TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Đề tài “Điều tra hiện trạng nghề nuôi sò huyết Anadara granosa ở huyện An Biên tỉnh Kiên Giang và đề xuất giải pháp phát triển theo hướng bền vững” được thực hiện
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
- -
TRẦN THỊ THU THỦY
ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG NGHỀ NUÔI SÒ HUYẾT
(Anadara granosa Linnaeus, 1758) Ở HUYỆN AN BIÊN TỈNH
KIÊN GIANG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THEO
HƯỚNG BỀN VỮNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHÁNH HÒA – 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
- -
TRẦN THỊ THU THỦY
ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG NGHỀ NUÔI SÒ HUYẾT
(Anadara granosa Linnaeus, 1758) Ở HUYỆN AN BIÊN TỈNH
KIÊN GIANG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THEO
HƯỚNG BỀN VỮNG LUẬN VĂN THẠC SĨ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài “Điều tra hiện trạng nghề nuôi sò
huyết (Anadara granosa) ở huyện An Biên tỉnh Kiên Giang và đề xuất giải pháp phát triển theo hướng bền vững” là kết kết quả nghiên cứu thực sự nghiêm túc của tôi dưới
sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Phạm Quốc Hùng Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực
Kiên Giang, ngày 12 tháng 10 năm 2017
Tác giả
Trần Thị Thu Thủy
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu làm luận văn tốt nghiệp tôi đã nhận được nhiều kiến thức bổ ích về chuyên môn cũng như nhiều sự giúp đỡ từ quý thầy cô Viện Nuôi trồng Thủy Sản, Khoa Sau đại học – Trường Đại học Nha Trang, Uỷ ban Nhân dân huyện An Biên, Chi cục Nuôi trồng Thủy sản Kiên Giang đã giúp tôi hoàn thành đề tài tốt nghiệp này Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến thầy PGS TS Phạm Quốc Hùng đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin cảm ơn tới cơ quan, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi trong thời gian tôi học tập cũng như thực hiên luận văn
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình và các bạn đã giúp đỡ động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài tốt nghiệp
Kiên Giang, ngày 12 tháng 10 năm 2017
Tác giả
Trần Thị Thu Thủy
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC HÌNH ix
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN x
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Một số đặc điểm sinh học của sò huyết 3
1.1.1 Vị trí phân loại và hình thái cấu tạo ngoài 3
1.1.2 Đặc điểm phân bố 3
1.1.3 Đặc điểm sinh trưởng 6
1.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng 6
1.1.5 Đặc điểm sinh sản 7
1.1.6 Một số nghiên cứu khác 9
1.2 Tình hình nuôi thương phẩm sò huyết trên thế giới và Việt Nam 11
1.2.1 Tình hình nuôi trên thế giới 11
1.2.2 Tình hình nuôi ở Việt Nam 12
1.3 Điều kiện tự nhiên của vùng nghiên cứu 13
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
2.1 Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu 16
2.2 Phương pháp nghiên cứu 16
2.2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 16
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 16
Trang 62.2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 16
2.2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp và điều tra 17
2.3 Phương pháp xử lý số liệu 18
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 20
3.1 Hiện trạng kinh tế - xã hội của nghề nuôi sò huyết 20
3.1.1 Độ tuổi 20
3.1.2 Trình độ văn hóa 20
3.1.3 Tập huấn, đào tạo nghề 21
3.1.4 Kinh nghiệm nuôi 21
3.1.5 Quy mô của các hộ nuôi 22
3.2 Hiện trạng kỹ thuật của nghề nuôi sò huyết 23
3.2.1 Nguồn giống 24
3.2.2 Diện tích và sản lượng 25
3.2.3 Hình thức nuôi 26
3.2.4 Kỹ thuật nuôi 27
3.2.4.1 Điều kiện bãi nuôi 27
3.2.4.2 Nguồn giống 28
3.2.4.3 Kỹ thuật thả giống 29
3.2.4.4 Chăm sóc quản lý 30
3.2.4.5 Thu hoạch 30
3.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến nghề nuôi sò huyết thương phẩm 32
3.2.6 Hiệu quả kinh tế 33
3.3 Khó khăn và giải pháp phát triển bền vững nghề nuôi sò huyết 34
3.3.1 Khó khăn 34
3.3.2 Một số giải pháp phát triển bền vững nghề nuôi sò huyết 36
Trang 73.3.2.1 Nhóm giải pháp về quy hoạch vùng nuôi 36
3.3.2.2 Nhóm giải pháp về khoa học công nghệ và khuyến ngư 36
3.3.2.3 Nhóm giải pháp về dịch vụ, hậu cần 37
3.3.2.4 Nhóm giải pháp về chính sách vốn 37
3.3.2.5 Nhóm giải pháp về thị trường 38
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 39
4.1 Kết luận 39
4.2 Đề xuất 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO 40 PHỤ LỤC 1: MỘT SỐ HÌNH ẢNH THỰC HIỆN LUẬN VĂN
PHỤ LỤC 2: MẪU PHIẾU ĐIỀU TRA
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Cơ cấu nhóm tuổi của hộ nuôi thương phẩm sò huyết tại An Biên 20
Bảng 3.2: Diễn biến diện tích nuôi và sản lượng sò huyết tại huyện An Biên [1] 25
Bảng 3.3: Nguồn gốc sò giống nuôi thương phẩm tại An Biên 28
Bảng 3.4: Kết quả nuôi sò huyết thương phẩm 31
Bảng 3.5: Các yếu tố ảnh hưởng đến nghề nuôi sò huyết thương phẩm 32
Bảng 3.6: Hiệu quả kinh tế giữa các mô hình nuôi sò huyết 33
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Hình thái cấu tạo ngoài của sò huyết 3
Hình 1.2: Bản đồ hành chính huyện An Biên [21] 14
Hình 2.2: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 16
Hình 3.1: Trình độ văn hóa của hộ nuôi sò huyết 21
Hình 3.2: Kinh nghiệm của người nuôi sò huyết 22
Hình 3.3: Bãi nuôi sò huyết thương phẩm tại An Biên 23
Hình 3.4: Ngư cụ khai thác sò huyết giống 24
Hình 3.5: Các bãi nuôi sò huyết trong rừng phòng hộ 26
Trang 10
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Đề tài “Điều tra hiện trạng nghề nuôi sò huyết (Anadara granosa) ở huyện An
Biên tỉnh Kiên Giang và đề xuất giải pháp phát triển theo hướng bền vững” được thực hiện từ tháng 10/2014 đến 11/2015 với mục tiêu đánh giá hiện trạng kỹ thuật và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển bền vững nghề nuôi thương phẩm sò huyết tại huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang Nghiên cứu được thực hiện trên 95 hộ dân nuôi sò huyết thương phẩm dựa trên phương pháp điều tra phỏng vấn, từ đó, đề xuất một số giải pháp quản lý mang tính khả thi để hướng nghề sò huyết thương phẩm tại đây cũng như trong toàn tỉnh Kiên Giang phát triển theo hướng bền vững
Kết quả điều tra cho thấy, độ tuổi trung bình của các chủ hộ nuôi sò huyết tại
An Biên, Kiên Giang là 34,6 ± 0,7 tuổi Trình độ văn hóa của người dân nuôi sò huyết chủ yếu là cấp 1 và cấp 2 chiếm 60,2% Đa số các hộ nuôi sò huyết thương phẩm theo kinh nghiệm truyền thống, không hoặc ít áp dụng các biện pháp kỹ thuật, chỉ có 12,5% số người dân nuôi được các cơ quan chuyên môn tập huấn về các biện pháp kỹ thuật trong quy trình nuôi Tất cả các hộ dân đều nuôi theo 3 hình thức chủ yếu là nuôi sò trong rừng phòng hộ, ao đầm và nuôi ngoài bãi triều, với diện tích nuôi dao động từ 1 – 5 ha, chủ yếu là 1 – 2 ha Nguồn giống sò huyết chủ yếu là khai thác
từ tự nhiên tại địa bàn trong Tỉnh; Thời gian nuôi 10 – 11 tháng với tỷ lệ sống của sò trong ao đầm là 65,6 ± 2,2%, nuôi ngoài bãi là 61,6 ± 1,4% Năng suất nuôi của sò
với lợi nhuận dao động từ 335 - 350 triệu đồng/ha Lợi nhuận biên đối với hình thức nuôi trong ao đầm là 109,4% và 117,5% đối với hình thức nuôi ngoài bãi
Kết quả điều tra cũng cho thấy hiệu quả của nghề nuôi thương phẩm sò huyết tại An Biên, Kiên Giang chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố (tự nhiên và hoạt động của con người) Đặc biệt, có nhiều yếu tố ảnh hưởng nghiêm trọng như ô nhiễm môi trường (94,5%), dịch bệnh (92,0%), lũ lụt và bão (87,0%), độ mặn (83,5%), nuôi thủy sản thiếu quy hoạch (65,5%), khai thác thủy sản quá mức và hủy diệt (67,0%), áp dụng kỹ thuật chưa hiệu quả (69,0%) Năm nhóm giải pháp đã được đề xuất nhằm
Trang 11phát triển ổn định nghề nuôi sò huyết thương phẩm theo hướng bền vững tại huyện
An Biên cũng như tỉnh Kiên Giang gồm: Nhóm giải pháp về quy hoạch vùng nuôi; Nhóm giải pháp về khoa học công nghệ và khuyến ngư; Nhóm giải pháp về dịch vụ, hậu cần; Nhóm giải pháp về chính sách vốn; Nhóm giải pháp về thị trường
Từ khóa: Anadara granosa, sò huyết, Kiên Giang, bền vững
Trang 12MỞ ĐẦU
Việt Nam nói chung, đồng bằng sông Cửu Long nói riêng nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa giàu tài nguyên thiên nhiên, với hệ thống sông ngòi dày đặc tạo điều kiện thuận lợi cho ngành nuôi trồng thủy sản phát triển Nghề nuôi trồng thủy sản đã thay đổi ngày càng đa dạng và phong phú với những tiềm năng do nuôi trồng thủy sản đem lại, đã góp phần cải thiện đời sống tăng thêm thu nhập cho người dân và là một trong những mặt hàng xuất khẩu quan trọng
Kiên Giang là tỉnh đồng bằng ven biển, vị trí ở phía Tây Nam của Việt Nam, phía Tây giáp vịnh Thái Lan, với đường bờ biển dài trên 200 km từ Mũi Nai (Hà Tiên) đến rạch Tiểu Dừa (An Minh, giáp Cà Mau), trong đó có 4 huyện An Minh, An Biên, Hòn Đất, Kiên Lương là những huyện ven biển, có diện tích bãi bồi thuận lợi cho phát triển những loài động vật thân mềm 2 mảnh vỏ, đặc biệt là sò huyết Rừng ngập mặn dọc theo các hệ thống kênh rạch chằng chịt nối với các cửa sông Cái Lớn, Cái Bé; cùng với sự tương tác của sông – biển đã tạo nên một sinh cảnh thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của các loài thủy sản sống trong môi trường lợ - mặn RNM là sinh cảnh thuận lợi cho nguồn lợi thủy sản phát triển thì các bãi bồi ven biển và cửa sông là nơi lý tưởng cho sự định cư và phát triển, sinh sản của các loài động vật thân mềm 2 mảnh vỏ, trong đó có sò huyết
Nghề nuôi sò huyết ở nước ta bắt đầu từ năm 1990, tổng diện tích bãi triều nuôi
sò huyết trên 2000 ha tập trung ở vùng Kiên Giang, Bến Tre, Quảng Ninh, Trà Vinh và Ninh Thuận Đến năm 1995, tổng sản lượng sò huyết nuôi đạt 12.520 tấn và được nuôi chủ yếu là ở Kiên Giang (7.500 tấn) Tuy nhiên, trong vài năm gần đây mặc dù sò huyết là một đối tượng nuôi mang lại lợi nhuận cao, chi phí thấp, tiềm năng nuôi trồng còn rất lớn, nhưng hiện trạng nghề nuôi sò huyết tai phương pháp nuôi sò huyết chủ yếu là truyền thống, kỹ thuật đơn giản, hình thức nuôi chủ yếu là quảng canh và bán thâm canh ở vùng triều có nền đáy là bùn cát nên hiệu quả kinh tế thấp Tại Kiên Giang nghề nuôi sò huyết có ý nghĩa rất lớn, góp phần vào phát triển kinh tế – xã hội của Tỉnh, đặc biệt là tại huyện An Biên, nghề nuôi sò huyết phát triển khá mạnh trong vài năm trở lại đây Tuy nhiên, tại đây sò huyết được nuôi thương phẩm chủ yếu là nuôi ở bãi bồi và rừng phòng hộ, kỹ thuật nuôi chủ yếu dựa vào kinh nghiệm truyền
Trang 13thống, chưa áp dụng kiến thức khoa học và đặc biệt địa phương chưa có quy hoạch tổng thể cho phát triển đối tượng này
Trước thực trạng trên, việc thực hiện đề tài “Điều tra hiện trạng nghề nuôi sò
huyết (Anadara granosa Linnaeus, 1758) ở huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang và đề xuất biện pháp phát triển theo hướng bền vững” là cần thiết vào thời điểm hiện nay
Đề tài sẽ đánh giá hiện trạng nghề nuôi thương phẩm sò huyết tại địa phương, từ đó đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả và hướng sự phát triển của nghề nuôi sò huyết
ở huyện An Biên cũng như tỉnh Kiên Giang theo hướng bền vững
Mục tiêu của đề tài:
Xác định được hiện trạng nghề nuôi sò huyết tại huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang để từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển bền vững và nâng cao hiệu quả của nghề nuôi sò huyết ở địa phương
Nội dung nghiên cứu:
1 Hiện trạng kinh tế - xã hội của các hộ nuôi sò huyết tại huyện An Biên
2 Hiện trạng kỹ thuật của nghề nuôi sò huyết tại huyện An Biên
3 Đề xuất một số giải pháp phát triển bền vững và nâng cao hiệu quả nghề nuôi
sò huyết tại địa phương
Ý nghĩa của đề tài:
- Về mặt khoa học: Đề tài góp phần cung cấp thêm các thông tin về nghề nuôi
sò huyết ở An Biên, làm tài liệu học tập, giảng dạy và nghiên cứu
- Về mặt thực tiễn: Giúp nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả cho người nuôi và định hướng phát triển nghề nuôi sò huyết trên địa bàn huyện An Biên một cách hợp lý và bền vững
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số đặc điểm sinh học của sò huyết
1.1.1 Vị trí phân loại và hình thái cấu tạo ngoài
Sò huyết thuộc ngành động vật thân mềm Mollusca, có vị trí phân loại như sau: Ngành: Mollusca
Hình 1.1: Hình thái cấu tạo ngoài của sò huyết
Đặc điểm hình thái cấu tạo ngoài của sò huyết, theo Nguyễn Chính (1996) như sau: có vỏ dày chắc, có dạng hình trứng, cá thể lớn có vỏ dài 60 mm, cao 50 mm, rộng
49 mm Mặt ngoài của vỏ gờ phóng xạ rất phát triển, có khoảng 18 - 21 gờ Trên mỗi
gờ phóng xạ có nhiều hạt hình chữ nhật, các hạt này thýờng rõ nét ở cá thể trưởng thành và mờ hơn ở những cá thể già Bản lề hình thoi, rộng, màu nâu đen, có nhiều đường đồng tâm Mặt trong của vỏ có màu trắng sứ, mép vỏ có nhiều mương sâu tương ứng với đường phóng xạ của mặt ngoài Mặt khớp thẳng, có nhiều răng nhỏ, vết
cơ khép vỏ sau lớn có hình tứ giác, vết cơ khép vỏ trước nhỏ hơn có hình tam giác [2]
1.1.2 Đặc điểm phân bố
Sò huyết là loài động vật thân mềm hai mảnh vỏ có giá trị kinh tế cao được nhiều nước trên thế giới khai thác tự nhiên và nuôi ở các bãi triều ven biển Sò huyết
Trang 15phân bố ở Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, tập trung nhiều ở Nam Trung Quốc, Thái lan, Malaysia, Philippin, Úc, Ấn Độ, Việt Nam
Ở Việt Nam, sò huyết phân bố trên tất cả các vùng triều ven biển, từ sát bờ đến
độ sâu 3 - 4 m nước, chất đáy bùn nhẹ hoặc bùn pha cát Tổng diện tích sò phân bố ước tính khoảng 50.000 ha Sò huyết phân bố dọc ven biển nhưng tập trung ở Quảng Ninh, Hải Phòng, Trà Vinh, Sóc Trăng, Cà Mau, Kiên Giang Sò huyết phân bố tự nhiên ở các bãi triều nông với thời gian phơi bãi từ 6 - 10 giờ/ngày đêm, có nền đáy là bùn mịn hoặc bùn cát giàu chất hữu cơ, độ mặn từ 20-30‰, trong đó Kiên Giang được xem là tỉnh có nguồn lợi sò huyết phong phú nhất trong cả nước [9]
Sò huyết không vùi sâu nên yêu cầu về chất đáy chỉ cần khoảng 15 cm bùn mềm nhưng tốt nhất là nền đáy là bùn pha một ít cát mịn Sò có thể sống ở vùng triều (littoral) và vùng dưới triều (sublittoral) đến độ sâu vài mét Nơi thích hợp nhất cho sò
là vùng hạ triều Sò huyết có khả năng thích nghi với phạm vị biến đổi độ mặn rộng từ
10 - 30‰, khoảng thích hợp là từ 15 - 20‰ Khi độ mặn giảm thấp dưới 10‰, nhất là trong mùa mưa lũ, sò sẽ vùi sâu xuống bùn Nếu trong một thời gian ngắn độ mặn trở lại thích hợp thì sò chui lên và tiếp tục sống bình thường, nếu tình trạng độ mặn thấp
độ mặn thay đổi từ 10 - 30‰ [40] Khi khảo sát ven bờ biển của đảo Sagihe ở Indonesia, Rondo (1994) cũng có kết luận tương tự sò huyết phát triển tốt trong điều kiện tương đối lặng gió, đặc biệt trong các vịnh nông có chất đáy mịn mềm, lớp bùn dày ít nhất 46 - 76 cm hoặc sâu hơn [44] Ở Việt Nam sò huyết phân bố rộng và có thể gặp nhiều ở Quảng Ninh, Thanh Hóa, Thừa Thiên Huế, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Kiên
Trang 16Giang, Bến Tre, Trà Vinh Nhưng Kiên Giang và Quảng Ninh là 2 nơi có sản lượng cao nhất [2]
Các loài thuộc giống Anadara là các loài rộng muối Pathansali (1966) đã thu gom sò huyết có kích thước từ 20 - 28 mm ở độ mặn 29‰ và làm thí nghiệm ở trong phòng với các thang độ mặn 23‰; 17‰; 12‰ và 8‰ trong vòng 30 ngày Kết quả cho thấy: Ở độ mặn 8‰, tất cả sò thí nghiệm đều chết sau 8 ngày Ở độ mặn 12‰, hầu như không phản ứng, không hoạt động và chỉ tồn tại thêm vài ngày nữa Ở độ mặn 17‰, chỉ 50% sò hoạt động và 23‰ sò hoạt động bình thường Đối với sò bột, độ mặn thích hợp từ 21 - 25‰ Ở độ mặn 3,8‰, sò bột dài 1mm chết 100% sau 56 giờ và ở 39‰ sò bột dài 5 mm chết 100% sau 47 giờ Ở nước ta, sò huyết sống chủ yếu vùng phân bùn, ít nhiều có nước ngọt đổ vào [41] Khi nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn đến tốc độ lọc tảo, tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống của sò huyết giống từ 3 - 7 mm, Ngô Thị Thu Thảo và Trương Trọng Nghĩa (2003) đã thấy ở độ mặn 15‰ tốc độ lọc tảo, tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống của sò là cao nhất Điều đó cho thấy là ở độ mặn 15‰ thích hợp cho sò huyết giống hơn các độ mặn 5‰ và 10‰ [14], [15]
Nhiệt độ thích nghi của các loài trong giống Anadara biến đổi tùy theo vùng địa lý nơi mà chúng phân bố [8] Broom (1980) cho biết sò Anadara phân bố ở Malaysia
(1980) ở vịnh Kakinada thuộc vùng biển Ấn Độ cũng thấy nhiệt độ nước thích hợp cho
Khả năng thích ứng với sự dao động hàm lượng oxy trong môi trường của các
loài trong giống Anadara là rất lớn [42] Thí nghiệm của Davenport và Wong (1986)
về khả năng chịu đựng của sò huyết khi để ngoài không khí: sò có khả năng hô hấp khi đem lên khỏi mặt nước, tuy nhiên tỷ lệ sống thấp và yếu đi sau 24 giờ, sau 48 giờ thì
sò bắt đầu chết [28] Ngô Trọng Lư (1996) cho biết do đặc điểm tiêu hao oxy rất nhỏ nên việc vận chuyển sò dễ dàng Sò có thể trộn với một ít bùn rồi được vận chuyển trong điều kiện bán khô trong các loại bao túi thông thường [7] Theo Narasimham (1980) lượng oxy hòa tan từ 4,9 - 7,0 mg/l, sò huyết có thể sinh trưởng và phát triển tốt [38] Sò huyết phân bố ở các bãi bùn mềm, ít sóng gió và nước lưu thông Các bãi sò thường gần các cửa sông có dòng nước ngọt đổ vào, độ mặn tương đối thấp Sò nhỏ
Trang 17sống trên mặt bùn, sò lớn vùi sâu trong bùn khoảng 1 – 3 cm Chúng dùng mép vỏ và màng áo ngoài thải nước làm thành lỗ ở mặt bùn để hô hấp và bắt mồi
1.1.3 Đặc điểm sinh trưởng
Theo Broom (1982) thì sò huyết trong tự nhiên phải mất khoảng 6 tháng mới tăng được từ 4 - 5 mm về chiều dài, và khi nuôi từ nguồn giống nhân tạo phải hơn 1 năm mới đạt cỡ 30 mm Tuy nhiên điều này còn phụ thuộc nhiều vào các điều kiện từng nơi [25] Thí nghiệm của Pathansali (1966) cho thấy những nơi có mật độ nhỏ
sang năm thứ 2, tốc độ sinh trưởng của sò chậm hơn năm thứ nhất nhiều [41] Narasimham (1980) khi nghiên cứu sinh trưởng của sò huyết tại Vịnh Kakinada ở vùng biển Ấn Độ cho rằng năm đầu tiên sò từ 4,5 mm tăng đến 31,5 mm, trong năm thứ 2 từ 31,5 tăng lên 49,5 mm và ông cũng thiết lập phương trình về mối quan hệ giữa chiều dài L (mm) và khối lượng W (g) cho nhóm kích thước từ 20 - 93 mm là: W= 0,0013 L2,645 [38] Kích cỡ lớn nhất mà Narasimham tìm thấy của sò huyết dài 63
mm, nhưng Cahn (1951) đã tìm thấy cá thể dài tới 70 mm tại Nhật Bản [28]
Mật độ và thời gian phơi bãi là những nhân tố ảnh hưởng tới tốc độ sinh trưởng của sò Broom (1980) đã thiết lập phương trình về mối quan hệ giữa chiều dài L (mm)
và khối lượng W (g) của sò cho từng vùng có thời gian ngập nước khác nhau: Vùng hạ
Võ Sĩ Tuấn và Hứa Thái Tuyến (1997) dựa vào vân vỏ để nghiên cứu về sinh trưởng sò ở vùng biển Bình Thuận, kết quả quá trình hình thành vân vỏ không tương quan với biến thiên nhiệt độ mà có tương quan với nguồn thức ăn Tác giả cũng đã thiết lập mối quan hệ giữa chiều dài và tuổi theo phương trình Von Bertalanffy với các
1.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng
Giai đoạn trưởng thành, thức ăn của các loài Bivalvia nói chung là mùn bã hữu
cơ lơ lửng trong nước và phiêu sinh vật [12] Nguyen Ngoc Lam and Doan Nhu Hai (1998) và Nguyễn Ngọc Lâm (1996) nghiên cứu dinh dưỡng của sò huyết cho thấy
Trang 18thức ăn của sò là mùn bã hữu cơ (93%) và tảo (7%), ngoài ra còn tìm thấy nguyên sinh động vật trong ruột của sò như Tintinnopsis và Cocliella Trong thành phần tảo Silic chiếm 92%, tảo Giáp chiếm 4% và các nhóm khác chiếm 4% Thức ăn của sò huyết bao gồm mùn bã hữu cơ, tảo và vi sinh vật trong bùn Sò bắt mồi thụ động bằng cách tạo dòng nước qua mang để lấy thức ăn Phương thức bắt mồi của sò cũng giống các loài động vật thân mềm hai mảnh vỏ khác [6], [39]
Các nghiên cứu trên trình bày về thành phần thức ăn của Bivalvia và sò huyết khá đầy đủ bao gồm mùn bã hữu cơ, tảo và vi sinh vật Tuy nhiên, nghiên cứu về thành phần dinh dưỡng theo giai đoạn của sò huyết thì còn hạn chế Nhiều loài trong giống Anadara dinh dưỡng bằng cách lọc mồi Chúng tiến hành lọc thức ăn qua mang nhờ vận động của màng áo ngoài Khi triều lên, sò mở vỏ, vận động màng áo ngoài ở vành
vỏ và tiêm mao ở mang, tạo dòng chảy vào để hô hấp và lọc mồi, đồng thời đẩy các mảnh vụn lớn không sử dụng được ra ngoài [10] Broom (1982) cho biết thành phần thức ăn chủ yếu của sò huyết là khuê tảo, mảnh vụn hữu cơ và nguyên sinh động vật Kích cỡ thức ăn phụ thuộc vào kích thước của sò Sò nhỏ lọc cỡ mồi dưới 10 µm, sò lớn loại lọc mồi từ 10 ÷ 100 µm [25] Theo Hà Quang Hiến (1964) cho biết thành phần thức ăn thay đổi tùy theo ngoại cảnh và từng mùa, từng nơi Nhưng nói chung chúng thường sử dụng tảo si líc như Navicula, Nitzschia, Pleurosigma, Thalasiosira, Melosira, Chaetoceros… [4]
1.1.5 Đặc điểm sinh sản
Giới tính, kích cỡ thành thục và tỷ lệ đực cái:
Các loài thuộc giống Anadara có thể lưỡng tính hoặc phân tính Broom (1983)
khi nghiên cứu về giới tính của sò huyết đã cho thấy chúng là đực cái phân biệt và trong 300 mẫu thu được chỉ gặp có 1 cá thể lưỡng tính [26]
Các nghiên cứu về đặc điểm sinh học sinh sản sò huyết của Broom (1983) cho thấy tuyến sinh dục của sò chưa phát triển cho đến khi kích thước sò đạt 17,5 mm [26] Pathansali (1996) ở Malaysia khẳng định: sò đạt kích cỡ thành thục khoảng 18 - 20
mm, tương đương với 6 tháng tuổi Sò đẻ trứng lần đầu tiên khi có chiều dài vỏ khoảng 24 - 25 mm, tỷ lệ đực cái là 1:1 ở bất kỳ nhóm kích thước nghiên cứu nào [41] Tuy nhiên theo Yankson (1982) khi nghiên cứu ở Ghana đã cho thấy vào mùa khô,
Trang 19nhiệt độ từ 32 - 34oC, độ mặn có thể đạt tới 50‰ tỷ lệ đực cái là 1:2 [46] Tuyến sinh dục có thể nhìn thấy bằng mắt thường khi sò đạt kích cỡ trên 20 mm và phát triển đầy
đủ nhất ở kích cỡ 21 mm trở đi [34]
Khi nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản của sò huyết sống ở vùng ven biển Trà Vinh, Trương Sỹ Kỳ (1996) đi đến nhận xét kích thước thành thục lần đầu tiên ở nhóm chiều cao lớn hơn 22 mm Tỷ lệ đực cái của sò huyết trong vùng điều tra là 59,5 : 40,5 và sức sinh sản tuyệt đối của sò huyết khá cao, dao động từ 518.473 - 2.412.213 trứng [5] Hoàng Thị Bích Đào (2005) khi thu mẫu sò huyết tại đầm Nha Phu (Khánh Hòa) cho biết tỷ lệ đực cái trong quần đàn tự nhiên biến động theo tháng (1:2,1) và nhóm kích thước lớn (1:2,3) Sức sinh sản tuyệt đối của sò dao động từ 232.500 - 1.298.000 trứng [3]
cũng đã cho kết luận tương tự [28] Ở Philippines, việc sản xuất sò cũng tập trung vào lúc nhiệt độ cao nhất, khi sự ảnh hưởng và tác động của mặt trời mạnh nhất Tuy nhiên, sự sinh sản của chúng cũng có thể xảy ra vào những thời điểm khác trong năm, nghĩa là nhiệt độ không phải là yếu tố duy nhất chi phối quá trình đẻ trứng của chúng
Ở Trung Quốc, sò huyết ở Quảng Đông 1 năm tuổi thành thục, vùng phía Bắc 2 tuổi mới thành thục và mùa vụ sinh sản tùy theo từng vùng biển khác nhau Ở Triết Giang là hạ tuần tháng 6 - 8, đẻ rộ vào tháng 9 đến thượng tuần tháng 10 Khi nhiệt độ
và độ mặn giảm đột ngột thì có tác dụng kích thích sự đẻ trứng và thụ tinh đối với sò
có tuyến sinh dục thành thục Theo kết quả nghiên cứu của Narasimham (1966) tại vùng biển Ấn Độ cho thấy: giai đoạn đẻ trứng của sò huyết ở vịnh Kakinada kéo dài quanh năm, nhưng tập trung cao điểm từ tháng 1 đến tháng 5 [38] Nhận xét của Oon
Trang 20(1984) cho là chu kỳ sinh sản của sò có quan hệ với độ mặn Mùa mưa sẽ làm thay đổi lớn về độ mặn nên ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sinh sản của sò [40]
Trương Sỹ Kỳ (1996) khi nghiên cứu ở vùng ven biển Trà Vinh có nhận xét sò
huyết đẻ quanh năm, nhưng rộ từ tháng 3 đến tháng 6 [5] Hoàng Thị Bích Đào và ctv
(2005) khi thu mẫu sò huyết tại đầm Nha Phu, Khánh Hòa cũng thấy sò huyết đẻ quanh năm nhưng mùa sinh sản chính từ tháng 2 đến tháng 9 và đỉnh cao vào tháng 3 đến tháng 5 và tháng 8 đến tháng 9 [3]
Một số giống loài có tuyến sinh dục lưỡng tính như Pecten, Teredo,… còn lại
đa số là đơn tính Theo Nguyễn Thị Xuân Thu và Hoàng Thị Bích Đào (1999) một số đặc điểm sinh học sinh sản của sò huyết như: Tỷ lệ chung cho các nhóm kích thước; Tương quan thành thục sinh dục; Kích thước thành thục lần đầu; Chu kỳ và mùa vụ sinh sản; Sức sinh sản của sò huyết Nêu một số đặc điểm sinh thái trong quá trình ương nuôi ấu trùng sò huyết như: Giai đoạn ấu trùng sống nổi; Giai đoạn ấu trùng và hậu ấu trùng sống đáy [17] Đến năm 2005, Hoàng Thị Bích Đào tiếp tục nghiên cứu
về đặc điểm sinh học sinh sản và thành công trong sản xuất giống nhân tạo sò huyết tại Khánh Hòa [3]
1.1.6 Một số nghiên cứu khác
Các loài sò rất giàu protein, gluxit và các chất khoáng Một nghiên cứu của Ibrahim (1995) về hàm lượng các nguyên tố vi lượng trong sò huyết đã thực hiện và kết quả cho thấy có 12 nguyên tố vi lượng có mặt trong thịt sò Đó là nguyên tố: Mg,
Cl, Mn, K, As, Se, Br, Zn, Co, Fe, Rb và Cr Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, hàm lượng các kim loại có quan hệ tỷ lệ thuận với khối lượng của sò Khối lượng sò càng lớn thì hàm lượng các kim loại có trong sò càng cao
Nghiên cứu về thành phần sinh hóa của sò ở nước ra còn rất ít, mới chỉ có nghiên cứu của Lâm Ngọc Trâm (1996) [18] Báo cáo cho biết hàm lượng nước và tổng lượng khoáng ở sò huyết thấp hơn các đối tượng cùng được nghiên cứu (sò lông, nghêu) Trong khi đó hầu hết các chất hữu cơ (protein, lipit, gluxit) ở sò huyết lại cao hơn, đặc biệt là protein chiếm tới 17,13% (tính theo khối lượng tươi) có thể sánh ngang với các đối tượng xuất khẩu có giá trị như mực, cá thu, tôm biển Ngoài ra các nguyên tố như Fe (48,30 µg/g); Mn (0,90 µg/g); N (5,99 mg/g); P (0,51 mg/g); K (1,73
Trang 21mg/g)… có hàm lượng khá cao (gấp 10 lần ở cá) [43] Điều đó càng khẳng định giá trị dinh dưỡng cao của sò huyết Một nghiên cứu khác gần đây của Nguyễn Thị Vĩnh và Nguyễn Tài Lương (2001) khi nghiên cứu thành phần hóa học của sò huyết, trai ngọc
nữ và hến hồng ở vùng biển Nha Trang Vì vậy việc nghiên cứu sò huyết phục vụ cho nhu cầu thực phẩm của con người cần được quan tâm hơn nữa [23]
Sò huyết là một trong những nguồn thức ăn khá phổ biến của người dân nhiều nước Châu Á Họ thường sử dụng chúng ở dạng thức ăn không được nấu chín hoàn toàn, nên nhiều loại vi khuẩn giống Vibrio có trong thịt sò chưa được diệt hết, chúng là các tác nhân gây bệnh và có thể ảnh hưởng đến sức khỏe con người Về vấn đề này, Hardiano (1986) đã nghiên cứu ở vịnh Jakarta – Indonesia, khi so sánh về hàm lượng
vi khuẩn, chất lắng có trong sò huyết, cao hơn trong nước khá nhiều [32] Liew và ctv
(1998) đã thực hiện các nghiên cứu về tỷ lệ sống của vi khuẩn Vibrio spp và V
cholerae trên sò huyết sau khi được xử lý nhiệt Kết quả cho thấy, các vi khuẩn này bị
khoảng thời gian tối đa 30 giây Đối với nhóm kích thước nhỏ hơn 8 g thì thời gian xử lý chỉ 10 giây [36]
Địch hại của sò là một số loài ăn thịt như cá (cá chình, cá da trơn…); giáp xác
như cua xanh, ghẹ; động vật thân mềm như chân bụng (loài Natica maculosa và Thais
carinifera); ốc gai Bedeva blosvillei; Sun Balanus amphitrite và động vật da gai như
sao biển… [24], [27] Theo Ngô Trọng Lư (1996) các loài rong biển cũng có thể gây hại làm sò ngạt thở khi triều rút [7]
Bệnh trên sò huyết còn là một lĩnh vực mới mẻ và chưa được nghiên cứu nhiều Bệnh thường gặp là bệnh sinh vật bám do loài sun bám trên vỏ, nó không chỉ cạnh tranh thức ăn mà còn ảnh hưởng tới vận động của sò Cách phòng tránh bằng cách chọn bãi nuôi ít sinh vật bám và chọn con giống sạch trước khi thả nuôi Ở sò cũng gặp bệnh ký sinh trùng, mà tác nhân là giun sán xâm nhập qua con đường dinh dưỡng nên việc phòng tránh rất khó khăn Ngoài ra các yếu tố môi trường thay đổi đột ngột, đặc biệt là độ mặn có thể gây chết hàng loạt và thường xảy ra ở những bãi sò gần cửa sông trong mùa mùa lũ [7]
Trang 221.2 Tình hình nuôi thương phẩm sò huyết trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Tình hình nuôi trên thế giới
Trên thế giới, Thái Lan, Malaysia, Nhật Bản, Trung Quốc,… là những nước có nghề nuôi sò huyết phát triển Ở các quốc gia này đã cho sinh sản nhân tạo thành công
và nuôi với diện tích lớn Trung Quốc là một trong những nước nuôi sò huyết lớn trên thế giới với sản lượng 200 nghìn tấn năm 1999 chiếm 64% sản lượng thế giới
Ở khu vực Đông Nam Á, Malaysia là nước dẫn đầu về sản lượng sò huyết Theo FAO (2013) thì tổng sản lượng sò huyết của thế giới là 393.000 tấn, trong đó, Maylaysia là nước đóng góp nhiều nhất [31] Sò huyết chiếm đến 94% sản lượng động vật thân mềm xuất khẩu tại quốc gia này Trong giai đoạn 1975 - 1985, tổng sản lượng
sò khai thác trung bình khoảng 55.000 tấn/năm Năm 1994 diện tích nuôi sò ở Malaysia tăng lên đạt khoảng 4.640 ha với tổng sản lượng đạt 82.335 tấn Tuy nhiên, trong những năm gần đây, sản lượng sò huyết của Malaysia có xu hướng giảm dần Năm 2010, mặc dù diện tích nuôi tăng lên 100.000 ha nhưng sản lượng chỉ đạt 78.000 tấn Năng suất ban đầu khoảng 21 tấn/ha nay giảm xuống còn 10 tấn/ha (Ramli and Hasan, 2013) Tại Malaysia, sinh trưởng của sò huyết trong nuôi thương phẩm chịu ảnh hưởng của 3 yếu tố là: thành phần chất đáy, độ mặn và độ dốc của nền đáy Vùng thích hợp cho nuôi sò là vùng triều, đáy bùn mịn, mềm, ít sóng gió, gần cửa sông, độ mặn từ 10 - 30‰, mật độ sò huyết thả nuôi phụ thuộc vào kích thước; cụ thể cỡ sò huyết giống nuôi thích hợp từ 4 - 10 mm tương ứng với mật độ 5.000 con/kg [30]
Từ năm 1980, Philippines tiến hành nhiều nghiên cứu về sản xuất giống và nuôi thương phẩm sò huyết từ quy mô thí nghiệm đến các bãi nuôi tự nhiên Kết quả đã sản xuất giống nhân tạo thành công tuy nhiên con giống tự nhiên vẫn được ưa chuộng hơn Theo Narasimham (1980), thời gian nuôi thương phẩm sò huyết từ cỡ 23,0 mm và 5,5
g/con, tương ứng với tốc độ tăng trưởng 2,9 mm/tháng và tỷ lệ sống đạt 83,4% [38]
Ở Indonesia, sò là đối tượng động vật thân mềm quan trọng nhất và nghề nuôi
sò huyết phổ biến từ năm 1965 và chủ yếu dựa vào con giống tự nhiên Nuôi sò huyết ở Java phổ biến từ năm 1965 – 1969 và chủ yếu dựa vào con giống tự nhiên Sò được khai thác quanh năm, mùa cao điểm thường từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau Kích thước sò khai thác từ 1 - 5 cm Vùng khai thác giống có độ mặn 25‰, sâu từ 1,4 m, đáy bùn nhão dày 25 cm, độ trong 2 m Trong giai đoạn từ năm 1978 – 1983, sản
Trang 23lượng sò huyết nuôi hàng năm tại đây đạt 28.993 tấn/năm
Ở Thái Lan nghề nuôi sò bắt đầu từ những năm 1930 tại tỉnh Phetchaburi Nghề nuôi sò tiếp tục phát triển mạnh đến năm 1972, sau đó dừng lại do môi trường bị ô nhiễm nặng Đến năm 1973 tỉnh Satun bắt đầu nuôi lại Từ đó nghề nuôi sò lan rộng ra các tỉnh phía nam Thái Lan [37]
1.2.2 Tình hình nuôi ở Việt Nam
Ở Việt Nam nghề nuôi sò huyết chỉ phát triển mạnh tại khu vực phía Nam từ năm 1990, tổng diện tích bãi triều đang sử dụng nuôi sò huyết chỉ trên 2.000 ha chủ yếu tập trung tại các tỉnh Kiên Giang, Trà Vinh, Ninh Thuận mặc dù diện tích tiềm năng có thể phát triển nghề nuôi trong cả nước là khoảng 50.000 ha Vùng Đồng bằng sông Cửu Long có sản lượng khai thác khoảng 17.000 – 20.000 tấn/năm, trong đó Kiên Giang có sản lượng lớn nhất cả nước Theo Trần Hoàng Phúc (2008), những năm gần đây, nuôi sò huyết được mở rộng và phát triển mạnh ở một số tỉnh có nguồn giống
tự nhiên như Kiên Giang, Bến Tre và Quảng Ninh [11] Tuy nhiên có rất ít công trình
nghiên cứu kỹ thuật nuôi các loài thuộc động vật thân mềm hai mảnh vỏ, trong đó có
sò huyết, chủ yếu các công trình nghiên cứu ở Việt Nam là đánh giá nguồn lợi Nhóm nghiên cứu chỉ tìm thấy một số công trình, báo cáo gồm các thông tin khoa học, sách hoặc giáo về cẩm nang, kỹ thuật nuôi nghêu, ngao, sò huyết, trai ngọc [7], [13], [19] Tại Bến Tre, diện tích sò huyết của tỉnh trong năm 2012 vào khoảng 1.100 ha (chủ yếu 3 huyện Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú), tăng gần 400 ha so với cùng thời điểm năm 2011 Sò nuôi khoảng 12 tháng, bắt đầu từ tháng 4, tháng 5 hàng năm Người dân cũng tận dụng những ao nuôi tôm quảng canh kém hiệu quả để chuyển sang nuôi sò Nuôi sò huyết cản trở giao thông đường thủy Hàng trăm chủ ghe tại các xã ven biển của tỉnh Bến Tre rất bức xúc trước tình trạng các kênh, rạch bị các hộ dân lấn chiếm để nuôi sò huyết, dẫn đến tình trạng ghe thuyền không thể lưu thông Nhiều địa phương đã xảy ra xô xát giữa người nuôi sò huyết và những chủ ghe chuyên vận chuyển hàng hóa do các ghe này “va” vào sân sò khi di chuyển Nhiều kênh, rạch tại huyện Thạnh Phú đã bị lấn chiếm đến 80% để nuôi sò huyết Chi cục Nuôi trồng thủy sản Bến Tre đã yêu cầu người dân dẹp sân sò, chấm dứt tình trạng cản trở giao thông đường thủy Tuy nhiên, việc thu dọn sân sò có thể phải kéo dài đến cuối tháng 6, sau khi người dân thu hoạch xong Kênh, rạch tại hàng chục xã ven biển khác của tỉnh
Trang 24cũng bị lấn chiếm để nuôi sò huyết, do giá loại đặc sản này cao kỷ lục vào năm 2011 (khoảng 50.000 đồng/kg)
Tại Tiền Giang, mô hình sò – tôm trong ao nuôi tôm quảng canh cải tiến tại Gò Công Đông, làm tăng thu nhập và làm sạch môi trường, sò huyết giống tự nhiên có
75 – 80 con/kg, lợi nhuận khoảng 22 triệu đồng/ha/năm
Tại Kiên Giang, Võ Minh Thế (2012) đã phân tích đặc điểm kỹ thuật và hiệu quả tài chính các mô hình nuôi sò huyết ở tỉnh Kiên Giang [16] Theo đó, tại Kiên Giang mô hình nuôi sò huyết trong rừng phòng hộ ven biển được thực hiện từ năm
2010, mô hình đã mang lại hiệu quả cao cho người nuôi và đang được nhân rộng mô hình Tại An Biên, các mô hình nuôi tôm sú thả ghép sò huyết trong ao dưới tán rừng phòng hộ ở khu vực ven biển thường được triển khai với diện tích khoảng 1ha, sau 12 tháng nuôi sò phát triển tốt tỷ lệ sống đạt trên 65% năng suất từ 6.600 – 6.842 kg/ha, năng suất tôm sú 200 kg/ha Lợi nhuận bình quân từ 100 – 120 triệu đồng/ha Hiệu quả của mô hình đã góp phần ổn định kinh tế cho những hộ dân sinh sống ở vùng ven rừng phòng hộ Mô hình nuôi ghép tôm - cua - sò huyết trong cùng diện tích canh tác ở các
xã vùng ven biển của huyện An Biên đã giúp nhiều hộ dân có thu nhập ổn định, vươn lên làm giàu Tại Bình Định, sò huyết được nuôi từ năm 1997 chủ yếu tại đầm Nại, phát triển mạnh vào năm 1998, sau đó giảm dần (17,4 ha với sản lượng 83,5 tấn năm
1998 giảm xuống 2 ha với 3 tấn năm 2005) Nuôi sò huyết trong ao tôm và nuôi đăng chắn ở bãi triều là 2 loại hình nuôi chủ yếu
Nhìn chung hiện nay, nghề nuôi sò huyết ở Việt Nam nói chung và Kiên Giang nói riêng phát triển khá mạnh Tuy nhiên nguồn giống cung cấp cho nghề nuôi chủ yếu
từ khai thác tự nhiên và người dân sử dụng mặt nước cho nghề nuôi này tự phát chưa theo quy hoạch, hình thức nuôi chủ yếu theo kinh nghiệm truyền thống, không áp dụng các biện pháp kỹ thuật Do đó, nghề nuôi thương phẩm sò huyết tại đây chưa thật sự mang lại hiệu quả, góp phần xóa đói giảm nghèo cho cộng đồng dân cự ven biển
1.3 Điều kiện tự nhiên của vùng nghiên cứu
Huyện An Biên nằm ở toạ độ: 9°49'18"N, 105°1'50"E, là một huyện của tỉnh Kiên Giang Huyện An Biên nằm ở phía Đông phần giữa tỉnh Kiên Giang Phía Bắc trông ra vịnh Thái Lan, phía Đông giáp các huyện Châu Thành, Gò Quao, phía Nam giáp huyện U Minh Thượng, phía Tây Nam giáp huyện An Minh Huyện có diện tích
Trang 25400,3 km2, dân số 130.000 người, có 12.735 hộ dân với 53.722 nhân khẩu đang sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa kết hợp với nuôi trồng và khai thác hải sản, có bờ biển dài 21 km và vành đai rừng phòng hộ ven biển khoảng 1.000 ha, có trên 7.000 ha mặt nước bãi bồi ven biển Các đơn vị hành chính gồm Thị trấn Thứ Ba, xã Nam Thái
A, xã Nam Thái, xã Tây Yên A, xã Tây Yên, xã Hưng Yên, xã Đông Yên, xã Nam Yên, xã Đông Thái
Thế mạnh kinh tế của An Biên là nông nghiệp và thủy sản Từ năm 2000 trở lại đây, kinh tế An Biên đã có bước phát triển đáng kể, mức tăng trưởng GDP bình quân trên 10%/năm Huyện đã và đang xuất hiện nhiều mô hình làm kinh tế hiệu quả: mô hình sản xuất nông - lâm nghiệp - thủy sản kết hợp cho hiệu quả kinh tế cao Đặc biệt
là lĩnh vực khai thác nuôi trồng thủy sản phát triển khá mạnh Đây cũng là lĩnh vực có tốc độ tăng trưởng nhanh và được xem là ngành kinh tế mũi nhọn, với sản lượng thủy hải sản bình quân 47.000 tấn/năm, nhờ duy trì đội tàu đánh bắt trên biển cộng với việc khuyến khích, tạo điều kiện cho nông dân, các nhà đầu tư trong và ngoài tỉnh đến khai thác lợi thế vùng ven biển, bãi bồi để nuôi trồng thủy hải sản có giá trị cao [1]
Hình 1.2: Bản đồ hành chính huyện An Biên [21]
Trang 26An Biên là huyện vùng sâu, cơ sở hạ tầng còn nhiều hạn chế, quốc lộ 63 là tuyến giao thông huyết mạch của huyện Công tác xây dựng hạ tầng giao thông trên địa bàn huyện không được quan tâm đúng mức, nhiều công trình xây dựng dở dang, không đồng bộ Công tác xoá đói giảm nghèo của huyện được xem là có nhiều tiến bộ, huyện đã tạo điều kiện cho hộ nghèo chịu khó, chí thú làm ăn, có tay nghề được vay vốn ưu đãi để tổ chức sản xuất ngành nghề quy mô vừa và nhỏ,… góp phần thực hiện
có hiệu quả công tác xóa đói giảm nghèo trên địa bàn huyện Năm 2008, tỷ lệ hộ nghèo đã giảm xuống còn 13,82% Đồng thời, huyện đã triển khai chỉ tiêu giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động năm 2008 với tổng số 2.330 lao động, trong đó giải quyết việc làm tại địa phương 800 lao động, đưa lao động đi làm việc ngoài tỉnh 1.450 lao động và đưa đi làm việc ở nước ngoài 80 lao động, tỷ lệ hộ nghèo tính đến năm
2015 đã giảm rất lớn chỉ còn 1.716 hộ, chiếm tỷ lệ 5,69% [21]
Diện tích bãi triều là khá rộng (khoảng 7.000 ha), tuy nhiên, chỉ ở các bãi triều ở Nam Thái, Nam Thái A và một phần nhỏ Nam Yên giáp ranh với Nam Thái, thỉnh thoảng có xuất hiện sò giống nhưng với mật độ rất thấp Các bãi triều còn lại của Nam Yên và Tây Yên hầu như không bắt gặp Có lẽ rằng, ảnh hưởng của nguồn nước ngọt
từ cửa sông Cái Lớn đổ vào, đặc biệt là mùa mưa làm hạn chế và không thích hợp cho phát triển sò bố mẹ và sò huyết giống và ở khu vực này Theo Quyết định số 379/QĐ-UBND ngày 10/02/2011 của Uỷ ban Nhân dân tỉnh Kiên Giang về điều chỉnh công bố khu bãi giống thủy sản tự nhiên vùng biển tỉnh Kiên Giang, thì vùng ven bờ huyện An Biên không có bãi giống được công bố Vùng biển An Biên có sự phân bố của 2 đối tượng chính là sò huyết và hến Do hầu hết diện tích mặt nước biển ven bờ đã được UBND huyện cho thuê để nuôi các đối tượng sò huyết và hến, nên không xác định sự xuất hiện của bãi giống sò huyết tự nhiên ở vùng này, do việc thả giống để nuôi được tiến hành hàng năm theo mùa vụ Căn cứ vào số liệu thống kê của Phòng Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn huyện An Biên, diện tích mặt nước biển đã cho ngư dân thuê đến tháng 5 năm 2013 là 5.000 ha [22]
Trang 27CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Từ 10/2014 đến 11/2015
- Địa điểm nghiên cứu: huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang
- Đối tượng nghiên cứu: Sò huyết Anadara granosa Linnaeus, 1758
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
Hình 2.1: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu
2.2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Số liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo, tài liệu khoa học đã được công bố trước đó liên quan đến điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, hiện trạng nuôi sò huyết ở An Biên và tỉnh Kiên Giang của các cơ quan chức năng
Số liệu thứ cấp được thu thập thông qua các tài liệu có liên quan đến nghề nuôi
sò huyết đã được công bố của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Kiên
Điều tra hiện trạng nghề nuôi sò huyết và đề xuất giải
pháp phát triển theo hướng bền vững
Đề xuất giải pháp phát triển nghề nuôi
theo hướng bền vững
Hiệu quả kinh tế xã hội và môi trường
Hiện trạng kỹ thuật của nghề nuôi sò huyết
Hiện trạng
KT-XH của hộ nuôi
Kết luận và đề xuất ý kiến
Trang 28Giang, phòng Nông nghiệp huyện An Biên, Chi cục Thống kê tỉnh, Chi cục Nuôi trồng thủy sản, Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản
- Các chỉ tiêu thu thập bao gồm:
+ Điều kiện tự nhiên: Vị trí địa lý, thời tiết khí hậu, địa hình thổ nhưỡng, môi trường, sông ngòi và đầm phá, đặc điểm thủy triều, tài nguyên thiên nhiên
+ Điều kiện kinh tế - xã hội: Cơ sở hạ tầng, tình hình phát triển kinh tế xã hội, giá trị sản xuất ngành thủy sản, dân số và cơ cấu lao động
+ Thống kê về hiện trạng nuôi trồng thủy sản tại Kiên Giang, nuôi sò huyết ở huyện An Biên, Kiên Giang
2.2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp và điều tra
Thông tin được thu thập qua quan sát thực tế, phỏng vấn trực tiếp người dân nuôi sò huyết tại khu vực nghiên cứu, dựa trên mẫu phiếu điều tra để đánh giá hiện trạng nghề nuôi sò huyết thương phẩm - Các thông tin chính được thu thập bao gồm:
- Các thông tin về kinh tế xã hội của người nuôi: gồm thông tin về chủ hộ nuôi, số nhân khẩu, tuổi của chủ hộ nuôi, giới tính, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn
- Các thông tin về hiện trạng nghề nuôi như các thông tin về hệ thông bãi nuôi, giống, hệ thống công trình nuôi, môi trường nuôi, con giống, thức ăn, chăm sóc quản lý, phòng trị bệnh, năng suất, sản lượng, thu hoạch, sơ chế, thị trường tiêu thụ, sơ bộ đánh giá hiệu quả kinh tế, các thông tin về cơ chế, chính sách quản lý, những khó khăn gặp phải, nguyện vọng của người nuôi
Số lượng mẫu điều tra được ước lượng dựa theo phương pháp của Yamane (1967) để xác định cỡ mẫu điều tra, theo công thức [45]:
2
N n
Trang 29Sau khi khảo sát, chúng tôi xác định được tổng số mẫu điều tra là 95 hộ, trong
đó số lượng mẫu tương ứng với các hộ dân nuôi sò huyết thương phẩm thuộc 4 xã ven biển được tính toán dựa trên số lượng hộ nuôi và diện tích thực tế tại địa phương Cụ thể như sau, xã Tây Yên (20 hộ), xã Nam Yên Tây Yên (20 hộ), xã Nam Thái Tây Yên (25 hộ) và xã Nam Thái A (30 hộ)
Sử dụng bộ câu hỏi điều tra đã được chuẩn hóa (phiếu điều tra), phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA – Rapid Rural Appraisal) trực tiếp phỏng vấn hộ dân nuôi sò huyết; các chuyên gia, cán bộ kỹ thuật và lãnh đạo các phòng chuyên môn ở huyện An Biên cũng như tỉnh Kiên Giang
Trên cơ sở đánh giá hiện trạng kỹ thuật nuôi thương phẩm sò huyết tại địa phương và nghiên cứu các quy định hiện hành của nhà nước có liên quan để đề xuất các giải pháp khả thi để phát triển nghề nuôi bền vững nghề nuôi sò huyết tại huyện
An Biên, Kiên Giang
2.3 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu thu được được mã hóa và được xử lý theo từng chuyên đề riêng dựa theo bộ câu hỏi điều tra Sử dụng khung sinh kế bền vững làm công cụ phân tích các kết quả nghiên cứu Các số liệu được phân tích bằng phần mềm Microsoft Excel 2013,
sử dụng thống kê mô tả để tính các chỉ số trung bình, lớn nhất, nhỏ nhất
- Chỉ tiêu kinh tế xã hội: cơ cấu nhóm tuổi, tập huấn, đào tạo nghề, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, quy mô của hộ nuôi…
- Kết quả sản xuất:
+ Sản lượng sò huyết nuôi: Tổng khối lượng thu được/vụ nuôi (tấn/vụ)
+ Năng suất sò huyết (tấn/ha/vụ hay tấn/ha/năm):
Năng suất = Sản lượng sò huyết thu hoạch (tấn) / Diện tích mặt nước nuôi (ha)
- Hiệu quả kinh tế:
+ Lợi nhuận:
Lợi nhuận = Tổng doanh thu – Tổng chi phí Tổng doanh thu: Tổng sản lượng x Giá bán
Trang 30Tổng chi phí: Chi phí cố định + Chi phí lưu động
Trong đó: Doanh thu là tổng số tiền bán sò huyết Chi phí gồm chi phí cố định
và chi phí lưu động Chi phí cố định gồm chi phí thuê diện tích mặt nước nuôi, thuế, khấu hao tài sản cố định, chi phí duy tu, bảo dưỡng các công trình, thiết bị Chi phí lưu động gồm con giống, thức ăn, thuốc, hóa chất, thuê mướn nhân công
Số liệu được trình bày dưới dạng giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn
Trang 31CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Hiện trạng kinh tế - xã hội của nghề nuôi sò huyết
3.1.1 Độ tuổi
Độ tuổi trung bình của các hộ nuôi sò huyết thương phẩm là 34,6 ± 0,7 tuổi Trong đó độ tuổi dưới 30 chiếm 21,5 ± 1,2%, chủ yếu là độ tuổi từ 30 ÷ 50 tuổi (chiếm 57,2 ± 0,5 %) và trên 50 tuổi chiếm 21,3 ± 0,2, đây là độ tuổi có nhiều kinh nghiệm nuôi nhất
Bảng 3.1: Cơ cấu nhóm tuổi của hộ nuôi thương phẩm sò huyết tại An Biên
Người dân có độ tuổi dưới 30 tuổi được coi là lớp kế cận và cần được quan tâm,
hỗ trợ đào tạo nghề nuôi thương phẩm sò huyết cũng như nuôi trồng thủy sản để có được những kiến thức về khoa học kỹ thuật kết hợp với kinh nghiệm truyền thống Điều này sẽ giúp cho nghề nuôi thương phẩm sò huyết cũng như động vật thân mềm địa phương phát triển bền vững
3.1.2 Trình độ văn hóa
Nhìn chung trình độ văn hóa của các hộ dân nuôi thương phẩm sò huyết tại khu vực nghiên cứu tương đối đa dạng, do điều kiện khu vực nuôi là các xã ven biển, điều kiện kinh tế khó khăn, đa phần những người nuôi xuất phát điểm là cộng đồng ngư dân khai thác thủy sản ven bờ, nên có một số chủ hộ, đặc biệt là những người lớn tuổi không biết chữ
Qua hình 3.1, có thể nhận thấy số người có trình độ văn hóa cấp 2 có tỷ lệ cao nhất chiếm 40,8 ± 2,1%, tiếp đến là số người có trình độ văn hóa cấp 3 và cấp 1 với tỷ
lệ lần lượt là 32,5 ± 2,5% và 19,4 ± 0,4% Trình độ văn hóa của chủ hộ nuôi tốt nghiệp đại học có tỷ lệ thấp nhất chiếm 2,2 ± 0,2% và số người không biết chữ chiếm khoảng 5,1 ± 0,2% Trình độ văn hóa thấp sẽ gây ra những trở ngại nhất định trong việc tiếp
Trang 32cận các biện pháp chăm sóc và quản lý trong kỹ thuật nuôi sò huyết thương phẩm sẽ là một thử thách cho các nhà quản lý và chuyên môn ở địa phươg Đặc thù vùng nuôi của
sò huyết tại địa phương là nuôi ở vùng triều, gần rừng ngập mặn nên việc chấp hành các quy định về bảo vệ môi trường, an toàn tính mạng khi có mưa bão là rất khó khăn khi triển khai nuôi thương phẩm sò huyết Trình độ học vấn thấp cũng sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến việc tuyên truyền chính sách của nhà nước và của địa phương về quy hoạch vùng nuôi cũng như bảo vệ môi trường
Hình 3.1: Trình độ văn hóa của hộ nuôi sò huyết 3.1.3 Tập huấn, đào tạo nghề
Kết quả điều tra cho thấy hầu hết người dân nuôi sò huyết tại An Biên mới chỉ được tập huấn chuyên môn về kỹ thuật liên quan, chiếm khoảng 12,5%, còn hầu hết là chưa được tập huấn Điều này hoàn toàn phù hợp với thực tế là đa số các chủ hộ nuôi đều nuôi với tính chất tự phát, tự học hỏi kinh nghiệm nuôi của nhau mà không thông qua các lớp tập huấn của cơ quan quản lý Một lý do chủ yếu nữa là do địa bàn của vùng nuôi rộng lớn, điều kiện kinh tế khó khăn cộng với cơ sở hạ tầng giao thông chưa thuận lợi là trở ngại lớn cho người dân nói chung và các hộ dân nuôi sò huyết thương phẩm nói riêng có điều kiện tham gia các lớp tập huấn của cơ quan quản lý địa phương
là rất hạn chế
3.1.4 Kinh nghiệm nuôi
Tỷ lệ số chủ hộ có kinh nghiệm nuôi sò huyết từ 5 – 8 năm chiếm tỷ lệ cao nhất
là 30,8 ± 1,5%, tiếp theo là những hộ mới nuôi < 3 năm (chiếm 28,5 ± 1,7%) Những