Theo báo cáo tổng kết công tác phát triển thủy sản tỉnh Hưng Yên năm 2015 Chi cục Thủy sản Hưng Yên, 2015 của Chi cục Thủy sản Hưng Yên thì trên địa bàn toàn tỉnh có 53 hộ nuôi cá trong
Trang 1
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
TRẦN HOÀNG LONG
NGHIÊN CỨU HIỆU QUẢ MÔ HÌNH NUÔI CÁ TRONG
RUỘNG LÚA TẠI TỈNH HƯNG YÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHÁNH HÒA - 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
TRẦN HOÀNG LONG
NGHIÊN CỨU HIỆU QUẢ MÔ HÌNH NUÔI CÁ TRONG
RUỘNG LÚA TẠI TỈNH HƯNG YÊN
Người hướng dẫn khoa học:
TS NGUYỄN LÂM ANH
Chủ tịch Hội Đồng:
TS LỤC MINH DIỆP
Phòng Đào tạo Sau Đại học:
KHÁNH HÒA - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài “Nghiên cứu hiệu quả mô hình nuôi cá
trong ruộng lúa tại tỉnh Hưng Yên” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi và chưa
từng được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác cho tới thời điểm này
Hưng Yên, ngày 8 tháng 7 năm 2017
Tác giả
Trần Hoàng Long
Trang 4LỜI CÁM ƠN
Trong thời gian thực hiện đề tài, Tôi luôn nhận được sự quan tâm, giúp đỡ, tạo điều kiện của các quý phòng, ban của Trường Đại học Nha Trang, Khoa sau đại học, Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1; Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản –Trường Đại học Nha Trang, Viện Nghiên cứu Hải sản – Hải Phòng và các Thầy, Cô giáo kính mến đã dạy bảo và dìu dắt giúp đỡ tôi có kiến thức và hoàn thiện đề tài nghiên cứu của mình Đặc biệt, xin trân trọng biết ơn sự quan tâm dạy dỗ và hướng dẫn, giúp đỡ của
thầy giáo TS Nguyễn Lâm Anh đã định hướng và tận tình giúp đỡ, chỉ bảo, hướng
dẫn cho tôi hoàn thành tốt đề tài này.Tôi xin bày tỏ sự biết ơn các Cơ quan, đơn vị Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hưng Yên, Chi cục Thủy sản tỉnh Hưng Yên, UBND các huyện, thành phố, phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (phòng Kinh tế) các huyện, thành phố, UBND các xã, phường thị trấn trong tỉnh Hưng Yên đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Tôi xin bày tỏ sự biết ơn tới các ông bà tham gia thực hiện mô hình nuôi cá trong ruộng lúa tạo điều kiện thời gian và bố trí đầy đủ nguồn lực tài chính thực hiện nhiệm
vụ để có những thông tin chính xác và kịp thời giúp tôi hoàn thiện báo cáo nghiên cứu
đề tài
Xin trân trọng cám ơn các đồng nghiệp, gia đình và bạn bè xa gần đã quan tâm, chia sẻ, đóng góp những ý kiến cũng như động viên khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu luận văn
Tôi xin trân trọng cám ơn./
Hưng Yên, ngày 8 tháng 7 năm 2017
Tác giả
Trần Hoàng Long
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CÁM ƠN iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC HÌNH ix
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN x
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 4
1.1 Đặc điểm sinh học một số loài cá nuôi trong ruộng lúa tại Hưng Yên 4
1.1.1 Cá trắm cỏ (Ctennopharyngodon) 4
1.1.2 Cá chép lai 3 máu V1 7
1.1.3 Cá mè trắng (Hypophthamichthys molitrix) 9
1.1.4 Cá rô phi vằn dòng GIFT 10
1.2 Tổng quan tình hình nuôi cá trong ruộng lúa 12
1.2.1 Tổng quan nghiên cứu tình hình nuôi cá trong ruộng lúa trên thế giới 12
1.2.2 Tổng quan nghiên cứu tình hình nuôi cá trong ruộng lúa tại Việt Nam 12
1.2.3 Tổng quan tình hình nuôi cá trong ruộng lúa tại tỉnh Hưng Yên 13
1.3 Tình hình tổ chức quản lý thủy sản tỉnh Hưng Yên 15
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 16
2.2 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 16
2.3 Phương pháp thu thập số liệu 16
2.3.1 Thu thập số liệu thứ cấp 16
Trang 62.3.2 Thu thập số liệu sơ cấp 17
2.4 Phương pháp xử lý số liệu 18
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 19
3.1 Kết quả nghiên cứu 19
3.1.1 Hiện trạng kinh tế xã hội của các hộ nuôi cá trong ruộng lúa 19
3.1.2 Hiện trạng kỹ thuật của các hộ nuôi cá trong ruộng lúa 21
3.1.3 Hiện trạng kỹ thuật ở các hộ xây dựng mô hình nghiên cứu sâu 27
3.1.4 Chính sách quản lý và quy hoạch nuôi cá trong ruộng lúa của tỉnh 35
3.2 Đánh giá thuận lợi, khó khăn 36
3.2.1 Thuận lợi 36
3.2.2 Khó khăn 37
3.3 Đề xuất một số giải pháp cơ bản phát triển nuôi cá trong ruộng lúa bền vững 37
3.3.1 Giải pháp về quy hoạch 37
3.3.2 Giải pháp về quản lý 37
3.3.3 Giải pháp về vốn 38
3.3.4 Giải pháp về con giống 38
3.3.5 Giải pháp về thức ăn 38
3.3.6 Giải pháp về kỹ thuật 38
3.3.7 Giải pháp về quan trắc môi trường, cảnh báo phòng ngừa dịch bệnh thủy sản 39
3.3.8 Giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực 39
3.3.9 Giải pháp về thị trường tiêu thụ sản phẩm 39
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 40
4.1 Kết luận 40
4.2 Khuyến nghị 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO 42 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Hiện trạng nuôi cá trong ruộng lúa tại Hưng Yên 14
Bảng 2.1 Các hộ nuôi cá theo từng mô hình được lựa chọn nghiên cứu sâu 17
Bảng 3.1 Phân bố độ tuổi lao động trong các hộ nuôi cá trong ruộng lúa 20
Bảng 3.2 Trình độ văn hóa của chủ hộ nuôi cá trong ruộng lúa 20
Bảng 3.3 Trình độ chuyên môn của chủ hộ nuôi cá trong ruộng lúa 21
Bảng 3.4 Số hộ nuôi theo các hình thức nuôi đơn hoặc nuôi kết hợp 22
Bảng 3.5 Hình dạng mô hình nuôi cá trong ruộng lúa 23
Bảng 3.6 Nguồn gốc cá giống nuôi tại các hộ nuôi 23
Bảng 3.7 Mật độ thả cá giống nuôi trong ruộng lúa 23
Bảng 3.8 Đánh giá chất lượng giống 24
Bảng 3.9 Khó khăn về nguồn cung cấp giống cá nuôi trong ruộng lúa 24
Bảng 3.10 Hiệu quả kinh tế của 53 hộ dân nuôi cá trong ruộng lúa tại Hưng Yên 26
Bảng 3.11 Thành phần thức ăn, số lượng cho ăn theo trọng lượng cá 28
Bảng 3.12 Bình quân tỷ lệ sống, sản lượng cá của 3 mô hình nghiên cứu sâu 29
Bảng 3.13 Bình quân tỷ lệ sống và trọng lượng cá thu hoạch theo từng huyện (n = 3 với mỗi mô hình) 30
Bảng 3.14 Sản lượng bình quân cá khi thu hoạch (n = 3 theo các mô hình nuôi) 31
Bảng 3.15 Chí phí thức ăn cho cá ở mỗi mô hình nuôi (n = 3 cho mỗi mô hình) 33
Bảng 3.16 Chi phí mua cá giống và doanh thu từ cá của các mô hình 33
Bảng 3.17 Hiệu quả kinh tế của các mô hình nuôi (n = 3 với mỗi mô hình) 34
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Cá trắm cỏ (Ctenopharyngodon edellus) 4
Hình 1.2 Các dạng thức ăn tự nhiên trong ruộng lúa của cá trắm cỏ 6
Hình 1.3 Hình cá chép lai 3 máu (cá chép V1 ) 8
Hình 1.4 Cá mè trắng (Hypophthamichthys molitrix) 9
Hình 1.6 Cá rô phi (Oreochromis niloticus) 11
Hình 1.7 Bản đồ hành chính tỉnh Hưng Yên 13
Hình 3.1 Sơ đồ mặt cắt ngang ruộng lúa nuôi cá kết hợp 22
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Đề tài được thực hiện với vấn đề nghiên cứu là “Hiệu quả mô hình nuôi cá trong ruộng lúa tại tỉnh Hưng Yên” Mục tiêu của đề tài cung cấp những thông tin khoa học và thực tiễn về tình hình kinh tế - xã hội, hiện trạng kỹ thuật và hiệu quả kinh
tế xã hội nuôi cá trong ruộng lúa để làm cơ sở cho các nhà quản lý, hoạch định chính sách để nghề nuôi cá trong ruộng lúa theo hướng hiệu quả kinh tế và bền vững
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 9 năm 2015 đến hết tháng 6 năm 2016 tại tỉnh Hưng Yên
Theo báo cáo tổng kết công tác phát triển thủy sản tỉnh Hưng Yên năm 2015 (Chi cục Thủy sản Hưng Yên, 2015) của Chi cục Thủy sản Hưng Yên thì trên địa bàn toàn tỉnh có 53 hộ nuôi cá trong ruộng lúa Số liệu thứ cấp được thu thập từ các cơ quan quản
lý tại địa phương, số liệu sơ cấp được thu thập thông qua phiếu điều tra và phỏng vấn trực tiếp toàn bộ 53 hộ nuôi cá trong ruộng lúa tại các huyện, thành phố và 10 phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (p Kinh tế) các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh
Cụ thể hơn, đề tài đã tiến hành nghiên cứu chuyên sâu hiện trạng kỹ thuật và hiệu quả kinh tế 3 mô hình tại 9 hộ dân nuôi cá trong ruộng lúa trên địa bàn 9 xã thuộc 3 huyện tại tỉnh Hưng Yên
Kết quả nghiên cứu cho thấy, chủ hộ nuôi cá trong ruộng lúa phần lớn đều là nam giới, tuổi trung bình là 45 Các hộ nuôi không có trình độ chuyên môn chiếm tới 96,22%, nuôi chủ yếu theo quy mô từ 1 - 4 ha/hộ và không có sự liên kết; đối tượng nuôi trong ruộng lúa là các loài cá: trắm cỏ, chép, rô phi, mè Quan điểm các nhà quản
lý thủy sản các huyện, thành phố đều có chủ trương quy hoạch vùng nuôi cá trong ruộng lúa, có hỗ trợ nông dân nuôi cá trong ruộng lúa qua các hình thức Cho tập huấn
kỹ thuật, hỗ trợ bảo vệ đồng ruộng, tạo điều kiện về thủy lợi để nuôi cá.100% sản phẩm thủy sản hiện nay đều do tư thương đảm nhiệm tiêu thụ, cá giống được nông dân nuôi thả đều có nguồn gốc rõ ràng song chất lượng cá giống còn thấp, nông dân còn thiếu vốn sản xuất, thiếu kỹ thuật nuôi cá trong ruộng lúa
Kỹ thuật nuôi cá trong ruộng lúa không phức tạp nhưng phải am hiểu về sự sinh trưởng và phát triển của cây lúa, đặc tính sinh học, tập tính ăn của các loài cá nuôi trong ruộng lúa để có tỷ lệ nuôi ghép các loài cá phù hợp nhất và quản lý nuôi tốt nhất đem lại hiệu quả cao và bền vững
Trang 11Tổng chi phí nuôi cá và cấy lúa từ 141,59 tr.đ đến 142,47 tr.đ/2ha/năm
Năng suất lúa đạt khoảng 22,2 tấn/2ha/năm, giá bán khoảng 5,5 tr.đ/tấn; năng suất cá đạt từ 2,54 - 3,22 tấn/2ha/năm, giá bán từ 2,0 - 4,8 tr.đ/tấn Tổng thu cá và lúa
từ 220,4 - 244,46 tr.đ/2ha; lợi nhuận từ 78,81tr.đ/2ha/năm – 101,99 tr.đ/2ha/năm Tỷ
Tỷ lệ thành công của các hộ nuôi trên 95%, nuôi cá trong ruộng lúa đã tạo thêm việc làm cho hơn 150 lao động trực tiếp Để nghề nuôi cá trong ruộng lúa tại tỉnh Hưng Yên phát triển bền vững, các cơ quan chuyên môn cần tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp tập trung vào sản xuất giống nhân tạo có chất lượng tốt, tăng cường công tác khuyến nông về đào tạo, tập huấn kỹ thuật nuôi cá trong ruộng lúa cho nông dân, củng
cố và phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm dưới nhiều hình thức, xây dựng các cơ chế chính sách hỗ trợ hợp lý, hoàn thiện công tác quy hoạch, khắc phục ô nhiễm môi trường
và kiểm soát dịch bệnh thủy sản
Từ khóa: Hưng Yên, Nuôi cá trong ruộng lúa, phát triển bền vững
Trang 12MỞ ĐẦU
Hưng Yên gồm 10 đơn vị hành chính (có 1 thành phố và 9 huyện), địa hình dốc từ Tây Bắc xuống Đông Nam, có những vàn cao, thấp xen kẽ theo hình dải sóng, độ cao trung bình so mặt nước biển từ +3 đến +4m Dân số 1.164.000 người, trong đó số sống ở nông thôn là 1.012.418 người chiếm 86,7% dân số của tỉnh;
đó; diện tích ao, hồ, đầm nuôi cá trên 5.550 ha (theo niên giám thống kê năm 2015), ruộng thấp trũng trên 4.400 ha phân bố hầu hết các huyện, thành phố, trong đó có trên 1.700 ha
có khả năng nuôi cá trong ruộng lúa, trên 760 ha ruộng đặc biệt thấp trũng trồng lúa hiệu quả rất thấp, giá trị sản xuất không tương xứng với mức đầu tư, không đáp ứng yêu cầu sản xuất lúa của nông dân Trong mấy năm từ 2014 đến 2015 Hưng Yên đã đưa trên 65
ha ruộng thấp trũng (Sở Nông nghiệp & PTNT tỉnh Hưng Yên, 2015) vào xây dựng
mô hình nuôi cá trong ruộng lúa (chiếm trên 1,47% so với tổng diện tích ruộng trũng; chiếm 8,55% so với diện tích ruộng rất trũng của tỉnh) Với điều kiện nóng và ẩm của khí hậu nhiệt đới gió mùa, có điều kiện phát triển nuôi tốt các loài cá; cá trắm cỏ
(Ctenopharyngodon edellus), cá rô phi đơn tính (Oreochromis niloticus), cá mè trắng
(V), Hungary (H), và Indonesia (I) ) Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, nuôi cá trong ruộng lúa tại Hưng Yên được phát triển theo hai hình thức; nuôi cá trong ruộng một vụ lúa và nuôi cá trong ruộng 2 vụ lúa Đây là kiểu hình sản xuất không mới trong nước ta nhưng ở Hưng Yên là lần đầu tiên được quan tâm chỉ đạo xây dựng mô hình nuôi cá trong ruộng lúa để khai thác mọi tiềm năng, lợi thế của tỉnh, thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp nhằm nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho nông dân Cá nuôi trong ruộng lúa ăn côn trùng, rầy nâu, cỏ dại, ốc v.v…là các tác nhân gây các bệnh hại lúa, cá sục gốc và làm tơi xốp đất ruộng, lúa không bị bệnh nghẹt rễ phát triển tốt Phân cá thải ra làm phân bón trực tiếp cho cây lúa, tiết kiệm được lượng phân bón….kích thích cây lúa sinh trưởng và tăng sản lượng cây trồng
Trang 13Cây lúa sinh trưởng, phát triển và nhất là sau thu hoạch lúa, liên tục có các thân
và bẹ lúa già cỗi, các hạt lúa rụng làm thức ăn xanh cho một số loài cá có phổ ăn tạp rộng và ăn các rau xanh hoặc mùn bã hữu cơ Mặt ruộng thoáng lại được che phủ bởi cây lúa nên nước rất giàu oxy hòa tan và có hệ sinh thái đồng ruộng phong phú, đa dạng tạo nguồn thức ăn tự nhiên khác cho các loài cá
Cá ăn các loại sâu rầy và các dạng thức ăn có sẵn trong ruộng lúa vì vậy giảm chi phí thức ăn cho cá; phân, thuốc trừ sâu, công cấy, công làm cỏ … giảm độc hại cho con người và môi trường, tăng năng suất lúa trên diện tích Trong cùng đơn vị diện tích, cùng khoảng thời gian canh tác, cùng lượng nước, chi phí cho trồng lúa, nông dân thu được hai loại sản phẩm là cá và lúa từ đó tăng thu nhập cho nông dân
Tuy nhiên, sau năm 2015, việc xây dựng mô hình nuôi cá trong ruộng lúa phát triển chậm lại Phần do nuôi cá trong ruộng lúa hiện nay phải đối mặt với nhiều khó khăn như: môi trường nước nuôi thủy sản có biểu hiện ô nhiễm mạnh, dịch bệnh thủy sản có nguy cơ bùng phát chất lượng cá giống không cao (theo Báo cáo tình hình sản xuất và tiêu thụ cá bột tỉnh Hưng Yên năm 2012 – 2016 của Chi cục Thủy sản Hưng Yên, 2016), bên cạnh đó các nghiên cứu, đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội của nuôi cá trong ruộng lúa tại Hưng Yên chưa được quan tâm nghiên cứu dẫn đến phong trào nuôi cá ruộng lúa trầm lắng, khó khăn trong quản lý và quy hoạch phát triển nuôi
cá trong ruộng lúa bền vững
Trước thực trạng trên, được sự đồng ý của trường Đại học Nha Trang, tôi thực
hiện đề tài “Nghiên cứu hiệu quả mô hình nuôi cá trong ruộng lúa tại tỉnh Hưng
Yên” nhằm đánh giá hiện trạng và đưa ra các giải pháp để nghề “nuôi cá trong ruộng
lúa tại Hưng Yên” phát triển bền vững
Mục tiêu của đề tài
Nghiên cứu hiệu quả mô hình nuôi cá trong ruộng lúa từ đó tìm ra mô hình nuôi (công thức nuôi ghép các loài cá trong ruộng lúa) để có hiệu quả cao nhất
Nội dung nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu với 2 nội dung chính:
- Nghiên cứu, đánh giá hiện trạng và hiệu quả nuôi cá trong ruộng lúa tại tỉnh Hưng Yên
- Đề xuất mô hình nuôi và một số giải pháp cơ bản để phát triển nuôi cá trong ruộng lúa tỉnh Hưng Yên phát triển bền vững
Trang 14Ý nghĩa của đề tài
Nghiên cứu đề tài góp phần cung cấp thêm các thông tin, số liệu khoa học về nuôi
cá trong ruộng lúa tại tỉnh Hưng Yên làm tài liệu tham khảo cho mục đích nghiên cứu, giảng dạy và sản xuất
Đề tài cũng giúp cho việc định hướng một số giải pháp nhằm khai thác thêm hiệu quả của các ruộng thấp trũng cấy lúa tại Hưng Yên
Đề tài “Nghiên cứu hiệu quả mô hình nuôi cá trong ruộng lúa tại tỉnh Hưng
Yên” là rất cần thiết nhằm xác định công thức nuôi cá tốt nhất để nâng cao hiệu quả
kinh tế trên đơn vị diện tích ruộng thấp trũng, góp phần giúp nông dân vươn lên làm giàu, sản xuất ra thủy sản sạch phục vụ nhân dân
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 Đặc điểm sinh học một số loài cá nuôi trong ruộng lúa tại Hưng Yên
Cấu tạo bộ máy tiêu hóa của cá trắm cỏ
Bộ máy tiêu hoá của cá trắm cỏ gồm 4 phần: phần đầu, phần ruột trước, ruột giữa và ruột sau Cá trắm cỏ là loài ăn thực vật nên không có răng hàm, tầng sừng ở miệng rất phát triển Răng hầu dẹp bên và có dạng hình lược gồm hai hàng theo công thức răng: 2.5 – 4.2 hoặc 2.4 – 4.2 hoặc 2.3 – 5.2 Răng hầu làm nhiệm vụ nghiền thức ăn trước khi đưa
xuống ruột (Nguyễn Văn Hào và Ngô Sỹ Vân, 2001)
Ruột trước gồm thực quản và một đoạn ruột bắt đầu từ cuối ống thực quản kéo đến cửa ống dẫn mật Thực quản của cá trắm cỏ ngắn có thành dày, cấu tạo thành thực quản gồm 3 lớp: trong cùng là lớp màng nhầy (mucous), giữa là lớp cơ ngoài cùng là lớp màng quánh (Serous) cấu tạo bởi mô liên kết Trong lớp màng nhầy có chứa các mầm vị giác có tác dụng nhận mùi vị thức ăn và bảo vệ môi trường Thực quản có
Trang 16nhiệm vụ là đẩy thức ăn xuống ruột Ruột giữa là đoạn ruột từ sau van hạ vị đến đầu đoạn ruột sau Ruột sau gồm kết tràng và lỗ hậu môn Ruột cá trắm cỏ tương đối dài bằng 1,9 – 2,5 lần chiều dài thân, cấu tạo gồm 3 lớp: lớp màng nhầy, lớp cơ và lớp màng quánh Lớp màng nhầy có nhiều nếp gấp ngang, dọc làm tăng diện tích bề mặt hấp thu thức ăn (Nguyễn Văn Hào và Ngô Sỹ Vân, 2001)
Cấu tạo tuyến tiêu hoá: Cá trắm cỏ nói riêng có 2 tuyến tiêu hoá chính đó là tuyến gan và tuyến tụy.Tuyến gan có màu vàng tươi hoặc vàng sẫm Gan phân thuỳ bám vào thành ruột Gan tiết ra dịch mật chứa trong túi mật Túi mật có một ống nhỏ đổ vào ruột non (ruột giữa) Dịch mật có tính axid (pH = 5,4), kích thích enzym Lipaza hoạt động mạnh đồng thời kích thích sự hoạt động của ruột
Tuyến tụy có dạng phân tán thành nhiều ống nhỏ bám trên thành ruột, chủ yếu là
ở trong và ngoài gan do đó thường gọi là gan tụy Các ống nhỏ của tụy tập chung vào ống lớn, ống này nằm sát với ống mật và đổ vào ruột non qua 1 lỗ sát với ống mật Tuyến tụy tiết ra các enzym tiêu hoá như: amylaza, proteaza, lipaza, maltaza…
Một số men chính trong hệ tiêu hoá của cá trắm cỏ:
Men tiêu hoá protein: Nhóm men phân giải protein chính gồm có pepsine, trypsine và chymotripsin Tuy nhiên ở cá trắm cỏ không có men pepsine, protein được tiêu hoá bởi men trypsine và chymotripsine Trypsine là men phân giải các protein hỗn hợp, men này do tuyến tụy tiết ra Trypsine ở đoạn ruột trước nhiều hơn đoạn ruột sau Men tiêu hoá lipid: Lipaza được tìm thấy ở tụy, manh tràng và ruột trước Lipaza phân giải triglyceride thành glycerol và các axid béo
Men tiêu hoá carbohydrate: carbohydrate gồm nhiều thành phần khác nhau nhưng đối với cá trắm cỏ thì tinh bột, dextrin và cellulose là được sử dụng phổ biến Tinh bột được tiêu hoá bởi men amylase tạo thành dextrin, maltose và glucose Dextrin tiếp tục được thuỷ phân bởi amylopectin tạo thành maltose và glucose Sau khi được tiêu hoá, các đường đơn như: glucose, fructose, galactose, maltose… được hấp thu qua thành ống tiêu hoá vào máu và vận chuyển đến gan Tỉ lệ tinh bột sử dụng tối đa trong thức ăn cho cá trắm cỏ từ 37 – 67%
(Guillaume et al., 2001)
Cá trắm cỏ là loài ăn thực vật, do vậy lượng cellulose đưa vào cơ thể là rất lớn Ở đa số các loài cá không có hệ thống men phân giải cellulose hoặc hoạt tính enzym celluloase trong đường tiêu hoá hoạt động rất yếu Cellulose được tiêu hoá chủ yếu do hệ vi khuẩn đường ruột
Trang 17Quá trình tiêu hoá thức ăn ở cá trắm cỏ được chia ra làm 2 giai đoạn: tiêu hoá cơ học và tiêu hoá hoá học:
Quá trình tiêu hoá cơ học: bắt đầu từ lúc thức ăn được đưa vào trong khoang miệng Thức ăn của cá trắm cỏ chủ yếu là các loại thực vật, sau khi thức ăn đưa vào miệng thức ăn được nhào trộn và nghiền nhỏ bởi răng hầu có dạng hình lược Tiếp sau
đó thức ăn được đẩy xuống ruột qua thực quản và bắt đầu quá trình tiêu hoá hoá học Quá trình tiêu hoá hoá học: khi thức ăn tới phần ruột trước sẽ kích thích ruột tiết
ra men tiêu hoá và tiêu hoá một phần thức ăn Quá trình tiêu hoá hoá học diễn ra chủ yếu ở ruột giữa (ruột non), tại đây thức ăn tiếp tục được tiêu hoá bởi các dịch từ tuyến gan và tụy qua ống dẫn đổ vào ruột Thức ăn của cá trắm cỏ thường có hàm lượng cellulose rất lớn nhưng hệ thống phân giải cellulose rất kém Cellulose được tiêu hoá bởi các vi sinh vật đường ruột và các vi sinh vật bám sẵn trên thức ăn ăn vào Chất dinh dưỡng được hấp thu qua thành ruột vào máu và đi nuôi cơ thể Chất cặn bã thừa được hấp thụ triệt để tại ruột sau rồi thải ra ngoài qua lỗ hậu môn (Kiều Minh Khuê, 2011)
Đặc điểm dinh dưỡng cá trắm cỏ
Sau khi nở 3 ngày (chiều dài thân khoảng 7 mm), cá trắm cỏ ăn luân trùng, ấu trùng, côn trùng và tảo Khi cá chiều dài thân đạt 2 – 3 cm, chúng bắt đầu ăn một ít mầm non thực vật, tỉ lệ luân trùng trong khẩu phần ăn của chúng giảm dần nhưng loài giáp xác phù du vẫn chiếm chủ yếu
Hình 1.2 Các dạng thức ăn tự nhiên trong ruộng lúa của cá trắm cỏ
Cá dài 3 – 10 cm có thể nghiền nát thực vật thượng đẳng và chuyển sang ăn thực vật thuỷ sinh non, thực vật bậc cao, nhất là cỏ Thức ăn chính của cá chủ yếu là thực vật thượng đẳng như các loại rong mái chèo, rong đuôi chó, rong tôm, bèo tấm, bèo hoa dâu và các loại rau cỏ trên cạn Ngoài ra, cá trắm cỏ còn ăn cả các loại lá như: lá
Trang 18tre, lá sắn, lá chuối… Sức tiêu thụ của cá rất lớn 22,1 – 27,8% khối lượng cá trong ngày Trung bình cứ 40 kg thực vật tươi sẽ cho tăng trọng 1 kg cá
Cá trắm cỏ nuôi trong ao ngoài ăn cỏ chúng còn được cung cấp thức ăn tinh như cám gạo, ngô, sắn… Chúng cũng sử dụng tốt thức ăn nhân tạo, nhưng nếu sử dụng nhiều tinh bột trong khẩu phần thì cá sẽ bị béo và chậm lớn Nhìn chung, cá tương đối phàm ăn và tính lựa chọn thức ăn không cao (Trần Thị Thanh Hiền, 2009)
Đặc điểm sinh trưởng
Cá trắm cỏ có kích cỡ lớn, nặng nhất đạt tới 35 – 40 kg, cỡ thương phẩm trung bình là 3 – 5 kg/con So với các loài cá khác có cùng kích thước thì trong điều kiện tối
ưu, cá trắm cỏ sinh trưởng nhanh hơn
Đặc điểm sinh hóa thịt cá trắm cỏ: Thành phần hoá học của thịt cá trắm cỏ tính
theo phần trăm khối lượng tươi gồm có 74% nước, 17,4% protein, 5,8% lipid, 1,5% khoáng, 1,3% còn lại là vitamin, các muối khoáng và một số chất khác (Kiều Minh Khuê, 2011)
1.1.2 Cá chép lai 3 máu V1
Cá chép chọn giống V1 là thế hệ chọn lọc thứ 6 của những cá lai 3 máu (hay còn gọi là con lai kép) giữa cá chép Việt Nam (V), Hungary (H), và Indonesia (I) tạo ra cá dòng Hung, dòng Việt, dòng Indo là kết quả của đề tài “Nâng cao chất lượng giống cá nuôi ở nước ngọt” do TS Trần Mai Thiên chủ nhiệm cùng các đồng sự thuộc Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I tiến hành từ năm 1984 – 1995 (Trần Mai Thiên 1984-1995) Năm 1998, 2001, 2004 Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1 nghiên cứu tái tạo quần đàn (Trần Mai Thiên & Nguyễn Công Thắng 1990)
Trang 19- Cá chép V1 đã tập hợp được những đặc điểm di truyền quý của 3 loại cá thuần chủng: chất lượng thịt thơm ngon, sức sống cao, khả năng chống chịu bệnh tốt của cá chép Việt Nam Cá có giá trị kinh tế cao, phù hợp với đặc điểm nuôi trồng tại Việt Nam
Đặc điểm sinh học, sinh trưởng và sinh sản
Cá chép V1 là kết quả công trình nghiên cứu lai kinh tế của Phạm Mạnh Tưởng (Phạm Mạnh Tưởng, 1976), cả lai ngược và lai xuôi ưu thế lai thể hiện rõ nhất ở thế hệ
Ưu thế sinh trưởng của cá chép lai bắt đầu thể hiện rõ ở cuối giai đoạn cá giống
và tăng dần theo thời gian nuôi cá thịt Cá nuôi 4 tháng tuổi, trọng lượng thân bằng 139% – 145% và nuôi 9 tháng bằng 187% – 220% khối lượng thân của cá chép trắng Việt Nam (Phạm Mạnh Tưởng, 1976) bằng 183 – 222% trọng lượng thân của cá chép trắng Việt ( Trần Mai Thiên và Nguyễn Công Thắng, 1990)
Các tác giả cũng lai giữa cá chép vẩy Hung với cá chép trắng Việt, con lai có ưu thế về sức sống và sinh trưởng còn cao hơn cả con lai giữa cá chép Hung kính và cá chép trắng Việt Tốc độ tăng trọng gấp 1,5 lần so với cá chép Việt Nam thuần trong cùng điều kiện nuôi Tỉ lệ thành phần thịt ăn được tăng hơn
Tuổi thành thục: 1 năm tuổi (1+)
Tỉ lệ thành thục: 85 – 90%
Trang 20Tỉ lệ đẻ: 85 – 90%
Sức sinh sản 120 nghìn – 140 nghìn trứng/ 1kg cá cái
1.1.3 Cá mè trắng (Hypophthamichthys molitrix)
Tiếng anh: Silver carp
Đặc điểm hình thái và phân bố địa lý
Cá mè trắng có đầu khá to, miệng lớn Hàm dưới hơi hếch lên Mắt khá nhỏ Cơ quan đường bên nằm ở phía dưới trục cơ thể Số vảy tính dọc theo cơ thể từ 110 - 123;
bạc Cá mè trắng phân bố rất rộng ở nhiều nước trên thế giới Chúng là đối tượng nuôi phổ biến ở Việt Nam và Trung Quốc
Hình 1.4 Cá mè trắng (Hypophthamichthys molitrix) Đặc điểm sinh học
* Tập tính bắt mồi:
Cá bột 1-2 ngày tuổi có thể đạt chiều dài 7-9 mm, với chiều dài ruột bằng 60% chiều dài cơ thể Giai đoạn này cá bắt đầu ăn thức ăn là động vật phù du như: Luân trùng (rotifera), Chân chèo (copepoda) cá bột 4-5 ngày tuổi dài 11 - 13mm, thức ăn chính của cá trong giai đoạn này là Copepoda, bọ nước và một ít Rotifera Cá
50-từ 8-12 ngày tuổi dài 18 - 23mm, ruột dài bằng 90 -100% chiều dài cơ thể và cuộn lại thành từng cuộn Thức ăn chủ yếu của cá trong giai đoạn này là Rotifera, bọ nước, Copepoda, ngoài ra trong ruột còn tìm thấy một ít thực vật phù du
Ở giai đoạn cá giống (dài hơn 30 mm) mang của cá bắt đầu hoàn thiện như cá trưởng thành và có dạng như cái mành tre, có tác dụng như một lưới lọc
Trang 21Cá mè trắng trưởng thành có chiều dài ruột gấp 6,85 lần chiều dài cơ thể, thức ăn chính của chúng trong giai đoạn này là thực vật phù du, sau đó là động vật phù du, ngoài ra còn có cả mùn bã hữu cơ (detrix) đang trong quá trình phân hủy, thức ăn được đưa vào miệng của cá cùng với nước và bị các tia mang giữ lại đưa vào ruột
* Tốc độ tăng trưởng:
Cá mè có tốc độ tăng trưởng khá nhanh, trong điều kiện được nuôi tốt thường sau một năm nuôi cá có thể đạt khối lượng 1-1,5 kg/con, sau 2 năm nuôi đạt 2-3 kg/con, và đạt 4-5 kg sau 3 năm nuôi Sự tăng trọng của cá mè trắng liên quan chặt chẽ đến từng giai đoạn phát triển
1.1.4 Cá rô phi vằn dòng GIFT
Tên khoa học : Oreochromis niloticus
Cá rô phi vằn dòng GIFT: Được chọn giống bởi dự án GIFT do mạng lưới quốc
tế về di truyền trong nuôi trồng thủy sản (INGA) và Trung tâm quốc tế bảo vệ nguồn lợi động vật thủy sản (ICLARM) tạo ra Cá rô phi dòng GIFT là tổ hợp của 8 dòng cá
rô phi tự nhiên đã được chuẩn hóa gọi là rô phi vằn chọn giống dòng GIFT (Nguyễn Công Dân và cộng sự, 1999)
Đặc điểm sinh học: Cá rô phi sinh trưởng phát triển trong nước ngọt, nước lợ, có
thể sinh trưởng và phát triển trong nước biển có độ mặn 32% cá sống ở tầng nước giữa
và đáy, có thể chịu được ở vùng nước nước có hàm lượng ô xy hòa tan thấp (1 mg/lít), ngưỡng gây chết cho cá rô phi khi lượng ô xy hoà tan từ 0,3 – 0,1 mg/lít
Giới hạn độ pH: Cá rô phi chịu được độ pH từ 5 – 11, thích hợp nhất là 6,5 – 7,5
Hình thái: Toàn thân phủ vảy, vẩy ở phần lưng có màu sáng vàng nhạt hoặc sám
nhạt, phần bụng có mầu trắng ngà hoặc xanh nhạt, trên thân có từ 7 – 9 vạch sắc tố chạy từ lưng xuống bụng, các vạch sắc tố ở các vây đuôi, vây lưng rõ ràng hơn Khi thành thục sinh dục, cá đực vây có màu hồng nhạt rõ nhất là vây ngực và vây đuôi
Trang 22Cá sinh trưởng nhanh, có kích cỡ thương phẩm lớn, ngoại hình đẹp, thịt ngon, tốc
độ sinh trưởng phụ thuộc vào các yếu tố nhiệt độ môi trường ao nuôi, thức ăn, mật độ nuôi và kỹ thuật chăm sóc quản lý ao nuôi Cá rô phi dòng GIFT trọng lượng ban đầu cá giống đạt 3 – 4 gam/con, sau 1 tháng nuôi sẽ đạt trọng lượng 20 – 25 gam/con, các tháng tiếp theo trọng lượng tăng bình quân đạt 500 – 600 gam/con Tốc độ tăng trọng nhanh nhất từ tháng đầu đến tháng thứ 5, thứ 6 Hiện nay cá rô phi dòng GIFT có tốc độ lớn nhanh nhất so với các dòng rô phi Đài Loan, dòng Thái Lan Cá rô phi vằn là loài sinh trưởng nhanh và đẻ thưa hơn cá rô phi đen
Thức ăn: Cá rô phi là loài ăn tạp, thức ăn của rô phi nghiêng về thực vật, chủ yếu
là tảo sợi, các loài động thực vật phù du, mùn bã hữu cơ, ấu trùng, các loại côn trùng, động vật sống dưới nước, cỏ, rau, bèo và phân hữu cơ Ngoài ra chúng có khả năng ăn thức ăn bổ xung như cám gạo, bột ngô, bánh khô dầu, các phụ phẩm khác và thức ăn công nghiệp theo từng giai đoạn phát triển của cá
Sinh sản: Ở nhiệt độ trên 200C rô phi giống O niloticus thành thục lần đầu tiên sau 4 –
5 tháng tuổi, cỡ cá đạt 100 – 150 g/con, có trường hợp thành thục ở cỡ 40 – 50 g/con rô phi
vằn O niloticus ở miền nam có thể đẻ tới 10 – 12 lần/năm, ở miền Bắc từ 5 – 7 lần/ năm, mùa
lạnh từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau cá ngừng đẻ Cá 6 tháng tuổi đến 1 năm đẻ khỏe hơn
cá có độ tuổi trên 2 năm, cỡ cá lớn đẻ nhiều trứng hơn cá bé đối với cá trọng lượng 200 g –
250 g/con, mỗi lần đẻ từ 1.000 đến 2.000 trứng/con
Hình 1.6 Cá rô phi (Oreochromis niloticus)
Trang 231.2 Tổng quan tình hình nuôi cá trong ruộng lúa
1.2.1 Tổng quan nghiên cứu tình hình nuôi cá trong ruộng lúa trên thế giới
Nghiên cứu của FAO (2000) cho rằng: Trên thế giới nghề nuôi thủy sản, đặc biệt là mô hình nuôi kết hợp lúa - cá ở môi trường nước ngọt ngày càng được đầu tư nghiên cứu, phát triển, nuôi ghép cá - lúa là một hình thức canh tác có từ lâu đời ở nhiều quốc gia vùng Đông Nam Châu Á như: Nhật Bản, Ý, Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan, In-đô-nê-xi-a,
Ma-Lay-Xi-a, Băng-La-Đét, Phi-Líp-Pin, Hàn Quốc và Camphuchia (Dela Cruz et al., 1992)
Tại một số tỉnh miền đông bắc Ấn Độ, mô hình canh tác này được phổ biến rộng rãi Khi ruộng lúa ngập nước trong vài tháng, cá có thể phát triển với chi phí thấp bên cạnh việc thu hoạch lúa Hơn 80 triệu hec ta đất trồng cung cấp gạo cho cả thế giới, và nếu điều kiện thời tiết thuận lợi thì những cánh đồng nuôi ghép cá –lúa sẽ đạt năng suất từ 3 tạ/ha trở lên trong suốt thời gian ngập nước từ 3 đến 8 tháng Mặc dù diện tích tiềm năng cho phát triển mô hình cá – lúa tại Ấn Độ khoảng 23 triệu ha, song diện tích canh tác cá – lúa hiện tại chỉ dưới 1 triệu ha
Một số loài cá thường được nuôi ghép bao gồm cá chép (Cyprinus carpio), cá chép vảy (Cyprinus carpio var communis), cá chép kính (Cyprinus carpio var
specularis), cá chép trơn (Cyprinus carpio var nudus), và các giống cá chép Ấn Độ
như cá Catla (catla catla), rôhu (Labeo rohita) and Mrigala (Cirrhinus mrigala)
Những giống này là những loài ăn tạp tầng đáy hoặc có đặc điểm tương tự, và đặc trưng bởi mình dày và đầu ngắn (https://www.tongcucthuysan.gov.vn)
Ngoài nuôi cá trong ruộng lúa còn kết hợp nuôi các thủy sản khác như: nuôi cua kết hợp cấy lúa, cá chạch kết hợp cấy lúa v.v… Qua những nghiên cứu thực tiễn cho thấy việc nuôi cá kết hợp cấy lúa mang lại lợi ích lớn cho người nông dân bên cạnh
khu vực châu Á và Việt Nam
1.2.2 Tổng quan nghiên cứu tình hình nuôi cá trong ruộng lúa tại Việt Nam
Nước ta có đường biển dài, hệ thống sông ngòi dày đặc rất thuận lợi phát triển hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản, trong đó nuôi cá trong ruộng lúa đối với các tỉnh nội đồng là có tiềm năng rất lớn
Trang 24Vùng đồng bằng sông Cửu Long, với điều kiện lý tưởng có hệ thống kênh rạch chằng chịt và nhiều vùng giáp biển Đây là khu vực hoạt động thủy sản sôi động nuôi trồng thủy sản trên tất cả các loại mặt nước, có hàng triệu ha ruộng cấy lúa có thể nuôi
cá kết hợp được Trên thực tế, nuôi cá kết hợp cấy lúa tại các tỉnh Cần Thơ, đồng bằng sông Cửu Long v.v ngày càng nhiều với quy mô ngày càng lớn Đối tượng nuôi kết hợp ngày càng phong phú và đa dạng như: nuôi cua kết hợp cấy lúa; nuôi cá chạch kết hợp cấy lúa; nuôi tôm kết hợp cấy lúa; nuôi các loài thủy sản kết hợp cấy lúa đã trở thành hiện tượng giúp tăng năng xuất cây trồng và nâng cao giá trị thu nhập trên đơn
vị diện tích góp phần giúp nông dân xóa đói, giảm nghèo vươn lên làm giầu chính đáng cho một bộ phận đông đảo nông dân nông nghiệp nông thôn
Gần đây, mô hình nuôi thủy sản trong ruộng lúa được nông dân nhiều địa phương khác trên toàn quốc áp dụng, bước đầu mang lại hiệu quả đáng khích lệ, như: Mô hình nuôi cá trong ruộng lúa của anh Nguyễn Đông Hải tại xã Hồ Đắc Kiên, huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng
Mô hình nuôi cua trên ruộng lúa của hộ anh Nguyễn Huy Lưỡng thôn Văn Quang, xã Nghĩa Hưng, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội; nguồn thu nhập bình quân từ 20 đến 30 triệu đồng/tháng (nguồn Báo Nông nghiệp Việt Nam ngày 07/7/2009)
Tuy nhiên đến nay các nghiên cứu nuôi cá kết hợp cấy lúa trong và ngoài nước vẫn chưa đưa ra được đối tượng nuôi, mật độ nuôi, hình thức nuôi đơn hay nuôi kết hợp một số loài cá trong ruộng lúa phù hợp nhất để cho hiệu quả cao và bền vững
1.2.3 Tổng quan tình hình nuôi cá trong ruộng lúa tại tỉnh Hưng Yên
Hình 1.7 Bản đồ hành chính tỉnh Hưng Yên
Trang 25Đến năm 2015, Hưng Yên có 62,5 ha ruộng trũng được đưa vào nuôi cá trong ruộng lúa, năng suất cá bình quân đạt 0,7 - 1,0 tấn/ha Còn rất nhiều ruộng thấp trũng
có thể nuôi cá trong ruộng lúa chưa được triển khai nuôi cá trong ruộng lúa để nâng cao thu nhập cho nông dân Một số nơi nông dân đã không mặn mà với cấy lúa, bỏ ruộng, gây lãng phí tiềm năng nông nghiệp phát triển kinh tế nâng cao thu nhập cho bản thân và gia đình, làm tăng nguy cơ bất ổn về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương trong tỉnh
Bảng 1.1 Hiện trạng nuôi cá trong ruộng lúa tại Hưng Yên
Các huyện,
thành phố
DT nuôi (ha)
Năng suất (tấn/ha)
DT nuôi (ha)
Năng suất (tấn/ha)
DT nuôi (ha)
Năng suất bình quân (tấn/ha)
(Nguồn Chi cục Thủy sản tỉnh Hưng Yên 2015)
Việc nuôi cá trong ruộng lúa của tỉnh sang năm 2016 chậm lại, nguyên nhân là do:
- Nông dân thiếu vốn đầu tư sản xuất nhất là cho đầu tư hạ tầng (đường bao, mương cấp thoát nước, mương nuôi cá ) cho nuôi cá trong ruộng lúa
- Chưa tích tụ được ruộng đất quy mô phù hợp để xây dựng mô hình, các mô hình xây dựng chưa theo quy hoạch nên việc cấp nước cho nuôi cá trong ruộng lúa gặp nhiều khó khăn nhất là vào vụ thu đông khi rút nước để thu hoạch lúa
Trang 26- Chưa có nghiên cứu đánh giá hiện trạng nuôi cá trong ruộng lúa tại tỉnh Hưng Yên, cũng như chưa có giải pháp để phát triển nuôi cá trong ruộng lúa bền vững
1.3 Tình hình tổ chức quản lý thủy sản tỉnh Hưng Yên
Chi cục Thủy sản thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan quản lý nhà nước về thủy sản trên địa bàn tỉnh Hưng Yên Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (phòng Kinh tế) các huyện, thành phố là cơ quan quản lý nhà nước về thủy sản trên đia bàn huyện, thành phố Trạm Khuyến nông, trạm Thú y các huyện, thành phố chuyển giao tiến bộ kỹ thuật mới trong nuôi thủy sản và phòng, trị các bệnh thủy sản đến nông dân Phó chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn phụ trách trồng trọt, chăn nuôi và thủy sản Tuy vậy, cán bộ quản lý cấp huyện và cấp xã thiếu chuyên môn về trồng thủy sản
nên triển khai các chương trình về phát triển thủy sản còn thiếu đồng bộ và hạn chế
Trang 27CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các mô hình nuôi cá trong ruộng lúa
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 9 năm 2015 đến hết tháng 6 năm 2016
Địa điểm nghiên cứu: Tại 9 huyện và 1 thành phố thuộc tỉnh Hưng Yên
2.2 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu, đánh giá hiện trạng và hiệu quả nuôi cá trong ruộng lúa tại tỉnh Hưng Yên, đề xuất mô hình nuôi
và các giải pháp cơ bản để phát triển nuôi cá trong ruộng lúa bền vững
lúa tại Hưng Yên
Nghiên cứu sâu hiện trạng kỹ thuật và khả năng
áp dụng của 3 mô hình thuộc 9 hộ nuôi cá trong ruộng lúa tại tỉnh Hưng Yên
Nghiên cứu đánh giá sâu hiệu quả kinh tế và khả năng phát triển bền vững của 3
mô hình nghiên cứu sâu tại tỉnh Hưng Yên
Nghiên cứu, đánh giá, đề xuất mô hình nuôi và các giải pháp cơ bản để nuôi cá trong ruộng lúa phát triển bền vững
Kết luận và đề xuất giải pháp phát triển nuôi
cá trong ruộng lúa phát triển bền vững 2.3 Phương pháp thu thập số liệu
2.3.1 Thu thập số liệu thứ cấp
Thông qua các cơ quan Trung Ương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tổng cục Thủy sản, Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1; Sở Nông nghiệp và Phát
Trang 28triển nông thôn, các ngành, Cục thống kê của tỉnh, các huyện, thị và thành phố, sử dụng kết quả nghiên cứu thực hiện các đề án, dự án, đề tài khoa học của tỉnh đã được nghiệm thu, khai thác thông tin trên các Website v.v…về điều kiện khí hậu, thời tiết, đất đai, lượng mưa, độ ẩm, về kinh tế xã hội, về năng suất, sản lượng thủy sản của tỉnh, các nghiên cứu liên quan về chất lượng nguồn nước tại các sông trên địa bàn cung cấp nước cho nuôi thủy sản để phục vụ cho các phân tích đánh giá sau này
2.3.2 Thu thập số liệu sơ cấp
- Thu thập số liệu: Thực tiễn trong những năm 2014 – 2016 tại Hưng Yên mới có
53 hộ dân nuôi cá trong ruộng lúa, vì thế phỏng vấn trực tiếp tất cả 53 hộ dân Các thông tin của chủ hộ về nhân khẩu, giới tính, độ tuổi, mùa vụ nuôi, tình hình dịch bệnh trên đàn cá, nguyên nhân phát sinh dịch bệnh cá, hiệu quả kinh tế từ mô hình đem lại Phỏng vấn 10 cán bộ theo dõi, quản lý thủy sản của 10 huyện (thành phố) tỉnh Hưng Yên để hiểu được các đối tượng cá nuôi phù hợp với ruộng cấy lúa, sự hỗ trợ của cấp quản lý đối với nuôi cá trong ruộng lúa, định hướng quy hoạch phát triển ngành thủy sản tỉnh Hưng Yên thời gian tới
- Nghiên cứu sâu hiện trạng kỹ thuật và hiệu quả kinh tế của 9 hộ nuôi cá trong ruộng lúa theo 3 mô hình nuôi khác nhau tại 3 xã, thuộc 3 huyện khác nhau trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
Mô hình 1: Cá trắm cỏ 60%; chép 20% ; rô phi đơn tính 10%; mè trắng 10%
Mô hình 2: Cá chép 60% ; trắm cỏ : 20%; rô phi đơn tính 10%; mè trắng 10%
Mô hình 3: Cá rô phi đơn tính 60%; chép 20%;trắm cỏ 10%; mè trắng 10%
Danh sách các hộ nuôi cá theo từng mô hình như bảng sau:
Bảng 2.1 Các hộ nuôi cá theo từng mô hình được lựa chọn nghiên cứu sâu
Mô hình 1, gồm các ông (bà)
Mô hình 2, gồm các ông (bà)
Mô hình 3, gồm các ông (bà)
Trang 292.4 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu được thu thập sẽ được mã hoá và xử lý theo các nội dung qua các bộ câu hỏi điều tra Số liệu được phân tích bằng phương pháp thống kê mô tả: Các chỉ số giá trị trung bình, giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất, sai số trung bình, độ lệch chuẩn, tỷ lệ phần trăm
Trong đó: GO: là tổng thu nhập của một loại mô hình (gồm các loại sản phẩm) Qi: Là khối lượng sản phẩm thứ i
Pi: Là giá trị sản phẩm thứ i
Thu nhập thuần: GO = Qi*Pi (1.2) Lợi nhuận = Tổng thu – Tổng chi phí (3)
Tỉ suất lợi nhuận (%) = (Lợi nhuận/Tổng chi phí) x 100% (4)
Sử dụng phần mềm Microsoft Office Excel để tính toán phương sai và độ lệch chuẩn theo công thức sau:
Việc sử dụng độ lệch chuẩn trong tính toán các thông số nhằm thể hiện rõ sự sai
số chuẩn trong quá trình tính toán các thông số giữa các mô hình điều tra
Trang 30CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Kết quả nghiên cứu
3.1.1 Hiện trạng kinh tế xã hội của các hộ nuôi cá trong ruộng lúa
3.1.1.1 Tuổi của chủ hộ tham gia nuôi cá trong ruộng lúa
Từ kết quả điều tra về độ tuổi của 53 chủ hộ nuôi cá trong ruộng lúa trên địa bàn tỉnh Hưng Yên cho thấy, hầu hết (52/53) hộ được phỏng có từ 2 đến 3 người nằm trong độ tuổi lao động bằng 96,2%, tuổi của các chủ hộ dao động từ 32 – 57, độ tuổi trung bình là 45 ± 6,2 tuổi Trong số 53 hộ được điều tra chỉ có 8 người (bằng 15,1%) dưới 37 tuổi, có 35 người (bằng 66,1%) trong độ tuổi 37 – 50 tuổi, còn 10 người (bằng 18,9%) từ 50 đến 57 tuổi
Kết quả cho thấy mối liên hệ giữa tuổi tác và kinh nghiệm người nuôi Những người có tuổi nằm trong độ tuổi 40 – 50 và trên 50 có sức khỏe tốt, giàu kinh nghiệm nuôi cá, nhanh nhạy trong việc áp dụng các giải pháp nhằm gia tăng hiệu quả của hoạt động sản xuất, hạn chế rủi ro Tỷ lệ tham gia thấp của nhóm người dưới 37 tuổi (15,1%) cho thấy hoạt động nuôi cá trong ruộng lúa nói chung và nuôi trồng thủy sản nói riêng cần nhiều kinh nghiệm, vốn đầu tư, ý thức trách nhiệm cao Các yêu cầu này thường phù hợp hơn với nhóm tuổi trên 37 tuổi, chiếm tổng cộng tới 84,9%
Giới tính chủ hộ; Kết quả điều tra trên 53 hộ nuôi cho thấy có 3 chủ hộ là nữ (chiếm 5,7%) còn lại nam giới là 50 chủ hộ chiếm 94,3% Nam giới giữ vai trò trụ cột trong gia đình và cũng giữ vai trò chủ đạo trọng hoạt động sản xuất, đây là những đối tượng có sự năng nổ, khả năng chịu áp lực công việc và sẵn sàng chấp nhận rủi ro trong sản xuất phát triển ngành thủy sản nói chung và nghề nuôi cá trong ruộng lúa nói riêng Đây là một trong những đặc điểm quý và rất cần thiết trong cơ cấu lao động để đưa nghề nuôi cá trong ruộng lúa phát triển bền vững Bởi lẽ, nghề nuôi cá trong ruộng lúa nói riêng và nuôi trồng thủy sản nói chung thường vất vả, đòi hỏi nhiều kinh nghiệm Ngoài ra nuôi cá trong ruộng lúa phải xây dựng các nhà kho, nhà bảo vệ để trông nom và lưu trữ thức ăn cho cá và dụng cụ sản xuất Do đó, nam giới phù hợp hơn với công việc này Nữ giới thường tham gia các hoạt động hỗ trợ, chia sẻ, chăm sóc cho gia đình, nội trợ, thu hoạch, bán sản phẩm và hạch toán kinh tế
Trang 313.1.1.2 Số nhân khẩu và lao động của hộ dân tham gia nuôi cá trong ruộng lúa
Hầu hết các hộ nuôi cá trong ruộng lúa sống chung trong một gia đình có 2 thế
hệ, số gia đình có 3 thế hệ chiếm tỷ lệ thấp, ở mỗi hộ số nhân khẩu thấp nhất là 3 người, nhiều nhất là 7 người, trung bình là 5 người Số hộ có từ 3 – 4 nhân khẩu chiếm
tỷ lệ cao nhất tới 76%, đa số những người trong hộ nuôi nằm trong độ tuổi lao động, tham gia chính vào các hoạt động nuôi cá trong ruộng lúa Những người trên hay dưới
độ tuổi lao động chiếm tỷ lệ thấp, thường là ông bà và con cái còn nhỏ
Bảng 3.1 Phân bố độ tuổi lao động trong các hộ nuôi cá trong ruộng lúa
Trong độ tuổi lao động Trên độ tuổi lao động Dưới độ tuổi lao động
3.1.1.3 Trình độ học vấn của chủ hộ nuôi cá trong ruộng lúa
Kết quả điều tra, nghiên cứu cho thấy đa số chủ hộ có trình độ văn hóa cấp 2 có
20 người, bằng 37,7%; trình độ văn hóa cấp 3 có 30 người, bằng 56,6%; (bảng 3.3) Đây là lực lượng lao động tốt, có nhiều tiềm năng về khả năng tiếp thu và ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật nghề nuôi cá trong ruộng lúa vào sản xuất của tỉnh Hưng Yên đồng thời
có khả năng tuyên truyền sâu rộng nghề nuôi cá trong ruộng lúa lan rộng và đem lại hiệu quả thiết thực cho mọi tầng lớp nhân dân Trình độ văn hóa khác nhau thì khả năng tư duy, nhận thức, sự tiếp nhận và ứng dụng kỹ thuật nuôi mới cũng khác nhau
Bảng 3.2 Trình độ văn hóa của chủ hộ nuôi cá trong ruộng lúa
Trang 32Trong bối cảnh nghề nuôi cá trong ruộng lúa tại Hưng Yên chưa tìm được giải pháp phát triển bền vững, những khó khăn về điều kiện môi trường, dịch bệnh có xu hướng gia tăng, nghề nuôi cá trong ruộng lúa đòi hỏi cần có trình độ tiếp nhận các kiến thức, công nghệ mới Do đó, trình độ văn hóa góp phần quan trọng trong việc giúp cho các hộ nuôi cá trong ruộng lúa dễ dàng tiếp nhận và ứng dụng những tiến bộ khoa học
ký thuật trong việc quản lý môi trường, phòng trị bệnh hiệu quả, nâng cao năng suất lúa, cá cải thiện tính bền vững của nghề nuôi cá trong ruộng lúa
3.1.1.4 Trình độ chuyên môn của chủ hộ nuôi cá trong ruộng lúa
Số chủ hộ nuôi cá trong ruộng lúa có trình độ chuyên môn đại học, cao đẳng là không có; chủ hộ có trình độ chuyên môn là trung cấp nuôi trồng thủy sản là 3 người chiếm tỷ lệ 5,7%, số chủ hộ không có trình độ chuyên môn trong lĩnh vực thủy sản là
50 người chiếm 94,3%, có 100% chủ hộ đã được tập huấn về kỹ thuật nuôi cá trong ruộng lúa
Kết quả điều tra về trình độ chuyên môn của chủ hộ còn có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp cho các cơ quan chuyên môn của địa phương tư vấn, hướng dẫn, định hướng đào tạo nghề, biên soạn tài liệu, tập huấn kỹ thuật nuôi cá trong ruộng lúa phù hợp cho các hộ tham gia
Bảng 3.3 Trình độ chuyên môn của chủ hộ nuôi cá trong ruộng lúa
3.1.2 Hiện trạng kỹ thuật của các hộ nuôi cá trong ruộng lúa
3.1.2.1 Hình thức nuôi và mùa vụ nuôi
Hình thức nuôi
Đa số các hộ dân nuôi cá trong ruộng lúa trao đổi, cung cấp thông tin chỉ nuôi đơn trong ruộng lúa một loài cá gọi là hình thức nuôi đơn, một số hộ còn lại nuôi kết hợp cá trôi với cá mè hoặc với Rô phi, hoặc nuôi kết hợp v.v gọi là hình thức nuôi kết hợp
Số hộ dân đã thực hiện các hình thức nuôi cá trong ruộng lúa tại tỉnh Hưng Yên thời gian qua được thể hiện như trong bảng 3.4
Trang 33Bảng 3.4 Số hộ nuôi theo các hình thức nuôi đơn hoặc nuôi kết hợp
3.1.2.2 Hệ thống công trình nuôi cá trong ruộng lúa
Chọn địa điểm xây dựng mô hình nuôi cá trong ruộng lúa
Theo các hộ dân nuôi cá trong ruộng lúa được trao đổi ý kiến cho biết, khi chọn địa điểm xây dựng mô hình nuôi cá trong ruộng lúa hầu hết các hộ nuôi chọn ruộng gần nguồn nước tốt và cấp, tiêu chủ động theo từng mùa vụ trong năm, có bờ bao cao,
to, không rò rỉ, không bị tràn bờ mất cá nuôi trong mùa lũ hoặc mùa mưa bão
Xây dựng mô hình nuôi cá trong ruộng lúa
Theo các hộ dân nuôi cá trong ruộng lúa, đa phần thiết kế mô hình nuôi theo hình dạng chữ L hay dạng mương trung tâm ở giữa khu ruộng hay thiết kế dạng mương theo kiểu xương cá… để phù hợp với địa hình khu ruộng, tiện lợi cho nuôi cá cũng như trồng lúa đồng thời đạt hiệu quả cao nên thường chọn dạng mương trữ nước và bờ
bao quanh để giữ nước không bị rò rỉ và đi lại quản lý chăm sóc dễ dàng
Bờ bao xung quanh Mương xung quanh Mặt ruộng cấy lúa
-
Hình 3.1 Sơ đồ mặt cắt ngang ruộng lúa nuôi cá kết hợp
Bờ bao: Mặt bờ rộng 1 - 2 m, chân bờ rộng 2 - 4 m, bờ cao hơn mực nước cao nhất 50 cm
Mương xung quanh: Được đào cách bờ 0,5 m để tránh lở bờ, mặt mương rộng từ
3 - 5 m; đáy mương rộng 2,5 - 3 m, mương sâu từ 1,2 – 1,5 m, mương dốc dần về phía cống cấp và thoát nước để chủ động điều tiết ruộng nước cấp và thoát nước cho ruộng lúa gieo hoặc khi sử dụng thuốc trừ sâu, khi thu hoạch
Mặt ruộng: Là phần còn lại dùng để trồng lúa cần bằng phẳng
Trang 34Bảng 3.5 Hình dạng mô hình nuôi cá trong ruộng lúa
Bảng 3.6 Nguồn gốc cá giống nuôi tại các hộ nuôi
Chọn cá giống
Chọn cá giống có ngoại hình đẹp, không bị xây xát, màu sắc tươi sáng đặc trưng theo từng loài, không bị dị dạng, phản xạ nhanh nhẹn trong nước Cỡ cá trắm cỏ từ 100 – 250 g/con, chép 5 – 10 g/con, rô phi 12 – 20 g/con, mè: 80 – 200 g/con
Mật độ nuôi
Mật độ nuôi là một trong những yếu tố ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng, năng suất, sản lượng cá khi thu hoạch Nếu thả quá dày, lượng thức ăn cung cấp không đủ làm giảm tốc độ tăng trưởng, ảnh hưởng đến sản lượng thu hoạch
Mật độ giống thả phụ thuộc vào điều kiện nuôi, khả năng đầu tư, trình độ kinh nghiệm của người nuôi mật độ nuôi cá trong ruộng lúa tại Hưng Yên thường dao động
Bảng 3.7 Mật độ thả cá giống nuôi trong ruộng lúa
Trang 35Chất lượng con giống nuôi trong ruộng lúa
Đánh giá về chất lượng cá giống được thống kê trong bảng 3.8 dưới đây: Có tới 20,8% số người được phỏng vấn cho rằng cá giống có chất lượng tốt, 22,6% số người được phỏng vấn cho rằng giống có chất lượng trung bình, 56,6% số người được phỏng vấn cho rằng giống có chất lượng xấu
Bảng 3.8 Đánh giá chất lượng giống
Khó khăn về nguồn giống
Các hộ nuôi cá trong ruộng lúa nói riêng và các hộ nuôi cá nói chung hầu hết đều phụ thuộc vào nguồn giống mua ở ngoại tỉnh Do đó, khi vào mùa vụ nuôi thường xuyên xảy ra tình trạng thiếu hụt con giống hoặc chất lượng giống không đảm bảo Đa
số các hộ nuôi gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn cá giống tốt, nhất là vào chính
vụ (54,7%) Ngoài ra, giá con giống cao (chiếm 77,4%), kích cỡ không phù hợp (chiếm 69,8%) cũng là những vấn đề người nuôi rất quan tâm
Bảng 3.9 Khó khăn về nguồn cung cấp giống cá nuôi trong ruộng lúa
Vận chuyển và thả cá giống trong mương
Đa số các hộ dân được phỏng vấn đều cho rằng vận chuyển cá bằng cách đóng vào bao nilon có bơm đầy oxy buộc kín miệng bao, vận chuyển vào khi mát trời là tốt nhất Thả giống: Các hộ cho biết trước khi thả họ ngâm bao đựng cá giống xuống nước trước 10 – 15 phút để cân bằng nhiệt độ giữa nước trong bao với môi trường nước bên ngoài mương, sau đó mở miệng bao từ từ thả cá ra ngoài mương, thả nơi đầu gió
Trang 36Chăm sóc, quán lý cá trong mương
Theo các hộ nuôi, khi cá mới thả còn bé, mặt ruộng mới gieo lúa, các hộ không dâng nước cao để cá không lên ruộng được làm hỏng lúa Giai đoạn này các hộ nuôi dùng thức ăn tự chế hoặc thức ăn công nghiệp là chính
Sau 10 – 15 ngày, lúa cứng cây thì cho nước ngập mặt ruộng từ 5 – 7 cm để trừ cỏ dại Cho cá ăn ngày 2 lần, sáng từ 8 – 9 giờ, chiều từ 4 – 5 giờ
Cho ăn theo quy tắc 4 định là: Định số lượng thức ăn, dịnh chất lượng thức ăn, định vị trí cho ăn, định thời gian cho ăn, những ngày thời tiết xấu nên giảm lượng cho
ăn và tăng cường thức ăn giàu dinh dưỡng
Khi lúa vào đòng các hộ nuôi dâng nước ngập mặt ruộng 20 – 25 cm để cá lên ruộng ăn các bẹ lúa già, cỏ dại, sâu, rầy hại lúa nên giảm chi phí tiền thức ăn cho cá Thường xuyên theo dõi hoạt động của cá, nếu cá nổi đầu thì dừng cho ăn và thêm nước vào ao để tránh tình trạng nổi đầu và một số bệnh cá thường dễ mắc phải, vào thời điểm giao mùa khả năng chống bệnh của cá yếu, các mầm bệnh dễ phát triển, cá dễ bị
nhiễm bệnh Bón vôi quanh bờ vào đầu mùa mưa dọn cỏ quanh bờ
Quản lý nguồn nước nuôi cá trong ruộng lúa
Qua nghiên cứu, điều tra tại các hộ dân nuôi cá trong ruộng lúa thấy rằng các hộ dân luôn quan tâm đến chất lượng nguồn nước không ô nhiễm các thuốc bảo vệ thực vật hoặc
ô nhiễm từ nước thải công nghiệp, làng nghề v.v… thì mới đưa vào mương dự trữ để nuôi
cá Qua kiểm tra nước dảm bảo tiêu chuẩn nguồn nước nuôi cá thương phẩm theo Thông
tư 71/2011/TT – BNNPTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Trong quá trình nuôi nước trong mương nếu có biểu hiện kém về chất lượng thì
đề tài “ Ứng dụng chế phẩm sinh học TD Biocide và TD Cleaner xử lý nguồn nước tại các ao hồ nuôi thủy sản tỉnh Hưng Yên Mục tiêu nhằm đảm bảo nguồn nước nuôi cá chất lượng tốt (Trần Danh Cẩm, 2015)
Phòng bệnh cho cá
Theo kinh nghiệm của những hộ dân được phỏng vấn, dùng lá xoan bó thành bó ngâm trong ao giúp phòng và trị các bệnh nấm thủy my, trùng bánh xe, trùng quả dưa, sán lá đơn chủ…một số hộ khác dùng TD Bioxyde và TD Cleaner liều lượng như