1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hoàn thiện báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo hướng hòa hợp với chuẩn mực kế toán quốc tế nghiên cứu các doanh nghiệp nhật bản đang hoạt động tại tỉnh bình dương

92 451 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng thực trạng hiện nay, các doanh nghiệp có vốn đầu tư Nhật Bản tại Bình Dương chưa quan tâm và chú trọng đến việc lập và trình bày báo cáo lưu chuyển tiền tệ cho mục đích sử dụng để

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM



LÊ VŨ NHƯ BẢO

HOÀN THIỆN BÁO CÁO LƯU CHUYỂN TIỀN TỆ THEO HƯỚNG HÒA HỢP VỚI CHUẨN MỰC KẾ TOÁN QUỐC TẾ - NGHIÊN CỨU CÁC DOANH NGHIỆP NHẬT BẢN ĐANG HOẠT ĐỘNG TẠI

TỈNH BÌNH DƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM



LÊ VŨ NHƯ BẢO HOÀN THIỆN BÁO CÁO LƯU CHUYỂN TIỀN

TỆ THEO HƯỚNG HÒA HỢP VỚI CHUẨN MỰC

KẾ TOÁN QUỐC TẾ - NGHIÊN CỨU CÁC DOANH NGHIỆP NHẬT BẢN ĐANG HOẠT

ĐỘNG TẠI TỈNH BÌNH DƯƠNG

CHUYÊN NGÀNH: KẾ TOÁN

MÃ SỐ: 60340301

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : PGS.TS MAI THỊ HOÀNG MINH

TP Hồ Chí Minh – Năm 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bài luận văn “Hoàn thiện báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo hướng hòa hợp với chuẩn mực kế toán quốc tế - Nghiên cứu các doanh nghiệp Nhật Bảnđang hoạt động tại tỉnh Bình Dương” là công trình nghiên cứu của cá nhân với

sự hỗ trợ của GVHD Các tài liệu, số liệu trích dẫn trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Kết quả luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào

Tác giả luận văn

Lê Vũ Như Bảo

Trang 4

MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ VIỆC LẬP VÀ TRÌNH BÀY BCLCTT THEO CHUẨN MỰC KẾ TOÁN VIỆT NAM VÀ QUỐC TẾ 8

1.1 Tổng quan về BCLCTT theo chuẩn mực kế toán Việt Nam và quốc tế 8

1.1.1 Lược sử hình thành và phát triển của BCLCTT 8

1.1.2 Bản chất và ý nghĩa của BCLCTT 10

1.1.3 Nội dung cơ bản chuẩn mực kế toán Việt Nam số 24, thông tư 200 và chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 7 11

1.1.3.1 Nội dung cơ bản chuẩn mực kế toán Việt Nam số 24 11

1.1.3.2 Nội dung cơ bản của thông tư 200/2014/TT-BTC liên quan đến BCLCTT 13

1.1.3.3 Nội dung cơ bản chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 7 15

1.1.4 Mối quan hệ giữa BCLCTT và các BCTC khác: 17

1.1.4.1 Mối quan hệ giữa BCLCTT và BCĐKT: 17

1.1.4.2 Mối quan hệ giữa BCLCTT và BCKQHĐKD: 17

1.1.4.3 Mối quan hệ giữa BCLCTT và thuyết minh BCTC: 19

1.2 Sự khác biệt giữaBCLCTT theo IFRS và theo chuẩn mực Việt Nam:… 20

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG LẬP VÀ TRÌNH BÀY BCLCTT CỦA DOANH NGHIỆP NHẬT BẢN ĐANG HOẠT ĐỘNG TẠI TỈNH BÌNH DƯƠNG 29

2.1 Thực trạng lập BCLCTT của doanh nghiệp Nhật Bản tại Nhật Bản 29

2.1.1 Sơ lược về sự phát triển BCLCTT tại Nhật Bản 29

2.1.2 Thực trạng lập BCLCTT của doanh nghiệp Nhật Bản có vốn đầu tư vào tỉnh Bình Dương tại Nhật Bản 30

Trang 5

2.2 Thực trạng lập và trình bày BCLCTT của doanh nghiệp Nhật Bản đang hoạt

động tại Bình Dương 31

2.2.1 Giới thiệu chung về các doanh nghiệp Nhật Bản đang hoạt động tại tỉnh Bình Dương 31

2.2.2 Khảo sát về việc lập và trình bày BCLCTT của các doanh nghiệp Nhật Bản đang hoạt động tại Bình Dương: 32

2.2.2.1 Nội dung, phương pháp, đối tượng và phạm vi của khảo sát số 1: 33 2.2.2.2 Nội dung, phương pháp, đối tượng và phạm vi của khảo sát số 2: 34 2.2.2.3 Nội dung, phương pháp, đối tượng và phạm vi của khảo sát số 3: 35 2.2.2.4 Nội dung, phương pháp, đối tượng và phạm vi của khảo sát số 4: 36 2.2.2.5 Phương pháp xử lý: 36

2.2.3 Kết quả khảo sát và bàn luận 37

2.2.3.1 Kết quả khảo sát những thuận lợi và khó khăn trong việc lập BCLCTT của các doanh nghiệp Nhật Bản đang hoạt động tại Bình Dương theo chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam: 37

2.2.3.2 Kết quả khảo sát về sự nhận thức tính hữu ích của thông tin BCLCTT: 45

2.2.3.3 Kết quả khảo sát tính tuân thủ khi vận dụng các văn bản pháp quy kế toán về việc vận dụng và trình bày BCLCTT của doanh nghiệp Nhật Bản đang hoạt động tại Bình Dương: 47

2.2.3.4 Khảo sát mức độ hội nhập cũng như những thuận lợi khó khăn khi hội nhập kế toán Việt Nam và quốc tế: 48

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN BCLCTT THEO HƯỚNG HÒA HỢP VỚI CHUẨN MỰC KẾ TOÁN QUỐC TẾ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHẬT BẢN ĐANG HOẠT ĐỘNG TẠI BÌNH DƯƠNG 52

3.1 Quan điểm hoàn thiện: 52

3.2 Định hướng xây dựng giải pháp: 54

3.2.1 Tiếp cận từ tổ chức lập quy và người sử dụng: 54

3.2.2 Tiếp cận từ mục tiêu nghiên cứu: 56

Trang 6

3.3 Giải pháp hoàn thiện việc lập và trình bày BCLCTT của theo hướng hòa hợp với chuẩn mực kế toán quốc tế của doanh nghiệp Nhật Bản đang hoạt động tại Việt Nam: 56 3.3.1 Hoàn thiện VAS 24 theo hướng phù hợp với IAS 7 56 3.3.2 Hoàn thiện quy trình lập BCLCTT phương pháp gián tiếp theo chuẩn

mực kế toán quốc tế: 58

KẾT LUẬN 63 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT Tiếng Việt

BCLCTT Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

BCTC Báo cáo tài chính

BCKQHĐKD Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

BCĐKT Bảng cân đối kế toán

CMKT Chuẩn mực kế toán

TNDN Thu nhập doanh nghiệp

Tiếng Anh

AARF Australian Accounting Research Foundation

AASB Australian Accounting Standards Board

AICPA American Institute [of] Certified Public Accountants

ASRB Accounting Standards Review Board

FASB Financial Accounting Standards Board

FRS Financial Reporting Standards

GAAP Generally Accepted Accounting Principles

IASB International Accounting Standards Board

IASC International Accounting Standards Committee ICAA Institute of Chartered Accountants in Australia IFRS International Financial Reporting Standard

SSAF Statement of Source and Application of Funds SSAP Statements of StandardAccounting Practice

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

BẢNG 1.1: Một vài điểm khác biệt giữa BCLCTT theo IFRS và VAS

BẢNG 2.1: Thống kê mô tả kết quả khảo sát người làm công tác kế toán tại các doanh nghiệp Nhật Bản đang hoạt động tại Bình Dương

BẢNG 2.2: Thống kê mô tả kết quả khảo sát nhà quản lý và nhà đầu tư Nhật Bản BẢNG 2.3: Thống kê mô tả kết quả khảo sát tính tuân thủ

BẢNG 2.4: Thống kê mô tả kết quả khảo sát mức độ hội nhập

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tính đến thời điểm này, Bộ Tài chính đã ban hành 26 chuẩn mực kế toán Việt Nam

và thông tư 200/2014/TT-BTC hướng dẫn về chế độ kế toán doanh nghiệp.Về cơ bản các chuẩn mực và thông tư đã đáp ứng được nhu cầu hướng dẫn lập và trình bày báo cáo tài chính Tuy nhiên, trong điều kiện hội nhập với xu thế đầu tư nước ngoài gia tăng, nhu cầu minh bạch thông tin tài chính tài chính ngày càng tăng, do đó, các công ty mẹ nước ngoài thường yêu cầu các công ty con tại Việt Nam trình bày Báo cáo tài chính phù hợp với Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRSs)

Khi nền kinh tế phát triển đa dạng về thành phần và lĩnh vực thì nhu cầu sử dụng thông tin mang tính chính xác và “biết nói” đóng vai trò thật sự quan trọng Con số

đó có thể cho đối tượng quan tâm biết về thực trạng tài chính của doanh nghiệp, rủi

ro tiềm ẩn và những lợi ích có được khi đầu tư Trong quá trình phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp của đối tượng bên trong và bên ngoài thường chú trọng đến phân tích Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh chưa phân tích nhiều đến báo cáo lưu chuyển tiền tệ trong khi đây là báo cáo có thể cho doanh nghiệp biết

về sự vận động của dòng tiền Việc lập và trình bày báo cáo lưu chuyển tiền tệ được quy định trong chuẩn mực kế toán Việt Nam số 24 và được hướng dẫn theoThông tư 200/2014/TT-BTC Bên cạnh đó, trong thời gian gần đây, Việt Nam đang tăng cường thu hút đầu tư từ các doanh nghiệp nước ngoài Hiện nay, các doanh nghiệp

Nhật Bản đầu tư mạnh vào Việt Nam Theo kết quả“Khảo sát về thực trạng hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Nhật Bản tại châu Á và châu Đại Dương năm 2016” do Tổ chức Xúc tiến thương mại Nhật Bản (Jetro) tiến hành cho thấy, hơn 60% doanh nghiệp Nhật Bản muốn mở rộng kinh doanh tại Việt Nam.Và

Bình Dương hiện là một trong những địa phương của Việt Nam thu hút khá lớn các doanh nghiệp Nhật Bản đến đầu tư Nhằm mục đích thu hút thêm nguồn vốn đầu tư

từ các doanh nghiệp Nhật Bản vào Việt Nam nói chung và tỉnh Bình Dương nói riêng, chúng ta cần có một báo cáo tài chính nói chung và báo cáo lưu chuyển tiền tệ

Trang 10

nói riêng của các công ty con tại Việt Nam cung cấp thông tin tài chính hữu ích Nhưng thực trạng hiện nay, các doanh nghiệp có vốn đầu tư Nhật Bản tại Bình Dương chưa quan tâm và chú trọng đến việc lập và trình bày báo cáo lưu chuyển tiền tệ cho mục đích sử dụng để ra quyết định kinh doanh mà chỉ lập một cách bắt buộc tuân thủ theo quy định của Bộ Tài Chính Việt Nam Trong khi, các doanh nghiệp tại Nhật Bản đã áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 7 để lập và trình bày báo cáo lưu chuyển tiền tệ Còn các doanh nghiệp có vốn đầu tư Nhật Bản tại Bình Dương vẫn áp dụng VAS 24 và thông tư 200 (áp dụng cho BCTC năm 2015 trở đi).Không có sự thống nhất giữa doanh nghiệp Nhật Bản (công ty mẹ) và doanh nghiệp có vốn đầu tư Nhật Bản tại Bình Dương (công ty con) Do đó, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ của các doanh nghiệp có vốn đầu tư Nhật Bản tại Bình Dương không

có vai trò quan trọng đối với các doanh nghiệp đầu tư Nhật Bản Đồng thời, nhà quản lý và nhà đầu tư Nhật Bản họ cũng không hiểu và sử dụng được các thông tin hữu ích của báo cáo lưu chuyển tiền tệ Xuất phát từ nhu cầu sử dụng báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo xu hướng hội tụ kế toán quốc tế để dễ dàng so sánh, phân tích và

sử dụng để ra quyết định kinh doanh nên tác giả đã chọn đề tài “Hoàn thiện báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo hướng hòa hợp với chuẩn mực kế toán quốc tế - Nghiên cứu các doanh nghiệp Nhật Bảnđang hoạt động tại tỉnh Bình Dương” làm nội dung

nghiên cứu trong luận văn thạc sĩ của mình

2 Tổng quan nghiên cứu trước đây liên quan đến đề tài

2.1 Nghiên cứu nước ngoài

Xuất phát từ tầm quan trọng của báo cáo lưu chuyển tiền tệ, sự quan tâm của mọi người đến việc nghiên cứu báo cáo lưu chuyển tiền tệ ngày càng tăng Một số nghiên cứu nước ngoài tiêu biểu có liên quan đến báo cáo lưu chuyển tiền tệ đã công

bố như:

Trang 11

Đề tài “The Development of Voluntary Cash Flow Statements in Germanyand the Influence of International Reporting Standards” của Christian Leuz năm 1999 Bài viết này nghiên cứu các biện pháp khuyến khích các công ty ở Đức tự nguyện lập và trình bày báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo thời gian Ý tưởng của tác giả là nghiên cứu ảnh hưởng này bằng cách nhìn vào các mô hình áp dụng theo thời gian và hình thức của báo cáo lưu chuyển tiền tệ Đây là tài liệu cho sự phát triển của việc tự nguyện lập và trình bày báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo thời gian của các doanh nghiệp Đức, nó là "cột mốc" trong sự phát triểnkiến nghị của các chuyên gia Đức tương ứng với các tiêu chuẩn quốc tế Các yếu tố quyết định cắt ngang của Báo cáo lưu chuyển tiền tệ tự nguyện (quốc tế) được phân tích bằng mô hình hồi quy probit

và phân tích nhân tố.Kết quả là thống nhất với ý kiến rằng lực lượng thị trường vốn được trình bày trong báo cáo lưu chuyển tiền tệ phù hợp với thông lệ báo cáo quốc tế.Tác giả chủ yếu quan tâm đến các yếu tố ảnh hưởng của thị trường vốn trên BCLCTT

Đề tài nghiên cứu khoa học "Presentation of Consolidated Statement of Cash Flow under IAS 7, Statement of Cash Flows" của Tăn ase Alin Elin Eliodor và Calota Traian- Ovidiu năm 2013 Bài viết làm rõ khái niệm về BCLCTT, đồng thời hướng dẫn phương pháp lập và trình bày báo cáo lưu chuyển tiền tệ hợp nhất theo chuẩn mực kế toán IAS 7 Tác giả chủ yếu cho thấy cái nhìn tổng quát về BCLCTT theo chuẩn mực kế toán quốc tế

Đề tài nghiên cứu của Alan Jonathan Duboisee di Ricquebourg năm 2013 "The Usefulness of Direct Cash Flow Statement under IFRS" Bài nghiên cứu trình bày tính hữu ích của việc lập và trình bày BCLCTT phương pháp trực tiếp theo IFRS tại

Úc Kết quả nghiên cứu này cho thấy việc lập BCLCTT theo phương pháp trực tiếp theo IFRS có giá trị hơn AGAAP Hơn nữa, kết quả chứng minh rằng BCLCTT trực tiếp cung cấp cho các nhà phân tích tài chính thông tin hữu ích cho việc dự báo dòng tiền của họ và thông tin này là hữu ích hơn theo IFRS so với AGAAP

Trang 12

2.2 Nghiên cứu trong nước

Bên cạnh những nghiên cứu nước ngoài về báo cáo lưu chuyển tiền tệ thì trong nước cũng có một số nghiên cứu như:

Đề tài “Một số giải pháp nâng cao tính hữu ích của BCLCTT tại các doanh nghiệp Việt Nam” luận văn thạc sĩ năm 2010 Nguyễn Thị Thanh Hiền, người hướng dẫn PGS.TS Vũ Hữu Đức Bài luận trình bày những khó khăn của người lập và người sử dụng BCLCTT, từ đó đưa ra một số giải pháp để người lập và người sử dụng nhằm nâng cao tính hữu ích của BCLCTT.Tác giả chưa nghiên cứu đến Việt Nam xu hướng hội tụ kế toán quốc tế

Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện BCLCTT hợp nhất tại các công ty hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con – Việt Nam” năm 2013 Phan Thị Kiều Oanh, người hướng dẫn PGS.TS Bùi Văn Dương Tác giả đã tổng hợp những khó khăn khi lập BCLCTT hợp nhất và đưa ra các giải pháp để hoàn thiện BCLCTT hợp nhất Luận văn chưa nghiên cứu theo khía cạnh hội tụ với các chuẩn mực kế toán quốc tế hiện nay

Đề tài “Giải pháp hoàn thiện nội dung và phương pháp lập báo cáo lưu chuyển tiền

tệ tại các doanh nghiệp Việt Nam theo hướng hài hòa chuẩn mực kế toán quốc tế“ luận văn thạc sĩ năm 2014 Nguyễn Anh Vũ, người hướng dẫn PGS.TS Hà Xuân Thạch Tác giả so sánh giữa chuẩn mực Việt Nam và quốc tế về việc lập và trình bày BCLCTT để từ đó đưa ra giải pháp hoàn thiện nội dung và phương pháp lập BCLCTT tại các doanh nghiệp Việt Nam theo hướng hòa hợp với chuẩn mực kế toán quốc tế Luận văn chỉ nghiên cứu tổng quát cho các doanh nghiệp Việt Nam

2.2 Nhận xét về các nghiên cứu

Các nghiên cứu nước ngoài đã nghiên cứu về việc áp dụng chuẩn mực kế toán quốc

tế cho việc lập và trình bày BCLCTT và nâng cao tính hữu ích của báo cáo Đối với các nghiên cứu trong nước cũng có nghiên cứu hoàn thiện nội dung và phương pháp

Trang 13

lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo hướng hài hòa chuẩn mực kế toán quốc tế nhưng chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp Việt Nam, chưa nghiên cứu cho các doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngoài Trên cở sở các nghiên cứu đó, tác giả sẽ nghiên cứu đề tài

có liên quan nhưng áp dụng cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Cụ thể là, hoàn thiện việc lập và trình bày báo cáo lưu chuyển tiền tệ của các doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam nhằm cho các nhà đầu tư Nhật Bản có thể sử dụng báo cáo chứ không phải lập báo cáo vì mục đích thuế

3 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chung của đề tài là nghiên cứu, làm rõ một số lý luận và thực tiễn trong việc lập và trình bày BCLCTT của các doanh nghiệp có vốn đầu tư Nhật Bản tại Bình Dương, từ đó đề xuất, kiến nghị một số giải pháp để hoàn thiện tính hữu ích của hệ thống thông tin tài chính trên BCLCTT theo hướng hòa hợp với chuẩn mực

kế toán quốc tế

Mục tiêu cụ thể của đề tài:

(1) Nhận diện sự khác biệt giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS 24 và chuẩn mực

kế toán quốc tế IAS 7

(2) Nhận diện những hạn chế khi doanh nghiệp Nhật Bản đang hoạt động tại tỉnh Bình Dương lập và trình bày BCLCTT theo VAS 24

4 Câu hỏi nghiên cứu

(1) Việc lập và trình bày BCLCTT theo chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS 24 và

chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 7 có sự khác biệt nào

(2) Khi doanh nghiệp Nhật Bản đang hoạt động tại tỉnh Bình Dương lập và trình bày BCLCTT theo VAS 24 có những hạn chế gì

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp thu thập số liệu

Trang 14

- Dữ liệu thứ cấp: Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS 24), thông tư BTC, Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS 7), Báo cáo lưu chuyển tiền tệ các doanh nghiệp có vốn đầu tư Nhật Bản tại tỉnh Bình Dương như: Công ty TNHH Isho Việt Nam, Công ty cổ phần Sun Steel, Công ty TNHH Sakata Inx Việt Nam,…

200/2014/TT Dữ liệu sơ cấp: khảo sát ý kiến những kế toán, kiểm toán và nhà quản lý các doanh nghiệp có vốn đầu tư Nhật Bản tại tỉnh Bình Dương

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp tổng hợp, hệ thống hóa dữ liệu các chuẩn mực, thông tư của Việt Nam và quốc tế liên quan đến việc lập và trình bày BCLCTT để làm cơ sở lý luận

- Phương pháp so sánh, đối chiếu thông tin giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS

24, thông tư 200 với IAS 7

- Phương pháp thống kê mô tả đánh giá các câu hỏi: làm bảng câu hỏi để khảo sát ý kiến từ các kế toán viên, kiểm toán và các nhà quản lý doanh nghiệp có vốn đầu tư Nhật Bản tại tỉnh Bình Dương

- Phương pháp suy diễn: từ nghiên cứu lý thuyết và các kết quả khảo sát sẽ đề ra các giải pháp để định hướng tiến tới sự hài hòa giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam với quốc tế về việc lập và trình bày BCLCTT

6 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

6.1 Đối tượng nghiên cứu

- Các chuẩn mực kế toán Việt Nam, chuẩn mực kế toán quốc tế có liên quan đến việc lập và trình bày BCLCTT như: IAS7, VAS 24, thông tư 200/2014/TT-BTC

- Thực trạng lập và trình bày báo cáo lưu chuyển tiền tệ của các doanh nghiệp có vốn đầu tư Nhật Bản đang hoạt động tại tỉnh Bình Dương

6.2 Phạm vi nghiên cứu

- Chuẩn mực kế toán quốc tế về việc lập và trình bày BCLCTT (IAS 7)

Trang 15

- Chuẩn mực kế toán Việt Nam ảnh hưởng trực tiếp đến việc lập và trình bày BCLCTT (VAS 24) và các văn bản hướng dẫn kế toán khác có liên quan (Thông tư 200/2014/TT-BTC)

- Các doanh nghiệp được nghiên cứu là các doanh nghiệp có vốn đầu tư Nhật Bản tại tỉnh Bình Dương như: Công Ty TNHH Isho Việt Nam, Công ty cổ phần Sun Steel, Công ty TNHH Sakata Inx Việt Nam, Công Ty TNHH Aoki Việt Nam,…

- Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng BCLCTT năm 2016 của các doanh nghiệp có vốn đầu tư Nhật Bản tại Việt Nam

7 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu

- Đánh giá thực trạng lập và trình bày BCLCTT tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư Nhật Bản tại Bình Dương hiện nay có phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế hay không

- Đề xuất một số giải pháp hướng các doanh nghiệp có vốn đầu tư Nhật Bản tại Bình Dương lập và trình bày BCLCTTtheo sự hài hòa giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam

và quốc tế Từ đó, nhà đầu tư Nhật Bản có thể hiểu được thông tin tài chính trên BCLCTT đã lập và thúc đẩy việc đầu tư vào Việt Nam nói chung và tỉnh Bình Dương nói riêng

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, mục lục, danh mục các chữ viết tắt, danh mục bảng, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý thuyết về việc lập và trình bày BCLCTT theo chuẩn mực kế

toán Việt Nam và quốc tế

Chương 2:Khảo sát thực trạng lập và trình bày BCLCTT của cácdoanh nghiệp Nhật

Bản đang hoạt động tại tỉnh Bình Dương

Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện BCLCTT theo hướng hòa hợp với chuẩn

mực kế toán quốc tế củacác doanh nghiệp Nhật Bản đang hoạt động tạiBình Dương

Trang 16

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ VIỆC LẬP VÀ TRÌNH BÀY BCLCTT

THEO CHUẨN MỰC KẾ TOÁN VIỆT NAM VÀ QUỐC TẾ

1.1 Tổng quan về BCLCTT theo chuẩn mực kế toán Việt Nam và quốc tế 1.1.1 Lược sử hình thành và phát triển của BCLCTT

Theo tinh thần của kế toán quốc tế, kế toán là hệ thống thông tin và kiểm tra dùng để

đo lường, phản ánh, xử lý và truyền đạt những thông tin tài chính về kết quả kinh doanh và các luồng tiền tạo ra của một đơn vị kinh tế Nhằm mục đích cung cấp thông tin về những thay đổi lịch sử trong tiền mặt và các khoản tương đương tiền của doanh nghiệp bằng các phương tiện của một báo cáo lưu chuyển tiền mặt mà phân loại luồng lưu chuyển tiền tệ trong kỳ báo cáo theo hoạt động kinh doanh, đầu

tư và tài chính để người sử dụng đánh giá về thay đổi tài sản ròng, cơ cấu tài chính doanh nghiệp, khả năng thanh toán và thanh khoản của doanh nghiệp, khả năng ảnh hưởng của doanh nghiệp tới lượng tiền và thời gian lưu chuyển tiền tệ, khả năng tạo

ra nguồn tiền, giá trị hiện tại của các dòng tiền trong tương lai của các doanh nghiệp khác nhau, Từ đó, các chuẩn mực kế toán về báo cáo lưu chuyển tiền tệ của các nước trên quốc tế lần lượt hình thành

Sự hình thành của chuẩn mực kế toán quốc tế về BCLCTT (IAS 7)

Tháng 6/1976, họ ban hành dự thảo công bố (E7) “ Báo cáo nguồn và sử dụng ngân quỹ” Vào tháng 10/1977, IAS 7 có tên là “ Báo cáo thay đổi tình hình tài chính” Báo cáo cho thấy những thay đổi về tình hình tài chính từ năm này qua năm khác để đánh giá tính thanh khoản và khả năng thanh toán một công ty, khả năng có thể tạo

ra tiền mặt nội bộ, khả năng có thể trả nợ hay tái đầu tư

Đến tháng 7 năm 1991 họ ban hành Dự thảo công bố (ED) 36 “ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ” Tháng 12 năm 1992, họ ban hành IAS 7 báo cáo lưu chuyển tiền tệ (Cash flow statement), hiệu lực cho tất cả các năm tài chính kết thúc vào hoặc sau ngày 1 tháng 1 năm 1994

Trang 17

IAS 7 xem luồng tiền là sự kết hợp tất cả các dòng tiền vào và ra của "tiền và các khoản tương đương tiền" và không loại trừ " tương đương tiền" như FRS 1 (sửa đổi 1996) "Các khoản tương đương tiền" theo theo SFAS số 95 bao gồm "các khoản đầu tư ngắn hạn, có tính thanh khoản" IAS 7 phân loại luồng tiền bằng cách sử dụng phương pháp của Mỹ: theo hoạt động kinh doanh, đầu tư và tài chính SFAS số

95 và IAS 7 có sự khác biệt quan trọng liên quan việc phân loại lãi vay và cổ tức IAS 7, đoạn 31, cho phép lãi và cổ tức được phân loại là hoạt động kinh doanh, đầu

tư hoặc tài chính, miễn là phương pháp được lựa chọn đã được áp dụng nhất quán Trong khi đó, SFAS số 95 chỉ cho phép phân loại tiền lãi nhận được, chi trả tiền lãi

và cổ tức nhận được là hoạt động kinh doanh, phân loại chi trả cổ tức như hoạt động tài chính

Tháng 9 năm 2007, IASB đổi tên IAS 7 "Báo cáo lưu chuyển tiền tệ" từ "Cash Flow Statements" sang "Statement of Cash Flows" Gần đây hơn, IASB sửa đổi IAS 7 yêu cầu việc công bố thông tin của chi phí vốn trong hoạt động đầu tư cho những nguồn tạo ra tài sản (IASB, 2010), văn bản này có hiệu lực từ năm tài chính kết thúc vào hoặc sau ngày 01 tháng 01 năm 2010

Sự hình thành của chuẩn mực kế toán Việt Nam về BCLCTT (VAS 24) và thông tư 200/2014/TT-BTC

Sự phát triển các hoạt động kinh tế và nhu cầu sử dụng thông tin kế toán, nó gắn liền với sự ra đời và phát triển của kế toán Sự phát triển của kế toán tại mỗi quốc gia phụ thuộc vào các điều kiện về chính trị, pháp luật, văn hóa và kinh tế Tuy nhiên, ngày nay,khoa học kế toán không còn giới hạn trong lãnh thổ của mỗi nước mà nó

có những biểu hiện có tính toàn cầu hóa.Sự bùng nổ mậu dịch quốc tế, việc hình thành các công ty đa quốc gia và sự dịch chuyển các dòng vốn trên thế giới đã nảy sinh nhu cầu thông tin phải có tính so sánh, đem lại sự thuận lợi cho các nhà đầu tư trong việc ra quyết định Những nguyên tắc và phương pháp kế toán chung hay các chuẩn mực kế toán đã ra đời trong bối cảnh đó và ngày càng được hoàn thiện, đáp ứng nhu cầu trong hệ thống quản lý ở các tổ chức, các đơn vị kinh tếngày càng cao

Trang 18

Bên cạnh đó, các văn bản quy phạm pháp luật về lập và trình bày BCTC ngày càng phát triển nhằm tối ưu hóa cung cấp thông tin hữu ích cho người sử dụng

Ngày 31/12/2002, Bộ tài chính ban hành quyết định 165/2002/QĐ-BTC ban hành 6 chuẩn mực, trong đó có chuẩn mực VAS 24 “ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ” Chuẩn mực này là cột mốc quan trọng trong sự phát triển BCLCTT ở Việt Nam Vào thời điểm này, các doanh nghiệp đã được hướng dẫn chi tiết, rõ ràng, cụ thể, nhất quán

về việc lập và trình bày BCTC

Ngày 20/3/2006, Bộ tài chính ra quyết định 15/2006/QĐ-BTC, áp dụng cho các doanh nghiệp quy mô lớn.Trong quyết định, bộ báo cáo tài chính có bao gồm BCLCTT là báo cáo bắt buộc mà doanh nghiệp phải lập và nộp cho cơ quan nhà nước

Ngày 31/12/2007, Bộ tài chính ra thông tư 161/2007/TT-BTC, trong thông tư có hướng dẫn việc thực hiện chuẩn mực VAS 24

Và gần đây nhất, ngày 22/12/2014, Bộ tài chính ban hành thông tư BTC hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp Theo điều 114 của thông tư có hướng dẫn lập và trình bày BCLCTT Đồng thời, Bộ tài chính còn ban han hành thông tư 202/2014/TT-BTC hướng dẫn phương pháp lập và trình bày báo cáo tài chính hợp nhất Đến hiện nay, Bộ tài chính vẫn chưa ban hành thêm văn bản quy phạm pháp luật nào liên quan đến BCLCTT và BCLCTT hợp nhất

200/2014/TT-1.1.2 Bản chất và ý nghĩa của BCLCTT

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là một bộ phận hợp thành của báo cáo tài chính, phản ánh việc hình thành và sử dụng lượng tiền theo các hoạt động khác nhau trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp Báo cáo bổ sung tình hình tài chính củadoanh nghiệp mà bảng cân đối và báo cáo kinh doanh chưa phản ánh hết được

Tiền của doanh nghiệp là một yếu tố quan trọng Ở một thời điểm nhất định tiền chỉ phản ánh và có ý nghĩa như hình thái biểu hiện của tài sản ngắn hạn, có tính thanh khoản cao, nhưng trong quá trình kinh doanh tiền được xem là hình ảnh trung tâm

Trang 19

của hoạt động kinh doanh BCLCTT cung cấp thông tin cho người sử dụng đánh giá được các vấn đề sau:

- Đánh giá khả năng của doanh nghiệp trong việc tạo ra luồng tiền trong quá trình hoạt động

- Khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền, cũng như sự thay đổi trong cơ cấu tài sản thầu, cơ cấu tài chính

- Đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp: trả nợ, trả lãi vay, thanh toán từ việc chia lãi cho chủ góp vốn

- Đánh giá khả năng đầu tư phát triển doanh nghiệp

- BCLCTT làm tăng khả năng đánh giátình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp một cách khách quan hơn Đồng thời, BCLCTT còn làm tăng khả năng so sánh giữa các doanh nghiệp Bởi vì, nó loại trừ được các ảnh hưởng của việc sử dụng các phương pháp kế toán khác nhau cho cùng giao dịch và hiện tượng

- BCLCTT là công cụ để lập dự toán tiền,dự đoán được khả năng về số lượng, thời gian và độ tin cậy của các luồng tiền trong tương lai

1.1.3 Nội dung cơ bản chuẩn mực kế toán Việt Nam số 24, thông tư 200 và chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 7

1.1.3.1 Nội dung cơ bản chuẩn mực kế toán Việt Nam số 24

Trình bày báo cáo lưu chuyển tiền tệ

Trên BCLCTT doanh nghiệp trình bày các luồng tiền trong kỳ theo 3 loại hoạt động: kinh doanh,đầu tư và tài chính Doanh nghiệp được trình bày các luồng tiền từ các hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính theo cách thức phù hợp nhất với đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp Việc phân loại và báo cáo luồng tiền theo các hoạt động sẽ cung cấp thông tin cho người sử dụng đánh giá được ảnh hưởng của các hoạt động đó đối với tình hình tài chính,với lượng tiền và các khoản tương đương tiền tạo ra trong kỳ của doanh nghiệp Thông tin này cũng được dùng để đánh giá các mối quan hệ giữa 3 hoạt động kinh doanh, đầu tư và tài

Trang 20

chính Một giao dịch có thể liên quan đến các luồng tiền ở nhiều loại hoạt động khác nhau

Luồng tiền từ hoạt động kinh doanh

Luồng tiền từ hoạt động kinh doanh là luồng tiền có liên quan đến các hoạt động tạo

ra doanh thu chủ yếu của doanh nghiệp, liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ kể cả luồng tiền liên quan đến chứng khoán nắm giữ vì mục đích kinh doanh, nó cung cấp thông tin cơ bản để đánh giá khả năng tạo tiền của doanh nghiệp từ các hoạt động kinh doanh để trang trải cho các khoản nợ, duy trì các hoạt động, trả cổ tức và tiến hành các hoạt động đầu tư mới mà không cần đến các nguồn tài chính bên ngoài Khi được sử dụng kết hợp với các thông tin khác với thông tin

về các luồng tiền từ hoạt động kinh doanh, sẽ giúp người sử dụng dự đoán được luồng tiền từ hoạt động kinh doanh trong tương lai

Luồng tiền từ hoạt động đầu tư

Luồng tiền từ hoạt động đầu tư là luồng tiềnliên quan đến việc mua sắm, xây dựng, nhượng bán, thanh lý tài sản dài hạn và các khoản đầu tư khác không thuộc các khoản tương đương tiền

Luồng tiền từ hoạt động tài chính

Luồng tiền có liên quan đến việc thay đổi về quy mô và kết cấu vốn chủ sở hữu và vốn vay của doanh nghiệp được xem đó là luồng tiền phát sinh từ hoạt động tài chính

Phương pháp lập BCLCTT được hướng dẫn cho các giao dịch phổ biến nhất Từ đó, căn cứ vào bản chất từng giao dịch doanh nghiệp sẽ trình bày các luồng tiền một cách phù hợp.Theo VAS 24 có hai phương pháp lập BCLCTT: phương pháp trực tiếp và phương pháp gián tiếp Hai phương pháp này cơ bản chỉ dùng để xác định lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh, còn lưu chuyển tiền hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính chỉ sử dụng một phương pháp trực tiếp

+ Theo phương pháp trực tiếp: Các luồng tiền vào và luồng tiền ra trong doanh nghiệp được xác định và trình bày trong BCLCTT theo ba hoạt động kinh doanh,

Trang 21

đầu tư, tài chính bằng cách phân tích và tổng hợp trực tiếp các khoản tiền thu vào và chi ra theo từng nội dung thu, chi từ các sổ kế toán tổng hợp và chi tiết của doanh nghiệp như sổ kế toán theo dõi vốn bằng tiền, sổ kế toán chi tiết các khoản đầu tư,

sổ kế toán các khoản phải thu, phải trả, báo cáo lưu chuyển tiền tệ kỳ trước,…

+ Theo phương pháp gián tiếp:

Bản chất của phương pháp gián tiếp giải thích tại sao dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh khác với kết quả hoạt động thực hiện trong kỳ

1.1.3.2 Nội dung cơ bản của thông tư 200/2014/TT-BTC liên quan đến BCLCTT

Ngày 22/12/2014, Bộ tài chính ban hành Thông tư số 200/2014/TT-BTC hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp thay thế cho chế độ kế toán theo quyết định số 15/2006/QĐ-BTC, thông tư số 244/2009/TT-BTC Trong thông tư này có một số điểm khác biệt so với VAS 24 về lập và trình bày BCLCTT như sau:

- Quy định các nguyên tắc lập và trình bày Báo cáo tài chính trong các trường hợp như: thay đổi kỳ kế toán, chuyển đổi hình thức sở hữu doanh nghiệp (chuyển đổi loại hình doanh nghiệp), chia tách hay sáp nhập doanh nghiệp, giả định hoạt động liên tục không được đáp ứng và khi thay đổi đồng tiền hạch toán trong kế toán

Thay đổi kỳ kế toán Số liệu được lấy kể từ thời điểm thay

đổi kỳ kế toán đến cuối kỳ báo cáo đầu tiên

Số liệu của 12 tháng trước được trình bày tương đương với kỳ kế toán năm hiện tại

Khi chuyển đổi loại

Trang 22

Khi thay đổi đồng

tiền hạch toán trong

kế toán

BCLCTT của kỳ có sự thay đổi sẽ áp dụng tỷ giá chuyển khoản bình quân của kỳ trước liền kề với kỳ thay đổi (trong trường hợp tỷ giá bình quân xấp xỉ tỷ giá thực tế)

- Thông tư cũng quy định về việc sử dụng đồng tiền để lập Báo cáo tài chính khi công bố ra công chúng và nộp các cơ quan quản lý Nhà nước tại Việt Nam như: Cơ quan Thuế, Sở Tài Chính, Cục Thống kê,…

+ Đơn vị tiền tệ dùng để niêm yết giá bán và được thành toán thường sử dụng chủ yếu trong các giao dịch bán hàng, cung cấp dịch vụ của đơn vị, có ảnh hưởng lớn đến giá bán hàng hoá và cung cấp dịch

+ Thông thường, đơn vị tiền tệ dùng để thanh toán cho các chi phí được sử dụng chủ yếu trong việc mua hàng hóa, dịch vụ, có ảnh hưởng lớn đến chi phí nhân công, nguyên vật liệu và các chi phí sản xuất, kinh doanh khác

+ Đơn vị tiền tệ trong ghi sổ có thể không phải là Việt Nam Đồng Nhưng Báo cáo tài chính được sử dụng để công bố ra công chúng và nộp các cơ quan quản lý Nhà nước tại Việt Nam phải được trình bày bằng Đồng Việt Nam

+ Đối với các doanh nghiệp lập Báo cáo tài chính bằng đồng ngoại tệ thì phải chuyển đổi Báo cáo tài chính ra Đồng Việt Nam khi công bố ra công chúng và nộp các cơ quan chức năng Nhà nước tại Việt Nam

- Phân loại luồng tiền: theo VAS 24, ghi nhận số tiền trả lãi vay trong kỳ thuộc luồng tiền từ hoạt động tài chính Còn Thông tư 200 quy định số tiền lãi vay đã trả trong kỳ được vốn hóa vào giá trị các tài sản dở dang được phân loại là luồng tiền từ hoạt động đầu tư

- Phương pháp lập:

+ Luồng tiền từ hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính được lập theo phương pháp trực tiếp (là các luồng tiền vào, ra trong kỳ từ hoạt động đầu tư được xác định bằng cách phân tích và tổng hợp trực tiếp các khoản tiền thu vào và chi ra theo từng nội

Trang 23

dung thu, chi từ các ghi chép kế toán của doanh nghiệp) hoặc trực tiếp có điều chỉnh (là các luồng tiền vào và ra trong kỳ được xác định bằng số chênh lệch giữa số dư cuối kỳ và số dư đầu kỳ của các khoản mục trên Bảng cân đối kế toán có liên quan sau đó điều chỉnh cho ảnh hưởng của các khoản mục phi tiền tệ)

1.1.3.3 Nội dung cơ bản chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 7

Những khái niệm cơ bản:

Việc phân biệt các thuật ngữ tiền, tương đương tiền và phi tiền tệ rất quan trọng vì giúp người sử dụng hiểu hơn về dòng tiền của doanh nghiệp

Tiền: bao gồm tiền mặt đang nắm giữ và tiền gửi

Các khoản tương đương tiền: là các khoản đầu tư ngắn hạn, có tính thanh khoản cao,

có khả năng chuyển đổi thành tiền mặt để đáp ứng các cam kết chi tiền ngắn hạn hơn là cho việc đầu tư hoặc các mục đích khác Vì vậy, một khoản đầu tư bình thường mà đủ điều kiện gọi là tương đương tiền chỉ khi nó có kỳ hạn ngắn, ba tháng hoặc ít hơn từ ngày mua.Thấu chi ngân hàng thường được xem là hoạt động tài chính tương tự như vay Tuy nhiên, nếu chúng được hoàn trả theo yêu cầu và được chứng minh là một phần không thể thiếu trong quản lý tiền mặt của một doanh nghiệp, thấu chi ngân hàng là một bộ phận của tiền và các khoản tương đương tiền

Dòng tiền vào và ra trong BCLCTT:

Báo cáo về các dòng lưu chuyển tiền tệ trình bày các dòng tiền theo từng hoạt động: hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính (IAS 7, đoạn 10) Doanh nghiệp trình bày dòng tiền của các giao dịch tủy theo đặc điểm của chúng trong từng hoạt động Việc phân loại giúp người sử dụng báo cáo tài chính đánh giá được ảnh hưởng của các giao dịch đến tình hình tài chính và các dòng tiền vào ra của doanh nghiệp.Một giao dịch xảy ra có thể có ảnh hưởng đến dòng tiền của nhiều hoạt động khác nhau.Những thông tin chi tiết về những khoản mục cụ thể của các dòng tiền sẽ giúp cho người sử dụng báo cáo tài chính đánh giá và dự đoán về sự biến động của các dòng tiền trong tương lai

Trang 24

Phương pháp lập và trình bày BCLCTT:

Phương pháp trực tiếp được lập dựa trên nguyên tắc cơ sở tiền.Phương pháp trực tiếp cho thấy các khoản mục ảnh hưởng đến luồng tiền và các tác động của luồng tiền Các dòng tiền thu vào và các dòng tiền chi ra và nguồn gốc cụ thể của nó (chẳng hạn như khách hàng và các nhà cung cấp) được thể hiện ra sao Theo IAS 7, các đơn vị kinh doanh được khuyến khích lập BCLCTT theo phương pháp trực tiếp Bởi vì lập và trình bày BCLCTT theo phương pháp trực tiếp có một lợi thế quan trọng là nó cho phép người sử dụng báo cáo tài chính hiểu một cách dễ dàng hơn mối quan hệ giữa lợi nhuận (lỗ) và dòng tiền của đơn vị, bên cạnh đó nó giúp dự đoán được dòng tiền tương lai

Phương pháp gián tiếp được lập dựa trên cơ sở dồn tích Phương pháp này được sử dụng để xác định dòng tiền từ hoạt động kinh doanh - bắt đầu từ sự khác biệt giữa lợi nhuận (lỗ) và dòng tiền Mặc dù phương pháp gián tiếp được sử dụng nhiều hơn trong thực tế, tuy nhiên phương pháp này có một bất lợi, đó là gây khó khăn cho người sử dụng BCTC để hiểu được thông tin trình bày vì thông tin này không phản ánh một cách hiệu quả dòng tiền thu vào và dòng tiền chi ra của tiền và các khoản tương đương tiền Là phương pháp sử dụng lợi nhuận trước thuế (hoặc lỗ) trong năm (chênh lệch giữa doanh thu và chi phí) điều chỉnh:liên quan đến thu nhập và chi phí (được bao gồm lợi nhuận / lỗ trong năm) mà không phải là một phần của hoạt động kinh doanh, do thay đổi cơ cấu vốn luân chuyển (thay đổi trong hàng tồn kho, khoản phải thu, khoản phải trả, chi phí trả trước, trích trước, …) Trong phương pháp gián tiếp, lợi nhuận ròng từ BCKQHĐKD được sử dụng để tính toán dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh Kể từ khi BCKQHĐKD được trình bày trên cơ sở dồn tích, trong đó doanh thu được ghi nhận khi phát sinh chứ không phải khi thực tế thu được, do đó lợi nhuận ròng không đại diện cho dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh và điều đó dẫn đến sự cần thiết để điều chỉnh lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT) cho những khoản mục mà có ảnh hưởng lợi nhuận ròng mặc dù không thực

sự đã chi hoặc nhận tiền

Trang 25

1.1.4 Mối quan hệ giữa BCLCTT và các BCTC khác:

1.1.4.1 Mối quan hệ giữa BCLCTT và BCĐKT:

Số liệu trong BCLCTT có nguồn gốc từ những thay đổi trong BCĐKT trong năm của doanh nghiệp Những sự thay đổi của các tài khoản trong bảng cân đối kế toán

là những nền tảng cơ bản để chuẩn bị một BCLCTT Những thay đổi về tài sản, nợ

và vốn chủ sở hữu là những số liệu báo cáo trong BCLCTT, hoặc những thay đổi được sử dụng để xác định tổng dòng tiền (như trong trường hợp của sự thay đổi trong lợi nhuận giữ lại, được chia thành: thu nhập thuần và cổ tức)

Khi trình bày dòng tiền từ hoạt động kinh doanh, lợi nhuận ròng được trình bày đầu tiên, sau đó sẽ thực hiện một số điều chỉnh lợi nhuận ròng để xác định tổng cộng dòng tiền từ hoạt động kinh doanh.Các tài sản và nợ phải trả bao gồm là một phần của các hoạt động kinh doanh có lãi của một doanh nghiệp

Chẳng hạn như, các tài khoản tài sản phải thu được tăng lên (ghi Nợ) khi bán chịu cho khách hàng Các tài khoản tài sản hàng tồn kho bị giảm (ghi Có) khi ghi nhận giá vốn hàng bán Các tài khoản tài khoản phải trả tăng (ghi Có) khi ghi nhận chi phí chưa thanh toán Các quy tắc để điều chỉnh dòng tiền đến lợi nhuận ròng là:

+ Tăng tài sản trong kỳ làm giảm dòng tiền từ lợi nhuận

+ Giảm nợ trong kỳ làm giảm dòng tiền từ lợi nhuận

+ Giảm tài sản trong kỳ làm tăng dòng tiền từ lợi nhuận

+ Tăng nợ trong kỳ làm tăng dòng tiền từ lợi nhuận

1.1.4.2 Mối quan hệ giữa BCLCTT và BCKQHĐKD:

BCKQHĐKD là báo cáo phản ánh tình hình và kết quả hoạt động của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo.BCLCTT là báo cáo phản ánh các dòng tiền thu vào và chi ra của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo

BCKQHDDKD và BCLCTT là hai báo cáo tài chính bắt buộc của doanh nghiệp theo quy định chế độ kế toán hiện hành Các thông tin trên BCKQHĐKD và BCLCTT bổ sung cho nhau, giúp người sử dụng nhìn nhận toàn diện hơn về tình hình tài chính và kết quả hoạt động của doanh nghiệp

Trang 26

Ta cần phân biệt được hai phương pháp kế toán sau đây thì mối quan hệ giữa BCLCTT và BCKQHĐKD sẽ được hiểu rõ hơn

- Thứ nhất, phương pháp kế toán trên cơ sở tiền: trong giai đoạn đầu của lịch sử kế toánphương pháp này phổ biến, để biết được kết quả hoạt động trong một kỳ báo cáo,

ta lấy tổng số tiền thực thu được trong kỳ trừ đi tổng số tiền thực chi ra trong kỳ đó Phương pháp này đơn giản, dễ tính toán và cho chúng ta biết rằng hoạt động kinh doanh chính là bỏ tiền ra để kinh doanh trong lĩnh vực nào đó với kỳ vọng thu về nhiều tiền hơn Tuy nhiên, phương pháp này chỉ cho kết quả chính xác khi đáp ứng được các giả định dưới đây:

+ Tất cả các vật tư hàng hóa dịch vụ mua vào và bán ra đều thanh toán ngay trong cùng kỳ, điều này đồng nghĩa với việc trong kỳ không có mua chịu bán chịu

+Tất cả các thu nhập chi phí của kỳ nào đều được thực hiện ngay trong kỳ đó Có thể hiểu phương pháp kế toán trên cơ sở tiền giả định rằng:

Tổng thu nhập của một kỳ = Tổng tiền thực thu trong kỳ

Tổng chi phí của một kỳ = Tổng tiền thực chi trong kỳ

Như vậy, BCLCTT chính là báo cáo phản ánh kết quả hoạt động của doanh nghiệp theo phương pháp kế toán trên cơ sở tiền

- Thứ hai, phương pháp kế toán dồn tích: là phương pháp kế toán ra đời sau phương pháp kế toán trên cơ sở tiền, được sử dụng phổ biến trong các chuẩn mực kế toán quốc tế và Việt Nam hiện hành Nguyên tắc phù hợp của kết toán chính là cơ sở của phương pháp kế toán dồn tích Để biết được kết quả hoạt động kinh doanh trong kỳ,

ta lấy thu nhập thực hiện trong kỳ trừ đi cho chi phí tạo ra (tương ứng với) thu nhập

đó

Theo đó, việc xác định thu nhập thực hiện trong kỳ không dựa vào việc thực thu mà chỉ cần có xác nhận đồng ý mua (tức chấp nhận thanh toán)của người mua (giá trị sản phẩm hàng hóa dịch vụ đã được xã hội thừa nhận – thông qua người mua) là kế toán đã ghi nhận thu nhập Sau đó, kế toán sẽ xác định tiếp các chi phí tạo ra thu nhập đó hay nói cách khác là chi phí tương ứng với thu nhập đó Điều đó chứng mình rằng, không phải tất cả các khoản tiền chi ra trong kỳ đều được tính vào chi

Trang 27

phí và tham gia vào tính kết quả kinh doanh trong kỳ mà chỉ có các khoản chi phí đã hoàn thành và đã được xã hội thừa nhận (phần đã được tính vào giá vốn hàng bán) Phương pháp kế toán dồn tích gắn kết quả hoạt động kinh doanh với các nỗ lực và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo

Như vậy, BCKQHĐKD phản ánh kết quả hoạt động trên cơ sở đối chiếu thu nhập với chi phí liên quan tới thu nhập đó theo phương pháp kế toán dồn tích Sự tách rời giữa thực thu và thu nhập, thực chi và chi phí của phương pháp dồn tích trong một

số trường hợp có thể dẫn đến đánh giá sai các cơ hội hay nguy cơ của doanh nghiệp BCLCTT sẽ giúp phát hiện ra các cơ hội hay nguy cơ đó

Ví dụ: Khi doanh nghiệp bán chịu hàng hóa cho khách hàng (chưa thực thu tiền) thì theo phương pháp kế toán dồn tích vẫn được ghi nhận doanh thu trong kỳ và doanh nghiệp sẽ ghi nhận một khoản lãi từ việc bán hàng này trên BCKQHĐKD Nếu như khách hàng trở mặt không chịu thanh toán khoản tiền hàng đó, đồng nghĩa với việc doanh nghiệp không thu được tiền từ khách hàng thì khoản lãi đã ghi nhận trên BCKQHĐKD sẽ là “ảo” Sự ghi nhận “ảo” đó sẽ được phát hiện khi thấy chỉ tiêu tiền thu bán hàng ở BCLCTTkhông tương xứng với doanh thu ở BCKQHĐKD hoặc kết quả âm của chỉ tiêu Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh trong BCLCTT Như vậy, mối quan hệ giữa hai BCLCTT và BCKQHĐKD được phản ảnh qua mối quan hệ giữa phương pháp kế toán trên cơ sở tiền và phương pháp kế toán dồn tích Bằng việc phản ánh kết quả kinh doanh theo cả hai phương pháp kế toán, sự nhìn nhận, đánh giá kết quả hoạt động tất yếu sẽ toàn diện hơn Thật ra, nếu tính cho cả đời hoạt động của doanh nghiệp thì sẽ không có sự khác biệt giữa hai phương pháp

kế toán trên Tuy nhiên, do doanh nghiệp sẽ còn tiếp tục hoạt động chưa biết đến bao giờ mới ngừng nên kế toán chỉ có thể phản ánh kết quả hoạt độngtheo từng kỳ nhất định (tháng, quý, năm) và xét theo từng kỳ sẽ có sự khác biệt giữa hai phương pháp kế toán trên

1.1.4.3 Mối quan hệ giữa BCLCTT và thuyết minh BCTC:

Trên thực tế, có một số giao dịch không trực tiếp sử dụng tiền hay các khoản tương đương tiền nên chúng không được trình bày trong BCLCTT.Các giao dịch này tuy

Trang 28

có ảnh hưởng tới kết cấu tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp nhưng không ảnh hưởng trực tiếp tới luồng tiền hiện tại.Lúc này, các giao dịch đó sẽ không trình bày trên BCLCTT mà sẽ được trình bày trên thuyết minh BCTC Bản thuyết minh sẽ làm rõ cho người sử dụng các thông tin về doanh nghiệp như: mua tài sản bằng cách nhận các khoản nợ liên quan trực tiếp hoặc cho thuê tài chính; mua một doanh nghiệp thông qua phát hànhcổ phiếu; chuyển nợ thành vốn chủ sở hữu Bên cạnh đó, thuyết minh BCTC còn có tác dụng giải thích các khoản tiền và tương đương tiền lớn do doanh nghiệp nắm giữ nhưng không được sử dụng do có sự hạn chế của pháp luật hoặc các ràng buộc khác mà doanh nghiệp phải thực hiện Những thông tin này nếu trình bày trên BCLCTT sẽ tăng mức độ phức tạp và khó khăn cho người sử dụng Thông qua bảng thuyết minh, nó vừa đảm bảo cung cấp thông tin, vừa tránh

được những phiền toái cho người sử dụng khi đọc BCLCTT

1.2.Sự khác biệt giữa BCLCTT theo IFRS và theo chuẩn mực Việt Nam:

BẢNG 1.1: Một vài điểm khác biệt giữa BCLCTT theo IFRS và VAS

1 Phân loại các luồng tiền

Thông thường không bao gồm các khoản

đầu tư vốn này là các khoản tương

đương tiền.Bao gồm các khoản thấu chi

nếu các khoản thấu chi này là một bộ

phận không thể tách rời của chính sách

quản lý tiền của doanh nghiệp

Có hướng dẫn chi tiết về việc phân loại các

Trang 29

và đã trả có thể được phân loại là luồng

tiền từ hoạt động kinh doanh, đầu tư

hoặc tài chính nếu chúng nhất quán với

việc phân loại từ kỳ kế toán trước

khoản tiền lãi và cổ tức thu được và đã trả cho các ngân hàng, tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính, và các tổ chức phi tín dụng, phi tài chính

 Trong IAS 7, các khoản thấu chi được trình bày trong khoản mục tiền cho mục đích trình bày BCLCTT Vì VAS 24 không đề cập đến vấn đề này nên các doanh nghiệp có vốn đầu tư Nhật Bản tại Việt Nam cần trình bày các khoản thấu chi như IAS 7 hướng dẫn Tránh việc phân vân không biết đưa các khoản thấu chi vào khoản mục nào trên BCLCTT IAS 7 có điểm hạn chế là không hướng dẫn chi tiết về phân loại luồng tiền

từ hoạt động kinh doanh cho các ngân hàng, tổ chức tài chính, tổ chức tín dụng và các công ty bảo hiểm Vậy các tổ chức đó phân loại luồng tiền từ hoạt động kinh doanh như thế nào? Không có một cơ sở, quy tắc chung để so sánh các luồng tiền từ hoạt động kinh doanh giữa các tổ chức đó

2 Các luồng tiền liên quan đến ngoại tệ

Các luồng tiền phát sinh từ các giao

dịch bằng ngoại tệ phải được ghi chép

theo đồng tiền chức năng của thực thể

kinh doanh theo tỷ giá hối đoái giữa đồng

tiền chức năng và đồng tiền ngoại tệ

tại thời điểm phát sinh giao dịch

Luồng tiền của công ty con ở nước

ngoài phải chuyển sang tỷ giá hối đoái

giữa đồng tiền chức năng và đồng tiền

ngoại tệ tại thời điểm phát sinh giao dịch

Các luồng tiền phát sinh từ các giao dịch bằng ngoại tệ phải được quy đổi ra đồng tiền ghi sổ kế toán theo tỷ giá hối đoái tại thời điểm phát sinh giao dịch đó

BCLCTT của các tổ chức hoạt động ở nước ngoài phải được quy đổi ra đồng tiền ghi sổ

kế toán của công ty mẹ tỷ giá thực tế tại ngày lập BCLCTT

Trang 30

Các luồng tiền liên quan đến ngoại tệ được

nêu rõ trong chuẩn mực IAS 21 "Ảnh

hưởng của những thay đổi trong tỷ giá hối

đoái", IAS 21 không cho sử dụng tỷ giá

hối đoái vào cuối kỳ báo cáo khi quy

đổi tỷ giá luồng tiền từ công ty con

Lãi và lỗ chưa thực hiện phát sinh từ những

thay đổi trong tỷ giá hối đoái không phải là

lưu chuyển tiền tệ, tuy nhiên ảnh hưởng

của tỷ giá hối đoái trên tiền và các khoảng

tương đương tiền trong ngoại tệ trong

BCLCTT nhằm dung hòa tiền và các

khoản tương đương tiền vào đầu và

cuối kỳ Số tiền này được trình bày từ

luồng tiền hoạt đông kinh doanh, đầu tư,

và tài chính và các hoạt động khác (nếu

có), những luồng tiền đó được báo cáo

vào tỷ giá hối đoái cuối kỳ

Không tham chiếu cho người sử dụng VAS 10"Ảnh hưởng của của việc thay đổi tỷ giá hối đoái", VAS 10 quy định tài sản và nợ phải trả của cơ sở ở nước ngoài được chuyển đổi theo tỷ giá cuối kỳ như quy định

Trang 31

Lãi vay đã trả thì thường phân loại là

dòng tiền từ hoạt động kinh doanh nếu

đóng góp trực tiếp vào kết quả hoạt

động kinh doanh Nó cũng có thể được

phân loại là dòng tiền từ hoạt động đầu

tư (nếu kết quả của các khoản đầu tư)

và tài chính

Tiền thu lãi cho vay, cổ tức được chia

thường được phân loại là hoạt động

kinh doanh Nó cũng có thể được phân

loại là hoạt động đầu tư và tài chính

Cổ tức đã trả có thể phân loại là hoạt

động đầu tư hoăc tài chính

Luồng tiền liên quan đến tiền lãi vay đã trả được phân loại là luồng tiền từ hoạt động kinh doanh

Luồng tiền liên quan đến tiền lãi cho vay, cổ tức

và lợi nhuận thu đượcphân loại là luồng tiền từ hoạt động đầu tư

Theo quy định của chuẩn mực, các luồng tiền liên quan đến cổ tức và lợi nhuận đã trả được phân loại là luồng tiền từ hoạt động tài chính

 Việc phân loại tiền lãi vay, cổ tức đã nhận và tiền chi trả lãi vay theo IAS 7 cho thấy sự linh hoạt, phản ánh đúng bản chất dòng tiền từ hoạt động nào của doanh nghiệp

4 Các luồng tiền liên quan đến thuế thu nhập doanh nghiệp

Được phân loại là dòng tiền từ hoạt

động kinh doanh, ngoại trừ trường hợp

xác định cụ thể là liên quan trực tiếp

đến hoạt động đầu tư hoặc hoạt động

tài chính

Được phân loại là luồng tiền từ hoạt động kinh doanh , trừ trường hợp được xác định là luồng tiền từ hoạt động đầu tư

 VAS 24 chỉ nói tiền phát sinh từ thuế thu nhập doanh nghiệp cần trình bày là luồng tiền kinh doanh hoặc đầu tư, không đề cập đến hoạt động tài chính Nhưng trong hoạt động của doanh nghiệp thì hoạt động tài chính cũng thường xuyên xảy ra VAS 24 chưa phản ánh đúng về tiền thuế thu nhập doanh nghiệp phát sinh trong hoạt động tài chính

Trang 32

5 Các luồng tiền liên quan đến các công ty con

Không đề cập phân loại luồng tiền

Sử dụng phương pháp giá gốc hoặc

6 Các luồng tiền liên quan đến các công ty liên doanh, liên kết

Sử dụng phương pháp giá gốc hoặc

phương pháp vốn chủ sở hữu

VAS 24 không đề cập, còn theo VAS 7 có đề cập: Trong BCTC của riêng nhà đầu tư, khoản đầu tư vào công ty liên kết được kế toán theo phương pháp giá gốc, trong BCTC hợp nhất của nhà đầu tư, khoản đầu tư vào công ty liên kết được kế toán theo phương pháp vốn chủ sở hữu trừ một số trường hợp ngoại lệ

 IAS 7 hướng dẫn cụ thể, rõ ràng phương pháp sử dụng các luồng tiền liên quan đến các công ty liên doanh, liên kết

7 Cách lấy số liệu để lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ

Việc lập BCTC chỉ căn cứ thuần túy

các số liệu trên bảng cân đối kế toán số

đầu kỳ và cuối kỳ, báo cáo kết quả (và

có thể có them một vài thông tin từ sổ

cái) sau đó làm các động tác điều chỉnh

là sẽ ra các chỉ tiêu trên BCLCTT

Lấy số liệu từ sổ quỹ tiền mặt và sổ cái tiền gửi ngân hàng tương ứng với tài khoản đối ứng Đối với công ty thực hiện kế tóan bằng tay, việc lập BCLCTT theo VAS hướng dẫn

sẽ rất khó khăn hoặc những công ty sử dụng phần mềm quốc tế mà ở đó không có quan hệ đối ứng 1:1 tức là họ có thể ghi nhiều Nợ đối

Trang 33

ứng với nhiều Có, thì việc này hoàn toàn không thể làm được vì trong sổ cái tài khoản không có tài khoản đối ứng

 Theo IAS 7, việc lấy số liệu để lập BCLCTT dễ dàng, nhanh chóng hơn VAS 24

8 Khi lập BCLCTT theo phương pháp gián tiếp, lấy lợi nhuận trước thuế điều chỉnh cho các khoản:

Lợi ích của cổ đông không kiểm soátLợi

ích chưa phân phối từ liên doanhThuế

thu nhập doanh nghiệp hoãn lại

Dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh

có thể trình bày theo phương pháp gián

tiếp bởi doanh thu và chi phí được công

bố trong báo cáo kết quả hoạt động kinh

doanh và những thay đổi trong hàng tồn

kho và các khoản phải thu, phải trả của

hoạt động kinh doanh trong kỳ

Không đề cập Lãi lỗ từ hoạt động đầu tư

Trang 34

Tham chiếu đến IAS 1:"Trình bày

BCTC", một đơn vị kinh doanh phải

công bố chính sách mà nó chọn để xác

định các khoản mục về tiền và các

khoản tương đương tiền

Minh họa ảnh hưởng thay đổi của

kế toán Không tham chiếu cho người đọc VAS 29: "Thay đổi chính sách kế toán, ước tính kế toán và các sai sót"

 Khi vận dụng IAS 7 doanh nghiệp sẽ thuận lợi hơn khi sử dụng VAS 24 Vì IAS 7 có tham chiếu và minh họa đến những nghiệp vụ có liên quan đến các chuẩn mực khác Các thuyết minh khác

Trang 35

Minh họa những thông tin bổ sung có

liên quan có thể hữu ích cho người sử

dụng hiểu được tình trạng tài chính và

tính thanh khoản của đơn vị kinh doanh

Những thông tin này mang tính khuyến

khích chứ không bắt buộc

Đề cập đến việc công bố riêng biệt về

các luồng tiền tăng khả năng hoạt động

và các luồng tiền duy trì khả năng hoạt

động sẽ giúp ích cho người đọc có thể

xác định xem doanh nghiệp này có được

đầu tư đầy đủ để duy trì khả năng hoạt

động liên tục của nó hay không Nhấn

mạnh việc doanh nghiệp không được

đầu tư đảm bảo cho duy trì hoạt động

trong tương lai có thể phương hại đến lợi

ích vốn chủ sở hữu

Đề cập việc báo cáo bộ phận luồng tiền

sẽ giúp người đọc hiểu biết hơn về mối

quan hệ giữa các luồng tiền nói chung và

các bộ phận của nó, đồng thời nắm

bắt được hiệu quả và sự đa dạng của các

bộ phận của luồng tiền

Trang 36

Kết luận chương 1

Trong chương 1, người viết tóm tắt về chuẩn mực VAS 24 “Báo cáo lưu chuyển tiền tệ” và một số khác biệt với thông tư 200/2014/TT-BTC Đồng thời, khái quát lịch sử hình thành và phát triển của chuẩn mực BCLCTT, những nội dung cơ bản của BCLCTT theo chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 7 BCLCTT có vai trò và ý nghĩa quan trọng trong doanh nghiệp và nó có mối quan hệ mật thiết với các BCTC khác Nếu các đối tượng sử dụng hiểu và phân tích được những thông tin hữu ích trên BCLCTT thì sẽ có ích rất nhiều cho họ

Sau đó người viết đưa ra bảng so sánh giữa chuẩn mực Việt Nam và quốc tế Nhìn chung, khác biệt chủ yếu của VAS và IFRS về chuẩn mực BCLCTT là VAS hướng dẫn chi tiết việc thực hiện phân loại các khoản mục của BCLCTT, điều này tuy có

ưu điểm là có sự thống nhất giữa các doanh nghiệp trong nước nhưng vẫn vấn đề tồn tại của nó là thiếu đi sự linh hoạt như IFRS

Trang 37

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG LẬP VÀ TRÌNH BÀY BCLCTT CỦA DOANH NGHIỆP NHẬT BẢN ĐANG HOẠT ĐỘNG TẠI TỈNH BÌNH DƯƠNG 2.1 Thực trạng lập BCLCTT của doanh nghiệp Nhật Bản tại Nhật Bản

2.1.1 Sơ lược về sự phát triển BCLCTT tại Nhật Bản

Nhật Bản là một quốc gia có một hệ thống kế toán lâu đời, các chuẩn mực kế toán cho các doanh nghiệp kinh doanh được ban hành vào năm 1949 bởi Viện Kế toán công chứng Nhật Bản (JICPA), nó có những nét nổi bật riêng JICPA tham gia tích cực vào quá trình hài hòa các chuẩn mực kế toán quốc tế và là một trong chín thành viên sáng lập IASC Tuy nhiên, chuẩn mực kế toán cho việc lập và trình bày báo cáo lưu chuyển tiền tệ mới được ban hành vào năm 1998 Trước đây, chỉ có báo cáo dòng tiền vào và ra của tiền mặt, các khoản đầu tư ngắn hạn và các khoản mục tiền

tệ khác, được đính kèm với báo cáo tài chính nộp cho Bộ Tài Chính Tại thời điểm

đó, báo cáo lưu chuyển tiền tệ được lập và trình bày tương tự như các yêu cầu của chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 7 (sửa đổi năm 1992).Báo cáo lưu chuyển tiền tệ ở Nhật Bản được trình bày theo ba loại: luồng tiền từ hoạt động kinh doanh, luồng tiền từ hoạt động đầu tư và luồng tiền từ hoạt động tài chính Các luồng tiền từ hoạt động kinh doanh được trình bày bằng một trong hai phương pháp trực tiếp hoặc gián tiếp Có sự khác biệt nhỏ trong việc trình bày về các khoản thu và thu lãi, cổ tức và các khoản thuế thu nhập Quy tắc GAAP của Nhật yêu cầu đơn vị lựa chọn một trong hai phương pháp thay thế Nếu một đơn vị lựa chọn phương pháp thứ nhất thì phải trình bày các khoản thu lãi và cổ tức và trả lãi trong khoản mục luồng tiền từ hoạt động kinh doanh Theo phương pháp thứ hai, đơn vị phải thể hiện các khoản thu lãi và cổ tức trong các khoản mục luồng tiền từ hoạt động đầu tư và thanh toán lãi và cổ tức trong các khoản mục tiền tệ từ hoạt động tài chính IAS 7 quy định rằng các khoản thu nhập từ lãi và cổ tức được thể hiện trong một trong hai loại dòng tiền từ hoạt động kinh doanh hoặc đầu tư và thanh toán các khoản lãi và cổ tức bằng một trong hai dòng tiền từ hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động tài chính IAS

7 cho phép trình bày các khoản thuế thu nhập trong lưu chuyển tiền tệ từ các hoạt động kinh doanh hoặc trình bày sau khi phân bổ thuế thu nhập vào ba loại khi dòng

Trang 38

tiền mặt đó để tính thuế thu nhập có thể được xác định cụ thể vào hoạt động đầu tư

và tài trợ Yêu cầu GAAP của Nhật Bản chỉ trình bày dòng tiền từ thuế thu nhập chỉ trong các dòng tiền từ hoạt động kinh doanh

Vào năm 2005, Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) và Hội đồng chuẩn mực kế toán Nhật Bản (ASBJ) thông báo rằng họ đã đồng ý khởi động một dự án hợp tác với mục đích hài hòa chuẩn mực kế toán Nhật Bản với IFRS Đến năm

2007, Chuẩn mực kế toán với hướng dẫn thực hiện và các tiêu chuẩn đánh giá đối với báo cáo tài chính hàng quý được ban hành Năm 2009, Hội đồng kế toán doanh nghiệp (BAC) đã ban hành “ Ý kiến về việc áp dụng các chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) tại Nhật Bản” Thành lập Hội đồng IFRS, Hội đồng khuyến khích khu vực tư nhân để giải quyết lộ trình Nhật Bản hướng tới thực hiện IFRS Cho đến năm 2010, các doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư vào các quốc gia khác và các doanh nghiệp Nhật Bản niêm yết trên thị trường chứng khoán được áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế để lập và trình bày báo cáo tài chính riêng và hợp nhất Do đó, báo cáo lưu chuyển tiền tệ cũng được lập và trình bày theo chuẩn mực kế toán quốc

Hiện nay, đa số các doanh nghiệp Nhật Bản tại Nhật Bản đã lập và trình bày báo cáo tài chính nói chung và báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo chuẩn mực kế toán quốc

Trang 39

tế.Theo IAS 7, các đơn vị lập BCLCTT đơn thuần chỉ căn cứ vào các số liệu trên bảng cân đối kế toán số dư đầu kỳ và cuối kỳ, báo cáo kết quả, sau đó làm các động tác điều chỉnh là sẽ ra được các chỉ tiêu trên BCLCTT Các doanh nghiệp Nhật Bản tại Nhật Bản có thể chủ động và linh hoạt trong việc phân loại và trình bày các khoản mục liên quan đến luồng tiền, có thể điều chỉnh theo hướng phù hợp với từng dòng tiền.Phương pháp lập BCLCTT của các đơn vị theo phương pháp gián tiếp cho luồng tiền từ hoạt động kinh doanh và phương pháp trực tiếp cho 2 luồng tiền từ hoạt động đầu tư và tài chính Ví dụ dưới đây là báo cáo lưu chuyển tiền tệ năm

2016 của Maruichi Steel Tube Group (Xem phụ lục 1)

Bên cạnh đó, các công ty con của doanh nghiệp Nhật Bản tại Singapore, Philipines, Campuchia,… cũng đang sử dụng chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 7 để lập và trình bày báo cáo lưu chuyển tiền tệ Điều này giúp cho công ty mẹ Nhật Bản dễ dàng lấy

số liệu hợp nhất báo cáo lưu chuyển tiền tệ, dễ dàng đọc hiểu để so sánh thông tin tài chính trên BCLCTT giữa các công ty con ở các quốc gia khác Từ đó, các công

ty mẹ Nhật Bản thấy được các thông tin hữu ích, dòng tiền trên BCLCTT của công

ty con như thế nào để ra quyết định tiếp tục đầu tư, gia tăng đầu tư hay ngừng đầu

tư vào công ty con ở các quốc gia khác nhau

2.2 Thực trạng lập và trình bày BCLCTT của doanh nghiệp Nhật Bản đang hoạt động tại Bình Dương

2.2.1 Giới thiệu chung về các doanh nghiệp Nhật Bản đang hoạt động tại tỉnh Bình Dương

Theo báo Bình Dương, hiện Bình Dương đang là địa phương thu hút vốn Nhật Bản đứng thứ hai cả nước sau Thanh Hóa Đây là con số ít nhiều gây bất ngờ nhưng lại phản ánh được khả năng thu hút đầu tư của Bình Dương trong những năm gần đây Đến nay, toàn tỉnh có 2.713 dự án FDI với tổng số vốn đầu tư 24,8 tỷ USD; trong

đó nhà đầu tư Nhật Bản dẫn đầu về số vốn Đến nay, tại tỉnh đã có 262 dự án FDI từ Nhật Bản với tổng vốn đăng ký 5,2 tỷ USD, chiếm hơn 9,2% về số lượng dự án và gần 23% về vốn FDI vào tỉnh Doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư vào nhiều lĩnh vực tại

Trang 40

tỉnh Bình Dương như: linh kiện điện tử, sản xuất, lắp ráp ô tô, sản xuất sắt thép, gia

công cơ khí, may mặc,…

 Loại hình doanh nghiệp:

Các doanh nghiệp Nhật Bản đang hoạt động tại tỉnh Bình Dương đa số được thành lập theo loại hình doanh nghiệp là trách nhiệm hữu hạn (TNHH) và có rất ít là công

ty cổ phần Phần lớn các doanh nghiệp Nhật Bản nằm trong khu công nghiệp như: khu công nghiệp Mỹ Phước, VSIP, Việt Nam – Singapore,…

 Chế độ kế toán doanh nghiệp:

Trong khi công ty mẹ Nhật Bản đang áp chuẩn chuẩn mực kế toán quốc tế theo xu hướng tất yếu khi quá trình hội nhập đang được đẩy mạnh Còncác công ty con Nhật Bản đang hoạt động trên tỉnh Bình Dương đềusử dụng thông tư 200/2014/TT-BTC

và chuẩn mực kế toán VAS 24 để làm cơ sở lập và trình bày BCLCTT Theo thông

tư 60/TC-CĐKT do Bộ Tài Chính ban hành yêu cầu Báo cáo tài chính hàng năm của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải được kiểm toán bởi công ty kiểm toán độc lập hoạt động hợp pháp tại Việt Nam

2.2.2 Khảo sát về việc lập và trình bày BCLCTT của các doanh nghiệp Nhật Bản đang hoạt động tại Bình Dương:

Để đánh giá chung về thực trạng lập và trình bày BCLCTT thì người viết tiến hành khảo sát trên các đối tượng khác nhau:

+ Khảo sát số 1: Khảo sát những thuận lợi và khó khăn trong việc lập BCLCTT của các doanh nghiệp Nhật Bản đang hoạt động tại Bình Dương theo chuẩn mực và chế

độ kế toán Việt Nam

+ Khảo sát số 2: Khảo sát mức độ hiểu biết và sử dụng thông tin BCLCTT được lập theo VAS 24 của nhà quản lý và nhà đầu tư Nhật Bản

+ Khảo sát số 3: Khảo sát tính tuân thủ khi vận dụng các văn bản pháp quy kế toán

về việc vận dụng và trình bày BCLCTT của các doanh nghiệp Nhật Bản đang hoạt động trên tỉnh Bình Dương

Ngày đăng: 02/04/2018, 23:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm