Việt Nam lại là một quốc gia có vị trí địa lý thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, cùng với trên ba nghìn cây số bờ biển, vùng biển rộng trên 1 triệu km2, nên bên cạnh nguồn dược liệu trên đất liền, Việt Nam cũng có nguồn tài nguyên sinh vật biển làm dược liệu đa dạng về cả số lượng và giàu về hàm lượng. Nguồn lợi này đã được ông cha ta sử dụng từ lâu (y học cổ truyền) để chế biến và tạo ra nhiều loại thuốc chữa trị bệnh cho nhân dân như: Rùa biển, Bào ngư, Cá bống biển, Hải Quỳ, Rắn biển, Hải sâm, Cá mập… Ngày nay, các nhà khoa học đã phát hiện và phân lập được nhiều hợp chất quý từ các loài sinh vật trên với giá trị dinh dưỡng, có tác dụng làm đẹp, làm thuốc, đặc biệt là tác dụng chống ung thứ, kháng khuẩn, chống viêm, estrogen,… Tuy nhiên, những nguồn lợi này thường bị khai thác quá mức, không có quy hoạch dẫn đến suy kiệt dần. Vì vậy, để làm rõ tiềm năng của tài nguyên sinh vật Việt Nam trong ứng dụng làm thuốc, thực phẩm chức năng và mỹ phẩm, cũng như hiện trạng khai thác, bảo tồn nguồn tài nguyên này hiện nay, tiểu luận môn Nghiên cứu phát triển và ứng dụng dược liệu của tôi được thực hiện với nội dung chính sau: Việt Nam có sự đa dạng cao về đa dạng sinh học sinh vật biển làm thuốc, thực phẩm chức năng và mỹ phẩm Một số sinh vật biển làm thuốc tại Việt Nam, (đặc điểm, thành phần hóa học, công dụng, tình trạng và vấn đề khai thác, nuôi trồng và bảo tồn nguồn gen): o Cá ngựa o Cá nóc o Hải Sâm o Tảo spirulina
Trang 1BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
LÊ THIÊN KIM
MÃ HỌC VIÊN: 1711059
MÔN HỌC NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN VÀ ỨNG DỤNG DƯỢC LIỆU
Chủ đề 8
Tài nguyên sinh vật biển sử dụng làm thuốc,
mỹ phẩm, thực phẩm chức năng (Tảo spirulina, Cá ngựa, Hải sâm, Rong câu chỉ vàng )
HÀ NỘI – 2016
Trang 2Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 31 tháng 3 năm 2017
Học Viên
Lê Thiên Kim
Trang 3MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 VIỆT NAM CÓ SỰ ĐA DẠNG SINH HỌC SINH VẬT BIỂN 3
CHƯƠNG 2 MỘT SỐ SINH VẬT BIỂN LÀM THUỐC TẠI VIỆT NAM 5
I MỘT SỐ ĐỘNG VẬT BIỂN LÀM THUỐC 5
1.1 CÁ NGỰA 5
1.2 CÁ NÓC 8
1.3 HẢI SÂM 12
II TẢO SPIRULINA 15
III RONG CÂU CHỈ VÀNG 18
KẾT LUẬN 23 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam lại là một quốc gia có vị trí địa lý thuộc vùng khí hậu nhiệt đới giómùa, cùng với trên ba nghìn cây số bờ biển, vùng biển rộng trên 1 triệu km2, nênbên cạnh nguồn dược liệu trên đất liền, Việt Nam cũng có nguồn tài nguyên sinh vậtbiển làm dược liệu đa dạng về cả số lượng và giàu về hàm lượng Nguồn lợi này đãđược ông cha ta sử dụng từ lâu (y học cổ truyền) để chế biến và tạo ra nhiều loạithuốc chữa trị bệnh cho nhân dân như: Rùa biển, Bào ngư, Cá bống biển, Hải Quỳ,Rắn biển, Hải sâm, Cá mập… Ngày nay, các nhà khoa học đã phát hiện và phân lậpđược nhiều hợp chất quý từ các loài sinh vật trên với giá trị dinh dưỡng, có tác dụnglàm đẹp, làm thuốc, đặc biệt là tác dụng chống ung thứ, kháng khuẩn, chống viêm,estrogen,… Tuy nhiên, những nguồn lợi này thường bị khai thác quá mức, không cóquy hoạch dẫn đến suy kiệt dần
Vì vậy, để làm rõ tiềm năng của tài nguyên sinh vật Việt Nam trong ứng dụnglàm thuốc, thực phẩm chức năng và mỹ phẩm, cũng như hiện trạng khai thác, bảotồn nguồn tài nguyên này hiện nay, tiểu luận môn Nghiên cứu phát triển và ứngdụng dược liệu của tôi được thực hiện với nội dung chính sau:
- Việt Nam có sự đa dạng cao về đa dạng sinh học sinh vật biển làm thuốc,thực phẩm chức năng và mỹ phẩm
- Một số sinh vật biển làm thuốc tại Việt Nam, (đặc điểm, thành phần hóahọc, công dụng, tình trạng và vấn đề khai thác, nuôi trồng và bảo tồnnguồn gen):
Trang 5o Rong câu chỉ vàng
Trang 6CHƯƠNG 1 VIỆT NAM CÓ SỰ ĐA DẠNG SINH HỌC SINH VẬT BIỂN
LÀM THUỐC, THỰC PHẨM CHỨC NĂNG VÀ MỸ PHẨM
Biển Việt Nam với dải bờ chạy dài trên 3260 km, diện tích trên 1 triệu km2,hơn 3000 hòn đảo lớn nhỏ, lại tiếp giáp với Vịnh Bắc bộ, biển Đông và Vịnh TháiLan, nên không chỉ có giá trị kinh tế cao mà còn là hệ sinh thái rất đặc thù, đượcđánh giá là một trong 16 trung tâm đa dạng sinh học cao của thế giới
Biển Việt Nam hội tụ hàng loạt các hệ sinh thái từ vùng nước nông như rừngngập mặn, rạn san hô, cỏ biển, đầm phá, cửa sông, đến biển xa như vùng nước trồi,
hệ biển sâu (có nơi tới 4000 m) Sáu vùng đa dạng sinh học biển của Việt Nam gồmcó: Vùng biển phía Tây Vịnh Bắc Bộ (từ Móng Cái đến đèo Hải Vân), Vùng biểnven bờ Trung Trung Bộ (từ đèo Hải Vân đến mũi Đại Lãnh), Vùng biển ven bờ NamTrung Bộ (từ mũi Đại Lãnh đến Vũng Tàu), Vùng biển Đông Nam Bộ (từ Vũng Tàuđến mũi Cà Mau), Vùng biển Tây Nam Bộ thuộc vịnh Thái Lan và Vùng biển quầnđảo Hoàng Sa - Trường Sa Đặc biệt, biển Khánh Hòa Là hệ sinh thái rất đặc thù vàđược đánh giá là 1 trong 16 trung tâm đa dạng sinh học của thế giới
Theo điều tra, hiện đã xác định gần 12.000 loài sinh vật biển Việt Nam, baogồm cả động và thực vật, trong hơn 20 kiểu hệ sinh thái Trong đó có khoảng 6.000loài động vật đáy, 2.038 loài cá (trên 100 loài cá kinh tế), hơn 300 loài san hô cứng,
653 loài rong biển, 657 loài động vật phù du, 537 loài thực vật phù du, 94 loài thựcvật ngập mặn, 225 loài tôm biển, 14 loài cỏ biển, 15 loài rắn biển, 12 loài thú biển
và 5 loài rùa biển
Trong đó, nhiều loài đã được chứng minh có giá trị y học Ví dụ như:
3
Học Viên: Lê Thiên Kim – 1711059 – CH22
Trang 7- Sụn cá mập có tác dụng chống viêm, chống thấp khớp, phòng và chống bệnhthoái hóa khớp, chống lão hóa xương: Đó là mucopolysaccharid(glycosaminoglycan) gắn với các N-acetyl chondroitin
- Dầu gan cá mập, squalene và các chất 3-omega: Squalene một chấthydrocacbon có trong dầu gan cá mập được dùng để sản xuất mỹ phẩm bảo
vệ da, làm ẩm và làm đẹp da Các chất 3-omega: DHA và EPA EPA và DHAlàm tăng cường hoạt động các chức phận của não, có hoạt tính phòng chốngnão suy ở người cao tuổi, chứng lãng quên Chúng còn có tác dụng kích thích
sự phát triển não bộ cho trẻ em, cũng như tác dụng chống oxy hóa mạnh vàphòng ngừa các bệnh tim mạch
- Hải sâm để phòng và hỗ trợ điều trị thấp khớp, viêm khớp
- Hàu biển: là nguyên liệu giàu protein và đặc biệt chứa hàm lượng cao Zn
- Các loại rong biển: Rong biển chứa nhiều Iod để phòng các bệnh liên quanđến cơ thể thiếu Iod, rong còn chứa nhiều canxi
- Hải mã, Hải long: thuốc tăng sinh lực cho nam giới
- Cầu gai (nhím biển): thuốc bổ
- Hải sao: trị thấp khớp
- San hô đen: giải độc
- Bào ngư: thuốc bổ
- Rắn biển (còn gọi là đẻn) có tác dụng chống viêm, trị thấp khớp
- …
Trang 8Cá ngựa thường số ở biển và vịnh gần bờ,
có độ sâu từu vài mét đến vài chục mét Tại Việt
Nam, thường gặp ở Hải Phòng, Quảng Ninh,
Thanh Hóa, Nghệ an, và dọc bờ biển các tỉnh phía
nam từ Quảng Nam – Đà Nẵng đến Kiên Giang,
nhiều nhất ở Vịnh Hạ Long, Bình Thuận, Khánh
Hòa
Một số loài cá ngựa đã được xác định tên
gồm: Cá ngựa vàng (Hippocampus kuda Bleeker.),
cá ngựa trắng (Bạch hải mã – Hippocampus
5
Học Viên: Lê Thiên Kim – 1711059 – CH22
Trang 9kelloggi Jordan et Snyder), cá ngựa chấm (Cá ngựa ba khoang, tam ban hải mã – Hippocampus trimaculatus Leach), cá ngựa gai (Thích hải mã, thiết hải mã - Hippocampus histrix Kaup.), cá ngựa Nhật (Hippocampus japonicus Kaup.), cá
ngựa mõm ngắn (Hippocampus brevirostris), cá ngựa Úc (Hippocampus
phylloperexeques).
Bộ phận dùng: Dùng cả con, tên thuốc trong y học cổ truyền là hải mã Cách
chế biến như sau: Cá bắt về, rửa sạch, mổ bụng bỏ nội tạng, uốn đuôi cho cong trònlại, rồi phơi hay sấy khô Ngoài thị trường, người ta thường buộc cá ngựa chung vớinhau, một to, một nhỏ (tượng trưng cho 1 con đực và 1 con cái) Khi dùng tẩm rượusao qua, tán nhỏ Hải mã có vị ngọt, hơi mặn, mùi tanh, tính ấm, có tác dụng bổthận, tráng dương, điều khí, hoạt huyết
Công dụng: Cá ngựa đã được ghi vào sách cổ “Cương mục thập di” của
Trung quốc từ năm 1795 Các công dụng được ghi lại trong các tài liệu là chữa liệtdương, đái són, suyễn, phụ nữ khó đẻ, đinh sang, thũng độc,… Thường dùng cángựa làm thuốc bổ có tác dụng gây hưng phấn, kích thích tình dục, làm thuốc chữađau bụng, giúp phụ nữ đẻ khó, thai ra khó hoặc chậm có con Ngoài ra cũng dùngcho người già yếu, suy nhược cơ thể, đau lưng mỏi gối,… Dùng từ 4 - 12g/ngàydạng thuốc bột hoặc nước
Ở miền trung (Nghệ An, Hà Tĩnh) còn dùng để trấn áp cơn suyễn bằng cáchđốt cháy cá ngựa đã phơi khô thành than rồi hòa với nước để uống Uống ít haynhiều tùy theo bệnh nặng hoặc nhẹ
Thường phổ biến cách dùng cá ngựa ngâm rượu chung với những vị thuốcnhư dâm dương hoắc, câu kỷ tử, cẩu tích, thiên niên kiện, nhân sâm,….để làm thuốc
bổ tăng lực Tuy nhiên, theo quan niệm của ngư dân vùng biển, cá ngựa để tươingâm rượu mới quý Do đó, trong mỗi chuyến ra khởi, họ thường mang theo hàng
Trang 10lít rượu trắng để ngâm ngay khi bắt được cá Họ còn cho biết phải dùng một đôi cángựa, nhất là đôi cá đang “quấn nhau” và con nguyên mắt mới tốt.
Tình trạng: Tuy Cá ngựa không có giá trị dinh dưỡng nhưng vì có dược tính
cao nên được dùng làm thuốc chữa bệnh Mùa khai thác được nhiều cá ngựa là từtháng 8-9 hàng năm Tuy nhiên, hiện nay cá ngựa thường bị khai thác quanh năm
Điều này dẫn đến tình trạng số lượng cá ngựa tại biển Việt Nam giảm sút nhanh
Với tác dụng chính được truyền tụng là “cường dương” nên số lượng cá ngựa
được tiêu thụ ngày càng tăng Theo ước tính, mỗi năm có khoảng 20 triêu cá ngựa
được tiêu thụ trên thế giới với mục đích chữa bệnh và nuôi làm cảnh Tại thị trườngchợ Lãn Ông – Hà Nội, mỗi cặp cá ngựa từ 70.000-450.000 VNĐ tùy vào độ lớncủa cá (Hình 2)
Hình 2 Bảng giá cá ngựa tại một cửa hàng phố Lãn Ông – Hà Nội
Ở Việt nam, từ năm 1990, cá ngựa đã được Viện hải dương học Nha trangnghiên cứu và đã từng bước hoàn thiện qui trình sản xuất giống và nuôi thươngphẩm, có khả năng phát triển ra cộng đồng Đơn vị nghiên cứu đã thuần hoá nuôi cángựa bằng thức ăn chế biến thay vì thức ăn sống Điều này giúp chủ động nguồn
7
Học Viên: Lê Thiên Kim – 1711059 – CH22
Trang 11thức ăn, giảm giá thành sản xuất, tăng tỉ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của cá ngựa.Mặt khác, với hình thù độc đáo, lạ mắt, luôn chuyển màu trong nước, nên nhiềunăm nay, ngauòi ta cũng bắt đầu gây cá ngựa để làm cá cảnh trong bể nuôi, bán rộngrãi tại nhiều cửa hàng cá cảnh.
Tuy nhiên, nguồn cung của các vựa nuôi cá ngựa vấn không đáp ứng đủ nhucầu thị trường hiện nay, và thị hiếu của người tiêu dùng vẫn đề cao Cá ngựa đánhbắt được trong tự nhiên, trong khi nguồn lợi này càng ngày càng cạn kiệt
Hiện nay, Cá ngựa đã được ghi vào Sách đỏ Quốc gia để Bảo vệ
1.2 CÁ NÓC
Đặc điểm:
Cá nóc (Cá cóc, cá bống biển, cá đùi gà, thốc ngư) là tên gọi chung của nhiềmloại thuộc những chi và họ khác nhau, nhiều nhất là các loài thuộc họ Cá Nóc(Tetraodontidae)
Trên thế giới hiện nay có khoảng 100 loài cá nóc, phân bố ở vùng biển nhiệtđới và cận nhiệt đới, thường cư trú tại các rạn san hô, tầng đáy hoặc sát đáy, gân bờ,cửa sông, thậm chí cả ở nước lợ Ở vùng biển Việt Nam, có khoảng 66 loài cá nócthuốc 12 giống và 4 họ (theo Viêtn nghiên cứu Hải sản) Một số loài thường thấy là:
Cá nóc chấm sao (Arothron hispidus), Cá nóc dẹt (Canthigaster virulatus), Cá nóc màu chấm sữa hay nóc rùa (Chelonodon patoca), Cá nóc chấm đen (Tetranodon
nigropunctatus).
Trang 12Hình 3 Cá nóc chấm sao (Arothron hispidus)
Cá nóc có đặc tính khi gặp kẻ thù hoặc bị kích thích, để tự vệ, nó ngậm miệnglại, làm phồng bụng lên to như quả bóng, rồi nằm ngửa để mặc nước cuốn trôi Cánóc là loại cá ăn thịt hoặc ăn tạp Đến mùa sinh sản thường bơi ngược vào sông để
đẻ
Bộ phận dùng: Cá nóc thường được dùng trong y học cổ truyền với tên gọi
là hà đồn Chỉ dùng thịt cá được chế biến rất cẩn thận, và bỏ hết phần nội tạng gồmgan, mật, tim, thận, trứng, da và máu
Thành phần hóa học: Thịt cá nóc rất nhiều protid, lipid, chất khoáng và
vitamin Các bộ phận bên tỏng cá nóc có chưa một chất có tên là tetrodomin, khôngđộc, nhưng khi cá bị va đập, bị ươn,… sẽ chuyển thành tetrodotoxin, một chất rấtđộc, có thể gây chết người (liều gây độ 1-4mg, chỉ cần ăn 10g thịt cá nóc có chấtđộc là bị ngộ độc) Thịt cá ncó hấp thu rất nhanh qua đường ruột, 5-15 phút sau ănđạt nồng độ cao trong máu, gây triệu chứng ngộ độc là liệt trung khu thần kinh thịgiác, thần kinh vận động rồi đến trung khu hô hấp và tim mạch Biểu hiện đầu tiên
là tê miệng lưỡi, tay chân, sau đó choáng váng, đau đầu, mặt ửng đỏ, toát mồ hôi,cuối cùng toàn thân co giật, suy sụp, tím tái, khó thở, trụy tim mạch, ngừng thở và
9
Học Viên: Lê Thiên Kim – 1711059 – CH22
Trang 13tử vọng Chất độc này có hàm lượng cao trong mùa cá đẻ trừng Hơn nữa, chất độccủa cá nóc có sức bền vững cao: Ngâm vào dung dịch HCl 0,2-0,5% trong khoảng 8giờ mới bị phá hủy, đun sôi ở 100oC trong 6 giờ mới giảm hoạt tính một nữa Ở
200oC phải mất 10 phút, độ tố mới bị khử hoàn toàn Do đó, nếu chế biến thôngthường (nấu cá nóc theo dân gian) thì không thể làm mất chất độc của cá nóc được
Công dụng: Thịt cá nóc có vị ngọt, tính ấm, có độc, có tác dụng trừ thấp,
giảm đau, sát trùng
Cách xử trí ngộ độc cá nóc (theo QĐ của Bộ Y tế ngày 21/2/2002): khi có
dấu hiệu tê môi, tê tay ở người bị ngộ độc, lập tức gây nôn và cho uống than hoạttính với liều 30g/250ml nước sạch cho người lớn, 20g/100-200ml nước sạch đối vớitrẻ 1-12 tuổi, 1g/50ml nước sạch cho trẻ dưới 1 tuổi Sau đó đưa bệnh nhân đến việngần nhất Khi nạn nhân đã hôn mê hoặc rối loạn ý thức, chỉ còn cách thổi ngạt vàomiệng, mũi
Tình trạng: Cá nóc xuất hiện quanh năm, nhiều nhất là tháng 5-6, và 9-10
Trước đây, ngư dân vùng biển cho rằng ăn thịt cá nóc sẽ béo khỏe, chống mệtmỏi, đau nhức Nhưng sau thấy nhiều vụ ngộ độc xảy ra, họ không dùng nữa Hiệnnay ở Việt Nam, số người chết vì ngộ độc cá nóc ngày càng tăng (năm 2000 có 17
vụ ngộ độc, 20 người tử vong) Những vụ ngộ độc thường bắt nguồn từ việc đánhbắt (86%), sử dụng cá tươi (90%), làm nước mắm (27%) Ủy ban nhân dân thànhphố Đà Nẵng đã có chỉ thị số 14/CT-UB về việc nghiêm cấm triệt để việc đánh bắt,lưu thông, mua bán và chế biến cá nóc Các trường hợp vi phạm sẽ bị xử phạt nặng
Tuy nhiên, tại Nhật Bản, cá Nóc, hay còn gọi là Cá Fugu, lại là một nguyênliệu để chế biến những món ăn cao cấp Chúng có mặt trong thực đơn của nhữngbữa tiệc chiêu đãi, tiệc tối hoặc những sự kiện mang tính trang trọng Lượng cá tiêuthụ đến 10.000 tấn mỗi năm Và một đĩa cá nóc “chuẩn” có giá đến 200 đô la Bên
Trang 14cạnh đó, hãng dược phẩm Astellas Pharma (Nhật) đã đầu tư 15 triệu đô la trong việctận dụng loại độc tố thần kinh cực mạnh trong cá nóc để làm thuốc giảm đau Do
đó, nhu cầu cá nóc trên thị trường là không nhỏ
Năm 2013, tại Hội nghị đánh giá kết quả triển khai đề án thí điểm khai thác,thu mua, chế biến và xuất khẩu cá nóc giai đoạn 2013-2015, ngày 14/4/2016, ông
Vũ Văn Tám, thứ trưởng Bộ NN&PTNT, cho rằng đề án cũng đã có một số kết quảtích cực có thể phát triển trong thời gian tới, đặc biệt là trong việc xuất khẩu cá nócsang Nhật
Hình 4 Món ăn Fugu-sashi từ cá nócSản lượng hiện nay vào khoảng 300-400 tấn mỗi năm Chủ yếu là đánh bắt từ
tự nhiên Tuy nhiên, vấn đề gặp phải là người dân thường đánh bắt không theonguyên tắc, và lẫn các loại cá nóc khác nhau trong quá trình buôn bán, nên hiệu quảkinh tế không cao Mặt khác, nghiên cứu của các nhà khoa học ngay nay cũng chỉ ramột điều thú vị là bản thân con cá nóc không thể sinh tổng hợp được độc tố; chất
11
Học Viên: Lê Thiên Kim – 1711059 – CH22
Trang 15tetraodotoxin trong cá nóc là do các vi khuẩn cộng sinh (symbiotic bacteria), chủyếu là nhóm Pseudomonas và Vibrio vì một vài loại khác sinh tổng hợp ra Do đó,nếu cá nóc được nuôi dưỡng cách ly thì độc tố không hiện diện Đây là một câu hỏiđặt ra cho các nhà quản lý và doanh nghiệp.
1.3 HẢI SÂM
Đặc điểm:
Hải sâm (Dưa biển, sâm biển, đỉa biển) là các loài thuộc chủ yếu các chi
Holothuria, Actinopyga, Stichopus, họ Hải Sâm (Holothuriidae) Trong đó, có hai
loài hải sâm là Hải sâm đen (Holothuria vagabunda) và Hải sâm trắng (Holothuria
scabra) được dùng phổ biến và thường gặp nhất.
Hình 5 Hải sâm biểnHải sâm một loại động vật không xương sống, thân có dạng ống dài như quảdưa, phình ra ở giữa và thon nhỏ ở hai đầu với những gai thịt nhỏ Phía trước cómiệng với vành tua rõ rệt, phía sau là hậu môn, dọc thân là các dãy chân ống, damềm, có các phiến xương nằm rải rác dưới da Hải sâm sống ở biển, trên đáy cát
Trang 16hoặc san hô chết, tập trung nhiều nhất ở độ sâu 2-5m, hay gặp ở vùng vịnh và nhữngnơi có nhiều đá ngầm, di chuyển bằng cách phụt nước hoặc co duỗi các cơ, ăn độngvật, thực vật nhỏ ở đáy và chất bã hữu cơ Ở nước ta, có khá nhiều ở vùng biểnKhánh Hòa (Hòn Khói, Hòn Đôi, Hòn Tai, Hòn Rùa, Hòn Tre, Hòn Miễu…), đảoTrường Sa, Côn Đảo, Phú Quốc, Thổ Chu…
Tránh nhầm lẫn hải sâm với “thủy hoài sâm”, cũng được gọi là Hải sâm, làmột loại nấm men phát triển trong nước chè, được dùng làm nước uống giải khát bổdưỡng khá phổ biến hiện nay ở Việt Nam
Bộ phận dùng: Toàn con hải sâm bắt về, mổ bỏ ruột, rửa sạch, phơi hay sấy
khô Loại thịt có màu đen quánh dính, da có nhiều gai bướu là tốt
Thành phần hóa học: Các nhà khoa học Trung Quốc ước tính cứ 100g hải
sâm khô có chứa 75,6g protein, cao gấp 5 lần so với thịt lợn nạc và 3,5 lần so vớithịt bò, chỉ số này ở hải sâm Việt Nam là 63,23-67,22g Trong hải sâm còn có hàmlượng cao các acid amin quý như lysine, proline, arginine, histadine, acid glutamic,thionine, leucine, isoleucine, acid aspartic, tyrosine… và nhiều nguyên tố vi lượngnhư P, Cu, Fe, Mn, Zn…, đặc biệt là Se – một chất giải độc kỳ diệu, làm vô hiệu hóacác kim loại nặng đi vào cơ thể qua đường ăn uống như Pb, Hg để thải ra nước tiểu.Ngoài ra, trong thành phần hải sâm còn có các loại vitamine như B1, B2, B12, C…,hormone testosteron và progesteron, các chất có hoạt tính sinh học như lectin,saponin glucoside (các glucoside triterpen), trong đó có 2 loại saponin là Rg (gâyhưng phấn thần kinh, chống mỏi mệt và tăng cường thể lực) và Rh (có tác dụng ứcchế tế bào ung thư) Đặc biệt là chất holothurin (sticopotid) cũng như nước rãi củaHải sâm có tác dụng ứng chế sự phân chia tế bảo, phòng ngừa ung thư
Công dụng: Hải sâm có vị mặn, tính ấm, tác dụng bổ thận tráng dương, ích
tinh, giảm ho, tiêu độc, nhuận táo và cầm máu
13
Học Viên: Lê Thiên Kim – 1711059 – CH22