những con người lao động tự chủ, năng động, sáng tạo, có năng lực giải quyếtnhững vấn đề thường gặp.Tuy nhiên, từ trước đến nay, việc gắn kiến thức thực tế vào bài dạy họccòn rất mờ nhạt
Trang 1PHẦN1 MỞ ĐẦU 1.1.Tính cấp thiết của đề tài:
Thực tiễn cuộc sống phong phú và sinh động là nơi bắt nguồn của nhữngtri thức khoa học, muốn nắm vững được tri thức khoa học, ngoài việc hiểu biết
nó trong hệ thống còn phải liên hệ nó với thực tiễn Mọi khoa học, trong đó cóĐịa Lí đều là kết quả nhận thức của con người trong quá trình hoạt động thựctiễn Vì vậy giảng dạy gắn với đời sống là một trong những phương hướng chủđạo ở tất cả các môn học trong nhà trường phổ thông Đối với bản thân môn Địa
Lí giảng dạy gắn với đời sống lại càng có ý nghĩa đặc biệt, nó có khả năng gắnvới thực tế sản xuất rộng rãi và chặt chẽ và có ý nghĩa thiết thực cho đời sốngcũng như sản xuất hàng ngày
Bộ môn Địa Lí chuyên nghiên cứu bề mặt Trái Đất trong thể tổng hợp củathế giới tự nhiên, trong mối quan hệ hữu cơ giữa tự nhiên và con người Nó phảnánh một cách chân thực và cụ thể những thực tế của các sự vật và hiện tượng địa
lí và phản ánh thực tế cuộc sống đấu tranh với thiên nhiên và xã hội
Kiến thức thực tế đa dạng, phong phú trước hết là đường lối và các chủtrương, chính sách xây dựng đất nước, phát triên kinh tế xã hội của Đảng và nhànước Thực tiễn còn là những diễn biến xảy ra trong đời sống kinh tế - xã hội màsách giáo khoa không thể nào phản ánh được một cách cụ thể, nhanh chóng vàkịp thời, thực tiễn còn bao gồm cả đời sống bản thân học sinh, những kinhnghiệm của cá nhân Hàng ngày nhờ tiếp xúc với thiên nhiên, với các hoạt độngkinh tế - xã hội, đọc sách báo, các phương tiện thông tin đại chúng, tham gia laođộng sản xuất…mà các em tích luỹ được rất nhiều kiến thức thực tế Thông quaviệc gắn kiến thức thực tế trong dạy học (Địa lí 10) có ý nghĩa lớn hơn, làm chobài học sinh động, sâu sắc và hiệu quả dạy học cao hơn Qua đó giúp học sinh
mở rộng, đào sâu thêm kiến thức, rèn luyện được những kỉ năng cần thiết Còn
về phía giáo viên nâng cao hơn nữa trình độ chuyên môn nghiệp vụ, cách nhìnnhận thế giới khách quan đầy đủ hơn, nhất là trong thời đại ngày nay - với sựbùng nổ của công nghệ, thông tin, sách giao khoa không thể truyền tải hếtnhững gì xẩy ra xung quanh mà đòi hỏi phải có những con người mới – đó là
Trang 2những con người lao động tự chủ, năng động, sáng tạo, có năng lực giải quyếtnhững vấn đề thường gặp.
Tuy nhiên, từ trước đến nay, việc gắn kiến thức thực tế vào bài dạy họccòn rất mờ nhạt, kiến thức thực tế chưa được đưa vào trong các vấn đề, các bàihọc nhiều với lí do thời gian dành cho môn học, tiết học quá ít mà lượng kiếnthức lại nhiều nên phần lớn giáo viên phải dạy cho hết chương trình sách giáokhoa chứ ít có thời gian để đưa kiến thức thực tế vào liên hệ
Hiện nay bản thân tôi đang là giáo viên Địa Lí Vì vậy việc tìm hiểu kinhnghiệm gắn kiến thức thực tế trong dạy học Địa lí (lớp 10) là rất cần thiết vàquan trọng bởi nó sẽ giúp ích, phục vụ cho quá trình giảng dạy sau này Đồngthời, qua tìm hiểu, nghiên cứu bản thân tôi sẽ tích luỹ thêm kinh nghiệm trongviệc gắn kiến thức thực tế vào bài dạy nhằm tạo hứng thú và nâng cao hiệu quảcho học sinh trong việc học Địa lí
Với tất cả những lí do trên tôi quyết định chọn đề tài: “TÌM HIỂU KINH NGHIỆM GẮN KIẾN THỨC THỰC TẾ TRONG DẠY HỌC ĐIẠ LÍ 10 Ở TRƯỜNG THPT ” làm đề tài nghiên cứu của mình.
1.2.Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này nhằm tìm ra những giải pháp nâng cao hiệu quả củaviệc gắn kiến thức thực tế vào dạy học Địa lí nói chung và dạy học Địa lí 10 ởtrường THPT Thu Xà nói riêng
Giúp học sinh có khả năng lĩnh hội kiến thức thông qua các kiến thức thực
tế do giáo viên cung cấp và gợi mở
Nghiên cứu đề tài này còn giúp bản thân tôi hiểu sâu sắc hơn về bản chất
và tầm quan trọng của việc gắn kiến thức thực tế trong bài dạy nhằm nâng caochất lượng dạy học Địa lí
1.3.Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu, tìm hiểu về cơ sở lí luận, thực tiễn của việc gắn kiến thứcthực tế trong dạy học Địa lí 10 ở trường THPT
Chọn lọc những nội dung thực tế để liên hệ (những bài có liên quan màtôi biết), gắn vào bài học trong chương trình SGK Địa lí 10 ở trường THPT
Trang 3Tìm hiểu thực trạng của việc gắn kiến thức thực tế trong dạy học Địa lí 10
ở trường THPT Thu Xà
1.4.Đối tượng nghiên cứu
Kinh nghiệm gắn kiến thức thực tế trong dạy học Địa lí 10
Toàn bộ học sinh khối 10 trường THPT Thu Xà
Giáo viên giảng dạy môn Địa lí 10
1.5.Giới hạn, phạm vi nghiên cứu và giá trị sử dụng của đề tài:
1.5.1 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu:
Đề tài nay tôi nghiên cứu ở một số bài học địa lí 10 chương trình SGK cơbản
Chủ yếu tập trung tìm hiểu, nghiên cứu việc gắn kiến thức thực tế trongdạy học Địa lí 10 ở trường THPT Thu Xà
1.5.2.Giá trị sử dụng:
Đề tài có thể ứng dụng làm tài liệu tham khảo cho giáo viên khi giảngdạy
1.6.Phương pháp nghiên cứu:
Khi nghiên cứu đề tài này, em đã sử dụng những phương pháp sau
1.6.1.Phương pháp nghiên cứu lí thuyết:
Thu thập, sưu tầm, lựa chọn các tài liệu, tư liệu có liên quan đến đề tàinghiên cứu
Đọc và nghiên cứu tài liệu để xác định cơ sở lí luận, cơ sở thực tiễn củavấn đề nghiên cứu
Phân tích tổng hợp: Phân tích để tìm hiểu các nội dung cần nghiên cứu
Trang 4Phương pháp được tiến hành:
Xây dựng kế hoạch điều tra: Mục đích, đối tượng, thời gian, địa điểm
Lập phiếu điều tra cho giáo viên
Tiến hành điều tra và nhận kết quả
- Phương pháp phỏng vấn: Tiến hành trò chuyện với giáo viên, học sinh
ở trường THPT để thu được những thông tin cần thiết về kinh nghiệm gắn kiếnthức thực tế trong dạy học Địa lí 10
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Thu thập, tổng kết những kinhnghiệm của các thầy cô giáo
7 Đóng góp mới của đề tài:
- Đề tài chỉ ra được tính ứng dụng cao của việc sử dụng kiến thức thực tếnhư: tin tức thời sự, ca dao, tục ngữ, vốn sống thức tế của giáo viên, đối vớiviệc giảng dạy Địa lí
- Những phương tiện trên, giúp cho việc học Địa lí của học sinh trở trên
dễ dàng, dễ hiểu, dễ liên hệ kiến thức và yêu thích môn học này hơn
- Cung cấp thêm tài liệu tham khảo cho giáo viên trong giảng dạy mônĐịa lí lớp 10, Địa lí 12 (một phần kiến thức Địa lí Tự nhiên Việt Nam) và có thểdùng cho học sinh để đọc thêm, tham khảo
Trang 5
PHẦN 2 NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC GẮN KIẾN THỨC THỰC TẾ TRONG DẠY HỌC
1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Quan niệm kiến thức thực tế: Là những kiến thức mà giáo viên và
học sinh không cần phải qua tư duy nhưng có thể thu nhận được qua môi trường
tự nhiên, kinh tế-xã hội v.v những kiến thức này rất gần gũi và quen thuộc vớiđời sống hàng ngày mà có liên quan hay gắn chặt với bài Địa lí
1.1.2 Khái niệm kiến thức thực tế: Là những kiến thức phản ánh những
đặc điểm bên ngoài của các sự vật và hiện tượng địa lí mà học sinh có thể nhậnthức được một cách tương đối dễ dàng bằng con đường kinh nghiệm dựa vàocác giác quan của bản thân
1.2 Các loại kiến thức thực tế
Các số liệu và sự kiện địa lí: Các số liệu và sự kiện địa lí rất đa dạng
và phong phú Đó là những kiến thức phản ánh các thông tin về số lượng và đặcđiểm của các sự vật và hiện tượng địa lí Giá trị chủ yếu của các số liệu và sựkiện địa lí là làm cơ sở để minh hoạ, dẫn chứng và khái quát các kiến thức địa lí
lí thuyết Tuy nhiên bản thân số liệu và sự kiện địa lí không có tính khoa học Vìvậy viêc sử dụng chúng cần có mức độ, đúng lúc đúng chỗ, phải có mục đích rõràng
Các biểu tượng địa lí: Các biểu tượng địa lí là những hình ảnh về các
sự vật và hiện tượng địa lí được tri giác và giữ lại trong trí nhớ, chúng có khảnăng tái tạo theo ý muốn
Các mô hình sáng tạo trong địa lí: Đó là những mẫu thành công cụ thểcủa việc vận dụng các tri thức địa lí vào thực tiễn, là các mô hình sáng tạo …vaitrò của những mẫu sáng tạo này một mặt có giá trị thực tiễn và trực quan, giúpcho học sinh hiểu được cách làm, cách vận dụng tri thức, mặt khác cũng khêugợi được ở học sinh tư duy sáng tạo, tìm tòi cách vận dụng mới
1.3 Sự cần thiết phải gắn kiến thức thực tế vào bài dạy học Địa lí
Trang 6 Do kiến thức trong SGK cũ không phản ánh cập nhật đúng thực tếkhách quan của sự vật hiện tượng địa lí.
Do SGK thường được in vào một thời điểm nhất định nhưng đượcdùng trong nhiều năm, trong khi kiến thức trong môi trường tự nhiên, kinh tế-xãhội luôn luôn thay đổi nhanh cả về cường độ và phạm vi
Để thực hiện nguyên lí học đi đôi với hành, lí thuyết gắn liền với thựctiễn
Làm cho bài giảng trở nên sinh động, phong phú hơn dẫn đến kíchthích được tính tò mò của học sinh, giúp học sinh có hứng thú học tập hơn
1.4 Nguyên tắc gắn kiến thức thực tế vào bài dạy học
Phải đảm bảo tính chính xác và hiện đại
Phải phù hợp với nội dung của bài dạy học và trình độ của học sinh
Đảm bảo tính giáo dục và tính sư phạm
Đảm bảo tính thẩm mỹ
1.5 Phương pháp gắn kiến thức thực tế vào bài học
Đọc kĩ nội dung của bài để xem nội dung nào cần gắn kiến thức thựctế
Lựa chọn kiến thức thực tế
Gắn kiến thức thực tế vào bài một cách tự nhiên, nhuần nhuyễn sau khidạy kiến thức cơ bản, làm cho kiến thức cơ bản và kiến thức thực tế gắn chặtnhau
Khi gặp kiến thức cần liên hệ với kiến thức thực tế thì gắn kiến thứcthực tế vào liên hệ ngay chứ không nên để dạy hết mục đó, phần đó rồi mới liên
hệ Vì làm thế nội dung bài giảng sẽ trở nên rời rạc, làm xuất hiện sự gượng ép
và gò bó đối với quá trình nhận thức của học sinh, dẫn đến việc gắn kiến thứcthực tế vào bài dạy học sẽ không đạt hiệu quả cao
Trang 7Chương 2: KINH NGHIỆM GẮN KIẾN THỨC THỰC TẾ TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ 10 Ở TRƯỜNG THPT THU XÀ
2.1 Đặc điểm nội dung, chương trình SGK Địa lí 10
Nhằm giúp cho học sinh nắm được hệ thống kiến thức tương đối hoànchỉnh về địa lí đại cương (Địa lí tự nhiên và Địa lí kinh tế xã hội đại cương), cầngắn liền giữa lý thuyết với thực hành, giữa lí luận với thực tiễn Điều này có íchcho học sinh khi nhìn nhận, phân tích, giải thích về những vấn đề tự nhiên vàkinh tế xã hội của thế giới khách quan
Chương trình Địa lí 10 gồm chương trình chuẩn và chương trình nângcao, giữa 2 chương trình này về kiến thức không chênh lệch quá 20%, thờilượng nâng cao nhiều hơn so với chương trình chuẩn: 70 tiết so với 52 tiết
Với chương trình chuẩn là 52 tiết/35 tuần Như vậy, 1,5 tiết/tuần Trong
đó có 8 tiết ôn tập và kiểm tra, còn chương trình nâng cao là 70 tiết/35 tuần Nhưvậy 2 tiết/tuần
Nội dung chương trình chuẩn bao gồm 10 chương chia làm 2 phần:
* Phần 1: Địa lí tự nhiên.
Với 24 tiết chiếm ½ thời lượng của chương trình Bộ khung kiến thức cốtlõi được thiết kế bao gồm 4 chương 21 bài: 18 bài lí thuyết, 3 bài thực hành
Chương I: Bản đồ
Chương II: Vũ trụ Hệ quả các chuyển động của Trái đất
Chương III: Cấu trúc của Trái đất và các quyển của lớp vỏ địa lí
Chương IV: Một số quy luật của lớp vỏ địa lí
* Phần 2: Địa lí kinh tế xã hội
Chiếm ½ thời lượng còn lại của chương trình và được xây dựng bộ khungnhư sau: 6 chương chia làm 21 bài gồm 17 bài lí thuyết và 4 bài thực hành
Chương I: Địa lí dân cư
Chương II: Cơ cấu nền kinh tế
Chương III Địa lí nông nghiệp
Chương IV: Địa lí công nghiệp
Chương V: Địa lí dịch vụ
Trang 8Chương VI: Môi trường và sự phát triển bền vững.
Toàn bộ nội dung SGK thông qua kênh chữ, kênh hình, hệ thống câu hỏi bài tập:
- Kênh chữ mang nội dung kiến thức cơ bản được chọn lọc mang tính côđọng, phù hợp trình độ học sinh, chiếm tỷ trọng lớn trong khối lượng SGK
Kênh hình khá đa dạng, đảm bảo tính khoa học, thẩm mỹ và sư phạm,chứa đựng nhiều kiến thức
Hệ thống câu hỏi – bài tập phân bố xen kẽ với kênh chữ để định hướnggợi mở cho học sinh, vừa nằm ở cuối bài để chốt lại kiến thức cơ bản, củng cốrèn luyện kỹ năng cho học sinh
Địa lí đại cương có vai trò và vị trí rất quan trọng, được xem là cơ sở, nềntảng, là chìa khoá để học sinh mở rộng và đào sâu kiến thức
Chương trình Địa lí 10 nhằm mục tiêu học sinh cần phải nắm vững đượckiến thức phổ thông cơ bản về:
Trái đất với ý nghĩa làm môi trường sống của con người, bao gồm
cả thành phần, cấu tạo và tác động qua lại của chúng, một số quy luật của lớp vỏđịa lí
Địa lí dân cư
Các hoạt động kinh tế chủ yếu của con người trên trái đất
Mối quan hệ giữa dân cư, các họat động sản xuất với môi trường vàphát triển bền vững
Đồng thời, qua đó giúp cho học sinh rèn luyện những kĩ năng địa lí như
vẽ biểu đồ, phân tích bảng số liệu, nhận xét, giải thích một số hiện tượng địa lí
tự nhiên, kinh tế xã hội, viết báo cáo…, có thái độ đúng đắn trước những vấn đềcủa thế giới khách quan
2.2 Thực trạng việc gắn kiến thức thực tế trong dạy học Địa lí 10 ở Trường THPT Thu Xà
Cũng như đại đa số giáo viên thị các giáo viên dạy Địa lí của TrườngTHPT Thu xà , đều nhận thức được tầm quan trọng của việc gắn kiến thức thực
tế trong dạy học Kiến thức thực tế được liên hệ ngày càng nhiều trong từng nội
Trang 9dung, từng vấn đề của bài học, qua đó làm cho bài học sinh động, có sức cuốnhút học sinh vào bài học, hiệu quả dạy học cao Từ đó giáo viên giúp cho họcsinh hiểu, giải thích được những vấn đề của lí luận và thực tiễn Khi thực hiệnviệc gắn kiến thức thực tế vào bài học, có những kiến thức thực tế giáo viêncung cấp cho học sinh, cũng có những kiến thức thực tế gíáo viên yêu cầu họcsinh tìm hiểu, chọn lọc để liên hệ Nhận thức được sự cần thiết, vai trò của việcgắn kiến thức thực tế trong dạy học, các giáo viên dạy Địa lí của Trường THPTThu Xà đã chú ý đến các nguyên tắc, phương pháp để gắn kiến thức thực tếtrong nhiều bài học Địa lí một cách có hiệu quả
Tuy nhiên, việc gắn kiến thức thực tế trong dạy học Địa lí chưa nhiều,giáo viên mới chỉ liên hệ một số vấn đề mà nhiều khi đó chưa phải là vấn đề cầnliên hệ
2.3 Một số nội dung và biện pháp chủ yếu để gắn kiến thức thực tế vào bài dạy học có hiệu quả
* Nêu đầy đủ ý nghĩa và tác dụng của các sự vật, hiện tượng địa lí đối với đời sống và sản xuất.
Giảng dạy Địa lí tự nhiên không những chỉ trình bày cho học sinh hiểuđược sự phát sinh và phát triển của các sự vật, cũng như hiện tượng địa lí, làmcho học sinh nắm vững mối quan hệ biện chứng giữa các yếu tố tự nhiên với tựnhiên và tự nhiên với con người…mà còn phải cho học sinh biết được sự vật -hiện tượng địa lí ấy có ý nghĩa như thế nào? Có ảnh hưởng thuận lợi hay khókhăn đối với đời sống cũng như sản xuất như thế nào?
Quá trình phân tích và đánh giá đầy đủ ý nghĩa và tác dụng của các sự vật
- hiện tượng, diễn biến của quá trình địa lí, không những hiểu được hình thái của
sự vật và nội dung diễn biến của chúng, mà còn phải hiểu được ảnh hưởng củachúng như thế nào đến cuộc sống và lao động của con người
Ví dụ 1: Khi giảng tới một số loại gió chính (gió Tây ôn đới, gió Mậu
dịch, gió Mùa, gió Địa phương), giáo viên không chỉ nêu cho học sinh thấy đượcđặc điểm, tính chất của các loại gió mà còn phải nói rõ cho học sinh biết tácđộng, ảnh hưởng của các loại gió đó đến đời sống và sản xuất của con người
Trang 10* Liên hệ những sự vật -hiện tượng địa lí nói trong bài với những sự vật - hiện tượng địa lí có liên quan ở nước ta.
Từ những điều nói trong nội dung của bài học, giáo viên gợi ý để học sinhtìm hiểu, suy nghĩ, so sánh với thực tế ở đất nước ta Trong bài giảng, giáo viên
có thể liên hệ những mặt tương đồng, liên hệ những mặt khác biệt giữa các hiệntượng hoặc quá trình địa lí trong sách với thực tế của đất nước
Ví dụ 2: Khi dạy bài 35: Vai trò, đặc điểm Các nhân tố ảnh hưởng tới sự
phát triển và phân bố ngành dịch vụ, để khắc sâu nhân tố: tài nguyên thiênnhiên, di sản văn hoá, lịch sử…ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố ngànhdịch vụ du lịch, giáo viên liên hệ tới các tài nguyên, ảnh hưởng đến phát triển dulịch ở Tỉnh Quảng Nam như Phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn, Biển TamThanh…
* Liên hệ đến những chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ.
Từ những nội dung của bài học địa lí, nhất là những bài giảng địa lí ViệtNam, giáo viên cần và có thể liên hệ đến những chủ trương, chính sách củaĐảng và Chính phủ
Ví dụ 3: Khi dạy bài 28: Địa lí ngành trồng trọt, giáo viên liên hệ chủ
trương phá thế độc canh, chủ trương phát triển nông nghiệp toàn diện và cân đối,chủ trương giao đất giao rừng… của Đảng ta
* Liên hệ đến những thành tích của con người trong công cuộc chinh phục và cải tạo tự nhiên.
Từ những nội dung giảng dạy địa lí tự nhiên trong sách giáo khoa, giáoviên liên hệ đến những thành tích của các nước nói chung, trước hết là thành tíchcủa các nước xã hội chủ nghĩa trong công cuộc chinh phục và cải tạo tự nhiên:như chinh phục và cải tạo hoang mạc cát, cải tạo dòng sông…
Ví dụ 4: Khi dạy bài 15: Thủy quyển Một số sông lớn trên Trái Đất, giáo
viên giảng đến phần một số sông lớn trên Trái đất, giáo viên có thể nói về tácđộng của các dòng sông liên hệ đến vai trò của con người trong công cuộc chinhphục và cải tạo tự nhiên của nhân dân ta như trị thuỷ sông Hồng, xây dựng thuỷđiện, đào hồ chứa nước, công trình thuỷ lợi, trồng cây gây rừng…
Trang 11Bên cạnh đó cần lên án, phê phán các hiện tượng tiêu cực còn diễn ra ởmột số người như phá rừng, đốt nương làm rẫy, săn bắt động vật quý hiếm…
* Liên hệ đến những vấn đề thời sự xảy ra trên thế giới.
Không phải chỉ có liên hệ đến những tình hình thời sự điển hình và mớidiễn ra trong khi phân tích hoặc đánh giá các yếu tố địa lí tự nhiên có liên quan (một trận động đất, một trận lụt, một cơn bão lớn, một đợt giá rét…) có ảnhhưởng đến đời sống và sản xuất của con người; ngay cả khi dạy các nội dung vềdân cư và chính trị, giáo viên cần đề cập đến các sự kiện chính trị mới nhất (đãhoặc đang diễn ra) ở những nước đang học mà nội dung bài giảng chưa nói đếnnhư: những thủ đoạn bóc lột và đà áp của bọn đế quốc đối với những người laođộng ở các nước thuộc địa, phong trào giải phóng dân tộc ở những nước này, âmmưu của bọn đế quốc ( nhất là đế quốc Mỹ) nhằm lật đỗ các chính phủ tiến bộ ởcác Châu, những nước dân tộc chủ nghĩa đang đấu tranh với bọn đế quốc nhằmbảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên của nước mình, thành tích xây dựng cũngnhư phát triển kinh tế và văn hoá của các nước XHCN…
Ví dụ 5: Việt Nam gia nhập vào WTO và trở thành thành viên không
thường trực trong Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc, thì Việt Nam cũng đạt đượcnhiều thành tựu trong các lĩnh vực kinh tế, văn hoá…
* Dùng kiến thức của bài giảng để giải thích những kinh nghiệm cổ truyền của nhân dân ta thể hiện trong ca dao, tục ngữ.
Thông qua nội dung kiến thức của những bài giảng về khí hậu, thời tiết vàmối quan hệ giữa các thành phần tự nhiên ở chương trình địa lí tự nhiên đạicương, giáo viên có thế dựa vào đó để giải thích những dự đoán về thời tiết củanhân dân ta thể hiện trong ca dao và tục ngữ
Ví dụ 6: Khi dạy bài 6: Hệ quả chuyển động xung quanh mặt trời của trái đất để khắc sâu kiến thức phần III, về hiện tượng “Ngày đêm, dài ngắn theo mùa
và theo vĩ độ” Tôi đọc câu tục ngữ sau:
“Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng Ngày tháng mười chưa cười đã tối”
Yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức mới học để giải thích?
Trang 12Học sinh vẽ hình
Giải thích ý nghĩa:
“Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng”
Việt Nam nằm trong vùng nội chí tuyến bán cầu bắc, tháng 5 âm lịch củaViệt Nam tương ứng là tháng 6 dương lịch Tháng 6 dương lịch Bán Cầu Bắc làmua hè
Cụ thể 22/6 hàng năm, tia bức xạ mặt trời chiếu vuông góc với tiếp tuyến
bề mặt trái đất tại chí tuyến bắc (230 27B) nên thời gian chiếu sáng ở nửa cầuBắc (Việt Nam) dài Càng về phía Cực Bắc ngày càng dài, nên hiện tượng ngàydài, đêm ngắn
“Ngày tháng mười chưa cười đã tối”
Vào ngày 22/12 (tháng 10 âm lịch), Mặt trời chuyển động biểu kiến về chítuyến Nam và vuông góc tại bề mặt đất tại tiếp tuyến 230 27N (Chí tuyến Nam)thì ở Bán Cầu Nam lúc này ngày dài đêm ngắn và ở Bán Cầu Bắc(Việt Nam)hiện tượng đêm dài ngày ngắn
Hoặc gải thích: Mối quan hệ giữa tự nhiên với hoạt động sản xuất:
Đây là câu tục ngữ-ca dao, tôi chỉ sử dụng khi dạy bài 6 phần “các mùatrong năm” Do trái đất là hình quả cầu, cùng một lúc thực hiện 2 chuyển động(tự quay) và chuyển động quay xung quanh Mặt trời Quỹ đạo chuyển độngxung quanh mặt trời là đường Elíp, từ đó sinh ra hiện tượng các mùa trong năm
Trang 13+Từ 21-3 đến 22-6: Mùa xuân
+Từ 22-6 đến 23-9: Mùa hạ
+Từ 23-9 đến 22-2: Mùa thu
+Từ 22-12 đến 22-3: Mùa đông
(trong thực tế các mùa thường sớm hơn 40-45 ngày)
Người nông dân Việt Nam trải qua bao khó khăn gian khổ, chống chọi vớithiên nhiên khắc nghiệt (thiên tai) để sản xuất nông nghiệp; Họ đã có nhữngkinh nghiệm được đúc kết thể hiện tính mùa vụ khắt khe Để nhắc nhở đã cócâu:
“Tháng Một là tháng trồng khoai Tháng Hai trồng đậu, tháng Ba trồng cà”
Mỗi mùa, điều kiện bức xạ mặt trời, nhiệt độ không khí, khí áp, gió, mưa(nhiệt,ẩm) thích nghi với sự phát triển của từng loại cây trồng nên có câu ca trên.Hiện nay sự tác động của khoa học, việc ứng dụng các kỹ thuật trong sản xuất;con người có thể làm thay đổi cơ cấu mùa vụ, song ấn tượng “mùa nào, thứcnấy” vẫn thơm, ngon hơn
Ví dụ 7: Khi dạy bài 12: Sự phân bố khí áp Một số loại gió chính Để
khắc sâu kiến thức phần 2 Gió mùa.Tôi sử dụng câu ca dao:
“ Cơn đàng Đông vừa trông vừa chạy Cơn đàng Nam vừa làm vừa chơi Cơn đàng Bắc đổ thóc ra phơi”