1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hiện trạng và giải pháp phát triển bền vững nghề nuôi cá rô phi (oreochromis niloticus linnaeus, 1758) tại thanh hóa

81 197 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Trong suất thời gian thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của quý phòng ban trường Đại học Nha Trang, Vụ nuôi trồng thủy sản, Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn T

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

VŨ VĂN HÀ

HIỆN TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

NGHỀ NUÔI CÁ RÔ PHI (Oreochromis niloticus Linnaeus, 1758)

TẠI THANH HÓA

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

VŨ VĂN HÀ

HIỆN TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

NGHỀ NUÔI CÁ RÔ PHI (Oreochromis Niloticus – Linnaeus,

1758) TẠI THANH HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Người hướng dẫn khoa học:

KHÁNH HÒA – 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài: “Hiện trạng và giải pháp phát triển

bền vững nghề nuôi cá Rô phi Oreochromis niloticus (Linnaeus, 1758) tại Thanh Hoá” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, các số liệu thu được trong quá trình

điều tra, phân tích của tác giả là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác cho tới thời điểm này

Khánh Hòa, ngày 20 tháng 10 năm 2017

Tác giả luận văn

Vũ Văn Hà

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suất thời gian thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của quý phòng ban trường Đại học Nha Trang, Vụ nuôi trồng thủy sản, Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn Thanh Hóa, Trung tâm Khuyến nông, Sở Tài nguyên - Môi trường, Cục thống kê tỉnh Thanh Hóa, Đoàn quy hoạch nông nghiệp, Chi cục Thú ý, Chi cục Quản lý Chất lượng Nông Lâm Thủy sản, Trạm Khuyến nông, phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các huyện Hà Trung, Yên Định, Hoằng Hóa, Triệu Sơn, Nông Cống và các hộ nuôi Cá rô phi trong tỉnh đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành hiện đề tài Đặc biệt là sự hướng dẫn tận tỉnh của thầy TS Lê Anh Tuấn và thầy cố TS Nguyễn Địch Thanh đã giúp đỡ tôi hoàn thành tốt đề tài Qua đây, tôi xin gửi lời cám

ơn sâu sắc đến sự giúp đỡ này

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến gia đình, bạn bè và đồng nghiệp những người đã luôn động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả luận văn

Vũ Văn Hà

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN iii

LỜI CẢM ƠN iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC BẢNG vii

DANH MỤC HÌNH viii

DANH MỤC TỪ VÀ THUẬT NGỮ VIẾT TẮT ix

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN x

MỞ ĐẦU 1

1.1 Tình hình nuôi cá rô phi trên thế giới 3

1.2 Thị trường tiêu thụ cá rô phi 4

1.3 Tình hình nuôi cá rô phi ở Việt Nam 6

1.4 Điều kiện tự nhiên của tỉnh Thanh Hóa 10

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16

2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 16

2.2 Phương pháp nghiên cứu 16

2.2.1 Sơ đồ khối nội dung của đề tài 16

2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 17

2.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 18

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 20

3.1 Điều kiện kinh tế xã hội liên quan đến nuôi cá rô phi 20

3.1.1 Dân số, lao động và việc làm 20

3.1.2 Cơ sở hạ tầng 20

3.1.3 Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế 20

3.1.4 Hiện trạng và cơ cấu sử dụng đất giữa các ngành kinh tế 20

Trang 6

3.1.5 Vị trí, vai trò của ngành thủy sản đối với nên kinh tế 21

3.2.1 Hiện trạng nuôi cá rô phi thương phẩm 22

3.2.2 Hiện trạng sản xuất giống, cung cấp thức ăn, chế phẩm sinh học 35

3.2.3 Hiện trạng về quản lý nhà nước 38

3.2.4 Môi trường vùng nuôi 41

3.2.5 Chế biến và thị trường tiêu thụ 42

3.2.6 Tác động của biến đổi khí hậu đến nghề nuôi cá rô phi 44

3.2.7 Những thuận lợi khó khăn trong phát triển nuôi cá rô phi 44

3.3 Giải pháp phát triển nuôi cá rô phi phát triển bền vững 48

3.3.1 Giải pháp về quy hoạch 48

3.3.2 Giải pháp đào tạo, khuyến ngư 49

3.3.4 Giải pháp về khoa học công nghệ 50

3.3.5 Giải pháp về thị trường 51

3.3.6 Giải pháp về cơ chế, chính sách, hỗ trợ 51

CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 53

4.1 Kết luận 53

4.2 Khuyến nghị 54

TÀI LIỆU THAM KHẢO 55

PHỤ LỤC 1

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Diện tích và thể tích lồng, bè nuôi cá rô phi ở nước ta năm 2014 6

Bảng 1.2: Một số chỉ tiêu chất lượng nước ở các sông có dấu hiệu ô nhiễm 14

Bảng 3.1 Diện tích nuôi trồng thủy sản (DNT) và nuôi cá rô phi (DRP) 23

Bảng 3.2 Sản lượng cá rô phi tại một số huyện năm 2015 25

Bảng 3.3 Lao động tham gia nuôi cá rô phi ở hộ nuôi và công ty trong tỉnh 27

Bảng 3.4 Trình độ và kinh nghiệm của người lao động nuôi cá rô phi 27

Bảng 3.5 Diện tích nuôi cá rô phi của hộ nuôi và công ty 28

Bảng 3.6 Diện tích ao nuôi cá rô phi của hộ nuôi và công ty 28

Bảng 3.7 Ao chứa và xử lý nước thải của hộ nuôi và công ty 29

Bảng 3.8 Thời gian nuôi cá rô phi thương phẩm 31

Bảng 3.9 Năng suất cá rô phi nuôi của hộ nuôi và công ty 32

Bảng 3.10 Tổng chi phí sản xuất nuôi cá rô phi thương phẩm 33

Bảng 3.11 Tổng doanh thu nuôi cá rô phi thương phẩm 34

Bảng 3.12 Lợi nhuận nuôi cá rô phi thương phẩm 35

Bảng 3.13 Khó khăn của các hộ nuôi cá rô phi 46

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Sản lượng cá rô phi toàn cầu năm 2014 3

Hình 1.2 Sản lượng cá rô phi của một số nước sản xuất chính năm 2013 3

Hình 1.3 Sản lượng cá rô phi nhập khẩu vào thị trường Mỹ giai đoạn 2004-2014 4

Hình 1.4 Diện tích nuôi cá rô phi và diện tích nuôi thủy sản cả nước 7

Hình 1.5 Sản lượng cá rô phi và sản lượng thủy sản nuôi cả nước 8

Hình 1.6 Năng suất nuôi cá rô phi qua các năm 8

Hình 1.7: Cơ cấu chi phí sản xuất nuôi cá rô phi trong ao năm 2014 9

Hình 1.8 Sơ đồ vị trí địa lý tỉnh Thanh Hóa 11

Hình 2.1: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 16

Hình 3.1 Cơ cấu diện tích các loại đất tỉnh Thanh Hóa năm 2014 21

Hình 3.2 Diện tích nuôi trồng thủy sản toàn tỉnh qua các năm 24

Hình 3.3 Diện tích nuôi cá rô phi ở một số huyện trong tỉnh 24

Hình 3.4 Sản lượng cá rô phi và thủy sản nuôi của tỉnh qua các năm 25

Hình 3.5 Năng suất nuôi cá rô phi qua các năm 26

Hình 3.6 Diện tích nuôi thủy sản Thanh Hóa bị bệnh qua các năm 32

Hình 3.7 Nhu cầu cá rô phi giống tại Thanh Hóa 36

Hình 3.8 Cây vấn đề xác định nguyên nhân của sự phát triển không bền vững 47

Trang 9

DANH MỤC TỪ VÀ THUẬT NGỮ VIẾT TẮT

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Nghiên cứu được thực hiện với nội dung “Hiện trạng và giải pháp phát triển bền vững nghề nuôi cá Rô phi Oreochromis niloticus (Linnaeus, 1758) tại Thanh

Hoá” Mục tiêu của đề tài cung cấp những thông tin khoa học và thực tiễn về hiện trạng kỹ thuật và hiệu quả kinh tế xã hội làm cơ sở cho các nhà quản lý, hoạch định chính sách đưa ra các giải pháp phát triển nghề nuôi cá rô phi tại Thanh Hóa theo hướng hiệu quả và bền vững Nghiên cứu được thực hiện từ 2014 - 2015 tại các vùng nuôi cá rô phi thâm canh tại tỉnh Thanh Hóa Số liệu thứ cấp được thu thập từ các cơ quan quản lý tại địa phương Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp đánh giá có sự tham gia của cộng đồng và phỏng vấn Nghiên cứu thực hiện điều tra

150 hộ nuôi thuộc 5 huyện có tiềm năng phát triển nghề nuôi cá rô phi Những thông tin chính được thu thập gồm hiện trạng kỹ thuật và hiệu quả kinh tế Kết quả nghiên cứu cho thấy, về diện tích nuôi cá rô phi thâm canh còn thấp so với tổng diện tích nuôi trồng thủy sản, năm 2013 là 1,93%, năm 2014 là 2,1%, năm 2015 là 2,37% chiếm tỷ lệ thấp Tuy nhiên, năng suất trung bình gấp 3-4 lần và sản lượng chiếm tỷ lệ cao (4,3 - 15,3%) và đang có xu thế tăng dần Số lượng lao động hộ nuôi trung bình 3,16 ± 1,51 lao động/hộ, và ở công ty trung bình là 14,56 ± 6,35 lao động/công ty, chất lượng lao động chưa qua đào tạo chiếm 94,0%, của công ty chiếm 30%; hầu hết chủ hộ là nam giới; chưa có kinh nghiệm nuôi cá rô phi; ao nuôi có thiết kế chủ yếu là hình chữ nhật, diện tích ao nuôi nuôi cá rô phi của hộ nuôi trung bình đạt 3.199 ± 559 m2/ao; diện tích

ao nuôi cá rô phi của công ty trung bình đạt 3.090 ± 516 m2/ao

Cá rô phi được nuôi từ 1-2 vụ/năm, trong đó số hộ nuôi 1 vụ/năm chiếm 78,0%; số hộ nuôi 02 vụ/năm chiếm 22% Thời gian nuôi trung bình từ 180 – 220 ngày/vụ Mật độ nuôi của các hộ dân trung bình 2,0 ± 0,5 con/m2, đối với công ty mật

độ nuôi trung bình 2,5 con/m2 Nguồn giống được mua từ Trại ương nuôi giống cá rô phi trong tỉnh và giống nhập từ tỉnh Hải Dương, Quảng Ninh, Hải Phòng có nguồn gốc

từ Trung Quốc Năng suất nuôi cá rô phi của hộ dân trung bình đạt 9,6 tấn/ha/vụ, công

ty đạt 15,1 tấn/ha/vụ Bệnh trên cá rô phi chưa gây thiệt hại nghiêm trọng, tỷ lệ chết từ

5 – 15 %, đa số đều được chữa trị kịp thời Chi phí sản xuất nuôi cá rô phi trung bình của hộ dân là 215 ± 1,5 triệu đồng/ha/vụ; tổng chi phí sản xuất trung bình của công ty

là 302,7 ± 5 triệu đồng/ha/vụ Doanh thu từ mô hình nuôi cá rô phi thương phẩm của

Trang 11

các hộ dân đạt 279,8 ± 1,8 triệu đồng/ha/vụ; công ty đạt 463,3 ± 15,3 triệu đồng/ha/vụ, lợi nhuận trung bình 72,7 ± 0,8 triệu đồng/ha/vụ Công ty đạt lợi nhuận trung bình 132

± 25,6 triệu đồng/ha/vụ Tỷ suất lợi nhuận trung bình đối với các hộ dân đạt 22%; đối với công ty đạt 27 % Để phát triển nghề nuôi cá rô phi tại Thanh Hóa theo hướng hiệu quả, bền vững cần tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp liên quan đến quy hoạch, tổ chức sản xuất, đào tạo phát triển nguồn nhân lực, khoa học công nghệ, thị trường tiêu thụ sản phẩm và quản lý nhà nước

Từ khóa: cá rô phi, kỹ thuật nuôi, phát triển bền vững, Thanh Hóa.

Trang 12

MỞ ĐẦU

Cá rô phi là loài cá được nuôi phổ biến trên thế giới Sản lượng rô phi nuôi không ngừng tăng lên và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện nguồn cung cấp dinh dưỡng cho người nghèo, nghề nuôi cá rô phi cũng được coi là một sinh

kế tốt nhất cho nông dân thoát khỏi đói nghèo Trong tương lai cá rô phi sẽ là sản phẩm thay thế cho các loài cá thịt trắng đang ngày càng suy giảm, là mặt hàng thủy hải sản được dự đoán làm thay đổi bức tranh thủy sản của thế kỷ XXI [30]

Là đối tượng ăn tạp, dễ nuôi, cá rô phi được di giống, thuần hoá và trở thành đối tượng nuôi phổ biến ở các vùng nước khác nhau trên 100 nước trên thế giới [36] Theo ước tính, năm 2006 sản lượng cá rô phi trên thế giới đạt trên 2,5 triệu tấn Cá rô phi đã trở thành đối tượng hàng hoá ngày càng có sức cạnh tranh cao ở ngay thị trường các nước phát triển Thị trường cá rô phi phát triển rất nhanh trong hai thập kỷ gần đây, đặc biệt thị trường Mỹ và Châu Âu Thị trường nhập khẩu cá rô phi trên thế giới năm 1996 là 20.000 tấn, năm 1999 là 100.000 tấn Năm 2008 Mỹ nhập khẩu 453.264 tấn cá rô phi Nhập khẩu của Mỹ chính là động lực thúc đẩy sự phát triển của ngành sản xuất cá rô phi trên toàn cầu

Từ năm 1995, cá rô phi đơn tính lần đầu tiên được nuôi tại Thanh Hóa, và trở thành đối tượng nuôi quan trọng, năng suất, sản lượng, giá trị thương mại ngày một tăng Bên cạnh đó, nuôi cá rô phi góp phần đa dạng hoá sản phẩm, tận dụng tốt hơn các vùng nước ngọt hiện có Thanh Hóa có tiềm năng nuôi trồng thủy sản rất lớn với 17.730 ha diện tích nước ngọt, lợ, mặn Trong đó, diện tích nuôi nước ngọt là 7.798 ha,

nước lợ là 908 ha, đã và đang chuyển đổi phát triển kinh tế trang trại Toàn tỉnh có 184

xã có hồ chứa với tổng số 401 hồ chiếm diện tích 5.665 ha Ngoài ra, còn có hệ thống sông Chu, sông Mã, hồ chứa thủy điện Cửa Đạt, hồ Sông Mực đã tạo nên hàngnghìn

ha diện tích mặt nước có khả năng phát triển nuôi trồng thủy sản

Tuy nhiên, còn nhiều tồn tại hạn chế về chất lượng con giống, ứng dụng khoa học công nghệ, tổ chức sản xuất và thị trường tiêu thụ Các giải pháp và công nghệ đưa ra chưa hoàn toàn khắc phục những khó khăn và tận dụng được các lợi thế để tạo

ra lượng hàng hoá lớn, đảm bảo chất lượng, có giá trị xuất khẩu Trong những năm qua, nghề nuôi cá rô phi ở Thanh Hóa chủ yếu theo phương pháp truyền thống, tận dụng phụ phẩm nông nghiệp, thời gian nuôi kéo dài, cỡ cá thu hoạch nhỏ, giá trị

Trang 13

thương mại thấp, các yếu tố đầu vào và đầu ra của sản phẩm không được kiểm soát Vì vậy, giá thành cao, hiệu quả kinh tế còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng

Vấn đề cấp bách đặt ra cần có những định hướng phát triển nuôi cá rô phi phù hợp để nâng cao hiệu quả kinh tế, phát triển theo hướng bền vững, tăng thu nhập cho

bà con nông ngư dân, góp phần thực hiện thành công mục tiêu ứng dụng công nghệ cao trong nuôi trồng thuỷ sản của tỉnh Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi thực

hiện đề tài “Hiện trạng và giải pháp phát triển bền vững nghề nuôi cá rô phi Oreochromis niloticus (Linnaeus, 1758) tại Thanh Hoá”

Mục tiêu của đề tài: Nhằm đánh giá được hiện trạng nghề nuôi cá rô phi của tỉnh

Thanh Hóa, đề xuất được các giải pháp phát triển nghề nuôi cá rô phi theo hướng bền vững tại tỉnh Thanh Hóa trong bối cảnh biến đổi khí hậu và hội nhập quốc tế

Nội dung của đề tài: Đề tài được thực hiện với hai nội dung:

1 Điều tra hiện trạng tỉnh hình nuôi cá rô phi tại tỉnh Thanh Hóa

2 Đề xuất các giải pháp kỹ thuật, quản lý để phát triển nghề nuôi cá rô phi theo

hướng bền vững

Ý nghĩa của đề tài:

Thành công của đề tài là cơ sở khoa học và thực tiễn cho ngành nông nghiệp Thanh Hóa phát triển nghề cá rô phi tại tỉnh nói riêng và cả nước nói chung

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Tình hình nuôi cá rô phi trên thế giới

Cá rô phi có nguồn gốc từ Châu Phi (họ Cichlidae) Hiện nay, có khoảng hơn

80 loài có tên là rô phi, trong đó khoảng 10 loài có giá trị kinh tế trong nuôi trồng thuỷ sản Với khả năng thích nghi tốt với nhiều dạng môi trường mà hiện tại cá rô phi đang được nuôi rộng rãi ở nhiều vùng khí hậu, độ mặn khác nhau trên thế giới [27] Hình thức nuôi, mức độ nuôi cá rô phi cũng khá đa dạng, từ nuôi đơn đến nuôi ghép [26]

Hình 1.1 Sản lượng cá rô phi toàn cầu năm 2014 [31]

Cá rô phi là loài cá được nuôi phổ biến thứ 2 trên thế giới, chỉ sau các loài cá chép Sản lượng cá rô phi nuôi không ngừng tăng lên, nghề nuôi cá rô phi cũng giúp nông dân ở nhiều quốc gia trên thế giới thoát nghèo [28] Năm 2014, sản lượng cá rô phi toàn cầu đạt 4,85 triệu tấn, tốc độ tăng trường 11,7% từ năm 2010 - 2014 (Hình 2)

Hình 1.2 Sản lượng cá rô phi của một số nước sản xuất chính năm 2013 [31]

Trang 15

Châu Á là khu vực chính sản xuất cá rô phi, chiếm hơn 60% tổng sản lượng cá

rô phi toàn cầu Trung Quốc là nước sản xuất và xuất khẩu cá rô phi lớn nhất thế giới đạt 1.600.000 tấn, tiếp theo là Indonesia 717.813 tấn, Philippines 275.000 tấn, Thái Lan 220.000 tấn và Việt Nam 95.000 tấn [31], [32], [41] Hình thức nuôi cá rô phi ở Trung Quốc khá đa dạng, từ nuôi đơn, nuôi ghép, quảng canh đến siêu thâm canh Năm 2013, nước này xuất khẩu 370.000 tấn cá rô phi, trị giá 1,3 tỷ USD [1]

Cá rô phi được xuất khẩu chủ yếu sang Mỹ, Nhật dưới dạng sản phẩm nguyên con đông lạnh, phi lê đông lạnh và sashimi [31] Ngoài khu vực châu Á, Ai Cập là nước có sản lượng lớn nhất với 768.000 tấn/năm (2012), cao thứ hai sau Trung Quốc, chiếm 90% sản lượng cá rô phi ở châu Phi Gần đây, một số nước châu Phi bắt đầu tập trung phát triển cá rô phi, đặc biệt là Ghana với nhiều chính sách tốt

1.2 Thị trường tiêu thụ cá rô phi

Nhập khẩu cá rô phi vào thị trường Mỹ có tốc độ tăng trưởng nhanh trong giai đoạn vừa qua với tốc độ tăng trưởng bình quân 10,4%/năm Giá trị nhập khẩu cá rô phi vào Mỹ năm 2014 đạt 1,114 tỷ USD

Hình 1.3 Sản lượng cá rô phi nhập khẩu vào thị trường Mỹ giai đoạn 2004-2014

Mỹ nhập khẩu cá rô phi chủ yếu từ Trung Quốc, sản lượng cá rô phi nhập khẩu

từ Trung Quốc chiếm 74,8% thị phần (2014) Một số nước có thị phần xuất khẩu vào

Mỹ sau Trung Quốc là Đài Loan, Indonesia, Honduras, Ecuado, Colombia Tốc độ tăng trưởng sản lượng của thị trường cá rô phi Mỹ giai đoạn 2009-2014 đạt 5,16%/năm Trong các nhóm sản phẩm cá rô phi nhập khẩu vào thị trường Mỹ thì cá

rô phi fillet đông lạnh chiếm tỷ lệ cao nhất (363.571 tấn năm 2014), tiếp đến là sản

Trang 16

phẩm đông lạnh nguyên con (87.901 tấn) và thấp nhất là sản phẩm fillet tươi (57.011 tấn) Việt Nam tham gia thị trường Mỹ từ những năm 2009, chủ yếu ở phân khúc đông lạnh nguyên con và fillet đông lạnh Giai đoạn 2014 và 8 tháng đầu năm 2015 có sự tăng trưởng nhanh về sản lượng cá rô phi xuất khẩu sang thị trường Mỹ

Nguồn cung cá rô phi vào thị trường Mỹ: Cá rô phi tươi sống và cá rô phi tươi nguyên con chủ yếu là do nguồn cung trong nước Cá rô phi fillet tươi do các nước Trung và Nam Mỹ cung cấp, cá rô phi fillet và nguyên con đông lạnh do các nước châu Á cung cấp Tổng giá trị nhập khẩu cá rô phi vào thị trường Mỹ năm 2014 đạt 1,114 tỷ đô la Mỹ Trung Quốc, Đài Loan, Indonesia, Honduras Ecuado, Costa Rica, Colombia là những nước có giá trị xuất khẩu cao nhất vào thị trường Mỹ

Giá trị nhập khẩu cá rô phi vào thị trường Mỹ theo dạng sản phẩm fillet đông lạnh chiếm tỷ lệ cao nhất (> 80%, tương ứng 754,8 triệu USD năm 2014), tiếp theo là fillet tươi (192,8 triệu USD) và thấp nhất là cá rô phi đông lạnh nguyên con (80,9 triệu USD) Việt Nam tham gia thị trường Mỹ ở hai phân khúc là fillet đông lạnh và đông lạnh nguyên con Tuy nhiên, giá trị xuất khẩu fillet đông lạnh của Việt Nam còn chiếm

tỷ lệ thấp hơn so với giá trị cá rô phi đông lạnh nguyên con

Các nước Châu Âu nhập khẩu cá rô phi chiếm tỷ lệ thấp song đây là thị trường tiềm năng cho mặt hàng cá rô phi fillet đông lạnh Châu Âu chủ yếu nhập khẩu sản phẩm cá rô phi fillet đông lạnh từ các nước châu Á trong đó có Trung Quốc, Việt Nam, Indonesia và Thái Lan Trong đó sản lượng nhập khẩu từ Trung Quốc chiếm trên 80% thị phần Trong năm 2013 và 2014, Việt Nam đã tích cực phát triển xuất khẩu sang thị trường châu Âu với tổng sản lượng đạt hơn 1.100 tấn năm 2014 Những nước châu Âu nhập khẩu cá rô phi chính bao gồm Ba Lan, Tây Ban Nha, Đức, Hà Lan và

Bỉ Trong đó Ba Lan là nước nhập khẩu cá rô phi lớn nhất, cao thứ 2 là Tây Ban Nha Nước có giá nhập khẩu cao nhất là Bỉ (4,57 đô la/kg) và nước có giá nhập khẩu thấp nhất là Ba Lan (2,88 đô la Mỹ/kg)

Có sự khác biệt về giá nhập khẩu cá rô phi từ các nguồn khác nhau do chất lượng và thương hiệu Giá xuất khẩu cá rô phi của Việt Nam sang thị trường châu Âu tuy có cao hơn so với giá cá rô phi của Trung Quốc song thấp hơn nhiều so với giá cá của Indonesia và Thái Lan Giá cá rô phi của Indonesia cao hơn là do nuôi trong hồ chứa nước sâu có chất lượng cao Ngoài yếu tố môi trường nuôi, cá rô phi của

Trang 17

Indonesia và Thái Lan có giá bán cao hơn là do kích cỡ thương phẩm lớn, tập trung vào phân khúc hàng chất lượng cao gắn với xây dựng thương hiệu Do vậy, để nâng cao tính cạnh tranh, Việt Nam cần đẩy mạnh việc nâng cao chất lượng sản phẩm gắn với xây dựng thương hiệu Không phát triển thị trường cá giá rẻ do phải cạnh tranh với

cá rô phi chất lượng thấp của Trung Quốc

Indonesia là nước xuất khẩu cá rô phi fillet đông lạnh lớn thứ 2 thế giới, chỉ sau Trung Quốc So với cùng kỳ năm 2013, xuất khẩu cá rô phi của Indonesia tăng 22% trong nửa đầu năm 2014 Mỹ tiêu thụ 60% tổng lượng cá rô phi xuất khẩu của Indonesia Đài Loan xuất khẩu 11.391 tấn cá rô phi nguyên con đông lạnh trong nửa đầu của năm 2014 Gần 53% lượng cá rô phi này được xuất sang Mỹ Trung Đông cũng là một thị trường quan trọng đối với cá rô phi Đài Loan

Nhập khẩu cá rô phi của các nước châu Á khá khiêm tốn do các nước tập trung vào phục vụ nhu cầu trong nước Trong nửa đầu 2014, tổng nhập khẩu vào Singapore, Malaysia, Hồng Kông, Hàn Quốc và Nhật Bản đạt khoảng 2.000 tấn Cá rô phi nhập khẩu vào Nhật Bản chủ yếu là loại có chất lượng để làm sashimi Loại sản phẩm này phần lớn có xuất xứ từ Đài Loan Nhật Bản cũng có hàng nhập khẩu từ Philippines, chủ yếu hướng đến cộng đồng người Philippines ở Nhật Bản Gần đây, các thị trường như Iran, Ukraine và Kazakhstan cũng NK cá rô phi đông lạnh [38], [41]

1.3 Tình hình nuôi cá rô phi ở Việt Nam

Ở Việt Nam, nghề nuôi cá rô phi đã có lịch sử phát triển hơn nửa thế kỷ và ngày càng được nuôi, tiêu thụ phổ biến ở nhiều địa phương trên cả nước

Bảng 1.1 Diện tích và thể tích lồng, bè nuôi cá rô phi ở nước ta năm 2014 [1] STT Địa phương Diện tích nuôi (ha) Thể tích (m 3 )

Trang 18

Về diện tích, theo thống kê năm 2014, diện tích nuôi cá rô phi của cả nước là 25.748 ha, nuôi lồng bè với tổng thể tích 1.210.465 m3, nuôi tập trung cao nhất ở các khu vực đồng bằng sông Hồng và vùng Tây Nam Bộ, chiếm 74,15% sản lượng cá rô phi nuôi của cả nước [1]

So với diện tích nuôi trồng thủy sản trong cả nước, diện tích nuôi cá rô phi chiếm tỷ lệ thấp Cơ cấu diện tích nuôi cá rô phi năm 2005 là 3,12%, năm 2010 là 0,75%, năm 2014 là 1,99% Diện tích nuôi trồng thủy sản trong cả nước tăng lên hàng năm, trong khi diện tích nuôi cá rô phi có biến động, năm 2010 và 2014 đều có diện tích nuôi thấp hơn năm 2005

Hình 1.4 Diện tích nuôi cá rô phi và diện tích nuôi thủy sản cả nước

Trong số 25.748 ha nuôi cá rô phi, chủ yếu tập trung ở các tỉnh miền Bắc và Bắc Trung bộ Ở miền Nam, diện tích nuôi cá rô phi chiếm tỷ lệ rất nhỏ, chủ yếu là các

ao ương nuôi cá rô phi trong mương vườn Nuôi cá rô phi trong ao phổ biến ở miền Bắc thì nuôi cá rô phi trong lồng bè lại là phổ biến ở các tỉnh miền Nam

Về sản lượng cá rô phi năm 2014 của cả nước đạt 187.800 tấn Tuy nhiên, sản lượng cá rô phi đạt tiêu chuẩn chế biến xuất khẩu còn chiếm tỷ lệ nhỏ Các địa phương

có sản lượng cá rô phi cao bao gồm An Giang, Hải Dương, Hưng Yên, Đồng Tháp, Tiền Giang, Hà Nội có sản lượng cá rô phi đạt trên 10.000 tấn/năm Những địa phương

có tỷ lệ sản lượng cá rô phi xuất khẩu cao bao gồm An Giang, Thanh Hóa [1]

Trang 19

Hình 1.5 Sản lượng cá rô phi và sản lượng thủy sản nuôi cả nước [1]

Về năng suất nuôi cá rô phi trong ao trung bình theo kết quả điều tra báo cáo quy hoạch phát triển nuôi cá rô phi đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 Năm

2015 có sự tăng trưởng về năng suất nuôi cá rô phi, từ 1,84 tấn/ha năm 2005 tăng 7,87 tấn/ha năm 2014 (Hình 1.6) Về mùa vụ nuôi đối với miền Bắc và Bắc Trung bộ, vụ nuôi cá rô phi chính thường kéo dài trong thời gian 5-6 tháng, thả giống từ giữa tháng

4 - 5 và thu hoạch từ tháng 10-11 Đối với Nam Trung bộ và Nam bộ hình thức nuôi cá

rô phi trong lồng bè là phổ biến, cá rô phi có thể thả nuôi và thu hoạch quanh năm [1]

Hình 1.6 Năng suất nuôi cá rô phi qua các năm

Về tiêu thụ sản phẩm, hiện nay ở Việt Nam tồn tại hai kênh tiêu thụ cá rô phi chính bao gồm cá rô phi tươi sống phục vụ thị trường trong nước và kênh chế biến xuất khẩu Trong đó kênh tiêu thụ cá rô phi tươi sống phục vụ thị trường trong nước giữ vai trò chủ đạo Xuất khẩu cá rô phi ở Việt Nam sang các thị trường trên thế giới luôn tăng trưởng trong những năm gần đây Năm 2014, giá trị xuất khẩu cá rô phi Việt

Trang 20

Nam đạt 32 triệu USD Những thị trường xuất khẩu chính với sản phẩm cá rô phi của Việt Nam bao gồm Mỹ, châu Âu Tuy nhiên, xuất khẩu cá rô phi Việt Nam hiện nay vẫn còn thấp, chiếm 1,06% tổng khối lượng cá rô phi nhập khẩu vào thị trường Mỹ Thị trường tiêu dùng nội địa với trên 90,728 triệu dân rất quan trọng cho cá rô phi

Về sản xuất giống, cả nước hiện có 235 cơ sở sản xuất kinh doanh giống cá rô phi, trong đó có 44 cơ sở nuôi giữ đàn cá bố mẹ với khoảng 940.000 cá thể, sản xuất được khoảng trên 1 tỷ cá rô phi bột, trên 300 triệu cá rô phi giống Số lượng giống này chỉ đáp ứng được 70% nhu cầu nuôi trồng hiện nay Nhập khẩu giống từ các nước trong khu vực (Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan…) và chuyển giống từ miền Nam, giống cá rô phi nhập nội hiện nay phần lớn qua đường tiểu ngạch, không rõ nguồn gốc xuất xứ, chưa được đánh giá chất lượng [1]

Công nghệ sản xuất giống đơn tính đực chủ yếu áp dụng phương pháp dùng hormone trộn vào thức ăn, phương pháp lai khác loài giữa rô phi vằn và rô phi xanh và phương pháp nuôi cá rô phi bố mẹ và cho đẻ trong ao đất, vớt cá bột hàng ngày và thực hiện chuyển đơn tính đực bằng phương pháp ngâm hoóc môn Phương pháp này hiện nay đang áp dụng có hiệu quả, rút ngắn thời gian sản xuất [37]

Về công nghệ nuôi, ở Việt Nam đã phát triển 3 công nghệ nuôi cá rô phi đang được áp dụng phổ biến: Nuôi chuyên canh cá rô phi trong ao, nuôi ghép cá rô phi trong

ao và nuôi cá rô phi trong lồng bè [34] Về môi trường và dịch bệnh trên cá rô phi nuôi

đã xuất hiện bệnh trên cá rô phi, được phân chia thành các nhóm theo tác nhân gây bệnh: virus, vi khuẩn, ký sinh trùng, môi trường, thiếu dinh dưỡng Trong đó bệnh do

vi khuẩn và ký sinh trùng là nguy hiểm nhất đối với cá rô phi

Hình 1.7: Cơ cấu chi phí sản xuất nuôi cá rô phi trong ao năm 2014

Trang 21

Về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong nuôi cá rô phi trong ao, chi phí thức ăn chiếm từ 65% đến 80% trong giá thành sản xuất , tuy nhiên ngành công nghiệp chế biến thức ăn của nước ta đang phụ thuộc chủ yếu vào các doanh nghiệp nước ngoài Hiện thị phần thức ăn cho cá rô phi phần lớn do các doanh nghiệp nước ngoài quản lý (Cargill, Green Feed, Anova, UniPresident…) và một số doanh nghiệp nội (Proconco, Kinh Bắc, Minh Hiếu, ABC, Minh Tâm ) sử dụng thức ăn, chế phẩm sinh học trong nuôi cá rô phi, theo báo cáo của Tổng cục Thủy sản năm 2013, cả nước có khoảng 130 nhà máy sản xuất thức ăn thủy sản, 3,7 triệu tấn thức ăn/năm Để đạt được 150.000 tấn cá rô phi/năm theo định hướng tái cơ cấu ngành đến 2020, tổng sản lượng thức ăn cho cá rô phi cần sản xuất trên 270.000 tấn/năm [1] Các sản phẩm chế phẩm sinh học dùng trong nuôi cá rô phi hiện nay rất đa dạng về chủng loại và mẫu mã Hiện

có hơn 100 chế phẩm sinh học đang được dùng trong nuôi cá rô phi

Về tổ chức, quản lý sản xuất cá rô phi còn nhỏ lẻ, phân tán, chưa có nhiều các khu vực nuôi cá rô phi tập trung để tạo sản lượng lớn Tổ chức sản xuất cá rô phi thương phẩm còn manh mún, chủ yếu dựa trên kinh tế hộ và kinh tế trang trại nên chưa sản xuất được sản phẩm cá rô phi có kích cỡ đồng đều, chất lượng tốt với số lượng lớn Hình thức quản lý có sự tham gia của cộng đồng chưa được phát triển, mang lại hiệu quả cho sản xuất, kinh doanh của người dân Các mô hình kinh tế hợp tác, các hội, hiệp hội ngành nghề còn mờ nhạt, không tương xứng với quy mô, thực tiễn sản xuất, chưa thu hút được tham gia của doanh nghiệp trong chuỗi sản xuất [1]

1.4 Điều kiện tự nhiên của tỉnh Thanh Hóa

Thanh Hoá là tỉnh nằm ở cực Bắc vùng Duyên hải Bắc Trung Bộ, cách Thủ đô

Hà Nội 153km về phía Bắc, về phía Nam cách Thành phố Vinh tỉnh Nghệ An 138 km, cách thành phố Hồ Chí Minh 1.560km, có tọa độ địa lý từ 19018’ đến 20000’ vĩ độ Bắc; 1040 22’ đến 106004’ kinh độ Đông Với diện tích tự nhiên 11.129,48 km2 đứng thứ 5 về diện tích tự nhiên của cả nước Toàn tỉnh có 27 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm 01 thành phố, 02 thị xã và 24 huyện (trong đó 10 huyện đồng bằng, 06 huyện ven biển, 11 huyện miền núi) với 637 xã, phường, thị trấn Là tỉnh có địa hình khá phức tạp, đồi núi chiếm trên 3/4 diện tích tự nhiên của cả tỉnh Địa hình Thanh Hoá chia thành 3 vùng rõ rệt: Vùng miền núi, vùng đồng bằng và vùng ven biển

Trang 22

Hình 1.8 Sơ đồ vị trí địa lý tỉnh Thanh Hóa

Thanh Hoá nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia làm hai mùa rõ rệt: mùa nóng kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ năm chênh lệch đáng kể theo từng vị trí, theo vĩ độ Trung bình năm đạt 23,6oC tại thành phố Thanh Hoá, vùng đồng bằng sông Mã; đạt 23oC vùng Hồi Xuân trung lưu sông Mã, vùng sông Chu và đạt 23,3oC tại Như Xuân, Bái Thượng Càng lên vùng cao, nhiệt độ năm càng giảm Mùa lạnh từ tháng 12 - 3, tháng lạnh nhất là tháng

1 với nhiệt độ trung bình từ 12-140C ở vùng miền núi và 15-170C ở vùng đồng bằng Mùa nóng từ tháng 5 - 9 nhiệt độ trung bình tháng bắt đầu tăng cao, nhất là khi có sự hoạt động của gió Lào Nhiệt độ tăng cao nhất là tháng 7 đạt 290C ở Thanh Hóa, 28,40C ở Bái Thượng, 27,60C ở Hồi Xuân, 26,30C ở Sông Mã, 25,20C ở Tuần Giáo Chênh lệch nhiệt độ giữa các tháng mùa nóng không nhiều từ 2-30C

Về mặt khí hậu thì hầu hết thời gian trong năm đều có thể nuôi được cá rô phi

do nhiệt độ bình quân trong năm tương đối cao, trên 23oC Những ngày có nhiệt độ dưới 15oC không nhiều và thường chỉ kéo dài liên tục không quá 7 ngày Về địa hình địa mạo, diện tích đồng bằng của Thanh Hóa lớn, hiện tại đang phục vụ cho canh tác nông nghiệp, hoàn toàn có thể chuyển đổi một phần sang nuôi cá rô phi

Thanh Hóa có đường bờ biển dài 102 km trong đó có 6 cửa sông đổ ra biển, đồng thời là nơi tiếp nhận dòng triều - mặn từ biển xâm nhập vào đất liền ở 4 hệ thống

Trang 23

sông chính gồm hệ thống sông Mã, sông Yên, sông Càn và sông Bạng Diễn biến triều

- mặn trong sông rất phức tạp do chịu chi phối của nhiều yếu tố tự nhiên và tác động của con người Việc đánh giá diễn biến triều - mặn trong mùa kiệt năm 2012 được Sở tài nguyên và môi trường phối hợp với trung tâm khí tượng thủy văn Thanh Hóa thực hiện điều tra tại vùng hạ lưu hệ thống sông Mã từ ngày 11/3 đến 23/3 và vùng hạ lưu

hệ thống sông Yên, sông Lạch Bạng từ 24/2 đến 6/4 năm 2012 cho thấy nếu lấy độ mặn 1‰ là giới hạn và tính từ cửa biển về phía thượng lưu, độ mặn xâm nhập vào các sông trong đợt điều tra năm 2012 như sau: Trên dòng chính sông Mã mặn xâm nhập vào sâu tới 23km, sông Lèn tới 18,5 km, sông Lạch Trường, Lạch Bạng và kênh De xâm nhập mặn trên toàn tuyến sông; vùng sông Yên từ 22 - 25 km Xâm nhập mặn vùng cửa sông ven biển ở mức độ trung bình Mức độ xâm nhập mặn vùng sông Mã có phần thấp so với cùng kỳ năm 2011; vùng sông Yên, sông Bạng ở mức xấp xỉ đến cao hơn một ít so với cùng kỳ năm 2011

Thanh Hoá có địa hình khá phức tạp, bị chia cắt nhiều và nghiêng theo hướng Tây Bắc - Đông Nam: phía Tây Bắc có những đồi núi cao trên 1.000 m đến 1.500 m, thoải dần, kéo dài và mở rộng về phía Đông Nam; đồi núi chiếm trên 3/4 diện tích tự nhiên của cả tỉnh Địa hình Thanh Hoá có thể chia thành 3 vùng rõ rệt: vùng đồng bằng, vùng ven biển và vùng trung trung du miền núi với những đặc trưng như sau:

- Vùng đồng bằng: Vùng đồng bằng có diện tích đất tự nhiên là 195.550ha, chiếm 17,6% diện tích toàn tỉnh bao gồm các huyện: Thọ Xuân, Yên Định, Thiệu Hoá, Đông Sơn, Triệu Sơn, Nông Cống, Vĩnh Lộc, Hà Trung, Thành phố Thanh Hoá và thị

xã Bỉm Sơn Đây là vùng được bồi tụ bởi 4 hệ thống sông chính là: Hệ thống sông Mã, sông Bạng, sông Yên, sông Hoạt Vùng này có độ dốc không lớn, bằng phẳng, độ cao trung bình dao động từ 5 - 15 m so với mực nước biển Tuy nhiên, một số nơi trũng như Hà Trung có độ cao chỉ khoảng 0 - 1 m Đặc điểm địa hình vùng này là sự xen kẽ giữa vùng đất bằng với các đồi thấp và núi đá vôi độc lập Đây là vùng có tiềm năng, thế mạnh phát triển nông nghiệp của tỉnh Thanh Hóa

- Vùng ven biển: Vùng ven biển gồm 06 huyện, thị xã chạy dọc ven bờ biển với chiều dài 102 km từ huyện Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hóa, Sầm Sơn, Quảng Xương đến Tĩnh Gia Diện tích tự nhiên toàn vùng là 118.078ha, chiếm 10,6% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, địa hình tương đối bằng phẳng; Chạy dọc theo bờ biển là các cửa

Trang 24

sông Vùng đất cát ven biển có địa hình lượn sóng chạy dọc bờ biển, độ cao trung bình

3 - 6 m Đây là vùng có nhiều tiềm năng để phát triển nông nghiệp, đặc biệt vùng này

có bãi tắm Sầm Sơn nổi tiếng và các khu nghỉ mát, có những vùng đất đai rộng lớn thuận lợi cho việc nuôi trồng thuỷ sản và phát triển các khu công nghiệp (Nghi Sơn), dịch vụ kinh tế biển nói chung

- Vùng trung du, miền núi: Gắn liền với hệ núi cao phía Tây Bắc và hệ núi Trường Sơn phía Nam, bao gồm 11 huyện: Mường Lát, Quan Sơn, Quan Hoá, Bá Thước, Lang Chánh, Ngọc Lặc, Thường Xuân, Như Xuân, Như Thanh, Cẩm Thuỷ, Thạch Thành, có tổng diện tích tự nhiên là 799.319ha, chiếm 71,8% diện tích toàn tỉnh Độ cao trung bình vùng núi từ 600-700 m, độ dốc trên 250 Ở đây có những đỉnh núi cao như Tà Leo (1.560 m) ở phía hữu ngạn sông Chu, Bù Ginh (1.291 m) ở phía tả ngạn sông Chu Vùng trung du có độ cao trung bình từ 150-200m, độ dốc từ 150 - 200 chủ yếu là các đồi thấp, đỉnh bằng, sườn thoải Đây là vùng có tiềm năng, thế mạnh phát triển lâm nghiệp, cây ăn quả, cây công nghiệp dài ngày, cao su, mía đường của tỉnh Thanh Hóa

Ngoài ra, Thanh Hóa có chiều dài bờ biển 102 km được giới hạn từ Cửa lạch Càn (giáp Ninh Bình) đến Đông Hồi, xã Hải Hà, huyện Tĩnh Gia (giáp tỉnh Nghệ An), vùng lãnh hải rộng hơn 1,7 vạn km2 Dọc bờ biển có 7 cửa lạch lớn, nhỏ Trong đó có

5 cửa lạch chính là: Lạch Sung, Lạch Trường, Lạch Hới, Lạch Bạng và Lạch Ghép, gần bờ có một số đảo có điều kiện để xây dựng cảng biển và phát triển vận tải biển Tại các cửa lạch: Lạch Sung, Lạch Trường, Lạch Hới, Lạch Ghép, Lạch Bạng và đảo

có thể xây dựng cảng cá kết hợp cảng bách hóa, hiện nay tại các cửa lạch này đang là

tụ điểm giao lưu kinh tế và là những trung tâm nghề cá, cảng cá, khu tránh trú bão tàu thuyền ngư dân của vùng, rất thuận lợi cho tàu thuyền đánh cá ra vào

Nguồn nước cho nuôi thuỷ sản nước ngọt bao gồm: nước từ các sông, suối, nước hồ chứa thủy lợi qua các hệ thống tưới tiêu cho nông nghiệp; nước mưa Theo kết quả điều tra quy hoạch cấp nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020 Cho thấy sự nhiễm bẩn do nước mặt và nước mưa, nước thải thấm trực tiếp vào công trình nước sinh hoạt đặc biệt đối với các vùng có sản xuất công nghiệp, làng nghề, du lịch Các chỉ tiêu bị ô nhiễm nhiều là Mn, BOD5, COD,

SS, NH4+, NO3- NO2-, Mn, Fe, ColiForm

Trang 25

Bảng 1.2: Một số chỉ tiêu chất lượng nước ở các sông có dấu hiệu ô nhiễm

Tên sông và địa điểm quan

Kết quả quan trắc một số chỉ tiêu hóa chất bảo vệ thực vật và nồng độ chất phóng xạ trong nước một số sông qua 6 đợt quan trắc năm 2011 cho thấy: hầu hết các mẫu nước quan trắc đều có hàm lượng chất hóa chất bảo vệ thực vật chlor hữu cơ, phốt pho hữu cơ, chất diệt cỏ và nồng độ chất phóng xạ α và β thấp hơn tiêu chuẩn cho phép Kết quả phân tích 14 chỉ tiêu chất lượng nước theo QCVN02/BYT cho thấy các chỉ tiêu cơ bản như độ đục, pH, ammonium, sắt tổng cộng, độ cứng, chlorua, florua, asen, ecoli đều thỏa mãn tiêu chuẩn chất lượng nước theo QCVN08:2008/BTNMT, nguồn nước loại A1 và A2, có thể sử dụng làm nguồn nước cấp cho sinh hoạt Như vậy nguồn nước mặt để khai thác nuôi trồng thủy sản tỉnh Thanh Hóa có chất lượng nước phù hợp cho nuôi trồng thủy sản

Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thanh Hóa, năm

2013 diện tích nuôi cá nước ngọt trên địa bàn tỉnh hơn 7340 ha, cá rô phi được đưa vào nuôi ở tỉnh Thanh Hóa từ năm 2003, tuy nhiên chủ yếu là nuôi theo hình thức xen

Trang 26

ghép với các loại cá nước ngọt khác như: trắm, trôi, mè trong các hộ nuôi, năng suất

và chất lượng sản phẩm chưa cao Duy chỉ có Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu thủy sản Thanh Hóa đã đầu tư nuôi thâm canh, ứng dụng công nghệ cao đủ tiêu chuẩn để xuất khẩu Năm 2013, công ty đã liên kết với nông dân các huyện Nông Cống, Nga Sơn, Triệu Sơn nuôi 15 ha cá rô phi đơn tính, sản lượng đạt 400 tấn và toàn bộ đã được xuất khẩu [5] Năm 2014, công ty tiếp tục đầu tư nuôi thâm canh 25 ha và 380 ha nuôi quảng canh trên các hồ thủy lợi, ước tính sản lượng đạt trên 1.700 tấn [6]

Cùng với việc áp dụng các tiến bộ khoa học về giống, các tiến bộ về phòng trị bệnh và quản lý môi trường ao nuôi cũng bắt đầu được áp dụng rộng rãi: sử dụng các chế phẩm sinh học… để cải thiện môi trường nước và đáy ao, hạn chế sự phát triển của các tác nhân gây bệnh và tăng sức đề kháng của đối tượng thuỷ sản Mô hình xử lý môi trường ao nuôi bằng chế phẩm vi sinh đã làm sạch môi trường nước, tạo điều kiện cho các đối tượng thuỷ sản sinh trưởng, phát triển tốt [14] Hiện Thanh Hóa đang có

44 cơ sở chuyên sản xuất và cung ứng cá giống nước ngọt như cá Mè, Trôi, Trắm, Chép nhưng cá rô phi chủ yếu nhập từ các tỉnh bạn, chất lượng không ổn định Đây cũng là nguyên nhân nghề nuôi cá rô phi đơn tính chưa phát triển mạnh

Trang 27

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Các hộ gia đình và doanh nghiệp nuôi cá rô phi thương phẩm; Cơ sở sản xuất giống trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa; Cơ sở kinh doanh thức ăn, chế phẩm sinh học dùng trong nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa

Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 5/2014-5/2015

Địa điểm nghiên cứu: Vùng nuôi cá rô phi thuộc tỉnh Thanh Hóa

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Sơ đồ khối nội dung của đề tài

Hình 2.1: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu

Kết luận và đề xuất ý kiến

Hiện trạng và giải pháp phát triển bền vững nghề nuôi cá rô phi

Oreochromis niloticus (Linnaeus, 1758) tại Thanh Hoá

Đánh giá hiện trạng kỹ thuật và hiệu quả kinh tế - xã hội

của nghề nuôi cá rô phi tại Thanh Hóa

Hình thức nuôi, công trình, con giống, thức ăn, mùa vụ, môi trường, dịch bệnh,…

Đề xuất các giải pháp phát triển nghề nuôi theo hướng bền vững

Trang 28

2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu

- Thu thập số liệu thứ cấp: Số liệu thứ cấp được thu thập thông qua các cơ quan, ban, ngành của địa phương như: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên - Môi trường, Cục thống kê, Phòng Tài nguyên – Môi trường, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn của 5 Huyện Hà Trung, Yên Định, Triệu Sơn, Nông Cống và Hoằng Hóa Các thông tin được thu thập bao gồm:

- Điều kiện tự nhiên: Vị trí địa lý, thời tiết - khí hậu, địa hình và thổ nhưỡng, sông ngòi và đầm phá, đặc điểm thủy triều, tài nguyên sinh vật,…

- Điều kiện kinh tế - xã hội: Cơ sở hạ tầng, giá trị sản xuất ngành thủy sản, dân

số và cơ cấu lao động,…

- Hiện trạng kỹ thuật nghề nuôi cá rô phi của địa phương: Diện tích nuôi; năng suất, sản lượng; các hình thức nuôi; tổng số hộ nuôi; hiện trạng quản lý môi trường và tỉnh hình dịch bệnh; thị trường tiêu thụ

- Những thuận lợi, khó khăn, kiến nghị của người nuôi và hướng phát triển của nghề nuôi tại Thanh hóa và vùng nuôi tại 5 Huyện Hà Trung, Yên Định, Triệu Sơn, Nông Cống và Hoằng Hóa

- Thu số liệu sơ cấp: Phỏng vấn có sự tham gia của cộng đồng, thu số liệu thông qua phỏng vấn trực tiếp cán bộ quản lý thuỷ sản, người dân nuôi, doanh nghiệp nuôi,

cơ sở sản xuất giống tại địa phương, cơ sở kinh doanh thức ăn chế phẩm sinh học dựa trên bộ câu hỏi với mục đích nghiên cứu tại phần phụ lục

- Phương pháp chọn mẫu với hộ nuôi:

Các bước tiếp theo chọn mẫu đối tượng điều tra: Thực hiện chọn mẫu phân tầng, theo 3 cấp: Cấp huyện, cấp xã và hộ nuôi cá rô phi Chọn mẫu nghiên cứu cho vùng nuôi thương phẩm: Chọn 5 huyện đại diện, bao gồm: 5 Huyện Hà Trung, Yên Định, Triệu Sơn, Nông Cống và Hoằng Hóa Các hộ nuôi sẽ được chọn nghiên cứu một cách ngẫu nhiên, với 30 hộ cho mỗi huyện

Số lượng hộ mẫu điều tra tại các xã mẫu như sau:

Sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống để chọn mẫu hộ, cụ thể như sau: Bước 1, lập bảng kê hộ nuôi các đối tượng chọn điều tra trong xã mẫu và sắp

Trang 29

xếp thứ tự hộ theo quy mô diện tích từ lớn nhất đến nhỏ nhất Bước 2, dựa vào danh sách hộ nuôi trong bảng kê đã được lập, tính khoảng cách chọn hộ (k) theo công thức:

Hộ đầu tiên được chọn ngẫu nhiên trong khoảng cách đầu của danh sách hộ có nuôi hộ nuôi các đối tượng điều tra của xã Sử dụng phần mềm Excel của MS Office

để chọn ra ngẫu nhiên một hộ nằm trong khoảng cách đầu chọn hộ theo câu lệnh tại một ô bất kỳ trên bảng tính Excel như sau:

= RANDBETWEEN(1,k)

Trong đó: k là khoảng cách chọn hộ được xác định theo công thức trên

Các hộ tiếp theo được chọn bằng cách cộng khoảng cách k; Giả sử hộ đầu tiên được chọn là hộ có số thứ tự C thì các hộ được chọn tiếp theo là: C+k, C+2k, C+3k,

Ví dụ: Xã A có 90 hộ nuôi, tiến hành chọn 30 hộ mẫu điều tra, tính khoảng cách chọn hộ: h = 90/30 = 3 Sử dụng câu lệnh RANDBETWEEN (1,3) để chọn ngẫu nhiên hộ đầu tiên, giả sử được chọn là hộ thứ 2 trong danh sách (C = 2) thì các hộ tiếp theo sẽ là

hộ số 5, 8, 11, 14,… Trường hợp hộ được chọn khi điều tra không còn ở tại xã vì một

lý do nào đó thì chọn hộ sát trên hoặc sát dưới trong danh sách để thay thế hộ đó

- Phương pháp chọn mẫu với doanh nghiệp, công ty nuôi: Do số lượng các

doanh nghiệp/Công ty nuôi ít, nên thực hiện việc chọn mẫu doanh nghiệp/Công ty ngay tại cấp tỉnh Đề tài đã tiến hành điều tra 3 Công ty nuôi cá rô phi thương phẩm

- Phương pháp chọn mẫu còn lại: Đối với các cơ sở sản xuất giống, điều tra

05 cơ sở sản xuất giống cá rô phi Đối với các cơ sở kinh doanh thức ăn, thuốc, hóa chất, chế phẩm sinh học dùng trong nuôi trồng thủy sản, đề tài điều tra 10 cơ sở trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa

2.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

- Xử lý số liệu: Số liệu được thu thập sẽ được mã hoá và xử lý theo các nội dung qua các bộ câu hỏi điều tra Các số liệu được xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel 2010, sử dụng phương pháp thống kê mô tả, tính toán các giá trị trung bình, lớn nhất, nhỏ nhất, độ lệch chuẩn, tỷ lệ phần trăm

- Phương pháp phân tích tài chính: tổng thu, lãi ròng, tỷ suất lợi nhuận

=

Khoảng cách chọn hộ (k)

Tổng số hộ nuôi trong xã

Số hộ mẫu

Trang 30

Kết quả sản xuất:

- Sản lượng tôm nuôi (Q): Tổng khối lượng cá thu được/vụ nuôi (tấn)

- Năng suất cá (tấn/ha/vụ):

+ Tổng chi phí sản xuất (TC): Chi phí cố định (FC) + Chí phí lưu động (VC)

* Tỷ suất lợi nhuận:

Tỷ suất lợi nhuận = (TR - TC)/TC x 100%

+ TR: Tổng doanh thu là tổng số tiền thu được từ việc bán cá

+ TC: Bao gồm chi phí cố định (FC) và chi phí biến đổi (VC)

+ FC: Chi phí cố định bao gồm: thuê ao đìa, thuế, khấu hao tài sản cố định, chi phí duy tu, bảo dưỡng các công trình, thiết bị

+ VC: Chi phí biến đổi bao gồm: con giống, thức ăn, thuốc và hóa chất, chế phẩm sinh học, thuê lao động

Sản lượng cá thu hoạch (tấn)

Diện tích mặt nước nuôi (ha)

Trang 31

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Điều kiện kinh tế xã hội liên quan đến nuôi cá rô phi

3.1.1 Dân số, lao động và việc làm

Theo số liệu thống kê năm 2015, tỉnh Thanh Hoá có 3.405.008 người Trong

đó, số người trong độ tuổi lao động xã hội trong toàn tỉnh là 2.029.400 người, chiếm 59,6% dân số, trong đó lao động lao động trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản

là 1.470.300 người, chiếm 72,4% tổng số người trong độ tuổi lao động Nguồn lao động của Thanh Hoá tương đối trẻ, có trình độ văn hoá khá Lực lượng lao động đã qua đào tạo chiếm 27%, trong đó, trình độ cao đẳng, đại học chiếm 5,4% [7]

3.1.3 Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Cơ cấu kinh tế của tỉnh chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng, giảm tỷ trọng nông nghiệp đúng hướng; năm 2014 cơ cấu các ngành nông, lâm, thủy sản - công nghiệp, xây dựng - dịch vụ trong tổng GDP lần lượt là: 18,8% - 40,9%

- 40,3%; so với năm 2010, tỷ trọng ngành nông, lâm, thủy sản giảm 5,3%; công nghiệp, xây dựng tăng 2,6%; dịch vụ tăng 2,7% [6] Tuy nhiên, tốc độ chuyển dịch còn chậm; tỷ trọng ngành nông, lâm, thủy sản trong GDP còn lớn, tốc độ phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của tỉnh

3.1.4 Hiện trạng và cơ cấu sử dụng đất giữa các ngành kinh tế

Tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh năm 2014 là 1.112.948,00 ha, trong đó: Đất nông nghiệp 846.908,51 ha, chiếm 76,10% diện tích tự nhiên; Đất phi nông nghiệp 166.251,46 ha, chiếm 14,94% diện tích tự nhiên; Đất chưa sử dụng 99.788,03 ha, chiếm 8,97% diện tích tự nhiên; Đất có mặt nước ven biển (quan sát) 3.389,70 ha, chiếm 0,30% diện tích tự nhiên [10]

Trang 32

Hình 3.1 Cơ cấu diện tích các loại đất tỉnh Thanh Hóa năm 2014 [10]

3.1.5 Vị trí, vai trò của ngành thủy sản đối với nên kinh tế

Ngành thuỷ sản đã có bước phát triển nhanh và khá toàn diện trên các lĩnh vực: khai thác, nuôi trồng, chế biến và dịch vụ hậu cần Thủy sản đang dần khẳng định vai trò ngành trong nền kinh tế của tỉnh Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân thời

kỳ 2006-2010 là 7,6%/năm, thời kỳ 2010-2014 đạt 6,6%/năm Tổng sản lượng thủy sản tăng từ 103.385 tấn năm 2010 lên 136.302 tấn năm 2014 Mặc dù tốc độ tăng trưởng khá cao nhưng quy mô nhỏ nên tỷ trọng thủy sản trong giá trị sản xuất ngành nông nghiệp chưa có sự chuyển dịch mạnh mẽ, từ 14,5% năm 2005 lên 16,8% năm

2014 Trong nội bộ ngành, cơ cấu giá trị khai thác ổn định trên 60%, nuôi trồng giảm

từ 37% xuống 35,6%, dịch vụ tăng từ 2,7% lên 3,6%

Nuôi trồng thuỷ sản phát triển nhanh cả về diện tích và sản lượng, góp phần đáng kể vào chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn Công tác nuôi trồng được chú trọng đầu tư và mở rộng diện tích, chuyển từ nuôi quảng canh sang bán thâm canh và thâm canh với các đối tượng nuôi ngày càng đa dạng và các mô hình phong phú Việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào nuôi trồng thuỷ sản được đẩy mạnh Từ năm 2010 - 2014, diện tích nuôi trồng tăng từ 16.495 - 18.050 ha, sản lượng tăng từ 29.446 - 45.971 tấn Tuy vậy, do sản phẩm hàng hóa có giá trị cao chưa nhiều nên giá trị sản xuất nuôi trồng tăng bình quân giai đoạn 2010- 2014 là 6,2% [19]

Trang 33

Cơ cấu giá trị sản xuất nuôi trồng thủy sản có sự chuyển dịch tích cực, nước ngọt giảm từ 58,4% năm 2010 xuống 44,3% năm 2015, nước lợ tăng từ 34,3 - 35,5%, nước mặn tăng từ 7,3 - 15,9% Tăng các đối tượng có giá trị cao và xuất khẩu, như: tôm sú từ 9 - 13,3%, tôm thẻ chân trắng từ 5,3 - 12,1%, ngao từ 6,9 - 14,9%…[19]

3.2 Hiện trạng nuôi cá rô phi tại tỉnh Thanh Hóa

3.2.1 Hiện trạng nuôi cá rô phi thương phẩm

3.2.1.1 Diện tích, sản lượng và năng suất

Thanh Hoá là tỉnh có tiềm năng rất lớn để phát triển nuôi trồng thủy sản, bao gồm cả miền núi, trung du, đồng bằng và vùng ven biển thuận lợi cho cả phát triển nuôi thủy sản nước ngọt và nước mặn lợ Về nuôi trồng thủy sản nói chung, từ năm

2010 - 2014, diện tích tăng từ 10.030 - 10.700 ha, sản lượng tăng từ 19.653 - 26.300 tấn, tăng trưởng bình quân đạt 7%/năm Đối tượng nuôi nước ngọt chủ yếu là cá mè, trôi, trắm, chép đang chuyển dịch sang các đối tượng mới như cá rô phi, cá rô đầu vuông, cá lóc, cá tầm, cá hồi Năng suất trung bình đạt 2,5 tấn/ha, thâm canh đạt 8 -

10 tấn/ha [4], [5], [6] Hiện tại có 44 cơ sở sản xuất giống thuỷ sản nước ngọt, cung cấp 900 triệu cá bột các loại mỗi năm Năm 2014, Công ty cổ phần xuất nhập khẩu Thủy sản Thanh Hóa đã nuôi cá rô phi đơn tính với diện tích 405 ha (25 ha nuôi công nghiệp và 380 ha nuôi quảng canh), sản lượng đạt 1.700 tấn cá thương phẩm [9] Đây

là đối tượng có tiềm năng phát triển do có thị trường xuất khẩu và là đối tượng dễ nuôi, ít dịch bệnh [11], [15]

- Về diện tích nuôi cá rô phi:

Diện tích nuôi trồng thủy sản tại tỉnh Thanh Hóa bao gồm diện tích nuôi nước mặn, nước lợ và nước ngọt với các đối tượng nuôi như nghêu, tôm he, cua biển, cá biển, cá rô phi, các đối tượng nuôi truyền thống Các đối tượng được nuôi theo hình thức nuôi ghép giữa đối tượng truyền thống và đối tượng mới Cá rô phi được xác định

là đối tượng nuôi chủ lực, chuyên canh với hình thức nuôi thâm canh, nuôi theo hướng xuất khẩu VietGAP [8], [12]

Trang 34

Bảng 3.1 Diện tích nuôi trồng thủy sản (DNT) và nuôi cá rô phi (DRP) [15]

DNT (ha)

DRP (ha)

DNT (ha)

DRP (ha)

DNT (ha)

DRP (ha)

So với diện tích nuôi trồng thủy sản toàn tỉnh, diện tích nuôi cá rô phi chiếm tỷ

lệ thấp Cơ cấu diện tích nuôi cá rô phi năm 2013 là 1,93%, năm 2014 là 2,1%, năm

2015 là 2,37% Diện tích nuôi trồng thủy sản toàn tỉnh không tăng trong 3 năm gần đây, tuy nhiên diện tích nuôi cá rô phi tăng đều các năm 2013 – 2015 [5], [6], [7]

Trang 35

Hình 3.2 Diện tích nuôi trồng thủy sản toàn tỉnh qua các năm

Sự tăng nhanh về diện tích nuôi cá rô phi chuyên canh do hai nguyên nhân: Thứ nhất, thực hiện đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp, tỉnh Thanh hóa có chủ trương khuyến khích chuyển đổi diện tích lúa vùng chiêm trũng sang nuôi trồng thủy sản và nguyên nhân thứ hai là nuôi cá rô phi hiệu quả kinh tế mang lại cao hơn 1,5 – 2,0 lần

so với trồng lúa và các đối tượng cá nước ngọt truyền thống [2], [3]

Hình 3.3 Diện tích nuôi cá rô phi ở một số huyện trong tỉnh

Trong số 437 ha nuôi cá rô phi chuyên canh, chủ yếu tập trung ở các huyện đồng bằng và ven biển, các huyện miền núi chưa nuôi chuyên canh cá rô phi, chủ yếu nuôi thả xen ghép với các đối tượng nuôi truyền thống Những địa phương nuôi cá rô phi trong ao phát triển bao gồm Yên Định (45 ha), Hà Trung (67 ha), Nông Cống (30 ha) Mặc dù diện tích nuôi cá rô phi toàn tỉnh chỉ 437 ha, song đa phần là nuôi chuyên năng suất cao phục vụ xuất khẩu nên sản lượng đạt tới 1.700 tấn

Trang 36

- Về sản lượng cá rô phi nuôi:

Theo báo cáo tổng kết nuôi trồng thủy sản giai đoạn 2011-2015, sản lượng nuôi trồng thủy sản toàn tỉnh năm 2015 đạt 48,450 tấn, năng suất trung bình 2,63 tấn/ha/năm Tuy sản lượng cá rô phi đạt tiêu chuẩn chế biến xuất khẩu còn thấp nhưng năng suất trung bình nuôi cá rô phi cao hơn các đối tượng thủy sản khác [3]

Hình 3.4 Sản lượng cá rô phi và thủy sản nuôi của tỉnh qua các năm

Huyện Hoằng Hóa, Hậu Lộc là huyện miền biển có diện tích nuôi trồng và sản lượng lớn, trong đó có diện tích và sản lượng tôm, ngao và các loài thủy sản khác các huyện Triệu Sơn, Yên Định, Hà Trung, là huyện đồng bằng, diện tích nuôi cá rô phi thấp (tương ứng 4,3%, 5,0%, 7,4%) so với tổng diện tích nhưng sản lượng cá rô phi, tuy nhiên sản lượng chiếm tỷ lệ lớn (tương ứng 12%, 13,3%, 15,3%) Đặc biệt là huyện Nông Cống tuy chỉ có 30 ha nhưng sản lượng đạt 1.080 tấn, đây là diện tích nuôi của công ty xuất nhập khẩu thủy sản, nuôi thâm canh 2 vụ nuôi/năm [10]

Bảng 3.2 Sản lượng cá rô phi tại một số huyện năm 2015 [10]

STT Địa phương Diện tích nuôi (ha) Sản lượng (tấn)

Trang 37

- Về năng suất cá rô phi:

Năng suất nuôi cá rô phi trong ao trung bình theo kết quả điều tra, các số liệu thống kê, báo cáo của Trung tâm Khuyến nông, trong những năm gần đây có sự tăng trưởng về năng suất đối với ao nuôi Năm 2005 đạt trung bình 3,5 tấn/ha, năm 2010 là 6,4 tấn/ha và năm 2015 đạt trên 10 tấn/ha, cao hơn năng suất trung bình của cả nước, lần lượt là 1,84 tấn/ha, 4,96 tấn/ha và 7,87 tấn/ha Năng suất cá rô phi tăng nhanh nhờ

sự tác động của khoa học kỹ thuật, chất lượng con giống ngày càng cải thiện, sử dụng thức ăn công nghiệp, chế phẩm sinh học và trang thiết bị cung cấp oxy cho ao nuôi Tại mô hình trình diễn của Khuyến nông Quốc gia tại Thanh Hóa, năng suất đã đạt 15

- 16 tấn/ha, thời gian nuôi 6 tháng, cỡ cá thu hoạch 0,7 - 0,8 kg/con [8]

Hình 3.5 Năng suất nuôi cá rô phi qua các năm

3.2.1.2 Cơ cấu lao động trong nghề nuôi cá rô phi

Kết quả điều tra phân tích thống kê về số lượng và chất lượng lao động của 150

hộ nuôi và 03 công ty nuôi cá rô phi trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa cho thấy: Số lượng lao động trung bình 3,16 ± 1,51 người/hộ và số lao động tham gia nuôi cá rô phi của công ty trung bình là 14,56 ± 6,35 người/công ty Số lượng lao động tham gia nuôi cá

rô phi thương phẩm cụ thể theo các địa phương như sau:

Trang 38

Bảng 3.3 Lao động tham gia nuôi cá rô phi ở hộ nuôi và công ty trong tỉnh

Đơn vị tính: người

STT Số lượng lao động Trung bình Nhỏ nhất Lớn nhất

Chất lượng lao động tham gia nuôi cá rô phi trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa hiện nay còn chưa cao, phần lớn lao động này đều chưa qua đào tạo: Lao động nuôi cá rô phi của hộ nuôi chưa qua đào tạo trung bình chiếm 94,0%, số lao động đã qua đào tạo được cấp chứng chỉ và bằng chỉ chiếm 6,0%; người dân sản xuất chủ yếu dựa vào kinh nghiệm Lao động nuôi cá rô phi tại công ty có chất lượng tốt hơn so với các hộ nuôi, tuy nhiên số lao động thông qua đào tạo được cấp chứng chỉ, bằng chuyên môn về thủy sản vẫn chiếm tỷ lệ thấp 30% (Bảng 3.5)

Bảng 3.4 Trình độ và kinh nghiệm của người lao động nuôi cá rô phi

STT Nội dung điều tra

Chứng chỉ dạy nghề (%)

Tập huấn kỹ thuật(%) Kinh nghiệm (%)

Có Không Có Không ≥ 3 năm <3 năm

Trang 39

3.2.1.3 Điều kiện cơ sở tầng

Bảng 3.5 Diện tích nuôi cá rô phi của hộ nuôi và công ty

Bảng 3.6 Diện tích ao nuôi cá rô phi của hộ nuôi và công ty

Trang 40

thức thâm canh và bán thâm canh thì diện tích trên được cho là phù hợp do dễ dàng và tiện lợi trong quá trình chăm sóc cũng như quản lý các yếu tố môi trường ao nuôi Các

hộ nuôi thường gặp khó khăn trong quản lý môi trường, đặc biệt là ao có diện tích dưới 1.400 m2/ao môi trường biến động rất nhanh khi có mưa - nắng, nên ảnh hưởng lớn đến sức khỏe và sinh trưởng của cá nuôi (Bảng 3.7)

Bảng 3.7 Ao chứa và xử lý nước thải của hộ nuôi và công ty

ao chứa, xử lý nguồn nước cấp chiếm 96%; đối với công ty/doanh nghiệp thì 100% các

cơ sở đầu có ao chứa và xử lý nguồn nước cấp Diện tích ao chứa, xử lý nguồn nước cấp tập trung chiếm từ 10-15% tổng diện tích nuôi Tuy nhiên, hiện nay hệ thống ao xử

lý nguồn nước thải chưa được quan tâm: Kết quả điều tra cho thấy 100% hộ dân không

có ao xử lý nguồn nước thải trước khi xả thải ra môi trường; đối với Công ty thì có trên 83% các cơ sở không có hệ thống xử lý nước thải Nguồn nước thải từ ao nuôi thương thẩm hiện nay không được xử lý và xả thải trực tiếp ra ngoài môi trường, đây

là một trong những nguyên nhân dẫn đến môi trường vùng nuôi ngày càng bị ô nhiễm

và làm dịch bệnh ngày càng gia tăng (Bảng 3.7)

Ngày đăng: 02/04/2018, 23:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w