1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá tăng trưởng và tỷ lệ sống của một số quần đàn cá tra pangasianodon hypophthalmus (sauvage, 1878) chọn giống tại miền bắc việt nam

76 145 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 1,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài: “Đánh giá tăng trưởng và tỷ lệ sống của một số quần đàn cá tra Pangasianodon hypophthalmus Sauvage, 1878 chọn giống tại miền Bắc V

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

-*** -

ĐÀO VĂN THƯỢNG

ĐÁNH GIÁ TĂNG TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA MỘT

SỐ QUẦN ĐÀN CÁ TRA Pangasianodon hypophthalmus

(Sauvage, 1878) CHỌN GIỐNG TẠI MIỀN BẮC VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ

KHÁNH HÒA, NĂM 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

-*** -

ĐÀO VĂN THƯỢNG

ĐÁNH GIÁ TĂNG TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA MỘT

SỐ QUẦN ĐÀNCÁ TRA Pangasianodon hypophthalmus

(Sauvage, 1878) CHỌN GIỐNG TẠI MIỀN BẮC VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học:

TS NGUYỄN VĂN MINH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài: “Đánh giá tăng trưởng và tỷ lệ sống

của một số quần đàn cá tra Pangasianodon hypophthalmus (Sauvage, 1878) chọn

giống tại miền Bắc Việt Nam” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi và chưa từng

được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác cho tới thời điểm này

Khánh Hòa, ngày 09 tháng 01 năm 2017

ĐÀO VĂN THƯỢNG

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của Viện Nuôi trồng thủy sản - Trường Đại học Nha Trang, Khoa Sau đại học và các Phòng ban của Trường đã tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành đề tài Đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của TS Nguyễn Văn Minh và TS Ngô Phú Thỏa đã giúp đỡ tôi hoàn thành tốt đề tài này Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến sự giúp đỡ này

Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến Ban Lãnh đạo và nhân viên của Trung tâm Quốc gia giống thủy sản nước ngọt miền Bắc - Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1 Ban Quản Lý Dự án “Nâng cao năng lực chọn giống thủy sản ở Việt Nam- Thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững”, đặc biệt là TS Nguyễn Hữu Ninh – Chủ nhiệm dự án, đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình và tất cả bạn bè đã giúp

đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Khánh Hòa, ngày 09 tháng 01 năm 2017

ĐÀO VĂN THƯỢNG

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN iii

LỜI CẢM ƠN iv

DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC BẢNG viii

DANH MỤC HÌNH ix

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN x

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Đặc điểm sinh học của cá tra 3

1.1.1 Đặc điểm phân loại và hình thái 3

1.1.1.1 Hệ thống phân loại cá tra 3

1.1.1.2 Đặc điểm hình thái 4

1.1.2 Đặc điểm phân bố, sinh thái 4

1.1.2.1 Đặc điểm phân bố 4

1.1.2.2 Đặc điểm sinh thái 4

1.1.3 Đặc điểm dinh dưỡng 4

1.1.4 Đặc điểm sinh trưởng 5

1.1.5 Đặc điểm sinh sản 6

1.2 Tình hình nuôi cá tra và chất lượng con giống 7

1.2.1 Tình hình nuôi cá tra trên thế giới 7

1.2.2 Tình hình nuôi cá tra và chất lượng con giống ở nước ta 8

1.3 Tình hình nghiên cứu về di truyền và chọn giống cá 10

1.3.1 Một số nghiên cứu về chọn giống cá trên thế giới 10

1.3.2 Tình hình nghiên cứu về di truyền và chọn giống cá ở nước ta 12

1.3.2.1 Một số nghiên cứu về di truyền và chọn giống cá ở nước ta 12

1.3.2.2 Một số nghiên cứu về di truyền và chọn giống trên cá tra 13

1.4 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến nghề nuôi cá tra ở Việt Nam và giải pháp ứng phó 14

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17

2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian và vật liệu nghiên cứu 17

Trang 6

2.1.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 17

2.1.2 Vật liệu nghiên cứu 17

2.2 Nội dung nghiên cứu 18

2.3 Phương pháp nghiên cứu 19

2.3.1 Sản xuất và ương nuôi cá lên cỡ đánh dấu 19

2.3.1.1 Sản xuất các quần đàn cá tra 19

2.3.1.2 Ương cá lên kích cỡ đánh dấu 20

2.3.2 Phương pháp đánh dấu 21

2.3.3 Bố trí thí nghiệm 21

2.3.3.1 Nuôi tăng trưởng các quần đàn cá tra trong môi trường nước ngọt 22

2.4 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu 23

2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu 23

2.4.2 Phương pháp xử lý số liệu 23

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 25

3.1 Kết quả theo dõi một số yếu tố môi trường 25

3.1.1 Nhiệt độ 25

3.1.2 Độ mặn 26

3.1.3 Ôxy hòa tan và pH 27

3.2 Kết quả đánh dấu cá 27

3.3 Kết quả tăng trưởng về chiều dài của cá tra 30

3.3.1 Tăng trưởng về chiều dài của cá tra trong môi trường ngước ngọt 30

3.3.2 Tăng trưởng về chiều dài của cá tra trong môi trường nước lợ 30

3.4 Kết quả tăng trưởng về khối lượng của cá tra 32

3.4.1 Tăng trưởng về khối lượng của cá tra trong môi trường nước ngọt 32

3.4.2 Tăng trưởng về khối lượng của cá tra trong môi trường nước lợ 33

3.5 Mức độ phân đàn về chiều dài và khối lượng của 06 đàn cá tra ở môi trường nước ngọt và nước lợ 37

3.6 Tỷ lệ sống của cá tra ở môi trường nước ngọt và lợ 39

CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 41

4.1 Kết luận 41

4.2 Đề xuất 41 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

RIA2 Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 2

AF Trại nuôi thương phẩm (Farm)

Dự án ICI-2

Dự án Nâng cao năng lực chọn giống thủy sản ở Việt Nam- Thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững pha 2

ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long

NTTS Nuôi trồng thủy sản

KHNN Khoa học nông nghiệp

Mean, TB Giá trị trung bình

ha Hecta (đơn vị đo diện tích)

BĐKH Biến đổi khí hậu

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Sơ đồ lai giữa các dòng cá tra 19 Bảng 3.1 Kết quả theo dõi ôxy và pH trong ao nuôi 25 Bảng 3.2 Biến động số lượng cá sau bắn dấu và nuôi tăng trưởng 29 Bảng 3.3 Tăng trưởng về chiều dài của 06 quần đàn cá tra trong môi trường nước ngọt 30 Bảng 3.4 Tăng trưởng về khối lượng của 06 quần đàn cá tra trong môi trường nước lợ 31 Bảng 3.5 Tăng trưởng khối lượng của 06 quần đàn cá tra trong môi trường nước ngọt 32 Bảng 3.6 Tăng trưởng khối lượng của 06 quần đàn cá tra trong môi trường nước

lợ 33 Bảng 3.7 Tỷ lệ sống của cá tra trong môi trường nước ngọt và lợ (%) 40

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Cá tra Pangasianodon hypophthalmus (Sauvage, 1878) 3

Hình 2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 18

Hình 2.2 Ương nuôi theo gia đình trong giai 20

Hình 2.3 Đánh dấu PIT-Tags trên cá tra 21

Hình 3.1 Diễn biến nhiệt độ nước ao nuôi qua các tháng 26

Hình 3.2 Tỷ lệ phân đàn về chiều dài của 6 quần đàn cá tra trong môi trường nước ngọt và nước lợ 37

Hình 3.3 Tỷ lệ phân đàn về khối lượng của 6 quần đàn cá tra trong môi trường nước ngọt và nước lợ 38

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Cá tra (Pangasianodon hypophthalmus, Sauvage, 1878) là loài cá da trơn nước ngọt có thể nuôi với mật độ cao và có hiệu quả kinh tế lớn Chúng có phân bố tự nhiên tại Việt Nam, Thái Lan, Campuchia…Ở nước ta, cá tra được nuôi phổ biến tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt là một số tỉnh như Đồng Tháp, An Giang, Tiền Giang… Hiện tại, cá tra là đối tượng có sản lượng xuất khẩu lớn nhất trong các loài cá nước ngọt của nước ta với nhiều mặt hàng chế biến phong phú, đa dạng được xuất khẩu sang nhiều nước và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới

Những năm gần đây, quá trình xâm lấn mặn đã đe dọa cả trăm ngàn hecta (ha) đất nông nghiệp, nhiều vùng nuôi thủy sản nước ngọt bị ảnh hưởng và có nguy cơ bị xóa sổ, gây tổn thất và thiệt hại trực tiếp đến thu nhập và sinh kế của người dân Một trong các giải pháp trọng yếu trong quy hoạch đó là đẩy mạnh công tác hợp tác nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật trong chọn tạo các giống cây trồng, vật nuôi có khả năng thích ứng, phù hợp nuôi trồng trong môi trường nước lợ Đánh giá và định hướng hình thành quần đàn ban đầu là bước quan trọng và tiên quyết để chọn tạo giống vật nuôi nói chung và cá tra nói riêng có khả năng tăng trưởng nhanh và có tỷ lệ sống cao

phù hợp với điều kiện nuôi nước lợ Trên cơ sở đó, tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Đánh

giá tăng trưởng và tỷ lệ sống của một số quần đàn cá tra Pangasianodon hypophthalmus (Sauvage, 1878) chọn giống tại miền Bắc Việt Nam”

Mục tiêu của đề tài là so sánh tăng trưởng và tỷ lệ sống của 06 quần đàn cá tra trong môi trường nước ngọt và nước lợ nhằm định hướng chọn giống cá tra tăng trưởng nhanh trong vùng nước lợ ứng phó với biến đổi khí hậu

Cá được sử dụng trong thí nghiệm là cá tra của ba dòng: (i) dòng cá tra RIA2 là dòng cá tra chọn giống theo tính trạng tăng trưởng trong điều kiện nước ngọt của Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II; (ii) dòng cá tra MK là dòng cá tra được

hình thành thông qua được thu thập từ Sông Mê Kông và (iii) dòng cá tra AF là dòng

cá mà cá bố mẹ được hình thành thông qua việc thu thập từ các ao nuôi thương phẩm trong tỉnh An Giang Từ 3 dòng cá tra tạo nên 6 tổ hợp lai, mỗi tổ hợp lai cho sản xuất 20 gia đình, như vậy ta có 120 gia đình Con lai của 120 gia đình sẽ được ương nuôi riêng rẽ trong các giai 6m2 đến kích cỡ đánh dấu (30 – 50 gam/con) Mỗi gia

Trang 11

đình chọn ngẫu nhiên 50 cá thể để đánh dấu, sau đó chia làm hai nửa mang nuôi ở hai môi trường nước ngọt và nước lợ trong thời gian 5 tháng để đánh giá tăng trưởng

và tỷ lệ sống

Trong các quần đàn cá tra thí nghiệm, quần đàn cá tra chọn giống của Viện nuôi trồng thủy sản 2 (♂RIA2 × ♀RIA2) có tăng trưởng nhanh và tỷ lệ sống cao nhất trong môi trường nuôi nước ngọt (p < 0,05)

Trong môi trường nước lợ (10 - 12‰), tăng trưởng của quần đàn cá tra chọn giống của Viện nuôi trồng thủy sản 2 (♂RIA2 × ♀RIA2) là nhanh nhất (p < 0,05) Tỷ

lệ sống của quần đàn này trong môi trường nước lợ cũng cao hơn so với các quần đàn còn lại (đạt 92,79 %)

So sánh giữa hai môi trường thí nghiệm, tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá tra trong môi trường nước ngọt cao hơn so với môi trường nước lợ

Quần đàn cá tra chọn giống của Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 2 (RIA2) với phả hệ đầy đủ được ưu tiên lựa chọn làm vật liệu chính cho chương trình chọn giống theo tính trạng tăng trưởng nhanh và nâng cao tỷ lệ sống trong môi trường nước lợ (10 - 12‰) nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu Cá tra có nguồn gốc

từ tự nhiên (MK) được sử dụng nhằm cải thiện mức độ đa dạng di truyền cho quần đàn cá tra chọn giống (RIA2)

Nên tiến hành chương trình chọn giống với nhiều tính trạng không chỉ tăng trưởng nhanh, tỷ lệ sống cao mà còn chịu mặn và các tính trạng khác như tỷ lệ phân đàn cũng như đánh giá tương quan giữa các tính trạng trong quá trình chọn giống

Từ khóa: Cá tra , tăng trưởng , tỷ lệ sống, nước lợ, nước ngọt

Trang 12

Nghề nuôi cá tra phát triển góp phần nâng cao thu nhập cho người nông dân,

đã thúc đẩy phát triển kinh tế của nhiều vùng miền, đặc biệt là ở khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long Nhiều vùng đất trước đó bỏ hoang hoặc trồng lúa không hiệu quả chuyển sang nuôi cá tra đều gặt hái được thành công Tuy nhiên, do tình hình biến đổi khí hậu diễn ra hết sức phức tạp và khó lường đặc biệt là hiện tượng triều cường, xâm lấn mặn làm cho nhiều vùng canh tác nước ngọt, vùng nuôi cá tra trước đây đã bị nhiễm mặn Những năm gần đây, quá trình xâm lấn mặn ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đã đe dọa cả trăm ngàn hecta (ha) đất nông nghiệp, nhiều vùng nuôi thủy sản nước ngọt bị ảnh hưởng và có nguy cơ bị xóa

sổ, gây tổn thất và thiệt hại trực tiếp đến thu nhập và sinh kế của người dân Nhằm ứng phó với hiện tượng xâm lấn mặn Thủ tướng Chính phủ đã xây dựng quy hoạch về phát triển thủy sản, thủy lợi vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long trong quyết định số 1379/QĐ-TTg giai đoạn 2012 – 2050 trong điều kiện biến đổi khí hậu (BĐKH) Một trong các giải pháp trọng yếu trong quy hoạch đó là đẩy mạnh công tác hợp tác nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật trong chọn tạo các giống cây trồng, vật nuôi có khả năng thích ứng, phù hợp nuôi trồng trong môi trường nước lợ Đánh giá và định hướng hình thành quần đàn ban đầu là bước quan trọng

và tiên quyết để chọn tạo giống vật nuôi nói chung và cá tra nói riêng có tăng trưởng nhanh và có tỷ lệ sống cao phù hợp với điều kiện nuôi nước lợ Trên cơ sở

đó, tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Đánh giá tăng trưởng và tỷ lệ sống của một số quần đàn cá tra Pangasianodon hypophthalmus (Sauvage, 1878) chọn giống tại miền Bắc Việt Nam”

Trang 13

* Mục tiêu

Đánh giá tăng trưởng và tỷ lệ sống của 6 quần đàn cá tra trong môi trường nước ngọt và nước lợ tại miền Bắc Việt Nam

* Nội dung nghiên cứu

+ Đánh giá tăng trưởng về chiều dài của 6 quần đàn cá tra trong môi trường nước ngọt và nước lợ tại miền Bắc Việt Nam

+ Đánh giá tăng trưởng về khối lượng của 6 quần đàn cá tra trong môi trường nước ngọt và nước lợ tại miền Bắc Việt Nam

+ Đánh giá tỷ lệ sống của 6 quần đàn cá tra trong môi trường nước ngọt và nước

lợ tại miền Bắc Việt Nam

* Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

+ Ý nghĩa khoa học: Cung cấp dữ liệu về tăng trưởng, tỷ lệ sống của các quần đàn cá tra khi nuôi tăng trưởng trong môi trường nước ngọt và nước lợ

+ Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả của đề tài sẽ làm cơ sở để hình thành quần đàn ban đầu phục vụ chọn giống cá tra theo tính trạng tăng trưởng nhanh và tỷ lệ sống cao trong vùng nước lợ (10-12‰) thích ứng với biến đổi khí hậu

Trang 14

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Đặc điểm sinh học của cá tra

1.1.1 Đặc điểm phân loại và hình thái

1.1.1.1 Hệ thống phân loại cá tra

Loài: Pangasianodon hypophthalmus (Sauvage, 1878)

Hình 1.1: Cá tra Pangasianodon hypophthalmus (Sauvage, 1878)

- Tên tiếng Việt: Cá tra

- Tên tiếng anh: Pangasius catfish, Striped catfish

Theo Mai Đình Yên (1992) cá tra được xếp vào họ Schilbeidae với tên khoa học

là Pangasius micronemus (Bleeker, 1847) [26] Có nhiều đồng danh được sử dụng cho

định loại cá tra, tuy nhiên theo tác giả Nguyễn Văn Thường (2008) thì tên loài

Pangasianodon hypophthalmus được nhiều tác giả sử dụng trong các báo cáo và trở

nên phổ biến cho đến nay [24]

Trang 15

1.1.1.2 Đặc điểm hình thái

Cá tra có kích thước tương đối lớn, cá tra trong tự nhiên có thể sống trên 20 năm

Ðã gặp cỡ cá trong tự nhiên 18 kg hoặc có mẫu cá dài tới 1,8 m Trong ao nuôi vỗ, cá

bố mẹ cho đẻ đạt tới 25 kg ở cá 10 năm tuổi, là loài cá da trơn không có vẩy, có thân dài, dẹp ngang, màu xám trắng, hơi xanh ở trên lưng, hai bên hông và bụng nhạt; đầu nhỏ vừa phải, mắt tương đối to, miệng rộng, có hai đôi râu dài Vây lưng và vây ngực

có gai cứng, có vây mỡ nhỏ Phần cuối đuôi vây hơi đỏ [26]

1.1.2 Đặc điểm phân bố, sinh thái

1.1.2.1 Đặc điểm phân bố

Cá tra phân bố rộng, xuất hiện hầu hết ở các khu vực tự nhiên của hệ thống sông Mekong như Việt Nam, Thái Lan, Lào và Campuchia Ở Việt Nam cá tra phân bố trên sông Tiền và sông Hậu, nhiều nhất ở vùng biên giới Việt Nam và Campuchia

Cá tra giống tự nhiên được vớt trên sông Tiền, sông Hậu thường được đưa về nuôi ở

ao [26] Do có tập tính di cư ngược dòng sông và tìm nơi sinh sản tự nhiên nên rất ít gặp cá tra trưởng thành trong tự nhiên ở địa phận Việt Nam Khảo sát chu kỳ di cư ở địa phận Campuchia cho thấy cá ngược dòng từ tháng 10 năm trước đến tháng 5 năm sau và di cư về hạ lưu từ tháng 5 đến tháng 9 hàng năm [1]

Theo Nguyễn Chung (2008), cá tra sống ở những vùng nước ấm, nhiệt độ thích hợp là 26 - 32 oC, cá sống ở tầng nước mặt và hoạt động ở cả tầng nước mặt, tầng giữa

và tầng đáy trong ao [1]

1.1.2.2 Đặc điểm sinh thái

Cá có cơ quan hô hấp phụ, có thể thở bằng bóng khí và da Cá tiêu hao oxy

và ngưỡng oxy rất thấp nên có thể sống được ở những nơi ao hồ chật hẹp, thiếu oxy, ở những nơi môi trường khắc nghiệt nước bị nhiễm bẩn, nhiễm phèn pH = 4 -

5 Cá chịu được nhiệt độ cao, nhưng dễ chết ở nhiệt độ thấp dưới 15oC [10]

1.1.3 Đặc điểm dinh dưỡng

Cá tra bột khi tiêu hết noãn hoàng thích ăn mồi sống, vì vậy chúng ăn thịt lẫn nhau ngay trong bể ấp và tiếp tục ăn nhau nếu không được cho ăn đầy đủ trong quá trình ương, thậm chí vẫn thấy chúng ăn nhau trong đáy vớt cá bột trên sông [26] Ngoài ra khi khảo sát đối với cá bột trên sông còn thấy trong dạ dày của chúng có rất

Trang 16

nhiều phần cơ thể và mắt cá con các loài cá khác Dạ dày của cá phình to hình chữ U

và co giãn được, ruột cá tra ngắn, không gấp khúc lên nhau mà dính vào màng treo ruột ngay dưới bóng khí và tuyến sinh dục Dạ dày to và ruột ngắn là đặc điểm của cá thiên về ăn thịt Ngay khi vừa hết noãn hoàng, đặc tính ăn thịt của cá thể hiện rõ và chúng ăn lẫn nhau, do đó để tránh hao hụt do ăn nhau trong bể ấp, cần nhanh chóng chuyển cá ra ao ương Trong quá trình ương nuôi thành cá giống trong ao, chúng ăn các loại phù du động vật có kích thước vừa cỡ miệng của chúng như moina, rotifer… và các thức ăn nhân tạo có kích thước nhỏ và mịn như bùn bã thực vật, bột

bã ngũ cốc [1] Khi cá lớn thể hiện tính ăn rộng, ăn đáy và ăn tạp thiên về động vật nhưng dễ chuyển đổi loại thức ăn Trong điều kiện thiếu thức ăn, cá có thể sử dụng các loại thức ăn bắt buộc khác như mùn bã hữu, thức ăn có nguồn gốc động vật [1, 26] Những kết quả nghiên cứu và thực nghiệm cho biết sau khi nở 60 - 62 giờ, cá tra

đã có răng, có khả năng bắt mồi nên chúng sẽ ăn lẫn nhau nếu giữ lâu trên bồn ấp với mật độ cao Tính hung dữ của cá tra giảm dần, sau khoảng 10 ngày tuổi thì khả năng sát hại nhau không đáng kể [8] Theo Hung Le Thanh (2002) thì tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá tra đạt cao nhất trong quá trình ương nuôi khi sử dụng thức ăn là moina

và trùn chỉ [36]

1.1.4 Đặc điểm sinh trưởng

Cá tra có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh, còn nhỏ cá tăng nhanh về chiều dài, cá bột mới nở có chiều dài trung bình 3,5mm - 4mm, lúc này khối noãn hoàng còn lớn, vây đuôi, vây hậu môn còn dính liền với nhau [1] Cá có 2 đôi râu, râu mép dài hơn chiều dài thân, mắt đen và lớn, trên thân chưa có sắc tố nên có màu trắng trong, miệng chưa cử động được Cá nở được 2 - 3 ngày có chiều dài trung bình là 5mm - 6,5mm Các vây vẫn được dính liền với nhau thành một dãy Răng đã xuất hiện Hàm

đã cử động được và bắt đầu sử dụng thức ăn bên ngoài Trên thân xuất hiện nhiều sắc

tố nên cá có màu xám trong Cá nở được 6 –10 ngày tuổi có chiều dài trung bình 9 - 20

mm Trên thân xuất hiện nhiều sắc tố đen Dải vây lưng và dải vây bụng đã xuất hiện vết lõm để hình thành vây lưng và vây bụng [1, 18]

Cá 2 tháng tuổi đã đạt chiều dài 10 - 12 cm (14 - 15 g/con) Cá từ khoảng 0,3 - 0,4kg/con thì tăng nhanh về chiều dài cũng như khối lượng, cá từ khoảng 2,5 kg trở đi mức tăng trọng nhanh hơn so với tăng chiều dài cơ thể và cá trên 10 năm tuổi tăng trọng rất ít Cá tra trong tự nhiên có thể sống trên 20 năm Trong thực tế, đã gặp những con cá

Trang 17

có chiều dài tới 1,8 m nặng 30 kg/con Tùy thuộc môi trường sống và sự cung cấp thức

ăn cũng như loại thức ăn có hàm lượng đạm nhiều hay ít mà tốc độ tăng trưởng nhanh hay chậm Ðộ béo Fulton của cá tăng dần theo khối lượng và nhanh nhất ở những năm đầu, cá đực thường có độ béo cao hơn cá cái và độ béo thường giảm đi khi vào mùa sinh sản [1] Cá tra lớn nhanh khi nuôi trong ao, sau 6 tháng cá đạt khối lượng 1- 1,2 kg/con, trong những năm sau lớn nhanh hơn Nuôi cá trong ao đất có thể đạt đến 25kg

ở 10 tuổi [10]

1.1.5 Đặc điểm sinh sản

Tuổi thành thục của cá tra đực là 2 tuổi và cá tra cái là 3 tuổi, khối lượng cá thành thục lần đầu từ 2,5 – 3,0 kg Cá tra không có cơ quan sinh dục phụ (sinh dục thứ cấp), nên nếu chỉ nhìn hình dáng bên ngoài thì khó phân biệt được cá đực, cái (ở thời kỳ thành thục, tuyến sinh dục ở cá đực phát triển lớn gọi là buồng tinh hay tinh sào, ở cá cái gọi là buồng trứng hay noãn sào) Tuyến sinh dục của cá tra bắt đầu phân biệt được đực cái từ giai đọan II tuy màu sắc chưa khác nhau nhiều Các giai đọan sau, buồng trứng tăng về kích thước, hạt trứng màu vàng, tinh sào có hình dạng phân nhánh, màu hồng chuyển dần sang màu trắng sữa Cá có tập tính bơi ngược dòng di cư tìm đến các bãi đẻ, nơi có điều kiện sinh thái phù hợp và có đầy đủ thức ăn tự nhiên cho quá trình thành thục và đẻ trứng [1]

Trong tự nhiên, mùa sinh sản của cá tra bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 7 hàng năm Người ta thường vớt cá tra bột trên sông vào khoảng tháng 5 âm lịch [10] Bãi đẻ của

cá nằm từ khu vực ngã tư tiếp giao giữa 2 con sông Mekong và Tonlesap, từ thị xã Kratie trở lên đến thác Khone, nơi giáp biên giới Campuchia và Lào, tập trung từ Kampi đến hết Koh Rongiev thuộc địa giới 2 tỉnh Kratie và Stung Treng Tại đây có thể bắt được những con cá tra nặng tới 15 kg với buồng trứng đã thành thục Cá đẻ

trứng dính vào giá thể, thường là rễ của loài cây sống ven sông Gimenila asiatica, sau

24 giờ thì trứng nở thành cá bột và trôi về hạ nguồn [1]

Năm 1966, Thái Lan đã bắt được cá tra thành thục trên sông (trong đầm BungBorapet) và kích thích sinh sản nhân tạo thành công Sau đó các nghiên cứu về nuôi vỗ cá tra trong ao được tiến hành Đến năm 1972, Thái Lan công bố quy trình sinh sản nhân tạo cá tra với phương pháp nuôi vỗ cá bố mẹ thành thục trong ao đất Sức sinh sản tuyệt đối của cá tra từ vài trăm ngàn đến vài triệu trứng Sức sinh sản tương đối có

Trang 18

có đường kính 1,1 - 1,3 mm, sau khi đẻ ra và trương nước, đường kính trứng có thể tới 1,5 - 1,6 mm Cá bột sau khi tiêu hết noãn hoàng có chiều dài 1,3 - 1,6 mm Trong sinh sản nhân tạo, có thể nuôi thành thục sớm và cho đẻ sớm hơn trong tự nhiên (từ tháng 3 dương lịch hàng năm), cá tra có thể tái thành thục 1 - 3 lần trong một năm Hệ số thành thục của cá đực là 1 - 3% và ở cá cái có thể đạt tới 20% [1]

1.2 Tình hình nuôi cá tra và chất lượng con giống

1.2.1 Tình hình nuôi cá tra trên thế giới

Cá tra là loài có giá trị kinh tế cao, được nuôi phổ biến hầu hết ở các nước Đông Nam Á Trong khu vực hạ lưu sông Mêkong, cá tra trở thành đối tượng nuôi truyền thống của các nước Campuchia, Thái Lan do có nguồn cá tự nhiên phong phú

Ở Campuchia, tỷ lệ cá tra nuôi (P.hypophthalmus) chiếm 98% trong 3 loài thuộc

giống cá tra, chỉ có 2% là cá Basa và cá vồ đém, sản lượng cá tra nuôi chiếm một nửa của tổng sản lượng các loài cá nuôi Tại Thái Lan, trong 8 tỉnh nuôi cá nhiều nhất, có 50% số trại nuôi cá tra, đứng thứ 2 sau cá rô phi [24] Một số nước trong khu vực như Malaysia, Indonesia cũng đã nuôi cá tra có hiệu quả từ thập niên 70 - 80 của thế

kỷ XX Từ xưa, ở Thái Lan và Campuchia, cá tra (P hypophthalmus) được nuôi

trong ao và bè nổi bằng tre Hệ thống nuôi này cũng được áp dụng nuôi cho một số loài cá da trơn ở Châu Âu và Mỹ Cá tra thường được biết với tên là Iridescent Shark, Sutchi ở Thái Lan hay Pla Sawai, Patin ở Malaysia [36]

Nuôi cá tra đã được mở rộng ra các nước Nam Á như Bangladesh, Ấn Độ và thậm chí cả các nước châu Phi như Nigeria Cá tra lần đầu tiên nuôi ở Ấn Độ vào năm 1997 ở bang West Bengal với quy mô nhỏ [36] Vì cá tra có tốc độ tăng trưởng nhanh nên sau đó đã được mở rộng ra nhiều bang của Ấn Độ, đặc biệt là bang Andhra Pradesh, West Bengal, Kerala, Orissa và được nuôi dưới hai hình thức là nuôi đơn và nuôi ghép với sản lượng lên đến 700 - 800 ngàn tấn/năm Hình thức nuôi

cá tra trong ao đất ở Ấn Độ đang bị thu hẹp và đang chuyển sang nuôi trong lồng vì

mô hình nuôi lồng giải quyết được vấn đề như thức ăn bổ sung, nuôi được mật độ cao và dễ dàng sản xuất giống nhân tạo Trong những năm gần đây, cá tra Thái Lan

đã trở thành một trong những đối tượng kinh tế, có nhiều ưu điểm như cho năng suất

cao, chi phí sản xuất thấp Ngoài Bangladesh, ba loài cá da trơn quan trọng là P

Trang 19

hypophthalmus, P larnaudi và P sanirwangsei cũng được nuôi ở Thái Lan,

Campuchia trong cả ao đất và trong lồng [36]

1.2.2 Tình hình nuôi cá tra và chất lượng con giống ở nước ta

Việt Nam là một trong 5 nước đứng đầu thế giới về sản lượng nuôi trồng thủy sản Sau nghề nuôi tôm thì nghề nuôi cá tra là một trong những nghề phát triển mạnh nhất trong thời gian qua đặc biệt ở vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) Do đây là loài cá bản địa ở nước ta nên thường được nuôi trong ao hoặc lồng bè [19] Theo ước tính năm 2006, nghề nuôi cá tra đã tạo công ăn việc làm cho khoảng 16 nghìn lao động Ở ĐBSCL, nghề nuôi cá tra hội nhập rất nhanh trong lĩnh vực nông nghiệp, vượt lên cả nghề trồng lúa Điều quan trọng là sản lượng nuôi cá tra hiện nay phần lớn là từ những nông hộ nhỏ Hầu hết sản phẩm cá tra nuôi được chế biến để xuất khẩu Vấn đề hiện nay là cần phát triển nghề này một cách bền vững và giảm thiểu ảnh hưởng xấu đến môi trường Nông dân ở vùng ĐBSCL đang nỗ lực sản xuất

để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về sản lượng cá tra Nếu không đáp ứng được nhu cầu này sẽ dễ dẫn đến tình trạng gián đoạn thị trường cũng như sự trì trệ hoạt động của các nhà máy chế biến thuỷ sản Gần đây giá cá tra đã lên đến mức 17.000- 21.000 đồng/kg, chứng tỏ tiềm năng lớn về giá trị kinh tế của loài cá này [15] Hiện nay, nghề nuôi cá tra đang mở rộng dần Tuy nhiên, các vấn đề về môi trường, kinh

tế, xã hội và thương mại sẽ có thể ảnh hưởng đến sự phát triển và sự bền vững của nghề này, đặc biệt là sự ảnh hưởng đến đời sống của các nông hộ nhỏ nếu không có biện pháp cải thiện phương pháp nuôi và quản lý Đồng thời với phát triển của nghề nuôi cá tra ở ĐBSCL, cần để ý rằng những rủi ro làm giảm năng suất nuôi cũng như ảnh hưởng đến sự bền vững của nghề nuôi có thể tăng lên đáng kể nếu như các biện pháp nuôi tốt không được phát triển và áp dụng rộng rãi Hiện nay cũng có những hạn chế trong kỹ năng phát triển các biện pháp nuôi tốt, đặc biệt là trong việc đưa ra chính sách Những kỹ năng này cần được nâng cao cho những người làm chính sách trong nuôi trồng thuỷ sản [29]

Từ năm 2000 đến nay, các mô hình nuôi tốt được thử nghiệm và thực hiện như SQF 1000 & 2000, EuroGAP, BMPs, liên hiệp cá sạch của các nhà máy chế biến và liên kết của họ đã cho kết quả rất khả quan Tuy nhiên, việc mở rộng và áp dụng các

mô hình này còn nhiều hạn chế và chưa phù hợp [29]

Trang 20

Mặc dù vậy, từ khi nước ta mở rộng xuất khẩu và sản phẩm cá tra đã tìm được thị trường thì nghề nuôi cá tra như bước sang một trang mới Cùng với thành công trong sản xuất giống cá tra nhân tạo, nghề nuôi cá tra trong bè cũng như trong ao phát triển mạnh mẽ, sản lượng cá bột tăng lên đột biến trong 3 năm trở lại đây Cá tra đã trở thành đối tượng xuất khẩu với nhiều mặt hàng chế biến đa dạng, phong phú và được xuất sang hàng chục nước và vùng lãnh thổ Nhưng nhu cầu thực phẩm trong nước vẫn đang là một thị trường vô cùng rộng lớn mà chúng ta bỏ ngỏ, chưa quan tâm đúng mức Cá tra hiện đang có sản lượng xuất khẩu nhiều nhất trong các loài cá nuôi nước ngọt [29]

Sự phát triển nghề nuôi cá tra đã đặt ra nhiều vấn đề như thiếu con giống chất lượng cao, khó quản lý được chất lượng sản phẩm đầu ra và kéo theo nhiều vấn đề về môi trường Do nhu cầu rất lớn về con giống nên các cơ sở sản xuất chỉ tập trung quan tâm đến sản lượng cá bột mà ít chú ý đến chất lượng cá bột và cá giống Trong các năm 1998 - 2000, sức sinh sản của đàn cá tra bố mẹ rất thấp và năng suất cá bột cũng kém Ở tỉnh Đồng Tháp, năm 1999 với 12 tấn cá tra bố mẹ cho đẻ được 350 triệu cá bột, đến năm 2000 khối lượng cá bố mẹ đã lên đến 102,5 tấn (tăng gấp 8,5 lần) nhưng sản lượng cá bột chỉ tăng 2,1 lần Nhiều hộ nuôi cá bố mẹ với mật độ quá dầy (từ 5 - 7 kg/m3) nên chỉ có từ 30-40% số cá thành thục và tỷ lệ cá đẻ cũng chỉ đạt khoảng 50% Trong các năm 2001 - 2003 và 2006 – 2008, do nuôi quá nhiều cá bố mẹ nên đã có nhiều đàn cá bố mẹ gần như bị bỏ quên không tham gia sinh sản do không tiêu thụ được cá bột Trong các năm 2001 – 2003 chỉ có từ 30 - 40% số cá thành thục và tỷ lệ

cá đẻ cũng chỉ đạt khoảng 50% Năm 2007, theo ước tính số lượng cá bố mẹ có trên 148.000 con với sản lượng cá bột ước tính khoảng 17 tỷ con nên chỉ có từ 30 - 40% số

cá thành thục và tỷ lệ cá đẻ cũng chỉ đạt khoảng 50%, chủ yếu vẫn ở hai tỉnh An Giang

và Đồng Tháp [19]

Mặc dù tiêu chuẩn ngành về sản xuất giống cá tra được ban hành năm 2004 (28 TCN 211) nhưng việc áp dụng chưa rộng rãi và kiểm tra thực hiện chưa chặt chẽ Ở một số tỉnh phát triển mạnh sản xuất giống loài này như An Giang và Đồng Tháp, Chi cục Bảo vệ Nguồn lợi Thủy sản đã có một số qui định về cấp giấy phép hành nghề cho các cơ sở có điều kiện sản xuất về ao hồ, bố mẹ và kỹ thuật Mặc dù vậy chất lượng giống cá tra vẫn chưa được cải thiện Nguyên nhân của tình trạng trên là do các cơ sở sản xuất, kinh doanh giống và người nuôi chưa nhận thức được hết tầm quan trọng của

Trang 21

việc quản lý chất lượng và chưa có trạm kiểm dịch giống cá tra ở các tuyến giáp ranh giữa các tỉnh Hệ thống kiểm dịch con giống trước khi xuất bán và đưa vào lưu thông chưa phát huy hết hiệu lực (mới chỉ kiểm tra được 5% trên tổng sản lượng giống) Tính đến thời điểm hiện tại, tỉnh An Giang thực hiện đăng ký chất lượng con giống nhiều nhất [19]

Từ năm 2001 trở về trước năng suất cá tra đạt trung bình 40%, hiện nay xuống còn 10-15% Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng con giống như cá

bố mẹ có nguồn gốc không rõ ràng và không được tuyển chọn, kích thước cá bố

mẹ nhỏ, kỹ thuật nuôi vỗ thành thục chưa đạt (thức ăn, mật độ, thay nước,…), đẻ

ép, khai thác quá mức do đẻ nhiều lần trong năm, cạnh tranh không lành mạnh giữa các nhà sản xuất Kỹ thuật ương chưa đảm bảo do ao hồ nhỏ, ít thay nước, lạm dụng thuốc và hóa chất và chưa thật sự được người nuôi chấp nhận do giá cá thịt thành phẩm thấp [29]

Tỉnh An Giang đã có một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giống cá tra, tuy nhiên cần thời gian để đánh giá hiệu quả của việc áp dụng Về kỹ thuật, tỉnh đã bắt đầu áp dụng phương pháp quản lý đàn cá bố mẹ bằng dấu từ CWT, số PIT_Tags, tiến hành trao đổi và lai ghép đàn cá bố mẹ, tập huấn chuyển giao kỹ thuật và xây dựng các

vệ tinh sản xuất giống có chất lượng tốt cùng với trại giống của Trung tâm Khuyến ngư và giống thủy sản Về quản lý, tỉnh đã thực hiện việc đăng ký chất lượng và thực hiện thử nghiệm mô hình liên kết giữa sản xuất giống, nuôi thương phẩm và xí nghiệp chế biến xuất khẩu [29]

1.3 Tình hình nghiên cứu về di truyền và chọn giống cá

1.3.1 Một số nghiên cứu về chọn giống cá trên thế giới

Một số chương trình chọn giống đã triển khai và áp dụng trên thế giới như chọn

giống cá hồi Đại Tây Dương (Salmo salar) và cá hồi vân (Oncorhynchus mykiss) ở Uy; cá hồi vân ở phần lan và Đan Mạch; cá tuyết (Gadus morhua) ở Na-Uy; cá rô phi (Oreochromis niloticus) ở Phillipines, Malaysia, Hà Lan, Malawi, Trung Quốc; cá chép (Cyprinus carpio), cá rô-hu (Labeo rohita) ở Ấn Độ; tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus

Na-vannamei) ở Mỹ và Columbia; tôm sú (Penaeus monodon) ở Ấn Độ, hầu Thái Bình

Dương (Crassostrea gigas) ở Úc; cá chẽm ( Lates calcarifer) ở Châu Âu; cá mè vinh (Barbonymus gonionotus) ở Bangladesh và một số đối tượng khác [19]

Trang 22

Các tính trạng bao gồm trong mục tiêu chọn giống là tăng trưởng , tỷ lệ philê, màu sắc thịt, FCR, kháng bệnh, chịu mặn, thành thục sớm và một số chỉ tiêu khác Tính trạng tỷ lệ philê là tính trạng khó cải thiện thông qua chọn lọc Hệ số di truyền thường thấp và muốn có số liệu của tính trạng này cần phải giết mổ cá và như vậy hiệu quả chọn lọc bị giảm do chúng ta chỉ có thể chọn được trên anh em của chúng Một trong những phương pháp nâng cao hiệu quả chọn lọc là là tìm ra phương pháp đo đạt tính trạng này với sai số thấp nhất vì giết mổ cá và philê vẫn còn sai số nhiều giữa các

cá thể cho một người philê Biến dị di truyền của quần đàn chọn giống được bảo đảm bằng cách thành lập quần đàn tổng hợp từ nhiều quần đàn hay nhóm cá khác nhau Đây là chiến lược mà các chương trình chọn giống thành công trên thế giới đã áp dụng

cho cá nheo mỹ (Ictalurus punctatus), cá hồi Đại Tây Dương và cá hồi nước ngọt ở

Na Uy, cá rô phi ở Philippines, cá rô-hu ở Ấn Độ, tôm thẻ chân trắng và cá mè vinh Chương trình chọn giống cá hồi Đại Tây Dương bắt đầu với vật liệu được thu thập từ

41 sông khác nhau ở Na Uy và trên cá rô phi từ 8 dòng cá từ nhiều nước khác nhau ở châu Phi và châu Á Phương pháp chọn giống hiện tại đang sử dụng phổ biến trên thế giới đó là chọn lọc cá thể, chọn lọc gia đình và chọn lọc kết hợp giữa gia đình và cá thể [19]

Hiệu quả chọn lọc một số tính trạng trên một số đối tượng đạt kết quả khá cao như tăng trưởng tăng 12-20% qua 1-2 thế hệ trên cá nheo Mỹ, tăng trưởng tăng 11% mỗi thế

hệ, tỷ lệ thành thục sớm giảm 20% mỗi thế hệ trên cá hồi, tăng 60% khối lượng và tăng 40% tỷ lệ sống trên cá rô phi thông qua chương trình “nâng cao chất lượng di truyền – GIFT” ở Philippines Các tính trạng số lượng thường có mối quan hệ di truyền với nhau Mối tương quan di truyền thuận được tìm thấy trên cá hồi Đại Tây Dương giữa tính trạng tăng trưởng và hệ số chuyển đổi thức ăn Sau 4 thế hệ chọn lọc tăng tốc độ tăng trưởng đã làm giảm hệ số chuyển đổi thức ăn từ 1,08 xuống còn 0,86 Biến dị kiểu hình của tính trạng tỷ lệ philê trên cá hồi (Trout) thấp 2,8% nhưng hệ số di truyền trên đối tượng này tương đối cao 0,33 và mối tương quan di truyền với tính trạng tăng trưởng ở

mức trung bình 0,29-0,47, cao 0,75-0,77, rất cao trên cá hồi (Coho salmon), 0,97 và rất

cao với tính trạng tỷ lệ thịt trên cá hồi (Trout) 0.94 Chương trình chọn giống trên cá hồi bắt đầu bao gồm tính trạng tỷ lệ philê năm 2004 và hiệu quả chọn giống dự đoán tăng khoảng 1,5% mỗi thế hệ Theo Rutten (2005), hệ số di truyền tính trạng tỷ lệ philê trên

cá rô phi là 0,12 Chương trình chọn giống trên giáp xác cũng đã bắt đầu Chương trình

Trang 23

chọn giống kháng bệnh trên tôm he chân trắng cho kết quả tốt, tăng 18,4% khả năng kháng bệnh Taura Syndrome Virus và chương trình chọn giống trên tôm sú ở Ấn Độ đã triển khai vào đầu năm 2004 Các đối tượng sau khi chọn giống được đưa vào nuôi tỷ lệ cao, chiếm khoảng 65% [29]

1.3.2 Tình hình nghiên cứu về di truyền và chọn giống cá ở nước ta

1.3.2.1 Một số nghiên cứu về di truyền và chọn giống cá ở nước ta

Đánh giá hiệu quả phép lai thuận nghịch hai loài cá mè trắng

Hypophthalmichthys harmandi và H molitrix cho thấy con lai giữa ♀ H harmandix

♂ H molitrix cho tốc độ tăng trưởng tốt hơn nhiều so với con lai ♂H harmandi x ♀

H molitrix [29]

Nghiên cứu tính biến dị của 8 dòng cá chép (Cyprinus carpio) bản địa được tiến

hành ở miền Bắc Việt Nam năm 1983 cho kết quả dòng cá chép trắng là dòng cá phổ biến nhất ở miền Bắc và cũng là dòng có tính biến dị cao nhất Nhưng qua thực tiễn sản xuất cá chép trắng và các dòng cá chép bản địa lại tăng trưởng chậm và thành thục sớm Đây chính là cơ sở để Viện Nghiên cứu Nuôi trồngTS I tiến hành các nghiên cứu

về lai trong loài để xác định ưu thế lai trên cá chép Công trình trên được tiến hành vào các năm 1974-1976 Kết quả nghiên cứu của công trình này cho thấy thế hệ F1 của việc lai dòng cá chép trắng Việt Nam và dòng cá Hungary cho đặc tính vượt trội so với

bố mẹ của chúng như tỷ lệ sống cao, tăng trưởng nhanh và ngoại hình đẹp [29]

Chương trình nâng cao chất lượng di truyền bằng chọn lọc cá thể đã được thực hiện trên cá chép ở miền Bắc Việt Nam vào năm 1985 thông qua chương trình chọn giống cá chép về tính trạng tăng trưởng với kỹ thuật chọn lọc cá thể đã xác định hệ số

di truyền 0,2 - 0,29 Hiện nay đã chuyển qua chọn lọc gia đình tại Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I Ở chương trình này, quần đàn cho chọn giống cũng được thành lập trên cơ sở các dòng cá chép Việt, Hung và Indo

Chương trình chọn giống cá rô phi GIFT được Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy

sản II triển khai và tạo được đàn cá rô phi (O niloticus) có tăng trưởng tăng 16,6% qua 2 thế hệ bằng phương pháp chọc lọc gia đình Chọn giống cá mè vinh (B

gonionotus) bằng đánh giá các dòng cá mè vinh có nguồn gốc khác nhau từ Sông Cửu

Long và Sông Đồng Nai và chọn lọc tạo quần đàn ban đầu cho chọn giống Chọn

giống rô phi GIFT được tiếp tục và chọn giống tôm càng xanh (Macrobrachium

Trang 24

rosenbergii) được bắt đầu tại Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II bằng nguồn

kinh phí của Trung tâm Thủy sản thế giới Chọn giống cá rô phi NOVIT4 vẫn tiếp tục được Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I

1.3.2.2 Một số nghiên cứu về di truyền và chọn giống trên cá tra

Nghiên cứu sinh sản nhân tạo cá tra được bắt đầu từ năm 1978 với sự tham gia của nhiều Viện nghiên cứu và Trường Đại học trong khu vực (Đại học Nông Lâm, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy Sản II, Đại học Cần Thơ, tổ chức CIRAD của Pháp) Từ năm 2001 đến 2004, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy Sản II đã thực hiện chương trình chọn giống về tính trạng tăng trưởng bằng phương pháp chọn lọc cá thể Ba quần đàn cá phục vụ chọn giống đã được hình thành Hiệu quả chọn lọc thực tế cùng các thông số di truyền đã được tính toán trong năm 2006 – 2008 Hệ số chọn lọc thực tế cho tính trạng tăng trưởng ở thế hệ thứ nhất đạt 12,4% Hiệu quả chọn lọc ước tính đối với tính trạng nâng cao tỷ lệ phi lê là 1%.8 Cũng thông qua chương trình này, các nghiên cứu thăm dò

về sinh học phân tử nhằm đánh giá biến dị di truyền của cá tra cũng đã được tiến hành

Kỹ thuật microsatellite với 10 primer đặc hiệu cho cá tra ở đồng bằng Sông Cửu Long được phát triển bởi BIOTEC - Thái Lan để đánh giá biến dị cá đã được thực hiện trong năm 2004 Các primer đều cho kết quả đa hình, đặc biệt primer 10 cho kết quả đa hình rất cao Kết quả này mở ra triển vọng sử dụng những primer để đánh giá biến dị di truyền và tìm ra chỉ thị liên kết với tính trạng có ý nghĩa về mặt kinh tế [19]

Đề tài ‘‘Nghiên cứu kỹ thuật nuôi cá tra thương phẩm đạt tiêu chuẩn thịt trắng phục vụ xuất khẩu (2001 - 2003)” với kết quả nghiên cứu cho thấy bằng cách áp dụng sục khí đáy kết hợp thay nước có kiểm soát để quản lý tốt môi trường nước ao nuôi có thể đạt tỷ lệ cá có thịt trắng trên 70% mà chi phí sản xuất không cao hơn so với phương pháp nuôi cá thay nước thông thường Tiếp theo kết quả này một dự án sản xuất thử “Nuôi cá tra thâm canh đạt tiêu chuẩn xuất khẩu và giảm ô nhiễm môi trường” được thực hiện bởi Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II năm 2006 - 2007

Dự án ‘‘Thử nghiệm mô hình nuôi cá tra thương phẩm phục vụ xuất khẩu và hạn chế ô nhiễm môi trường, 2007 - 2008’’ với mục tiêu tạo ra sản phẩm cá tra thịt trắng và hồng trên 80% và góp phần phát triển bền vững nghề nuôi cá tra Kết quả dự án là năng suất nuôi đạt 315 tấn/ha, tỷ lệ sống đạt 85 - 90%, sản phẩm cá thịt trắng và trắng hồng đạt 80-91%, hệ số chuyển đổi thức ăn 1,49 - 1,60 Chương trình chọn giống cá tra theo tính trạng tăng trưởng áp dụng phương pháp chọn lọc gia đình được Viện Nghiên cứu

Trang 25

Nuôi trồng Thủy sản II thực hiện từ năm 2001 đến năm 2004 Ba quần đàn gốc cho chọn giống năm 2001, 2002 (chọn theo tăng trưởng) và 2003 (chọn theo tỷ lệ philê) đã được hình thành Hiệu quả của chọn lọc ước tính (21%) và thực tế (12,4%) đã được phân tích và tính toán trong khuôn khổ đề tài cấp Bộ “Chọn giống cá tra

(Pangasianodon hypophthalmus) nhằm tăng tỷ lệ phi lê bằng chọn lọc gia đình” Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy tương quan di truyền cao (r g = 0,96) giữa khối lượng phi

lê và khối lượng cá vì vậy chọn giống cá tra theo tính trạng tăng trưởng cũng sẽ nâng cao được khối lượng phi lê [19]

Đến nay, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II đã cung cấp 101.000 con cá tra bố mẹ chọn giống thế hệ thứ 3, tuy nhiên trong quá trình lưu giữ và phát triển ở các Trại giống, việc quản lý còn chưa được quan tâm nên tỷ lệ hao hụt và thất thoát cao lên đến 22% [10] Để chương trình chọn giống đạt được kết quả cao thì khâu định hướng hình thành quần đàn ban đầu thông qua đánh giá các nguồn vật liệu là hết sức quan trọng [19; 23]

Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II còn kết hợp với Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I và Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III lưu giữ và chuyển đổi đàn cá bố mẹ Chọn lọc, đánh giá tính thích ứng của cá tra khi di giống ra các địa phương miền Bắc, miền Trung Phát triển công nghệ sản xuất giống, công nghệ nuôi thương phẩm phù hợp với các mô hình nuôi của từng vùng [29]

Nhìn chung, trong những năm vừa qua đối tượng cá tra đã nhận được sự quan tâm, đầu tư lớn từ phía Nhà nước, Bộ Thủy Sản nay là Tổng cục Thủy sản và các tổ chức nước ngoài Các hướng nghiên cứu chính tập trung vào nâng cao chất lượng con giống, quản lý môi trường, nghiên cứu về dinh dưỡng cùng các biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế mô hình nuôi nhằm ứng phó với những biến đổi khó lường của thiên nhiên Tuy nhiên, những kết quả đạt được vẫn chưa hoàn toàn đáp ứng được những yêu cầu của thực tiễn [29]

1.4 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến nghề nuôi cá tra ở Việt Nam và giải pháp ứng phó

Ngay từ những năm đầu của thế kỷ 21, nhiều nhà nghiên cứu đã sử dụng mô hình thủy lực và hệ thông tin địa lý (GIS) để mô phỏng các kịch bản nước biển dâng ở đồng bằng sông Cửu Long và đã kết luận rằng lũ lụt trong mùa mưa sẽ có đỉnh cao hơn và

Trang 26

kéo dài hơn trong khi xâm nhập mặn vào mùa khô sẽ lan rộng với độ mặn tăng [38, 43] Wassmann và ctv., [43] ước tính cao nhất có đến 60% diện tích trồng lúa ở đồng bằng sông Cửu Long bị ảnh hưởng do lũ lụt dâng cao trong mùa lũ theo các kịch bản nước biển dâng +20 cm và +45 cm Khang và ctv., [38] đã mô phỏng sự thay đổi lưu lượng và xâm nhập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long theo các kịch bản nước biển dâng +20 cm và +45 cm và từ đó ước tính diện tích trồng lúa bị ảnh hưởng do độ mặn tăng lần lượt là 200.000 ha và 400.000 ha Đối với nghề nuôi cá tra, các nghiên cứu [12, 31, 42] đã phân tích ở vùng ven biển, người nuôi gặp hiện tượng xâm nhập mặn tăng cao vào mùa khô nên các ao nuôi gần biển có sản lượng giảm sút Trong những tháng đầu năm 2011 ở Bến Tre, xâm nhập mặn kéo dài gây khó khăn cho việc cấp nước và thay nước cho ao nuôi cũng như dịch bệnh xảy ra nhiều

Theo báo cáo của Sở NN&PTNT Bến Tre [30] tỷ lệ hao hụt khá cao từ 10 - 15%

ở các ao cá có khối lượng dưới 100g/con và 5 - 10% ở ao cá có khối lượng 100 - 500g/con, đồng thời tốc độ tăng tưởng của cá có dấu hiệu chậm hơn so với cùng kỳ năm trước Kam và ctv., [37] đã nhận định rằng người nuôi cá tra vùng ven biển sẽ bị mất một nửa lợi nhuận vì ảnh hưởng của biến đổi khí hậu Trong khi đó, Trương Hoàng Minh và ctv., [12], Anh và ctv., [31] Thân Thị Hiền và ctv., [5], khẳng định rằng vùng nuôi cá tra tại các tỉnh như An Giang, Đồng Tháp và Cần Thơ bị ảnh hưởng nhiều bởi việc tăng các cơn lũ vào mùa mưa Trương Hoàng Minh và ctv., [12] nhận định người nuôi cá tra đã phải tăng chi phí đắp bờ đê bao khoảng 20 triệu VNĐ/ha để đối phó với mực nước sông dâng cao Anh và ctv., [31] dựa trên điều tra và phân tích thống kê đã khẳng định 75% người nuôi ở An Giang và Đồng Tháp đã bị giảm lợi nhuận khi bị những đợt lũ lớn bất thường Anh và ctv., [32] đã sử dụng mô hình MIKE

11 và kỹ thuật GIS để dự báo ảnh hưởng của 3 kịch bản nước biển dâng +30 cm, +50

cm và +75 cm đến các vùng nuôi cá tra (thời điểm năm 2009) ở đồng bằng sông Cửu Long Mức xâm nhập mặn tăng từ tháng 1 đến tháng 4 (mùa khô) ở tất cả các kịch bản nhưng vùng bị ảnh hưởng mở rộng nhiều khi nước biển dâng ở kịch bản +50cm và +75cm và mức độ mặn thấp

Để đối phó với xâm nhập mặn ảnh hưởng đến diện tích nuôi cá tra ở vùng ven biển đồng bằng sông Cửu Long, người nuôi cá tra đã tự thích ứng bằng cách điều chỉnh thời vụ, giảm mật độ thả, thả con giống lớn và cải tiến kỹ thuật nuôi [12, 31] Tùy thuộc vào tình hình xâm nhập mặn, người nuôi chủ động sản xuất 2 vụ/năm hay 3

Trang 27

vụ/2 năm và lùi ngày thả giống cũng như thu hoạch sớm để tránh những ngày độ mặn cao Theo Phan và ctv., [42] kích thước con giống cá tra khi thả biến thiên từ 1,5 cm đến 18 cm và mật độ thả cũng dao động từ 18 đến 125 con/m2, do đó tùy điều kiện cụ thể người nuôi sẽ chọn con giống có kích thước lớn và thả với mật độ thấp để rút ngắn thời gian nuôi và giảm thiểu rủi ro Bên cạnh đó, người nuôi đã dùng các biện pháp như thay nước hằng ngày khi chất lượng nước đảm bảo, sử dụng men vi sinh để cải thiện sức khỏe cá, dùng thức ăn chất lượng tốt hơn để cải thiện tốc độ tăng trưởng [12] De Silva và Phuong [33] đề xuất giải pháp phát triển cá tra có ngưỡng chịu mặn cao Nhiều nghiên cứu thực nghiệm về khả năng chịu mặn của cá tra đã được thực hiện

ở Đại học Cần Thơ và một số đơn vị nghiên cứu khác Nguyễn Chí Lâm và ctv., [9] nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn ở các mức 0, 3, 6, 9, 12 và 15‰ đến sự thay đổi lý sinh và tăng trưởng của các cá thể cá tra giống có khối lượng trung bình 25g Kết quả cho thấy cá có thể nuôi trong độ mặn 9‰ nhưng tốc độ tăng trưởng giảm rõ rệt Đỗ Thị Thanh Hương và Trần Nguyễn Thế Quyền [6] nghiên cứu ngưỡng độ mặn của trứng và ấu trùng cá tra và công bố rằng phôi cá tra có thể phát triển và nở trong nước

lợ độ mặn đến 11‰ Mặc dù các nghiên cứu mới ở quy mô nhỏ tuy nhiên kết quả đạt được là cơ sở nhằm đề xuất giải pháp thích ứng với xâm nhập mặn bằng việc phát triển giống cá tra có ngưỡng chịu mặn cao

Trang 28

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian và vật liệu nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: cá tra (Pangasianodon hypophthalmus, Sauvage, 1878)

- Địa điểm nghiên cứu:

+ Trung tâm Quốc gia giống thủy sản nước ngọt miền Bắc - Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I Địa chỉ: xã Thạch Khôi - TP Hải Dương - tỉnh Hải Dương + Trạm Thực nghiệm nuôi trồng thủy sản nước lợ - Viện Nghiên cứu Nuôi trồng

Thủy sản I Địa chỉ: xã Quý Kim –quận Dương Kinh - TP Hải Phòng

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 1/2015 tới tháng 08/2016

2.1.2 Vật liệu nghiên cứu

Vật liệu nghiên cứu trong đề tài này là cá tra của 06 quần đàn được tạo nên từ 03

dòng cá tra RIA2, MK, AF nằm trong dự án “Nâng cao năng lực chọn giống thủy sản

ở Việt Nam- Thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững” Đây là Dự án hợp

tác nghiên cứu Quốc tế giữa Việt Nam và Phần Lan được tài trợ bởi Bộ Ngoại giao, Đại Sứ Quán Phần Lan tại Việt Nam, thời gian thực hiện từ 01/2014 đến 12/2016 tại các đơn vị nghiên cứu thuộc Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản 1, cụ thể:

+ Dòng cá tra chọn giống (RIA2): Đây là dòng cá tra chọn giống theo tính trạng

tăng trưởng trong điều kiện nước ngọt của Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II (RIA2) và chuyển giao cho Công ty AFIEX An Giang năm 2012

+ Dòng cá tra tự nhiên (MK): Đây là dòng cá từ Sông Mê Kông được thu thập,

thuần hóa, lưu giữ và tái sản xuất quần đàn tại Công ty AFIEX An Giang

+ Dòng cá tra AF: Đây là quần đàn cá tra bố mẹ được hình thành thông qua

việc thu thập từ các ao nuôi thương phẩm trong tỉnh An Giang và lưu giữ, tái đàn tại Công ty AFIEX An Giang

Trang 29

2.2 Nội dung nghiên cứu

Các nội dung chính của đề tài được trình bày trong sơ đồ (hình 2.1) Từ 3.041 con cá tra có cỡ 154 – 158 g/con (đã được đánh dấu PIT_Tags) được nuôi tăng trưởng trong hai môi trường nước ngọt và nước lợ (S=10-12‰) Nguồn cá tra nói trên lấy từ kết quả ương nuôi cá bột của 120 gia đình thuộc 6 quần đàn cá tạo ra từ các tổ hợp lai của 3 dòng chọn giống RIA2, MK và AF (20 gia đình/tổ hợp lai) đến kích cỡ đánh dấu, sau khi đã nuôi lưu đông Thời gian nuôi tăng trưởng là 5 tháng nhằm:

+ Đánh giá tăng trưởng về chiều dài của 6 quần đàn cá tra trong môi trường nước ngọt và nước lợ tại miền Bắc Việt Nam

+ Đánh giá tăng trưởng về khối lượng của 6 quần đàn cá tra trong môi trường nước ngọt và nước lợ tại miền Bắc Việt Nam

+ Đánh giá tỷ lệ sống của 6 quần đàn cá tra trong môi trường nước ngọt và nước lợ tại miền Bắc Việt Nam

Hình 2.1 Sơ đồ nghiên cứu

Cá tra (từ 154 – 158 g/con) của 06 quần đàn đã đánh số PIT-Tag

Đánh giá tăng trưởng, tỷ lệ sống của một số quần đàn cá tra (Pangasianodon hypophthalmus Sauvage, 1878) chọn giống tại miền Bắc Việt Nam

Nuôi tăng trưởng trong môi trường

Trang 30

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Sản xuất và ương nuôi cá lên cỡ đánh dấu

2.3.1.1 Sản xuất các quần đàn cá tra

Cá tra được sản xuất tại Trại Chăn nuôi Vĩnh Khánh thuộc Công ty cổ phần xuất nhập khẩu nông sản thực phẩm An Giang (AFIEX An Giang) Từ ba dòng cá tra tạo ra 6 tổ hợp lai (06 quần đàn cá tra) theo bảng 2.1 Mỗi tổ hợp lai được tạo nên từ việc cho lai tạo riêng rẽ 20 gia đình (20 cặp bố mẹ), như vậy ta có 120 gia đình cá tra trong thí nghiệm

Bảng 2.1 Sơ đồ lai giữa các dòng cá tra

16 giờ Khi cho ăn quan sát hoạt động và khả năng bắt mồi của cá để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp

+ Chọn cá bố mẹ cho đẻ: Sau thời gian nuôi vỗ thành thục tiến hành lựa chọn cá

bố mẹ cho sinh sản nhân tạo sản xuất theo các gia đình Chọn cá bố mẹ khỏe mạnh, không hình xây xát, không dị Chọn các cá thể sẵn sàng tham gia sinh sản (thông qua quan sát bộ phận sinh dục phụ) nhằm rút ngắn thời gian sản xuất các gia đình Kỹ thuật sinh sản nhân tạo được áp dụng theo quy trình, tiêu chuẩn ngành ngành 28TCN211:

2004 (phụ lục 5)

Trang 31

2.3.1.2 Ương cá lên kích cỡ đánh dấu

+ Cá tra sau khi nở 30 - 35 giờ thì hết noãn hoàng, cá bắt đầu tìm kiếm thức

ăn bên ngoài Nếu thiếu thức ăn chúng có thể ăn lẫn nhau Vì vậy, sau khi nở 24 giờ

cá bột của từng gia đình sẽ được chuyển ra ương nuôi tại Trung tâm Quốc gia giống thủy sản nước ngọt miền Bắc – Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản I (20.000 cá bột/gia đình) Cá bột của từng gia đình được ương nuôi riêng rẽ trong các giai có kích thước 1,2 m x 1 m x 1 m (60 – 80 mắt lưới/cm2) Sau 15 ngày chuyển sang gia ương lớn hơn, 2 m x 3 m x 1.2 m Định kỳ 7 ngày thay giai một lần, tạo điều kiện thông thoáng cho môi trường trong và ngoài giai nuôi

Hình 2.2 Ương nuôi cá bột cá tra theo gia đình trong giai

+ Trong thời gian 15 ngày đầu, tiến hành cho ăn với thức ăn là lòng đỏ trứng, artemia mới nở Trong 15 ngày tiếp theo cho ăn cám công nghiệp dạng bột độ đạm 40% kết hợp với trùn chỉ Sau khoảng 40 ngày nuôi chuyển cá sang giai kích thước mắt lưới lớn hơn (20 – 30 mắt lưới/cm2) và cho ăn dần sang cám công nghiệp dạng hạt nhỏ 30 – 35 % protein Khẩu phần ăn bằng 10 – 25 % khối lượng thân Hai tuần thay giai một lần

Trang 32

2.3.2 Phương pháp đánh dấu

- Đánh dấu PIT_Tags (Passive Integrated Transponder)

- Sau thời gian ương khoảng 3 tháng, khi cá đạt kích kích cỡ 30 – 50 gam/cá thể thì tiến hành đánh dấu PIT_Tags (Passive Integrated Transponder) 6.000 cá thể (50 con/gia đình) Đánh dấu vào phần cơ lưng về cuối gốc vây lưng của cá

Hình 2.3 Đánh dấu PIT_Tags trên cá tra

2.3.3 Bố trí thí nghiệm

Sau khi đánh dấu PIT_Tags, cá của mỗi gia đình được chia ngẫu nhiên làm hai nhóm và đưa vào nuôi lưu đông trong các bể xi măng 50 m3 có mái che, với các điều kiện chăm sóc và quản lý như nhau, có hệ thống nâng nhiệt Thời gian lưu đông từ tháng

10 năm trước đến tháng 3 năm sau tại Trung tâm Quốc gia giống thủy sản nước ngọt miền Bắc Kết thúc thời gian lưu đông, cá được chia làm hai nhóm nuôi trong ao ở hai môi trường Bao gồm: môi trường nước ngọt tại Trung tâm Quốc gia giống thủy sản nước ngọt miền Bắc và môi trường nước lợ tại Trạm Thực nghiệm nuôi trồng thủy sản nước lợ - Trung tâm Quốc gia giống hải sản miền Bắc

Do sau khi đánh dấu một số cá bị chết nên khi nuôi tăng trưởng số cá của mỗi gia đình dao động trong khoảng 25 – 40 cá thể và đạt khối lượng từ 154 – 158 g/con

Trang 33

2.3.3.1 Nuôi tăng trưởng các quần đàn cá tra trong môi trường nước ngọt

- Chuẩn bị ao:

+ Diện tích ao nuôi: 700 m2/ao;

+ Độ sâu: 2 mét nước;

+ Mật độ nuôi: 2,2 con/m2;

- Thức ăn và quản lý cho ăn:

+Thức ăn dùng trong thí nghiệm là thức ăn C.P 30 - 35% protein

+ Khẩu phần ăn hàng ngày bằng 3 - 5% khối lượng thân

+ Mỗi ngày cho cá ăn 2 lần (9h và 16h) Khi cho ăn cần quan sát tính ăn của cá để

có thể điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp

+ Thường xuyên kiểm tra quan sát ao vào các buổi sáng sớm và chiều tối, phát hiện và xử lý kịp thời các hiện tượng bất thường trong ao

+ Khi thấy hiện tượng cá nổi đầu khác với bình thường, nhanh chóng xác định nguyên nhân để có biện pháp xử lý kịp thời

+ Ðể phòng bệnh cho cá và khử trùng nước ao, dùng các lọai chế phẩm vi sinh hoặc Iodine để xử lý và khử trùng nước ao nuôi

+ Định kỳ 10 ngày thay 15-20% nước trong ao và cấp bù nước mới

b Nuôi tăng trưởng các quần đàn cá tra trong môi trường nước lợ (10 - 12 0 / 00 )

- Điều kiện ao nuôi, mật độ thả, thức ăn, quản lý ao nuôi tương tự như nuôi tăng trưởng các quần đàn cá tra trong môi trường nước ngọt

Trang 34

- Độ mặn trong ao nước lợ được nâng dần từ (00/00) lên 10 – 120/00 trong vòng 10 ngày Ba ngày kểm tra độ mặn một lần để khống chế độ mặn dao động trong khoảng 10 – 12 0/00, bằng cách cấp thêm nước ngọt hoặc nước mặn

2.4 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu

2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu

- Khối lượng và chiều dài của cá được cân, đo trước khi thả nuôi tăng trưởng trong hai môi trường thí nghiệm bằng cân điện tử (độ chính xác ± 0,1g) Sau 5 tháng nuôi, cá được thu hoạch, cân khối lượng và đo chiều dài của từng cá thể với dấu PITtag tương ứng bằng hệ thống RUAFCO-DL2 (Phụ lục 1)

- Một số yếu tố môi trường được kiểm tra 2 lần mỗi ngày lúc 6 giờ và 15 giờ: Nhiệt độ, ôxy hòa tan được đo hàng ngày bằng máy đo cầm tay hiệu Extech của Mỹ,

do Đài Loan sản xuất (độ chính xác ± 0,1mg/l) Độ pH được đo bằng Testkit Sera của Đức

- Độ mặn được theo dõi 3 ngày một lần bằng khúc xạ kế hiệu ATAGO của Nhật, điều chỉnh độ mặn phù hợp với điều kiện thí nghiệm (10 – 120/00 )

2.4.2 Phương pháp xử lý số liệu

* Các công thức tính toán

- Tăng trưởng về khối lượng:

+ Tốc độ tăng trưởng tương đối (ADGW)

+ Tốc độ tăng trưởng đặc trưng (SGRW)

(2)

- Tăng trưởng về chiều dài:

+Tốc độ tăng trưởng tương đối (ADGL)

(3)

+ Tốc độ tăng trưởng đặc trưng (SGRL)

(4)

Trang 35

Trong đó: W1 - Khối lượng ban đầu (g);

W2 - Khối lượng cuối khi thu hoạch (g);

L1 - Chiều dài ban đầu (cm);

L2 - Chiều dài khi thu hoạch (cm);

T1 - Thời gian bắt đầu thả;

T2 - Thời gian thu hoạch

- Tỷ lệ sống (TLS)

(5) Trong đó: N0 - Số cá thả ra ao ban đầu

N1 - Số cá tại thời điểm kiểm tra

- Hệ số phân tán được tính theo công thức (Cv):

(6)Trong đó: Cv: là hệ số phân tán

SD: là độ lệch chuẩn của khối lượng hoặc chiều dài

X: là chiều dài hay khối lượng trung bình

Mức độ phân đàn được đánh giá dựa trên hệ số phân tán (Cv), đây là chỉ số phân tán tương đối đánh giá mức độ biến động bình quân trên một đơn vị độ lớn và tính bằng phần trăm

* Phần mền xử lý số liệu

Số liệu sau khi thu thập được nhập và xử lý thống kê mô tả bằng phần mềm Microsoft office 2007 (Microsoft Excel) Phân tích Turkey-Test (α=0,05) được sử dụng để so sánh sự sai khác về tăng trưởng của cá tra theo các tổ hợp lai, môi trường nuôi Đối với tỷ lệ sống, số liệu được chuyển đổi (arcsin) về phân phối chuẩn trước khi phân tích Phần mềm SPSS 20.0, so sánh T-test (α = 0,05) được sử dụng để phân tích số liệu về tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá tra trong thí nghiệm

Trang 36

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 Kết quả theo dõi một số yếu tố môi trường

3.1.1 Nhiệt độ

Qua quá trình theo dõi từ tháng 4 đến tháng 8/2016, nhiệt độ nước ao nuôi biến động từ 25oC và thời điểm nắng nóng kéo dài từ trung tuần tháng 5 đến đầu tháng 6, có ngày nhiệt độ môi trường nuôi lên tới 31,2oC Mức nhiệt trung bình tại nước ngọt biến động từ 25,8-31,2oC và tại vùng nước lợ là từ 25-30oC (Hình 3.1) Sai khác về nhiệt độ nước giữa hai môi trường nuôi không có ý nghĩa thống kê (p>0,05)

Nhiệt độ tối ưu cho cá tra tăng trưởng là khoảng 25-30oC, khi nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ tối ưu thì nhu cầu dinh dưỡng của cá sẽ bị ảnh hưởng dẫn tới tăng trưởng của

cá cũng bị ảnh hưởng ở những mức độ khác nhau [16] Trong nghiên cứu của Phan Vĩnh Thịnh và ctv., [22] về ảnh hưởng của nhiệt độ (24oC, 30oC, 32oC, 34oC và đối chứng 26-28 oC) lên sinh lý và tăng trưởng của cá tra giống có khối lượng 25-27g/con, kết quả cho thấy tăng trưởng của cá tra sau 56 ngày nuôi thí nghiệm giữa các nghiệm thức là khác nhau Tăng trọng của cá tra giống khi nuôi ở nhiệt độ 34oC là cao hơn so với các nghiệm thức còn lại (1,17g/ngày vs 0,71 – 0,96g/ngày) Ở nhiệt độ 24oC tăng trưởng của cá tra trong thí nghiệm là thấp nhất chỉ đạt 0,23g/ngày Kết quả nghiên cứu của tác giả Phan Vĩnh Thịnh và ctv., [22] cho thấy khi nhiệt độ càng tăng khả năng tăng trưởng của cá tra cũng tăng theo nhưng khi nhiệt độ cao đến 36oC thì tốc độ tăng trưởng của cá giảm Theo NRC [44] thì tăng trưởng của cá da trơn thuận lợi trong giới hạn nhiệt độ từ 27-32oC Tăng trưởng của cá cũng như khả năng bắt mồi và tiêu hóa sẽ tăng khi nhiệt độ môi trường tăng tuy nhiên nhiệt độ tối ưu ở từng loài cá khác nhau là khác nhau và khi nhiệt độ vượt ngưỡng tối tưu thì tăng trưởng cũng như khả năng tiêu hóa của cá lại giảm [39] Khi nhiệt dộ thấp, các enzyme tiêu hóa dễ bất hoạt, cá ít hoạt động hơn và nhu cầu thức ăn của cá da trơn thấp đi dẫn đến tăng trưởng chậm hơn Theo Trần Thị Thanh Hiền và Nguyễn Anh Tuấn [4] thì khi nhiệt độ giảm xuống 23oC mức độ tiêu hóa của cá da trơn sẽ giảm xuống còn 70%

Trong quá trình triển khai thí nghiệm, có thể nhận thấy biên độ dao động nhiệt độ môi trường ao nuôi ở miền Bắc là cao hơn trong khoảng tối ưu, tuy nhiên trong những thời điểm nhiệt độ cao, cá thí nghiệm trong các môi trường vẫn bắt mồi tương đối tốt

Trang 37

độ mặn ở các mức 0, 3, 6, 9, 12 và 15‰ đến sự thay đổi lý sinh và tăng trưởng của các

cá thể cá tra giống có khối lượng trung bình 25g Kết quả cho thấy có thể nuôi cá tra ở môi trường có độ mặn 9‰ nhưng tốc độ tăng trưởng giảm rõ rệt Đỗ Thi Thanh Hương và Trần Nguyễn Thế Quyền [6] nghiên cứu ngưỡng độ mặn của trứng và ấu trùng cá tra và công bố rằng phôi cá tra có thể phát triển và nở trong nước lợ độ mặn đến 11‰ Tuy nhiên, theo Nguyễn Loan Thảo và ctv., [21], cá tra giống có thể sống và tăng trưởng trong môi trường nuôi có độ mặn thấp từ 2 - 6‰ Tuy nhiên ở độ mặn cao hơn (> 6‰) thì cá tăng trưởng chậm và tỷ lệ sống giảm Tương tự, kết quả nghiên cứu của Nguyễn Trọng Hồng Phúc và ctv., [17] chỉ ra rằng nhiệt độ, độ mặn và tương tác của chúng có ảnh hưởng rõ rệt lên sự tăng trưởng, tốc độ tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của cá tra

Trang 38

3.1.3 Ôxy hòa tan và pH

Bảng 3.1 Kết quả theo dõi hàm lượng oxy hòa tan và pH trong ao nuôi

Chỉ tiêu

± 0,7 mg/l Theo Dương Thúy Yên [27] thì cá tra có khả năng sống được trong môi trường có hàm lượng oxy hòa tan < 2 mg/l Tương tự đối với pH, trong ao nước lợ chỉ

số pH dao động trong khoảng 7,5 - 8,1 trong khi đó pH trong ao nuôi cá tra nước ngọt dao động trong khoảng 7,3 - 7,9 Chỉ số pH trung bình trong suốt quá trình nuôi cá tra trong ao nước ngọt và ao nước lợ lần lượt là 7,8 ± 0,3 và 7,9 ± 0,4 Theo Nguyễn Thị Dung (2001) thì pH trong các ao nuôi thâm canh cá tra tại An Giang chỉ dao động từ 6,5 – 7,0 trong khi đó nghiên cứu của Nguyễn Bảo Ngọc [14] lại cho thấy pH trong các ao nuôi thâm canh cá tra thương dao đọng trong khoảng 7,2 - 8,12 Chỉ số pH có thể thay đổi tùy theo địa bàn từng tỉnh do điều kiện địa chất cũng như mức độ thâm canh và sử dụng thức ăn trong quá trình nuôi Theo Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về

cơ sở nuôi cá tra trong ao thì hàm lượng oxy hòa tan của ao nuôi cá tra phải > 2mg/l và

pH phải trong khoảng 7 - 9 Như vậy các yếu tố môi trường trong thí nghiệm hoàn toàn phù hợp cho quá trình sinh trưởng của cá tra

3.2 Kết quả đánh dấu cá

Kết quả số lượng cá gắn số PIT_Tags, số lượng cá còn sống sau lưu đông (số lượng cá thả nuôi sinh trưởng trong ao) và số cá thu hoạch khi kết thúc nuôi chung đánh

Ngày đăng: 02/04/2018, 23:46

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w