1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá hiệu quả kinh tế của các hộ dân trồng keo tại huyện nghĩa hành, tỉnh quảng ngãi

98 239 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn: “ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA CÁC HỘ DÂN TRỒNG KEO TẠI HUYỆN NGHĨA HÀNH, TỈNH QUẢNG NGÃI” là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

ĐỖ VĂN QUANG

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA CÁC HỘ DÂN TRỒNG KEO

TẠI HUYỆN NGHĨA HÀNH, TỈNH QUẢNG NGÃI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

KHÁNH HÒA - 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

ĐỖ VĂN QUANG

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA CÁC HỘ DÂN TRỒNG KEO

TẠI HUYỆN NGHĨA HÀNH, TỈNH QUẢNG NGÃI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn: “ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA CÁC HỘ

DÂN TRỒNG KEO TẠI HUYỆN NGHĨA HÀNH, TỈNH QUẢNG NGÃI” là công trình

nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác

Khánh Hòa, tháng 10 năm 2017

Tác giả luận văn

ĐỖ VĂN QUANG

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và viết luận văn này, tôi đã nhận được

sự giúp đỡ của quý phòng ban, quý thầy cô khoa Kinh tế, Phòng Đào tạo Sau Đại học trường Đại học Nha Trang đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi được hoàn thành đề tài Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giáo viên hướng dẫn của tôi, cô TS Phạm Thị Thanh Thủy, sự hướng dẫn tận tình của cô đã giúp tôi hoàn thành tốt đề tài

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến UBND xã Hành Nhân, UBND xã Hành Đức, UBND xã Hành Thiện, UBND xã Tín Đông, UBND xã Hành Minh, UBND huyện Nghĩa Hành, phòng Thống kê huyện Nghĩa Hành và Quý hộ nông dân huyện Nghĩa Hành đã quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thu thập thông tin, tài liệu phục vụ nghiên cứu

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình và tất cả bạn bè đã giúp đỡ, chia sẻ những khó khăn và động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Khánh Hòa, tháng 10 năm 2017

Tác giả luận văn

ĐỖ VĂN QUANG

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN iii

LỜI CẢM ƠN iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ix

DANH MỤC BẢNG xi

DANH MỤC HÌNH xii

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN xiii

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

2.1 Mục tiêu chung 2

2.2 Mục tiêu cụ thể 2

3 Câu hỏi nghiên cứu 2

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4.1 Đối tượng nghiên cứu 3

4.2 Phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

5.1 Phương pháp nghiên cứu định tính 3

5.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng 3

6 Đóng góp của đề tài 4

6.1 Về mặt lý luận 4

6.2 Về mặt thực tiễn 4

7 Cấu trúc của luận văn 4

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 6

2.1 Tổng quan về Nông hộ 6

2.1.1 Khái niệm Nông hộ 6

2.1.2 Phân loại nông hộ 6

Trang 6

2.2 Tổng quan về kinh tế nông hộ và đặc điểm của kinh tế nông hộ 7

2.2.1 Kinh tế nông hộ 7

2.2.2 Đặc điểm của kinh tế nông hộ 8

2.3 Cây keo và đặc điểm sinh học cây keo 9

2.3.1 Cây keo lá tràm (cây keo lai) 9

2.3.2 Đặc điểm sinh học cây keo 9

2.4 Hiệu quả kinh tế và hiệu quả kinh tế trong nông nghiệp 10

2.4.1 Hiệu quả kinh tế 10

2.4.2 Hiệu quả kinh tế trong nông nghiệp 15

2.4.3 Bản chất hiệu quả kinh tế 16

2.5 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá kết quả kinh tế và hiệu quả kinh tế các hộ trồng keo 18

2.5.1 Hệ thống chỉ tiêu phản ánh chi phí hoạt động của các hộ trồng keo 18

2.5.2 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá kết quả kinh tế của các hộ trồng keo 18

2.5.3 Hệ thống chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế của hộ trồng keo 20

2.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất cây keo 21

2.7 Tổng quan các tài liệu nghiên cứu 21

2.8 Tổng quan về nghề trồng keo trên thế giới và Việt Nam 23

2.8.1 Tổng quan về nghề trồng keo trên thế giới 23

2.8.2 Tổng quan về nghề trồng keo tại Việt Nam 24

2.9 Khung phân tích của đề tài 27

Tóm tắt chương 2: 31

CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32

3.1 Đặc điểm huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi 32

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 32

3.1.2 Điều kiện kinh tế-xã hội 36

3.2 Những thuận lợi và khó khăn về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Nghĩa Hành tới sản xuất cây keo 40

Trang 7

3.2.1 Những thuận lợi 40

3.2.2 Những khó khăn 41

3.3 Tình hình trồng keo ở huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian qua 42

3.4 Quy trình nghiên cứu 43

3.5 Cách tiếp cận nghiên cứu 44

3.6 Nguồn số liệu sử dụng trong nghiên cứu 44

3.7 Phương pháp chọn mẫu và quy mô mẫu 44

3.7.1 Quy mô mẫu 44

3.7.2 Phương pháp chọn mẫu 45

3.8 Xử lý và phân tích số liệu 45

3.8.1 Xử lý số liệu 45

3.8.2 Phân tích số liệu 46

3.8.3 Thiết kế bảng câu hỏi, điều tra sử dụng trong thời gian nghiên cứu 47

Tóm tắt chương 3: 48

CHƯƠNG 4 PHÂN TÍCH VÀ THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 50

4.1 Thống kê mô tả mẫu điều tra 50

4.1.1 Đặc điểm nhân khẩu học 50

4.1.2 Đặc điểm sản xuất 52

4.1.3 Ý kiến của người dân về các vấn đề liên quan đến nghề trồng keo 53

4.2 Kết quả sản xuất của các hộ trồng keo trong mẫu nghiên cứu tại huyện Nghĩa Hành 55

4.3 Hiệu quả kinh tế của các hộ trồng keo tại huyện Nghĩa Hành 56

4.4 Kết quả phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất của các hộ trồng keo 57

4.4.1 Kết quả phân tích tương quan 57

4.4.2 Kết quả phân tích hồi quy 57

Tóm tắt chương 4: 59

CHƯƠNG 5 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGHỀ TRỒNG KEO, GỢI Ý CHÍNH SÁCH VÀ KIẾN NGHỊ 61

5.1 Định hướng phát triển nghề trồng keo ở huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi 61

Trang 8

5.2 Một số hàm ý về mặt chính sách nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế cho nghề trồng

keo ở huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi 63

5.2.1 Giải pháp về cơ chế chính sách 63

5.2.2 Những giải pháp khác 66

5.3 Kiến nghị 68

5.3.1 Đối với các hộ trồng Keo lai 68

5.3.2 Đối với địa phương 68

5.3.3 Đối với nhà nước 69

5.4 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 69

TÀI LIỆU THAM KHẢO 72 PHỤ LỤC

Trang 9

NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn

PTRBV Phát triển rừng bền vững

Trang 11

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Diện tích trồng keo một số nước trên thế giới, năm 2011 24

Bảng 2.2: Tổng hợp biến được đưa vào mô hình 30

Bảng 3.1: Hiện trạng sử dụng đất của huyện Nghĩa Hành năm 2016 33

Bảng 3.2: Quy mô giá trị sản xuất theo giá so sánh năm 2010 huyện Nghĩa Hành, giai đoạn 2013- 2016 36

Bảng 3.3: Cơ cấu các ngành trong tổng giá trị sản xuất huyện Nghĩa Hành, giai đoạn 2013- 2016 37

Bảng 3.4: Tăng trưởng giá trị sản xuất các ngành kinh tế huyện Nghĩa Hành, giai đoạn 2013- 2016 37

Bảng 3.5: Cơ cấu dân cư huyện Nghĩa Hành, giai đoạn năm 2014-2016 38

Bảng 3.6: Phân bổ phiếu điều tra 45

Bảng 4.1: Thống kê các biến đặc điểm nhân khẩu học (biến liên tục) 50

Bảng 4.2: Thống kê các biến đặc điểm nhân khẩu học (biến giả) 51

Bảng 4.3: Thống kê đặc điểm sản xuất của các hộ trồng keo 52

Bảng 4.4: Thống kê ý kiến của các hộ trồng keo về khó khăn, định hướng phát triển, kiến nghị của người dân về vay vốn và các chính sách hỗ trợ 53

Bảng 4.5: Tổng hợp kết quả hoạt động sản xuất của các hộ trồng keo trong một chu kỳ sản xuất 55

Bảng 4.6: Tổng hợp hiệu quả sản xuất của các hộ trồng keo trong một chu kỳ sản xuất 56

Bảng 4.7: Tóm tắt mô hình 57

Bảng 4.8: Mức độ phù hợp của mô hình 57

Bảng 4.9: Kết quả ước lượng mô hình 58

Trang 12

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1: Khung phân tích 28 Hình 3.1: Bản đồ kế hoạch sử dụng đất năm 2016 huyện Nghĩa Hành 34 Hình 3.2: Quy trình nghiên cứu 43 Hình 5.1: Rừng keo trồng từ 2 đến 3 năm tuổi của hộ dân xã Hành Thiện, Nghĩa Hành 62

Trang 13

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Nghiên cứu “Đánh giá hiệu quả kinh tế của các hộ dân trồng keo tại huyện

Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi” Nghiên cứu này nhằm mục đích xác định các yếu tố

ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ dân trồng keo tại huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi, trên cơ sở đó đề xuất các hàm ý chính sách để nâng cao thu nhập cho các hộ dân

Bằng phương pháp phân tích mô hình hồi quy đa biến với dữ liệu dựa trên số liệu điều tra từ bảng câu hỏi phát ra cho 88 hộ trồng keo tại huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi vào năm 2017, nghiên cứu đã tiến hành đánh giá hiệu quả kinh tế của các hộ dân trồng keo tại huyện Nghĩa Hành, đồng thời phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất trồng keo của các hộ dân Đề tài cũng đã tập trung phân tích các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến năng suất của các hộ trồng keo bao gồm: tuổi, trình độ văn hóa, kỹ thuật sản xuất, vốn, diện tích, tiếp cận tín dụng Trong đó, có hai biến có ảnh hưởng có

ý nghĩa thống kê đến năng suất trồng keo của các hộ dân ở huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quãng Ngãi đó là: vốn đầu tư và diện tích đất trồng keo

Qua phân tích thống kê mô tả cho thấy: Có mối quan hệ cùng chiều giữa trình

độ học vấn của chủ hộ, diện tích đất sản xuất, số hoạt động tạo thu nhập và kinh nghiệm làm việc của chủ hộ với thu nhập của nông dân Và có mối quan hệ ngược chiều giữa quy mô hộ gia đình, số người sống phụ thuộc Tuy nhiên, các nhận định này chỉ cho chúng ta cái nhìn tổng quan về mối liên hệ giữa thu nhập theo trình độ học vấn của chủ hộ, quy mô hộ gia đình, số người sống phụ thuộc, diện tích đất sản xuất, số hoạt động tạo thu nhập Vì vậy, chúng ta phải ước lượng mô hình hồi quy và thực hiện các kiểm định để xem xét nên bác bỏ hay chấp nhận giả thuyết đã đưa ra

Dựa trên những kết quả nghiên cứu đó, đề tài đã đề xuất một số gợi ý chính sách nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, cải thiện thu nhập cho các hộ dân trồng keo tại huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi, bao gồm: chính sách đất đai, chính sách về vốn cho sản xuất, chính sách về giáo dục và đào tạo, chính sách về khuyến nông và một số chính sách khác như: khoa học công nghệ, đầu tư cơ sở hạ tầng, thông tin, tuyên truyền, đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi,

Từ khóa: Cây keo lai, Trồng rừng, Hiệu quả kinh tế

Trang 14

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Theo báo cáo số 154/BC-UBND ngày 26/8/2016 của UBND tỉnh Quảng Ngãi báo cáo Tổng kết thi hành Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 Thời gian gần đây, rừng tự nhiên đã bị suy giảm nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng Trước tình hình đó, nhiều cơ quan lâm nghiệp, tổ chức cá nhân và người dân nhiều địa phương đã đẩy mạnh kinh doanh rừng trồng.Việc trồng rừng đã góp phần đáng kể nâng cao tỷ lệ che phủ đất trống đồi núi trọc, đáp ứng nhu cầu về gỗ đồng thời tạo thêm nhiều việc làm cho người dân sống gần rừng nhất là đồng bào dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu, vùng xa Hiện tại việc trồng rừng các loài cây mọc nhanh cho năng suất cao đang là nhu cầu thực tiễn cấp thiết, với nhiều thành phần kinh tế tham gia

Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản để khuyến khích người dân tham gia trồng rừng như: Quyết định số 327-CT ngày 15/9/1992 của Hội đồng Bộ trưởng (nay

là chính phủ) về một số chủ trương, chính sách sử dụng đất trống, đồi núi trọc, rừng bãi bồi ven biển và mặt nước; Nghị định số 163/NĐ-CP ngày 16/11/1999 của Chính phủ về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng

ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp; Thông tư số BTNMT ngày 29/11/2011 của Liên bộ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn một số nội dung về giao rừng, cho thuê rừng gắn liền với giao đất, thuê đất lâm nghiệp

07/2011/TTLT-BNNPTNT-Quảng Ngãi là tỉnh duyên hải miền trung, phát triển lâm nghiệp ở đây không chỉ

để phủ xanh đất trống đồi núi trọc, bảo vệ môi trường sinh thái mà còn tăng thu nhập, giải quyết việc làm cho người dân tại chỗ, hạn chế tình trạng phá rừng làm nương rẫy, nâng cao tỷ lệ che phủ bề mặt đất Trong nhiều năm qua, có nhiều đơn vị sản xuất lâm nghiệp và người dân trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đã chú trọng công tác trồng rừng sản xuất, rừng nguyên liệu phục vụ cho công nghiệp chế biến gỗ và rừng nguyên liệu giấy nhưng chất lượng giống chưa được cải thiện, các biện pháp kỹ thuật lâm sinh chưa được áp dụng đầy đủ Vấn đề lựa chọn loài cây trồng chưa phù hợp với điều kiện khí hậu, đất đai nơi trồng, đầu tư thấp dẫn đến năng suất các loại rừng trồng chưa cao, chưa đáp ứng được nhu cầu gỗ cho công nghiệp chế biến nói chung và nguyên liệu cho ngành công nghiệp bột giấy nói riêng

Trang 15

Keo là loài cây mọc nhanh đã được nhiều công ty, người dân địa phương lựa chọn đưa vào gây trồng thuần loài ở nhiều xã thuộc huyện Nghĩa Hành của tỉnh Quảng Ngãi Theo nhận định của cơ quan quản lý lâm nghiệp tỉnh, cây keo đã bước đầu đã mang lại hiệu quả kinh tế nhất định Tuy nhiên cho đến nay, tại địa phương chưa có những công trình nghiên cứu đầy đủ để đánh giá được tình hình sinh trưởng cũng như chất lượng và hiệu quả kinh tế, xã hội một cách khoa học, từ đó làm cơ sở cho việc lựa chọn loài cây mọc nhanh làm nguyên liệu giấy phù hợp với điều kiện khí hậu, đất đai của tỉnh Quảng Ngãi Để góp phần cải thiện và nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng nguyên liệu, tận dụng diện tích đất trống đồi núi trọc một cách hợp lý, có hiệu quả, nhằm chủ động cung cấp nguồn nguyên liệu cho ngành công nghiệp bột giấy của

tỉnh Với những lý do trên, tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu

quả kinh tế của các hộ dân trồng keo tại huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi”

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Đánh giá hiệu quả kinh tế của các hộ dân trồng keo trên địa bàn huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển ổn định cây keo tại huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi

3 Câu hỏi nghiên cứu

- Các hộ dân trồng keo trên địa bàn huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi hiện nay có hiệu quả kinh tế không?

- Những nhân tố nào có thể tác động đến năng suất và hiệu quả kinh tế của các

hộ dân trồng keo trên tại huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi?

- Những chính sách nào có thể đề xuất nhằm phát triển nghề trồng keo tại huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi?

Trang 16

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Hiệu quả kinh tế của các hộ dân trồng keo trên địa bàn huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi

- Đối tượng khảo sát: Các hộ trồng keo

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Không gian: Huyện Nghĩa Hành, tỉnh QuảngNgãi

- Thời gian: Các số liệu thứ cấp được thu thập trong 03 năm từ : 2014-2016

- Các số liệu sơ cấp được thu thập theo 01 chu kỳ sản xuất, thường 05 năm

5 Phương pháp nghiên cứu

Quy trình nghiên cứu được tổ chức hai giai đoạn bao gồm nghiên cứu định tính

và nghiên cứu định lượng

5.1 Phương pháp nghiên cứu định tính

- Được thực hiện thông qua kỹ thuật phỏng vấn sâu các đối tượng là những chuyên gia, với kế hoạch phỏng vấn được lập sẵn với mức độ hiểu biết về cây keo, trình độ kỹ thuật, khó khăn, phương hướng phát triển của nghề làm cơ sở cho việc thiết

kế bảng câu hỏi trong nghiên cứu định lượng

- Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn PRA : Để thăm dò ý kiến của người dân, nhận thức của họ trong việc trồng rừng sản xuất; và khả năng tạo việc làm cho người dân thông qua việc trồng rừng, cũng như những khó khăn vướng mắc trong việc trồng rừng, và sự cần thiết hỗ trợ của chính quyền địa phương Phương pháp này giúp

có cơ sở để đưa ra một số giải pháp phát triển nghề trồng keo trên địa bàn huyện Nghĩa Hành thích hợp Từ đó, hạn chế được các tác hại tiêu cực như tình trạng phá rừng làm nương rẫy, hạn chế tình trạng du canh du cư của người dân

5.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng

Được thực hiện bằng bảng câu hỏi nghiên cứu chính thức bằng kỹ thuật phỏng vấn các hộ trồng keo trên địa bàn huyện Các số liệu này sẽ được mã hóa và nhập liệu vào phần mềm Stata để tiến hành thống kê mô tả, so sánh Sau đó tiến hành phân tích các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế; và phân tích mô hình hồi quy logistic nhằm xác định mối quan hệ,

mức độ quan trọng giữa năng suất trồng keo và các nhân tố ảnh hưởng có liên quan

Trang 17

6 Đóng góp của đề tài

6.1 Về mặt lý luận

Hệ thống hóa về mặt lý luận hiệu quả kinh tế trong lâm nghiệp nói chung và

trong nghề trồng keo nói riêng

6.2 Về mặt thực tiễn

- Kết quả nghiên cứu sẽ giúp cho các cơ sở lâm nghiệp trồng keo có ý định và giải pháp đúng đắn nhằm phát triển nghề trồng keo một cách hiệu quả, bền vững và là tài liệu tham khảo hữu ích cho nghiên cứu tiếp theo của tác giả

- Những kết luận của đề tài sẽ là một tài liệu hỗ trợ cho cơ quan chức năng cho việc lập kế hoạch và quy hoạch vùng trồng keo hiệu quả, kết hợp quy hoạch và khuyến cáo các mô hình trồng keo thích hợp với các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của mỗi địa phương và sự đồng thuận giữa các tổ chức, đơn vị, ngành nghề và những người có liên quan

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, kết cấu của đề tài gồm năm chương như sau:

Chương 1 Giới thiệu

Nội dung chương này chủ yếu giới thiệu tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu, khái quát qua mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương

pháp nghiên cứu, ý nghĩa của nghiên cứu và cấu trúc luận văn

Chương 2 Cơ sở lý thuyết và tổng quan tài liệu nghiên cứu

Trong chương này tác giả sẽ trình bày những quan điểm, khái niệm về hiệu quả kinh tế và các chỉ tiêu về kết quả - hiệu quả kinh tế nghề trồng keo; tổng lược các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan Trên cơ sở đó, chương này sẽ đưa ra mô hình nghiên cứu đề xuất và giả thiết liên quan đến mô hình nghiên cứu

Chương 3 Đặc điểm của đối tượng, địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương này giới thiệu đặc điểm của đối tượng, địa bàn nghiên cứu, các phương pháp nghiên cứu được sử dụng chủ yếu trong luận văn như quy mô mẫu nghiên cứu, phương pháp chọn mẫu, các công cụ dùng để phân tích số liệu,

Trang 18

Chương 4 Phân tích và thảo luận kết quả nghiên cứu

Nội dung chương này bao gồm khái quát về đặc điểm tự nhiên, đặc điểm kinh tế

xã hội, đời sống dân cư tại huyện Nghĩa Hành và trình bày kết quả hiệu quả kinh tế của các hộ trồng keo, kết quả ước lượng mô hình kinh tế lượng cũng như kiểm định các giả thuyết đưa ra về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của các hộ dân trồng keo trên địa bàn huyện

Chương 5 Kết luận và gợi ý chính sách

Chương này sẽ đưa ra những một số ý kiến, giải pháp khắc phục khó khăn nhằm mục đích nâng cao hiệu quả kinh tế của nghề trồng keo tại huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi

Trang 19

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU

NGHIÊN CỨU

2.1 Tổng quan về Nông hộ

2.1.1 Khái niệm Nông hộ

Trần Xuân Long (2009) đã nghiên cứu rằng: Hộ nông dân là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của khoa học nông nghiệp và phát triển nông thôn, vì tất cả các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp ở nông thôn chủ yếu được thực hiện qua sự hoạt động của hộ nông dân

Ở nước ta, có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm hộ nông dân Theo tác giả Lê Đình Thắng (1993) cho rằng “Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ

sở trong nông nghiệp nông thôn” Trong khi đó, tác giả Đào Thế Tuấn (1997) cho rằng: “Hộ nông dân là chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và phi hoạt động nông nghiệp ở nông thôn” Còn theo Nguyễn Sinh

Cúc (2001) lại cho rằng: “Hộ nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc 50% số lao

động thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thủy nông, giống cây trồng, bảo vệ thực vật, ) và thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông nghiệp”

FAO (2007) định nghĩa nông hộ là những hộ có các hoạt động trong nghề trồng trọt, nghề rừng, nghề cá, nghề chăn nuôi và nghề nuôi trồng thủy sản Các sản phẩm nông nghiệp được hình thành thông qua quá trình quản lý và tổ chức sản xuất bởi các thành viên trong gia đình và phần lớn chủ yếu dựa vào lao động nhà, bao gồm cả nam lẫn nữ.Khái niệm nông hộ có những đặc điểm như sau: Là những hộ gia đình sống ở nông thôn, có ngành nghề sản xuất chính là nông nghiệp; nguồn thu nhập và sinh sống chủ yếu bằng nghề nông; là đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất, vừa là một đơn vị tiêu dùng

2.1.2 Phân loại nông hộ

Theo Phạm Anh Ngọc (2008) thì tùy theo mục đích nghiên cứu mà nông hộ được phân chia thành các dạng khác nhau

Trang 20

Căn cứ vào mục tiêu và cơ chế hoạt động gồm có:

- Hộ nông dân hoàn toàn tự cấp không có phản ứng với thị trường: Loại hộ này

có mục tiêu là tối đa hóa lợi ích, đó là việc sản xuất các sản phẩm cần thiết để tiêu dùng trong gia đình Để có đủ sản phẩm, lao động trong nông hộ phải hoạt động cật lực

và đó cũng được coi như một lợi ích, để có thể tự cấp tự túc cho sinh hoạt, sự hoạt động của họ phụ thuộc vào:

+ Khả năng mở rộng diện tích đất đai

+ Có thị trường lao động họ mua nhằm lấy lãi

+ Có thị trường lao động để họ bán sức lao động để có thu nhập

+ Có thị trường sản phẩm để trao đổi nhằm đáp ứng nhu cầu của mình

- Hộ nông dân sản xuất hàng hóa chủ yếu: Loại hộ này có mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận được biểu hiện rõ rệt và họ có phản ứng gay gắt với thị trường vốn, ruộng đất, lao động

Theo tính chất lao động của ngành sản xuất hộ gồm có:

- Hộ thuần nông: Là loại hộ chỉ thuần túy sản xuất nông nghiệp

- Hộ chuyên nông: Là hộ chuyên làm các ngành nghề như cơ khí, mộc, nề, rèn, sản xuất nguyên vật liệu xây dựng, vận tải, thủ công mỹ nghệ, dịch vụ kỹ thuật cho nông nghiệp

- Hộ kiêm nông: Là loại hộ vừa làm nông nghiệp vừa làm nghề tiểu thủ công nghiệp, nhưng thu từ nông nghiệp là chính

- Hộ buôn bán: Ở nơi đông dân cư, có quầy hàng và buôn bán ở chợ

Các loại hộ trên không ổn định mà có thể thay đổi khi điều kiện cho phép, vì vậy sản xuất công nghiệp nông thôn, phát triển cơ cấu hạ tầng sản xuất và xã hội ở nông thôn, mở rộng mạng lưới thương mại và dịch vụ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn để chuyển hộ độc canh thuần nông sang đa ngành hoặc chuyên môn hóa Từ đó, làm cho lao động nông nghiệp giảm, thu hút lao động dư thừa ở nông thôn hoặc làm cho đối tượng phi nông nghiệp tăng lên

2.2 Tổng quan về kinh tế nông hộ và đặc điểm của kinh tế nông hộ

2.2.1 Kinh tế nông hộ

Ở Việt Nam, kể từ khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 10/NQ-TW ngày 05/4/1988 về “Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp”, với mục đích giải phóng sức sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn, chuyển giao đất đai và các tư liệu sản xuất khác

Trang 21

cho hộ nông dân quản lý và sử dụng lâu dài, thì các hộ nông dân đã trở thành những đơn vị tự chủ trong sản xuất nông nghiệp, tức là thừa nhận hộ gia đình là đơn vị kinh tế

cơ sở (gọi là kinh tế hộ gia đình) Từ đó, các hộ gia đình được tự chủ trong sản xuất kinh doanh, được toàn quyền trong điều hành sản xuất, sử dụng lao động, mua sắm vật

tư kỹ thuật, hợp tác sản xuất và tiêu thụ sản phẩm do họ làm ra Như vậy, có thể hiểu kinh tế hộ gia đình là một tổ chức kinh doanh thuộc sở hữu của hộ gia đình, trong đó các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác

do pháp luật quy định (Mai Thị Thanh Xuân, Đặng Thị Thu Hiền, 2013)

Theo Phạm Anh Ngọc (2008) thì kinh tế nông hộ là một hình thức kinh tế cơ bản có hiệu quả và tự chủ trong nông nghiệp Nó được hình thành và phát triển một cách khách quan, lâu dài, dựa trên sự tư hữu các yếu tố sản xuất, là loại hình kinh tế

có hiệu quả, phù hợp với sản xuất nông nghiệp, thích ứng và tồn tại phát triển trong mọi chế độ kinh tế xã hội

Trong tiến trình xây dựng nông thôn mới, khái niệm kinh tế hộ gia đình được hiểu rằng đây là một lực lượng sản xuất quan trọng ở nông thôn Việt Nam Hộ gia đình nông thôn thường sản xuất, kinh doanh đa dạng, kết hợp trồng trọt với chăn nuôi, tiểu thủ công nghiệp và kinh doanh ngành nghề phụ (Đỗ Văn Quân, 2013)

2.2.2 Đặc điểm của kinh tế nông hộ

Theo Phạm Anh Ngọc (2008), các đặc điểm cơ bản của kinh tế hộ nông dân là:

- Hoạt động của kinh tế hộ nông dân chủ yếu là dựa vào lao động gia đình hay

là lao động có sẵn mà không cần phải thuê ngoài Các thành viên tham gia hoạt động kinh tế hộ có quan hệ gắn bó với nhau về kinh tế và huyết thống

- Đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng nhất không thể thiếu của sản xuất kinh tế

hộ nông dân

- Người nông dân là người chủ thật sự của quá trình sản xuất chính, trực tiếp tác động vào sinh trưởng, phát triển của cây trồng vật nuôi, không qua khâu trung gian, họ làm việc không kể giờ giấc và bám sát vào tư liệu sản xuất của họ

- Kinh tế nông hộ có cấu trúc lao động đa dạng, phức tạp, trong một hộ có nhiều loại lao động vì vậy chủ hộ vừa có khả năng trực tiếp điều hành, quản lý tất cả các khâu trong sản xuất, vừa có khả năng tham gia trực tiếp quá trình đó

Trang 22

- Do có tính thống nhất giữa lao động quản lý và lao động sản xuất nên kinh tế

hộ nông dân giảm tối đa chi phí sản xuất, và nó tác động trực tiếp lên lao động trong

hộ nên có tính tự giác để nâng cao hiệu quả và năng suất lao động

2.3 Cây keo và đặc điểm sinh học cây keo

2.3.1 Cây keo lá tràm (cây keo lai)

Keo lá tràm hay tràm bông vàng có danh pháp khoa học là Acacia auriculiformis là một loài cây thuộc chi Keo (Acacia) Loài này trong tiếng Việt còn có tên gọi khác

là keo lưỡi liềm, tên này được sử dụng nhiều khi loài này mới nhập nội vào Việt Nam

(thập kỷ 1960-1970), sau này người ta sử dụng rộng rãi tên gọi keo lá tràm Keo lá tràm được phân bố tự nhiên ở vùng Indonesia và Papua New Guinea Hiện tại được trồng rộng rãi tại nhiều quốc gia ở vùng nhiệt đới

2.3.2 Đặc điểm sinh học cây keo

Đặc điểm hình thái

Cây gỗ nhỡ, cao tới 25-30m, đường kính tới 30-40cm, cao và to hơn Keo tai tượng và Keo lá tràm, các đặc tính khác có dạng trung gian giữa 2 loài bố mẹ Thân thẳng, cành nhánh nhỏ, tỉa cành khá, tán dày và rậm Từ khi hạt nẩy mầm tới hơn 1 tháng hình thái lá cũng biến đổi theo 3 giai đoạn lá mầm, lá thật và lá giả Lá giả mọc cách tồn tại mãi Chiều rộng lá hẹp hơn chiều rộng lá keo tai tượng nhưng lớn hơn chiều rộng lá keo lá tràm Hoa tự bông 5-6 hoa/1 hoa tự vàng nhạt mọc từng đôi ở nách

lá Quả đậu dẹt, khi non thẳng khi già cuộn hình xoắn ốc Mùa hoa tháng 3-4, quả chín tháng 7-8 Vỏ quả cứng, khi chín màu xám và nứt Mỗi quả có 5-7 hạt màu nâu đen, bóng Một kg hạt có 45.000-50.000 hạt, thu được từ 3-4kg quả

Đặc điểm sinh thái

Keo lai tự nhiên được phát hiện lần đầu vào năm 1972 trong số các cây keo tai tượng trồng ven đường ở Sabah – Malaixia Ở Thái Lan đầu tiên cũng tìm thấy keo lai được trồng thành đám ở Muak-Lek, Salaburi Ở nước ta giống keo lai ở Ba Vì có nguồn gốc cây mẹ là Keo tai tượng xuất xứ Pain-tree bang Queensland – Australia Cây bố là Keo lá tràm xuất xứ Darwin bang Northern Territory – Ôxtrâylia Ở Đông Nam Bộ hạt giống lấy từ cây mẹ keo tai tượng xuất xứ Mossman và cây bố Keo lá tràm cũng ở Ôxtrâylia nhưng không rõ xuất xứ Về cơ bản các giống keo lai đã phát

Trang 23

hiện ở nước ta đều có cây mẹ cùng vùng sinh thái giống nhau: Vĩ độ 12o20’-16o20’ Bắc, kinh độ 132o16’-145o,30’ Đông, lượng mưa 800-1900mm

Keo lai có sức sinh trưởng nhanh hơn rõ rệt so với loài keo bố mẹ Với một số dòng keo lai đã chọn lọc trồng thâm canh 3 tuổi đạt trung bình 8,6-9,8m về chiều cao, 9,8 -11,4cm về đường kính, 19,4-27,2 m3/ha/năm về lượng sinh trưởng và 50-77m3/ha

về sản lượng gỗ Rừng keo lai 7-8 tuổi đạt 150-200m3 gỗ/ha, có thể nhiều hơn 1,5-2 lần rừng Keo tai tượng và Keo lá tràm

Keo lai có nhiều hạt và khả năng tái sinh tự nhiên bằng hạt rất mạnh Rừng trồng 8-10 tuổi sau khi khai thác trắng, đốt thực bì và cành nhánh, hạt nẩy mầm và tự tái sinh hàng vạn cây trên 1 ha Tuy nhiên không trồng rừng keo lai bằng cây con từ hạt mà phải bằng cây hom Trong những năm gần đây, mỗi năm tỉnh Quảng Ngãi trồng mới khoảng 6.000- 7.000 ha rừng kinh tế và khoảng 3 triệu cây phân tán Rừng sản xuất chủ yếu trồng cây keo lai gồm các giống BV10, BV16, BV32 Sau 4, 5 năm xuống giống rừng trồng cây keo lai sẽ cho thu hoạch So với nhiều loại cây trồng khác, cây keo lai đem lại nguồn thu nhập ổn định hơn Hiện tại giống keo trồng bằng hạt ở Quảng Ngãi đang có chiều hướng thoái hóa Để khắc phục tình trạng trên, Trung Tâm Giống cây trồng vật nuôi đã xây dựng vườn giống gốc, giống được du nhập từ các dòng nuôi cấy mô của Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam và đã được Sở Nông nghiệp và PTNT Quảng Ngãi cấp giấy chứng nhận để sản xuất cây giống lâm nghiệp Mỗi lô giống xuất vườn đều được kiểm tra thực hiện theo quy chế quản lý giống cây trồng lâm nghiệp

Đặc biệt trồng cây keo lai ít làm đất bạc màu, gỗ keo lai tiêu thụ thuận lợi, giá bán cao hơn nhiều so với các loại gỗ nguyên liệu khác Ngoài việc mang lại hiệu quả kinh tế cao, việc phát triển trồng keo nguyên liệu còn có tác dụng bảo vệ môi trường sinh thái, chống xói mòn đất, giữ được nguồn nước cho cây trồng

2.4 Hiệu quả kinh tế và hiệu quả kinh tế trong nông nghiệp

2.4.1 Hiệu quả kinh tế

Hiện nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về hiệu quả Ở mỗi góc độ, lĩnh vực khác nhau việc xem xét và nhìn nhận khái niệm hiệu quả cũng khác nhau Trước hết, theo quan điểm của triết học Macxit:

Trang 24

Một là: Bản chất của hiệu quả kinh tế là sự thực hiện yêu cầu của quy luật tiết

kiệm thời gian, biểu hiện trình độ sử dụng nguồn lực của xã hội Các Mác cho rằng quy luật tiết kiệm thời gian là quy luật có tầm quan trọng đặc biệt, tồn tại nhiều phương thức sản xuất Mọi hoạt động của con người đều tuân theo quy luật này, nó quy định động lực phát triển của lực lượng sản xuất tạo điều kiện phát triển phát minh xã hội và nâng cao đời sống của con người ở mọi thời đại

Hai là: Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống thì nền sản xuất xã hội là một hệ

thống các yếu tố sản xuất và các quan hệ vật chất hình thành giữa con người với con người trong quá trình sản xuất Hệ thống sản xuất xã hội bao gồm trong nó các quá trình sản xuất, các phương tiện bảo tồn và tiếp tục đời sống xã hội Việc bảo tồn và tiếp tục đời sống xã hội đáp ứng các nhu cầu xã hội, nhu cầu của con người là những yếu tố khách quan phản ánh mối quan hệ nhất định của con người với môi trường bên ngoài,

đó là quá trình trao đổi vật chất, năng lượng giữa sản xuất xã hội và môi trường

Ba là: Hiệu quả kinh tế là mục tiêu nhưng không phải là mục tiêu cuối cùng mà

là mục tiêu phương tiện xuyên suốt mọi hoạt động kinh tế Trong kế hoạch, hiệu quả là quan hệ so sánh tối ưu giữa đầu ra và đầu vào, là lợi ích lớn nhất thu được với một chi phí nhất định hoặc một kết quả nhất định với chi phí nhỏ nhất Trong phân tích kinh tế, hiệu quả kinh tế được phản ánh thông qua các chỉ tiêu đặc trưng kinh tế kỹ thuật xác định bằng các tỷ lệ so sánh giữa đầu ra và đầu vào của hệ thống sản xuất xã hội, phản ánh trình độ sử dụng nguồn lực và việc tạo ra lợi ích nhằm đạt mục tiêu kinh tế xã hội

Xuất phát từ quan điểm của triết học Mac, các nhà kinh tế đưa ra rất nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế

Quan điểm truyền thống về hiệu quả kinh tế:

Vận dụng quan điểm của triết học Mac, các nhà kinh tế học Xô Viết cho rằng:

“Hiệu quả là sự tăng trưởng kinh tế thông qua nhịp điệu tăng tổng sản phẩm xã hội hoặc thu nhập quốc dân với tốc độ cao nhằm đáp ứng nhu cầu quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa xã hội” Xét trên phạm vi của doanh nghiệp, theo quan điểm này thì

hiệu quả sản xuất kinh doanh và nhịp điệu tăng tổng sản phẩm xã hội là một Nó không

đề cập đến chi phí ra để đạt được giá trị tổng sản lượng đó Nếu tốc độ tăng của chi phí sản xuất tăng nhanh hơn tốc độ tăng của giá trị tổng sản lượng thì sao Hơn nữa, việc chọn năm gốc ảnh hưởng rất lớn đến kết quả so sánh Với mỗi năm gốc khác nhau

Trang 25

chúng ta lại có mức hiệu quả khác nhau của cùng một năm nghiên cứu Do đó, quan điểm này chưa thỏa đáng

- Theo quan điểm các nhà kinh tế học thị trường đứng đầu là Paul A.Samuelson

và Wiliam.D.Nordhalls cho rằng một nền kinh tế có hiệu quả, một doanh nghiệp làm

ăn hiệu quả thì các điểm lựa chọn đều nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất của

nó và “hiệu quả có ý nghĩa là không lãng phí” Nghiên cứu hiệu quả sản xuất phải xét

đến chi phí cơ hội “Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng

một loại hàng hóa này mà không thể cắt giảm sản lượng một loại hàng hóa khác.Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất của nó” Giới hạn

khả năng sản xuất của doanh nghiệp được xác định bằng giá trị tổng sản lượng tiềm năng, là giá trị tổng sản lượng cao nhất có thể đạt được ứng với tình hình công nghệ và nhân công nhất định Theo quan điểm này thì hiệu quả thể hiện ở sự so sánh mức thực

tế và mức tối đa sản lượng Tỷ lệ so sánh càng gần 1 càng có hiệu quả Quan điểm này mặc dù đã đề cập đến các yếu tố đầu vào nhưng lại đề cập không đầy đủ

Công thức biểu diễn phạm trù này:

H = K

C

H: Hiệu quả kinh tế

K: Phần gia tăng của kết quả sản xuất

C: Phần gia tăng của chi phí sản xuất

- Quan điểm này phản ánh hiệu quả chưa đầy đủ và trọn vẹn Nó chỉ đề cập đến

hiệu quả của phần tăng thêm bằng cách so sánh giữa phần giá trị gia tăng của kết quả kinh doanh và sự gia tăng của chi phí sản xuất chứ chưa đề cập đến toàn bộ phần tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh Xét trên quan điểm triết học Mác Lênin thì mọi

sự vật, hiện tượng đều có mối quan hệ mật thiết, hữu cơ với nhau chứ không tồn tại riêng lẻ, độc lập Sản xuất kinh doanh không nằm ngoài quy luật này, các yếu tố tăng thêm, giảm đi có liên hệ với các yếu tố sẵn có Hiệu quả sản xuất kinh doanh là kết quả tổng hợp của toàn bộ phần tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh

Trang 26

“Hiệu quả kinh tế được xác định bằng tỷ số giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra

để đạt được kết quả đó” (Đặng Đình Đào & Hoàng Đức Thân, 2002) Theo quan điểm này cho phép chúng ta xác định được các chỉ tiêu tương đối của hiệu quả kinh tế bằng cách so sánh kết quả với chi phí cần thiết để đạt được hiệu quả đó

H = K/C Trong đó:

H là hiệu quả kinh tế

K là kết quả sản xuất

C là tổng chi phí sản xuất Quan điểm này cho rằng nói đến hiệu quả kinh tế tức là nói đến phần còn lại của kết quả sản xuất kinh doanh sau khi đã trừ chi phí Nó được đo bằng các chi phí

và lời lãi Và cũng nhiều tác giả cho rằng, hiệu quả kinh tế được xem như là tỷ lệ giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra Chỉ tiêu này chưa phân tích được sự tác động ảnh hưởng của các nhân tố nguồn lực Hai cơ sở sản xuất đạt được chỉ số trên là như nhau nhưng ở không gian, thời gian, điều kiện khác nhau thì sự tác động của nguồn lực tự nhiên là khác nhau và hiệu quả kinh tế không giống nhau

Như vậy các quan điểm truyền thống chưa thật toàn diện khi xem xét hiệu quả

kinh tế Thứ nhất: Nó coi quá trình sản xuất ở trạng thái tĩnh, chỉ xem xét hiệu quả sau

khi đã đầu tư Trong khi đó hiệu quả không những cho chúng ta biết kết quả đầu tư

mà còn giúp chúng ta xem xét trước khi ra quyết định đầu tư tiếp và nên đầu tư bao

nhiêu, đến mức độ nào Thứ hai: Nó không tính yếu tố thời gian khi tính toán thu và

chi cho một hoạt động sản xuất kinh doanh Do đó, thu và chi trong hoạt động tính

toán hiệu quả kinh tế theo quan điểm này chưa đầy đủ và chính xác Thứ ba: Hiệu quả

kinh tế theo quan điểm truyền thống chỉ bao gồm hai phạm trù cơ bản là thu và chi Hai phạm trù này chủ yếu liên quan đến yếu tố tài chính đơn thuần như chi phí về vốn, lao động, thu về sản phẩm và giá cả Trong khi đó các hoạt động đầu tư và phát triển lại có tác động không chỉ đơn thuần về mặt kinh tế mà còn có cả các yếu tố khác nữa Và có những phần thu lợi hoặc những khoản chi lúc đầu không phải là nhỏ thì không được phản ánh vào chỉ tiêu này (Hoàng Hùng, 2001)

Quan điểm mới về hiệu quả kinh tế:

Gần đây các nhà kinh tế đã đưa ra một quan điểm mới về hiệu quả, nhằm khắc phục những điểm yếu của các quan điểm truyền thống

Trang 27

Theo Hoàng Hùng (2001): Quan điểm mới khi tính hiệu quả kinh tế phải căn cứ

vào tổ hợp các yếu tố: Thứ nhất, trạng thái động của mối quan hệ giữa đầu vào và đầu

ra Cần phân biệt rõ ba phạm trù: Hiệu quả kỹ thuật; hiệu quả phân bổ các nguồn lực và hiệu quả kinh tế Hiệu quả kỹ thuật là số sản phẩm (O) thu thêm trên một đơn vị đầu vào (I) đầu tư thêm Tỷ số dO/dI được gọi là sản phẩm biên Hiệu quả phân bổ nguồn lực là giá trị sản phẩm thu thêm trên một đơn vị chi phí đầu tư thêm Thực chất nó là hiệu quả kỹ thuật có tính đến các yếu tố giá sản phẩm và giá đầu vào Nó đạt tối đa khi doanh thu biên bằng với chi phí biên Hiệu quả kinh tế là phần thu thêm trên một đơn

vị đầu tư thêm Nó chỉ đạt được khi hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả sử dụng nguồn lực là

tối đa Thứ hai, Yếu tố thời gian: các nhà kinh tế hiện nay coi thời gian là yếu tố trong

tính toán hiệu quả Cùng đầu tư một lượng vốn như nhau và tổng doanh thu bằng nhau nhưng hai dự án có thể có hiệu quả khác nhau,…

Theo quan điểm toàn diện hiệu quả kinh tế nên được đánh giá trên ba phương diện: Hiệu quả tài chính, xã hội, môi trường Hiệu quả tài chính trước đây thường thể hiện bằng những chỉ tiêu: lợi nhuận, giá thành, tỷ lệ hoàn vốn, thời gian hoàn vốn,… Hiệu quả xã hội của một dự án gồm lợi ích xã hội mà dự án mang lại như: việc làm, mức tăng về GDP do tác động của dự án, sự công bằng xã hội, sự tự lập của cộng đồng

và sự được bảo vệ hoặc sự hoàn thiện hơn của môi trường sinh thái Một dự án nói chung và dự án nông nghiệp nói riêng được coi là đạt hiệu quả kinh tế khi đảm bảo cả

ba phương diện trên

Coi việc đánh giá dự án thông qua việc so sánh giữa lợi ích và chi phí Quan điểm đánh giá hiệu quả gắn với việc xem xét quá trình phát triển và tăng trưởng cho phép ta có một cái nhìn tổng quát hơn về hiệu quả kinh tế Một mặt nó phù hợp với quan điểm truyền thống về đánh giá hiệu quả ở chỗ nó cũng nhằm so sánh chi phí bỏ ra

và lợi ích thu được Mặt khác có cái nhìn rộng hơn về chi phí và lợi ích Về chi phí, quan điểm truyền thống chú ý vào tiền bạc, vật chất, công sức bỏ ra cho một dự án Quan điểm mới cho rằng ngoài các yếu tố đó còn tính đến các chi phí phi vật chất và gián tiếp như tác động bất lợi của dự án đến môi trường, đến xã hội như khoảng cách giàu nghèo Về lợi ích quan điểm mới đề cập đến 3 phạm trù: lợi ích tài chính, lợi ích

xã hội và lợi ích môi trường Ở các dự án đầu tư nông nghiệp, lợi ích tài chính là tăng lên của năng suất vật nuôi, cây trồng, sự đa dạng hóa nền sản xuất và chủng loại sản phẩm Lợi ích xã hội là khả năng đảm bảo công bằng trong phân phối nguồn lực xã hội Lợi ích môi trường là khả năng bảo tồn và phát triển tài nguyên môi trường

Trang 28

2.4.2 Hiệu quả kinh tế trong nông nghiệp

Kinh tế nông nghiệp là một khoa học ứng dụng Nó trước hết quan tâm đến việc tìm ra các giải pháp cho các vấn đề kinh tế của nông dân Giống như các nhà khoa học ứng dụng khác, nhiệm vụ của nó là áp dụng các lý thuyết và nguyên lý của khoa học

cơ bản để giải quyết cho một vấn đề cụ thể nào đó

Kinh tế nông nghiệp được định nghĩa như là một khoa học ứng dụng để nhằm nhận định , mô tả và phân loại các vấn đề kinh tế trong lĩnh vực nông nghiệp từ đó tìm

ra phương thức giải quyết vấn đề Người nông dân hàng ngày phải đối diện với nhiều vấn đề kinh tế khác nhau có liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp, chẳng hạn về tài chính, sản xuất hoặc tiếp thị Ngoài ra còn có nhiều yếu tố khác mang tính chất phi kinh tế nhưng lại có ảnh hưởng lớn đến các vấn đề kinh tế của người nông dân, chẳng hạn như các quan điểm, hệ thống các giá trị và các tổ chức thể chế (hệ hống khuyến nông, hệ thống tín dụng, hợp tác xã)

Kinh tế nông nghiệp còn là một khoa học xã hội Nó có liên quan đến con người, tổ chức và các mối quan hệ giữa người với người Các hoạt động của nó còn phụ thuộc vào các khoa học khác, chẳng hạn như các số liệu về nguồn tài nguyên của nông dân, tiền vốn, máy móc, nhà kho, công cụ), giá cả thị trường, nhu cầu sản phẩm, tình hình sản xuất, cung cấp cơ sở cho việc hoạch định các dự án phát triển nông nghiệp hợp lý Nông dân cũng cần có một kiến thức vừa phải về kế toán để có thể ghi chép các khoản kinh doanh, doanh thu, chi phí từ đó tính toán được lời lỗ trong hoạt động của mình Tuy nhiên nhân tố con người là nhân tố quan trọng nhất Người nông dân phải biết lập kế hoạch, tổ chức, phối hợp và thực hiện các hoạt động nông nghiệp khác nhau Vì thế khả năng quản lý giữ vai trò quyết định trong nông nghiệp

Theo Hoàng Thu Thủy (2008): Hiệu quả kinh tế trong nông nghiệp phản ánh

chất lượng hoạt động kinh tế và được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được và chi phí

bỏ ra để đạt được kết quả đó Có nghĩa là, nếu kết quả là mục tiêu của quá trình sản xuất thì hiệu quả là phương tiện để đạt được các mục tiêu đó Vấn đề đặt ra là phải xác định được kết quả của nghề trồng keo nghĩa là xác định chi phí và doanh thu phát sinh trong quá trình trồng Đồng thời xác định lợi nhuận bằng tổng doanh thu trừ chi phí cũng như sử dụng chỉ tiêu này để xác định tỷ suất sinh lời của nghề trồng keo mang lại cao hay thấp

Trang 29

2.4.3 Bản chất hiệu quả kinh tế

Bản chất của hiệu quả kinh tế là nâng cao năng suất lao động xã hội và tiết kiệm lao động xã hội Đây là hai mặt có liên quan mật thiết của vấn đề hiệu quả kinh tế, gắn liền với hai quy luật tương ứng nền sản xuất xã hội là quy luật tăng năng suất lao động

và quy luật tiết kiệm thời gian Chính việc khan hiếm nguồn lực và việc sử dụng chúng

có tính cạnh tranh nhằm thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của xã hội đặt ra yêu cầu phải khai thác tận dụng và triệt để các nguồn lực Để đạt được mục tiêu kinh doanh các doanh nghiệp buộc phải chú trọng các điều kiện nội tại, phát huy năng lực của các yếu

tố sản xuất và tiết kiệm chi phí

Vì vậy yêu cầu nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là phải đạt kết quả tối đa với chi phí tối thiểu hay nói chính xác hơn là đạt được kết quả tối đa với chi phí nhất định hay ngược lại đạt kết quả nhất định với chi phí tối thiểu Chi phí ở đây được theo nghĩa rộng: Chi phí tạo ra nguồn lực và chi phí sử dụng nguồn lực; đồng thời bao gồm

cả chi phí cơ hội

Hiệu quả kinh tế là phạm trù phản ánh chất lượng của các hoạt động kinh tế Nâng cao chất lượng hoạt động kinh tế nghĩa là tăng cường trình độ lợi dụng các nguồn lực sẵn có trong hoạt động kinh tế Đây là một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất xã hội Như vậy do yêu cầu của công tác quản lý kinh tế cần thiết phải đánh giá nhằm nâng cao chất lượng các hoạt động kinh tế đã làm xuất hiện phạm trù hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế là mối tương quan so sánh cả về tuyệt đối và tương đối giữa lượng kết quả đạt được và chi phí bỏ ra Mục tiêu của các nhà quản lý là với một lượng

dự trữ tài nguyên nhất định tạo ra được khối lượng sản phẩm lớn nhất Điều đó cho thấy quá trình sản xuất là sự liên hệ mật thiết giữa các yếu tố đầu vào, đầu ra, là sự biểu hiện kết quả của các mối quan hệ thể hiện tính hiệu quả của sản xuất

Hiệu quả kinh tế đi liền với nội dung tiết kiệm chi phí tài nguyên cho sản xuất, tức là giảm đến mức tối đa chi phí sản xuất trên một đơn vị sản phẩm tạo ra

Bản chất của hiệu quả kinh tế xuất phát từ mục đích của sản xuất và phát triển kinh tế-xã hội nhằm đáp ứng ngày càng cao nhu cầu về vật chất và tinh thần của mọi thành viên trong xã hội

Trang 30

Để hiểu rõ bản chất của hiệu quả kinh tế, chúng ta cần phân biệt rõ sự khác nhau giữa các khái niệm sau đây:

Kết quả kinh doanh và hiệu quả kinh doanh: Kết quả kinh doanh là những gì mà doanh nghiệp đạt được sau một quá trình sản xuất kinh doanh nhất định Kết quả biểu hiện bằng hiện vật hoặc giá trị Kết quả cũng phản ánh chất lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh mang tính định tính như uy tín, danh tiếng của doanh nghiệp, chất lượng sản phẩm Trong khi đó, khái niệm hiệu quả kinh doanh người ta sử dụng cả hai chỉ tiêu kết quả (đầu ra) và chi phí (các nguồn lực đầu vào) để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh Trong lý thuyết và thực tế cả hai chỉ tiêu kết quả và hiệu quả kinh doanh đều có thể xác định bằng đơn vị hiện vật và đơn vị giá trị Tuy nhiên “đầu vào”

và “đầu ra” không cùng đơn vị đo lường nên sử dụng đơn vị hiện vật để xác định hiệu quả kinh doanh sẽ khó khăn, còn việc sử dụng đơn vị giá trị sẽ dễ dàng hơn vì luôn luôn đưa các đại lượng khác nhau về cùng đơn vị đo lường Kết quả kinh doanh là mục tiêu của doanh nghiệp còn hiệu quả kinh doanh phản ánh việc thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp ở trình độ nào

Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội: Nếu hiệu quả kinh tế là mối tương quan so sánh giữa kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra thì hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả về mặt xã hội và chi phí bỏ ra Kết quả về mặt xã hội bao gồm: giải quyết công ăn việc làm, nâng cao đời sống, trình độ văn hóa cho người lao động, bảo vệ môi trường,…Giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau, chúng là tiền đề của nhau và là phạm trù thống nhất

Hiệu quả kinh tế là tiền đề vật chất của hiệu quả xã hội Nếu hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp giảm tức là doanh nghiệp mất đi khả năng cạnh tranh, thiếu sức sống

và trở thành gánh nặng cho đất nước Vì thế doanh nghiệp không thể đạt được mục tiêu

xã hội Hiệu quả kinh tế có hai mặt định lượng và định tính:

 Về mặt định lượng: Biểu hiện mối tương quan giữa kết quả thu được với chi phí bỏ

ra, chênh lệch này càng lớn thì hiệu quả kinh tế càng cao và ngược lại

 Về mặt định tính: Mức độ hiệu quả kinh tế cao thu được phản ánh sự cố gắng, nỗ lực, trình độ và năng lực quản lý ở các khâu, các cấp quản lý và gắn bó của việc giải quyết những yêu cầu và mục tiêu kinh tế với những yêu cầu và mục tiêu chính trị xã

hội (Nguyễn Đình Phan & Nguyễn Kế Tuấn, 2007)

Trang 31

2.5 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá kết quả kinh tế và hiệu quả kinh tế các hộ trồng keo

2.5.1 Hệ thống chỉ tiêu phản ánh chi phí hoạt động của các hộ trồng keo

- Chi phí cố định (Chi phí bất biến – định phí): Chi phí bất biến không thay đổi

cùng với thay đổi của khối lượng hoạt động Xét cho 1 sản phẩm (đơn vị sản phẩm) chi phí bất biến có quan hệ tỷ lệ nghịch với khối lượng hoạt động Chi phí bất biến của các

hộ trồng keo chủ yếu bao gồm: Chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí sửa chữa lớn, chi phí thuê máy móc, chi phí tiền lương theo thời gian, chi phí lãi vay và thuế

Chi phí cố định đối với nghề trồng keo là chi phí giống cây trồng, chi phí mua phân bón, chi phí thuốc phòng trừ dịch bệnh, vi sinh, vi lượng; chi phí năng lượng; chi phí tiền lương công nhân trực tiếp; chi phí sửa chữa nhỏ, các khoản chi phí giao dịch khác

- Chi phí biến đổi (chi phí khả biến – biến phí): Chi phí khả biến là chi phí thay

đổi cùng với thay đổi của khối lượng hoạt động theo một tỷ lệ thuận Khi khối lượng hoạt động tăng, làm tăng chi phí khả biến, khi khối lượng hoạt động giảm, làm giảm chi phí khả biến Khi khối lượng họat động bằng 0, chi phí khả biến cũng bằng 0

Chi phí biến đổi của nghề trồng keo chủ yếu là chi phí chăm sóc cây trồng, bao gồm: Chi phí mua phân bón, chi phí tưới tiêu, chi phí năng lượng …

- Chi phí lao động: Là các khoản lương nhân viên trả theo tỷ lệ phần trăm

doanh thu hoặc lợi nhuận …

- Chi phí cơ hội: Là lợi ích bỏ qua khi quyết định lựa chọn các phương án Lợi

ích cao nhất của một trong các dự án bị bỏ qua trở thành chi phí cơ hội của dự án được chọn Chi phí cơ hội ở đây là sự so sánh giữa mức lãi suất từ các nguồn khác nhau như ngân hàng, quỹ xóa đói giảm nghèo,… tại thời điểm các địa phương bỏ vốn ra đầu tư trồng keo Vì vậy chi phí cơ hội không được tính toán để hạch toán lợi nhuận mà để xem xét mức độ hiệu quả giữa việc trồng keo với việc đầu tư vào các dự án khác có

hiệu quả hơn hay không

2.5.2 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá kết quả kinh tế của các hộ trồng keo

- Chỉ tiêu tổng giá trị sản xuất (GO): Tổng giá trị sản xuất của hộ trồng keo được

xác định bằng tổng giá trị bằng tiền của các loại sản phẩm được sản xuất ra ở các diện tích trồng keo trong một giai đoạn sản xuất nhất định (thường là một năm), bao gồm cả

phần giá trị để lại tiêu dùng và phần giá trị sản phẩm bán ra trên thị trường

Trang 32

N

Công thức tính: GO = Σ P i *Q i , trong đó:

i=1

Pi: là giá sản phẩm thứ i, Qi: là khối lượng sản phẩm sản xuất thứ i

- Chỉ tiêu chi phí trung gian (IC): Là toàn bộ các khoản chi phí được sử dụng

trong quá trình sản xuất kinh doanh của hộ trồng keo không tính khấu hao TSCĐ và tiền công lao động trả cho nhân viên, bao gồm mua cây giống, chi phí phân bón, chi

phí thuốc phòng trừ dịch bệnh, vi sinh, vi lượng và các khoản chi phí giao dịch khác

Công thức tính: IC = Σ C i *G i, trong đó:

Ci: Số lượng đầu tư vào sản phẩm thứ i Gi: Đơn giá đầu vào sản phẩm thứ i Các yếu tố cấu thành Chi phí trung gian có thể là

- Chỉ tiêu giá trị tăng thêm (VA): Được xác định bằng chênh lệch giữa tổng giá

trị sản xuất (GO) và chi phí trung gian (IC)

Công thức: VA = GO - IC

Giá trị tăng thêm (VA) có thể bao gồm những khoản mục sau:

- Thu nhập của người lao động gồm tiền lương, tiền công (kể cả trả công bằng

sản phẩm đối với công việc được thực hiện); các khoản bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn, và các khoản chi hỗ trợ khác cho người lao động tính vào chi phí sản xuất và không phải trích ra từ các quỹ độc lập của đơn vị

Trang 33

- Thuế sản xuất khác là thuế đánh vào quá trình sản xuất của đơn vị sản xuất kinh

doanh Ở Việt Nam thuế sản xuất khác gồm: thuế môn bài, thuế môi trường, thuế tài

nguyên, và các khoản lệ phí coi như thuế (ví dụ: lệ phí trước bạ, lệ phí liên quan đến sản xuất kinh doanh, ….) Trợ cấp sản xuất luôn có trong giá cơ bản Trợ cấp sản xuất

gồm có trợ cấp sản xuất khác và trợ cấp sản phẩm

- Khấu hao tài sản cố định là số tiền trích khấu hao cơ bản tài sản cố định ở đơn

vị phân bổ vào chi phí sản xuất kinh doanh

- Giá trị thặng dư

+ Giá trị thặng dư: gồm lợi tức thuần từ hoạt động kinh doanh, lãi trả tiền vay

ngân hàng, chi mua bảo hiểm tài sản

- Chỉ tiêu lợi nhuận: Lợi nhuận của các hộ trồng keo được xác định bằng

chênh lệch giữa tổng giá trị sản xuất (GO) và chi phí sản xuất (C)

Công thức: MI = GO - C

Trong đó: Tổng chi phí sản xuất (C): là toàn bộ chi phí bằng tiền mặt của hộ trồng keo để tiến hành sản xuất kinh doanh (như phân bón, thuốc trừ sâu, giống), chi phí lao động, lãi vay và khấu hao TSCĐ

2.5.3 Hệ thống chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế của hộ trồng keo

- Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng đất của hộ dân trồng keo: Chỉ tiêu

Giá trị sản xuất trên diện tích đất sử dụng (GO/ha) Chỉ tiêu Giá trị tăng thêm trên diện tích đất sử dụng (VA/ha) Chỉ tiêu lợi nhuận trên diện tích đất sử dụng (LN/ha) Trong

đó: (ha) là diện tích đất sử dụng của hộ dân trồng keo

- Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả trên tổng chi phí của hộ trồng keo: Chỉ tiêu

Giá trị tăng thêm trên tổng chi phí sản xuất (VA/TCP) Chỉ tiêu Lợi nhuận trên tổng chi

phí (LN/TCP)

Trong đó: TCP là tổng chi phí sản xuất trong một chu kỳ sản xuất

Đây là những chỉ số quan trọng để so sánh và đánh giá khả năng sinh lời hay sức hấp dẫn của một nghề sản xuất trong mối tương quan với chi phí cơ hội của vốn sản xuất

- Chỉ tiêu tỷ suất thu nhập hỗn hợp trên chi phí (MI/C): Chỉ tiêu này phản

ánh trung bình 1 đồng chi phí sản xuất đầu tư vào 1ha cây keo thì tạo ra bao nhiêu đồng thu nhập hỗn hợp?

Trang 34

2.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất cây keo

- Đất đai: Đất đai là cơ sở tự nhiên, là tiền đề đầu tiên của mọi quá trình sản

xuất có liên quan trực tiếp đến các nhân tố về lý, hóa, sinh học và thổ nhưỡng Đất đai

là biến giả, biến này đo lường tác động của yếu tố vùng lên sản lượng trồng keo

- Nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực trong nông nghiệp là tổng thể sức lao động

tham gia vào hoạt động sản xuất nông nghiệp, bao gồm số lượng và chất lượng người lao động Về số lượng bao gồm những người trong độ tuổi (nam từ 15 – 60 tuổi, nữ từ 15-55 tuổi và những người trên và dưới độ tuổi nói trên tham gia hoạt động sản xuất nông nghiệp) Như vậy về lượng của nguồn nhân lực trong nông nghiệp khác ở chỗ, nó không phải chỉ bao gồm những người trong độ tuổi mà bao gồm cả những người trên và dưới độ tuổi có khả năng và thực tế tham gia lao động Về chất lượng bao gồm thể lực và trí lực của người lao động, cụ thể là trình độ sức khỏe, trình độ nhận thức, trình độ chính

trị, trình độ văn hóa, nghiệp vụ và tay nghề của người lao động

- Số năm kinh nghiệm: Là số năm mà hộ nông dân đã tham gia trồng keo

Kinh nghiệm được tích lũy qua nhiều năm hoặc học hỏi kinh nghiệm từ bạn bè Có thể nói đây là một nhân tố quan trọng vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất cây keo từ khâu lựa chọn vị trí trồng keo, lựa chọn cây giống, phân bón, chăm sóc, quản lý rừng ,…Do đó mô hình kỳ vọng nhân tố kinh nghiệm của hộ trồng sẽ đồng biến với năng suất trồng keo

- Chất lượng cây giống: Cây trồng có mức độ quan trọng với năng suất đạt

được, nếu chất lượng cây giống trồng thích hợp sẽ cho năng suất cao, chất lượng lớn thì khả năng chịu với các điều kiện xấu tốt, theo đó mô hình kỳ vọng chất lượng cây giống có quan hệ (+) với năng suất

- Quy mô diện tích trồng rừng của các hộ: Theo các chủ hộ trồng thì quy mô

diện tích trồng ảnh hưởng lớn tới năng suất trồng keo, diện tích trồng quá lớn sẽ làm mất hiệu quả, năng suất thấp Do vậy mô hình kỳ vọng quy mô diện tích trồng sẽ quan

hệ nghịch biến với năng suất

2.7 Tổng quan các tài liệu nghiên cứu

- Nghiên cứu của tác giả Trần Công Quân (2012) cho kết luận việc xử lý thực bì

và làm đất ở keo lai có ảnh hưởng đến sinh trưởng cả về đường kính và chiều cao cây keo lai Cụ thể về đường kính như, sau 3 tuổi có làm đất làm thực bì cây cho đường

Trang 35

kính 9,36cm, 5 tuổi cho đường kính 11,9cm, 7 tuổi được 13,84cm Không xử lý thực bì

và làm đất cây keo lai cho đường kính ở 3 tuổi là 7,45cm, ở 5 tuổi đường kính 10,60cm, ở 7 tuổi 12,24cm Về biện pháp bón phân, tác giả kết luận bón phân có làm tăng sinh trưởng keo lai Dùng công thức bón phân phân bón NPK tổng hợp bón lót 200g/gốc cây trồng năm 1, bón trước khi trồng 2 tuần, nghĩa là khi lấp hố thì tiến hành bón lót (332kg/ha) Bón thúc 100g/cây vào năm 2 Kết quả thu được đối với bón phân thì làm cho cây sinh trưởng cả về đường kính và chiều cao Cụ thể với chiều cao như cây có bón phân ở 3 tuổi cao 11,3m, ở 5 tuổi cao 13,78m, ở 7 tuổi cao 15,67m Cây không bón phân chiều cao thấp hơn, ở 3 tuổi cao 9,14m, ở 5 tuổi cao 11,59m và ở 7 tuổi cao 13,88m Mật độ trồng tăng đến một giới hạn nhất định sẽ tăng sản lượng gỗ đáng kể Tuy nhiên, nếu vượt quá giới hạn đó thì vốn đầu tư, số lượng cây con, công cuốc, công trồng cũng tăng lên nhưng sản lượng và chất lượng rừng cũng giảm xuống nên giá bán cũng giảm

- Phạm Thế Dũng và cộng sự (2004) đã nghiên cứu quan sát được mật độ trồng keo lai 952 cây/ha năng suất đạt được 9,7m3/ha/năm, ở mật độ 1.111 cây/ha năng suất đạt được 14,6m3/ha/năm, ở mật độ 833 cây/ha năng suất đạt được 12,95m3/ha/năm, ở mật độ 1.142 cây/ha năng suất đạt được 14,4m3/ha/năm, ở mật độ 1.666 cây/ha năng suất đạt được 21,1m3/ha/năm Tác giả giả đã khuyến nghị nên trồng mật độ từ 1.111- 1.666 cây/ha sẽ tiết kiệm giống, công trồng, chăm sóc và năng suất cao hơn

- Đoàn Ngọc Dao tập hợp nghiên cứu của Nguyễn Huy Sơn (2006) ở Đồng Nơ (Bình Phước), keo tai tượng được trồng với mật độ 1.100-1.660 cây/ha, sau 7-8 năm tuổi có thể đạt năng suất 25-30m3/ha/năm Tác giả cũng tập hợp nghiên cứu của Nguyễn Văn Thắng (1995), khi nghiên cứu ảnh hưởng của chỉ tiêu diện tích sinh trưởng tới tăng trưởng và năng suất rừng trồng keo tai tượng tại miền Đông Nam Bộ cho biết diện tích sinh trưởng thích hợp là 8m2/cây tương ứng với 1.250 cây/ha Với mật độ này keo tai tượng sẽ cho tăng trưởng và năng suất tốt nhất

- Lê Đình Khả và Đoàn Ngọc Dao (2004) nghiên cứu keo lai được trồng khảo nghiệm tại Đồng Nai, Tuyên Quang, Hòa Bình, Hà Tây và Vĩnh Phúc với mật độ trồng ban đầu là 1.650 cây/ha Kết quả trong điều kiện trồng thâm canh ở những lập địa tốt sau 6-7 năm, với mật độ hiện còn là 800 - 1200 cây/ha, keo lai có thể đạt năng suất 40-45m3/ha/năm, trong khi đó keo tai tượng đạt năng suất 14- 20m3/năm/ha và keo lá tràm

Trang 36

chỉ đạt năng suất khoảng 10m3/ha/năm Ở những nơi đất xấu năng suất rừng trồng của các loài keo lai đạt từ 15 - 18m3/ha/năm, keo tai tượng và keo lá tràm dưới 10m3/ha/năm Tác giả khẳng định trồng rừng keo lai có sinh trưởng tốt, năng suất cao

và độ phì của đất được cải thiện hơn một số giống cây trồng khác

- Nguyễn Huy Sơn và Đoàn Hoài Nam (2004) đã thực hiện nghiên cứu đề tài và đưa ra kết quả: ở các công thức mật độ khác nhau keo lai có khả năng sinh trưởng khác nhau và ở mật độ trồng 1.660 cây/ha, sinh trưởng của keo lai vượt trội hơn hẳn so với mật độ trồng 1.330 cây/ha và 2.500 cây/ha; qua 9 công thức bón phân khác nhau đã xác định được công thức bón phân 200g NPK kết hợp với 100g vi sinh cho khả năng sinh trưởng tốt nhất Việc tỉa cành đã giảm diện tích quang hợp của cây dẫn đến hạn chế khả năng sinh trưởng, tuy nhiên mức độ biểu hiện chưa rõ

2.8 Tổng quan về nghề trồng keo trên thế giới và Việt Nam

2.8.1 Tổng quan về nghề trồng keo trên thế giới

Keo lá tràm là cây nguyên sản ở phía bắc Australia, Papua new Guiea và Irian Juaya của Indonesia Hiện nay, người ta tìm ra khoảng 1.350 loài cây Keo trên toàn thế giới, trong đó khoảng 950 loài có nguồn gốc ở Australia, và phần còn lại phổ biến trong các khu vực khô của vùng nhiệt đới và ôn đới ấm ở cả hai bán cầu, bao gồm Châu Phi, Miền Nam Châu Á, Châu Mỹ dẫn theo Lê Đình Khả,Trần Đức Dục, Hoàng Văn Công, Lê Thanh Bồn (1992)

Nghiên cứu năm 1987 của Rufelds cho thấy tại miền Bắc Sabah –Malaisia, keo lai xuất hiện ở rừng keo tai tượng 3 - 4 cây/ha còn Wong thì thấy xuất hiện tỷ lệ 1/500 cây

Năm 1991 Cyrin Pinso và Robert NaSi đã thấy tại khu UluKukut cây lai tự nhiên đời F1 sinh trưởng khá hơn các xuất xứ của keo tai tượng ở Sabah Các tác giả này cũng thấy rằng gỗ của keo lai là trung gian giữa keo tai tượng và keo lá tràm, có phẩm chất tốt hơn keo tai tượng

Tại Thái Lan (Kij Kar,1992), keo lai được tìm thấy ở vườn ươm keo tai tượng (lấy giống từ Malaisia) tại trạm nghiên cứu Jon – Pu của Viện nghiên cứu Lâm nghiệp Đài Loan (Kiang Tao et al,1989) Trong giai đoạn vườn ươm keo lai hình thành lá giả (Phylod) sớm hơn keo tai tượng và muộn hơn keo lá tràm, dẫn theo Lê Đình Khả (1997)

Keo lai đã được nghiên cứu nhân giống thành công bằng hom (Griffin, 1991) Tuy nhiên, trên thế giới vẫn chưa có những nghiên cứu về tính chất vật

lý và cơ học cũng như tính chất bột giấy của keo lai và chưa có những nghiên cứu

Trang 37

chọn lọc cây trội và khảo nghiệm dòng vô tính để từ đó tạo ra các dòng tốt nhất để đưa vào sản xuất (Lê Đình Khả,1999)

Hiện nay keo lai được trồng rất nhiều quốc gia trên thế giới: Australia, Papua new Guinea va Indonexia, Malaixia, Philippin phù hợp với nhiều điều kiện sinh thái, cây phát triển nhanh, trồng dễ sống, trong một chu kỳ cho một sinh khối lớn hơn các loài keo khác và chất lượng gỗ cũng đẹp Qua các số liệu khảo nghiệm và trồng rừng thực tế thì sinh trưởng cây keo lai sinh trưởng rất nhanh và cho sinh khối lớn hơn rất nhiều so với các loài cây keo bố mẹ và các giống keo lai khác

Theo Turnbull J.W và cộng sự giới thiệu các loài keo acacia đã được trồng ở trên 70 quốc gia Kull A C và cộng sự đã thu thập diện tích trồng keo của một số

nước trên thế giới trong “Adoption, use and perception of Australian acacias around

the world” như bảng 2.1

Bảng 2.1: Diện tích trồng keo một số nước trên thế giới, năm 2011

Địa danh Năm phổ biến trồng Diện tích trồng Keo (ha)

Như vậy có thể thấy, keo có đa dạng loài, được tìm thấy khá rộng trên thế giới Một số nước đã trồng keo từ khá sớm và diện tích trồng cũng đã đạt được những thành tựu nhất định

2.8.2 Tổng quan về nghề trồng keo tại Việt Nam

Ở nước ta, keo lai xuất hiện lác đác một số nơi ở Nam Bộ như Tân Tạo, Trảng Bom, Sông Mây và ở BaVì (Hà Tây), Phú Thọ, Hoà Bình và Tuyên Quang… (Lê Đình Khả,1999) Những cây lai này đã xuất hiện trong rừng keo tai tượng với những tỷ lệ khác nhau Ở các tỉnh Miền Nam là 3 - 4%, còn ở Ba Vì là 4 - 5% Riêng giống lai tự nhiên tại BaVì được xác định là Acacia Mangium (xuất xứ Daitree thuộc bang Queensland) với Acacia auriculiformis (xuất xứ Darwin thuộc Bang Northern Territoria) của Australia.…

Trang 38

Keo lai được phát hiện và khảo nghiệm đợt 1 từ năm 1993 – 1995, đến năm

1996 Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng đã phối hợp với các đơn vị khác tiếp tục nghiên cứu về keo lai Các nghiên cứu này là chọn lọc thêm các cây trội keo lai tự nhiên, xây dựng khảo nghiệm các dòng vô tính, tiến hành đánh giá tiềm năng bột giấy của keo lai cũng như tiến hành khảo nghiệm các dòng keo lai được lựa chọn ở các vùng sinh thái khác nhau (Lê Đình Khả, Phạm Văn Tuấn, Nguyễn Văn Thảo và các cộng sự,1999; Lê Đình Khả,1999) Kết quả cho thấy keo lai có ưu thế lai rõ rệt về sinh trưởng so với keo tai tượng và keo lá tràm, có nhiều đặc điểm hình thái trung gian giữa keo tai tượng và keo lá tràm Khi cắt cây để tạo chồi thì keo lai cho rất nhiều chồi (trung bình 289 hom/01gốc) Các hom này có tỷ lệ ra rễ trung bình 47%, trong đó có

11 dòng cho ra rễ từ 57 – 85% Sai khác giữa các dòng về sinh trưởng là khá rõ Một

số dòng vô tính sinh trưởng rất nhanh nhưng các chỉ tiêu chất lượng không đạt yêu cầu, một số dòng vừa sinh trưởng nhanh vừa có các chỉ tiêu chất lượng tốt có thể nhân giống nhanh và số lượng nhiều đưa vào sản xuất như các dòng BV5, BV10, BV16, BV29, BV32

Năm 1996 –1997 việc chọn lọc cây trội tại BaVì (Hà Tây) và khu vực Đông Nam Bộ như khu vực Bầu Bàng, Sông Mây và trường Cao Đẳng Lâm nghiệp Ở BaVì điều kiện lập địa khá khắc nghiệt (đất đồi trọc, nghèo dinh dưỡng và mùa đông lạnh)

Ở Đông Nam Bộ là đất phù sa cổ sâu, ít bị đá ong hoá, tương đối bằng phẳng,

có nắng quanh năm Vì vậy, keo lai ở BaVì sinh trưởng chậm hơn ở Đông Nam Bộ song các cây lai được chọn cả hai nơi đều có sinh trưởng vượt trội rõ rệt hơn so với keo tai tượng, số liệu dưới đây cho thấy những cây keo lai được lựa chọn có đường kính vượt keo tai tượng 30,1 – 149,1% (tại BaVì) và 25,3 – 107,7% (tại Đông Nam Bộ), chiều cao vượt keo tai tượng từ 29,4 – 125,8% (tại Ba Vì) và 12,1 – 81,8% (tại Đông Nam Bộ) Đây cũng là những cây keo lai có hình dáng thân cây và tán lá đẹp nhất ở mỗi nơi, khảo nghiệm dòng vô tính có thể sẽ chọn được một số dòng tốt nhất để phát triển vào sản xuất (Lê Đình Khả, Nguyễn Văn Thảo, Phạm Văn Tuấn và các cộng

sự 1993; Lê Đình Khả, 1999)

Khảo nghiệm một số dòng vô tính mới được chọn năm 1996 ở (Cẩm Quỳ) đã được xây dựng ngay tại nơi chọn lọc cây mẹ Nguồn keo lai được lựa chọn là từ các rừng keo tai tượng được lấy giống từ Đồng Nai, thấy nổi lên một số nét chính các cây trội keo lai mới được chọn mặc dù có độ vượt ban đầu khá lớn, song qua khảo nghiệm

Trang 39

đều thấy sinh trưởng kém hơn các dòng keo lai cũ là BV5, BV10 Trong 14 dòng được đưa vào khảo nghiệm có 10 dòng vượt các loài keo có bố mẹ được trồng làm đối chứng Trong đó có 8 dòng có độ vượt lớn hơn 25% so với các loài cây bố mẹ (Lê Đình Khả và các công sự, 1997-1999) Hệ số biến động về đường kính và chiều cao của keo lai cũng luôn nhỏ hơn keo tai tượng và keo lá tràm, nghĩa là keo lai có ưu điểm

có đường kính và chiều cao đồng đều hơn keo tai tượng (Lê Đình Khả và các cộng sự, 1997)

Vào đầu những năm 1960, nhiều loài keo đã được đưa vào Việt Nam để thử nghiệm gây trồng, trong số đó có loài keo lá tràm (A auriculiformis) đã trở thành cây trồng rừng quan trọng và phổ biến nhất ở các tỉnh phía Nam Những năm 1980, nhiều loài keo đã được nhập hạt về thử nghiệm ở nước ta bao gồm cả nguồn hạt giống do các

dự án và tổ chức quốc tế tài trợ, trong đó có nhiều lô hạt giống chuẩn từ Australia Các loại giống gồm keo tai tượng (A.mangium), keo lá liềm (A crassicarpa), keo đa thân (A aulacocarpa), keo bụi (A cincinnata), keo lá sim (A holosericea)… Vào năm

1989, Việt Nam mới nhập có 80kg hạt giống keo tai tượng, song đến năm 1990, lượng hạt giống keo tai tượng được nhập đã lên tới 800kg đã chứng tỏ vai trò to lớn của loài keo này (Bộ Lâm nghiệp, 1991) Sau này các cơ sở nghiên cứu của Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam và các cơ quan khác đã nhập thêm nhiều loài keo mới từ Australia vào khảo nghiệm, đó là các loài keo cho vùng cao như keo đen (A mearnsii), A melanoxylon, A dealbata, A decurrens, A elata … và các loài keo vùng khô như A difficilis, A tumida, A neurocarpa

Vào cuối những năm 1980 ở vùng Đông Nam Bộ như tại Trường trung học Lâm nghiệp Trảng Bom, các rừng trồng keo tai tượng tại địa phương … lần đầu tiên đã phát hiện ra các cây keo lai (acacia hybrid) tự nhiên (cây mẹ là keo tai tượng, cây bố là keo

lá tràm), hạt của các cây này đã được thu lại để đưa vào thử nghiệm Loài keo này được đưa vào nhân giống vô tính vào năm 1992 Sau 4 năm khảo nghiệm, đến năm

1996, nhân giống tốt nhất được đưa vào trồng công nghiệp Đến năm 2004, diện tích keo lai trồng được ở Việt Nam khoảng 127.000ha, chỉ riêng trong năm 2003 diện tích loại keo này trồng được khoảng 46.000ha, còn diện tích keo tai tượng và keo lá tràm cũng trong năm này trồng được khoảng 37.000ha

Từ năm 1982, Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam cùng các trung tâm, trạm nghiên cứu của Viện, nhiều cơ sở nghiên cứu của địa phương như Trung tâm Lâm

Trang 40

nghiệp Phù Ninh, La Ngà … đã thực hiện nhiều khảo nghiệm quan trọng nhằm xác định chính xác các loài và xuất xứ có thể đưa vào trồng rừng trên diện rộng trên toàn quốc và tại các vùng cụ thể Đến năm 2004, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

đã phát hành Cẩm nang ngành Lâm nghiệp, trong đó đã xác định được 4 loài keo có ưu thế và được ưu tiên cho các Chương trình trồng rừng (rừng sản xuất), trồng cây lấy gỗ,

đó là keo lá liềm (A crassicarpa), keo lá tràm (A auriculiformis), keo lai (A hybrid)

và keo tai tượng (A mangium Wild) Và đến năm 2005, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành Quyết định số 38/2005/QĐ-BNN ngày 6/7/2005 V/v: Ban hành định mức kinh tế kỹ thuật trồng rừng, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh và bảo vệ rừng, trong đó đưa 3 loài keo là keo tai tượng, keo lá tràm và keo lai vào định mức trồng rừng chuẩn của quốc gia

Đến năm 1992 (Vụ Khoa học công nghệ, Bộ Lâm nghiệp, 1994) thì các loài keo trồng được khoảng 66.131ha (trong đó keo tai tượng trồng được 23.021ha và keo lá tràm khoảng 43.110 ha) Đến năm 2011, diện tích các loài keo trồng tập trung của Chính phủ khoảng 580.000ha (bảng 1.1) Qua các con số trên thì nước ta bình quân mỗi năm diện tích trồng keo tập trung thêm được từ 30.000ha đến 34.000ha và keo lai

có xu hướng trồng vượt trội so với các loài keo khác, tỷ lệ chiếm khoảng 2/3 tổng diện tích trồng

Nhìn chung nghề trồng keo ở Việt Nam đã và đang đạt được những thành tựu đáng khích lệ về khảo nghiệm và gây trồng các loài keo Diện tích đang tăng dần qua các năm

2.9 Khung phân tích của đề tài

Mục tiêu 1: Để giải quyết mục tiêu 1, tác giả sử dụng các chỉ tiêu sau để đánh giá:

Các chỉ tiêu Đơn vị tính

Ngày đăng: 02/04/2018, 23:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w