107 Trang 8 viii DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT BSCI: Business Social Compliance Initiative - Bộ tiêu chuẩn đánh giá tuân thủ trách nhiệm xã hội trong kinh doanh CFP: Corporate financial per
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRẦN VŨ LƯỢNG
TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT TH ÀNH VIÊN NƯỚC GIẢI KHÁT SANEST KHÁNH H ÒA
LUẬN VĂN THẠ C SĨ
Khánh Hòa - 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Người hướ ng dẫn khoa học:
TS NGUYỄN THỊ TRÂM ANH
Chủ tịch hội đồ ng:
PGS.TS ĐỖ THỊ THANH VINH
Phòng Đào tạ o Sau đại học:
Khánh Hòa - 2017
Trang 3iii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Trách nhi ệm xã h ội c ủa Công ty Trách nhi ệm
nghiên cứu của tôi Các thông tin, dữ liệu được thu thập, sử dụng hoặc trích dẫn đều là những tài liệu đã được công bố hoặc được nguồn cung cấp cho phép sử dụng, đảm bảo trung thực và chính xác
Tác giả luận văn
Trần Vũ Lượng
Trang 4TS Nguyễn Thị Trâm Anh đã rất tâm huyết ủng hộ, động viên, khuyến khích
và tận tình hướng dẫn tôi thực hiện và hoàn thành luận văn cao học này
Ban Tổng Giám đốc Công ty Yến sào Khánh Hòa, Ban Giám đốc Công ty Sanest Khánh Hòa, các anh, các chị, các em trong toàn công ty, nhà máy, các đối tác, cũng như bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này
Trân trọng cám ơn
Khánh Hòa, tháng 10 năm 2017
Tác giả luận văn
Trần Vũ Lượng
Trang 5v
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii
DANH MỤC BẢNG BIỂU ix
DANH MỤC HÌNH VÀ SƠ ĐỒ x
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN xi
PHẦN I: GIỚI THIỆU 12
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP 16
1.1 Khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Corporate Social Responsibility) 16
1.1.1 Phạm vi ảnh hưởng của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp 17
1.1.2 Bản chất của CSR 18
1.1.3 Đối tượng của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp 20
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến CSR 21
1.1.5 Lợi ích của việc thực thi trách nhiệm xã hội doanh nghiệp 22
1.2 Các yếu tố cấu thành trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 25
1.2.1 Chính sách về bảo vệ môi trường tự nhiên (giảm thiểu ô nhiễm môi trường, tiết kiệm năng lượng,…) 26
1.2.2 Chính sách cho người lao động tại nơi làm việc (đào tạo nâng cao tay nghề, chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ người lao động…) 26
1.2.3 Chính sách về thị trường (chương trình khuyến mãi, hậu mãi nhằm chăm sóc người tiêu dùng) 28
1.2.4 Chính sách đối với cộng đồng (tham gia vào sinh hoạt cộng đồng tại địa phương, liên hệ chặt chẽ với chính quyền địa phương…) 29
1.3 Các lý thuyết về chiến lược CSR: 32
1.3.1 Lý thuyết các bên hữu quan: 32
1.3.2 Lý thuyết dựa trên nguồn lực doanh nghiệp: 35
1.4 Công cụ thực hiện và đánh giá hoạt động thực thi trách nhiệm xã hội doanh nghiệp 42
1.4.1 Bộ tiêu chuẩn đánh giá tuân thủ trách nhiệm xã hội trong kinh doanh 42
Trang 6vi
1.4.2 Hệ thống tiêu chuẩn quản lý trách nhiệm xã hội SA 8000 42
1.4.3 Hệ thống tiêu chuẩn hướng dẫn về trách nhiệm xã hội ISO 26000 43
1.5 Tổng quan tình hình nghiên cứu 47
1.5.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 47
1.5.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 50
Tóm tắt chương 1 54
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI TẠI 55
CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN NƯỚC GIẢI KHÁT SANEST KHÁNH HÒA 55
2.1 Giới thiệu về Công ty Yến sào Khánh Hòa 55
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 55
2.1.2 Cơ cấu tổ chức 59
2.2 Giới thiệu về công ty TNHH MTV Nước giải khát Sanest Khánh Hòa 60
2.2.1 Quá trình hình thành và phát triển 60
2.2.2 Cơ cấu tổ chức 62
2.2.3 Các loại sản phẩm và công dụng 64
2.3 Trách nhiệm xã hội của công ty TNHH MTV NGK Sanest Khánh Hòa .67
2.3.1 Quản trị tổ chức và nhân quyền 70
2.3.2 Kinh doanh trung thực 71
2.3.3 Những vấn đề người tiêu dùng 72
2.3.4 Gắn kết và phát triển cộng đồng 81
2.3.5 Môi trường 85
2.3.6 Lao động 91
2.4 Những lợi ích khi thực hiện CSR .98
2.4.1 Tiết kiệm phí sản xuất, tăng năng suất lao động 98
2.4.2 Nâng cao uy tín, giá trị thương hiệu và vươn ra thế giới 100
2.4.3 Củng cố sự tin tưởng, gắn kết của CBCNV, thu hút và giữ chân nhân tài 103
Tóm tắt chương 2 105
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI TẠI CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN NƯỚC GIẢI KHÁT SANEST KHÁNH HÒA 106 3.1 Định hướng phát triển của Công ty Sanest Khánh Hòa giai đoạn 2017 - 2020 và
Trang 7vii
tầm nhìn đến năm 2030 106
3.2 Nâng cao hiệu quả trách nhiệm xã hội tại Công ty TNHH MTV NGK Sanest Khánh Hòa 107
3.2.1 Kiến nghị góp phần củng cố sự tin tưởng, gắn kết với tổ chức của CBCNV đối với Công ty Sanest Khánh Hòa 107
3.2.2 Nâng cao nhận thức khách hàng về trách nhiệm xã hội của Công ty Sanest Khánh Hòa .111
Tóm tắt chương 3 112
KẾT LUẬN 113
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 115 PHỤ LỤC
Trang 8viii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BSCI: Business Social Compliance Initiative - Bộ tiêu chuẩn đánh giá tuân thủ trách
nhiệm xã hội trong kinh doanh
CFP: Corporate financial performance - Hoạt động tài chính của doanh nghiệp
CRP: Corporate responsibility performance - Thực hiện trách nhiệm của doanh nghiệp CSR: Corporate Social Responsibility - Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
ISO: International Organisation for Standardization - Tiêu chuẩn về hệ thống quản lý
chất lượng
HACCP: Hazard Analysis and Critical Control Points – Hệ thống quản lý an toàn thực phẩm FDA: Food and Drug Administration – Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ MTV: Một thành viên
CBCNV: Cán bộ công nhân viên
BVMT: Bảo vệ môi trường
Trang 9ix
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Các yếu tố cấu thành trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 30
Bảng 1.2: 6 Chủ đề về CSR trong ISO 26000 45
Bảng 2.1: Tổng hợp ý kiến khách hàng năm 2017 76
Bàng 2.2 Kinh phí hoạt động xã hội của Công ty Sanest Khánh Hòa 82
Bảng 2.3: Kinh phí hoạt động xã hội của Công ty Yến sào Khánh Hòa 84
Bảng 2.4: Kinh phí sử dụng cho từng hoạt động bảo vệ môi trường 88
Bảng 2.5: Phân tích tình hình sử dụng lao động tại nhà máy 2013 – 2016 91
Bảng 2.6: Chọn mẫu theo thâm niên 92
Trang 10x
DANH MỤC HÌNH VÀ SƠ ĐỒ
Hình 1.1: Mô hình “Kim tự tháp” của A.Caroll 19
Hình 1.2: Liên kết CSR trong chuỗi giá trị doanh nghiệp 38
Hình 1.3: Khía cạnh xã hội của môi trường cạnh tranh doanh nghiệp 39
Hình 1.4: 6 chủ đề về CSR trong ISO 26000 (ISO 26000) 44
Hình 2.1: Mùa thu hoạch Yến sào Khánh Hòa .58
Hình 2.2: Công ty TNHH MTV NGK Sanest Khánh Hòa 62
Hình 2.3: Các sản phẩm của Nhà máy Nước giải khát cao cấp Yến sào 64
Hình 2.4: Chính sách chất lượng – an toàn thực phẩm – an toàn môi trường 69
Hình 2.5: Biểu đồ thuế TNDN năm 2012 – 2016 70
Hình 2.6: Giao diện công thông tin của công ty Yến sào Khánh Hòa 73
Hình 2.7: Trung tâm chăm sóc khách hàng .73
Hình 2.8: Chương trình khuyến mãi: Sanest Khánh Hòa niềm tự hào thương hiệu Việt Nam 75
Hình 2.9: Biểu đồ ý kiến khách hàng năm 2017 77
Hình 2.10: Giấy chứng nhận ISO 9001:2015 của công ty Sanest Khánh Hòa 79
Hình 2.11: Giấy chứng nhận HACCP của công ty Sanest Khánh Hòa 80
Hình 2.12: Lễ trao giải tôn vinh khách hàng trúng giải đặt biệt trong chương trình “Sanest Khánh Hòa - Niềm tự hào thương hiệu Việt Nam tháng 2/2014” 81
Hình 2.13: Đội bóng chuyền Sanest Khánh Hòa 82
Hình 2.14: Công ty Sanest Khánh Hòa bàn giao nhà đại đoàn kết 84
Hình 2.15: Bể xử lý nước thải tại nhà máy 89
Hình 2.16: Giấy chứng nhận ISO 14001:2015 của công ty Sanest Khánh Hòa 90
Hình 2.17: Hợp đồng lao động của tác giả 93
Hình 2.18: Nhà nghỉ tập thể và sân bóng đá của công ty Sanets Khánh Hòa 97
Hình 2.19: Tập huấn phòng cháy chữa cháy tại công ty 98
Hình 2.20: Biểu đồ tăng trưởng sản lượng năm 2012 – 2016 99
Hình 2.21: Biểu đồ tăng trưởng doanh thu năm 2012 – 2016 99
Hình 2.22: Giấy chứng nhận FDA của công ty Sanest Khánh Hòa 102
Hình 2.23: Biểu đồ thu nhập bình quân của CBCVN năm 2013 – 2016 103
Hình 2.24: Biểu đồ kết quả đánh giá CSR 104
Sơ đồ 2.1: Tổ chức Công ty Yến sào Khánh Hòa 60
Sơ đồ 2.2: Tổ chức Nhà máy Nước giải khát cao cấp Yến sào 64
Trang 11xi
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Đề tài: “Trách nhi ệm xã h ội của Công ty Trách nhi ệm hữu hạn một thành
trạng thực hiện trách nhiệm xã hội của công ty Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số
hàm ý chính sách nhằm nâng cao hiệu quả trách nhiệm xã hội đối với hoạt động sản
xuất kinh doanh của Công ty TNHH MTV NGK Sanest Khánh Hòa
Trên cơ sở các lý thuyết về trách nhiệm xã hội, các nghiên cứu trên thế giới và
nghiên cứu trong nước về các vấn đề có liên quan đến nhận thức về trách nhiệm xã
hội Tác giả dựa trên các tiêu chí của ISO 26000 về trách nhiệm xã hội để đánh giá các hoạt động của công ty trong thời gian qua ISO 26000 gồm có:
* 7 nguyên tắc hoạt động: Trách nhiệm giải trình, tính minh bạch, hành vi đạo
đức, tôn trọng quyền lợi của các bên liên quan, tôn trọng các quy định của pháp luật,
tôn trọng các tiêu chuẩn hành vi quốc tế, tôn trọng nhân quyền
* 6 chủ đề: Quản trị tổ chức và nhân quyền, kinh doanh trung thực, những vấn
đề người tiêu dùng, gắn kết và phát triển cộng đồng, môi trường, lao động
Qua phân tích cho thấy CSR tại Công ty Sanets Khánh Hòa đã được Lãnh đạo
Công ty rất chú trọng, vận hành hệ thống ổn định theo tiêu chuẩn ISO 9001 - 2015,
theo tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm HACCP và ISO 14001-2015, bảo vệ môi
trường và CSR đã có đóng góp lớn trong thành công của công ty Chính vì thế trong
thời gian tới Công ty Sanets Khánh Hòa tiếp tục phát huy và hoàn thiện hơn nữa để
nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, gắn kết người lao động, nâng cao giá trị thương hiệu trong mắt khách hàng, thực hiện tốt công tác vệ sinh môi trường, phát huy CSR qua đó để quảng bá thương hiệu, tạo tiền đề vững chắc cho sự phát triển bền vững của Công ty TNHH MTV NGK Sanest Khánh Hòa
Từ khóa: Trách nhiệm xã hội, Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên
Nước giải khát Sanest Khánh Hòa
Trang 1212
PHẦN I: GIỚI THIỆU
1 Sự cần thiết của đề tài
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang tạo ra sự cạnh tranh ngày
càng gay gắt, các doanh nghiệp luôn tìm nhiều biện pháp khác nhau để kích cầu, giảm
chi phí nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và tối đa hóa lợi nhuận Trước đây, doanh
nghiệp áp dụng giải pháp đa dạng hóa, nâng cao chất lượng sản phẩm để tăng khả năng cạnh tranh và giành lợi thế trên thương trường Tuy nhiên, với sự thay đổi ngày càng
nhanh chóng của nhu cầu và thị hiếu người tiêu dùng đòi hỏi doanh nghiệp phải thỏa
mãn nhiều hơn các yêu cầu khắt khe của thị trường Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là vấn đề tất yếu đi liền với kinh doanh bởi nó mang lại cho doanh nghiệp những lợi ích đáng kể: khẳng định thương hiệu doanh nghiệp trong lòng khách hàng và tăng lợi nhuận doanh nghiệp Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đóng vai trò người kiến tạo lòng trung thành nơi khách hàng bằng những giá trị đạo đức rất "phong cách" và nó sẽ đánh bóng tên tuổi của doanh nghiệp, khẳng định thương hiệu và gây được thiện cảm
trong lòng dân chúng và họ sẽ bán hàng nhiều hơn gấp nhiều lần
Là một trong những doanh nghiệp hàng đầu của tỉnh Khánh Hòa, Công ty TNHH Nhà nước Một thành viên Yến sào Khánh Hòa - gọi tắt là Công ty Yến sào
Khánh Hòa hoạt động trên nhiều ngành nghề kinh doanh nhưng lĩnh vực chính hiện
nay vẫn là quản lý, khai thác, chế biến và kinh doanh xuất - nhập khẩu trực tiếp các
sản phẩm Yến sào Qua 25 năm phát triển, thương hiệu Yến sào Khánh Hòa từng bước khẳng định vị thế riêng của mình và đang trở thành một thương hiệu nổi tiếng trong
cộng đồng người Việt và người châu Á trên toàn thế giới, tạo nền tảng cho các thương hiệu nhánh như thương hiệu Sanest, Sanest Foods, Sanna, Sanatech, Sanest Tourist và
các nhãn hiệu trực thuộc quyền quản lý của Công ty hiện nay và trong tương lai Bên
cạnh đó, Công ty đã ban hành và triển khai thực hiện nội dung chín chuẩn mực về quy tắc làm việc, tinh thần trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp và xây dựng văn hóa doanh
nghiệp nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, cán bộ công nhân viên vững mạnh
toàn diện Công ty Yến sào Khánh Hòa luôn chú trọng xây dựng một tập thể đoàn kết,
ý thức rò vai trò trách nhiệm của mình với xã hội Chính vì vậy, Công ty luôn xây
dựng những sản phẩm có chất lượng cao, hướng tới sức khỏe người tiêu dùng, tạo công ăn việc làm cho hàng nghìn người lao động địa phương, tích cực làm công tác từ thiện như: bảo trợ cho hai huyện miền núi Khánh Sơn và Khánh Vĩnh; tích cực tham
Trang 1313
gia Quỹ xóa đói giảm nghèo, Quỹ vì người nghèo của tỉnh; Hỗ trợ xây dựng nhà cho
người nghèo trên địa bàn Nha Trang, Diên Khánh, Cam Ranh; Hỗ trợ sách vở, sản phẩm nước yến sào Sanest cũng như tài chính cho nhiều trường học Ngoài ra, Công ty luôn hướng về chủ quyền biển, đảo với nhiều hoạt động ủng hộ Quỹ vì Trường Sa thân yêu, đóng góp quỹ xây dựng khu tưởng niệm các chiến sĩ đã hy sinh trên đảo Gạc Ma, Quỹ “Nghĩa tình Hoàng Sa, Trường Sa”, “Chung tay góp sức bảo vệ Biển Đông”…
Tôn chỉ hành động và mục đích hành động của Công ty Yến sào Khánh Hòa xuyên
suốt quá trình hình thành và phát triển của Công ty là hướng đến giá trị vì lợi ích cộng đồng, bảo vệ môi trường sinh thái và phát triển bền vững
Công ty TNHH MTV NGK Sanest Khánh Hòa đóng trên địa bàn Xã Cam Thịnh Đông, thành phố Cam Ranh, được khởi công xây dựng từ tháng 11/2010 với
quy mô đảm bảo đáp ứng nhu cầu vận hành dây chuyền thiết bị công suất 15.000 sản
phẩm/giờ tương đương 50 triệu sản phẩm/năm, để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao Sau gần 2 năm thực hiện, nhà máy đã được đưa vào sử dụng từ tháng 8/2012 Nhà máy đã xây dựng, duy trì hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001: 2015, hệ thống HACCP và
ISO 14001:2015 Với việc duy trì hệ thống tích hợp với sự chất vấn và đánh giá của tổ chức QMS (Australia), đáp ứng đúng theo các quy định của Việt Nam và thế giới nên sản phẩm của nhà máy luôn đảm bảo 1 cách tốt nhất về mặt chất lượng, đem lại sự tin tưởng ngày càng cao cho khách hàng
Để hiểu thấu đáo trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, đồng thời để Công ty
phát triển không ngừng và hướng đến tính bền vững trong giai đoạn tới thông qua sự
kết hợp giữa nâng cao chất lượng, mẫu mã, uy tín sản phẩm cũng như năng lực cạnh
tranh với việc tham gia nhiều hoạt động thể hiện trách nhiệm xã hội là hết sức quan
trọng Do đó, tôi chọn đề tài: “Trách nhi ệm xã h ội của Công ty Trách nhi ệm hữu hạn M ột thành viên N ước gi ải khát Sanest Khánh Hòa” với mong muốn có được
những thông tin mang tính khoa học góp phần vào sự phát triển bền vững của công ty cũng như thực hiện tốt hơn các cam kết của Công ty về trách nhiệm xã hội trong thời
gian sắp tới
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu và đánh giá thực trạng về trách
nhiệm xã hội của doanh nghiệp tại Công ty Sanest Khánh Hòa Trên cơ sở đó nghiên
cứu sẽ kiến nghị một số chính sách nhằm thực thi tốt hơn trách nhiệm xã hội của Công
Trang 1414
ty Sanest Khánh Hòa nhằm củng cố sự tin tưởng và gắn kết của công nhân viên, nâng
cao giá trị thương hiệu trong thời buổi thị trường cạnh tranh hiện nay
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội của công ty trong thời gian qua
- Đề xuất một số kiến nghị chính sách nâng cao hiệu quả CSR, nhằm quảng bá
rộng rãi hơn nữa thương hiệu Công ty Sanest Khánh Hòa
3 Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội của Công ty Sanest Khánh Hòa trong
giai đoạn 2012 - 2016 như thế nào?
- Làm thế nào để thực hiện tốt trách nhiệm xã hội tại Công ty Sanest Khánh Hòa
trong thời gian tới?
4 Đối tượ ng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tình hình thực hiện trách nhiệm xã hội tại Công ty TNHH MTV NGK Sanest Khánh Hòa
- Khách thể nghiên cứu: Công ty TNHH MTV NGK Sanest Khánh Hòa
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện tại Công ty TNHH MTV NGK Sanest Khánh Hòa trong giai đoạn từ năm 2012 – 2016
5 Phương pháp nghiên cứ u
Luận văn sử dụng phương pháp thống kê, phân tích dựa trên các số liệu thứ cấp để đánh giá hoạt động thực hiện trách nhiệm xã hội của Công ty Sanest Khánh Hòa giai
đoạn 2012 – 2016
Đầu tiên là việc xác định các tiêu thức dùng để đánh giá thành phần cấu thành
nên trách nhiệm xã hội của công ty dựa trên cơ sở tham khảo tài liệu, bài báo, trang
web và công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan….Từ đó dựa trên các
tiêu chí của ISO 26000 về trách nhiệm xã hội để xây dựng các tiêu thức cần khảo sát
và đánh giá
Tiếp đến là quá trình tiếp xúc với nhà quản lý, người am hiểu về vấn đề nghiên
cứu, thảo luận với các cán bộ nhằm phát hiện các tiêu thức không cần thiết và bổ sung các yếu tố mới cần thiết tác động đến trách nhiệm xã hội của công ty
Luận văn sử dụng phương pháp điều tra lấy ý kiến của 100 cá nhân gồm ban lãnh đạo
và cán bộ công nhân viên của Công ty TNHH MTV NGK Sanest Khánh Hòa về trách
nhiệm xã hội mà công ty đã làm được trong thời gian qua theo tiêu chí đánh giá của
ISO 26000
Trang 1515
Luận văn sử dụng phương pháp điều tra lấy ý kiến của khách hàng: Trong quá trình được đơn vị cử đi công tác tại các thị trường trên cả nước để hỗ trợ bán hàng, nghiên cứu thị trường về sản phẩm của đơn vị và các đối thủ cạnh tranh, tác giả đã kết hợp phát phiếu thu thập ý kiến 200 khách hàng (tổ chức và người tiêu dùng trực tiếp) với các nội dung: chất lượng sản phẩm, giá bán, chính sách bán hàng, dịch vụ và thương hiệu
Phương pháp suy luận cũng được sử dụng kết hợp để thể hiện tư duy, quan điểm của tác giả về vấn đề nghiên cứu từ đó đưa ra những kiến nghị, đề xuất, các giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả của CSR trong doanh nghiệp
6 Ý nghĩa thự c tiễn cuả đề tài
- Đóng góp về mặt khoa học:
Luận văn tổng quan các lý luận về CSR của doanh nghiệp Việt Nam trong bối
cảnh hội nhập kinh tế quốc tế đặc biệt là về tầm quan trọng và ảnh hưởng CSR đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà đặc biệt là ảnh hưởng lớn của các
bộ quy tắc ứng xử và tiêu chuẩn của CSR
- Đóng góp về thực tiễn:
Nghiên cứu góp phần hệ thống hóa cơ sở lý thuyết cho việc đánh giá nhận thức
về trách nhiệm xã hội của Công ty Sanest Khánh Hòa Nghiên cứu sẽ khám phá những nhân tố cấu thành trách nhiệm xã hội của công ty ảnh hưởng đến uy tín, thương hiệu và sự phát triển bền vững của công ty trong thời gian tới
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận
văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng việc thực hiện trách nhiệm xã hội tại Công ty Trách nhiệm hữu
hạn Một thành viên Nước giải khát Sanest Khánh Hòa
Chương 3: Giải pháp nâng cao trách nhiệm xã hội tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn
Một thành viên Nước giải khát Sanest Khánh Hòa
Trang 16cổ đông bất mãn trong Công ty Đông Ấn của Hà Lan bắt đầu phát hành những cuốn sách nhỏ phàn nàn về bí mật quản lý và "làm giàu bản thân" Với quá trình công nghiệp hóa, tác động của kinh doanh đối với xã hội và môi trường là một chiều hướng hoàn toàn mới, các "Thương gia" trong những năm cuối của thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX đã
sử dụng một số tài sản của họ để ủng hộ các hoạt động từ thiện Trong những năm 1920, các cuộc thảo luận về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đã tiến triển thành những gì
mà chúng ta có thể nhận ra là sự khởi đầu của phong trào CSR "hiện đại" "Cụm từ Trách nhiệm xã hội của Công ty được đặt ra năm 1953 với việc công bố Trách nhiệm xã hội của Bowen đối với các doanh nhân" Sự công nghiệp hoá và tác động của các doanh nghiệp lên xã hội đã dẫn tới một tầm nhìn hoàn toàn mới, Năm 1990 CSR là tiêu chuẩn trong ngành với các công ty như Price Waterhouse Copper và KPMG CSR phát triển vượt ra ngoài quy tắc ứng xử và báo cáo, cuối cùng nó bắt đầu chủ động trong các tổ chức phi chính phủ, các bên liên quan, đạo đức kinh doanh
Đến nay, thuật ngữ này đang được hiểu theo nhiều cách khác nhau Một số học giả cho rằng CSR liên quan đến những quyết định và hành động được thực hiện mà ít nhất cũng vượt trên những lợi ích kinh tế của doanh nghiệp, là những nguyên tắc điều chỉnh mối quan hệ giữa doanh nghiệp và xã hội (Carroll & Shabana, 2010) Carroll (1979) sau khi chỉ ra vai trò chủ yếu của mọi doanh nghiệp là tạo ra lợi nhuận bằng cách bán sản phẩm và dịch vụ cho xã hội, khẳng định CSR bao gồm sự mong đợi của
Trang 1717
xã hội về kinh tế, luật pháp, đạo đức và lòng từ thiện đối với các tổ chức tại một thời
điểm nhất định Trong khi đó, Maignan và Ferrell (2004) cho rằng CSR là “các quyết
định và hoạt động của doanh nghiệp nhằm tạo ra và cân bằng các lợi ích khác nhau của những cá nhân và tổ chức liên quan” Thực tế cho thấy, CSR là một phạm trù rộng, có thể được hiểu và diễn đạt theo nhiều cách khác nhau Trong khi nhóm phát triển kinh
tế tư nhân của Ngân hàng thế giới cho rằng “CSR là sự cam kết của doanh nghiệp đóng góp vào việc phát triển kinh tế bền vững, thông qua những hoạt động nhằm nâng cao chất lượng đời sống của người lao động và các thành viên gia đình họ, cho cộng
đồng và toàn xã hội, theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng như phát triển chung
của xã hội” Cho đến nay đây là khái niệm đã và đang được chấp nhận và sử dụng rộng rãi nhất (Kotler & Lee, 2005)
Dù được diễn đạt theo nhiều cách khác nhau song nội hàm chính phản ánh CSR
về cơ bản có điểm chung là: Th ứ nhất, bên cạnh những lợi ích từ sự phát triển của từng
doanh nghiệp phù hợp với pháp luật hiện hành thì doanh nghiệp phải gắn kết với lợi
ích phát triển chung của cộng đồng xã hội; Th ứ hai, CSR thể hiện nhiều khía cạnh liên
quan đến ứng xử của doanh nghiệp đối với các đối tượng có liên quan trong quá trình
hoạt động của doanh nghiệp (từ người sản xuất, tiếp thị, tiêu dùng đến các nhà cung
ứng nguyên liệu, vật liệu tại chỗ; từ đội ngũ cán bộ, nhân viên cho đến các cổ đông của
doanh nghiệp); Th ứ ba, CSR bao hàm cả khía cạnh trách nhiệm của doanh nghiệp về
bảo vệ tài nguyên, môi trường cũng như trách nhiệm chung với lợi ích cộng đồng xã
hội, bao gồm những hoạt động nhân đạo, từ thiện, hoạt động đóng góp cho sự phát
triển chung của đất nước
1.1.1 Phạm vi ảnh hưởng của trách nhiệm x ã hội doanh nghiệp
CSR là một lĩnh vực rộng lớn liên quan đến mọi đối tượng, các hoạt động khác nhau của doanh nghiệp Bởi vậy, phạm vi ảnh hưởng của CSR doanh nghiệp không chỉ
bó hẹp trong nội bộ doanh nghiệp mà nó còn có sức lan tỏa lớn tới nhiều thành phần
khác nhau trong xã hội Vì vậy, về cơ bản người ta chia phạm vi ảnh hưởng của CSR
với 3 khía cạnh sau:
Ảnh hưởng trong nội bộ doanh nghiệp: khi thực hiện CSR, bản thân các doanh
nghiệp đã có lợi thế là sự ổn định về mặt nhân sự Khi đó, sự hài lòng và gắn bó của
Trang 1818
nhân viên với công ty cũng tăng lên Bên cạnh đó, các chương trình tiết kiệm năng
lượng, sử dụng vật liệu tái sinh giúp giảm đáng kể chi phí hoạt động cho công ty; điều này giúp doanh nghiệp có được giá cả cạnh tranh hơn
Ảnh hưởng trong hoạt động kinh doanh: CSR góp phần nâng cao thương hiệu
của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp tăng thị phần và tạo thêm nhiều lợi nhuận Lợi
ích đạt được khi doanh nghiệp tham gia thực hiện CSR là hình ảnh công ty được cải
thiện trong con mắt khách hàng, giúp công ty tăng doanh số bán hàng Đồng thời, CSR còn tạo được mối quan hệ mật thiết giữa doanh nghiệp và khách hàng, giúp doanh nghiệp có nhận thức tốt hơn về nhu cầu của khách hàng, từ đó giúp doanh nghiệp trở
nên cạnh tranh hơn trong việc đáp ứng yêu cầu về chất lượng sản phẩm
Ảnh hưởng trong phạm vi xã hội: một chính sách CSR có hiệu quả phải thực
hiện đầy đủ tất cả sự mong đợi của cộng đồng từ các hoạt động kinh doanh cũng như lợi ích của tất cả các bên liên quan Nó có thể tích hợp các vấn đề xã hội và môi trường trong hoạt động kinh doanh một cách tự nguyện thông qua các hoạt động tốt nhất cho
sự phát triển kinh tế xã hội của người dân và khu vực Đó là các chương trình từ thiện (như các chương trình về sức khỏe, chương trình về giáo dục, nước sạch), xây dựng
các công trình công cộng (xây đường, trường học, nhà cộng đồng ), các hoạt động
giúp đỡ tạo thu nhập cho người nghèo
1.1.2 Bản chất của CSR
Mặc dù hiện nay vấn đề trách nhiệm xã hội được đề cập tương đối nhiều Cũng
có nhiều cách tiếp cận khác nhau về nội dung của CSR Để phân tích cụ thể các phạm trù của CSR, ta chọn cách tiếp cận phổ biến nhất theo mô hình “kim tự tháp” của A
Caroll Mô hình này có tính toàn diện và được sử dụng rộng rãi nhất, thể hiện rõ nhất
và bao quát nhất các lĩnh vực quan tâm của CSR
Trang 1919
Hình 1.1: Mô hình “Kim tự tháp” của A.Caroll
(Nguồn: Carroll Archie-1999”)
Theo mô hình trên, CSR bao gồm trách nhiệm kinh tế, pháp lý, đạo đức và trách nhiệm từ thiện Ranh giới giữa các tầng trong “Kim tự tháp là luôn chồng lấn, tác động, bành trướng lẫn nhau Việc tuân thủ các quy định pháp luật chắc chắn đưa đến
các chi phí kinh tế cho doanh nghiệp Và quy tắc đạo đức xã hội ngoài luật luôn mở
rộng (theo trình độ phát triển của xã hội), tạo áp lực lên hệ thống pháp luật, bắt buộc
các nhà làm luật phải luôn bám sát thực tiễn xã hội
+ Trách nhiệm kinh tế: Tối đa hóa lợi nhuận, nâng cao tính cạnh tranh, hiệu quả kinh doanh và tăng trưởng là những điều kiện tiên quyết Mục tiêu của doanh nhân khi thành lập doanh nghiệp chính là tìm kiếm lợi nhuận Bên cạnh đó, doanh nghiệp là một yếu tố cấu thành nên xã hội, do đó chức năng kinh doanh cần được ưu tiên lên hàng
đầu Cũng có thể nói rằng trách nhiệm kinh tế là yếu tố nền tảng và các trách nhiệm
còn lại đều phải dựa trên trách nhiệm kinh tế của doanh nghiệp
+ Trách nhiệm pháp lý: Trách nhiệm pháp lý còn được gọi là trách nhiệm tuân
thủ pháp luật, là một phần bản cam kết giữa doanh nghiệp và xã hội Dựa trên những
quy tắc, chuẩn mực trong các văn bản pháp luật, doanh nghiệp sẽ theo đuổi các mục
tiêu kinh tế cảu mình trong khuôn khổ sự cho phép của luật pháp Cùng với trách nhiệm kinh tế, trách nhiệm pháp lý là bộ phận nền tảng, cơ bản và không thể thiếu đối với CSR
Trang 2020
+ Trách nhiệm đạo đức: Đây là những chuẩn mực, quy tắc được xã hội thừa
nhận nhưng chưa được đưa vào trong các văn bản luật Trên thực tế, những chuẩn mực
xã hội luôn biến đổi và vì thế những chính sách pháp luật chỉ có thể theo sau trong quá trình biến đổi này Do đó, luật pháp không thể phản ánh hết những đòi hỏi về những quy tắc ứng xử của xã hội Vì vậy, trách nhiệm thực hiện đúng luật pháp là đòi hỏi tối thiểu với doanh nghiệp Ngoài ra, doanh nghiệp còn phải thực hiện những nghĩa vụ, những quy tắc ngoài luật hay chính là trách nhiệm đạo đức Việc thực hiện trách nhiệm đạo đức
là tự nguyện đối với mọi doanh nghiệp nhưng lại có vai trò trung tâm đối với CSR
+ Trách nhiệm từ thiện: Là những hoạt động đã vượt qua sự kỳ vọng của xã hội như: tặng quà cho trẻ em nhiễm chất độc gia cam, tài trợ học bổng cho học sinh nghèo vượt khó,… Trách nhiệm từ thiện khác trách nhiệm đạo đức ở chỗ doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm này là “hoàn toàn tự nguyện” Nếu doanh nghiệp không thực hiện CSR tới mức độ này thì họ vẫn được coi là đã hoàn thiện đầy đủ trách nhiệm với xã hội
Mô hình kim tự tháp của A Caroll với việc đặt trách nhiệm kinh tế làm nền tảng
đã làm thỏa mãn nhu cầu về lý thuyết đại diện trong quản trị doanh nghiệp, làm rò mối quan hệ giữa công việc từ thiện và trách nhiệm xã hội, việc cân bằng lợi ích giữa cácbên tham gia trong việc thực hiện các chuẩn mực CSR được đề cập đến như một
nội dung then chốt của quản trị doanh nghiệp
1.1.3 Đối tượng của trách nhiệm x ã hội doanh nghiệp
Trước hết, người lao động, cán bộ nhân viên: doanh nghiệp cần tuân thủ đầy đủ,
nghiêm chỉnh các quy định về pháp luật về vấn đề sử dụng lao động, đảm bảo an toàn lao động, xây dựng mối quan hệ thân thiện, tốt đẹp trong nội bộ doanh nghiệp,…
Hai là, các đối tượng hữu quan (stakeholders): Các đối tượng hữu quan được
coi là những người ảnh hưởng và bị ảnh hưởng đến các mục tiêu của doanh nghiệp
(Freman, 1984) Đối tượng hữu quan bao gồm cổ đông, người tiêu dùng, đối thủ cạnh tranh, đối tác, gia đình của người lao động Trách nhiệm với cổ động là những ràng
buộc, cam kết liên quan đến quyền và phạm vi sử dụng tài sản ủy thác; đảm bảo sự
trung thực, minh bạch trong thông tin, trong phần lợi tức mà cổ đông đáng được hưởng Trách nhiệm với người tiêu dùng được sử dụng hàng hóa, dịch vụ đúng với
những gì nhà sản xuất đã cam kết Trách nhiệm với đối thủ cạnh tranh là phải điều tiết thị trường, cạnh tranh lành mạnh, cùng một mục tiêu là cung cấp sản phẩm dịch vụ tốt
Trang 2121
nhất cho khách hàng Trách nhiệm với nhà cung cấp là làm cho họ tin tưởng vào công
ty, tin vào khả năng tài chính, tin vào hoạt động của công ty
Ba là, cộng đồng sở tại: trách nhiệm với cộng đồng là trách nhiệm góp phần
nâng cao, cải thiện và phát triển cuộc sống cộng đồng mà gần nhất là địa phương nơi doanh nghiệp hoạt động, đóng góp cho sự phát triển bền vững môi trường văn hóa - kinh tế - xã hội của quốc gia
pháp luật là cơ sở, nền tảng của CSR Đây là tiêu chí ràng buộc cho các doanh nghiệp hướng tới và phải tuân thủ thực hiện để đạt được hiệu quả tốt trong kinh doanh Nhờ có những quy định của luật mà tạo ra được môi trường kinh doanh lành mạnh, công bằng, bình đẳng, thông thoáng cho các doanh nghiệp Tuy nhiên, trên thực tế không phải lúc nào pháp luật cũng được ban hành kịp thời theo sự phát triển chung của xã hội Độ trễ nhất định nào đó của pháp luật là cơ hội cho các hoạt động kinh doanh bất hợp pháp xảy ra, ảnh hưởng đến việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Quy định của pháp luật chính là tiêu chí cơ bản đo lường trách nhiệm trong kinh doanh của doanh nghiệp
Thứ hai là nh ận thức của xã h ội: Xã hội ngày càng phát triển, mức sống của
con người ngày càng được nâng cao, do đoa mà nhu cầu của con người cũng phát
triển theo Theo Abraham Maslow thì con người càng cố gắng thỏa mãn những nhu
cầu và khi nhu cầu nào đó được thỏa mãn thì lại xuất hiện những nhu cầu tiếp theo,
ban đầu là nhu cầu sinh lý (ăn, mặc, ở…) sau đó đến nhu cầu an toàn (được bảo vệ), nhu cầu xã hội (các vấn đề về tình cảm), nhu cầu được tôn trọng, được công nhận, có địa vị và cuối cùng là nhu cầu tự khẳng định, tự phát triển và thể hiện mình Nhận
thức của xã hội thay đổi, nhận thức của người lao động cũng phát triển, họ cũng đã
ngày càng nhận thức được sâu sắc giá trị của bản thân Tự bản thân người lao động
hoặc thông qua các tổ chức công đoàn, họ đã đứng lên đòi hỏi quyền lợi chính đáng
Trang 2222
của mình Những nhà lãnh đạo doanh nghiệp qua thực tế kinh doanh ngày càng nhận thức được rằng: những việc làm vì cộng đồng xã hội, vì lợi ích của người lao động là việc làm có lợi cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp
Thứ ba chính là quá trình toàn c ầu hóa và sức mạnh của thị trường: Toàn cầu
hóa đang là xu hướng của thời đại Quá trình toàn cầu hóa diễn ra với sự phát triển
nhanh chóng của quan hệ thương mại quốc tế; sự phát triển và tác động to lớn của các công ty đa quốc gia; sự ra đời của các tổ chức liên kết kinh tế, tài chính quốc tế và
khu vực vừa là thời cơ nhưng cũng là thách thức lớn cho các doanh nghiệp Khi mà
khoảng các về công nghệ, kỹ thuật giữa các nền kinh tế ngày một rút ngắn, chất lượng sản phẩm ngày càng trở nên đồng đều hơn thì để tồn tại và phát triển, mỗi doanh nghiệp đều phải không ngừng nâng cao khả năng cạnh tranh của mình Toàn cầu hóa
và việc chia sẻ thông tin một cách dễ dàng trên quy mô toàn thế giới đã ảnh hưởng
lớn đến tính cần thiết của việc xem xét một cách toàn diện những ảnh hưởng của
thực tiễn kinh doanh Những yếu tố này cùng với sự quan tâm đối với vấn đề môi
trường toàn cầu và sự gia tăng tính tương tác kinh tế giữa các quốc gia trên thế giới,
những điều này đẩy trách nhiệm xã hội trở thành một trong những vấn đề đi đầu trong các kế hoạch hợp tác chiến lược của các tổ chức Thêm vào đó, sức mạnh của thị
trường mà điển hình là thị hiếu và niềm tin của người tiêu dùng đã và đang đặt ra cho các nhà kinh doanh một sự cạnh tranh lớn về trách nhiệm xã hội Người tiêu dùng có thể “tẩy chay” một sản phẩm nếu sự phát triển của doanh nghiệp làm tổn hại đến lợi
ích chung của toàn xã hội, đặc biệt như vấn đề làm ô nhiễm môi trường, sản xuất
hàng kém chất lượng, không đảm bảo an toàn lao động trong sản xuất kinh doanh…
Yêu cầu đặt ra cho các nhà quản trị là phải giữ vững được thương hiệu trong lòng
khách hàng bằng các chiến lược lâu dài mà CSR là một chiến lược quan trọng, có ảnh hưởng lớn đến nhận thức và hành động mua của người tiêu dùng
1.1.5 Lợi ích của việc thực thi trách nhiệm x ã hội doanh nghiệp
Lợi nhuận là một trong những yếu tố cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp; là cơ sở đánh giá khả năng duy trì hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Tuy nhiên, nếu người quản lý doanh nghiệp hiểu sai bản chất của lợi
nhuận và coi đấy là mục tiêu chính và duy nhất của hoạt động kinh doanh thì sự tồn tại của doanh nghiệp có thể bị đe doạ Tầm quan trọng của đạo đức kinh doanh
Trang 2323
đối với một tổ chức là một vấn đề gây tranh cãi với rất nhiều quan điểm khác nhau
Nhiều giám đốc doanh nghiệp coi các chương trình đạo đức là một hoạt động xa xỉ
mà chỉ mang lại lợi ích cho xã hội chứ không phải doanh nghiệp Vai trò của sự quan
tâm đến đạo đức trong các mối quan hệ kinh doanh tiếp tục bị hiểu lầm
Frederick (1986) chỉ ra rằng nếu doanh nghiệp thực thi CSR thì có thể củng cố
mối quan hệ của doanh nghiệp với xã hội và từ đó nâng cao hình ảnh thương hiệu của
doanh nghiệp, tăng số lượng hàng bán, và thuê được nhân viên có chất lượng cao Nếu
các doanh nghiệp cam kết tôn trọng trách nhiệm xã hội thì doanh nghiệp cũng có thể
cải thiện hiệu quả hoạt động và giảm chi phí hoạt động (Sprinkle và Maines, 2010)
Một doanh nghiệp có thể tiết kiệm được chi phí sản xuất nhờ đầu tư, lắp đặt
các thiết bị mới Chi phí sản xuất và năng suất lao động phụ thuộc chặt chẽ vào hệ
thống quản lý nhân sự
Một hệ thống quản lý nhân sự hiệu quả cũng giúp doanh nghiệp cắt giảm chi
phí và tăng năng suất lao động đáng kể Chế độ lương, thưởng hợp lý, môi trường lao
động làm việc tích cực, các chế độ đào tạo và bảo hiểm xã hội đầy đủ đều góp phần
giảm tỷ lệ nhân viên nghỉ việc, bỏ việc Do đó, giảm chi phí tuyển dụng và đào tạo
nhân viên mới Tất cả góp phần giảm chi phí và tăng năng suất lao động
Công bố thông tin minh bạch, điều hành công ty hiệu quả, sử dụng vốn hợp lý
để tạo ra giá trị gia tăng cho sản phẩm là điều cần phải làm đối với bất kỳ doanh
nghiệp nào vì sự phát triển bền vững của chính doanh nghiệp Có như thế, mới tạo ra
được niềm tin cho nhà đầu tư, mà niềm tin chính là cảm xúc - yếu tố quyết định góp
phần tạo ra lợi nhuận cổ phiếu
Đối với khách hàng, CSR thể hiện ở việc bán sản phẩm thỏa mãn tốt nhu cầu,
giá cả phải chăng, giao hàng đúng hẹn, và an toàn cho sử dụng Thực tế cho thấy, nếu
sản phẩm đáp ứng tốt nhu cầu của người tiêu dùng, hình ảnh về sản phẩm và doanh
nghiệp lưu giữ trong tâm trí người tiêu dùng Đối với cộng đồng nói chung, nhiệm vụ
trước hết là bảo vệ môi trường (cũng chính là bảo vệ sức khỏe của công chúng) và
sau đó là làm từ thiện
Trang 2424
1.1.5.3 Việc thực hiện trách nhiệm xã hội góp phần tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp
Thực hiện tốt CSR doanh nghiệp đem lại rất nhiều lợi ích Việc bảo vệ môi
trường bằng các biện pháp bảo tồn hoặc hạn chế sử dụng các nguồn tài nguyên thiên
nhiên sẽ góp phần vào việc tiết kiệm chi phí mang lại lợi ích lâu dài cho doanh
nghiệp Trong một số trường hợp CSR có thể đem lại hiệu suất lớn hơn như tiết kiệm
được chi phí từ việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật, đầu tư máy móc thiết bị mới để
tăng năng suất, và điều này giúp doanh nghiệp có được giá cả cạnh tranh hơn
Chi phí sản xuất và năng suất lao động là 2 yếu tố chủ yếu để giảm giá thành,
phụ thuộc chặt chẽ vào hệ thống quản lý nhân sự Nếu doanh nghiệp áp dụng hiệu quả
CSR thì sẽ có được một hệ thống quản lý nhân sự tốt cũng giúp doanh nghiệp cắt
giảm chi phí và tăng năng suất lao động đáng kể
Với thực trạng nền kinh tế Việt Nam hiện nay, hàng loạt các vụ vi phạm môi
trường nghiêm trọng, vi phạm quyền lợi người lao động, xâm phạm quyền lợi người
tiêu dùng gây nên mất uy tín thương hiệu doanh nghiệp nội Khi bị mất uy tín,
thương hiệu bị tổn thương, thì khó thu hút được khách hàng chung thủy với mình
Không được khách hàng ủng hộ, doanh số sẽ giảm, cùng với đó, lợi nhuận sẽ giảm
theo Bất chấp trách nhiệm xã hội, doanh nghiệp chỉ có thể đạt được lợi nhuận trước
mắt, còn về lâu dài sẽ bị tổn thương
Lao động có năng lực là yếu tố quyết định năng suất và chất lượng sản phẩm
Ở các nước đang phát triển, số lượng lao động lớn nhưng đội ngũ lao động đạt chất
lượng cao lại không nhiều; do vậy việc thu hút và giữ được nhân viên có chuyên môn
tốt và có sự cam kết cao là một thách thức đối với các doanh nghiệp Những doanh
nghiệp có môi trường làm việc tốt cho người lao động bao gồm: bảo hiểm xã hội, an
toàn lao động, đối xử bình đẳng, chăm sóc sức khỏe định kỳ, Điều này có thể giúp
các doanh nghiệp giữ chân được người lao động có kỹ năng và tay nghề cao, tăng
hiệu suất lao động và thậm chí thu hút thêm người lao động có trình độ Tất cả các
yếu tố này được tin là sẽ giúp các doanh nghiệp cạnh tranh hơn trong việc thu hút lao
động giỏi
Trang 2525
CSR tốt là yếu tố thu hút nhân tài Nhân viên là yếu tố quyết định năng suất
và chất lượng sản phẩm Việc thu hút nhân tài luôn được các công ty quan tâm Có
được những nhân viên tốt đã khó nhưng việc níu chân các nhân viên này còn khó khăn hơn nhiều Điều này là cả một thách thức đối với các công ty Các nhân viên
cũng thể hiện ý kiến và quan điểm của mình về CSR theo cách riêng của họ Cứ 3
trong 4 nhân viên được hỏi cho biết họ sẽ trung thành hơn với doanh nghiệp nếu người lãnh đạo của họ luôn giúp đỡ và có trách nhiệm với cộng đồng địa phương
Những công ty trả lương thỏa đáng và công bằng, tạo cho nhận viên cơ hội đào tạo,
bảo hiểm y tế và môi trường làm việc sạch sẽ có khả năng thu hút và giữ được nhân
viên tốt Những người chủ doanh nghiệp giỏi thưởng không lo lắng nhiều về những
chi phí bỏ ra để lo cho sức khỏe nhân viên và người nhà của họ, cho nhân viên vay
tiền để mua xe, mua nhà, tổ chức nhà trẻ, trường học cho con cái nhân viên Họ luôn tin rằng đó là khoản đầu tư sáng suốt Một ví dụ điển hình đó là Tổng giám đốc công
ty Rohto Việt Nam - công ty luôn tự hào về CSR của mình, ông Masaya Saito nói:
“Tất cả những gì chúng tôi dành cho nhân viên đều đem lại lợi ích cho Rohto Đó là hiệu quả công việc, chất lượng sản phẩm, lòng trung thành và sự sáng tạo”
CSR là xu thế tất yếu và mang tính toàn cầu, thực hiện trách nhiệm xã hội là tăng khả năng cạnh tranh và hội nhập quốc tế, không mâu thuẫn với lợi ích kinh tế của doanh nghiệp Vai trò của Chính phủ trong việc thúc đẩy trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là phải tạo ra môi trường pháp luật hoàn chỉnh, một sân chơi bình đẳng cho các doanh nghiệp; cung cấp thông tin, tư vấn, hướng dẫn và ban hành các cơ chế, chính
sách khuyến khích đối với doanh nghiệp CSR có thể góp phần xóa đói giảm nghèo
thông qua những chương trình từ thiện do các doanh nghiệp thực hiện như đóng góp cho Quỹ vì người nghèo, Quỹ bảo trợ trẻ em, Quỹ vì người tàn tật, Các chính sách CSR trong bản thân các doanh nghiệp như đối xử bình đẳng giữa nam và nữ giới, với lao động cũ và mới cũng đem lại công bằng xã hội CSR cũng nâng cao hình ảnh quốc gia bằng cách góp phần bảo vệ môi trường Điều này được xem là một đóng góp rất quan trọng do tình trạng ô nhiễm môi trường hiện đang đa dọa cuộc sống con người hơn bao giờ hết và ngốn nhiều tiền của các quốc gia để xử lý vấn đề này
1.2 Các yếu tố cấu th ành trách nhiệm x ã hội của doanh nghi ệp
Trang 2626
Xem xét đầy đủ các yếu tố cấu thành CSR của doanh nghiệp có ý nghĩa hết
sức quan trọng trong xây dựng định hướng và giải pháp thực thi có hiệu quả trách
nhiệm xã hội
1.2.1 Chính sách về bảo vệ môi trường tự nhi ên (giảm thiểu ô nhiễm môi trường, tiết kiệm năng lượng,…)
Suy thoái môi trường là cả một vấn đề toàn cầu và địa phương quan tâm ngày
càng tăng trong xã hội - và do đó cũng nằm mối quan tâm của doanh nghiệp Hơn
nữa, hiệu suất môi trường tốt như tiết kiệm năng lượng có hiệu quả, phòng chống ô
nhiễm, giảm thiểu chất thải và tái chế có thể giảm đáng kể chi phí cho các doanh nghiệp, cũng như các lợi ích khác như đảm bảo tuân thủ các quy định về môi trường,
cải thiện mối quan hệ của doanh nghiệp với cộng đồng địa phương Tất cả các công ty
có thể có những tác động tích cực và tiêu cực đối với môi trường Tác động tiêu cực
phát sinh thông qua việc tiêu thụ trực tiếp hoặc gián tiếp của năng lượng và tài
nguyên, phát sinh chất thải và chất gây ô nhiễm và hủy hoại môi trường sống tự
nhiên Mặc dù khả năng làm giảm tác động tiêu cực về môi trường có thể bị giới hạn
trong các doanh nghiệp nhỏ hơn, mỗi doanh nghiệp có thể giúp đỡ bằng cách giảm
tiêu thụ năng lượng, bằng cách giảm thiểu chất thải và vật liệu tái chế Ngay cả những
cải thiện khiêm tốn cũng có thể sự nỗ lực trong việc bảo vệ môi trường Các tiêu chí
thể hiện chính sách bảo vệ môi trường của công ty được thể hiện ở bảng 1.1
1.2.2 Chính sách cho người lao động tại nơi làm việc (đ ào tạo nâng cao tay nghề, chăm sóc v à bảo vệ sức khoẻ người lao động…)
Sự thành công lâu dài của doanh nghiệp thường phụ thuộc vào kiến thức, kỹ
năng, tài năng, sự sáng tạo và đổi mới đặc biệt là động lực của nhân viên trong doanh
nghiệp Doanh nghiệp tuân thủ pháp luật bao gồm việc cung cấp việc làm, sức khỏe
nơi làm việc và các vấn đề an toàn, đáp ứng đầy đủ những nhu cầu cơ bản cho người
lao động; và doanh nghiệp có thể nhìn thấy sự hài lòng trong công việc, phát triển sự
nghiệp của nhiên viên và phúc lợi cá nhân Điều này chứng minh rằng doanh nghiệp
thực sự đánh giá cao những đóng góp của nhân viên cho doanh nghiệp Sự hài lòng
của nhân viên sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp thông qua sự cam kết
và lòng trung thành “Nhân lực là tài sản quý giá nhất, là sức mạnh tạo thành công
Trang 2727
cho Công ty” Đầu tư vào nguồn nhân lực của Công ty được thực hiện thông qua các chính sách cụ thể như sau:
nguyên tắc công bằng, đánh giá toàn diện dựa trên yêu cầu vị trí công việc; kỹ năng, năng lực cá nhân và hiệu quả, thành tích công việc của nhân viên Đồng thời, hệ
thống lương cũng đảm bảo tính cạnh tranh với các Công ty cùng ngành
hiện vật và tinh thần, động viên sự hăng hái làm việc, kích thích sự sáng tạo, tinh thần cống hiến của CBCNV Chính sách khen thưởng sẽ được từng bước cải tiến để đảm
bảo tính cạnh tranh và phù hợp với thị trường lao động giúp tăng động lực đối với lao động hiện tại và thu hút người lao động giỏi từ bên ngoài Công ty có chế độ khen
thưởng minh bạch, rõ ràng theo hiệu quả công việc, hiệu quả chung của toàn Công ty
và đóng góp cho sự phát triển không ngừng của Công ty
thành cổ đông của công ty khi công ty phát hành thêm cổ phiếu Bảo hiểm (BHYT,
BHXH, BHTN) & bảo hiểm tai nạn 24/24 đầy đủ Hỗ trợ thu nhập khi nghỉ thai sản, ngoài khoản thanh toán từ phía bảo hiểm Hỗ trợ phụ cấp đi công tác xa (ăn ở, đi
lại…) cho CBNV được điều động đi công tác Đồng phục hàng năm cho toàn thể CBNV công ty Tổ chức việc khám sức khỏe định kỳ hàng năm Hàng năm, tổ chức
tham quan nghỉ mát cho toàn thể cán bộ công nhân viên có thành tích xuất sắc trong hoạt động sản xuất kinh doanh Thăm hỏi và động viên cán bộ công nhân viên trong các trường hợp: gia đình có người ốm đau; tặng quà cho nhân viên khi cưới hỏi, sinh con; tặng quà cho nhân viên nữ nhân ngày 8/3 và 20/10; tặng quà cho con em cán bộ công nhân viên nhân ngày 1/6 ; Phát phần thưởng cho con em cán bộ công nhân viên
có thành tích học tập xuất sắc trong năm học Chính sách hỗ trợ cho CBNV khó khăn một cách hợp lý
nội bộ và đào tạo bên ngoài Công ty không ngừng nâng cao kiến thức, kỹ năng cho
nhân viên Đặc biệt đối với các vị trí quản lý cấp cao/cấp trung, chuyên viên và một
số vị trí khác yêu cầu về chứng chỉ chuyên môn
Trang 2828
Công ty luôn có nhiều cơ hội để thử thách làm việc ở các vị trí khác nhau trong Ban
chỉ huy/Bộ phận như thuyên chuyển vị trí, nơi công tác, đồng thời được bổ nhiệm
thăng tiến các vị trí quản lý cao hơn phù hợp với năng lực, khả năng, kỹ năng và hướng phát triển sự nghiệp của từng nhân viên Người lao động được hưởng chế độ
lương thưởng, phúc lợi được xây dựng cạnh tranh với các Công ty cùng ngành nhằm
thu hút cũng như “giữ chân” các cán bộ có năng lực giỏi muốn cống hiến lâu dài cho
Công ty
khắc thi hành các Quyết định điều động, thuyên chuyển công tác; phân công công
việc của cấp trên Không được tiết lộ thông tin kinh doanh của Công ty; không được
sao chép hoặc đem thông tin của Công ty ra ngoài, ảnh hưởng đến lợi ích, uy tín của
Công ty Không được tiết lộ thông tin về thu nhập cá nhân
điều kiện môi trường làm việc đảm bảo an toàn vệ sinh, thoáng mát; nhân viên được
trang bị đầy đủ các thiết bị làm việc, phương tiện bảo hộ lao động, vệ sinh lao động
cần thiết Văn hóa làm việc chuyên nghiệp, có trách nhiệm, tạo cơ hội phát triển bản
thân Các hoạt động xã hội, giao lưu do Công đoàn tổ chức như giải bóng đá, bóng
chuyền bãi biển, hội thao hàng năm
Nhìn chung quan hệ đối tác nội bộ hiệu quả sẽ giúp cho kinh doanh linh hoạt, đáp ứng và khả năng chia sẻ kiến thức giữa những người lao động Một nhân viên có
động lực thường hài lòng với công việc, ổn định và góp phần xây dựng danh tiếng tốt cho doanh nghiệp Các tiêu chí thể hiện chính sách cho người lao động của công ty
Quan hệ tốt với khách hàng và nhà cung cấp mang lại lợi ích cho cả hai bên
Có những mạng lưới tốt thì doanh nghiệp sẽ thành công Một cách nhanh chóng
Trang 2929
để cải thiện hiệu suất của doanh nghiệp là chia sẻ kinh nghiệm với các nhà cung cấp,
khách hàng, doanh nghiệp cùng chí hướng khác và tổ chức kinh doanh tại địa phương
Để duy trì danh tiếng của doanh nghiệp, điều quan trọng là phải luôn "làm điều đúng"
trong tất cả các mối quan hệ làm việc Trong thực tế, doanh nghiệp có thể đạt được
một danh tiếng tốt bằng cách đáp ứng khách hàng, giải quyết các hóa đơn về thời gian
và giữ được cam kết để thực hành đạo đức kinh doanh Danh tiếng này là rất quan
trọng để đảm bảo thành công trên thị trường
Chính sách đảm bảo sự trung thực và công bằng trong các hợp đồng với các đối
tác có vai trò rất quan trọng đối với việc phát triển của một doanh nghiệp Trên thực tế,
các nhà kinh tế đã chứng minh rằng, sự trung thực và công bằng của một doanh nghiệp
càng cao thì mức độ lợi nhuận của doanh nghiệp đó càng lớn Sự trung thực và công
bằng trong các hợp đồng đã góp phần tăng sự tin tưởng, thỏa mãn của khách hàng,
tăng sự tin tưởng, trung thành của nhân viên, nâng cao hình ảnh và lợi nhuận của một
doanh nghiệp
Trong một thị trường cạnh tranh, điểm cân bằng tối ưu chỉ có thể hình thành
trên sự liên kết và sự tin tưởng của các đối tác chứ không trên nền tảng của sự lừa dối
lẫn nhau Tôn trọng sự trung thực đối với các đối tác, khách hàng là cách tăng niềm
tin của doanh nghiệp đối với khách hàng và đối tác làm ăn Đối với một doanh nghiệp
luôn gắn lợi ích của mình với lợi ích khách hàng thì sự tin tưởng của khách hàng sẽ
ngày càng tăng lên Một khách hàng vừa lòng sẽ quay lại với doanh nghiệp và kéo tới
cho doanh nghiệp những khách hàng khác và ngược lại, một khách hàng không vừa
lòng sẽ không bao giờ trở lại và kéo đi những khách hàng khác Vì vậy, để làm vừa
lòng các khách hàng và những đối tác cung cấp thiết bị, nguồn nguyên liệu cho doanh
nghiệp, doanh nghiệp đó cần phải có những chính sách phù hợp đối với nhu cầu thị
hiếu và sự tin tưởng của khách hàng, đối tác như: cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác
về sản phẩm trên nhãn hiệu và đảm bảo dịch vụ sau bán hàng cho người mua; cam kết
thanh toán đúng hạn các khoản phải trả cho đối tác; có quy trình khiếu nại, giải quyết
tranh chấp với khách hàng, nhà cung ứng và các bên có liên quan khác và cùng phối
hợp với các đối tác khác để giải quyết các vụ tranh chấp liên đới Các tiêu chí thể hiện
chính sách thị trường của công ty được thể hiện ở bảng 1.1
1.2.4 Chính sách đối với cộng đồng (tham gia v ào sinh ho ạt cộng đồng tại
Trang 3030
địa phương, liên hệ chặt chẽ với chính quyền địa phương…)
Một doanh nghiệp lành mạnh và có lợi nhuận thường có mối quan hệ rõ ràng
với các vấn đề an sinh cộng đồng tại địa phương Hầu hết các doanh nghiệp nhỏ là một phần không thể tách rời của cộng đồng và có sự tham gia tích cực các hoạt động tại địa phương Như vậy doanh nghiệp được hưởng lợi ích bao gồm: (1) Có mạng lưới liên
kết có giá trị với các doanh nghiệp khác địa phương; (2) Tăng sự tin tưởng của khách
hàng; (3) Nâng cao uy tín của công ty với địa phương; và (4) Cải thiện hình ảnh đối
với ứng viên (đặc biêt là người địa phương) và làm cho nhân viên trung thành với công ty
Hỗ trợ cộng đồng có thể bao gồm bất cứ điều gì có lợi cho cộng đồng, chẳng hạn như tài trợ hoặc cung cấp thời gian và chuyên môn cho các hoạt động Nó có thể bao gồm
tài trợ trong thể thao, giáo dục hoặc sáng kiến văn hóa, giúp đỡ để giải quyết các vấn
đề xã hội như phòng ngừa tội phạm hoặc thất nghiệp lâu dài trong khu vực địa phương
Tích cực tham gia vào các hoạt động cộng đồng địa phương cũng có thể giúp
doanh nghiệp xác định các thị trường mới, khách hàng hoặc cơ hội kinh doanh, xây
dựng liên lạc với chính quyền địa phương và lấy ý kiến các nhà lãnh đạo, và tạo điều
kiện cho quan hệ đối tác mới với các doanh nghiệp khác vào các dự án cộng đồng Các tiêu chí thể hiện chính sách đối với cộng đồng của công ty được thể hiện ở bảng 1.1
Bảng 1.1: Các yếu tố cấu thành trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
- Công ty thực hiện giảm mức tiêu thụ năng lượng trong quá trình sản xuất
- Công ty thực hiện giảm thiểu và tái sử dụng rác thải trong quá trình sản xuất
- Công ty nỗ lực tránh gây ô nhiễm môi trường (khí thải độc hại, nước thải, tiếng ồn…)
- Công ty nỗ lực bảo vệ môi trường tự nhiên nơi hoạt động sản xuất kinh doanh
- Công ty xem xét các ảnh hưởng đối với môi trường khi thiết kế và sản xuất sản phẩm mới (đánh giá mức tiêu thụ năng lượng, khả năng tái
sử dụng…)
- Công ty cung cấp thông tin đầy đủ liên quan đến yếu tố môi trường trên nhãn hiệu sản phẩm và các ấn bản thông tin khác cho khách hàng, nhà cung ứng
Trang 31- Công ty có chính sách giảm thiểu sự phân biệt đối xử giữa những người lao động tại nơi làm việc
- Công ty tạo điều kiện cho nhân viên tham gia bàn thảo các vấn đề quan trọng của công ty
- Công ty có chính sách bảo vệ sức khỏe, sự an toàn và quyền lợi khác của người lao động tại nơi làm việc
- Công ty tạo điều kiện cho người lao động cân bằng giữa công việc với cuộc sống riêng tư (làm việc tại nhà, thời gian làm việc linh hoạt ) Các
- Công ty cam kết thanh toán đúng hạn các khoản phải trả cho đối tác
- Công ty có quy trình khiếu nại, giải quyết tranh chấp với khách hàng, nhà cung ứng và các bên có liên quan khác
- Công ty cùng phối hợp với các đối tác khác để giải quyết các vụ tranh chấp liên đới
- Công ty thường xuyên tạo cơ hội đào tạo cho người dân địa phương
trong khu vực hoạt động của công ty
- Công ty thiết lập mối quan hệ mật thiết với chính quyền địa phương
để cùng giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình hoạt động
- Công ty ưu tiên mua nguyên liệu, hàng hóa khác từ các công ty địa
phương
- Công ty khuyến khích nhân viên tham gia các hoạt động cộng đồng
- Công ty thường xuyên tài trợ cho các hoạt động và dự án của cộng
đồng (về y tế, giáo dục, giao thông công cộng )
Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo của liên minh châu Âu (EU, 2010)
Trang 3232
1.3 Các lý thuyết về chiến lược CSR:
1.3.1 Lý thuyết các bên hữu quan:
Xuất phát điểm cho việc nghiên cứu chiến lược CSR thường được xem xét trong lý thuyết các bên hữu quan Theo đó, doanh nghiệp thực hiện CSR vì phải thỏa
mãn yêu cầu của các bên hữu quan khác nhau Hơn nữa, Freeman (1984) cho rằng doanh nghiệp có thể đưa các các mối quan tâm về xã hội vào trong chiến lược cấp
doanh nghiệp
Lý thuyết các bên hữu quan trong khoa học quản trị chiến lược được đánh dấu bằng các nghiên cứu “Quản trị chiến lược – cách tiếp cận các bên hữu quan” của Freeman Theo Freeman (1984), các bên hữu quan là “bất kỳ nhóm hoặc cá nhân nào
có thể ảnh hưởng hoặc bị ảnh hưởng bởi việc đạt mục tiêu của tổ chức” Clarkson (1995) cho rằng các bên hữu quan có thể yêu cầu hoặc thực hiện quyền sở hữu/lợi ích đối với doanh nghiệp và ảnh hưởng tới các hoạt động trong quá khứ, hiện tại và tương lai của doanh nghiệp đó Theo Freeman (1984) có tám bên hữu quan: đối thủ
cạnh tranh, khách hàng, người lao động, chính phủ, chủ sở hữu/cổ đông, nhóm quyền lợi đặc biệt, nhà cung ứng, nhà quản trị cấp cao doanh nghiệp Khi nhóm lại,
có thể có bốn nhóm hữu quan như trong hình vẽ sau Điều cần lưu ý ở đây là mối
quan hệ với các bên hữu quan không phải bất biến mà mang tính chất động thay đổi
theo thời gian
Theo cách phân loại nói trên, có bốn nhóm hữu quan như sau:
- Nhóm quyền lực bao gồm chính phủ, các cơ quan nhà nước liên quan, cổ
đông và hội đồng quản trị Các bên hữu quan này có quyền lực đối với công ty và ban hành các quyết định;
- Đối tác kinh doanh – người lao động, nhà cung ứng, hiệp hội thương mại và các nhà cung cấp dịch vụ Các bên hữu quan này giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu của mình;
- Nhóm khách hàng – tất cả đối tượng khách hàng của doanh nghiệp;
- Các nhóm có ảnh hưởng bên ngoài – cộng đồng, truyền thông và các bên
khác có ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định của doanh nghiệp
Trang 3333
Theo Freeman (1984), lý thuyết các bên hữu quan nhằm trọng tâm vào hai câu hỏi sau Đó là mục tiêu của doanh nghiệp là gì và trách nhiệm của doanh nghiệp phải
thực hiện đối với các bên hữu quan như thế nào? Để trả lời, lý thuyết này chỉ ra rằng
giá trị kinh tế được tạo ra do con người phối hợp và hợp tác với nhau một cách tự
nguyện; nhà quản trị phải phát triển quan hệ, thúc đẩy các bên hữu quan và tạo ra các
cộng đồng để mọi người cố gắng ở mức tốt nhất tạo ra giá trị cho doanh nghiệp Do
đó, xem xét trong mối quan hệ qua lại của doanh nghiệp với các bên hữu quan, chỉ tiêu lợi nhuận là kết quả không phải là yếu tố dẫn dắt trong quá trình tạo ra giá trị của doanh nghiệp Nói theo cách khác, theo lý thuyết các bên hữu quan chỉ ra rằng chủ sở
hữu/cổ đông chỉ là một bên hữu quan và không phải là bên duy nhất mà doanh nghiệp
phải chịu trách nhiệm Do đó, CSR là cam kết của doanh nghiệp để hoạt động bền vững, trong đó kinh tế chỉ là một khía cạnh
Theo Freeman, có 5 chiến lược cấp doanh nghiệp nhằm giúp doanh nghiệp đạt mục tiêu thỏa mãn các bên hữu quan, giá trị doanh nghiệp và các chủ đề xã hội (Freeman, 1984) Cụ thể như sau:
- Chiến lược bên hữu quan nhất định: tập trung vào một hoặc một nhóm nhỏ
bên hữu quan và thỏa mãn nhu cầu của họ;
- Chiến lược cổ đông: tối đa hóa lợi ích cổ đông hoặc tối đa hóa giá trị thị
trường doanh nghiệp;
- Chiến lược vị lợi: tối đa hóa lợi ích cho xã hội
- Chiến lược tập trung vào nhóm bên hữu quan bất lợi nhất
- Chiến lược hài hòa xã hội: đảm bảo duy trì hoặc tạo ra sự hài hòa xã hội
Tuy nhiên cách phân loại này chưa rò ràng bởi lẽ các loại chiến lược là không
hoàn toàn loại trừ nhau (ví dụ chiến lược cổ đông cũng có thể là chiến lược bên hữu
quan nhất định ) Hơn nữa, các khái niệm không hoàn toàn rò nghĩa như tối đa hóa
lợi ích xã hội và hài hòa xã hội Do đó, cách phân loại của Freeman (1984) khó áp
dụng trên thực tế vì với một chiến lược doanh nghiệp áp dụng, có thể có nhiều cách
gọi tên xếp loại khác nhau Sau này, Freeman và Gilberth (1988) đã phát triển thành
bày loại chiến lược nhưng vẫn không giải quyết được vấn đề nêu trên Hơn nữa, nếu
nhìn rộng ra chiến lược phải bao hàm sự phù hợp giữa các yếu tố bên ngoài (thời cơ và thách thức) với các yếu tố bên trong (điểm mạnh và điểm yếu) Nói cách khác chiến
Trang 3434
lược doanh nghiệp phải chỉ ra cách thức doanh nghiệp sử dụng các nguồn lực phù hợp với các yếu tố môi trường bên ngoài Trong khi đó, cách tiếp cận của Freeman mới chỉ
đề cập đến các bên hữu quan - đó là hạn chế
Mặt khác, các chiến lược các bên hữu quan đề xuất cách thức một công ty phản ứng lại với những nhu cầu của các bên hữu quan tùy thuộc vào mức độ ưu tiên
Đó chính là cách tiếp cận tập trung kinh doanh Nhu cầu của các bên hữu quan chỉ
được thỏa mãn nếu điều đó đặt ra một mối đe dọa cho công ty hay đem đến một cơ hội kinh doanh Những lợi ích xã hội dường như chỉ thu được dưới dạng sản phẩm phụ
Phương thức tiếp cận này không giải thích được cách cư xử đối với xã hội của công ty
là do những cân nhắc hợp lý của quản lý thúc đẩy Điều này cũng chưa chắc là đúng
nếu lợi ích xã hội và lợi ích kinh doanh đạt được tiềm năng lớn nhất do quản lý theo
cách tiếp cận phản ứng
Chiến lược các bên hữu quan dường như tập trung tối thiểu hóa chi phí hơn là quản lý theo mục tiêu tạo ra giá trị Từ những cách tiếp cận kể trên, chỉ có chiến lược ở cấp độ doanh nghiệp của Freeman tập trung vào tạo ra giá trị Ví dụ, chiến lược cổ
đông của Freeman chú trọng tối đa hóa giá trị kinh tế cho một doanh nghiệp trong khi chiến lược vị lợi của ông thì tập trung tối đa hóa phúc lợi xã hội Tuy nhiên, do chiến lược vị lợi của Freeman tập trung vào số lượng nhằm thỏa mãn một số lượng lớn nhất các bên liên quan, nên nó không nhất thiết phải là cách hiệu lực nhất và hiệu quả
nhất để giải quyết các vấn đề xã hội
Savage và cộng sự (1991) đã đưa ra cách nhìn khác về các bên hữu quan Theo đó, các bên hữu quan được chia thành bốn nhóm căn cứ vào tính hợp tác với
doanh nghiệp và nguy cơ cho doanh nghiệp Tương ứng với cách phân loại này là bốn chiến lược:
- Khuyến khích sự tham gia của nhóm “hỗ trợ”: nhóm này có tính hợp tác cao
và ít gây ra nguy cơ cho doanh nghiệp
- Giám sát lợi ích của nhóm “cận biên”: nhóm có tính hợp tác và nguy cơ
đều ở mức thấp đối với doanh nghiệp
- Phòng thủ để giảm sự phụ thuộc của doanh nghiệp vào nhóm “không hỗ trợ”: nhóm có tính hợp tác thấp và nguy cơ ở mức cao
- Tăng cường sự hợp tác với nhóm có tính hợp tác và nguy cơ ở mức cao
Trang 3535
Có thể nói các quan điểm trong lý thuyết các bên hữu quan đã đưa ra nền móng
về việc xây dựng chiến lược giải quyết mối quan hệ doanh nghiệp xã hội Tuy nhiên, chưa đề cập một cách thấu đáo cách thức phân bổ nguồn lực một cách dài hạn và tạo ra giá trị xã hội của doanh nghiệp
Các chiến lược CSR cũng tập trung vào những khả năng phản hồi đối với các vấn
đề xã hội Chúng ngầm giả định cách tiếp cận tập trung vào hoạt động kinh doanh hoặc
là cách tiếp cận tập trung vào xã hội Cho dù cuối cùng tất cả các cách tiếp cận cũng dẫn đến sự tạo thành các giá trị kinh tế hoặc/và xã hội, chúng không đặt trọng tâm chú
ý quản lý vào việc đánh giá toàn diện lựa chọn tạo ra giá trị lớn nhất
Hiện nay, trong thực tiễn kinh doanh, quan điểm tạo ra giá trị đối với các vấn đề
xã hội dường như còn thiết sót Như đã lập luận ở trên, có vẻ như rất nhiều công ty giải quyết các vấn đề xã hội không liên tục và không theo một cấu trúc nào cả Điều này đặt các công ty trước tình thế tiến thoái lưỡng nan và vì thế khó khăn gấp đôi Bằng cách tập trung vào các vấn đề xã hội mà không có đánh giá chiến lược, các công ty đóng góp vào quá trình tạo nên giá trị xã hội nhưng không thể phát huy được đầy đủ tiềm lực giải quyết các vấn đề xã hội xây dựng trên kỹ năng và năng lực đặc thù của mình Mặt khác, nếu chỉ tập trung vào lợi ích kinh doanh, các công ty khi tham gia vào hoạt động xã hội phải đối mặt với sự chỉ trích như là quan hệ công chúng thuần túy hoặc chỉ làm tiếp thị (xem Porter và Kramer 2006a, 189-192) Vì vậy, các nhà nghiên cứu đòi hỏi phải có một cách tiếp cận kết hợp để giải quyết các vấn đề xã hội, đẩy mạnh quá trình tạo ra giá trị xã hội đồng thời đem lại lợi ích kinh doanh cho doanh nghiệp (xem Porter và Kramer 2002, 2006a và 2006b, Habisch 2006) Theo luận điểm này, các chiến lược xã hội nên tập chung chú ý quản lý vào ảnh hưởng của chúng tới
xã hội và hoạt động kinh doanh để các nhà quản lý tìm ra những cơ hội duy nhất phục
vụ cho quá trình tạo ra giá trị xã hội và kinh tế Thảo luận về những chiến lược như vậy sẽ là tiêu điểm của phần sau
1.3.2 Lý thuyết dựa tr ên nguồn lực doanh nghiệp:
Cho đến nay lý thuyết về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp đã phát triển thêm những bước tiến mới Trong số đó, trách nhiệm xã hội doanh nghiệp được nhìn nhận dưới góc độ chiến lược thường được coi là các lý thuyết “công cụ”(instrumental theories) bởi vì coi các hoạt động xã hội là chiến lược để đạt lợi thế cạnh tranh Hay
Trang 3636
nói một cách khác, các lý thuyết này tập trung vào lý giải cách thức phân bổ nguồn lực
để đạt mục tiêu xã hội dài hạn và tạo ra lợi thế cạnh tranh
Trong hệ thống lý thuyết này, cách tiếp cận dựa trên nguồn lực của doanh nghiệp (resource based view) được coi trọng Từ góc độ này CSR được coi là đem
lại lợi ích bên trong và bên ngoài doanh nghiệp như công nghệ (know-how), văn hóa
và danh tiếng của doanh nghiệp (McWilliams et al., 2006)
Đầu tư vào các hoạt động trách nhiệm xã hội đem lại các lợi ích nội bộ cho doanh nghiệp thông qua việc giúp doanh nghiệp phát triển các năng lực và nguồn lực
mới liên quan đến công nghệ và văn hóa doanh nghiệp Từ đó tạo ra các nguồn lực vô
hình gắn kết với nguồn nhân lực
Uy tín doanh nghiệp cũng có thể coi là nguồn lực vô hình được tạo dựng và phát
huy thông qua các hoạt động CSR này Hơn nữa, cũng thông qua các hoạt động CSR
doanh nghiệp có thể cải thiện mối quan hệ với các bên hữu quan bên ngoài Do đó thu
hút nguồn nhân lực tốt hơn và gia tăng sự gắn bó, trung thành, cam kết của người lao
động Đó cũng là lý do CSR được áp dụng và coi như chiến lược của doanh nghiệp
Theo cách tiếp cận nguồn lực doanh nghiệp truyền thống, nguồn lực của doanh
nghiệp để tạo ra lợi thế cạnh tranh phải đạt bốn yếu tố: giá trị, hiếm có, ít có khả năng
bắt chước và doanh nghiệp phải phối hợp, khai thác các nguồn lực một cách có hiệu
quả Hart (1995) phân tích trách nhiệm xã hội doanh nghiệp từ giác độ nguồn lực doanh nghiệp bằng cách tập trung vào trách nhiệm doanh nghiệp với môi trường Theo
Hart (1995), trách nhiệm môi trường sẽ tạo ra nguồn lực và năng lực đem lại lợi thế
cạnh tranh bền vững cho những loại doanh nghiệp nhất định
Hạn chế của lý thuyết này hướng nội hơn là hướng ngoại Đồng thời không giải
quyết được triệt để với sự chuyển dịch và không áp dụng được cho tất cả các doanh nghiệp (Truss và cộng sự, 2012) Do đó cần kiểm định trước khi áp dụng lý thuyết này
Lý thuy ết Porter v à Kramer: Cách tiếp cận của Porter và Kramer là quan
điểm đầu tư xã hội trong bối cảnh cạnh tranh Porter và Kramer (2002) được coi là
những tác giả nổi tiếng theo cách tiếp cận này Dựa trên lý thuyết về lợi thế cạnh tranh
(Porter, 1980), Porter và Kramer cho rằng đầu tư trong các hoạt động mang tính xã hội
là cách tốt để cải thiện bối cảnh cạnh tranh của doanh nghiệp và tạo ra giá trị xã hội
Quan điểm này nhìn nhận việc triển khai CSR mang tính chiến lược kết hợp với phân
Trang 3737
tích chuỗi giá trị và mô hình kim cương Quan điểm này hoàn toàn khác biệt với việc quan điểm tuân thủ CSR (CSR Compliance) như thường thấy ở các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa Tuân thủ CSR là việc doanh nghiệp áp dụng cục bộ tiêu chuẩn
CSR do khách hàng đưa ra, hoặc theo SA 8000, ISO 14000 hoặc gần đây là ISO
26000 Điều này được các học giả cho rằng không đem lại lợi ích lâu dài như mong
đợi cho doanh nghiệp Bởi lẽ, đó vẫn là cách ứng phó thụ động hoặc theo cơ chế cứng nhắc có thể không nhằm đến tầm nhìn chiến lược của doanh nghiệp
Bằng lập luận tỉ mỉ chặt chẽ, Porter và Kramer cho rằng CSR theo quan điểm
chiến lược thật sự nên tập trung vào những lĩnh vực kết hợp lợi ích kinh kế và xã hội
và nơi các công ty áp dụng những nguồn lực riêng biệt của mình để giải quyết các vấn
đề xã hội Họ cho rằng những lĩnh vực như vậy hàm ý sự cải thiện về bối cảnh cạnh
tranh cải thiện các điều kiện vị thế của doanh nghiệp bằng cách tận dụng những năng lực độc đáo của mình Hơn nữa, CSR theo quan điểm chiến lược theo cách giải thích
của họ cũng chỉ các hoạt động của chuỗi giá trị được chuyển hóa thành lợi ích của xã hội trong khi vẫn tăng cường thực hiện các chiến lược của doanh nghiệp Tuy nhiên,
họ cũng thừa nhận rằng các hoạt động CSR thường đi theo cách tiếp cận danh mục đầu
tư bao gồm cả hoạt động CSR chiến lược và “phản ứng” liên quan đến nghĩa vụ cộng đồng và xây dựng quan hệ hoặc là giảm bớt những tác động tiêu cực do vận hành của doanh nghiệp gây nên (xem Porter và Kramer 2006b, 83-90; Porter và Kramer 2002,
58-62; Porter và Kramer 2006a, 192-198 và 201-204)
Theo quan điểm này, Porter và Kramer xem CSR theo quan điểm chiến lược như
là định vị duy nhất để cải thiện vị thế cạnh tranh Những định nghĩa khác xem chiến
lược như là một kế hoạch, đi theo một quá trình hay là một mô hình cụ thể (xem ví dụ Burke và Logsdon 1996, 496f.) Bám sát quan điểm về chiến lược này, các hoạt động CSR “phản ứng” của Porter và Kramer cũng có thể coi như là CSR mang tính chiến
lược nếu chúng là kết quả của một quá trình lập kế hoạch chiến lược đem lại những lợi ích quan trọng cho công ty để đảm bảo sự tồn tại trong dài hạn
Như vậy, mô hình này cho thấy sự tác động qua lại giữa doanh nghiệp và xã hội trên sự phối hợp của hai cách nhìn nhận: từ bên trong và từ bên ngoài Trên cơ sở đó,
sẽ hình thành trách nhiệm xã hội doanh nghiệp mang tính chiến lược thay vì cách làm phản ứng và không đem hiệu quả như mong đợi Cụ thể, hai cách nhìn nhận là:
Trang 3838
Thứ nhất, liên kết trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trong chuỗi giá trị Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp được phát triển ở doanh nghiệp như là một phần không thể thiếu trong chuỗi giá trị, bổ sung cho cả các hoạt động “hỗ trợ” và hoạt động “cơ bản” trong chuỗi Thuật ngữ sử dụng là quan hệ “bên trong – ngoài” (inside - out)
Hình 1.2: Liên kết CSR trong chuỗi giá trị doanh nghiệp
Nguồn: Porter & Kramer (2006)
Porter và Kramer (2006) chỉ ra rằng trách nhiệm xã hội doanh nghiệp mang tính chiến lược khi đóng góp vào chuỗi giá trị của doanh nghiệp (xem Porter, 1985) hoặc
cải thiện bối cảnh cạnh tranh (xem Porter, 1990) Porter và Kramer (2006) đã mô tả
cách thức các hoạt động trách nhiệm xã hội doanh nghiệp được tiến hành nhằm lồng
ghép trách nhiệm xã hội doanh nghiệp thành một phần trong chuỗi giá trị doanh nghiệp Theo đó, trách nhiệm xã hội doanh nghiệp sẽ hỗ trợ cả các hoạt động cơ bản
và cả các hoạt động hỗ trợ trong chuỗi giá trị Hoạt động này sẽ giúp doanh nghiệp
đảm bảo các yếu tố đầu vào ví dụ như nguyên liệu thô an toàn với nguồn tài nhiên
Trang 3939
thiên nhiên, giảm chi phí hoạt động, làm hoạt động hậu cần bên trong/bên ngoài trở
nên dễ dàng hơn hoặc đóng góp vào chức năng marketing và bán hàng trong chuỗi giá trị của doanh nghiệp Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp có thể tạo giá trị gia tăng của
các hoạt động hỗ trợ (trong mua sắm, phát triển công nghệ )
Thứ hai, dựa trên mô hình kim cương, nghiên cứu cũng sẽ chỉ ra sự tác động
qua lại giữa môi trường cạnh tranh và trách nhiệm xã hội doanh nghiệp của doanh nghiệp Thuật ngữ được sử dụng là “bên ngoài – trong” (outside - in) Theo đó, các
yếu tố của môi trường cạnh tranh sẽ có tác động đến trách nhiệm xã hội doanh nghiệp của doanh nghiệp (ví dụ như sức ép từ cầu, sức ép từ các ngành liên quan ) và doanh nghiệp cũng có ảnh hưởng tới môi trường cạnh tranh
Hình 1.3: Khía cạnh xã hội của môi trườ ng cạnh tranh doanh nghiệp
Nguồn: Porter & Kramer (2006).
Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp cải thiện bối cảnh cạnh tranh của doanh nghiệp khi các hoạt động này mang tính chiến lược xét về bản chất (hơn là mang tính
tuân thủ) Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp sẽ cải thiện các yếu tố sản xuất ví dụ như
Trang 4040
lao động có kỹ năng hoặc cơ sở hạ tầng - đó là những yếu tố cần thiết để cạnh tranh
trong ngành nhất định Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp có thể tác động đến điều kiện cầu của thị trường bằng cách khuyến khích cầu đối với các sản phẩm có chất lượng tiêu chuẩn tốt hơn, sản phẩm an toàn hơn, thân thiện với môi trường hơn, có trách nhiệm xã hội hơn Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp không chỉ tác động đến cầu xét về tính chất
mà còn làm quy mô cầu tăng lên Mặt khác, trách nhiệm xã hội doanh nghiệp cũng dẫn đến việc hình thành nguyên tắc và quy định về quản lý và giám sát cạnh tranh lành mạnh, bảo hộ quyền sở hữu trí thuệ và cải thiện môi trường đầu tư Điều này đến lượt nó sẽ tạo
ra bối cảnh cạnh tranh thuận lợi cho doanh nghiệp Cuối cùng, trách nhiệm xã hội doanh nghiệp tác động tích cực đến “các ngành liên quan và hỗ trợ” thông qua việc nâng cao năng lực ngành hỗ trợ để các nhà cung ứng cung cấp nguyên liệu thô (thường là nguyên liệu mang tính quan trọng) đúng chất lượng tại mức giá cạnh tranh đảm bảo về thời gian
và số lượng
Nhìn sâu hơn trong mô hình của Porter và Kramer (2006), cần chú ý trước hết đến liên kết “bên trong-ngoài”: dùng cách tiếp cận chuỗi giá trị để phân tích ảnh hưởng xã hội của doanh nghiệp Sau đó, là mối liên kết “bên ngoài-trong”: dùng mô
hình kim cương để phân tích ảnh hưởng xã hội đến tính cạnh tranh của doanh nghiệp Ngoài ra, các tác giả trên cũng cho rằng doanh nghiệp nên dựa trên khung khổ phân
tích đó để phát triển chiến lược CSR riêng, không nên theo đuổi các chiến lược chung vốn dĩ không đem lại lợi ích như kỳ vọng
Xét về quy trình, khuôn khổ lý thuyết về chiến lược CSR được Porter và Kramer phát triển bao gồm năm bước Thứ nhất là xác định điểm tương tác Mối quan hệ giữa doanh nghiệp và xã hội được định hình ở hai dạng: liên kết bên trong - ngoài và bên ngoài - trong Qua việc xem xét chuỗi giá trị, doanh nghiệp có thể sơ đồ hóa tác động xã hội của hoạt động kinh doanh Đồng thời, môi trường bao hàm cả trách nhiệm xã hội cũng tác động đến các hoạt động của doanh nghiệp Trên cơ sở đó, doanh nghiệp sẽ nhận diện được cơ hội và thách thức để loại trừ các tác động xấu và tối đa hóa tác động tốt phù hợp với chiến lược doanh nghiệp Tính chiến lược được thể hiện ở chỗ doanh nghiệp không thể thực hiện tất cả các thay đổi mà sẽ chọn những thay đổi nào tạo giá trị lớn nhất, đem lại lợi ích cho xã hội và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp