1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHÂN TÍCH NHẬN THỨC và ước MUỐN sẵn LÒNG CHI TRẢ CHO VIỆC GIẢM THIỂU sử DỤNG bọc NILON TRONG SINH HOẠT của NGƯỜI dân QUẬN NINH KIỀU THÀNH PHỐ cần THƠ

88 276 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP PHÂN TÍCH NHẬN THỨC VÀ ƯỚC MUỐN SẴN LÒNG CHI TRẢ CHO VIỆC GIẢM THIỂU SỬ DỤNG BỌC NILON TRONG SINH HOẠT CỦA

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

PHÂN TÍCH NHẬN THỨC VÀ ƯỚC MUỐN SẴN LÒNG CHI TRẢ CHO VIỆC GIẢM THIỂU SỬ DỤNG BỌC NILON TRONG SINH HOẠT CỦA NGƯỜI DÂN QUẬN NINH KIỀU

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Giáo viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện

MSSV: 4077648 Chuyên ngành: Kinh tế TN & MT

Cần Thơ - 2011

Trang 2

LỜI CẢM TẠ -  -

Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, tôi xin chân thành cảm ơn quý Thầy

Cô của Trường Đại Học Cần Thơ đã tận tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức lẫn phương pháp cho tôi trong suốt bốn năm học qua Đây là niềm tin và là cơ sở vững chắc nhất để tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Đặc biệt tôi xin trân trọng cảm ơn cô Huỳnh Thị Cẩm Lý đã hướng dẫn nhiệt tình và bổ sung cho tôi những kiến thức còn khiếm khuyết để tôi hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp của mình Ngoài ra tôi xin chân thành cảm ơn cô Võ Thị Lang đã tận tâm giúp đỡ, giúp tôi ôn lại những kiến thức đã học

Sau cùng tôi xin gởi lời chúc sức khỏe và lòng biết ơn sâu sắc đến quý Thầy

cô đã giúp đỡ tôi nhiệt tình trong suốt thời gian làm luận văn tốt nghiệp này

Xin chân thành cảm ơn!

Cần Thơ, ngày 26 tháng 04 năm 2011

Sinh viên thực hiện

Huỳnh Huy Hải Yến

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN -  -

Tôi Huỳnh Huy Hải Yến xin cam đoan rằng đề tài này là do chính tôi thực hiện, tôi không sao chép bất kì nội dung nào trong đề tài khác, các số liệu thu thập và kết quả phân tích trong chuyên đề là hoàn toàn trung thực, đề tài này không trùng với bất kì đề tài nghiên cứu khoa học nào Nếu có vấn đề gì tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Cần Thơ, ngày 14 tháng 05 năm 2011

Sinh viên thực hiện

Huỳnh Huy Hải Yến

Trang 4

BẢN NHẬN XÉT LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC



 Họ và tên người hướng dẫn: Huỳnh Thị Cẩm Lý

 Học vị: Thạc sĩ

 Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh

 Cơ quan công tác: Trường Đại Học Cần Thơ

 Tên học viên: Huỳnh Huy Hải Yến

 Mã số sinh viên: 4077648

 Chuyên ngành: Kinh tế Tài Nguyên & Môi Trường

Tên đề tài: Phân tích nhận thức và ước muốn sẵn lòng chi trả cho việc giảm thiểu sử dụng bọc nilon trong sinh hoạt của người dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ

Trang 5

NỘI DUNG NHẬN XÉT

1 Tính phù hợp của chuyên ngành đào tạo:

2 Về hình thức:

3 Ý nghĩa khoa học, thực tiễn và tính cấp thiết của đề tài:

4 Độ tin cậy của số liệu và tính hiện đại của luận văn:

5 Nội dung và các kết quả đạt được (theo mục tiêu nghiên cứu…)

6 Các nhận xét khác:

7 Kết luận (Cần ghi rõ mức độ đồng ý hay không đồng ý nội dung đề tài và các yêu cầu chỉnh sửa, …)

Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2011

Người nhận xét

Trang 6

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN



Cần Thơ, ngày tháng năm 2011

Giáo viên phản biện

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CẢM TẠ i

LỜI CAM ĐOAN ii

BẢN NHẬN XÉT LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC iii

NỘI DUNG NHẬN XÉT iv

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN v

MỤC LỤC vi

DANH MỤC HÌNH ix

DANH MỤC BIỂU BẢNG x

1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

1.2.1 Mục tiêu chung 3

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3

1.3 KIỂM ĐỊNH GIẢ THUYẾT VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 3

1.3.1 Các giả thuyết cần kiểm định 3

1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu 4

1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 4

1.4.1 Phạm vi về không gian 4

1.4.2 Phạm vi về thời gian 4

1.4.3 Đối tượng nghiên cứu 4

1.5 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 4

Chương 2 6

PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6

2.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN 6

2.1.1 Sơ lược về hành vi con người 6

2.1.1.1 Khái niệm về nhận thức 6

2.1.1.2 Các bước trong tiến trình xử lý thông tin 6

2.1.2 Khái niệm rác thải đô thị 8

2.1.2.1 Khái niệm 8

2.1.2.2 Phân loại 8

2.1.3 Sơ lược về túi nilon 9

Trang 8

2.1.3.1 Khái niệm “ô nhiễm trắng” 9

2.1.3.2 Cấu tạo bọc nilon 9

2.1.3.3 Những hiểm họa do túi nilon gây ra 10

2.1.3.4 Sản xuất túi tự hủy 11

2.1.3.5 Tái chế phế thải nilon 13

2.1.3.6 Thực trạng và các chính sách tuyên truyền về túi nilon ở Việt Nam .16

2.1.3.7 Các chính sách làm giảm việc sử dụng bọc nilon trên thế giới 17

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

2.2.1 Phương pháp chọn vùng nghiên cứu 21

2.2.2 Phương pháp chọn mẫu 21

2.2.2.1 Xác định đối tượng phỏng vấn 21

2.2.2.2 Xác định cỡ mẫu 21

2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu 22

2.2.4 Phương pháp phân tích số liệu 22

Chương 3 23

GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC QUẬN NINH KIỀU – TP CẦN THƠ 23

3.1 SƠ LƯỢC VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 23

3.2 CÁC CHÍNH SÁCH, PHONG TRÀO BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 26

Chương 4 28

PHÂN TÍCH NHẬN THỨC VÀ ƯỚC MUỐN SẴN LÒNG CHI TRẢ CHO VIỆC GIẢM THIỂU SỬ DỤNG BỌC NILON CỦA NGƯỜI DÂN QUẬN NINH KIỀU 28

4.1 TRÌNH ĐỘ NHẬN THỨC VỀ TÁC HẠI KHI SỬ DỤNG TÚI NILON 28

4.1.1 Nhận thức về tác hại túi nilon 28

4.1.2.1 Mức độ quan tâm của chính quyền địa phương 29

4.1.2.2 Trình độ học vấn 31

4.1.2.3 Tuổi 33

4.1.2.4 Tình trạng hôn nhân 34

4.1.2.5 Giới tính 35

4.1.2.6 Nghề nghiệp 36

Trang 9

4.1.2.7 Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến hiểu biết về tác hại túi nilon

37

4.2 ƯỚC MUỐN GIẢM THIỂU VIỆC SỬ DỤNG BỌC NILON TRONG SINH HOẠT CỦA NGƯỜI DÂN 42

4.2.1 Mức giá sẵn lòng trả cho túi thân thiện/1 lần sử dụng 42

4.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến ước muốn sẵn lòng giảm thiểu sử dụng túi nilon 43

4.2.2.1 Mức độ bằng lòng sử dụng túi thân thiện 43

4.2.2.2 Mức độ bằng lòng sử dụng túi thân thiện gây bất tiện 44

4.2.2.3 Mức độ quan tâm về sức khỏe 45

4.2.2.4 Mức độ quan tâm về môi trường 46

4.2.2.5 Thu nhập cá nhân 47

4.2.2.6 Thu nhập gia đình 48

4.2.2.7 Tình trạng hôn nhân 49

4.2.2.8 Mong muốn giảm sử dụng túi nilon 50

4.2.2.9 Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến mức giá sẵn lòng chi trả cho túi thân thiện/1 lần sử dụng 51

Chương 5 58

GIẢI PHÁP 58

Chương 6 61

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 61

6.1 KẾT LUẬN 61

6.2 KIẾN NGHỊ 62

6.2.1 Đối với nhà nước, các cấp chính quyền 62

6.2.2 Phía doanh nghiệp 63

TÀI LIỆU THAM KHẢO 65

PHỤ LỤC 67

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1: HẠT NHỰA VÀ TÚI NILON CHỜ TÁI CHẾ 15Hình 3.1: BẢN ĐỒ QUẬN NINH KIỀU 23Hình 4.1: MỨC ĐỘ HIỂU BIẾT TÁC HẠI TÚI NILON 28Hình 4.2: ƯỚC MUỐN SẴN LÒNG CHI TRẢ CHO VIỆC GIẢM THIỂU SỬ DỤNG TÚI NILON 42

Trang 11

DANH MỤC BIỂU BẢNG

Bảng 4.1: ẢNH HƯỞNG MỨC ĐỘ QUAN TÂM CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA

PHƯƠNG VÀ MỨC ĐỘ HIỂU BIẾT TÁC HẠI TÚI NILON 30

Bảng 4.2: ẢNH HƯỞNG CỦA TRÌNH ĐỘ HỌC VẤN ĐẾN MỨC ĐỘ HIỂU BIẾT TÁC HẠI TÚI NILON 31

Bảng 4.3: ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỘ TUỔI ĐẾN MỨC ĐỘ HIỂU BIẾT TÁC HẠI TÚI NILON 33

Bảng 4.4: ẢNH HƯỞNG CỦA TÌNH TRẠNG HÔN NHÂN ĐẾN MỨC ĐỘ HIỂU BIẾT TÁC HẠI TÚI NILON 34

Bảng 4.5: ẢNH HƯỞNG CỦA GIỚI TÍNH ĐẾN MỨC ĐỘ HIỂU BIẾT TÁC HẠI TÚI NILON 35

Bảng 4.6: ẢNH HƯỞNG CỦA NGHỀ NGHIỆP ĐẾN MỨC ĐỘ HIỂU BIẾT TÁC HẠI TÚI NILON 36

Bảng 4.7: MODEL SUMMARYb 37

Bảng 4.8: ANOVAb 38

Bảng 4.9: COEFFICIENTSa 38

Bảng 4.10: ẢNH HƯỞNG CỦA MỨC ĐỘ BẰNG LÒNG ĐẾN MỨC GIÁ SẴN LÒNG CHI TRẢ CHO TÚI THÂN THIỆN /1 LẦN SỬ DỤNG 43

Bảng 4.11: ẢNH HƯỞNG CỦA MỨC ĐỘ BẰNG LÒNG SỬ DỤNG TÚI THÂN THIỆN KHI BẤT TIỆN ĐẾN MỨC GIÁ SẴN LÒNG CHI TRẢ CHO TÚI THÂN THIỆN/ 1 LẦN SỬ DỤNG 44

Bảng 4.12: ẢNH HƯỞNG CỦA MỨC ĐỘ QUAN TÂM SỨC KHỎE ĐẾN GIÁ SẴN LÒNG CHI TRẢ CHI TÚI THÂN THIỆN/ 1 LẦN SỬ DỤNG 45

Bảng 4.13: ẢNH HƯỞNG CỦA MỨC ĐỘ QUAN TÂM MÔI TRƯỜNG ĐẾN GIÁ SẴN LÒNG CHI TRẢ CHO TÚI THÂN THIỆN/ 1 LẦN SỬ DỤNG 46

Bảng 4.14: ẢNH HƯỞNG CỦA THU NHẬP CÁ NHÂN ĐẾN GIÁ SẴN LÒNG TRẢ TÚI THÂN THIỆN/1 LẦN SỬ DỤNG 47 Bảng 4.15: ẢNH HƯỞNG CỦA THU NHẬP GIA ĐÌNH ĐẾN MỨC GIÁ SẴN

Trang 12

LÒNG CHI TRẢ CHO TÚI THÂN THIỆN/ 1 LẦN SỬ DỤNG 48

Bảng 4.16: ẢNH HƯỞNG CỦA TÌNH TRẠNG HÔN NHÂN ĐẾN MỨC GIÁ SẴN LÒNG CHI TRẢ CHO TÚI THÂN THIỆN/ 1 LẦN SỬ DỤNG 49

Bảng 4.17: ẢNH HƯỞNG CỦA MONG MUỐN GIẢM SỬ DỤNG TÚI NILON ĐẾN MỨC GIÁ SẴN LÒNG TRẢ 50

Bảng 4.18 MODEL SUMMARY 52

Bảng 4.19: ANOVAb 52

Bảng 4.20: COEFFICIENTSa 53

Trang 13

Chương 1 GIỚI THIỆU 1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Khi nước ta đang từng bước gia nhập nền kinh tế thị trường, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, nhịp sống kinh tế, xã hội được nâng cao, con người chỉ tập trung lo phát triển kinh tế, mà không quan tâm đến tình trạng môi trường đang suy giảm Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, không chỉ mang hiểm

họa đến môi trường, mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân Nền kinh tế

phát triển, thu nhập của người dân ngày càng tăng, năm 2010 đạt khoảng 1.160 USD tăng 5,5% so với năm 20091 và tăng khoảng 13,3% so với năm 20082, cùng với tốc độ phát triển đó thì môi trường càng tồi tệ thêm là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng biến đổi khí hậu, cụ thể năm 2010 nhiệt độ trung bình ở miền Bắc tăng 0,3oC và ở miền Nam tăng 0,5oC, mực nước biển trung bình dâng 9cm năm

20113…, chính những tác động từ môi trường đã làm số ca bệnh ngày càng tăng như: bệnh về hô hấp, bệnh ung thu tăng cao,… ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống sức khỏe của nhiều người

Xuất phát từ hoạt động kinh tế, các thành phố càng lớn có nền kinh tế càng phát triển, thì góp phần hủy hoại môi trường càng dữ dội Như vấn đề rác thải nilon là vấn đề nóng bỏng trên thế giới, là mối nguy hiểm tiềm tàng, hậu quả khó lường mà người dân phải gánh chịu Cần Thơ là một thành phố có nhịp sống kinh tế xã hội khá sôi động, là thành phố lớn nhất của đồng bằng sông cửu long, thu nhập bình quân của thành phố ở mức cao năm 2010 thu nhập bình quân đầu người đạt 1.950 USD tăng khoảng 28,9% so với năm 2009 và 35% so với năm

20084, mà đơn vị đầu não góp phần cho tăng trưởng đó là quận Ninh Kiều Với vai trò là xương sống của thành phố, tình hình kinh tế quận cũng ngày càng phát triển, đời sống kinh tế của người dân ngày một nâng cao với tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của quận giai đoạn 2005 - 2009 đạt 16,6%/năm, tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2010 đạt 17,3%, tăng 2,4% so với năm 20095 Cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh theo hướng thương mại – dịch vụ – du lịch – công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp Tỉ trọng ngành thương mại – dịch vụ tăng dần hàng năm từ 53,67% năm 2005 tăng lên 64,73% năm 2009, tỉ trọng ngành nông nghiệp giảm

Trang 14

dần từ 0,55% năm 2005 xuống còn 0,12% năm 20096, tổng vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn quận đạt 10.880 tỉ đồng, tăng gấp 4 lần so với giai đoạn 2001-

2005, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 2,19% năm 2006 xuống còn 1,31% năm 2009 và giảm còn 1,17% năm 20107 Khi thu nhập tăng cao thì nhu cầu cũng cần được thỏa mãn nhiều hơn ở nhiều khía cạnh Cùng với tình hình kinh tế ngày càng phát triển là tình trạng dân số ngày một tăng lên năm 2011 là 243.794 người tăng 2,2% so với năm 2010 và tăng đến 16% so với năm 20078, cộng với việc thu hút lượng sinh viên lớn từ các trường cao đẳng, đại học trên địa bàn Từ những lý do

đó làm môi trường sống ngày càng bị hủy hoại, mà cụ thể hơn là lượng túi nilon

sử dụng trong sinh hoạt ngày càng dữ dội, ít được quan tâm, mà hậu quả từ tác hại túi nilon thì không thể lường trước Về phía nhà cung cấp muốn thu hút khách hàng, phục vụ cho khách hàng một cách chu đáo nhằm tạo sự tiện lợi cho khách hàng khi mua sắm Trong sinh hoạt bọc nilon được sử dụng rất nhiều vì tính tiện lợi, giá rất rẻ,… nên không có động lực để giảm, do đó lượng thải bọc nilon vô cùng khủng khiếp Trung bình mỗi người Việt Nam tiêu dùng khoảng 35kg nhựa/người/năm và trong năm 2013 trở lại, khi đời sống kinh tế ngày càng khá hơn thì mức tiêu dùng sẽ đạt đến 40kg/người/năm9. Trong khi đó túi nilon được làm từ những chất khó phân hủy, khi thải ra môi trường phải mất từ hàng chục năm cho tới một vài thế kỷ mới được phân hủy hoàn toàn trong tự nhiên, gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới đất và nước bởi túi nilon lẫn vào đất sẽ ngăn cản ôxy đi qua đất, gây xói mòn đất,… Nghiêm trọng hơn, môi trường đất và nước bị

ô nhiễm bởi túi nilon sẽ ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp tới sức khỏe con người, gây rối loạn chức năng và dị tật bẩm sinh ở trẻ nhỏ, làm rối loạn hoocmon, gây

nữ tính hóa, gây mất mỹ quan Từ những tác hại khôn lường đó, mà lượng rác thải nilon ngày càng mất kiểm soát, chính sách tuyên truyền, giáo dục ít được chú trọng và kém hiệu quả Để tìm hiểu về nhận thức về tác hại, ước muốn giảm thiểu việc sử dụng bọc nilon, ý thức trong bảo vệ sức khỏe và môi trường của người

dân quận Ninh Kiều và đề ra giải pháp nhằm giảm “ô nhiễm trắng” Đề tài “Phân tích nhận thức và ước muốn sẵn lòng chi trả cho việc giảm thiểu sử dụng bọc nilon của người dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ” nhằm phân tích

nhận thức, ước muốn sẵn lòng chi trả cho việc giảm thiểu sử dụng bọc nilon trong sinh hoạt, đồng thời đề ra giải pháp giúp nâng cao trình độ hiểu biết của

Trang 15

người dân, nhằm góp phần giảm thiểu việc sử dụng cũng như tác hại của bọc nilon cho sức khỏe và môi trường, đi đến phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần một cách kịp thời và tối ưu nhất

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

- Đề ra giải pháp giúp người dân hạn chế việc sử dụng bọc nilon trong sinh hoạt, nhằm giảm bớt thiệt hại từ túi nilon cho sức khỏe và môi trường

1.3 KIỂM ĐỊNH GIẢ THUYẾT VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

1.3.1 Các giả thuyết cần kiểm định

- Đa số người dân quận Ninh Kiều nhận thức được tác hại khi sử dụng túi nilon

- Đa số người dân quận Ninh Kiều bằng lòng chi trả cho việc giảm thiểu sử dụng túi nilon ở mức thấp

- Các yếu tố trình độ học vấn, mức độ quan tâm của chính quyền địa phương, tuổi,… có ảnh hưởng đến nhận thức về tác hại khi sử dụng túi nilon của người dân

- Các yếu tố thu nhập gia đình, mức độ bằng lòng sử dụng túi thân thiện,…

Trang 16

có ảnh hưởng đến ước muốn sẵn lòng chi trả cho việc giảm thiểu sử dụng túi nilon của người dân quận Ninh Kiều

1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu

- Người dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ có nhận thức được tác hại khi sử dụng bọc nilon trong sinh hoạt không ?

- Họ có sẵn lòng chi trả cho việc giảm thiểu việc sử dụng bọc nilon trong sinh hoạt có cao không?

- Các yếu tố nào ảnh hưởng đến nhận thức và ước muốn sẵn lòng chi trả cho việc giảm thiểu việc sử dụng bọc nilon trong sinh hoạt ?

- Cần có những giải pháp nào nhằm khuyến khích và nâng cao hiệu quả việc giảm thiểu việc sử dụng bọc nilon trong sinh hoạt của người dân không ?

1.4.3 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu về nhận thức và ước muốn sẵn lòng chi trả cho việc giảm thiểu sử dụng bọc nilon trong sinh hoạt của người dân quận Ninh Kiều thành phố Cần Thơ

1.5 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

Lý Thanh Hoài (2009), luận văn tốt nghiệp “Phân tích nhận thức và ước muốn sẵn lòng chi trả cho việc thu gom rác thải cho nhà máy xử lý rác thải cho nhà máy xử lý rác của người dân xã Lịch Hội Thượng, Long Phú, Sóc Trăng, Đại học Cần Thơ Đề tài tập trung phân tích nhận thức và ước muốn sẵn lòng chi trả

về việc thu gom rác thải cho nhà máy xử lý rác làm phân compost của người dân

Trang 17

xã Lịch Hội Thượng – Long Phú – Sóc Trăng Từ đó đề xuất các giải pháp phát triển của mô hình thu gom rác thải nhằm làm giảm thiểu ô nhiễm chất thải rắn ở những vùng nông thôn

Trang 18

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN

2.1.1 Sơ lược về hành vi con người

2.1.1.1 Khái niệm về nhận thức

Nhận thức là một hoạt động quan trọng nối kết các yếu tố ảnh hưởng chính như nhóm, tình huống, chương trình tiếp thị đến cá nhân Nhận thức là một quá trình có tính chọn lọc: cá nhân không phải là người thụ động trong việc tiếp nhận thông điệp marketing mà trái lại họ thường quyết định thông điệp nào họ sẽ tiếp cận, chú ý cũng như ý nghĩa mà họ gán cho chúng Các cá nhân có được nhận thức thông qua qua tiến trình xử lý thông tin Đó là một chuỗi các hoạt động được tạo ra bởi các kích thích từ môi trường bên ngoài đã được chuyển đổi thành thông tin và lưu trữ lại Tiếp nhận thông tin xảy ra khi một kích thích, ví dụ như một bảng tin lọt vào tầm nhận thức của giác quan con người Tiến trình xử lý thông tin có 4 bước: tiếp nhận, chú ý, diễn giải, ghi nhớ, trong đó, ba bước đầu là tiến trình nhận thức

2.1.1.2 Các bước trong tiến trình xử lý thông tin

Bước 1: Tiếp nhận – Exposure

Xảy ra khi các kích thích lọt vào tầm hoạt động của các tế bào thần kinh cảm giác Để một cá nhân có thể tiếp cận thông tin chỉ cần các kích thích được bố trí ở gần người đó, cá nhân thường tìm kiếm thông tin mà họ nghĩ rằng có thể giúp họ đạt mục tiêu mong muốn

- Tác nhân kích thích: Là các đặc điểm lý tính của các tác nhân kích thích như kích cỡ, cường độ, màu sắc, sự chuyển động, vị trí trưng bày, sự phân biệt,

Trang 19

kiểu (cách thức thể hiện thông điệp), sự tương phản

- Nhân tố cá nhân: Là những đặc điểm chính của cá nhân Sự thích thú hoặc nhu cầu được xem như là những đặc tính cá nhân chính mà cần phải có sự tác động Sự thích thú là sự phản ánh phong cách sống, là kết quả của quá trình lên kế hoạch và đạt mục tiêu lâu dài (ví dụ như để trở thành một giám đốc kinh doanh) và nhu cầu ngắn hạn (ví dụ như đói bụng) Cá nhân tiếp nhận và quan tâm đến những thông tin liên quan đến nhu cầu hiện tại của mình

- Nhân tố tình huống: Bao gồm các kích thích của môi trường như quảng cáo và đóng gói và các tính chất nhất thời của cá nhân sẽ bị ảnh hưởng bởi môi trường bên ngoài như áp lực về mặt thời gian hoặc sự đông đúc quá mức Những

cá nhân ở trong một môi trường không thỏa mãn thì sẽ không quan tâm đến những kích thích vì họ chỉ muốn thoát ra khỏi môi trường dó càng nhanh càng tốt Ngoài ra để tác động đến sự chú ý còn có sự ảnh hưởng của chương trình: Các chuyên mục quảng cáo trên báo chí, tivi xuất hiện cùng với nội dung của chương trình này

Bước 3: Diễn giải – Interpretation

Diễn giải là sự gán nghĩa cho các thông tin tiếp nhận từ các giác quan Khả năng diễn giải của người tiếp nhận phụ thuộc các yếu tố thuộc về cá nhân, đặc điểm tình huống, đặc điểm của tác nhân kích thích, sự diễn giải của thông điệp…

Quá trình nhận thức diễn ra không giản đơn, thụ động, máy móc, mà là quá trình phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc người một cách năng động, sáng tạo, biện chứng

Có thể chia hoạt động nhận thức làm hai giai đoạn lớn :

Nhận thức cảm tính (cảm giác và tri giác)

Là một quá trình tâm lí, nó là sự phản ánh những thuộc tính bên ngoài của

sự vật và hiện tượng thông qua sự tri giác của các giác quan

Cảm giác là hình thức khởi đầu trong sự phát triển của hoạt động nhận thức, nó chỉ phản ánh những thuộc tính riêng lẻ của sự vật hiện tuợng

Tri giác phản ánh sự vật hiện tượng một cách trọn vẹn và theo một cấu trúc nhất định

Trang 20

Nhận thức lí tính (tư duy và tưởng tượng)

Tưởng tượng là một quá trình tâm lí phản ánh những điều chưa từng có trong kinh nghiệm của cá nhân bằng cách xây dựng nhưng hình ảnh mới trên cơ

sở những biểu tượng đã có

Tư duy là một quá trình tâm lí phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ bên trong có tính qui luật của vật hiện tuợng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết

2.1.2 Khái niệm rác thải đô thị

2.1.2.1 Khái niệm

Rác thải đô thị là một nguồn ô nhiễm lớn của cuộc sống Các nguồn chủ yếu phát sinh ra rác đô thị bao gồm: từ các khu dân cư (rác sinh hoạt), các trung tâm thương mại, các công sở, trường học, công trình công cộng, các hoạt động công nghiệp, xây dựng đô thị, các trạm xử lý nước thải và từ các đường ống thoát nước của thành phố

Rác xây dựng và phá dỡ rất khó ước tính và có thành phần thay đổi, nhưng chủ yếu gồm 40-50% rác (bê tông, nhựa đường, gạch, đá, bụi,…), 20-30% gỗ và các thành phần làm bằng gỗ (bệ gỗ, gỗ thừa, nhánh cây, gỗ xẻ, ván lợp …), 20-30% là hỗn hợp các loại rác khác (gỗ đã sử dụng, kim loại, sản phẩm chứa nhựa đường, vữa, kính vỡ, amiăng, các vật liệu điện khác, ống nước, các bộ phận cấp

Trang 21

nhiệt và cấp điện)

Rác công nghiệp và nông nghiệp điển hình : bao gồm các nguồn như đồ hộp

và thực phẩm đông lạnh, in ấn, xuất bản, ô tô, máy móc tự động, lọc hóa dầu, cao

su, các loại phân bón, mùa thu hoạch trái cây và hạt ngũ cốc

2.1.3 Sơ lược về túi nilon

2.1.3.1 Khái niệm “ô nhiễm trắng”

"Ô nhiễm trắng" được dùng để chỉ phế thải bằng nhựa như chai lọ, can, hộp, khay các loại màng, túi chứa đựng, bao gói thương phẩm mà người ta thải vào môi trường mà chủ yếu là ô nhiễm gây ra bởi túi nilon

2.1.3.2 Cấu tạo bọc nilon

Nguyên liệu làm túi nilon xuất phát từ hai nguồn: hạt nhựa tái chế và hạt nhựa chính phẩm nhập khẩu Phần lớn cơ sở sản xuất túi nilon hay sản phẩm nhựa đều dùng hạt nhựa chính phẩm nhập khẩu, còn hạt nhựa tái chế được sử dụng với tỉ lệ nhỏ (khoảng 20%) và chủ yếu dùng để pha trộn với hạt nhựa chính phẩm Do vậy, để sản xuất túi nilon để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng như hiện nay thì phải tốn một khoản ngoại tệ rất lớn Hiện trên thị trường có ba loại túi nilon phổ biến

- Loại túi nilon được sản xuất từ hạt nhựa mật độ cao (Hight Density Poli Etilen - HDPE), được trùng phân từ poli Etilen (có tỉ trọng cao) dưới áp suất thấp với các hệ xúc tác như crom/silic catalyts thường gọi là túi xốp, dùng phổ biến trong siêu thị, chợ, các trung tâm thương mại

- Túi nilon sản xuất từ hạt nhựa mật độ thấp polyethylene (LDPE) là một nhựa nhiệt dẻo làm từ dầu khí Đây là lớp đầu tiên của polyethylene LDPE, thường gọi là nilon trong, đựng đường, muối

- Túi sản xuất từ nhựa Polypropylene - PP, còn được gọi là polypropene, là một nhựa nhiệt dẻo polymer, thường cung cấp cho thị trường buôn bán thuốc tây

để phân liều thuốc Nhưng dù loại túi nào thì tác hại của chúng đối với môi trường đều như nhau

Trang 22

2.1.3.3 Những hiểm họa do túi nilon gây ra

Tác hại của túi nilon ảnh hưởng xấu đến môi trường, sức khỏe cộng đồng túi nilon được làm từ những chất khó phân huỷ, có thể mất từ 500 năm đến 1.000 năm mới có thể tự phân huỷ nếu không bị tác động của ánh sáng mặt trời10 Mà

“Vòng đời” sử dụng của túi nilon rất ngắn so với nhiều loại sản phẩm nhựa khác, theo tính toán của các nhà chuyên môn, cứ hai túi nilon được sản xuất ra thì có khoảng 0,1 gam chất thải phát sinh đối với môi trường Do vậy khối lượng bọc nilon sản xuất ra để thỏa mãn nhu cầu con người vô cùng lớn và gây hậu quả vô cùng khủng khiếp

- Túi nilon lẫn vào đất có thể làm chậm sự tăng trưởng của cây trồng, ngăn cản oxy đi qua đất, gây xói mòn đất làm cho đất không giữ được nước, dinh dưỡng, từ đó làm cho cây trồng chậm tăng trưởng, gây ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp tới sức khoẻ con người Tuy nhiên, dù đã phân huỷ và lẫn vào đất thì chất nhựa PVC sẽ làm đất bị trơ

- Túi nilon còn gây mất mỹ quan, việc chôn lấp túi nilon sẽ ảnh hưởng tới môi trường đất, nước do nilon khó phân huỷ, còn đốt chúng sẽ tạo ra sẽ tạo ra khí thải có chất độc dioxin và Furan gây ngộ độc, ảnh hưởng đến tuyến nội tiết, gây ung thư, giảm khả năng miễn dịch, rối loạn chức năng tiêu hoá và các dị tật bẩm sinh ở trẻ nhỏ trong một số loại túi nilon có lẫn lưu huỳnh, dầu hỏa nguyên chất, khi bị đốt cháy, gặp hơi nước sẽ tạo thành axit sunfuric dưới dạng các cơn mưa axit, rất có hại cho phổi

- Túi nilon dạng rác dơ bẩn, khó phân hủy sẽ nổi lềnh bềnh ở sông, suối, cống rãnh hoặc bị gió cuốn bay tứ tung Gây ô nhiễm nguồn được, ảnh hưởng đến động thực vật thủy sinh Những túi nilon kẹt sâu trong cống rãnh, kênh rạch còn làm tắc nghẽn cống, rãnh, kênh, rạch gây ứ đọng nước thải và gây ngập úng Các điểm ứ đọng nước thải sẽ là nơi sản sinh ra nhiều vi khuẩn gây bệnh

- Đặc biệt, trong quá trình sản xuất túi nilon, nhiều chất thải độc hại được thải vào môi trường, gây ô nhiễm không khí, nước vì việc sản xuất túi nilon phải sử dụng nguyên liệu đầu vào là dầu mỏ và khí đốt, do đó trong quá trình sản xuất nó sẽ tạo ra khí CO2 làm tăng hiệu ứng nhà kính, thúc đẩy biến đổi khí hậu toàn cầu

Trang 23

- Ngoài ra, trong quá trình sử dụng đựng thức ăn thì bọc nilon rất nguy hại cho sức khỏe, các thành phần có trong chiếc bọc nilon rất nguy hại khi hoà tan vào thực phẩm chúng ta ăn hàng ngày, đặc biệt là các thực phẩm nóng, ăn liền Chúng được làm từ nhựa PE (polyetylen) hoặc nhựa PP (polypropene) Thành phần của các loại nhựa này không chứa độc, nhưng những chất phụ gia làm cho nhựa mềm, dẻo lại có khả năng gây độc cho người Các chất này phản ứng ở nhiệt độ từ 70 – 80oC Gây nhiều bệnh nguy hiểm như ung thư,…Ngoài ra, những loại túi này hoặc hộp nhựa, bình nhựa, túi nhựa có thể chứa một chất cực độc ảnh hưởng đến cơ quan sinh dục nam, đó là chất DOP (dioctin phatalat) Đây

là một chất hóa dẻo, có tác dụng giống như hormon nữ vì thế rất có hại cho nam giới và trẻ em khi cơ quan sinh dục chưa hoàn chỉnh Nếu bị nhiễm chất này lâu dài, các bé trai có thể bị nữ tính hóa, vô sinh nam, còn trẻ em nữ có nguy cơ dậy thì quá sớm Độc hại vậy nhưng DOP vẫn tồn tại 5-10% trong các chất hóa dẻo được sử dụng Nếu đồ dùng làm từ nhựa melamine, PEHD thì không độc nhưng giá rất cao nên chưa thông dụng Hiện nay, các loại đồ nhựa thông dụng như rổ, bát, nồi, đũa, bình nước vẫn chủ yếu được sản xuất từ loại nhựa PVC Với chất liệu này, đồ dùng có thể phóng thích clor, gây ngộ độc cho người dùng

2.1.3.4 Sản xuất túi tự hủy

a Thành tựu

Tại Việt Nam xuất hiện nhiều cơ sở sản xuất túi thân thiện, giảm bớt tình trạng ô nhiễm môi trường từ túi nilon

- Năm 2003 Công ty cổ phân Văn hoá Tân Bình, gọi tắt là Alta đã đầu tư

và đưa vào một công nghệ sản xuất bao bì tự huỷ từ tập đoàn EBI (Canada) Nguyên vật liệu để sản xuất bao bì tự huỷ Alta giống như nguyên liệu sản xuất bao bì nhựa thông thường, nhưng thêm chất phụ gia tự huỷ Alta Quy trình sản xuất như sau: nguyên vật liệu thông thường tổng hợp với chất phụ gia tự huỷ alta, đưa qua máy gia nhiệt ở nhiệt độ cao Tuỳ theo yêu cầu của khách hàng về thời gian tự huỷ: 6 tháng, 9 tháng, hay 12 tháng mà tỷ lệ phụ gia alta khác nhau Bao

bì tự huỷ alta ít ảnh hưởng đến môi trường do những đặc tính phân huỷ theo định

kỳ tính toán Tuỳ theo nhu cầu sử dụng khác nhau mà thời gian tự huỷ khác nhau Bao bì sau khi phân dã sẽ lẫn với rác, không gây hại cho môi trường, thuận tiện

Trang 24

cho việc tái chế rác Túi thành phẩm trong kho nếu phân huỷ, vẫn có thể tái chế

để sử dụng lại Thuận tiện cho việc xử lý rác gia đình, rác thải công nghiệp, rác thải y tế, giảm bớt nhân công phân đoạn, phân loại rác làm hạn chế gây ô nhiễm môi trường

- Công ty Vạn Cường Phát chuyên sản xuất các loại túi đựng tiện dụng, thân thiện và bảo vệ môi trường hằng ngày, được làm từ vải không dệt 100% PP (Polypropylene Spunbonded fabric) với công nghệ Hotseal (ép nóng, không dùng sợi Chỉ để may túi) và công nghệ May truyền thống (Dùng sợi chỉ để may) có khả năng tự hủy gần như 100% thay thế cho các loại bao bì nilon và túi giấy truyền thống đang là hiểm họa ô nhiễm lớn của môi trường

- Công ty An Phát đã nghiên cứu và sản xuất thành công các sản phẩm túi nilon tự hủy và xử lý, tái chế rác thải nhựa Tháng 9/2009, An Phát đưa Nhà máy thứ 3 đi vào hoạt động với sản phẩm chiến lược là túi nilon tự phân hủy tốt, nhằm tiến tới thay thế túi nilon thông thường Sản phẩm túi nilon tự hủy của An Phát

có ưu điểm vượt trội so với các dòng sản phẩm khác là khả năng tự phân hủy trong lòng đất Sản phẩm đã được người tiêu dùng đón nhận nồng nhiệt tại các thị trường Châu Âu và Mỹ, do đáp ứng được đòi hỏi rất khắt khe về tiêu chuẩn vệ sinh và quy trình sản xuất

Ngoài ra còn có một số công ty sản xuất bao bì tự hủy: Công ty Bao bì Lotus,…

b Hạn chế

Trong nước đã có nhà máy sản xuất túi tự hủy, nhưng số lượng khiêm tốn

do thiếu nguồn nguyên liệu đầu vào chẳng hạn như: Công ty Bao bì Lotus chỉ sản xuất khoảng 100 tấn bao bì tự hủy mỗi năm so với tổng sản lượng 1.500 tấn bao bì/tháng mà công ty xuất sang các thị trường châu Âu, Mỹ và Nhật Công ty Bao

bì nhựa Tân Tiến có sử dụng màng bao bì tự hủy PVA (Poly Vinyl Alcohol) nhập từ Nhật để in gia công bao đựng áo sơ mi xuất khẩu cho Công ty Dệt Thành Công

Giá thành của loại bao bì này gấp 3-4 lần so với bao bì nhựa thông thường nên các công ty chỉ sản xuất nếu nhà nhập khẩu có yêu cầu Do giá sản phẩm túi nilon tự hủy cao, nên thị trường tiêu thụ trong nước vẫn còn hạn chế, mà chủ yếu

Trang 25

xuất khẩu ra nước ngoài (chiếm trên 80%)

Chi phí sản xuất túi thân thiện cao do nguyên vật liệu đầu vào, chủ yếu là nhập khẩu từ các nước Ý, Đức, chiếm khoảng 70 – 80% chi phí, tinh bột ngô với giá khoảng 4 đô la Mỹ/ki lô gam, hạt nhựa PVC compound hoặc PET chỉ khoảng 1,8-2,5 đô la Mỹ/ki lô gam, còn lại là chi phí nhân công, máy móc,… Thiết bị sản xuất bao bì tự hủy chưa đa dạng và khá đắt tiền Có thể sản xuất bao bì tự hủy từ bột bắp bằng thiết bị sản xuất bao bì thông thường nhưng phải có một số điều chỉnh ở bộ phận nhiệt, chế độ làm nguội… Khi đó, công suất thiết bị sẽ giảm khoảng 50% nên giá thành sản phẩm tăng lên

Gây hạn chế trong tiêu dùng do sức bền của túi tự hủy khi đựng vật nặng cũng như thời gian sử dụng của túi không cao Bao bì tự hủy và túi nilon thông thường rất khó phân biệt nhưng giá thành lại chênh lệch khá cao

Việc kiểm soát thời gian sử dụng của bao bì vô cùng phức tạp vì phụ thuộc nhiều vào yếu tố môi trường và đặc điểm của vật chứa Trong điều kiện bình thường, thời gian này có thể kéo dài khoảng 1-2 năm nhưng trong điều kiện

có vi khuẩn và độ ẩm cao, thời gian sử dụng bao tự hủy chỉ khoảng sáu tháng Tuy các túi tự hủy được sản xuất nhằm hạn chế sử dụng nguồn dầu mỏ tự nhiên, làm ngắn thời gian phân hủy, nhưng thực tế cho thấy do không phải là túi phân hủy sinh học nên các túi tự hủy chỉ phân hủy do tác động của chất hóa học, cấu tạo từ mảng polyme, phát tán trong môi trường khó thu hồi, ảnh hưởng đến sinh vật, làm đất kém tơi xốp, kém màu mỡ,… vẫn ảnh hưởng nghiêm trọng cho môi trường và sức khỏe

Nếu sản xuất túi thân thiện từ bột ngô, sắn,… với số lượng lớn đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, phân hủy hoàn toàn trong tự nhiên, không gây hại cho môi trường, sức khỏe thì phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp, điều kiện tự nhiên,… ảnh hưởng đến an ninh lương thực quốc gia Nếu nhập khẩu thì chi phí sản xuất cao, dẫn đến giá thành cao hạn chế tiêu dùng

2.1.3.5 Tái chế phế thải nilon

a Thành tựu đạt được

Công nghệ xử lý rác thải nilon của Viện Vật liệu xây dựng (Bộ Xây dựng)

đã tạo ra nguồn nguyên liệu phong phú cho các mặt hàng ván ép, cốp pha, bàn

Trang 26

ghế Hơn nữa, nó còn giải quyết được lượng lớn rác thải “cứng đầu”, góp phần giảm ô nhiễm môi trường

Công nghệ tái chế rác thải nilon chỉ là 1 phần trong một dự án tổng thể lớn hơn Trong đó, ngoài Viện Vật liệu xây dựng còn có Trung tâm Tư vấn công nghệ môi trường (tham gia xây dựng mô hình phân loại rác tại nguồn ở quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) và Công ty Môi trường đô thị Hà Nội (thử nghiệm mô hình phân loại rác tại nguồn ở phường Phan Chu Trinh, quận Hoàn Kiếm)

Vật liệu xây dựng từ rác thải nilon chủ yếu là ván ép nhựa gồm: ván ép nhựa hỗn hợp (gồm nhiều loại nhựa khác nhau) và ván ép composite (gồm hỗn hợp nhựa, sợi gia cường) Trong công nghệ này, nilon và tất cả các loại nhựa khác (như vỏ chai PET, chai PVC, hộp nhựa, tấm xốp ) được tách ra từ rác thải sinh hoạt, sau đó xay rửa để loại bỏ tạp chất bẩn, sấy khô và cuối cùng qua máy đùn ép thành ván Vì rác thải nhựa, nilon thuộc rất nhiều loại khác nhau, có độ nóng chảy và đặc điểm lý hóa khác nhau, nên trong quá trình ép, các nhà nghiên cứu đã bổ sung sợi gia cường (xơ dừa, sợi thủy tinh ) làm tăng độ bền cơ học cho sản phẩm, chất độn bột đá để làm tăng độ cứng, độ mài mòn và bổ sung chất phụ gia để tăng khả năng kết dính, tạo độ tương hợp cho các loại vật liệu Sở dĩ các nhà khoa học của viện chọn công nghệ tái chế nilon thành vật liệu xây dựng bởi thành phẩm này không kén nguyên liệu đầu vào nên có thể tận dụng tối đa lượng rác thải ra, bên cạnh đó cũng giảm đáng kể chi phí cho việc phân loại rác, dây chuyền thí điểm tại viện đã cho ra đời khoảng 100m2 sản phẩm ép cứng, có chất lượng tương đương với ván ép từ nhựa phế thải của nước ngoài Sản phẩm

có thể thay thế ván gỗ làm cốp pha, hoặc thay cho ván dăm làm mặt bàn ghế (khi

đó cần phủ lên trên một lớp sơn tổng hợp đặc biệt) Kiểm nghiệm bước đầu tại Viện Vệ sinh an toàn lao động (Bộ Y tế) cho thấy loại nhựa ép này an toàn với con người và môi trường Sản phẩm cũng có triển vọng làm kênh dẫn, thoát nước do đặc tính cách nước rất tốt Trước mắt, sẽ tập trung vào việc nghiên cứu sản xuất cốp pha xây dựng từ nilon phế thải vì sản phẩm này đang có nhu cầu lớn Cốp pha này sẽ rất bền với nước nên bê tông không bị mất nước và dễ tháo lắp Ngoài ra còn có các cơ sở nhỏ thu mua, tái chế túi nilon nhưng chỉ với quy

mô nhỏ do ý thức về phân loại rác còn hạn chế

Trang 27

b Hạn chế

Tái chế bọc nilon, nhựa mang lại lợi ích lớn về kinh tế, tuy nhiên còn nhiều vấn đề kéo theo rất đáng được quan tâm Đó là tình trạng ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khoẻ vẫn là bài toán chưa có lời giải Việc xử lý tại các cơ sở

ở các vùng nông thôn hiện chủ yếu là bằng phương pháp thủ công, không qua xử

lý hoá học Sau khi tái chế ra túi nilon thành phẩm, người làm nghề chỉ rửa qua bằng nước vôi trong rồi sấy khô và bán ra thị trường Trong khi đó, các sản phẩm làm ra là các loại túi nhựa đang được sử dụng để đựng thục phẩm hàng ngày vẫn chưa có cơ quan quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm nào kiểm tra mức độ an toàn Đây cũng là 1 mối đe doạ không nhỏ cho sức khoẻ của cộng đồng

Hình 2.1: HẠT NHỰA VÀ TÚI NILON CHỜ TÁI CHẾ

Nguồn: http://vietbao.vn

Ở những vùng tái chế túi nilon thường có các dạng ô nhiễm hữu cơ BOD và COD, ô nhiễm sinh vật và ô nhiễm dầu Hàm lượng Amoniắc, nitrit, Mật độ vi khuẩn coliform ở các ao hồ, kênh mương cao, ô nhiễm trong không khí, những người làm nghề tái chế túi nilon thường mắc các như hô hấp, tai mũi họng, mắt,

da, thần kinh ngày càng gia Đây là một thực trạng đáng lo ngại

Trang 28

2.1.3.6 Thực trạng và các chính sách tuyên truyền về túi nilon ở Việt Nam

a Thực trạng

Ở nước ta, việc sử dụng tràn lan các loại túi nilon trong các hoạt động sinh hoạt xã hội, chủ yếu và đặc biệt là loại túi siêu mỏng, thể hiện sự dễ dãi của cả người cung cấp cũng như người sử dụng Tuy nhiên túi nilon chưa được quản lý

ở hầu hết tất cả các khâu của vòng đời túi nilon: từ sản xuất, lưu thông phân phối,

sử dụng cho đến thải bỏ, thu gom, xử lý

Trung bình một người Việt Nam trong 1 năm sử dụng ít nhất 30 kg các sản phẩm có nguồn gốc từ nhựa Trung bình mỗi ngày nước ta thải khoảng 25 triệu túi nilon/ ngày Từ 2005 đến 2011, trung bình 35 kg/người/năm Năm 2000, trung bình một ngày, Việt Nam xả khoảng 800 tấn rác nhựa ra môi trường và năm 2011 khoảng hơn 2.500 tấn /ngày

Với số lượng và khối lượng túi nilon được sử dụng và thải bỏ hàng ngày lớn như vậy nhưng việc quản lý chúng trong nhiều năm qua và cho đến nay vẫn chưa có chính sách hữu hiệu Đã có những đề xuất: cấm sử dụng, áp dụng các công cụ kinh tế (thuế, phí…), công cụ giáo dục, nâng cao nhận thức nhưng hiệu quả đạt được không cao do sự tiện dụng cao và giá cả thấp của túi nilon, gây hạn chế động cơ giảm thiểu Chính điều này đã làm cho sản phẩm túi nilon càng tràn lan Các giải pháp công nghệ được đề xuất, kể cả các sản phẩm thay thế sử dụng túi nilon khó phân hủy bằng loại túi thân thiện với môi trường cùng các cuộc vận động “nói không với túi nilon” do các cơ quan quản lý môi trường, các tổ chức

xã hội, thậm chí cả các doanh nghiệp nhưng vẫn không làm cho sản xuất và tiêu dùng túi nilon giảm đi mà trái lại, túi nilon vẫn gia tăng, môi trường hàng ngày vẫn phải nhận thêm chất thải túi nilon

Trong khi đó phần lớn người dân, kể cả nhiều nhà sản xuất và phân phối đều đồng tình, ủng hộ việc hạn chế sử dụng túi nilon khó phân hủy trong đời sống xã hội Như vậy, vấn đề chất thải túi nilon ở nước ta hiện đang được quan tâm của các bên liên quan với nhận thức khá tốt và khá rõ trong xã hội về tác hại

và tính cấp thiết phải quản lý và xử lý chúng Do đó để giảm thiểu kịp thời thì các cấp chính quyền Việt Nam cần có những biện pháp hợp lý, mạnh mẽ hơn, có

Trang 29

như vậy mới có cơ hội giảm lượng rác thải nilon trong cuộc sống

b Chính sách

Các chính sách thực hiện không đồng bộ ở một số địa phương như “Ngày Chủ nhật không túi nilon” ở Hà Nội nhằm nâng cao nhận thức của người dân, góp phần xây dựng Thủ đô “Xanh - Sạch - Đẹp” và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững

Trong các trường đại học cao đẳng thành lập các tổ, đội, nhóm tình nguyện tuyên truyền về túi nilon, nhằm nâng cao ý thức không sử dụng túi nilon, bảo vệ môi trường cho các bạn trẻ và người dân Phát động phong trào sử dụng túi thân thiện ở các khu thương mại, siêu thị,…

Riêng các nhà máy xử lý rác thải ở nước ta mới chỉ giải quyết được 45% lượng rác thải ra hàng ngày Và túi nilon vẫn còn bị chôn lấp cùng với vô vàn những thứ rác khác

Biện pháp đánh thuế vào mặt hàng túi nilon như đánh thuế vào các mặt hàng túi nilon mà người mua phải chịu, đánh thuế vào các loại túi mỏng cao hơn túi dày,…cũng được đề xuất vào năm 2008 Tuy nhiên đến nay vẫn chưa có một chính sách nào được ban hành mà rác thải nilon ngày càng dữ dội do các phong trào chỉ thực hiện nhỏ giọt chưa đồng bộ, tuyên truyền chưa rộng rãi

2.1.3.7 Các chính sách làm giảm việc sử dụng bọc nilon trên thế giới

- Phế thải nilon tràn lan, bao bì sản phẩm trong nước cũng không thấy ký

Trang 30

hiệu có khả năng tái chế (recyclable) - ký hiệu thân thiện với môi trường… Trong khi đó để ngăn chặn sự “bùng phát” của túi nilon trên phạm vi toàn cầu, nhiều quốc gia đã thực hiện các chiến dịch giảm thiểu sử dụng túi nilon

- Ở Pháp người đi siêu thị phải thủ sẵn giỏ Thường thấy nhất là giỏ màu xanh lá, có dòng chữ “Par respect de la nature” - thân thiện với thiên nhiên,…

- Ở Trung Quốc, từ ngày 1/6/2008, người tiêu dùng sẽ phải tự lo túi đựng

đồ khi đi mua sắm, nếu không sẽ phải trả tiền mua túi nhựa hoặc nilon tại các cửa hàng, siêu thị

- Tại các nước Thuỵ Sĩ, Đan Mạch, Nam Phi đã đánh thuế cao người sản xuất túi nilon để người dân tiết kiệm hơn khi sử dụng Ireland buộc mỗi hộ dân đóng 15 cent/ngày (tương đương 1.000đ) thuế sử dụng túi nilon nên mỗi ngày ở đất nước này đã giảm được 90% người dân sử dụng nilon bừa bãi và xả rác ra đường

- Năm 2004, chính phủ Australia đã khởi xướng chiến dịch làm cho thế giới sạch hơn, trong đó đã vận động toàn người dân Australia hãy nói “Không” với túi nilon Chính phủ đã thiết kế một bộ hướng dẫn tổng hợp nhằm giúp bất kỳ người bán lẻ nào - quy mô nhỏ hay lớn - bắt đầu giảm việc sử dụng túi nilon và tăng việc tái chế Bộ hướng dẫn bao gồm 1 chỉ dẫn về cách thức từ chối, giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế, tài liệu huấn luyện nhân viên và các khoản quảng cáo trong cửa hàng để hành động Những người bán lẻ tham gia chương trình được khuyến khích cam kết vào Điều lệ của Hiệp hội những người bán lẻ Australia về thực hành quản lý túi nilon

- Nhiều siêu thị ở Pháp, Hà Lan đã không phát túi nilon đựng đồ Khách hàng được khuyến khích mua các túi đựng hàng lớn bằng nilon tự hủy, giấy… (giá chỉ 0,1-0,2 euro), có thể sử dụng nhiều lần và đã nhận được sự ủng hộ, hưởng ứng của đông đảo người dân

- Ở Hoa Kỳ, tháng 3/2007, Hội đồng thành phố San Francisco đã thông qua dự luật cấm sử dụng túi nilon trong việc gói, bọc hàng trong các siêu thị lớn, nhằm thúc đẩy việc sử dụng các vật liệu có khả năng tái sinh để bảo vệ môi trường Từ tháng 9/2007, các siêu thị lớn, hiệu thuốc ở thành phố này đã sử dụng các loại túi nhựa tự hủy, túi vải và túi sử dụng nhiều lần Với lệnh cấm này, mỗi

Trang 31

năm San Francisco tiết kiệm được 1,7 triệu lít dầu, đỡ tốn công chôn lấp 1.400 tấn rác nilon

- Những quốc gia ở châu Phi như Uganda, Kenya, Tanzania… cũng đang

có những động thái cấm nhập khẩu, sản xuất, tăng thuế đối với mặt hàng túi nhựa nhằm hạn chế tối đa những ảnh hưởng tiêu cực của túi nilon đối với môi trường.Tại Canada, một số vùng cấm dùng túi nilon và yêu cầu thay thế bằng túi vải hoặc túi giấy, nếu vi phạm sẽ bị phạt 1.000 đô la Canada Bangladesh cũng áp dụng lệnh cấm từ tháng 3-2002, giảm được tới 90%

- Do trong một số loại túi nilon có lẫn lưu huỳnh, dầu hỏa nguyên chất, khi bị đốt cháy, gặp hơi nước sẽ tạo thành axit sunfuric dưới dạng các cơn mưa axit, rất có hại cho phổi người và động vật Tệ hơn, túi nilon làm bằng nhựa PVC

có chứa clo, khi cháy tạo ra chất đioxin và axit clohiđric vô cùng độc hại Do vậy, các nước châu Âu hiện nay đã thay thế túi nilon thông thường bằng cách dùng túi chế tạo từ tinh bột khoai tây hoặc giấy nhằm tạo ra những chiếc túi tiện dụng và thân thiện với môi trường

b Chính sách cấm sử dụng bọc nilon

Lệnh cấm sản xuất túi nilon mỏng hơn 0,025 mm và cấm sử dụng chúng trong các siêu thị và cửa hàng đã được thế giới thông qua vào tháng 1/2008 Đồng thời, người mua sẽ phải trả tiền mua túi nilon dày hơn không bị cấm sử dụng Các nhà môi trường cho rằng phải mất tới 1.000 năm túi nilon mới có thể phân huỷ nên sẽ đe doạ đời sống biển, chim và các động vật khác Dưới đây là danh sách một số nước đã hạn chế sử dụng túi mua hàng bằng nilon hoặc đã có

Trang 32

- Bănglađét - Một quốc gia lớn đầu tiên cấm sử dụng túi vào năm 2002 Nước này cho rằng hàng triệu túi nilon bị vứt bỏ là nguyên nhân gây tắc cống và làm ngập nhiều vùng trũng của nước này trong năm 1998

- Butan – Năm 2007, quốc gia duy nhất nằm trên dãy Hymalya này đã cấm sử dụng túi nilon khi đi mua hàng, quảng cáo trên phố và thuốc lá là một nội dung của chính sách thúc đẩy “sự thịnh vượng của quốc gia”

- Trung Quốc – Nhà nước cho rằng lệnh cấm túi nilon siêu mỏng có hiệu lực vào ngày 1/6/2008 sẽ giảm ô nhiễm và tiết kiệm nguồn tài nguyên dầu mỏ có giá trị Đặc biệt, đối với túi nilon có độ dày dưới 0,025mm sẽ bị cấm hoàn toàn,

và các cửa hàng phải thu phí của khách hàng đối với tất cả các loại túi nhựa hoặc nilon Những cá nhân và tổ chức vi phạm sẽ bị phạt tiền và có thể bị tịch thu hàng Điều này cho thấy Trung Quốc ngày càng nhận thức rõ về tác động tàn phá môi trường từ hoạt động kinh tế gây ra, vì nước này hiện sử dụng 3 tỉ túi nhựa/nilon mỗi ngày và mỗi năm phải mất 37 triệu thùng dầu thô để sản xuất hơn

- Pháp – Năm 2005, các nhà lập pháp của Pháp đã bỏ phiếu thông qua việc cấm túi nilon khó phân huỷ sinh học vào năm 2010 Năm 1999, đảo Corsica

là nơi đầu tiên ban bố lệnh cấm sử dụng loại túi này trong các cửa hàng lớn

- Ấn Độ - Bang miền tây Maharashtra đã cấm sản xuất, buôn bán và sử dụng túi nilon từ tháng 8/2005, khi khẳng định được chúng đã làm tắc cống trong các trận mưa gió mùa Các bang khác đã cấm sử dụng túi siêu mỏng nhằm giảm

ô nhiễm và hiện tượng bò, con vật linh thiêng đối với đạo Hindu, chết vì ăn túi

- Ailen - Thuế sử dụng túi nilon đã được thông qua vào năm 2002 Theo

Bộ Môi trường, loại thuế này đã giảm 90% sử dụng túi tuy nhiên thói quen sử dụng dần dần trở lại

Trang 33

- Italia – Ban hành lệnh cấm triệt để sử dụng nilon từ năm 2010

- Đài Loan - Một phần lệnh cấm năm 2003 đã giảm dần phát túi miễn phí tại các cửa hàng bách hoá và siêu thị cũng như đĩa, cốc và dao nhựa dùng một lần

từ các cửa hàng ăn nhanh Hầu hết các cửa hàng đều bắt người mua hàng không mang theo túi riêng phải trả 1 đô la Đài Loan (0,03 USD)

- Hoa Kỳ - San Francisco trở thành thành phố đầu tiên duy nhất của Hoa

Kỳ cấm sử dụng túi nilon tại cửa hàng bách hoá vào tháng 4/2008 Lệnh cấm còn hạn chế ở các siêu thị lớn Đến năm 2010, bang New Jersey sẽ loại bỏ sử dụng túi nilon

- Vào tháng 1/2008, thị trưởng Michael Bloomberg của thành phố New York đã ký dự luật buộc người bán hàng quy mô lớn phải xây dựng các chương trình tái chế túi nilon và sử dụng túi tái chế

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1 Phương pháp chọn vùng nghiên cứu

Do đề tài nhằm “Phân tích nhận thức và ước muốn sẵn lòng chi trả cho việc giảm thiểu sử dụng túi nilon của người dân quận Ninh Kiều – thành phố Cần Thơ”, nên đề tài nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn quận Ninh Kiều,

thành phố Cần Thơ Mẫu phỏng vấn được lấy ngẫu nhiên trên địa bàn quận Ninh Kiều Tổng số mẫu được phỏng vấn là 150 mẫu, cuộc khảo sát chi tiết sẽ được thực hiện theo hình thức phỏng vấn trực tiếp và ngẫu nhiên người dân ở các phường

2.2.2 Phương pháp chọn mẫu

2.2.2.1 Xác định đối tượng phỏng vấn

Tổng thể của đề tài được xác định là người dân quận Ninh Kiều vì đề tài này nhằm khảo sát nhận thức và ước muốn sẵn lòng chi trả cho việc giảm thiểu việc sử dụng bọc nilon của người dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ

2.2.2.2 Xác định cỡ mẫu

Để đảm bảo kết quả nghiên cứu, chúng ta phải phân phối các mẫu phỏng vấn sao cho kết quả đạt được sẽ có độ chính xác cao Tuy nhiên, do thời gian

Trang 34

hạn chế nên tôi chỉ tiến hành phỏng vấn với cỡ mẫu được xác định là 150 mẫu

2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu

Để phục vụ nghiên cứu, đề tài sử dụng kết hợp cả số liệu sơ cấp thông qua phỏng vấn trực tiếp người dân, dựa vào phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên Ngoài ra để phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu, ngoài phỏng vấn trực tiếp người dân, còn tiến hành phỏng vấn chính quyền địa phương các phường, các cơ quan thuộc lĩnh vực môi trường ở quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ và nguồn số liệu thứ cấp được thu thập thông qua sách báo, tạp chí, website, nguồn số liệu của

sở tài nguyên và môi trường, công ty trách nhiệm hữu hạn công trình đô thị thành phố Cần Thơ,…

2.2.4 Phương pháp phân tích số liệu

Sử dụng phương pháp phân tích tần số để phân tích nhận thức và ước muốn sẵn lòng chi trả cho việc giảm thiểu sử dụng túi nilon

Sử dụng phương pháp phân tích bảng chéo (cross tablutation), phân tích hồi quy để phân tích mối liên hệ, các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức và ước muốn sẵn lòng giảm thiểu việc sử dụng bọc nilon của người dân

Từ các phương pháp trên sử dụng phương pháp suy luận để đề ra giải pháp giúp giảm thiểu việc sử dụng bọc nilon trong sinh hoạt của người dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ

Trang 35

và 4 huyện Quận Ninh Kiều có 13 phường và là quận trung tâm hành chánh, kinh tế, giáo dục và văn hóa của thành phố Cần Thơ

Hình 3.1: BẢN ĐỒ QUẬN NINH KIỀU

Nguồn: http://muabannhadat.com.vn

Ninh Kiều là quận trung tâm của thành phố Cần Thơ, được hình thành theo tên gọi của bến Ninh Kiều Theo Nghị định số 05/2004/NĐ-CP ngày 02 tháng 01 năm 2004 của Chính phủ, quận Ninh Kiều được thành lập trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên có 2.922,04 ha diện tích tự nhiên và dân số khoảng 243.794.000 người năm 201111 Quận Ninh Kiều có 13 phường: Phường Cái Khế, Phường An Hòa, Phường Thới Bình, Phường An Nghiệp, Phường An Cư, Phường An Hội, Phường Tân An, Phường An Lạc, Phường An Phú, Phường Xuân Khánh, Phường Hưng Lợi, Phường An Bình, Phường An Khánh (tách ra từ phường An Bình theo Nghị định số 11/2007/NĐ-CP ngày 16/1/2007 của Chính phủ) với diện tích 441 ha và dân số 7.731 người (2007)

Văn hóa: quận Ninh Kiều là nơi lưu giữ nhiều nét đẹp văn hóa truyền

Bắc giáp quận Bình Thủy, Nam giáp sông Cần Thơ, ngăn cách quận Cái Răng, Tây giáp huyện Phong Điền, Đông giáp dòng sông hậu

Trang 36

thống của Cần Thơ xưa qua các danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử nổi tiếng như: công viên Ninh Kiều, chợ cổ Cần Thơ, công viên Lưu Hữu Phước, Bảo tàng Cần Thơ, Bảo tàng Quân Khu 9

Kinh tế: Ninh Kiều là trung tâm kinh tế của thành phố Cần Thơ Năm

2007, kinh tế quận đạt tốc độ tăng trưởng 16,8%, thu nhập bình quân đầu người 1.150 USD/năm Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của quận giai đoạn 2005 -

2009 đạt 16,6%/năm Riêng năm 2010 tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2010 đạt 17,3% tăng 2,4% so với năm 2009, giai đoạn 2006 - 2010 tổng vốn đầu tư toàn

xã hội trên địa bàn quận ước đạt 10.880 tỉ đồng, tăng gấp 4 lần so với giai đoạn 2001-200512 Ninh Kiều là trung tâm hành chính, văn hoá, giáo dục, công nghệ, y

tế của thành phố Cần Thơ Cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh theo hướng thương mại – dịch vụ – du lịch – công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp Tỉ trọng ngành thương mại – dịch vụ tăng dần hàng năm từ 53,67% năm 2005 tăng lên 64,73% năm 2009, tỉ trọng ngành nông nghiệp giảm dần từ 0,55% năm 2005 xuống còn 0,12% năm 2009 Trong đó, lĩnh vực thương mại – dịch vụ và kinh tế hộ cá thể phát triển mạnh, đa dạng ngành nghề, hệ thống chợ, siêu thị Co.opMart Cần Thơ, Metro Hưng Lợi, CitiMart Cần Thơ trung tâm thương mại, các khu phố chuyên doanh, cửa hàng, các dịch vụ du lịch, viễn thông, tài chính, ngân hàng ngày càng phát triển về quy mô, chất lượng hàng hóa và dịch vụ, phục vụ tốt nhu cầu của nhân dân, có trên 100 các chi nhánh ngân hàng, phòng giao dịch, quỹ tiết kiệm đang hoạt động, các cao ốc văn phòng, các trung tâm thương mại thu hút ngày càng nhiều doanh nghiệp đến đầu tư lâu năm

Xã hội: Đi đôi với phát triển kinh tế, công tác giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội được các cấp ủy Đảng, chính quyền và các đoàn thể quận Ninh Kiều quan tâm thực hiện Các dự án, chương trình về việc làm và giảm nghèo được quận thực hiện lồng ghép với chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, đã tạo nên nhiều chuyển biến tích cực Bình quân hàng năm, toàn quận giải quyết việc làm tại chỗ cho trên 6.500 lao động Từ năm

2005 đến năm 2009, các địa phương trên địa bàn quận đã xây dựng được 69 căn nhà tình nghĩa và 238 căn nhà tình thương, thực hiện cơ bản xóa nhà lá tạm bợ trên địa bàn Công tác xóa đói giảm nghèo ngày càng được quan tâm với nhiều hoạt động như: sửa chữa và xây dựng nhà đại đoàn kết, khám và cấp thuốc miễn

Trang 37

phí, giải quyết việc làm cộng thêm lợi thế nhiều cơ sở sản xuất, kinh doanh nên

so với các quận, huyện khác, người nghèo trên địa bàn quận Ninh Kiều dễ có việc làm với thu nhập bình quân vượt qua mức chuẩn nghèo hàng tháng Qua đó làm tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 2,19% năm 2006 xuống còn 1,31% năm 2009 và giảm còn 1,17% năm 201011

Giáo dục: quận tập trung các trường đại học lớn nhất khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long như: Đại học Cần Thơ, Đại học Y dược Cần Thơ và nhiều trường cao đẳng hàng đầu thành phố như: Cao đẳng Cần Thơ, Cao đẳng Kinh tế

Kỹ thuật, Cao đẳng Y tế… Các trường này là địa chỉ đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao không chỉ cho riêng thành phố Cần Thơ mà cho cả khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long với quy mô hàng nghìn sinh viên/năm Lĩnh vực giáo dục càng phát huy thế mạnh, trên địa bàn quận Ninh Kiều, Trường Đại học Cần Thơ, Trường Đại học Y Dược đã có “thương hiệu” được cả nước biết đến, các trường đại học ngoài công lập như Trường Đại học Tây Đô mới ra đời hơn 4 năm, hiện cũng thu hút hơn 10.000 sinh viên đến học Ngoài ra, còn có các trường đại học qua liên kết đào tạo từ xa thu hút khối lượng lớn sinh viên từ nhiều tỉnh, thành trong khu vực ĐBSCL13

Công nghệ: trên địa bàn còn có một trung tâm Kỹ thuật - Ứng dụng Công nghệ, một trung tâm Công nghệ phần mềm, một trung tâm triển lãm, hai trung tâm truyền hình đã tạo nên vai trò tiên phong của quận Ninh Kiều, tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế, xã hội của thành phố Cần Thơ, cũng như của cả khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long

Y tế: quận có nhiều bệnh viện đầu ngành của thành phố và khu vực như: Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ, Bệnh viện Đa khoa thành phố Cần Thơ ngày càng khẳng định về trình độ chuyên môn, trang thiết bị y tế hiện đại Ngoài

ra còn tăng cường đào tạo cán bộ, nhân viên y tế nhằm nâng cao kinh nghiệm

An ninh quốc phòng: Quốc phòng, an ninh tiếp tục giữ vững, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo

Hệ thống chính trị: được củng cố kiện toàn và nâng cao chất lượng hoạt động Thời gian tới, Quận ủy cần chú trọng hơn nữa công tác xây dựng tổ chức đảng TSVM, phát huy tối đa các tiềm năng, lợi thế để phát triển kinh tế với tốc

độ nhanh, bền vững, quan tâm đầu tư, nâng cấp kết cấu hạ tầng đô thị, tiếp tục

Trang 38

nâng cao hiệu quả cải cách hành chính, khai thác tốt các nguồn thu, tăng cường công tác lập lại trật tự kỷ cương trong quản lý đô thị, thực hiện nếp sống văn minh đô thị, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo quốc phòng - an ninh và trật tự

xã hội

Việc nâng cấp đô thị của thành phố Cần Thơ, ngoài việc tuân thủ qui hoạch phát triển đô thị nước ta đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050 và theo Quyết định số 21 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt qui hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Cần Thơ để đến năm 2020 trở thành thành phố công nghiệp, phát triển bền vững, có thể đối phó thích ứng với tình trạng biến đổi khí hậu trên phạm vi toàn cầu Đây sẽ là cơ hội và điều kiện thuận lợi để Ninh Kiều - quận trung tâm thành phố phát triển một cách toàn diện, đồng bộ, hiện đại trong tương lai

3.2 CÁC CHÍNH SÁCH, PHONG TRÀO BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

Đi đôi với tình hình kinh tế phát triển của quận Ninh Kiều như hiện nay thì vấn đề ô nhiễm môi trường là điều không thể tránh khỏi, để giảm bớt tình trạng ô nhiễm thì chính quyền cấp thành phố và quận đã đề ra những chính sách, giải pháp:

- Trong quận thực hiện nâng cấp, cải tạo hẻm, cấp thoát nước, điện, tổng chiều dài 18 km gắn với quản lý chất thải và bảo vệ môi trường, xây dựng hệ thống giao thông, bờ kè,… làm giảm trình trạng ngập lội khi mưa xuống

- Tăng cường các công tác tuyên truyền, giáo dục, tổ chức xây dựng pano

để tuyên truyền

- Treo băng ron ngày 5/6, kết hợp với Ủy ban nhân dân 13 phường tổ chức tuyên truyền ở các phường trong ngày môi trường thế giới 5/6 Kết hợp với quận đoàn để phát tờ bướm phát động phong trào vệ sinh đô thị

- Kiểm tra, đôn đốc các hộ gia đình, cá nhân giữ gìn vệ sinh, bảo vệ môi trường

- Tăng cường giám sát, xử lý hành vi gây ô nhiễm ở các cơ sở sản xuất

- Với lượng rác 310 tấn một ngày ở quận Ninh Kiều, nhằm cải tiến quy trình thu gom và xử lý rác trên địa bàn quận Ninh Kiều, thì xe ép rác (lấy rác bên hông) và xe rác đẩy tay bằng composite, “công nghệ xử lý rác 4 trong 1” được ra

Trang 39

đời tạo sự tiện lợi, hạn chế ô nhiễm và tiết kiệm chi phí,…

- Từ năm 2008 đến nay, quận Ninh Kiều phát động cuộc vận động xây dựng nếp sống văn minh đô thị, điều chỉnh hành vi xả rác bừa bãi nơi công cộng và dẹp bỏ các bãi rác tự phát trên các tuyến Bên cạnh đề ra các quy định ngăn chặn

và xử phạt những hành vi xả rác, Ủy ban nhân dân quận Ninh Kiều còn đầu tư kinh phí khá lớn để trang bị khoảng 327 thùng rác đặt dọc theo nhiều tuyến đường trong quận Tuy nhiên, hiệu quả không cao do ý thức của người dân còn kém

- Phong trào “Môi trường xanh” thực hiện dưới sự lãnh đạo của ủy ban nhân dân các phường, nhằm tuyên truyền giáo dục cho người dân biết được tác hại túi nilon của người dân quận Ninh Kiều, nhưng phong trào này hoạt động không đồng loạt và liên tục, chỉ thực hiện ở một số khu vực của phường, thời gian tuyên truyền nhỏ giọt, chủ yếu dựa vào ý thức của người dân Ngoài ra trong quận luôn nâng cấp, xây thêm chỗ chứa rác tránh tình trạng quá tải, gây ô nhiễm tràn lan, bố trí lao công thu gom rác,…Riêng việc phân loại túi nilon chỉ được thực hiện nhằm kiếm thu nhập thêm, chứ không được thực hiện đồng bộ, chủ yếu phụ thuộc vào ý thức người dân còn kém, nhận thức còn hạn chế khi không có một công cụ pháp lý nào hiệu quả để bắt buộc họ phải thực hiện Do đó việc hạn chế sử dụng túi nilon chỉ được áp dụng ở một số siêu thị, bệnh viện như: Metro

sử dụng túi sử dụng nhiều lần, Co.op Mart cũng bắt đầu sử dụng, ở những bệnh viện thì sử dụng túi tự hủy, ngoài ra còn có một số phong trào của sinh viên từ các trường đại học trong quận như: “ABBANK- thân thiện với môi trường”, phong trào “Vì môi trường xanh”, tuyên truyền ý thức bảo vệ môi trường, thực hiện phân loại rác,… Riêng về chính quyền các cấp thực hiện thu gom rác, bố trí nhiều thùng rác ven đường, nhằm hạn chế ô nhiễm tràn lan, nhưng các biện pháp chưa thực hiện đồng bộ nên chưa được sự hưởng ứng của nhiều người dân Do

đó việc giảm lượng rác thải nilon là phụ thuộc chủ yếu vào ý thức bảo vệ môi trường của mỗi người dân, là nhân tố quyết định của các chính sách

Trang 40

Để phân tích nhận thức về tác hại túi nilon của người dân quận Ninh Kiều ta

dựa vào mức độ hiểu biết tác hại của người dân được thể hiện cụ thể qua đồ thị sau:

Hình 4.1: MỨC ĐỘ HIỂU BIẾT TÁC HẠI TÚI NILON

Nguồn: Thống kê từ kết quả khảo sát quận Ninh kiều, 2011

Qua đồ thị trên ta nhận thấy đa số người về tác hại túi nilon biết về tác hại túi nilon chiếm khá cao với những tác hại như gây các bệnh ung thư, hô hấp, khó phân hủy gây ảnh hưởng đến môi trường nước không khí, Từ đó cho thấy đa số người dân đều biết về tác hại túi nilon ở mức cao, chủ yếu thông qua các nguồn chính như: phương tiện thông tin đại chúng, chính quyền địa phương,… từ đó cho thấy được mức độ tác động từ những nguồn này đối với nhận thức về tác hại

26

30

5

39 50

0 5 10 15 20 25 30 35 40 45 50

Rất khôngbiết

Không biết Bàng quan

Ngày đăng: 03/04/2018, 11:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm