển của mạng lưới kết cấu hạ tầng đô thị chưa bắt kịp với tốc độ tăng dân số ở đô thị dẫn đến tình trạng cơ sở hạ tầng đô thị bị quá tải trước
Trang 38sức ép về gia tăng dân số và nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội đô thị [23, tr.147] Đặc biệt, hệ thống GTVT không đáp ứng kịp tốc độ ĐTH sẽ gây ra nhiều hệ lụy xấu cho quá trình phát triển kinh tế như: ùn tắc giao thông giờ cao điểm là nỗi “kinh hoàng” của cư dân đô thị, gây thiệt hại lớn về kinh tế và ô nhiễm về môi trường
Chênh lệch giàu nghèo
Do chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế dẫn đến thu nhập và mức sống của người dân giữa khu vực nông thôn và thành thị có sự khác biệt tương đối lớn Phần nào đó, ĐTH đã làm phân hóa sâu sắc hơn sự chênh lệch giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị Trong giai đoạn đầu của quá trình ĐTH thì sự bất bình đẳng giữa nông thôn
và thành thị sẽ tăng lên nhanh chóng [15, tr.XIV] Do vậy, trong quá trình phát triển kinh tế của một quốc gia, cần có những chính sách hợp lý để giảm thiểu sự bất bình đẳng trong quá trình ĐTH tránh gây ra những bất ổn về chính trị và xã hội
Xã hội
Già hóa dân số
ĐTH đã góp phần ổn định cơ cấu dân số thông qua giảm mức sinh Tuy nhiên, việc duy trì mức sinh thấp trong một thời gian lâu dài sẽ dẫn đến quá trình già hóa trong dân số Thực tế, tỷ lệ người già ở các đô thị có xu hướng ngày càng tăng lên, như ở TP Tokyo – Osaka tỷ lệ này là trên 15%, TP Paris và TP London tỷ lệ này luôn trên 20% [20, tr.116] Nhiều quốc gia có mức độ ĐTH khá cao như Nhật Bản, Pháp, Đức… đã không thể “vực dậy” được mức sinh ở các đô thị và làm cho tình trạng già hóa dân số ngày càng trầm trọng Quá trình già hóa dân số ở các đô thị sẽ làm phát sinh thêm nhiều vấn đề về an sinh xã hội trong tương lai như: quỹ bảo hiểm, chế độ lương hưu, chăm sóc cho người cao tuổi…
An ninh đô thị
Thành phố là nơi tập trung dân cư với số lượng rất lớn nên công tác quản lý đô thị
vô cùng phức tạp và hết sức khó khăn Công tác quản lý đô thị tốt sẽ tạo ra một môi trường sống thuận lợi, an toàn, lành mạnh và tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế –
xã hội Ngược lại, việc quản lý không hiệu quả sẽ cản trở và gây rối loạn đến sự phát triển về mọi mặt của đô thị Một số vấn đề về an ninh hay xảy ra ở các đô thị như [20, tr.137 – 139]:
Trang 39+ Tình trạng vi phạm pháp luật như: trốn thuế, rửa tiền, buôn bán hàng giả, hàng cấm… ảnh hưởng xấu tới nền kinh tế của các đô thị
+ Tình trạng tệ nạn xã hội như: trộm cắp, cướp giật, giết người, bắt cóc, buôn bán
ma túy, mại dâm, vi phạm giao thông…
Quy mô dân số lớn ở các đô thị cùng với một bộ phận dân cư có trình độ dân trí chưa cao sẽ dễ sa vào các tệ nạn xã hội Do vậy, đòi hỏi các nhà quản lý đô thị phải có những biện pháp hiệu quả, hợp lý để hạn chế các vấn đề về an ninh đô thị và đưa đô thị thật sự là một điểm mạnh trong không gian kinh tế, là đầu tàu thúc đẩy sự phát triển của các vùng lân cận hoặc cả một quốc gia
Môi trường
Dưới sự phát triển nhanh chóng của quá trình CNH – ĐTH đã có những tác động không nhỏ đến môi trường sinh thái tự nhiên ở các đô thị Sự gia tăng số dân quá nhanh vượt quá quy hoạch cho phép, tạo ra nguồn chất thải dân sinh vô cùng lớn làm cho môi trường đô thị ngày càng bị suy thoái Bên cạnh đó, các hoạt động CN và các phương tiện giao thông đưa vào môi trường một lượng chất thải cực lớn làm xuống cấp nhanh chóng môi trường đô thị Ở các quốc gia đang phát triển, công tác bảo vệ môi trường đô thị còn chưa mang lại hiệu quả cao, nhiều quốc gia đã vì lợi ích kinh tế trước mắt mà đánh đổi môi trường sống làm cho tình trạng ô nhiễm ở đô thị càng thêm nghiêm trọng Quá trình ĐTH diễn quá nhanh dưới sức ép của hiện tượng bùng nổ dân
số làm cho vấn đề ô nhiễm môi trường đô thị mất kiểm soát gây ra những hiểm họa lâu dài, đe dọa đến sức khỏe của dân cư sinh sống trong các đô thị và ảnh hưởng đến mục tiêu phát triển bền vững của các dân tộc trên thế giới Hầu hết môi trường đất, nước và không khí ở đô thị đều bị ô nhiễm ở những mức độ khác nhau
+ Ô nhiễm môi trường nước: Đô thị là nơi tích tụ các hoạt động sản xuất CN Tuy nhiên, nhiều nhà máy, xí nghiệp, KCN vẫn đang hoạt động mà chưa có hệ thống xử lý nước thải đúng quy chuẩn, các chất độc hại chưa được lắng lọc, làm sạch đã được xả trực tiếp vào môi trường làm cho môi trường nước bị ô nhiễm nặng nề [20; tr.136] Vấn đề này còn nghiêm trọng hơn ở các nước đang phát triển, khi tốc độ CNH – ĐTH diễn ra rất nhanh nhưng chưa có quy định chặt chẽ về bảo vệ môi trường trong phát triển CN
Trang 40+ Ô nhiễm môi trường không khí: Bắt nguồn từ hoạt động của hoạt động các phương tiện giao thông vận tải và sản xuất CN, các công trình xây dựng đã đưa khói bụi, chất độc vào khí quyển làm cho bầu không khí của đô thị bị ô nhiễm một cách trầm trọng, nhất là ở các đô thị lớn
+ Ô nhiễm tiếng ồn: Với việc tập trung dân cư quá lớn vào các đô thị cùng với hoạt động các máy móc trong các xí nghiệp và quá tải của các phương tiện giao thông nhất
là các nút giao thông quan trọng vào giờ cao điểm làm cho tình trạng ô nhiễm tiếng ồn
ở đô thị cao hơn ở các vùng nông thôn
Bất kì một hiện tượng, một quá trình vận động, phát triển nào cũng đều có mặt tích cực lẫn những ảnh hưởng tiêu cực, ĐTH cũng không nằm ngoài quy luật chung Một mặt, ĐTH đã thúc đẩy quá trình tiến bộ, phát triển của kinh tế – xã hội và môi trường Mặt khác, nếu không giải quyết tốt các vấn đề phát sinh, ĐTH sẽ càng làm trầm trọng thêm nhiều vấn đề kinh tế – xã hội và môi trường ĐTH là một quá trình tất yếu mà tất
cả các dân tộc trên thế giới đều phải trải qua Do vậy, chúng ta chỉ có thể thúc đẩy quá trình này diễn ra một cách hiệu quả để gặt hái được nhiều lợi ích mà không để lại quá nhiều những hạn chế phát sinh
1.2 Cơ sở thực tiễn về đô thị hóa ở một số vùng và địa phương trong cả nước 1.2.1 Ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long
ĐBSCL là vùng đất tận cùng phía nam của Tổ quốc, mới được khai phá và phát triển trong khoảng hơn 300 năm Đây là vùng đất trù phú nhất nước ta, nền kinh tế ĐBSCL gắn liền với lợi thế sản xuất nông nghiệp Do vậy, đến tận thời điểm hiện tại, quá trình phát triển đô thị ở vùng vẫn chủ yếu được định hướng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp Vùng đồng bằng châu thổ được bồi tụ từ mạng lưới sông ngòi dày đặc nên từ ngàn xưa các đô thị trong vùng đã hình thành gắn liền với sông nước Quá trình mua bán, trao đổi hàng hóa, nông sản diễn ra ngay trên các lưu vực sông Đô thị lớn nhất vùng ĐBSCL hiện nay là TP Cần Thơ (Tây Đô) Do được khai phá khá muộn nên
bề dày lịch sử trong quá trình phát triển đô thị của vùng ĐBSCL kém hơn các vùng khác ở nước ta Quá trình phát triển đô thị ở ĐBSCL có thể chia thành các giai đoạn lớn sau [24, tr.4 – 6]: