1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và chất đáy đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của ngao giá tapes dorsatus (lamarck, 1818) ương từ giai đoạn 2 5mm đến giai đoạn 20 25mm tại quảng ninh

66 340 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 1,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG NGUYỄN QUANG NINH NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ VÀ CHẤT ĐÁY ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA NGAO GIÁ Tapes dorsatus Lamarck, 1818 ƯƠ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

NGUYỄN QUANG NINH

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ VÀ CHẤT ĐÁY ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA NGAO GIÁ

Tapes dorsatus (Lamarck, 1818) ƯƠNG TỪ GIAI ĐOẠN

2-5 mm ĐẾN GIAI ĐOẠN 20 -25 mm TẠI QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SỸ

KHÁNH HÒA, 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

NGUYỄN QUANG NINH

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ VÀ CHẤT ĐÁY ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA NGAO GIÁ

Tapes dorsatus (Lamarck, 1818) ƯƠNG TỪ GIAI ĐOẠN

2-5 mm ĐẾN GIAI ĐOẠN 20 - 25 mm TẠI QUẢNG NINH

Người hướng dẫn khoa học:

TS Lương Công Trung

Chủ tịch Hội đồng:

Phòng Đào tạo Sau Đại học:

KHÁNH HÒA, 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu do chính bản thân tôi thực hiện Các

số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào cho đến thời điểm này

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn được trích dẫn rõ ràng khi sử dụng

Tác giả luận văn

Nguyễn Quang Ninh

Trang 4

LỜI CÁM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ của các thầy

cô Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy, cô Trường Đại học Nha Trang đã giảng dạy và giúp đỡ trong suốt thời gian tôi học tập và nghiên cứu thực hiện đề tài

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy TS Lương Công Trung đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho em trong suốt quá trình học tập và thực hiện hoàn thành luận văn này

Xin gửi lời cảm ơn tới Viện nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản 1, Trung tâm Khoa học Kỹ thuật và Sản xuất giống Thủy sản Quảng Ninh, Lãnh đạo Uỷ ban nhân dân huyện Vân Đồn, Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Vân Đồn, Công ty TNHH Vĩnh Thịnh Đạt và các bạn đồng nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ trong quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp

Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viện, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Quảng Ninh, ngày tháng 6 năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Quang Ninh

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN iii

LỜI CÁM ƠN iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC BẢNG viii

DANH MỤC HÌNH ix

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN x

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Một số đặc điểm sinh học của ngao giá 3

1.1.1 Đặc điểm hình thái 3

1.1.2 Vị trí phân loại 4

1.1.3 Phân bố của ngao giá 4

1.1.4 Tập tính sống 5

1.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng 6

1.1.6 Đặc điểm sinh trưởng 7

1.1.7 Đặc điểm sinh sản 7

1.2 Tình hình sản xuất giống và nuôi thương phẩm động vật thâm mềm 7

1.3 Điều kiện tự nhiên và sự phát triển nuôi ĐVTM ở Quảng Ninh 10

1.3.1 Đặc điểm tự nhiên 10

1.3.2 Sự phát triển nuôi ĐVTM ở Quảng Ninh 10

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NHIÊN CỨU 13

2.1 Đối tượng, thời gian và địa điển nghiên cứu 13

2.2 Sơ đồ khối nội dung nghiêm cứu 13

2.3 Bố trí thí nghiệm 13

Trang 6

2.3.1 Ảnh hưởng của chất đáy đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của ngao giá giai đoạn từ

2-5 mm đến 20-25 mm 13

2.3.2 Ảnh hưởng mật độ đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của ngao giá giai đoạn ương từ 2 - 5 mm đến 2,0 - 2,5 cm 14

2.4 Xác định các thông số môi trường 15

2.5 Thu thập mẫu ngao và xác định các thông số sinh trưởng 16

2.6 Phân tích và xử lý số liệu 18

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 19

3.1 Ảnh hưởng của chất đáy đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của ngao giá 19

3.1.1 Biến động một số yếu tố môi trường thủy lý hóa khu vực ương nuôi 19

3.1.2 Thành phần và mật độ thực vật phù du 20

3.1.3 Sinh trưởng chiều dài của ngao giống ương ở các chất đáy khác nhau 22

3.1.4 Sự tăng trưởng khối lượng của ngao ương ở các chất đáy khác nhau 23

3.1.5 Tỷ lệ sống của ngao ương ở loại chất đáy khác nhau 24

3.2 Ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng và tỷ sống của ngao giá 25

3.2.1 Biến động một số yếu tố môi trường thủy lý hóa trong thời gian ương nuôi 25

3.2.2 Thành phần và mật độ thực vật phù du 26

3.2.3 Tăng trưởng khối lượng của ngao giống ương ở mật độ khác nhau 29

3.2.4 Tỷ lệ sống ngao giống ương ở các mật độ khác nhau 30

CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 31

4.1 Kết luận 31

4.2 Kiến nghị 31

TÀI LIỆU THAM KHẢO 32 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

KÝ HIỆU VIẾT ĐẦY ĐỦ

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1: Một số yếu tố môi trường nước 19

Bảng 3.2: Thành phần và mật độ thực vật phù du 20

Bảng 3.3: Tăng trưởng chiều dài của ngao giá ương ở các chất đáy khác nhau 22

Bảng 3.4: Tăng trưởng khối lượng của ngao ương ở chất đáy khác nhau 24

Bảng 3.5: Tỷ lệ sống của ngao giá ở loại chất đáy khác nhau 25

Bảng 3.6: Một số yếu tố môi trường nước trong thời gian ương 26

Bảng 3.7: Thành phần và mật độ các loài thực vật phù du 27

Bảng 3.8: Tăng trưởng chiều dài của ngao ương ở các mật độ khác nhau 28

Bảng 3.9: Tăng trưởng khối lượng của ngao ương ở các mật độ khác nhau 29

Bảng 3.10: Tỷ lệ sống của ngao giống ương ở mật độ khác nhau 30

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1: Hình ảnh ngao giá Tapes dorsatus (Capenter và Niem, 1998) 3

Hình 1.2: Sơ đồ phân bố ngao giá Tapes dorsatus trên thế giới 5

Hình 1.3: Ngao giá thương phẩm nuôi tại huyện Vân Đồn, Quảng Ninh 11

Hình 2.1: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 13

Hình 3.1: Sự sinh trưởng chiều dài ngao ương ở các chất đáy khác nhau 23

Hình 3.2: Sinh trưởng chiều dài ngao ương ở các mật độ khác nhau 29

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Trong chiến lược phát triển nuôi thủy sản ở nước ta hiện nay, động vật thân mềm (ĐVTM) được xem là đối tượng có nhiều ưu thế và tiềm năng phát triển ĐVTM với vai trò vừa làm nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng, vừa góp phần đa dạng đối tượng nuôi, làm sạch môi trường và ổn định sinh thái, do vậy chúng là đối tượng không thể thiếu trong nghề nuôi Thủy sản

Ngao giá Tapes dorsatus (Lamarck, 1818) là loại động vật thân mềm hai mảnh

vỏ có giá trị dinh dưỡng cao, là đối tượng nuôi mới được nông ngư dân của tỉnh Quảng Ninh quan tâm đầu tư nuôi và có hiệu quả kinh tế

Giống ngao từ 2-5 mm được sản xuất nhân tạo tại cơ sở sản xuất giống Hạ Long trên địa bàn huyện Vân Đồn Con giống được chuyển ra ương thử nghiệm ở lồng treo trên biển, với hai thí nghiệm về chất đáy và mật độ ngao ban đầu, trong thời gian ương

45 ngày

Chất đáy được sử dụng gồm có: cát xốp vỏ nhuyễn thể, cát xốp vỏ nhuyễn thể có bùn (tỷ lệ bùn 15%) và cát xây dựng Ngao giá được thả nuôi ở cùng mật độ 1.000 con/lồng ương (diện tích 0,12 m2)

Thí nghiệm ương nuôi với mật độ khác nhau bao gồm: 700, 1.000, 1.300 1.600 , và 2.000 con/lồng Lồng ương có diện tích 0,12 m2 và chất đáy là cát xốp vỏ nhuyễn thể Kết quả nghiên cứu cho thấy, chất đáy và mật độ ương khác nhau có ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của ngao giá ương trong giai đoạn ngao cấp 1 (2-5 mm) lên ngao cấp 2 (20-25 mm)

Sau thời gian ương nuôi 45 ngày ngao giá được nuôi trong lồng có chất đáy là cát xốp vỏ nhuyễn thể đạt chiều dài trung bình (18,97 ± 0,19 mm), tốc độ tăng trưởng chiều dài tuyệt đối (0,36 ± 0,19 mm/ngày) Tăng trưởng về khối lượng trung bình (1020,9 ± 5,9 gam), tốc độ tăng trưởng khối lượng tuyệt đối (22,2 ± 0,13 g/ngày) và tỷ

lệ sống (85,0 ± 0,19 %) cao nhất so với các nghiệm thức còn lại

Ngao giá ương với mật độ ban đầu 1300 con/lồng sau 45 ngày đạt chiều dài trung bình (18,6 ± 0,07 mm), tốc độ tăng trưởng chiều dài tuyệt đối (0,35 ± 0,001 mm/ngày)

Trang 11

khối lượng trung bình (1002,1 ± 5,5 gam), tốc độ tăng trưởng khối lượng tuyệt đối (22,2 ± 0,12 g/ngày) và tỷ lệ sống (88,1 ± 1,18 %) cao nhất so với các nghiệm thức còn lại

Kết quả nghiên cứu cho thấy, cát xốp vỏ nhuyễn thể thích hợp làm chất đáy trong lồng ương và mật độ ương ban đầu 1300 con/lồng cho tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống cao nhất trong các mức thí nghiệm khi ương ngao giá giống từ 2-5 mm lên 20 - 25 mm

Từ khóa: ngao giá, sinh trưởng, tỷ lệ sống, chất đáy, mật độ, Tapes dorsatus

Trang 12

MỞ ĐẦU

Quảng Ninh có bờ biển dài 250 km, diện tích vùng nội thủy khoảng 6.000 km2,

có trên 43.000 ha rừng ngập mặn và bãi triều là nơi sinh cư của rất nhiều loài hải sản quý hiếm, và có giá trị kinh tế cao Đây là một trong những điều kiện rất thuận lợi và tiềm năng to lớn cho tỉnh Quảng Ninh phát triển kinh tế thủy sản biển và nước lợ Vùng biển Quảng Ninh được xác định là một trong những vùng có tiềm năng của cả nước về nuôi các loài nhuyễn thể có giá trị kinh tế

Ngao giá Tapes dorsatus là loài nhuyễn thể 2 mảnh vỏ bản địa trên vùng biển

vịnh Bái Tử Long thường được người dân khai thác tự nhiên Chúng sống tập trung ở khu vực có môi trường với nền đáy cát, bùn hoặc cát bùn ở vùng hạ triều đến độ sâu vài nét nước Ngao giá là loài ăn lọc, thức ăn chủ yếu là thực vật phù du và chất hữu

cơ lắng đọng Gần đây, ngao giá được đưa vào nuôi thử nghiệm ở một vài nơi và bước đầu cho thấy có hiệu quả kinh tế cao, nhờ ngao dễ nuôi, lớn nhanh

Ở Quảng Ninh và nhiều địa phương khác ngao giá rất được thị trường ưa chuộng, giá bán thương phẩm từ 70.000 -100.000 đ/kg loại 20 -25 con/kg Hiện nay người nuôi rất quan tâm phát triển nuôi thương phẩm trong điều kiện nhân tạo Ngao giá là loài dễ nuôi, lớn nhanh nếu có nguồn giống kích cỡ 15- 25 mm (cấp 2) thì hiệu quả nuôi thương phẩm cao Việc khai thác nguồn lợi tự nhiên quá mức dẫn đến suy giảm nguồn lợi nghiêm trọng, do đó việc đưa vào nuôi là rất cần thiết Hiện nay do chưa có quy trình kỹ thuật ương nuôi hoàn chỉnh nên hiệu quả ương nuôi thấp

Để góp phần xây dựng và hoàn thiện quy trình sản xuất giống ngao giá và ương nuôi giống cấp 1 lên giống cấp 2 để nuôi thương phẩm, chúng tôi thực hiện đề tài:

“Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và chất đáy đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của

ngao giá Tapes dorsatus (Lamarck, 1818) ương từ giai đoạn 2 - 5 mm đến giai

đoạn 20 - 25 mm tại Quảng Ninh”

Mục tiêu của đề tài:

Xác định chất đáy và mật độ thả ban đầu phù hợp, góp phần xây dựng hoàn thiện quy trình kỹ thuật ương nuôi ngao giá giai đoạn từ 2 - 5mm (giống cấp 1) lên 20 – 25 mm (giống cấp 2)

Trang 13

Nội dung nghiên cứu:

- Ảnh hưởng của chất đáy đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của ngao giá giai đoạn từ 2

- 5 mm đến 20 - 25 mm

- Ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của ngao giá giai đoạn từ 2 - 5mm đến 20 - 25 mm

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:

- Ý nghĩa khoa học: sự thành công của đề tài làm cơ sở xây dựng, hoàn thiện quy trình ương nuôi giống ngao giá, đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật sản suất giống, ương nuôi và nuôi thương phẩm ngao giá có hiệu quả kinh tế

- Ý nghĩa thực tiễn: góp phần phát triển nghề ương nuôi ngao giá đáp ứng nhu cầu con giống cấp 2 cho người nuôi thương phẩm trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh Góp phần

đa dạng hóa đối tượng nuôi, đưa đối tượng này phát triển trong điều kiện nuôi nhân tạo, trở thành một trong những đối tượng nhuyễn thể chủ lực

Trang 14

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Một số đặc điểm sinh học của ngao giá

1.1.1 Đặc điểm hình thái

Ngao giá có hình dạng giống ngao dầu, nhưng toàn thân có dạng hình ô van hơn, hai vỏ bằng nhau, đỉnh vỏ hơi lệnh về một phía nhỏ và nhô lên, mặt vỏ phồng lên, có các gờ sinh trưởng Màu sắc vỏ ngoài có màu trắng sữa hoặc vàng nhạt, tuy nhiên tùy thuộc vào chất đáy nơi phân bố màu sắc của ngao giá có sự đậm sáng khác nhau Mặt trong của vỏ có màu trắng sữa, vết cơ khép vỏ trước nhỏ hình bán nguyệt, vết cơ khép

vỏ sau hình bầu dục Hai tấm màng áo bao phủ toàn bộ nội tạng của ngao Phía mép của 2 màng áo gần bụng dính lại hình thành 2 vòi (vào và ra) hay còn gọi là ống thoát hút nước để lọc thức ăn Chân ngao to hình lưỡi dùng để vùi mình trong cát, chân nằm phía trước bụng Mang là cơ quan hô hấp chủ yếu, ngoài ra các vi mạch trên môi và màng áo cũng có tác dụng hỗ trợ cho quá trình hô hấp Ngao nuôi 1 năm tuổi đạt kích

cỡ 5 cm, trọng lượng từ 30-40 g, ngao giá trên 100 g/con, mình dày phồng lên, rất rõ

gờ sinh trưởng (Capenter and Niem, 1998)

Hình 1.1 Hình ảnh ngao giá Tapes dorsatus (Capenter and Niem, 1998)

Phía trong của vỏ trái Phía ngoài của vỏ trái

Trang 15

1.1.2 Vị trí phân loại

Mặc dù đã có nhiều tài liệu công bố về các đối tượng nhuyễn thể nói chung, nhưng những nghiên cứu về đối tượng ngao giá trên thế giới là rất hạn chế, ngoại trừ tài liệu về phân loại của Carpenter and Niem (1998) và Huber (2010)

Theo Carpenter and Niem (1998), họ ngao (Veneridae) ở khu vực phía Tây Thái Bình Dương hiện biết đến gồm 17 giống, 33 loài Theo Word Register of Marine Species (2015) dựa theo tài liệu phân loại của Huber (2010) hệ thống phân loại ngao giá được thể hiện như sau:

Loài: Tapes dorsatus ( Lamarck, 1818 )

Các tên đồng danh trước đây của ngao giá bao gồm: Paphia guttulata (Roding, 1789), Tapes Conspersus (Gmelin, 1781); Tapes ovulaea (Lamarck, 1818); Tapes

turgidula (Lamarck, 1818); Tapes watlingi (Iredale, 1958), Tapes adpersa, Venus dorsata, Venus litterata conspersa, V ovulaea, V turgida

Tên tiếng Anh: Turgid Venus

Tên tiếng Việt: ngao giá, ngao vàng (Miền Bắc), ngao hai cùi (Miền Trung)

1.1.3 Phân bố của ngao giá

Ngao giá phân bố chủ yếu ở vùng biển Ấn Độ Dương và Tây Thái Bình Dương, kéo dài từ Đông và Đông Nam Châu Phi, bao gồm Madagascar, Biển Đỏ tới Melanesia, phía Bắc đến bờ biển Nhật Bản, phía Nam kéo dài tới Bang New South Wales của Australia (Capenter and Niem , 1998)

Tại Úc, ngao giá phân bố từ Bang Tây Úc, Bắc Úc đến New South Wales (Robinson and Gibbs, 1982) Ngao giá sống chủ yếu ở trong đáy cát, phần lớn tìm thấy ở trong đáy cát và cát bùn ở vùng trung triều và dưới triều Có thể tìm thấy ngao giá phân bố đến độ sâu 20 mét nước (Capenter and Niem, 1998) Tại Tây Úc, ngao giá được tìm thấy

ở các vùng cỏ biển cửa sông và các bãi cát vùng triều (Wells and Bryce, 1988)

Trang 16

Hình 1.2 Sơ đồ phân bố ngao giá Tapes dorsatus trên thế giới

(GBIF OBIT, 2015)

Các công trình nghiên cứu về ngao giá chưa được thực hiện nhiều ở Việt Nam, thông tin về sản xuất và nuôi ngao giá đã xuất hiện trên báo mạng nhưng mang tính chất rời rạc Các nghiên cứu trước đây chủ yếu xác định nguồn lợi động vật đáy vùng ven bờ (Nguyễn Hữu Phụng 1990 - 1995, Nguyễn Chính 1980 - 1990) trong đó các tác giả đã xác định được 610 loài phân bố ở vùng triều và 315 loài phân bố ở vùng Vịnh Bắc bộ và đảo Hải Nam

Ở Miền Bắc, ngao giá phân bố tập trung ở một số vùng như Quảng Ninh đến Hải Phòng Tại Quảng Ninh ngao giá phân bố nhiều ở vùng biển Vịnh Bái Tử Long và Cô

Tô nơi có chất đáy là cát vỏ nhuyễn thể ở vùng trung triều và vùng hạ triều

Độ mặn cũng là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phân bố của các loài nhuyễn thể (Hà Quang Hiến, 1964) Ngao giá thích nghi ở độ mặn khá cao và ổn định, 25-32 ‰, tương ứng với vùng phân bố là vùng trung đến hạ triều

1.1.4 Tập tính sống

Nghiên cứu bước đầu về đặc điểm sinh học của ngao giá tại Quảng Đông, Trung Quốc, Hoang và ctv (2008) cho thấy ngao giá sống vùi mình trong đáy cát bùn, tập trung ở khu vực trung và hạ triều Khu vực sinh sống của ngao giá có nhiệt độ từ 12-

Vùng phân bố ngao giá

Trang 17

320C, độ mặn từ 25-32‰, pH từ 7,5 - 9,5 và đặc điểm dinh dưỡng của ngao giá ăn tảo đáy, chất hữu cơ

Ngao giá là loài sống đáy nhưng khi gặp điều kiện không thuận lợi như nhiệt độ,

độ mặn giảm và thay đổi đột ngột chúng thường ngoi lên mặt đáy và di chuyển đi nơi khác có điều kiện thích hợp Động vật nhuyễn thể 2 mảnh vỏ nói chung trong quá trình sống chúng đều trải qua 2 giai đoạn chính

- Giai đoạn ấu trùng trôi nổi và sống đáy: sau khi trứng nở chuyển sang giai đoạn ấu trùng phù du gồm các giai đoạn: trochophore, veliger và umbo Giai đoạn này

ấu trùng trôi nổi trong nước, sự phân bố của chúng phụ thuộc vào dòng chảy và thủy triều Sau giai đoạn phù du ấu trùng chuyển sang giai đoạn sống đáy (spat), lúc này ấu trùng đã hình thành chân, màng áo và cơ khép vỏ, do đó cần đáy bằng phẳng và cần có vật bám là đáy cát (Capenter and Niem, 1998)

- Giai đoạn trưởng thành: ngao sống vùi mình trong nền đấy cát Để hô hấp và lấy thức ăn trong nước, ngao thòi vòi lên mặt đáy Vòi ngao ngắn nên không thể chui sâu trong nền đáy, thường cách mặt đáy vài cm Vào mùa lạnh ngao vùi mình sâu hơn trong nền đáy nhưng không sâu quá 10 cm (Capenter and Niem, 1998)

1.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng

Hoạt động bắt mồi của nhuyễn thể hai mảnh vỏ được thực hiện theo cách lọc nhờ vào hoạt động của các tấm mang Trong quá trình hô hấp, nước mang theo thức ăn đi qua mang, ở đó có các tiêm mao nằm trên tia mang bắt lấy thức ăn nhờ vào dịch nhờn Tuy nhiên, chúng vẫn có sự lựa chọn thức ăn theo kích thước Những loại thức ăn có kích thước lớn bị thải ra ngoài còn những loại thức ăn có kích thước phù hợp sẽ được làm mềm và cuốn thành viên chuyển vào miệng

Ngao giá cũng là loài ăn lọc, chúng bắt mồi theo hình thức thụ động Thức ăn chủ yếu là khuê tảo, các mảnh vụn hữu cơ, và thức ăn của loài thay đổi theo thời kỳ phát triển của cơ thể Giai đoạn ấu trùng thức ăn chủ yếu là các vi tảo phù du Sau khi ấu trùng xuống đáy thức ăn đa dạng hơn, ngoài tảo phù du và các mảnh vụn hữu cơ, khoáng, mùn, vi khuẩn, chất keo cũng được ngao sử dụng (Capenter and Niem, 1998) Theo Quayle and Newkirk (1989) nhóm động vật thân mềm hai mảnh vỏ nói chung bắt mồi theo kiểu lọc có chọn lọc theo kích cỡ thức ăn Những hạt thức ăn quá

to, những loài tảo có kích thước lớn, dạng sợi như Chaetoceros, Skeletonema, Bacteriastrum thường khó bắt được, đặc biệt giai đoạn ấu trùng Cỡ hạt thức ăn mà chúng lọc được có kích thước từ 10-100 µm

Trang 18

1.1.6 Đặc điểm sinh trưởng

Sự sinh trưởng của nhuyễn thể 2 mảnh vỏ nói chung và ngao giá nói riêng có sự thay đổi theo vị trí địa lý Ở giai đoạn trưởng thành ngao sống trên nền đáy cát ở vùng

hạ triều lớn nhanh hơn vùng cao triều Tốc độ tăng trưởng còn phụ thuộc vào vùng phân bố có nhiều hay ít thức ăn, thời tiết, độ mặn, sóng gió và giai đoạn phát triển của chúng Vào mùa xuân và hè thời tiết thuận lợi, thức ăn phong phú tốc độ tăng trưởng nhanh, mùa đông nhiệt độ thấp thức ăn kém tốc độ tăng trưởng chậm Ngao 1 năm tuổi

có kích cỡ 5 cm, trọng lượng 30-40g/con

1.1.7 Đặc điểm sinh sản

Các loài động vật thân mềm 2 mảnh vỏ nói chung ngao nói riêng đều mang tính đực cái riệng biệt Ngao cũng đẻ trứng và thụ tinh ngoài, khi thành thục tuyến sinh dục

thường có màu trắng và trắng sữa

Mùa vụ sinh sản của động vật thân mềm khác nhau tùy theo loài và điều kiện sống Ngao giá sinh sản chính vào tháng 3 – 5, mùa phụ vào tháng 10 – 2 Sức sinh sản của ngao tương đối cao, tùy thuộc vào khối lượng cơ thể, khối lượng càng lớn sức sinh sản càng cao (Capenter and Niem, 1998)

1.2 Tình hình sản xuất giống và nuôi thương phẩm động vật thâm mềm

Theo thống kê của FAO (2014), trên thế giới có 102 loài nhuyễn thể được nuôi thương phẩm trong tổng số khoảng 600 loài thủy sản được nuôi Năm 2014, sản lượng nuôi nhuyễn thể đạt 15,2 triệu tấn, đứng thứ 2 sau nhóm cá (44,2 triệu tấn), chiếm 22,8% tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản trên thế giới Việt Nam là quốc gia đứng hàng thứ 2 thế giới, sau Trung Quốc về nuôi nhuyễn thể, đạt sản lượng 400.000 tấn Nghề nuôi nhuyễn thể mang lại doanh thu 15,9 tỉ USD (chiếm 11,5% giá trị nuôi thủy sản), trong khi doanh thu từ cá đạt 87,5 tỉ USD và giáp xác 30,9 tỉ USD

Trong các loài nhuyễn thể nuôi, ngao Manila (Mercenaria mercenaria) được nuôi

sớm nhất tại Nhật Bản hơn một nghìn năm trước, tiếp theo là nghề nuôi hàu được bắt đầu từ năm 1673, khi những người dân nuôi ngao quyết định nuôi hàu bám vào các cọc xung quanh vùng nuôi ngao của họ Nghề nuôi ngao tiếp tục bằng việc sử dụng kỹ thuật đơn giản là di chuyển ngao giống tự nhiên từ nơi có mật độ cao đến nơi có mật

độ thấp hơn Kỹ thuật nuôi ngao phát triển ở trình độ cao hơn ở châu Âu và Bắc Mỹ (Jones et al, 1993)

Các nghiên cứu ở Đài Loan cho thấy ngao M lusoria được nuôi chủ yếu ở trong

ao thuộc vùng Tây Nam của hòn đảo này Phương pháp và kỹ thuật nuôi khác nhau ở

Trang 19

mỗi nơi, đó là duy trì độ mặn cao trong khoảng 25-330/00 bằng việc thay nước biển và duy trì ở độ mặn thấp hơn (15-200/00) bằng việc bổ sung nước ngầm (Lee et al., 2007) Thái Bình Dương, từ miền Nam Nhật Bản đến châu Úc (Capenter và Niem, 1998) Tuy nhiên, các thông tin liên quan đến sản lượng và nuôi trồng đối tượng trên là rất

hiếm Theo Paterson and Nell (1998), sản lượng ngao giá và ngao Katelysia scalarina

thu hoạch từ tự nhiên của Úc năm 1996 là 134 tấn, kích cỡ thương phẩm đạt 38 mm chiều dài vỏ và giá trị 8-10 AUD/kg

Ngao giá được công bố nuôi thử nghiệm đầu tiên năm 1997 tại New South Wale,

Úc Thí nghiệm nuôi tiến hành ở vùng cửa sông bờ biển New South Wale với mật độ thả 750 con/m2, nhiệt độ nước dao động từ 10,7-230C và độ mặn trong khoảng 31-35,8‰ Kết quả thí nghiệm cho thấy, sau 48 tuần nuôi từ con giống 15 mm ngao giá phát triển tốt nhất ở vùng nước ấm hơn tại Brisbane (trung bình 190C) và đạt kích cỡ thương phẩm gần 38 mm, tại các địa điểm khác, nhiệt độ trung bình dưới 180C, chiều dài vỏ chỉ đạt từ 27-29 mm, sau 48 tuần nuôi Tỉ lệ sống của ngao giá biến động rất lớn tại các địa điểm nuôi khác nhau từ 17,6% đến 76% phụ thuộc vào sự có mặt của các

địch hại của ngao như nhóm cua, ghẹ, nhóm cá ăn nhuyễn thể như Conuber sp

(Paterson and Nell, 1998)

Nghiên cứu về nuôi ngao giá và ngao Katelysia scalarina trong thùng nhựa (hình

vuông, cao 40-50cm) và trong lồng, Paterson and Nell (1997) cho thấy, hai loài ngao trên sinh trưởng tốt nhất trong lồng chứa cát, tiếp theo trong lồng treo lơ lửng và trong thùng chứa cát Ngao giá sinh trưởng nhanh hơn trong cát chứa vỏ nhuyễn thể so với trong đáy chỉ chứa cát vỏ nhuyễn thể, hoặc bùn Ngao giá nuôi trong ao thay nước liên tục theo thủy triều cho tăng trưởng gấp 2 lần so với nuôi trong ao ít hoặc không thay nước sau 6 tháng nuôi

Đến năm 2015, tại tỉnh Quảng Ninh đã có ít nhất 03 cơ sở tại miền Bắc có thể sản xuất giống ngao giá bao gồm Công ty TNHH Anh Quân - Thắng Lợi (2010), Công ty THHH Đỗ Tờ (2010) và Trường Cao đẳng Thủy sản (2014) và một vài đơn vị sản xuất giống tại Nam Trung Bộ Tuy nhiên, quy trình kỹ thuật sản xuất chưa được làm rõ và sản lượng giống sản xuất còn nhiều biến động và chưa nhiều Công ty TNHH Anh Quân – Thắng Lợi sản xuất hàng năm biến động từ 0-3 triệu giống từ năm 2010 đến nay, Trại giống Hạ Long tại xã Đông Xá năm 2015 -2016 sản xuất mỗi năm trên 10 triệu con giống cấp một, Công ty TNHH Đỗ Tờ đã sản xuất được giống, tuy nhiên số liệu thực tế vẫn chưa được kiểm chứng và Trường Cao đẳng Thủy sản năm 2015 đến

Trang 20

nay đã và đang tiếp tục nghiên cứu sản xuất giống ngao giá để xây dựng quy trình kỹ thuật sản xuất giống và nuôi thương phẩm

Theo báo cáo của huyện Vân Đồn (2016), ngao giá là loài có giá trị kinh tế, được nuôi tại các xã đảo của Huyện Vân Đồn (Quảng Ninh) và Huyện Cát Hải (TP Hải Phòng) Ngao giá bắt đầu nuôi từ năm 2012 tại huyện Vân Đồn Sản lượng ngao nuôi đến năm 2015 là 800 tấn, năm 2016 là 1.500 tấn Hiện nay đang mở rộng sang các địa phương khác như TP Hạ Long, TP Cẩm Phả, huyện Đầm Hà và Hải Hà (tỉnh Quảng Ninh) Ngao giá cũng đã được phát triển nuôi nhiều tại Cát Hải, Hải Phòng từ năm 2015, người dân địa phương chọn đối tượng nuôi mới có khả năng chống chịu bệnh tốt, sinh trưởng nhanh, tận dụng được những bãi triều, lồng nhựa trước đây dùng để nuôi Tu hài Đến nay người dân đang mở rộng phát triển sản xuấ, theo kết quả khảo sát sơ bộ năm

2016 trên địa bàn huyện Cát Hải – Hải Phòng có đến 100 hộ đầu tư nuôi trong lồng và trên bãi triều, số lượng con giống thả ước tính lên đến hàng trăm triệu con giống

Nguồn giống cung cấp cho người nuôi chủ yếu là giống trôi nổi ngoài thị trường, nhất là nhập từ Nam Trung bộ ở các tỉnh Khánh Hòa, Bình Thuận và một phần nhỏ nhập từ Trung Quốc Tuy nhiên, kết quả ương giống cấp 1 lên cấp 2 tại địa phương đạt

tỉ lệ sống rất thấp từ 15-30% lên đến 70%

Ngao giá có thể sản xuất giống theo quy trình công nghệ sản xuất giống nhuyễn thể phổ biến hiện nay như trên đối tượng ngao Bến Tre, Tu hài và Hầu Thái Bình Dương Ngao giá có thể thành thục ngoài tự nhiên và phân tính đực cái rõ ràng Mùa vụ sản xuất giống bắt đầu từ tháng 3 hàng năm, từ tháng 6 trở đi ngao giá bố mẹ tự nhiên tại Vân Đồn đã được thử nghiệm cho đẻ nhưng không thành công Chính vì vậy, việc xác định được đầy đủ mùa vụ sinh sản của ngao giá trước và sau thời điểm trên là cần thiết Với 10 kg ngao giá kích cỡ 25-30 con/kg đem sốc nhiệt khô và ướt trong điều kiện nhiệt độ 26 ± 5oC, độ mặn 28-30‰, sau 8-10 tiếng có thể đẻ được với lượng trứng khoảng 50 triệu và cho ra 45 triệu ấu trùng Trochophore, sau 20 h ở nhiệt độ

26oC, ấu trùng Trochophore chuyển thành ấu trùng chữ D (D- veliger) và được thu chuyển sang ương ấu trùng trôi nổi (Trường Cao đẳng Thủy sản, 2016)

Ấu trùng chữ D được ương trong môi trường có độ mặn 24‰, trải qua các quá trình biến thái như ấu trùng đỉnh vỏ lồi (Umboveliger), ấu trùng chân bò (Pediveliger)

và xuống đáy Giai đoạn này, ấu trùng sử dụng thức ăn vi tảo, các loài tảo sử dụng phổ

biến bao gồm Nanochloropsis sp, Isochrysis sp, Chaetoceros sp, Chlorella sp,

Tetraselmis sp Thời gian biến thái từ ấu trùng trôi nổi đến giai đoạn ấu trùng xuống

đáy khoảng 20-24 ngày (Trường Cao đẳng Thủy sản, 2016)

Trang 21

Ấu trùng xuống đáy được ương trong bể rải cát vàng nhỏ, kích thước hạt cát vàng nhỏ hơn 1 mm Ương trong thời gian 1-1,5 tháng ra con giống kích cỡ 2-3 mm Ấu trùng xuống đáy sử dụng thức ăn vi tảo, các loài tảo sử dụng phổ biến bao gồm

Nanochloropsis sp, Isochrysis sp, Chaetoceros sp, Chlorella sp và Tetraselmis sp

(Trường Cao đẳng Thủy sản, 2016)

Các nghiên cứu về sinh sản nhân tạo nhuyễn thể trên thế giới đã được tiến hành một cách bài bản, có hệ thống trong các khâu kỹ thuật sản xuất giống như tuyển chọn, nuôi vỗ ngao bố mẹ; kích thích sinh sản; ương nuôi ấu trùng trôi nổi; thu ấu trùng xuống đáy và ương con giống cấp 1 lên cấp 2 Mặc dù các thông tin về loài ngao giá nghiên cứu còn ít, nhưng những thông tin tổng quan về công nghệ sản xuất giống các loài nhuyễn thể 2 mảnh vỏ, đặc biệt là các loài ngao trong họ Veneridae rất có ý nghĩa,

là cơ sở khoa học và thực tiễn để áp dụng vào nghiên cứu ngao giá tại Quảng Ninh

1.3 Điều kiện tự nhiên và sự phát triển nuôi ĐVTM ở Quảng Ninh

1.3.1 Đặc điểm tự nhiên

Quảng Ninh có bờ biển dài 250 km, diện tích mặt biển trên 6 nghìn km2, có diện tích 43.093 ha rừng ngập mặn và bãi triều ở tuyến trung triều có thể nuôi nhiều giống hải sản có giá trị kinh tế cao; 5.300 ha bãi triều nằm ở tuyến cao triều có thể nuôi hải sản theo hướng công nghiệp; 21.800 ha diện tích truông bãi và các cồn rạn có thể phát triển để nuôi các loài nhuyễn thể Quảng Ninh có nhiều vịnh, vụng kín gió dọc theo bờ biển như Vân Đồn, Tiên Yên, Hà Cối, Cô Tô; đặc biệt là Vịnh Hạ Long, Bái Tử Long với diện tích 1.553 km2, đây là lợi thế nổi trội để phát triển các hình thức nuôi lồng bè, nuôi đáy mà rất ít địa phương trong cả nước có được Ngoài ra, Quảng Ninh còn có diện tích mặt nước ngọt có khả năng NTTS là 12.992 ha Đây là điều kiện thuận lợi và

là cơ hội để phát triển NTTS của tỉnh Quảng Ninh trong thời gian tới (Sở Nông nghiệp

& PTNT Quảng Ninh, 2016)

1.3.2 Sự phát triển nuôi ĐVTM ở Quảng Ninh

Nghề nuôi nhuyễn thể ở Quảng Ninh đã có từ lâu đời, tuy nhiên 10 năm trở lại đây đối tương nuôi ĐVTM ngày càng được quan tâm và chú trọng đầu tư Trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, các huyện có tiềm năng lớn về nuôi ĐVTM là Thị xã Quảng Yên, huyện Vân Đồn, huyện Đầm Hà, huyện Hải Hà Đối tượng nuôi là Ngọc Trai, Nghêu Bến Tre, Hầu Thái Bình Dương, Hầu cửa sông, Tu hài, ngao giá và các loại ốc

có giá trị kinh tế cao Tỉnh Quảng Ninh đã quy hoạch nuôi trồng thủy sản và có các

Trang 22

chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất một số vùng nuôi trồng thủy sản tập trung trong đó

có Ngao, Tu hài và Hầu Thái Bình Dương (Sở Nông nghiệp & PTNT Quảng Ninh, 2016) Riêng huyện Vân Đồn là địa phương có tiềm năng mặt nước bãi triều để phát triển nghề nuôi ĐVTM rất lớn, tập trung vào nuôi một số loài như Trai ngọc, Hầu Thái Bình Dương, Tu hài, Ngao giá và các loại ốc vùng bãi triều núi đá Năm 2016, trên địa bàn huyện Vân Đồn có trên 950 hộ nuôi trồng thủy sản biển, trong đó có trên 500 hộ nuôi ĐVTM (Phòng Nông nghiệp huyện Vân Đồn, 2016) với diện tích trên 2.140 ha Hàng năm nguồn con giống để đáp ứng cho nghề nuôi là trên 1.500 triệu con giống các loại Năm 2016, sản lượng Hầu Thái Bình Dương thương phẩm đạt 6.000 tấn, ngao giá đạt 1.200 tấn và 1.100 tấn ốc các loại ( ốc đá, ốc mầu, ốc hương)

Nuôi ngao giá được phát triển nuôi rất mạnh hầu hết ở các xã có điều kiện thuận lợi như: Bản Sen, Thắng Lợi, Ngọc Vừng, Hạ Long, Đông Xá, Quan Lạn, Minh Châu, thị trấn Cái Rồng Theo thống kê chưa đầy đủ năm 2016, riêng trên địa bàn huyện có trên 350 hộ nuôi, với tổng số con giống thả nuôi trên 500 triệu con Hình thức nuôi thương phẩm hiện nay chủ yếu được nuôi trong lồng nhựa (rổ, khay), mật độ thả nuôi trung bình 70 con/lồng, sau 01 năm nuôi đạt trung bình 25-30 con/kg, giá bán trung bình 70 - 80.000 đ/kg Hai xã trọng điểm nuôi ngao giá tại Bản Sen và Hạ Long, huyện Vân Đồn, đã có 162 hộ nuôi ngao giá và ngao hoa, trong đó 153 hộ nuôi ngao giá và ngao hoa trong lồng và 09 hộ nuôi bãi Số lồng nuôi 02 xã trên ước tính 33,5 vạn lồng

và 2,8 ha nuôi bãi, số giống thả trong 02 xã trên đạt 36 triệu con (Phòng Nông nghiệp

và Phát triển nông thôn huyện Vân Đồn, 2016)

Hình 1.3: Ngao giá thương phẩm nuôi tại huyện Vân Đồn, Quảng Ninh

Trang 23

Nuôi ngao giá được thử nghiệm đầu tiên từ năm 2012 tại xã Thắng Lợi và Bản Sen, huyện Vân Đồn Cho đến nay, ngao giá được phát triển nuôi rất mạnh và đang trở thành một trong những đối tượng nuôi nhuyễn thể chủ lực của tỉnh Quảng Ninh thay thế loài Tu hài vốn nhiều rủi ro (Phòng Nông nghiệp & PTNT huyện Vân Đồn, 2016) Tháng 4/2014, Trường Cao đẳng Thủy sản đã chuyển giống ra ương tại Cẩm Phả, Quảng Ninh và một phần được ương và nuôi tại Thắng Lợi, Vân Đồn, Quảng Ninh Kết quả ương và nuôi khá khả quan Giống được ương trong lồng nuôi tu hài trước đây

có chứa cát, kích cỡ hạt 1-3 cm và treo trên bè nuôi hầu, bè cá Lồng kích cỡ (LxWxH:

50 x 35 x27cm) thả 3.000 con giống (2-3mm)/lồng và lồng ương kích cỡ (LxWxH: 40x30x17cm) thả 1.500 con (2-3 mm)/lồng Kết quả ương sau 1,5-2 tháng nuôi ngao giá giống đạt kích cỡ 1,5-2,5 cm và tỉ lệ sống dao động từ 15-60%, tùy thuộc vào quá trình chăm sóc và quản lý Ngao giá được nuôi thương phẩm trong lồng nuôi Tu hài đặt trên bãi triều ngập nước liên tục và có thể đặt sâu tối thiểu 2m nước ở ven các đảo

có độ mặn phù hợp, không thấp hơn 20‰

Lồng nuôi ngao giá, kích cỡ LxWXH: 50x35x27cm, được lót 01 lớp lưới dày (Kích cỡ mắt lưới 30-40 mắt/cm2) và chứa 2/3 cát nuôi (17-20cm) Mật độ thả ngao giá từ 70-100 con/lồng Ngao giá giống kích cỡ 1,2- 1,5 hay 1,5-2,5 cm được thả trên

bề mặt lồng, Sau 10-12 tháng, ngao đạt kích cỡ 30-35 con/kg tiến hành thu hoạch Ngao giá là đối tượng nuôi khá mới, đang nhận được sự quan tâm rất lớn của người nuôi thủy sản tại Quảng Ninh và Hải Phòng trong 05 năm trở lại đây Nghề nuôi ngao giá đang từng bước thể hiện là nghề nuôi có hiệu quả và từng bước thay thế nghề nuôi Tu hài đang gặp rất nhiều khó khăn và trở ngại do dịch bệnh xảy ra Tuy nhiên, những nghiên cứu cơ bản về ngao giá, sản xuất giống và nuôi thương phẩm gần như chưa có Điều này đặt ra thách thức rất lớn cho phát triển bền vững nghề nuôi và công tác quản lý phát triển nghề bởi những rủi ro do thiếu hiểu biết cơ bản về đối tượng nuôi, thiếu quy trình công nghệ sản xuất, ương và nuôi trồng đối tượng, chất lượng con giống không ổn định, hiệu quả nghề nuôi thấp Những nghiên cứu chuyên sâu về ngao giá như đặc điểm sinh học (phân bố, môi trường sống, sinh trưởng, thức ăn, vòng đời), sinh sản (phân biệt đực/cái, các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục, sức sinh sản, các giai đoạn phát triển phôi, ấu trùng), quy trình công nghệ trong sản xuất giống (điều kiện nuôi vỗ, các phương pháp kích thích sinh sản, kỹ thuật ương nuôi ấu trùng trôi nổi, kỹ thuật ương nuôi ấu trùng xuống đáy, loại thức ăn phù hợp cho các giai phát triển ấu trùng, môi trường ương nuôi ấu trùng) và quy trình kỹ thuật ương và nuôi thương phẩm ngao giá (ương trong bể, ương treo trên lồng bè, kỹ thuật nuôi trong lồng trên bãi, kỹ thuật nuôi trên bãi triều, kỹ thuật quản lý, chăm sóc, phòng trừ dịch bệnh)

là rất cần thiết và cần được tập trung nghiên cứu, làm rõ

Trang 24

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, thời gian và địa điển nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Ngao giá Tapes dorsatus

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 02/2016 - 10/2016

- Địa điểm nghiên cứu: tại Vụng Cây Da - xã Bản Sen - Huyện Vân Đồn - tỉnh Quảng Ninh

2.2 Sơ đồ khối nội dung nghiêm cứu

Hình 2.1: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 2.3 Bố trí thí nghiệm

2.3.1 Ảnh hưởng của chất đáy đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của ngao giá giai đoạn từ 2-5 mm đến 20-25 mm

2.3.1.1 Hệ thống lồng ương

Lồng ương ngao làm bằng nhựa có kích thước (L x W x H: 40 x 30 x 17 cm) được treo vào bè tre (luồng) diện tích rộng 70 m2/bè Đáy lồng và các mặt xung quanh được bọc bằng lưới cước với 2a = 1 mm Nắp lồng làm bằng lưới cước với 2a = 20 mm, dùng dây nilon treo lồng với d = 7 mm Lồng ương nuôi treo cách đáy ít nhất 1,5m, treo ở độ sâu 1,2-1,5m Khoảng cách giữa các lồng treo là 20-25 cm ( Dây treo lồng cách nhau 50 cm)

Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và chất đáy đến sinh trưởng

và tỉ lệ sống của ngao giá Tapes dorsatus

ương từ giai đoạn 2-5 mm đến giai đoạn 20 -25 mm

Ảnh hưởng của chất đáy đến

sinh trưởng và tỷ lệ sống của

ngao giá

Phân tích, đánh giá, kết luận

Ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của ngao giá

Trang 25

2.3.1.2 Thiết kế thí nghiệm

Thí nghiệm được thiết kế với 3 nghiệm thức sử dụng chất đáy khác nhau, mỗi

nghiệm thức được lặp lại 5 lần

- Nghiệm thức 1: Cát xốp vỏ nhuyễn thể nhỏ (kích cỡ hạt cát từ 1-3 mm) được xử lý bằng cách phơi nắng, cho vào lồng ương với độ dày khoảng 6 cm ( Cát xốp vỏ nhuyễn thể

là những mảnh vụn của vỏ nhuyễn thể, san hô trong quá trình phong hóa tạo ra những hạt cát nhỏ, nhẹ, xốp được sóng gió, dòng cháy được hình thành tạo nên cồn cát ngầm trên biển )

- Nghiệm thức 2: Cát xốp vỏ nhuyễn thể có lẫn bùn ( cát xốp nhuyễn thể đã qua sử dụng khi ương nuôi) được xử lý phơi khô, cho vào lồng ương với độ dày khoảng 6 cm

- Nghiệm thức 3: Cát xây dựng (cát thủy tinh, nhỏ dùng trong xây dựng, kích cỡ hạt từ 0,5-1,0 mm được xử lý phơi khô, cho vào lồng ương với độ dày khoảng 6 cm

Ngao giá 2-3 mmm, sản xuất nhân tạo tại cơ sở sản xuất giống Hạ Long (Vân Đồn) được thả vào lồng ương với mật độ như nhau ở các nghiệm thức, 1000 con/lồng (0,12 m2) Ngao được rải đều trên bề mặt đáy lồng, các lồng nuôi được treo trên bè ở độ sâu 1,0 – 1,2

m dưới mặt biển

2.3.1.3 Theo dõi, chăm sóc, quản lý

Thường xuyên kiểm tra lồng ương và địch hại, theo dõi tốc độ tăng tưởng và tỷ lệ sống Khoảng thời gian từ 20 -25 ngày ương, nếu phát hiện có địch hại là con rươi

(Polychaeta Nereidae) tiến hành sàng giống và chuyển sang lồng ương mới (tùy thuộc

vào thời điểm sinh sản của rươi hình thành ra nhỏ trong lồng ương) Thời gian ương kéo dài trong 45 ngày

2.3.2 Ảnh hưởng mật độ đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của ngao giá giai đoạn ương từ 2 - 5 mm đến 2,0 - 2,5 cm

2.3.2.1 Hệ thống lồng ương

Lồng ương ngao làm bằng nhựa có kích thước L x W x H: 40 x 30 x 17 cm được treo vào bè tre (luồng) diện tích rộng 70 m2/bè Đáy lồng và các mặt xung quanh được bọc bằng lưới cước với 2a = 1 mm Nắp lồng làm bằng lưới cước với 2a = 20 mm, dùng dây nilon treo lồng với d = 7 mm Lồng treo cách đáy và mặt nước bao nhiêu khoảng cách giữa các lồng bao nhiêu

Trang 26

2.3.2.2 Thiết kế thí nghiệm

Kế thừa thí nghiệm trên, trong thí nghiệm này sẽ dùng chất đáy tốt nhất của thí nghiệm trước (cát xốp vỏ nhuyễn thể dày 6 cm) và tiến hành ương nuôi với 5 nghiệm thức ở các mật độ khác nhau

- Nghiệm thức 1: Thả giống với 1 mật độ 700 con/lồng

- Nghiệm thức 2: Thả giống với mật độ 1.000 con/lồng

- Nghiệm thức 3: Thả giống với mật độ 1.300 con/lồng

- Nghiệm thức 4: Thả giống với mật độ 1.600 con/lồng

- Nghiệm thức 5: Thả giống với mật độ 2.000 con/lồng

Ngao giá 2-5 mmm, sản xuất nhân tạo tại cơ sở sản xuất giống Hạ Long (Vân Đồn) được thả vào lồng ương với mật độ khác nhau ở các nghiệm thức (700, 1000, 1300, 1600, 2000) diện tích lồng (0,12 m2) Ngao được rải đều trên bề mặt đáy lồng, các lồng nuôi được treo trên bè ở độ sâu 1,0 – 1,2 m dưới mặt biển, mỗi nghiệm thức được lặp lại 5 lần Thời gian thí nghiệm kéo dài 45 ngày, quá trình chăm sóc, quan lý tương tự thí nghiệm trên

2.4 Xác định các thông số môi trường

Việc xác định các thông số môi trường được sự hỗ trợ phối hợp thực hiện của Chương trình giám sát an toàn vệ sinh thực phẩm đối với nhuyễn thể 2 mảnh vỏ; Chương trình quan trắc và cảnh báo môi trường do Viện nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản 1 và Trung tâm Khoa học kỹ thuật sản giống Thủy sản Quảng Ninh thực hiện trên địa bàn huyện Vân Đồn, năm 2016

Định kỳ 15 ngày/lần đo các thông số môi trường bao gồm nhiệt độ, pH, độ mặn, ôxy hòa tan, NH3, H2S, COD được thực hiện lúc 9:00 và định tính, định lượng thực vật phù du cũng thực hiện cùng thời điểm Các thông số được đo trực tiếp tại vị trí lồng ương và phía ngoài bè treo lồng ương ở độ sâu 1,2 mét

Định tính thực vật phù du (TVPD): Dùng vợt thực vật phù du cỡ mắt lưới 20µm vợt ở độ sâu 50 -100 cm theo đường số 8 hoặc dích dắc nhiều lần rồi lấy mẫu, bảo quản trong lọ với formalin 2- 4%, đưa về phòng thí nghiệm phân tích

Định lượng thực vật phù du: Dùng xô nhựa múc 20 lít nước biển tại khu vực ương độ sâu 1m, lọc lấy mẫu, cố định bằng formol và bảo quản trong lọ với formalin 2- 4%, đưa về phòng thí nghiệm để định lượng mật độ

Trang 27

Việc định loại các loài TVPD dựa trên cơ sở phương pháp hình thái so sánh Các tài liệu thường được sử dụng để đối chiếu, so sánh trong quá trình phân tích, định tên các loài TVPD bao gồm: Trương Ngọc An (1993), Balech (1995), Tomas (1997), Taylor (1976), Larsen và cs.(2004)

Định tính và định lượng thực vật phù du theo APHA (1995) mục 10200, soi kính

hiển vi dựa trên hình thái học, đếm số lượng trên buồng đếm Sedgewick Rafter Phân

loại sinh vật phù du theo tài liệu của Trương Ngọc An (1993), Van Den Hoek C và Mann D G (1995)

Phân tích mẫu định tính TVPD (xác định thành phần loài) bằng kính hiển vi OLYMPUS -BX51 (độ phóng đại 100 – 1.000 lần) có hỗ trợ tương phản huỳnh quang, tương phản pha (DIC) và máy ảnh kỹ thuật số OLYMPUS DP12 Đối với các mẫu tảo giáp thường sử dụng dung dịch Calco Fluor MR2 để nhuộm mẫu vật, sau đó quan sát dưới ánh sáng huỳnh quang

Phân tích mẫu định lượng TVPD bằng kính đảo ngược LEICA DMIL (độ phóng đại 40 - 400 lần), đếm số lượng từng loài trong buồng đếm Sedgwick- Rafter (thể tích

1 ml) Quá trình phân tích mẫu TVPD được tiến hành tại Phòng thí nghiệm Khoa học biển thuộc Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản 1

Xác định thành phần thức ăn trong ống tiêu hóa của ngao giá: Mổ và thu ruột ngao, cho ruột vào cối nghiền nát sau đó cho nước cất vào khuấy đều, lấy banh gắp loại bỏ thành ruột còn lại sản phẩm bên trong ruột để xác định thành phần thức ăn Dùng pipet khuấy đều và hút mẫu đưa lên lam kính, đậy lamen và soi trên kính hiển vi

Sử dụng kính hiển vi quang học với độ phóng đại 10 x 10; 40x10; 100x10 để quan sát Nhiệt độ nước đo bằng nhiệt kế có độ chính xác 0,10C; pH đo bằng máy Hanna HI98701 chính xác đến 0,1; độ mặn đo bằng Salimeter, chính xác đến 10/00; Oxy hòa tan đo bằng máy Hanwei BX616 chính xác đến 0,01 mg/l; Nồng độ NH3 đo bằng máy Hanna HI715 chính xác đến 0,01 mg/l; Nồng độ NO2 đo bằng máy HI96708 chính xác đến 0,01 mg/l; Nồng độ H2S đo bằng máy Hanwei BX616 chính xác đến 0,01 mg/l; Hàm lượng COD đo bằng máy Hanna Hi 83099 chính xác đến 0,01 mg/l

2.5 Thu thập mẫu ngao và xác định các thông số sinh trưởng

Trước khi thả giống, định kỳ 15 ngày/lần và khi thu hoạch, ngao giá được lấy mẫu, đo chiều dài bằng thước chia vạch có độ chính xác đến 1mm và cân khối lượng

Trang 28

bằng cân điện tử (nhãn hiệu ADAM) độ chính xác đến 0,01g Số lượng mẫu tối thiểu trong mỗi lần đo là 30 con/lồng ương

Các thông số sinh trưởng của ngao được xác định theo các công thức sau

- Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối:

+ Tốc độ tăng trưởng chiều dài tuyệt đối (Daily Lenght Gain)(mm/ngày)

+ Tốc độ tăng trưởng khối lượng tuyệt đối (Daily Weight Gain)(g/ngày)

1 2

1 2

t t

W W

DWG

- Tốc độ tăng trưởng đặc trưng (Specific Growth Rate)(%/ngày)

+ Tăng trưởng chiều dài đặc trưng:

%100ln

ln

1 2

L L

SGR L

+ Tăng trưởng khối lượng đặc trưng:

%100ln

ln

1 2

W W

SGR W

Trong đó: W2: khối lượng đo lần sau (g)

W1: khối lượng đo lần trước (g)

L2: chiều dài đo lần sau (cm hoặc mm)

L1: chiều dài đo lần trước (cm hoặc mm)

t2- t1: Khoảng thời gian giữa 2 lần đo (ngày)

- Tỉ lệ sống (SR: Survival rate):

% 100

Trong đó:

N2: số lượng ngao giá thu hoạch (con)

N1: số lượng ngao giá thả ban đầu (con)

1 2

1 2

t t

L L

DLG

Trang 30

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Ảnh hưởng của chất đáy đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của ngao giá

3.1.1 Biến động một số yếu tố môi trường thủy lý hóa khu vực ương nuôi

Kết quả nghiên cứu cho thấy, nhiêt độ trung bình đạt 250C, pH 8,2 – 8,2, độ mặn 28 – 290/00, COD 2,7 – 3,0 mg/l, NO2 0,01 mg/l và không có sự hiện diện của

H2S, NH3 là điều kiện thuận lợi cho sinh trưởng và phát triển của các loài ngao nói chung (Boyd, 1990; Trương Quốc Phú, 1999; Chien and Hsu, 2006)

Bảng 3.1: Một số yếu tố môi trường nước

Thời gian (ngày) Thông số Đơn vị tính

Khu vực nghiên cứu nằm trong vùng quy hoạch nuôi trồng thủy sản của xã Bản

Se, huyện Vân Đồn, Quảng Ninh Đây là vùng xa bờ, nằm trong vịnh Bái Tử Long được bao bọc bởi núi đá vôi, có nguồn nước lưu thông, không bị ảnh hưởng của nguồn nước khác và các yếu tố môi trường phù hợp cho nuôi trồng thủy sản Độ mặn tương đối ổn định khoảng 28– 290/00, đây là yếu tố thích nghi của ngao giá với độ mặn cao và

Trang 31

nghi với điều kiện môi trường sống nên không ảnh hưởng gì đến sinh trưởng và phát triển của chúng

3.1.2 Thành phần và mật độ thực vật phù du

Kết quả nghiên cứu định lượng thực vật phù du được thể hiện tại Bảng 3.2 cho

thấy có tổng số 35 loài tảo thuộc 3 ngành tảo Trong đó, ngành tảo Bacillariopphyta có

số loài tảo nhiều nhất (30 loài), tiếp đến ngành tảo Dinophyta (4 loài) và ngành tảo Cyanobacteria có số loài thấp nhất (1 loài)

Bảng 3.2: Thành phần và mật độ thực vật phù du

Mật độ (tb/l)

Đợt 1 Đợt 2 Đợt 3 Bacillariopphyta

Trang 32

(Viện nghiên cứu NTTS 1, 2016)

Bẩy loài thực vật phù du có mật độ từ 200 – 230 tế báo/lít bao gồm: Lauderia

borealis, Thalassiosira spp, Chaetoceros spp, Skeletonema sp, Hemiaulus sinensis,

Cerataulina bergonii, Ditylum sol ( Viện nghiên cứu NTTS 1, 2016)

Năm loài có mật độ từ 100 -180 tế bào /lít gồm: Navicula palpebralis, Melosira

sp, Coscinodiscus gigas, Nitzschia sigma, Prorocentrum micans, đây là những loại

thức ăn có mật độ phù hợp cho quá trình ương nuôi nhuyễn thể ( Viện nghiên cứu NTTS 1, 2016)

Trong sinh sản nhân tạo các loài động vật thân mềm hai mảnh vỏ thức ăn tươi sống là rất quan trọng đến quá trình ương nuôi, các loài tảo trên thường được đưa vào nuôi sinh khối để sử dụng làm thức ăn Trong môi trường nước tự nhiên tại vùng nghiên cứu lại có nhiều loài tảo này nên việc ương nuôi giống là phù hợp

Mật độ của tảo trong môi trường nước tương đối ổn định, không có sự biến động lớn, những loài tảo có mật độ cao đều là những loài tảo đơn bào, có kích thước phù hợp với quá trình thụ động lọc thức ăn của ngao Thành phần thức ăn trong ống tiêu hóa của ngao giá được xác định gồm mùn bã hữu cơ, 35 loài tảo đã xác định và 7 loài chưa xác định Những loài tảo chiếm chủ yếu trong thành phần thức ăn của ngao như

Chaetoceros spp, Skeletonema sp, Thalassiosira spp, Lauderia borealis, Hemiaulus sinensis, Cerataulina bergonii, Ditylum sol, Navicula palpebralis, Melosira sp, Coscinodiscus gigas, Nitzschia sigma, Prorocentrum micans (Viện nghiêncứu NTTS1)

Trang 33

Theo báo cáo kết quả quan trắc, cảnh báo môi trường và dịch bệnh tháng 6/2016 (Trung tâm KHKT và SX giống thủy sản Quảng Ninh, 2016), vùng biển Vịnh Bái Tử Long, huyện Vân Đồn có mật độ thực vật phù du cao hơn so với vùng biển huyện Cô

Tô do đó thuận lợi cho sự phát triển nghề nuôi nhuyễn thể Trong quá trình ương, vùng nước chỉ sử dụng để ương ngao nên không có sự cạnh tranh thức ăn với các loại nhuyễn thể khác

3.1.3 Sinh trưởng chiều dài của ngao giống ương ở các chất đáy khác nhau

Sau 45 ngày ương, kết quả cho thấy có sự sai khác có ý nghĩa thống kê trong sinh trưởng về chiều dài ngao ở các nghiệm thức Ngao giống đạt chiều dài lớn nhất (18,97

± 0,19mm) khi ương ở chất đáy là cát xốp vỏ nhuyễn thể, giá trị này cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nghiệm thức sử dụng chất đáy là cát xốp vỏ nhuyễn thể có bùn

và cát xây dựng (lần lượt 17,58 ± 0,09 mm và 16,75 ± 0,14 mm) (p<0,05) Giữa hai nghiệm thức chất đáy là cát xốp vỏ nhuyễn thể có bùn và cát xây dựng cũng sai khác

có ý nghĩa thống kê về sinh trưởng chiều dài ngao (Bảng 3.3)

Bảng 3.3: Tăng trưởng chiều dài của ngao giá ương ở các chất đáy khác nhau

Nghiệm thức Thông số Cát xốp vỏ

nhuyễn thể

Cát xốp vỏ nhuyễn thể có bùn Cát xây dựng

Chiều dài cuối (mm) 18,97 ± 0,19a 17,58 ± 0,09b 16,75 ± 0,14c

(Các số liệu trong cùng hàng có chỉ số khác nhau là sai khác có ý nghĩa thống kê, p < 0,05)

Tương tự, theo kết quả tại Bảng 3.3 tốc độ tăng trưởng chiều dài tuyệt đối của ngao giống ương ở nghiệm thức sử dụng cát xốp trộn vỏ nhuyễn thể đạt giá trị cao nhất (0,36 ± 0,004 mm/ngày) sai khác có ý nghĩa thống kê so với các nghiệm thức còn lại Ở nghiệm thức sử dụng chất đáy là cát xây dựng, tốc độ tăng trưởng chiều dài tuyệt đối của ngao giống là thấp nhất (0,31 ± 0,003 mm/ngày) Tăng trưởng chiều dài đặc trưng trong nghiệm thức sử dụng cát xốp trộn vỏ nhuyễn thể cũng đạt giá trị cao nhất (0,90 ± 0,05 %/ngày) có ý nghĩa thống kê so với các nghiệm thức còn lại (P<0,05)

Ngày đăng: 02/04/2018, 23:46

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w