CHINH PHỤ NGÂM KHÚC ĐOÀN THỊ ĐIỂMCHINH PHỤ NGÂM KHÚC ĐOÀN THỊ ĐIỂMCHINH PHỤ NGÂM KHÚC ĐOÀN THỊ ĐIỂMCHINH PHỤ NGÂM KHÚC ĐOÀN THỊ ĐIỂMCHINH PHỤ NGÂM KHÚC ĐOÀN THỊ ĐIỂMCHINH PHỤ NGÂM KHÚC ĐOÀN THỊ ĐIỂMCHINH PHỤ NGÂM KHÚC ĐOÀN THỊ ĐIỂMCHINH PHỤ NGÂM KHÚC ĐOÀN THỊ ĐIỂMCHINH PHỤ NGÂM KHÚC ĐOÀN THỊ ĐIỂMCHINH PHỤ NGÂM KHÚC ĐOÀN THỊ ĐIỂMCHINH PHỤ NGÂM KHÚC ĐOÀN THỊ ĐIỂMCHINH PHỤ NGÂM KHÚC ĐOÀN THỊ ĐIỂMCHINH PHỤ NGÂM KHÚC ĐOÀN THỊ ĐIỂMCHINH PHỤ NGÂM KHÚC ĐOÀN THỊ ĐIỂMCHINH PHỤ NGÂM KHÚC ĐOÀN THỊ ĐIỂMCHINH PHỤ NGÂM KHÚC ĐOÀN THỊ ĐIỂMCHINH PHỤ NGÂM KHÚC ĐOÀN THỊ ĐIỂMCHINH PHỤ NGÂM KHÚC ĐOÀN THỊ ĐIỂMCHINH PHỤ NGÂM KHÚC ĐOÀN THỊ ĐIỂMCHINH PHỤ NGÂM KHÚC ĐOÀN THỊ ĐIỂMCHINH PHỤ NGÂM KHÚC ĐOÀN THỊ ĐIỂMCHINH PHỤ NGÂM KHÚC ĐOÀN THỊ ĐIỂMCHINH PHỤ NGÂM KHÚC ĐOÀN THỊ ĐIỂMCHINH PHỤ NGÂM KHÚC ĐOÀN THỊ ĐIỂM
Trang 1I.ĐỀ TÀI CHIẾN TRANH TRONG CHINH PHỤ NGÂM 1.1 Đề tài chiến tranh trong văn học dân gian
- Hình ảnh chiến tranh xuất hiện toàn diện, rõ nét: từ hình ảnh người anh hùng tay gươm, tay giáo, địa hình cuộc chiến, thế mạnh,
+ Sử thi I-li-at của người Hy Lạp cổ đại khắc họa rõ nét toàn diện cuộc chiến của đội quân Tơ-roa và quân Hy Lạp đến thế trận, địa hình, bên cạnh đó là hình ảnh những người anh hùng như Asin, Hector, với thế mạnh riêng của từng người
+ Thánh Gióng – cuộc chiến giữa nhân dân Việt và giặc Ân Đó là hình ảnh người anh hùng đại diện cho cả dân tộc chiến đấu bảo vệ tổ quốc
- Hình ảnh chiến tranh cũng xuất hiện với những người anh hùng dân tộc, người anh hùng thời đại:
“ Muốn coi lên núi mà coi
Coi bà quản tượng cỡi voi bành vàng”
Câu ca dao ca ngợi công đức chống giặc ngoại xâm của Triệu Nữ Vương (tức Triệu Thị Trinh) Bà Triệu phất cờ khỏi nghĩa chống quân Đông Ngô Khi bà đánh giạc mặc áo giáp vàng cưỡi voi xông vào quân địch như xông vào chỗ không người
- Gần thời Đặng Trần Côn đã có những bài ca dao nói đến cuộc nội chiến Lê- Mạc (thế kỉ XVI), Trịnh- Nguyễn (thế kỉ XVII) như:
“ Cái cò lặn lội bờ sông
Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non”
Hay
“ Nàng về nuôi cái cùng con
Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng”
1.2 Những tác phẩm đề cập đến đề tài chiến tranh trong văn học Trung Quốc
- Thời Hán:
“ Thập ngũ tòng quân chinh” ( 15 tuổi ra trận)
Trang 2“ Chiến thành Nam” ( đánh trận ở Thành Nam)
“ Tiểu mạch đồng dao” ( đồng dao lúa tiểu mạch)
- Thời Đường:
Xuất hiện những nhà thơ viết về cuộc chiến tranh do triều đình phong kiến phát động nhằm mở rộng bờ cõi Các nhà thơ lớn như Lí Bạch, Đỗ Phủ, đã
đề cập đến cuộc sống của người chinh phu nơi biên ải và chinh phụ ở chốn phòng khuê
- Tác phẩm “Tam quốc diễn nghĩa” (Tam quốc chí thông tục diễn nghĩa) là một tiểu thuyết lịch sử Trung Quốc (220-280) theo phương pháp bảy phần thực, ba phần hư cấu Tác phẩm này được xem là một trong bốn tác phẩm cổ điển hay nhất của văn học Trung Quốc Đó là hình ảnh chiến tranh trong thời tam quốc: chiến tranh loạn lạc giữa mười quân Phiệt(190-200), trận tiền Xích Bích(200-208), hậu Xích Bích(208-220)
- Tác phẩm “Thủy hử” diễn tả quá trình thất bại của cuộc khỏi nghĩa các anh hùng Lương Sơn Bạc do Tống Giang lãnh đạo
1.3.Hình ảnh chiến tranh trong “ Chinh phụ ngâm khúc”
“Chinh phụ ngâm khúc” phản ánh vấn đề nóng hổi của thời đại, là tiếng nói chống chiến tranh phi nghĩa và khát vọng hòa bình của nhân dân dưới hình thức độc thoại của người vợ có chồng ra trận
1.3.1.Nỗi khổ của con người trong chiến tranh
Mở đầu là lời than về cuộc đời bất hạnh của “khách má hồng” nói chung sau đó người chinh phụ cất lời than về nỗi thống khổ của mình trong hoàn cảnh chiến tranh
- Trước hết, chiến tranh buộc kẻ làm trai phải xa nhà, lìa vợ con:
“Đường rong ruổi lưng đeo cung tiễn
Buổi tiễn đưa lòng bận thê noa
Bóng cờ, tiếng trống xa xa
Sầu lên ngọn ải, oán ra cửa buồng.”
Kẻ làm trai thời loạn dẫu đã quyết tâm ra đi chinh chiến vì “ phép công là trọng, niềm tây sá nào” nhưng khi phải xa lìa những người yêu thương mấy ai đã tránh khỏi sầu oán? Đến như Hector- một anh hùng vĩ đại trong sử thi I-li-at giây phút chàng từ biệt vợ trẻ con thơ lên đường ra trận cũng xiết bao bùi ngùi, lưu luyến Người chiến sĩ thời nay có khác gì?
Trang 3“Tôi có người vợ trẻ đẹp như thơ
Tuổi chớm đôi mươi, cưới buổi dâng cờ
Má trắng mịn thơm thơm mùi lúa chín
Ai ra đi mà chẳng từng bịn rịn
Rời yêu thương nào đã mấy ai vui
Em ngậm ngùi nhìn với lúc chia phôi
Anh mạnh bước mà nghe hồn nhỏ lệ”
Chiến tranh còn đầy đọa kẻ chinh nhân trong cuộc sống gian khổ, giãi dầu:
“Hơi gió lạnh, người rầu mặt rạn
Dòng nước sâu, ngựa nản chân bon
Ôm yên gối trống đã chồn
Nằm vùng cát trắng, ngủ cồn rêu xanh”
Chiến trường thì đầy rẫy những hiểm nguy:
Hay: “Nay Hán xuống Bạch Thành đóng lại
Mai Hồ vào Thanh Hải dòm qua”
“Xông pha gió bãi trăng ngàn
Tên reo đầu ngựa giáo dan mặt thành”
Kẻ chinh nhân chiến đấu dẫu phải hi sinh tính mạng thì rồi cũng bị người đời bội bạc, mau quên:
“Hồn sĩ tử gió ù ù thổi
Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi
Chinh phu tử sĩ mấy người
Nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn”
Đến khi tàn cuộc chiến tranh bên thắng cũng như bên bại đều để lại không biết bao xác tử sĩ vô danh chất thành gò, thành đống nằm hiu quạnh nơi gò bãi, trăng ngàn:
“Non Kì quạnh quẽ trăng treo
Bến Phì gió thổi hiu hiu mấy gò”
Trong cảm nghĩ của người chinh phụ tất cả những gì mà người chồng phải chịu đựng trong chiến tgranh đã tạo nên một hình ảnh người chinh phu mệt mỏi, rã rời, bộ mặt chán nản, sầu não:
“Thương người áo giáp bấy lâu
Lòng quê qua đó mặt sầu chẳng khuây”
- Chiến tranh không chỉ giáng họa cho kẻ ra đi mà còn gieo sầu, rắc thảm cho người ở lại
Trang 4Nỗi đau hận nhất của người chinh phụ là vợ chồng nàng còn quá trẻ, mới đẹp duyên lứa đôi, lửa hương vừa nồng đượm đã phải xa lìa nhau, chẳng được cùng nhau chia sẻ chuyện tâm tình:
“Phết phong lưu đương chừng niên thiếu
Sánh nhau cùng dan díu chữ duyên
Nỡ nào đôi lứa thiếu niên
Quan san để cách hàn huyên bao đành!”
Nỗi khổ của người vợ ở nhà còn là nỗi vất vả lo toan “nuôi già dạy trẻ” trong tình cảnh “một thân”, lẻ loi, cô đơn:
“Nay một thân nuôi già dạy trẻ
Nỗi quan hoài mang mẻ xiết bao”
Sau bao ngày mong ngóng chờ trông người chinh phu mãi chẳng trở về như bao lời hẹn ước, rồi tin tức lại bặt tăm, tình cảnh cô đơn, khắc khoải chờ đợi của người chinh phụ lại càng bi thiết:
“Trời hôm đứng chái chần chừ
Trăng khuya nương gối, bơ phờ giũ mai”
“Gà eo óc gáy sương năm trống
Hòa phất phơ rủ bóng bốn bên
Bể tuôn lai láng mạch phiền
Tưởng giây khắc bẵng một niên dần dà”
Nàng còn nhớ da diết vẻ mặt tươi cười đến hơi hương quyến rũ của chồng:
“Gác hương nọ mơ mòng vẻ mặt
Lầu hoa kia phảng phất hơi hương”
Sự thèm khát hạnh phúc chung đôi trở thành một ám ảnh với người chinh phụ Nàng không dám thêu đôi bướm, dệt đôi uyên, sợ chúng khơi gợi tâm sự bi thương
Trang 5lẻ loi của nàng Vậy mà trong tâm trí cũng như trong đôi mắt nàng đâu đâu cũng luẩn quẩn hình ảnh muôn loài có lứa đôi đang quấn quýt bên nhau:
“Sảy nhớ khi cành Diêu đóa Nguỵ
Trước gió xuân vàng tía sánh nhau
Nọ thì ả Chức chàng Ngâu
Tới trăng thu lại bắc cầu qua sông”
Và:
“Chàng chẳng thấy chim uyên ở nội,
Cũng dập dìu, chẳng vội phân trương
Chẳng xem chim yến trên rường,
Bạc đầu không nỡ đôi đường rẽ nhau
Kìa loài sâu đôi đầu cùng sánh,
Nọ loài chim chắp cánh cùng bay
Liễu, sen là thức cỏ cây,
Đôi hoa cùng sánh, đôi dây cùng liền.”
Và để giải tỏa những ẩn ức, nỗi khao khát hạnh phúc yêu đương thầm kín kia người chinh phụ chỉ còn biết trông chờ những giấc mộng xuân Mỗi đêm người chinh phụ lại nằm ôm gối thao thức chờ đợi chồng về nhưng những giấc mộng bao giờ cũng ngắn ngủi và hư ảo vẫn hoàn hư ảo, lòng nàng mới chua sót làm sao? “Chẳng qua bên gối một chờ mộng xuân”
Và: “Tình trong giấc mộng muôn vàn cũng không”
Nhưng cũng từ đó nàng quyết tâm thay đổi, nàng khích lệ chồng trên đường chinh chiến phụng sự vì tổ quốc, dân tộc, thỏa chí làm trai còn nàng sẽ hết lòng bảo vệ tình yêu lứa đôi và hạnh phúc gia đình:
“Chàng nương vầng nhật, thiếp nguyền
Mọi bề trung hiếu thiếp xin vẹn tròn”
1.3.2.Thái độ của con người đối với chiến tranh:
Trang 6Khi người chinh phu ra chiến trường người chinh phụ xiết bao sầu oán nhưng nàng thấy việc ra đi của người chồng là cần thiết và biết kìm nén tình cảm riêng tư trước việc nước, phép công Hình ảnh người chinh phu lúc lên đường và “chiếc ấn phong hầu” lập chiến công trong sử sách được ca ngợi đem hứng khởi và niềm hi vọng cho người chinh phụ Nhưng khi đối diện với cuộc sống thực tế, vợ chồng xa cách cái nhìn của người chinh phụ đối với chiến tranh lại gắn với thực tại, xuất phát từ cuộc sống cảu bản thân Người vợ trẻ tha thiết với hạnh phúc lứa đôi, cuộc sống vợ chồng có ý nghĩa đặc biệt với người chinh phụ:
“Vì chàng lệ thiếp nhỏ đôi
Vì chàng thân thiếp lẻ loi một bề”
Hay “Vì chàng tay chuốc chèn vàng
Vì chàng điểm phấn đeo hương não nùng”
“Vì chàng” tức là vì hạnh phúc lứa đôi, tình yêu và khát vọng hạnh phúc là động lực của đời sống tâm hồn người chinh phụ
Chiến tranh ngăn cản hạnh phúc con người, bắt buộc con người phải bộc lộ thái độ, tâm trạng của mình Ở góc độ người chinh phụ có chồng ngoài chiến trường thì chiến tranh là tai họa, bất kì lúc nào cũng có thể cướp đi người chồng Từ đó nàng đặt câu hỏi nhưng cũng chính là lời chất vấn nặng nề:
“Trên trướng gấm thấu hay chăng nhẽ
Mặt chinh phu ai vẽ cho nên?”
Xuất phát từ cuộc sống đau khổ của bản thân người chinh phu đặt ra hàng laitj câu hỏi:
“Nếm chua cay tấm lòng mới tỏ
Chua cay này há có vì ai?”
Hay: “Ấy loài vật tình duyên còn thế
Sao kiếp người nỡ để đấy đây?”
Và cuối cùng nàng nhận ra mình đã sai lầm khi đã để chồng lên đường:
Trang 7“Lúc ngoảnh lại ngấm màu dương liễu
Thà khuyên chàng đừng chịu tước phong”
II DIỄN BIẾN TÂM TRẠNG CỦA NGƯỜI CHINH PHỤ 2.1 Những suy tư trăn trở của người chinh phụ về “phép công” và “niềm tây”
Mâu thuẫn đặt ra trong suốt tác phẩm là mâu thuẫn giữa phép công và niềm tây (niềm tư), mở đầu tác phẩm mâu thuẫn này cũng đã xuất hiện Ðôi vợ chồng trẻ này đang sống trong hạnh phúc, yên ổn thì chiến tranh xảy ra Vì tình thế khẩn trương, vì ý thức về nghĩa vụ, vì danh dự của trang nam nhi hào kiệt và đây cũng là dịp lập công danh, đem vinh hiển về cho gia đình, người chinh phu đã “xếp bút nghiên theo việc đao cung” Người chinh phụ bày tỏ tâm trạng của mình, ý thức được về hoàn cảnh của mình
2.1.1 Ý thức về bổn phận công dân
Tinh thần trung quân ái quốc được đề cao, vì vậy đấng trượng phu trong xã hội xưa lấy công danh làm trọng:
“ Đã mang tiếng ở trong trời đất
Phải có danh gì với núi sông”
Nàng ý thức được về bổn phận của người con trai trong xã hội ấy, là kẻ sĩ phải biết phò vua giúp dân làm trọng nên đã khảng khái nói:
“Phép công là trọng, niềm tây sá nào”
Nàng đã ca ngợi chí khí, hành động của chinh phu:
“Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt,
Xếp bút nghiên theo việc đao cung
Thành liền mong tiến bệ rồng
Thước gươm thề quyết chẳng dung giặc trời
Trang 8Chí làm trai dặm nghìn da ngựa
Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao
Giã nhà đeo bức chiến bào
Thét roi cầu Vị ào ào gió thu”
Nàng thấy hình ảnh của người chồng rực rỡ, uy nghi như một trang dũng tướng giữa đoàn quân:
“Áo chàng đỏ tựa ráng pha
Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in”
Từ giã bút nghiên theo việc đao cung, muốn đem mấy mươi thánh dâng lên vua
Kẻ trọng phu có cái trí tung hoành ngoài nghìn dặm, lấy được da ngựa bọc thây trốn trường Tính mạng mình vốn nặng như Thái Sơn nhưng vì dân, vì nước, vì vua nên coi nhẹ như lông chim hồng Phải từ giã chốn khuê phòng ra đi theo chinh chiến, vun vút roi nguwajtheo ngọn gió Tây đến Vị Kiều Với tư tưởng “xả sinh thủ nghĩa” người quân tử có lẽ nào lại sợ cái chết?
Người chinh phụ tìm cách giải quyết mối mâu thuẫn giữa niềm tây và phép công bằng sự cầu nguyện Nàng cầu mong cho ông trời phù hộ cho chồng mình trăm trận nên công và trở về trong ánh hào quang của chiến thắng với mọi vinh dự mà chế độ phong kiến có thể đưa lại cho những kẻ đã tận tâm phục vụ nó
2.2.2 Ý thức về tình cảm lứa đôi
Ðó là về lí trí là ý thức về bổn phận còn về mặt tình cảm thì:
“Ðưa chàng lòng dặc dặc buồn
Bộ khôn bằng ngựa, thủy khôn bằng thuyền”
“Bóng cờ, tiếng trống xa xa
Sầu lên ngọn ải, oán ra cửa phòng”
Trang 9Khi nhắc đến hình ảnh người phụ nữ trong xã hội phong kiến giai đoạn này ta không thể không nhắc đến hình ảnh người chinh phụ mòn mỏi chờ đợi chồng với tấm lòng thủy chung sâu sắc và niềm mơ ước được sống trọn vẹn với tình yêu hạnh phúc của mình Nếu như văn học ở những giai đoạn trước người phụ
nữ chưa dám nói lên tiếng nói cá nhân của mình thì trong văn học giai đoạn cuối thế kỉ 18- đầu thề kỉ 19, người phụ nữ bắt đầu thể hiện rất rõ ý thức cá nhân Và
người chinh phụ trong Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn cũng vậy Bên cạnh ý
thức về tuổi trẻ người chinh phụ còn thể hiện rất rõ lòng khao khát hạnh phúc, dám nói lên những mong ước thầm kín của mình
Người chinh phu bị chiến tranh ném vào nơi gió cát, vào nơi“chiến
địa” xa xôi Người chinh phụ ở nhà mòn mõi ngóng trông đã cảm nhận thấm thía
và sâu sắc sự cách xa về thời gian và không gian của hai người
Kể năm đã ba tư cách diễn Mối sầu thêm nghìn vạn ngổn ngang
Ước gì gần gũi tất gang Giãi niềm cay đắng để chàng tỏ hay
Càng xa càng nhớ, càng cách trở thì càng khao khát hạnh phúc, khao khát gắn bó yêu đương lại càng trở nên mãnh liệt và da diết Một mình ở nhà vừa phải chăm sóc mẹ già và con thơ, ngày ngày đối diện với biết bao là kỉ niệm đã từng
gắn bó giữa hai người, người chinh phụ đã cảm nhận rất rõ “mối sầu nghìn
vạn” của sự xa cách đó Càng cách trở thì khao khát được gần kề lại càng trở nên
tha thiết : “Ước gì gần gũi tất gang”, nhưng đó chỉ là một niềm mong mỏi dường như chẳng có hi vọng gì, vì nó chỉ là cái “ước gì” mà thôi.
Trông chờ mòn mõi nhưng người chinh phụ vẫn giữ trọn chữ thủy chung chờ đợi, càng chờ đợi người chinh phụ càng khắc khoải âu sầu vì nàng không thể thay đổi cảnh sống hiện tại, nàng chỉ có đôi tay yếu mềm, đôi mắt vời vợi nhớ, đôi môi luôn thì thầm cầu mong Có lẽ, người ở quê nhà chờ đợi bao giờ cũng là người chịu nhiều đau khổ nhất, bởi nơi đó gắn liền với nhiều kỉ niệm thân thương, nên nhìn đâu người chinh phụ cũng thấy nhớ mong: dấu hài, lầu hoa, chăn gối,…
Thoa cung Hán thuở ngày xuất giá Gương lầu Tần dấu cũ soi chung Cậy ai mà gửi tới cùng
Để chàng thấu hết tấm lòng tương tư Nhẫn đeo tay mọi khi ngắm nghía Ngọc cài đầu thuở bé vui chơi Cậy ai mà gửi tới nơi
Để chàng trân trọng dấu người tương thân
Đọc những câu thơ trên ta có cảm giác dường như người chinh phụ lúc nào cũng mang trong lòng một nỗi nhớ khôn tả, nàng muốn người chinh phu có thể
hiểu hết tấm lòng của nàng “thấu hết tấm lòng tương tư”,mà “trân trọng dấu
Trang 10người tương thân” Chỉ qua cách thổ lộ của người chinh phụ ta càng thấm thía hơn
về tình cảm của nàng, đó là một tình cảm rất đỗi bình thường trong tình yêu, nhưng đối với văn học giai đoạn này dám nói ra hết những suy nghĩ của mình, mạnh mẽ thể hiện khao khát của mình thì lại là một bước tiến rất lớn
Nàng gần như tuyệt vọng trong những tháng ngày chờ đợi ấy, nàng muốn
gieo quẻ bói nhưng lại sợ tin gở “Gieo bói tiền tin gở còn ngờ”.Muốn làm mọi
việc để quên nhưng những lúc nỗi nhớ lên đến cực độ thì nàng lại buông xuôi tất cả
Hương gượng đốt hồn đả mê mải Gương gượng soi lệ lại chứa chan Sắt cầm gượng gãy ngón đàn Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng
Tác giả sử dụng rất nhiều chữ “gượng” để diễn tả đúng tâm trạng của
người chinh phụ, hương thì gượng đốt, soi gương thì thấy lệ rơi, gãy đàn thì tiếng đàn cũng nghe gượng ép, phím loan thì ngại chùng, tất cả mọi thứ dường như nó không hề muốn diễn ra Nhịp thơ chậm rãi càng khắc họa sâu sắc nỗi lòng nhớ thương da diết của người chinh phụ
“Biếng cầm kim, biếng đưa thoi” Không thể gặp được chồng, họa chăng
chỉ phút giây trong giấc mộng, nhưng hơn ai hết nàng biết rõ“Tình trong giấc
mộng muôn đời cũng không” Đó là sự bế tắc khủng hoảng đến độ trở thành bi
kịch Hạnh phúc đối với nàng chỉ là khoảng không vô tận
Tuy bên ngoài là đau khổ, là âm thầm chịu đựng nhưng bên trong lại ngầm chứa một tình cảm sôi nổi, rực cháy mãnh liệt:
Ca quyên ghẹo làm rơi nước mắt Trống tiều khua như đốt buồng gan
Như thế mới hiểu được vì sao một tiếng dế kêu, một tiếng chuông chùa, một luồng gió nhẹ….cũng đủ để hóa thành những cung yêu thương xoáy mãi lên trong biển nhớ của nàng:
Lá màn lay ngọn gió xuyên Bóng hoa theo bóng nguyệt lên trước rèm Hoa giải nguyệt nguyệt in một tấm Nguyệt lồng hoa hoa thắm từng bông Nguyệt hoa hoa nguyệt trùng trùng
Khung cảnh thiên nhiên mất hẳn cái sầu thảm mà trở nên nồng nàn tha thiết, lộng lẫy nguyệt hoa Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình ở đây đã đạt mức tuyệt diệu Hình ảnh lộng lẫy, mang nhiều sắc thái ý nghĩa, âm điệu câu thơ tha thiết, nhịp nhàng như một khúc nhạc du dương cất lên từ trong lòng người chinh phụ Hình ảnh nguyệt hoa quấn quýt giao hòa đã thể hiện một cách gián tiếp nhưng cũng đầy gợi cảm nỗi lòng da diết và khao khát âm thầm mà mãnh liệt được hưởng hạnh