1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sản xuất tập trung cây dược liệu của hộ nông dân tại huyện quỳnh lưu, tỉnh nghệ an

99 184 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 3,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài: “Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sản xuất tập trung cây dược liệu của hộ nông dân tại huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An” là công t

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

KHÁNH HÒA - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài: “Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết

định sản xuất tập trung cây dược liệu của hộ nông dân tại huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, dưới sự hướng dẫn của Cô giáo

TS Phạm Thị Thanh Thủy và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác cho tới thời điểm này

Nghệ An, ngày 15 tháng 10 năm 2017

Tác giả luận văn

Võ Thị Hiền

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, trước hết tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến Cô giáo TS Phạm Thị Thanh Thủy, người đã tận tình hướng dẫn từ định hướng cụ thể, chi tiết để dần tháo gỡ những khó khăn trong quá trình nghiên cứu Từ cách trình bày, cách thu thập, phân tích và xử lý số liệu

Ngoài ra, Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Quý Thầy Cô trường Đại học Nha trang, đặc biệt là các thầy cô Khoa kinh tế và Phòng đào tạo sau đại học (khoa sau đại học) đã truyền đạt kiến thức, hỗ trợ, trang bị cho tôi những kiến thức cần thiết trong suốt quá trình học tập

Tôi xin chân thành cảm ơn các cán bộ phòng nông nghiệp, phòng lao động TB

& XH, các cán bộ địa phương và bà con nông dân huyện Quỳnh lưu đã dành chút thời gian quý báu của mình để trả lời và hoàn thành bảng câu hỏi, giúp tôi có cơ sở dữ liệu thực hiện đề tài của mình

Xin cảm ơn các anh chị em trong lớp Cao học Kinh tế phát triển 2014.1; lớp kinh tế phát triển 2015.2 đã đoàn kết giúp đỡ, chia sẽ và động viên tôi trong suốt thời gian học

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn sâu sắc những người thân trong gia đình của tôi – đã động viên, khích lệ tôi về tình cảm cũng như vật chất cần thiết giúp tôi có nghị lực học tập và phấn đấu trong cuộc sống

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Nghệ An, ngày 15 tháng 10 năm 2017

Tác giả luận văn

Võ Thị Hiền

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN iii

LỜI CẢM ƠN iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT viii

DANH MỤC BẢNG ix

DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH ẢNH x

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN xi

CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU 1

1.1 Xác định vấn đề nghiên cứu 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

1.5 Đóng góp của đề tài 3

1.6 Kết cấu của đề tài 3

CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 5

2.1 Tổng quan về CDL và vai trò của trồng CDL đối với đời sống của người dân 5

2.1.1 Cây dược liệu 5

2.1.2 Vai trò của trồng cây dược liệu đối với đời sống người dân 5

2.1.3 Sản xuất tập trung 6

2.2 Tổng quan các vấn đề liên quan đến nông hộ, kinh tế nông hộ và thu nhập nông hộ 6

2.2.1 Nông hộ 6

2.2.2 Phân loại nông hộ 7

2.2.3 Kinh tế nông hộ 8

2.2.4 Đặc điểm kinh tế nông hộ 9

2.2.5 Cơ sở lý thuyết về thu nhập của nông hộ và hộ sản xuất cây dược liệu 10

Trang 6

2.3 Lý thuyết về mô hình ra quyết định 14

2.3.1 Lý thuyết ra quyết định 14

2.3.2 Lý thuyết kinh tế về động cơ của A.Maslow 16

2.4 Tổng quan tình hình tài liệu nghiên cứu có liên quan đến đề tài 16

2.4.1 Tổng quan tài liệu nghiên cứu trong nước 16

2.4.2 Tổng quan tài liệu nghiên cứu nước ngoài 18

2.5 Một số bài học kinh nghiệm về trồng cây dược liệu ở một số địa phương 19

2.5.1 Bài học kinh nghiệm từ tỉnh Lâm Đồng 19

2.5.2 Bài học từ tỉnh Phú Yên 20

2.5.3 Bài học từ tỉnh Thái Bình 21

2.5.4 Bài học từ tỉnh Thái Nguyên 22

2.5.5 Bài học từ tỉnh Hà Giang 22

2.6 Các giả thuyết nghiên cứu 23

2.6.1 Biến phụ thuộc 23

2.6.2 Biến độc lập 23

2.7 Khung phân tích của nghiên cứu 24

CHƯƠNG III: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

3.1 Quy trình nghiên cứu 26

3.2 Phương pháp thu thập dữ liệu 26

3.2.1 Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp 26

3.2.2 Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp 27

3.2.3 Phương pháp lấy mẫu 27

3.2.4 Xác định cỡ mẫu 27

3.2.5 Cách thức phỏng vấn 28

3.2.6 Xây dựng bảng câu hỏi 28

3.3 Phương pháp phân tích 29

Trang 7

CHƯƠNG IV: PHÂN TÍCH VÀ THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33

4.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 33

4.1.1 Đặc điểm vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên huyện Quỳnh Lưu 33

4.1.2 Đặc điểm về cơ cấu kinh tế xã hội 34

4.2 Các chủ trương phát triển trồng cây dược liệu ở Việt Nam nói chung và tại huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An nói riêng 35

4.3 Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây dược liệu 35

4.3.1 Kim ngân hoa 35

4.3.2 Cà gai leo 37

4.3.3 Xuyên tâm liên 39

4.4 Mô tả mẫu nghiên cứu 41

4.5 Hiện trạng trồng cây dược liệu tại huyện Quỳnh Lưu 45

4.5.1 Hiện trạng chung 45

4.5.2 Kết quả sản xuất 46

4.5.3 Về thuận lợi và khó khăn chung 49

4.6 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sản xuất tập trung cây dược liệu của hộ nông dân tại huyện Quỳnh Lưu 52

4.7 Đánh giá chung về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sản xuất tập trung cây dược liệu của hộ nông dân tại huyện Quỳnh Lưu 59

CHƯƠNG V: KẾT LUẬN VÀ MỘT SỐ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 61

5.1 Kết luận 61

5.2 Một số hàm ý chính sách nhằm phát triển diện tích trồng dược liệu 62

5.2.1 Tạo điều kiện cho các hộ dân được vay vốn ưu đãi để sản xuất tập trung cây dược liệu .62

5.2.2 Hỗ trợ các hộ dân trong việc tìm nguồn đầu ra ổn định cho sản phẩm 62

5.2.3 Xây dựng chuỗi liên kết cho sản phẩm: 63

5.2.4 Những giải pháp khác 65

5.3 Kiến nghị 67

5.4 Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo 69

TÀI LIỆU THAM KHẢO 70 PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1: Cơ cấu lấy mẫu nghiên cứu tại huyện Quỳnh Lưu 28

Bảng 3.2: Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sản xuất tập trung cây dược liệu của hộ nông dân 30

Bảng 4.1: Thống kê số hộ đã tham gia trồng dược liệu và chưa trồng dược liệu trong nhóm được phỏng vấn 41

Bảng 4.2: Thống kê mẫu theo hai nhóm tham gia canh tác cây dược liệu và nhóm không tham gia canh tác cây dược liệu 42

Bảng 4.3: Thống kê số hộ trồng dược liệu nghiên cứu trong mẫu nghiên cứu 43

Bảng 4.4: Thống kê giá trị trung bình nhân khẩu học của mẫu nghiên cứu 43

Bảng 4.5: Thống kê nhân khẩu học theo hai nhóm tham gia và không tham gia trồng dược liệu 44

Bảng 4.6: Năng suất của một số loại cây trồng 46

Bảng 4.7: Chi phí trung bình tính cho 1 sào cây trồng 47

Bảng 4.8: Kết quả sản xuất của một số loại cây trồng 47

Bảng 4.9: Hiệu quả sản xuất từ các loại cây trồng tính cho 1 tháng 49

Bảng 4.10: Tóm tắt mô hình 52

Bảng 4.11: Mức độ phù hợp của mô hình 52

Bảng 4.12: Kết quả ước lượng mô hình Binary logistic 54

Bảng 4.13: Mô phỏng xác suất thay đổi trong mô hình 58

Trang 10

DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH ẢNH

Hình 4.1: Vị trí của điểm nghiên cứu (bản đồ trước 2013) 33

Hình 4.2: Giàn leo Kim ngân hoa 36

Hình 4.3: Hoa kim ngân 37

Hình 4.4: Cà gai leo trưởng thành 38

Hình 4.5: Vườn ươm Xuyên tâm liên 40

Hình 4.6: Vườn trồng Xuyên tâm liên 41

Sơ đồ 2.1: Mô hình đề xuất – Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định canh tác cây dược liệu 25

Sơ đồ 2.2: Quy trình nghiên cứu 26

Trang 11

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Phát triển và bảo tồn cây dược liệu (CDL) là một trong những mục tiêu quan trọng và cũng là nhiệm vụ của những nhà lãnh đạo trong nước cũng như trên thế giới

Ở Việt Nam, việc giữ gìn và phát triển nguồn dược liệu quý là vấn đề lớn của các cấp chính quyền và nó được đặt lên hàng đầu trong phát triển quy hoạch tổng thế

Quỳnh Lưu là vùng đất phù hợp với nhiều loại cây trồng trong đó có dược liệu, tuy nhiên việc phát triển tập trung và có quy hoạch thì chưa được chú trọng từ các cấp

chính quyền địa phương Chính vì vậy mà đề tài: Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết

định sản xuất tập trung cây dược liệu của hộ nông dân tại huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An được tiến hành nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu: Mục tiêu tổng quát của đề tài là nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sản xuất tập trung cây dược liệu tại huyện Quỳnh Lưu Từ đó

đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm khuyến khích hộ nông dân tham gia sản xuất tập trung CDL

Mục tiêu cụ thể là xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia sản xuất tập trung CDL tại huyện Quỳnh Lưu; Xem xét tác động của các nhân tố đến việc

ra quyết định canh tác tập trung CDL; Đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm khuyến khích hộ nông dân tham gia sản xuất tập trung CDL tại huyện Quỳnh Lưu

Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp khảo sát: Nghiên cứu sử dụng các phương pháp điều tra, khảo sát để thu thập số liệu về thực trạng sản xuất cây dược liệu

- Phương pháp thống kê mô tả: Dựa vào các số liệu thứ cấp thu được, sử dụng phương pháp thống kê mô tả để hệ thống các số liệu bằng các chỉ tiêu nghiên cứu dưới dạng thống kê mô tả, từ đó làm các dữ liệu cho việc phân tích đánh giá

- Tác giả sử dụng mô hình kinh tế Binary logistic để đánh giá tác động của từng yếu tố đến quyết định của hộ nông dân trong việc quyết định sản xuất tập trung cây dược liệu tại huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An

Các kết quả đạt được: Xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sản xuất tập trung cây dược liệu của hộ nông dân đó là: Độ tuổi; Trình độ học vấn; Diện tích đất nông nghiệp; Loại hình sản xuất; Vốn hoạt động; loại đất trồng, và vấn đề về việc bao tiêu sản phẩm đầu ra

Kết luận: Đưa ra một số hàm ý chính sách nhằm phát triển tập trung cây dược liệu

Từ khóa: Dược liệu; sản xuất tập trung cây dược liệu, hộ nông dân, Quỳnh Lưu

Trang 12

CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU 1.1 Xác định vấn đề nghiên cứu

Từ xa xưa, ông cha ta đã có rất nhiều bài thuốc dân gian sử dụng các loại cây thảo dược (TD), cho đến nay trong y học hiện đại, các loại cây thảo dược cũng đóng một vai trò quan trọng Nước ta được thiên nhiên ưu đãi nguồn dược liệu phong phú, tuy nhiên nguồn dược liệu này ngày càng cạn kiệt do khai thác quá mức cũng như chưa có định hướng nuôi trồng và phát triển nguồn dược liệu ổn định

Vì vậy, từ năm 2008, các dự án phát triển cây dược liệu đã được triển khai qua việc chuyển giao vốn, công nghệ cho nông dân (Hội đồng Khoa học - Công nghệ tỉnh Phú Yên đã bắt đầu triển khai Dự án “Trồng và phát triển cây dược liệu an toàn, phù hợp với vùng đất Phú Yên để làm thuốc trong nước và xuất khẩu” Với kinh phí gần 2

tỷ đồng, chỉ sau 2 năm, Trung tâm Nghiên cứu và sản xuất dược liệu Miền Trung (trụ

sở tại xã Hòa Hiệp Nam, huyện Đông Hòa, Phú Yên) đã chuyển giao giống, vốn và công nghệ cho nông dân trồng 15ha dược liệu, trong đó cây diệp hạ châu chiếm 10ha nằm rải rác trong ruộng vườn ở các xã thuộc huyện Đông Hòa, Tây Hòa, Phú Hòa và TP.Tuy Hòa)

Nhà nước cũng đã phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển cây dược liệu đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030, đây là tiền đề để quy hoạch và phát triển nguồn dược liệu đáp ứng nhu cầu trong và ngoài nước (Vào ngày 30 tháng 10 năm

2013 thủ tướng chính phủ đã ký quyết định Số: 1976/QĐ-TTg về việc Phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 Theo

đó, các vùng sẽ trồng dược liệu tập trung phù hợp với từng vùng sinh thái, có quy mô đáp ứng nhu cầu thị trường) Việc chúng ta chủ động được nguồn DL trong nước sẽ giúp tận dụng được nguồn tài nguyên thảo dược phong phú, tạo ra sản phẩm có giá thành rẻ, chất lượng tốt, và đồng thời còn góp phần tạo công ăn việc làm cho bà con nông dân chuyên trồng cây dược liệu

Với xu hướng hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, vấn đề áp dụng khoa học kỹ thuật để cải tiến năng suất cùng với việc thay đổi tập tính canh tác trong sản xuất nông nghiệp là vấn đề khẩn thiết để xóa đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập Canh tác loại sản phẩm gì mang lại hiệu quả cao, phù hợp cũng như mang lại lợi ích kinh tế cao ở

Trang 13

huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An là một vấn đề đang cần nghiên cứu Do đó tác giả lựa

chọn đề tài: “Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sản xuất tập trung cây dược liệu của hộ nông dân tại huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An” mang tính cấp thiết và

có ý nghĩa thực tiễn đối với địa phương

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

 Mục tiêu chung:

Mục tiêu tổng quát của đề tài là nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sản xuất tập trung cây dược liệu (CDL) tại huyện Quỳnh Lưu Từ đó đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm khuyến khích hộ nông dân tham gia sản xuất tập trung CDL

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Các nội dung nghiên cứu của đề tài tập trung giải đáp các câu hỏi:

Thứ nhất: Những nhân tố nào ảnh hưởng đến quyết định tham gia trồng CDL tại huyện Quỳnh Lưu?

Thứ hai: Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố trên như thế nào?

Thứ ba: Những giải pháp nào có thể áp dụng để khuyến khích hộ nông dân tham gia canh tác tập trung CDL tại huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

 Đối tượng nghiên cứu: Là những nhân tố ảnh hưởng đến việc quyết định của hộ nông dân trong việc có hay không canh tác tập trung CDL Đề tài tập trung chính vào các loại cây dược liệu là Kim Ngân Hoa, Cà Gai Leo, và Xuyên Tâm Liên

Trang 14

1.5 Đóng góp của đề tài

 Về mặt lý luận:

- Đề tài là công trình đầu tiên nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định của hộ nông dân trong canh tác CDL Nghiên cứu vì thế sẽ góp phần hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về canh tác kim ngân Hoa, cà gai leo, xuyên tâm liên cũng như trong canh tác DL nói chung

- Đề tài nghiên cứu sẽ tổng hợp, kế thừa các nghiên cứu cũng như hoạt động canh tác DL Từ đó làm rõ được các đóng góp và hạn chế của đề tài

 Về mặt thực tiễn:

- Kết quả nghiên cứu sẽ là tài liệu hữu ích giúp các nhà lãnh đạo địa phương đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp (NN) bằng việc canh tác tập trung CDL, từ đó góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập nông hộ ở huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An

- Kết quả nghiên cứu cũng có thể giúp các hộ dân trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu

có cơ hội hiểu biết về CDL để thực hiện thâm canh các loại cây này

- Luận văn cũng có thể làm tài liệu tham khảo tốt cho các nhà nghiên cứu, học viên, sinh viên những ai muốn nghiên cứu tìm hiểu về những nhân tố ảnh hưởng đến quyết định canh tác tập trung CDL

- Với góc độ cá nhân, tác giả có thể ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tế, tự sản xuất, thu gom và tìm nguồn tiêu thụ sản phẩm

1.6 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần tài liệu tham khảo và phụ lục, Nội dung của đề tài gồm 5 phần chính:

 Chương 1: Giới thiệu vấn đề

Gồm những nội dung: Xác định vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, đóng góp của đề tài

 Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu

Phần này trình bày tổng quan về cây dược liệu và vai trò của trồng cây dược liệu đối với người dân; Một số khái niệm liên quan đến nông hộ; Lý thuyết về mô hình ra

Trang 15

quyết định; Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài; Các giả thuyết nghiên cứu; một số bài học kinh nghiệm trồng cây dược liệu từ một số địa phương và khung phân tích của nghiên cứu

 Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Phần này trình bày về phương pháp thu thập dữ liệu và phương pháp phân tích

 Chương 4: Phân tích và thảo luận kết quả nghiên cứu

Nội dung gồm trình bày về đặc điểm địa bàn; kỹ thuật trồng và chăm sóc cây dược liệu; mô tả mẫu nghiên cứu; Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sản xuất tập trung cây dược liệu

 Chương 5: Kết luận và một số hàm ý chính sách

Trong phần này, tác giả trình bày các kết luận rút ra từ nghiên cứu, cũng như đề xuất các hàm ý chính sách nhằm phát triển tập trung cây dược liệu tại huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An

Trang 16

CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Tổng quan về CDL và vai trò của trồng CDL đối với đời sống của người dân 2.1.1 Cây dược liệu

Cây dược liệu là các loại cây trồng mà sản phẩm của chúng có thể sử dụng để

làm dược liệu (thuốc) chữa bệnh (Nguyễn Văn Nam – 2009)

Cây dược liệu: là những loại thực vật có tác dụng dùng để chữa bệnh hoặc bồi

bổ cơ thể khi con người sử dụng (Vũ Tuấn Minh - 2009)

2.1.2 Vai trò của trồng cây dược liệu đối với đời sống người dân

Như đã nói hiện nay không chỉ Việt Nam mà trên thế giới, với xu hướng “Trở

về thiên nhiên” thì việc sử dụng các thuốc từ DL của người dân ngày càng gia tăng bởi

nó ít có những tác động có hại và phù hợp với qui luật sinh lý của cơ thể Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), khoảng 80% dân số hiện nay trên thế giới vẫn dựa vào thuốc có nguồn gốc tự nhiên trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng Trong tuyên ngôn Alma Alta năm 1978 và “Hướng dẫn đánh giá y học cổ truyền” năm 1991, WHO luôn khuyến nghị dùng các thuốc cổ truyền vào chăm sóc sức khỏe ban đầu, đánh giá mức

độ an toàn và hiệu quả cũng như bảo đảm nguồn cung cấp những thuốc này

Cây thuốc không chỉ có giá trị trực tiếp để chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ, nếu biết bảo tồn và khai thác hợp lý thì đó còn là nguồn thu nhập tốt trong phạm vi hộ gia đình và các cộng đồng địa phương Nếu trồng cây thuốc trên quy mô lớn để tạo ra nguồn hàng hoá trên thị trường thì nó còn góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế cho đất nước Trên thế giới, nhiều nước đã xuất khẩu dược liệu và thu được nguồn ngoại tệ đáng kể Ví dụ ở Trung Quốc, vị thuốc Đông trùng hạ thảo (Cordyceps sinensis) có giá tới 2000-5000 USD/Kg Hoặc ở Triều Tiên, cây Nhân sâm đã mang lại một nguồn lợi kinh tế khá lớn cho những cơ sở trồng trọt và sản xuất thuốc từ cây này Hằng năm, công ty Hồng sâm (Hàn Quốc) đã sử dụng trên 6.000 tấn Nhân sâm, để tạo ra giá trị

sản phẩm trên 460 triệu USD (Trần Công Khánh – Trung tâm nghiên cứu và phát

triển cây thuốc dân tộc cổ truyền)

Cây thuốc, ngoài giá trị trực tiếp như một nguồn lợi kinh tế, góp phần xoá đói giảm nghèo, nó còn có tác động gián tiếp là dùng để chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ, giúp con người có cơ thể khoẻ mạnh để lao động, để tạo ra của cải vật chất, làm tăng

Trang 17

thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống Có sức khoẻ là có tất cả Đây mới là biện pháp nhằm góp phần xoá đói giảm nghèo một cách bền vững

Những số liệu trên cho thấy việc phát triển trồng cây thuốc ở nước ta có nhiều tiềm năng và cho hiệu quả kinh tế cao Cần giúp cho người dân biết cách chuyển đổi

cơ cấu cây trồng, kết hợp trồng rừng với trồng cây thuốc ở những nơi có khí hậu và đất đai phù hợp, để nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống, góp phần tích cực trong việc xoá đói giảm nghèo cho người dân ở các vùng miền

2.2 Tổng quan các vấn đề liên quan đến nông hộ, kinh tế nông hộ và thu nhập nông hộ

2.2.1 Nông hộ

Hộ nông dân là những hộ gia đình chủ yếu hoạt động NN, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá, và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn nhưng khó phân biệt các hoạt động

có liên quan với NN và không có liên quan với công nghiệp Hay nói cách khác, nông

hộ có phương tiện kiếm sống từ ruộng đất và sử dụng chủ yếu lao động gia đình và sản xuất; luôn nằm trong hệ thống kinh tế rộng lớn nhưng về cơ bản được đặc trưng tham gia một phần vào thị trường với mức độ chưa hoàn chỉnh

Nông dân là những người lao động cư trú ở nông thôn, tham gia sản xuất nông nghiệp Nông dân sống chủ yếu bằng ruộng vườn, sau đó đến các ngành nghề mà tư liệu sản xuất chính là đất đai Tùy từng quốc gia, từng thời kỳ lịch sử, người nông dân

có quyền sở hữu khác nhau về ruộng đất Họ hình thành nên giai cấp nông dân, có vị trí, vai trò nhất định trong xã hội

Nông hộ là hộ gia đình mà hoạt động chủ yếu của họ là NN, họ sống bằng nghề nông Có rất nhiều định nghĩa về nông hộ:

Trang 18

FAO(2007) định nghĩa nông hộ là những hộ có các hoạt động trong nghề trồng trọt, nghề rừng, nghề cá, nghề chăn nuôi và nghề nuôi trồng thủy sản Các sản phẩm NN được hình thành thông qua quá trình quản lý và tổ chức sản xuất bởi các thành viên trong gia đình và phần lớn chủ yếu dựa vào lao động nhà, bao gồm cả nam lẫn nữ

Lê Đình Thắng (1993) cho rằng: Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức kinh

tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn

Mặc dù có nhiều đặc điểm khác nhau về nông hộ nhưng chúng ta có thể hiểu đơn giản Nông hộ là gia đình sống bằng nghề nông, họ làm trong NN, lâm nghiệp, ngư nghiệp, dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp hoặc kết hợp làm nhiều nghề, và sử dụng lao động, vốn của gia đình là chủ yếu để sản xuất kinh doanh

2.2.2 Phân loại nông hộ

Theo Phạm Anh Ngọc (2008):

 Căn cứ vào mục tiêu và cơ chế hoạt động gồm có:

- Hộ nông dân hoàn toàn tự cấp không có phản ứng thị trường: Loại hộ này có mục tiêu là tối đa hóa lợi ích, đó là việc sản xuất các sản phẩm cần thiết để tiêu dùng trong gia đình Để có đủ sản phẩm, lao động trong nông hộ phải hoạt động cật lực và

đó cũng được coi như một lợi ích, để có thể tự cấp tự túc cho sinh hoạt, sự hoạt động của họ phụ thuộc vào:

+ Khả năng mở rộng diện tích đất đai

+ Có thị trường vật tư họ mua nhằm lấy lãi

+ Có thị trường lao động để họ bán sức lao động để có thu nhập

+ Có thị trường sản phẩm để trao đổi nhằm đáp ứng nhu cầu của mình

- Hộ nông dân sản xuất hàng hóa chủ yếu: Loại hộ này có mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận được biểu hiện rõ rệt và có phản ứng gay gắt với thị trường vốn, ruộng đất, lao động

 Theo tính chất lao động của ngành sản xuất hộ gồm có:

- Hộ thuần nông: Là loại hộ chỉ thuần túy sản xuất nông nghiệp

- Hộ chuyên nông: Là hộ chuyên làm các ngành nghề như cơ khí, mộc nề, rèn, sản xuất nguyên vật liệu xây dựng, vận tải, thủ công mỹ nghệ, dệt may, dịch vụ kỹ thuật cho nông nghiệp

- Hộ kiêm nông: Là loại hộ vừa làm NN vừa làm nghề tiểu thủ công nghiệp, nhưng thu từ NN là chính

Trang 19

- Hộ buôn bán: Ở nơi đông dân cư, có quầy hàng và buôn bán ở chợ

Các loại hộ trên không ổn định mà có thể thay đổi khi điều kiện cho phép, vì vậy sản xuất công nghiệp nông thôn, phát triển cơ cấu hạ tầng sản xuất và xã hội ở nông thôn, mở rộng mạng lưới thương mại và dịch vụ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn để chuyển hộ độc canh thuần nông sang đa ngành hoặc chuyên môn hóa Từ đó, làm cho lao động NN giảm, thu hút lao động dư thừa ở nông thôn hoặc làm cho đối tượng phi nông nghiệp tăng lên (Trích trong Nguyễn Phan Hồng Hạnh, 2015)

2.2.3 Kinh tế nông hộ

Hầu hết hộ gia đình ở nông thôn là những người có gắn bó ruột thịt, có cùng huyết thống Chủ hộ thường là ông, bà, cha, mẹ… cùng các con cháu trong gia đình Còn hộ nông dân Việt Nam trong điều kiện hiện nay được hiểu là một gia đình có tên trong hộ khẩu, gồm chủ hộ và những người cùng sống trong hộ gia đình ấy

Về mặt kinh tế, hộ gia đình có mối quan hệ gắn bó không phân biệt về tài sản, những người sống chung trong một gia đình có nghĩa vụ trách nhiệm đối với sự phát triển kinh tế Nghĩa là mỗi thành viên đều phải có nghĩa vụ đóng góp công sức vào quá trình xây dựng, phát triển của nông hộ và có trách nhiệm đối với kết quả sản xuất được Nếu sản xuất được kết quả cao, sản phẩm thu được người chủ hộ phân phối trước hết nhằm bù đắp chi phí bỏ ra, làm nghĩa vụ với nhà nước theo quy định của pháp luật, phần thu nhập còn lại nhằm trang trải cho các mục tiêu sinh hoạt thường xuyên của hộ gia đình và tái sản xuất lại Nếu kết quả sản xuất không khả quan, chủ hộ

có trách nhiệm cao nhất và đồng trách nhiệm trong gia đình

Theo Phạm Anh Ngọc (2008): Kinh tế nông hộ là một hình thức kinh tế cơ bản

có hiệu quả và tự chủ trong NN, Nó được hình thành và phát triển một cách khách quan, lâu dài, dựa trên sự tư hữu các yếu tố sản xuất, là loại hình kinh tế có hiệu quả, phù hợp với sản xuất NN, thích ứng và tồn tại phát triển trong mọi chế độ kinh tế xã hội (Trích trong Nguyễn Phan Hồng Hạnh, 2015)

Theo Tchayanov (1924), Kinh tế hộ nông dân là một phương thức sản xuất tồn tại trong mọi chế độ xã hội Mỗi phương thức sản xuất có quy luật phát triển riêng của

nó, và trong mỗi chế độ, nó tìm cách thích ứng với cơ chế kinh tế hiện hành Mục tiêu của hộ nông dân là có thu nhập cao không kể thu nhập ấy có nguồn gốc nào, trồng trọt,

Trang 20

chăn nuôi hay ngành nghề đó là kết quả chung của lao động gia đình (Trích trong Nguyễn Phan Hồng Hạnh, 2015)

Ellis (1988) thì cho rằng: Kinh tế nông hộ khác với những người làm kinh tế khác trong nền kinh tế thị trường ở bốn yếu tố: đất đai, lao động, vốn và sự tiêu dùng

Hộ là cơ sở hoạt động của xã hội, giúp cho các tổ chức xác định, đánh giá kinh tế, cùng chung một nguồn vốn, các thành viên cùng sống dưới một mái nhà, ăn chung, mọi người đều hưởng phần thu nhập, mọi quyết định đều dựa trên những thành viên, kinh tế nông hộ là một tổ chức kinh tế của nền kinh tế xã hội Các nguồn lực như đất đai, tư liệu sản xuất, lao động, vốn được đóng chung, chung một ngân sách, ngủ chung một mái nhà, ăn chung; mọi quyết định trong sản xuất kinh doanh và đời sống đều do chủ hộ phát ra (Trích trong Nguyễn Phan Hồng Hạnh, 2015)

Chung quy lại kinh tế nông hộ là loại hình kinh tế tồn tại trong gia đình hộ nông dân, được gia đình lao động đó tạo ra thu nhập và sử dụng chúng theo nhu cầu hoạt động của gia đình

2.2.4 Đặc điểm kinh tế nông hộ

Theo Nguyễn Phạm Hùng (2014), kinh tế nông hộ có các đặc điểm cơ bản sau:

- Hoạt động của kinh tế nông hộ chủ yếu là dựa vào lao động gia đình hay là lao động có sẵn mà không cần phải thuê ngoài Các thành viên tham gia hoạt động kinh tế hộ có quan hệ gắn bó với nhau về kinh tế và huyết thống

- Đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng nhất không thể thiếu của sản xuất kinh

tế hộ nông dân

- Người nông dân là người chủ thật sự của quá trình sản xuất trực tiếp tác động vào sinh trưởng, phát triển của cây trồng vật nuôi, không qua khâu trung gian, họ làm việc không kể giờ giấc và bám sát vào tư liệu sản xuất của họ

- Kinh tế nông hộ có cấu trúc lao động đa dạng, phức tạp, trong một hộ có nhiều loại lao động, vì vậy chủ hộ vừa có khả năng trực tiếp điều hành, quản lý tất cả các khâu trong sản xuất, vừa có khả năng tham gia trực tiếp quá trình đó

Do có tính thống nhất giữa lao động quản lý và lao động sản xuất nên kinh tế hộ nông dân giảm tối đa chi phí sản xuất (CPSX), và nó tác động trực tiếp lên lao động trong hộ nên có tính tự giác để nâng cao hiệu quả và năng suất lao động (Trích trong Nguyễn Phan Hồng Hạnh, 2015)

Trang 21

Tóm lại, kinh tế nông hộ là một loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh của hộ gia đình, trong đó các hoạt động chủ yếu là dựa vào lao động gia đình Quá trình phát triển của kinh tế hộ gắn liền với quá trình phát triển của hộ đang hoạt động

 Từ những đặc điểm đó và từ thực tế có thể tóm lại đặc điểm kinh tế của hộ sản xuất cây dược liệu như sau:

- Hoạt động của kinh tế các hộ sản xuất dược liệu chủ yếu là dựa vào lao động gia đình hay là lao động có sẵn mà không cần phải thuê ngoài Các thành viên tham gia hoạt động kinh tế hộ có quan hệ gắn bó với nhau về cả kinh tế và huyết thống

- Đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng nhất không thể thiếu của sản xuất kinh

tế hộ nông dân

- Người nông dân là người chủ thật sự của quá trình sản xuất trực tiếp tác động vào sinh trưởng, phát triển của cây trồng, không qua khâu trung gian, họ làm việc không kể giờ giấc và bám sát vào tư liệu sản xuất của họ

- Kinh tế các hộ sản xuất rau có cấu trúc lao động đa dạng, phức tạp, trong một

hộ có nhiều loại lao động, vì vậy chủ hộ vừa có khả năng trực tiếp điều hành, quản lý tất cả các khâu trong sản xuất, vừa có khả năng tham gia trực tiếp quá trình đó

- Do có tính thống nhất giữa lao động quản lý và lao động sản xuất nên kinh tế

hộ nông dân giảm tối đa chi phí sản xuất, và nó tác động trực tiếp lên lao động trong

hộ nên có tính tự giác để nâng cao hiệu quả và năng suất lao động (Nguyễn Phạm Hùng, 2014)

2.2.5 Cơ sở lý thuyết về thu nhập của nông hộ và hộ sản xuất cây dược liệu

a Khái niệm thu nhập của nông hộ và hộ sản xuất CDL

- Thu nhập là chỉ báo quan trọng để đánh giá mức sống của một khu vực địa

lý, mức độ phát triển của một quốc gia, là phương tiện giúp con người định hướng giải quyết nhiều vấn đề trong tiêu dùng của hộ và trong cuộc sống Chính vì vậy, khi nghiên cứu về các nông hộ nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu đều quan tâm đến thu nhập của các nông hộ với các cách tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau

Theo Tchayanov (1925): Thu nhập hộ nông dân không giống thu nhập của các

xí nghiệp tư bản Hộ nông dân là một doanh nghiệp không dùng lao động làm thuê, chỉ

sử dụng lao động gia đình Do không thuê lao động nên hộ nông dân không có khái niệm tiền lương và không thể tính lợi nhuận, địa tô, lợi tức Vì vậy, thu nhập hộ nông dân là phần còn lại sau khi lấy tổng giá trị sản xuất trừ đi tổng chi phí vật chất

Trang 22

Trần Xuân Long (2009) cho rằng thu nhập của một nông hộ là phần giá trị sản xuất tăng thêm mà hộ được hưởng để bù đắp cho thù lao lao động gia đình, cho tích lũy và tái sản xuất mở rộng nếu có

Định nghĩa của FAO (2007) về thu nhập của nông hộ như sau: Thu nhập được xem là một phần tiền thưởng cho người chủ sở hữu các yếu tố sản xuất cố định như đất đai, vốn, lao động khi đưa các yếu tố này tham gia vào quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm

Thu nhập của hộ = Tổng giá trị nông sản thu về - tổng chi phí cho các yếu tố đầu vào – chi phí thuê lao động – chi phí lãi vay – chi phí thuê đất

(Các khoản chi phí này không bao gồm chi phí lao động gia đình tham gia vào quá trình sản xuất)

Phương pháp tự xác định thu nhập trong năm của hộ gia đình (Cục thống kê tỉnh Phú Thọ, 2011): Thu nhập của hộ = Tổng thu – Tổng chi

Trong đó:

- Tổng thu: Bao gồm các khoản thu hợp pháp trong năm của tất cả các thành viên trong hộ gia đình, như: thu từ các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ nông, lâm nghiệp, thuỷ sản; từ các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ phi nông, lâm nghiệp, thuỷ sản; thu từ tiền công, tiền lương và các khoản thu nhập khác như: quà tặng, biếu, cho bằng tiền mặt hay hiện vật; các khoản lương hưu, trợ cấp các loại, thu từ cho thuê nhà, cho thuê máy móc thiết bị, đất đai, tài sản khác, thu từ lãi tiền gửi ngân hàng, trúng xổ số, Không tính các khoản thu trợ cấp xã hội một lần, như: tiền mai táng phí,

+ Thiệt hại về những khoản chi phí thường xuyên (giống, phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, trả công lao động thuê ngoài ) được tính toàn bộ vào chi phí sản xuất trong năm

Trang 23

+ Thiệt hại về những khoản chi phí đầu tư xây dựng cơ bản (chi phí một lần phân bổ cho nhiều năm), ví dụ như chi phí trồng vườn cây, xây ao cá, … được tính vào chi phí sản xuất trong năm bằng cách lấy toàn bộ chi phí thiệt hại về đầu tư xây dựng kiến thiết cơ bản vườn cây, ao cá, … chia cho số năm sử dụng vườn cây, ao cá … đó, số tiền thiệt hại tính bình quân cho 1 năm được ghi vào phần chi phí sản xuất trong năm

Tóm lại: Trong nghiên cứu, tác giả sử dụng định nghĩa theo cục thống kê tỉnh Phú Thọ: Thu nhập của các nông hộ sản xuất là toàn bộ thu nhập bằng tiền và giá trị hiện vật sau khi trừ chi phí sản xuất mà hộ và thành viên của hộ nhận được trong một thời kỳ nhất định, thường là một năm

Thu nhập của nông hộ

Độ tuổi của người lao động cũng ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng lao động cũng như hình thức lao động Đặc biệt lao động ở nông thôn thì cần nguồn lao động trẻ, có sức khỏe tốt bởi vì hầu hết những công việc ở nông thôn thường là những việc làm nặng nhọc

Một số yếu tố khác cũng có ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ sản xuất dược liệu như số nhân khẩu, tỷ lệ phụ thuộc, giới tính của chủ hộ, đặc điểm dân tộc Tỷ lệ phụ thuộc là số người ăn theo trên một lao động trong hộ Tỷ lệ phụ thuộc càng cao thì phúc lợi mà mỗi người trong hộ nhận được càng thấp, do một người lao động phải nuôi sống nhiều người hơn Đặc biệt là những hộ có nhiều trẻ em, người già yếu, người đau ốm lâu dài sẽ có mức thu nhập bình quân đầu người thấp hơn những hộ khác

Trang 24

 Nguồn lực tài chính

Nguồn lực tài chính như một đòn bẩy góp phần phát huy các nguồn lực khác Nguồn lực tài chính của hộ bao gồm tiền tiết kiệm, tiền vay từ bà con, bạn bè, các tổ chức tín dụng,…

Việc thiếu vốn để sản xuất kinh doanh dẫn đến kinh tế hộ chậm cải thiện vì khó

có khả năng tiếp cận và áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất Chưa

kể những hộ không có vốn để sản xuất, không được vay ngân hàng vì không có tài sản thế chấp, làm không đủ ăn, thường xuyên phải đi làm thuê hoặc đi vay tư nhân để đảm bảo cuộc sống tối thiểu hàng ngày

Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng tiếp cận tín dụng là điều kiện quan trọng để người nghèo tăng cường đầu tư cho sản xuất, trang trải chi phí học hành cho con cái Nhờ

đó, nâng cao thu nhập và có cơ hội thoát nghèo

 Nguồn lực vật chất

Nguồn lực vật chất bao gồm đất đai, máy móc thiết bị phục vụ cho việc sản xuất Nguồn lực về tài chính có thể hình thành nên nguồn lực vật chất Tuy nhiên nếu nguồn lực vật chất sẵn có sẽ góp phần khuếch đại những nguồn lực khác Đất sản xuất là một trong những nguồn lực vật chất quý giá giúp cho người dân phát triển kinh tế, bởi vì nông nghiệp là một ngành sản xuất đặc thù, nơi đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, là môi trường cho cây trồng sinh trưởng và phát triển Đất sản xuất bao gồm đất trồng lúa, đất chuyên màu, đất trồng cây ăn trái, đất nuôi trồng thủy sản… Khi người nông dân canh tác trên một mảnh đất màu mỡ, phì nhiêu thì suất đầu tư sẽ thấp hơn nhưng lại thu về được sản lượng cao hơn so với canh tác trên mảnh đất cằn cỗi, bạc màu, nhiễm mặn Những hộ sở hữu nhiều đất đai có thể đa dạng hóa cây trồng, nhờ đó cải thiện mức sống tốt hơn những hộ khác

Đối với các hộ sống ở nông thôn, gia súc (trâu, bò, lợn, ) là một phần quan trọng của tư liệu sản xuất vì nó cung cấp sức cày bừa, kéo và phân bón phục vụ sản xuất Ngoài ra, lợn nái, bò nái cung cấp con giống cho chăn nuôi của hộ gia đình

Cơ sở hạ tầng, đường xá giao thông, hệ thống nhà lưới che chắn nắng mưa, côn trùng là yếu tố có ảnh hưởng quan trọng tới năng suất nông nghiệp, gắn liền với sự phát triển việc làm phi nông nghiệp và thúc đẩy sự tham gia của người nghèo vào nền

Trang 25

kinh tế thị trường Những người dân sống và sản xuất có cơ sở hạ tầng thuận lợi có mức sống cao hơn và có khả năng tận dụng những ưu thế của thị trường hơn

 Nguồn lực xã hội và nguồn lực tự nhiên

Nguồn lực xã hội được thể hiện ở khả năng hỗ trợ của các hình thức liên kết như

tổ hợp tác, hợp tác xã hoặc tổ chức xã hội như hội phụ nữ, hội nông dân, đoàn thanh niên, trong việc phát triển kinh tế hộ gia đình, tạo công ăn việc làm, góp phần tạo thêm nguồn thu nhập cho hộ gia đình Các tổ chức này có thể tự giám sát, kiểm tra, xây dựng thương hiệu, động viên lẫn nhau cùng làm kinh tế gia đình, tạo sự liên kết liên doanh trong quá trình sản xuất sản phẩm đạt chất lượng cũng như đảm bảo số lượng ổn định cho thị trường Qua đó chính quyền địa phương có thể tuyên truyền các

kế hoạch phát triển kinh tế hộ thông qua các tổ - đội - hội - đoàn thể này xóa bỏ dần tập quán sản xuất manh mún, nhỏ lẻ

Nguồn lực tự nhiên như nguồn nước, chất đất, thời tiết, khí hậu, là yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của con người, cây trồng, vật nuôi Nước giúp cho cây trồng sinh trưởng và phát triển, ngoài ra, còn có thời tiết, khí hậu, nhiệt độ và số giờ có ánh sáng mặt trời trong ngày cũng là yếu tố quyết định đến sự sinh trưởng và phát triển của các loại cây trồng, vật nuôi

2.3 Lý thuyết về mô hình ra quyết định

2.3.1 Lý thuyết ra quyết định

Ra quyết định có thể được định nghĩa là một sự lựa chọn hợp lý giữa nhiều cách lựa chọn, điểm trọng tâm là phải nhận thức được nhu cầu, xác định mục tiêu của ra quyết định

Việc ra quyết định có hiệu quả đòi hỏi một sự lựa chọn phương hướng hành động hợp lý, có nghĩa là nhằm cố gắng đạt được mục tiêu nào đó và muốn đạt được phải hành động tích cực

Quá trình ra quyết định hợp lý là quá trình trong đó có sự lựa chọn nhất quán, tối ưu trong điều kiện có những hạn chế cụ thể Quá trình ra quyết định hợp lý được thể hiện qua các bước (Theo PGS.TS Bùi Anh Tuấn – Trường đại học kinh tế Quốc Dân): Bước 1: Xác định vấn đề

Mô hình bắt đầu bằng việc xác định vấn đề Một vấn đề tồn tại khi có một sự khác biệt giữa thực tế và trạng thái mong muốn của sự vật, hiện tượng Có thể thấy

Trang 26

nhiều quyết định sai lầm là do người ra quyết định không xác định được hoặc không xác định đúng vấn đề

Bước 2: Xác định các tiêu chí quyết định

Khi đã xác định được vấn đề, người ra quyết định cần phải xác định các tiêu chí quyết định, điều đó sẽ rất quan trọng trong việc giải quyết vấn đề Trong bước này, người ra quyết định xác định điều gì liên quan đến việc ra quyết định Bước này đưa các lợi ích, giá trị và ưu tiên cá nhân của người ra quyết định vào trong quá trình Xác định các tiêu chí là điều quan trọng bởi vì điều mà một người cho là có liên quan thì một người khác có thể cho là không liên quan Cũng nên lưu ý rằng bất kỳ yếu tố nào không được xác định trong bước này được coi là không có liên quan đối với người ra quyết định

Bước 3: Cân nhắc các tiêu chí

Các tiêu chí quyết định thường có tầm quan trọng khác nhau Tiêu chí càng quan trọng thì càng cần được ưu tiên Vì vậy, bước thứ ba đòi hỏi người ra quyết định phải cân nhắc để xác định mức độ ưu tiên cho các tiêu chí Người ta thường xác định mức

độ ưu tiên bằng cách gắn cho mỗi tiêu chí một trọng số

Bước 4: Đưa ra các phương án giải quyết vấn đề

Bước này đòi hỏi người ra quyết định phải đưa ra các phương án lựa chọn có thể, điều này sẽ dẫn tới thành công trong việc giải quyết vấn đề Bước này không nhằm đánh giá các phương án lựa chọn, mà chỉ đưa ra các phương án

Bước 5: Đánh giá phương án lựa chọn theo từng tiêu chí

Một khi các phương án lựa chọn đã được đưa ra, người ra quyết định phải phân tích sát sao và đánh giá từng phương án Điều này được thực hiện bằng cách đánh giá mỗi phương án theo từng tiêu chí đã được xác định Điểm mạnh và điểm yếu của mỗi phương án trở nên rõ ràng khi chúng được đem tối thiếu với các tiêu chí và những thứ

tự ưu tiên được thiết lập trong bước hai và bước ba

Bước 6: Tính toán tối ưu và quyết định

Bước cuối cùng trong mô hình này đòi hỏi phải tính toán tối ưu và quyết định Điều này được thực hiện bằng cách cân nhắc tổng thể các phương án lựa chọn theo các tiêu chí đã được xác định và quyết định các tiêu chỉ của mỗi phương án sẽ được tính toán dựa trên số điểm và trọng số với kết quả thu được

Trang 27

2.3.2 Lý thuyết kinh tế về động cơ của A.Maslow

Abraham Maslow đã tìm cách lý giải việc tại sao vào những thời điểm khác nhau, người ta lại bị thúc đẩy bởi những động cơ khác nhau Tại sao một người nào đó lại dành khá nhiều thời gian và công sức vào sự an toàn cá nhân, còn người kia thì muốn được người khác trọng vọng? Câu trả lời của ông là động cơ khác nhau là do nhu cầu khác nhau; nhu cầu của con người được sắp xếp theo một trật tự thứ bậc, từ nhu cầu có tính chất cấp thiết nhất đến nhu cầu ít cấp thiết nhất

Theo Maslows, Cấp thấp gồm các nhu cầu sinh học và an ninh, an toàn Cấp cao gồm các nhu cầu xã hội, tự trọng và sự hoàn thiện Việc nhu cầu được thỏa mãn và được thỏa mãn tối đa là mục đích hành động của con người Đây là khát vọng và nỗ lực để đạt được mong muốn Theo đó, nhu cầu trở thành động lực quan trọng và việc tác động vào nhu cầu cá nhân sẽ thay đổi được hành vi của con người

Con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội, là sự tổng hòa của một hệ thống các cấu tạo phức tạp về tâm, sinh lý Thông thường, người lao động dành phần lớn quỹ thời gian của mình cho công việc, song điều đó không có nghĩa là họ không có các nhu cầu khác Điều quan trọng là nhà quản lý hiểu ra được điều đó để có những chính sách phù hợp nhằm đáp ứng một cách tối đa các nhu cầu đó trong phạm vi có thể mà vẫn mang lại hiệu quả cao nhất cho doanh nghiệp Nhà quản lý chỉ có thể điều khiển được hành vi của nhân viên khi biết cách dùng các công cụ hoặc biện pháp để tác động vào nhu cầu hoặc kỳ vọng của họ làm cho họ hăng hái và chăm chỉ hơn với công việc được giao, phấn chấn hơn khi thực hiện nhiệm vụ và tận tụy hơn với nhiệm

vụ đảm nhận (Theo Đào Phú Quý - Tạp chí Khoa học ĐHQGHN)

Như vậy, trong hướng đi của đề tài, để tác động và khuyến khích được người dân tham gia sản xuất tập trung cây dược liệu thì cần làm rõ được thu nhập, lợi ích của loại cây dược liệu mang lại là lớn nhất

2.4 Tổng quan tình hình tài liệu nghiên cứu có liên quan đến đề tài

2.4.1 Tổng quan tài liệu nghiên cứu trong nước

Liên quan đến đề tài, theo tác giả tìm hiểu thì hiện nay chưa có đề tài nào nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sản xuất tập trung cây dược liệu của

hộ nông dân nói chung và của hộ nông dân tại huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An nói riêng Tuy nhiên, mô hình trồng cây dược liệu đã được triển khai ở một số địa phương và rất thành công (như việc áp dụng trồng diệp hạ châu ở các xã thuộc huyện Đông Hòa, Tây

Trang 28

Hòa, Phú Hòa và Thành phố Tuy Hòa- Phú Yên năm 2010 do Trung tâm nghiên cứu

và sản xuất dược liệu Miền Trung triển khai - Trong phần 2.6 – Một số bài học kinh nghiệm về phát triển cây dược liệu ở một số địa phương)

Nghiên cứu liên quan đến hiệu quả kinh tế của cây dược liệu có:

Tác giả Nguyễn Văn Nam (2009) đã nghiên cứu về hiệu quả kinh tế (HQKT) sản xuất một số CDL tại Huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên Kết quả nghiên cứu đã chỉ

ra những khó khăn ảnh hưởng đến HQKT sản xuất và chế biến DL của hộ Đó là khó khăn về điều kiện canh tác trên diện tích (DT) đất đai manh mún, điều kiện thủy lợi kém phát triển, khó khăn vì phải đầu tư quá nhiều công lao động chân tay, khó khăn về việc áp dụng các quy trình kỹ thuật vào sản xuất và chế biến, khó khăn do phải đối mặt với sự cạnh tranh của các sản phẩm nhập khẩu

Nghiên cứu cũng đã đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao HQKT của việc sản xuất một số CDL trên địa bàn huyện Văn Lâm Các giải pháp tập trung vào các vấn đề là sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm Đối với vấn đề sản xuất, chế biến, đề tài đưa ra các giải pháp về tăng cường xây dựng và quản lý chặt chẽ quy trình

kỹ thuật, cải tạo điều kiện canh tác của hộ nông dân, đầu tư vào công tác chế biến, kết hợp giữa sản xuất và chế biến, tăng cường công tác bảo quản sau chế biến Đối với vấn

đề tiêu thụ, đề tài đưa ra những giải pháp về đẩy mạnh mở rộng thị trường tiêu thụ, xây dựng thương hiệu cho sản phẩm, hình thành các liên kết giữa nông dân sản xuất dược liệu với các viện, các trung tâm và các tác nhân tiêu thụ sản phẩm, tăng cường công tác quản lý chất lượng sản phẩm, đặc biệt là chất lượng sản phẩm nhập khẩu

Các nghiên cứu liên quan đến mô hình quyết định chọn trong các lĩnh vực khác của các hộ dân gồm có:

Nguyễn Thị Thùy Dung (2015) trong nghiên cứu về chính sách Bảo hiểm y tế (BHYT) đối với hộ nghèo tại huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa, tác giả đã sử dụng phương pháp thống kê mô tả (để hệ thống các số liệu bằng các chỉ tiêu nghiên cứu dưới dạng thống kê mô tả, từ đó làm các dữ liệu cho việc phân tích đánh giá), phương pháp đánh giá điểm tương đồng (Propensity Score Matching) (để đánh giá mức độ ảnh hưởng của chính sách BHYT đến đời sống kinh tế của các hộ nghèo), và phương pháp phân tích, so sánh tổng hợp (nhằm đánh giá tác động của chính sách BHYT đến đời sống kinh tế xã hội và môi trường của các hộ nghèo tại huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh

Trang 29

Hòa) Kết quả đã xác định được bốn nhân tố chính tác động đến quyết định lựa chọn tham gia BHYT hay không tham gia BHYT đó là: Độ tuổi, trình độ học vấn, số người trong độ tuổi lao động, nghề nghiệp

Hay nghiên cứu của Trần Mạnh Linh (2015) với đề tài nghiên cứu về tác động của du lịch sinh thái đến cộng đồng địa phương tại khu bảo tồn biển Vịnh Nha Trang,

đã xác định được các nhân tố chính tác động đến quyết định tham gia hay không tham gia vào các hoạt động du lịch sinh thái của cộng đồng cư dân địa phương tại khu bảo tồn biển Vịnh Nha Trang đó là: Độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn, hộ khẩu, nhân khẩu, địa điểm cư trú, sự di chuyển, nghề nghiệp chính của chủ hộ, vốn đầu tư ban đầu, hỗ trợ của chính phủ, làm chủ hay làm thuê

2.4.2 Tổng quan tài liệu nghiên cứu nước ngoài

Đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến mô hình ra quyết định, cụ thể như:

Nghiên cứu của Phạm Thị Thanh Thủy và cộng sự (2013) phân tích các yếu tố quyết định lựa chọn hệ thống đãi ngộ và xem xét ảnh hưởng của chúng đến hiệu quả kinh tế của nghề cá Có ba kết quả chính trong nghiên cứu này Thứ nhất, kết quả hỗ trợ sự cần thiết phải cân nhắc đến các vấn đề về động cơ bảo hiểm trong việc lựa chọn hợp đồng tiền lương Cụ thể, các chỉ số khuyến khích về quy mô và nơi cư trú (đô thị hoặc nông thôn) có ý nghĩa quan trọng trong việc giải thích các loại hợp đồng Thứ hai, chứng tỏ các thuyền viên không thích rủi ro Thứ ba, hợp đồng chia sẻ mang lại lợi ích lớn hơn cho cả hai bên, đạt được mục tiêu thứ hai của nghiên cứu này Ngoài ra, so với các tàu lớn, các tàu nhỏ có hợp đồng hiệu quả hơn trong việc quản lý chi phí vận hành, trong khi các tàu lớn có hiệu suất cao hơn trong việc thu hoạch

Applegate và cộng sự (2002) nghiên cứu về Các yếu tố quyết định tỷ lệ tham gia lao động phi nông nghiệp của nông dân ở Australia Nghiên cứu đã sử dụng mô hình probit hai biến của tỷ lệ tham gia lao động phi nông nghiệp từ số liệu của Cục Kinh tế nông nghiệp và tài nguyên Úc (Australian Economist of Agriculture and Resource Economies) từ cuộc điều tra giai đoạn 1994 - 1995 Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng các yếu tố kinh tế xã hội quan trọng trong việc đánh giá tỷ lệ tham gia của nông dân trong các hoạt động phi nông nghiệp là trình độ học vấn, tuổi tác, kinh nghiệm làm việc, sự có mặt của trẻ em mẫu giáo, thu nhập khác và đặc điểm của phi nông nghiệp Thị trường lao động, chẳng hạn như vị trí của trung tâm việc làm

Trang 30

Sự tham gia vào việc làm phi nông nghiệp có xu hướng gia tăng với tỷ lệ giảm dần theo độ tuổi của hộ nông dân

Kết quả cũng cho thấy nguồn vốn con người – trình độ(đại học/ cao đẳng/ học nghề) càng cao thì tỷ lệ tham gia của vợ / chồng của nông dân vào việc làm phi nông nghiệp càng cao

Sự tham gia của vợ chồng trong các hoạt động phi nông nghiệp đã được nhận thấy có liên quan đến tiêu cực và tương đối nhạy cảm hơn với những thay đổi về mức thu nhập Điều này cho thấy vợ chồng có thể được thúc đẩy mạnh mẽ bởi mong muốn đối phó với những thiếu sót trong khả năng mua sắm của hộ gia đình khi thu nhập khác thấp và ngược lại

Tuy nhiên, sự hiện diện của trẻ em ở trường mẫu giáo dường như ngăn cản sự tham gia vào các hoạt động phi nông nghiệp của nông dân Trong số vợ hoặc chồng,

có một sự thay thế lớn từ việc làm phi nông nghiệp sang hộ gia đình

Như vậy, có thể nói hiện nay đã có một vài nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh

tế của cây dược liệu nói chung Nghiên cứu này tập trung vào cây cốt khí, kim cúc, địa liền, mã đề…và chủ yếu là các nghiên cứu đánh giá định tính Các nghiên cứu liên quan đến mô hình quyết định chọn trong các lĩnh vực của các hộ dân chủ yếu tập trung vào đặc điểm lao động của hộ, các yếu tố kinh tế xã hội cũng đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định tỷ lệ tham gia của hộ dân

Từ những cơ sở lý thuyết khoa học và tổng quan các nghiên cứu liên quan đã cho phép nghiên cứu của đề tài kế thừa các lý thuyết và phương pháp để thực hiện nghiên cứu

về yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sản xuất tập trung cây dược liệu của hộ nông dân tại huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An

2.5 Một số bài học kinh nghiệm về trồng cây dược liệu ở một số địa phương

2.5.1 Bài học kinh nghiệm từ tỉnh Lâm Đồng

Về việc đưa cây diệp hạ châu vào trồng và nhân rộng tại địa bàn, đến nay, huyện Cát Tiên đã chính thức được cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu đối với cây diệp hạ châu

Người tiên phong là ông Sáu Đẩu (là người rất tâm huyết với việc chuyển đổi cây trồng trong chủ trương này) đã âm thầm cho tìm giống Diệp Hạ Châu về trồng thử với diện tích 1,5 ha tại 2 xã Tư Nghĩa và Mỹ Lâm Cây Diệp Hạ Châu nơi đây cho

Trang 31

năng suất tới trên 3 tấn/ha Kết quả của mô hình thử nghiệm cho thấy cây Diệp Hạ Châu rất hợp với vùng đất Cát Tiên và các hàm lượng dược chất trong cây qua phân tích đều rất cao (cao hơn từ 1,8 đến 3,1 lần so với hàm lượng dược chất của cây Diệp

Hạ Châu được trồng ở khu vực khác)

Từ cơ sở thành công của mô hình sản xuất thử nghiệm, đầu năm 2013, ông Sáu Đẩu cùng lãnh đạo huyện Cát Tiên quyết định cho triển khai nhân rộng sản xuất cây Diệp Hạ Châu theo quy trình VietGAP với diện tích 100 ha Bên cạnh đó, huyện cũng đồng loạt cho triển khai các đề tài khoa học nghiên cứu, sản xuất cây Diệp Hạ Châu và ban hành các quy trình kỹ thuật sản xuất để áp dụng đồng bộ vào sản xuất, tạo nguồn sản phẩm hàng hóa đặc trưng cho địa phương Để hiệu quả của chương trình đạt như

kỳ vọng, Cát Tiên còn liên kết chặt chẽ với Trung tâm Phân tích và chứng nhận chất lượng (thuộc Sở KH- CN Lâm Đồng) để chế biến sản phẩm trà túi lọc Diệp Hạ Châu

… Và Sau 6 năm đưa cây Diệp hạ châu vào trồng và nhân rộng tại địa bàn, đến nay, huyện Cát Tiên đã chính thức được cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu đối với cây Diệp hạ châu (Hội nghị công bố nhãn hiệu "Diệp hạ châu Cát Tiên" được UBND huyện Cát Tiên tổ chức vào chiều ngày 28/10/2016)

(Nguồn: Lamdong.gov.vn)

2.5.2 Bài học từ tỉnh Phú Yên

Với dự án “Trồng và phát triển cây dược liệu an toàn, phù hợp với vùng đất Phú Yên để làm thuốc trong nước và xuất khẩu” Hội đồng khoa học công nghệ tỉnh Phú Yên – Trung tâm dược liệu Miền Trung đã chuyển giao giống, vốn và công nghệ cho nông dân trồng 15 ha dược liệu, trong đó cây diệp hạ châu chiếm đến 10 ha

Là một trong những người trồng cây Diệp Hạ Châu đem lại hiệu quả Với diện tích 3 sào(500m2/sào) hàng năm anh Võ Ngọc Tâm(41 tuổi ở phường Phú Thạnh) trồng từ 3-4 lứa, mỗi lứa từ gieo đến thu hoạch khoảng 42-45 ngày, thu được 2.400- 3.000kg, với giá bán 4.100 đ/kg đem lại thu nhập từ 9.840.000-12.300.000đồng/vụ Chi phí đầu tư phân chuồng 1-1,5 tấn/sào, lân vi sinh 30 kg/sào Tính ra khoảng 400.000đồng/ sào; chi phí tưới nước, nhổ cỏ khoảng 400.000đồng/sào, Công thu hoạch 150.000đồng/sào Tổng chi phí cho 3 sào là 2.850.000 đồng, lãi anh thu được 6.990.000 đồng - 9.450.000 đồng Như vậy với 3 sào đất trồng cây Diệp hạ Châu sau 1,5 tháng trồng anh thu lãi ròng từ 7-9,5 triệu/vụ và thu được 21-28,5 triệu đồng trong một năm (tính cho 3 vụ trồng trong năm)

Trang 32

Như vậy so với trồng lúa thì trồng cây Diệp Hạ châu đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều lần, Tuy nhiên hiện nay trên địa bàn chỉ có một đơn vị duy nhất thu mua cây Diệp Hạ Châu, là Công ty Dược liệu Miền Trung, nên người dân muốn trồng cần phải ký hợp đồng với công ty, để được cung cấp giống và kỹ thuật trồng cũng như bao tiêu sản phẩm sau khi thu hoạch

(KS Ngô Thái Hưng - Trạm KN-KN huyện Đông Hòa – Báo khuyến nông Phú Yên)

…Đến lần thứ 4: nghe người dân nói nhiều về cây chùm ngây với những giá trị dinh dưỡng và kinh tế tuyệt vời của nó, hai vợ chồng lại bàn tính trồng xen canh chùm ngây bên cạnh đinh lăng Vừa để phát triển được chùm ngây lại vừa có tán che sương, che nắng cho đinh lăng Bên cạnh đó, Tỉnh đi tìm hiểu và trồng thêm một số loại cây

có giá trị kinh tế cao như hoàn ngọc, xạ đen, cà gai leo, cây thìa canh… Vụ thứ tư cho kết quả mĩ mãn Hai vợ chồng quyết định thuyết phục người dân xung quanh cho mượn ruộng nâng tổng số diện tích trồng hiện nay lên khoảng 15 ha

Sản phẩm làm ra đến đâu, thương lái đến tận ruộng để thu mua Nhưng gia đình vốn có nghề đông y nên hai vợ chồng Tỉnh lại suy tính mày mò và tìm cách sản xuất trà túi lọc từ cây trong vườn Có sản phẩm, đích thân hai vợ chồng đến từng cửa hàng chào mời, thậm chí gửi không lấy tiền các sản phẩm này hy vọng khách hàng đã uống

là sẽ tìm đến Với chất lượng tốt, phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng nên sản phẩm trà mang thương hiệu Thái Hưng của hai vợ chồng Huê, Tỉnh đã ngày càng có chỗ đứng trên thị trường

Đến nay, các sản phẩm này đã có mặt trên 40 tỉnh, thành phố trong cả nước Mới đây, Công ty Thái Hưng của hai vợ chồng Tỉnh, Huê tiếp tục đầu tư dây chuyền sản xuất hơn 1 tỷ đồng để hoàn thiện các công đoạn sản xuất trà túi lọc, nâng cao chất lượng, mẫu mã của sản phẩm

Trang 33

Hiện, doanh thu hàng tháng của công ty đạt khoảng 300 triệu đồng, tạo việc làm cho gần 50 người với mức lương bình quân khoảng 3-4 triệu đồng/người/tháng

(Nguồn: báo tiền phong)

2.5.4 Bài học từ tỉnh Thái Nguyên

Phát triển cây dược liệu ở xã Phú Thượng

Phú Thượng là xã miền núi của huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên Từ nguồn vốn chương trình 135 và xây dựng nông thôn mới; năm 2014, UBND xã Phú Thượng phối hợp với Công ty Cổ phần Nông dược Vạn Xuân triển khai mô hình trồng cây dược liệu Đinh lăng lá nhỏ và Hà thủ ô đỏ trên địa bàn xã

Là mô hình liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp, người nông dân được hỗ trợ 80% giá giống từ chương trình xây dựng nông thôn mới và 100% từ chương trình

135, được tập huấn hướng dẫn kỹ thuật; đồng thời được công ty ký kết bao tiêu sản phẩm Theo hợp đồng, Công ty Cổ phần nông dược Vạn Xuân có trách nhiệm bao tiêu sản phẩm với giá thấp nhất 30.000 đồng/kg củ Hà thủ ô tươi và 25.000 đồng/kg củ Đinh lăng tươi

Những kết quả ban đầu cho thấy, mô hình trồng cây dược liệu tại xã Phú Thượng sẽ góp phần tạo bước chuyển đổi về cơ cấu cây trồng, nâng cao thu nhập cho người dân; góp phần xây dựng nông thôn mới tại địa phương Mô hình có sự phối hợp chặt chẽ với nhà doanh nghiệp sẽ bảo đảm đầu ra ổn định, đồng thời phát triển trồng cây dược liệu mở ra hướng đi mới cho người dân miền núi

(Theo Dương Trung Kiên, Trung tâm khuyến nông Thái Nguyên- Báo khuyến nông Quốc gia)

2.5.5 Bài học từ tỉnh Hà Giang

Người dân Lùng Tao giàu lên từ Thảo quả

Thôn Lùng Tao có điều kiện tự nhiên, khí hậu, thổ nhưỡng phù hợp với sự sinh trưởng và phát triển của cây Thảo quả - một loại cây thảo dược quý, được các thương lái trong và ngoài nước thu mua với giá thành cao Xác định chủ trương chuyển dịch

cơ cấu kinh tế nông, lâm nghiệp để phát huy tối đa thế mạnh của vùng, lãnh đạo xã và thôn đã tập trung chỉ đạo nhân dân mở rộng diện tích Thảo quả, đưa loại cây thảo dược này thành cây “mũi nhọn” của vùng Trước đây, cuộc sống của nhân dân gặp rất nhiều khó khăn, do địa hình chia cắt, không bằng phẳng nên thiếu đất sản xuất, chăn nuôi

Trang 34

chủ yếu mang tính tự cung, tự cấp, người dân quanh năm làm lụng mà vẫn chẳng đủ

ăn Nhờ trồng Thảo quả mà vài năm trở lại đây cuộc sống của bà con ngày càng khấm khá hơn, nhiều hộ không chỉ thoát nghèo mà còn vươn lên khá giả

Tháng 7/2015 diện tích Thảo quả của Lùng Tao có khoảng 60 ha, là thôn có diện tích Thảo quả lớn nhất trong toàn xã Hầu như hộ nào trong thôn cũng trồng Thảo quả, mỗi năm thu nhập từ Thảo quả, hộ ít nhất cũng thu khoảng vài chục triệu đồng, nhiều

hộ thu cả trăm triệu đồng mỗi năm Nhờ nguồn thu đáng kể từ Thảo quả mà hiện nay

tỷ lệ hộ khá, giàu của thôn chiếm gần 15%, hầu như hộ nào cũng có xe máy, ti vi phục

vụ nhu cầu sinh hoạt của gia đình

Ông Đặng Văn Minh(“Triệu phú” ở thôn vùng cao này) có trồng hơn 5.000 gốc Thảo quả, thu nhập mỗi năm từ Thảo quả lên đến 500 – 600 triệu đồng Năm 2013, ông vinh dự là một trong 63 nông dân đến từ 63 tỉnh thành trong cả nước được tôn vinh và nhận danh hiệu Nông dân Việt Nam xuất sắc

(Nguồn: báo Hà Giang)

2.6 Các giả thuyết nghiên cứu

60 có tâm lý phát triển ổn định, do đó khả năng tham gia sản xuất dược liệu sẽ cao hơn

- Trình độ học vấn: đại diện cho kỹ năng và trình độ hiểu biết của hộ nông dân

để quyết định cho việc có nên cải tiến sản xuất, tham gia trồng tập trung cây dược liệu không Kỳ vọng sẽ mang dấu dương (+) Trình độ học vấn của chủ hộ càng cao thì kỳ vọng sẽ có quyết định tham gia trồng DL cao hơn

- Nghề nghiệp: Biến giả, nhận giá trị 1 nếu nghề nghiệp chính của chủ hộ là NN,

và 0 nếu chủ hộ làm việc trong các ngành phi nông nghiệp Kỳ vọng sẽ mang dấu dương (+) Nếu chủ hộ có nghề nghiệp chính là NN thì kỳ vọng sẽ tham gia trồng cây dược liệu để cải thiện thu nhập của gia đình khi có đủ thông tin hiểu biết

Trang 35

- Số người phụ thuộc trong gia đình: được đo bằng số người không có thu nhập

mà chủ hộ phải đảm bảo cuộc sống, kể cả người trong độ tuổi lao động nhưng không tạo được thu nhập, thông thường những người này từ 0- 18 tuổi và những người trên

50 tuổi Kỳ vọng sẽ có tác động âm(-) đến quyết định tham gia trồng tập trung cây dược liệu

- Diện tích (DT) đất nông nghiệp: được đo bằng m2, đại diện quy mô sản xuất

Kỳ vọng sẽ có tác động dương (+) đến quyết định tham gia trồng tập trung cây dược liệu Nghĩa là khi DT đất nông nghiệp tăng lên thì việc quyết định tham gia trồng dược liệu sẽ tăng lên vì hộ nông dân sẽ có nhiều lựa chọn với DT đất của mình

- Loại hình sản xuất: đất trồng lúa hay trồng rau màu – nếu là diện tích trồng rau màu thì chuyển đổi sang trồng dược liệu sẽ thuận tiện và phù hợp hơn Có giá trị bằng

1 nếu phần lớn DT sử dụng để trồng rau màu, và nhận giá trị 0 nếu phần lớn DT trồng các loại khác (như lúa nước…)

- Vốn hoạt động: Vốn sẵn có cho việc sản xuất là rất cần thiết, kỳ vọng sẽ có tác động dương đến quyết định tham gia trồng tập trung CDL

- Loại đất : Diện tích sẵn có của gia đình có phù hợp với trồng dược liệu không? Đất cát, đất cát pha, đất thịt… Nhận giá trị 0 nếu diện tích đất trồng không phù hợp với trồng dược liệu ; giá trị 1 nếu diện tích đất trồng của gia đình phù hợp với trồng dược liệu

- Về việc bao tiêu sản phẩm: phần này hỏi người dân về việc có được bao tiêu sản phẩm khi sản xuất hay thu hái được không? Nhận giá trị 0 nếu không có đơn vị bao tiêu sản phẩm; giá trị 1 nếu có cá nhân hay đơn vị nào bao tiêu sản phẩm

- Tín dụng - vấn đề vốn hoạt động: vốn cho hoạt động trồng dược liệu, nhận giá trị 0 nếu gia đình không được hỗ trợ vốn để sản xuất; giá trị 1 nếu gia đình có được hỗ trợ vốn để sản xuất

- Tập huấn - Sự hiểu biết về kỹ thuật trồng dược liệu: nhận giá trị 0 nếu gia đình không có ai hiểu biết về DL; giá trị 1 nếu gia đình có ít nhất một người hiểu rõ về DL

2.7 Khung phân tích của nghiên cứu

Từ những nghiên cứu ở phần trên, tác giả đưa ra khung nghiên cứu đề xuất như

sơ đồ 2.1:

Trang 36

Sơ đồ 2.1: Mô hình đề xuất – Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định canh tác cây

nghiệp, loại hình sản xuất

(trồng lúa, hoa màu), Vốn

hoạt động, loại đất

Quyết định (có/không) canh tác tập trung cây dược liệu

Đặc điểm khác: Tín dụng,

bao tiêu sản phẩm, hiểu

biết về dược liệu

Trang 37

CHƯƠNG III: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU3.1 Quy trình nghiên cứu

Sau khi tìm hiểu khảo sát, hình thành ý tưởng nghiên cứu, thu thập và đọc tài liệu của các đề tài liên quan, xác định khung lý thuyết, câu hỏi nghiên cứu thì tác giả nghiên cứu theo quy trình sau:

Sơ đồ 2.2: Quy trình nghiên cứu 3.2 Phương pháp thu thập dữ liệu

3.2.1 Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp

Thống kê các dữ liệu thứ cấp từ việc kế thừa có chọn lọc các công trình khoa học đã thực hiện trong và ngoài nước về ngành trồng CDL, các số liệu thống kê của

Ý tưởng nghiên cứu

Vấn đề nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu

Hệ thống cơ sở lý thuyết

Mô hình nghiên cứu

Thiết kế bảng câu hỏi

Thu thập và xử lý dữ liệu

Phân tích dữ liệu

Viết báo cáo

Trang 38

Tổng cục thống kê, Sở kế hoạch đầu tư và đặc biệt là số liệu thống kê của phòng nông nghiệp và phát triển huyện Quỳnh Lưu, phòng lao động và thương binh xã hội huyện Quỳnh Lưu

3.2.2 Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp

Được thu thập từ nguồn điều tra trực tiếp của các hộ dân bằng bảng câu hỏi thiết

kế sẵn tại các xã: Quỳnh Hoa, Quỳnh Hồng, Quỳnh Hậu và Quỳnh Văn Trong đó thì 2

xã Quỳnh Hoa và Quỳnh Văn tỷ lệ trồng CDL cao hơn nên tác giả thu thập câu trả lời

từ 2 xã này nhiều hơn Mục đích cơ bản của bảng câu hỏi là thu thập mức thu nhập hiện tại của hộ gia đình, những thông tin về diện tích đất nông nghiệp họ đang sử dụng, vấn đề năng suất, giá cả sản phẩm, thị trường đầu ra từ đó hiểu được những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của người dân trong việc sử dụng đất NN, xem họ có quyết định tập trung canh tác CDL hay không

3.2.3 Phương pháp lấy mẫu

Nghiên cứu được lấy mẫu theo phương pháp thuận tiện Do đặc điểm đa số người dân đều làm nghề nông, làm thuê…và vì thời gian thu mẫu là vào vụ mùa chính nên hầu như các hộ gia đình đều đi làm đồng, một số hộ thì thu hoạch của mình xong nhưng còn phụ những nhà khác nên số hộ có người ở nhà cũng ít, nên việc thu thập số liệu cũng trở nên rất khó khăn Chính vì vậy tác giả sẽ phải phỏng vấn ngẫu nhiên hộ gia đình trên các xã bằng bảng câu hỏi thiết kế sẵn, nhằm thu được bộ số liệu tối đa Phương pháp này đơn giản, dễ thu mẫu, nhưng có thể bị rời rạc, thiếu khách quan và

sự biến thiên giữa các mẫu có thể sẽ lớn

Các số liệu thứ cấp và sơ cấp thu về sẽ được sử lý bằng các phần mềm chuyên dụng cho toán kinh tế như: MS Exel 2010 và SPSS18

Trang 39

Như vậy tổng số mẫu tác giả cần nghiên cứu là: n = 50 + 8 x 11 = 138 mẫu Tác giả đã sử dụng 140 bảng điều tra để thu thập dữ liệu từ 140 hộ gia đình tham gia nông nghiệp tại 4 xã là Quỳnh Hoa, Quỳnh Hồng, Quỳnh Hậu và Quỳnh Văn Sau khi số mẫu được thu về hết thì có 35 mẫu điền không đủ các chỉ tiêu, số mẫu này không đạt theo yêu cầu nghiên cứu vì vậy tác giả chỉ sử dụng 105 mẫu để làm tiền đề cho việc nghiên cứu Cơ cấu lấy mẫu được phận bố cụ thể như sau:

Bảng 3.1: Cơ cấu lấy mẫu nghiên cứu tại huyện Quỳnh Lưu

3.2.6 Xây dựng bảng câu hỏi

Bảng câu hỏi là một công cụ dùng để thu thập các thông tin cần thiết để giải quyết vấn đề nghiên cứu của đề tài Bảng câu hỏi sẽ tập trung vào việc thu thập các thông tin quan trọng mà mục tiêu nghiên cứu của đề tài đã đặt ra Xuất phát từ mục tiêu của đề tài mà bảng câu hỏi được thiết kế với các nội dung chủ yếu sau đây:

Nội dung của bảng câu hỏi phỏng vấn gồm:

Phần 1: Đặc điểm lao động nông nghiệp, bao gồm những thông tin chung về hộ gia đình: Tên chủ hộ/ người được phỏng vấn, năm sinh chủ hộ, giới tính, trình độ học vấn của chủ hộ, số người phụ thuộc trong gia đình, nghề nghiệp chính của chủ hộ, thu nhập trung bình của gia đình, và vốn đầu tư cho nông nghiệp hàng năm của hộ là bao nhiêu… Phần này cung cấp những thông tin quan trọng, phản ánh một cách khái quát các đặc điểm của từng hộ để phục vụ cho quá trình nghiên cứu

Trang 40

Phần 2: Đặc điểm sản xuất nông nghiệp: bao gồm những câu hỏi cụ thể về thực trạng sử dụng đất NN của gia đình: Tổng diện tích (DT) đất nông nghiệp của gia đình,

DT trồng lúa, DT trồng rau màu, DT bỏ trống

Hỏi về một số thông tin: kinh nghiệm trồng trọt? kinh nghiệm/hiểu biết về trồng CDL? Gia đình đã từng trồng cây dược liệu chưa? Và nếu trồng thì trồng những loại nào? Phần thứ 3: Tình hình sản xuất cây dược liệu: phần này hỏi về diện tích, năng suất các loại cây trồng của hộ cũng như chi phí đầu tư bình quân, thu nhập từ trồng cây dược liệu và tình hình tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp của gia đình

Hỏi về những chính sách hỗ trợ từ chính quyền địa phương cho sự phát triển tập trung cây dược liệu

Phần này có phỏng vấn chuyên sâu vào hộ gia đình, tìm hiểu những thuận lợi, khó khăn trong việc sản xuất cây dược liệu, những kiến nghị của người dân đối với địa phương, những tâm tư nguyện vọng của họ Đây chính là cơ sở để nghiên cứu đưa ra những đề xuất, chính sách phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương

3.3 Phương pháp phân tích

Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng mô hình kinh tế Binary logistic để đánh giá tác động của từng yếu tố đến quyết định của hộ nông dân trong việc chọn loại cây trồng để canh tác:

Y = β0 + ∑j= 1n βjXj + u

Y là biến giả, có giá trị bằng 1 (nếu hộ gia đình trồng CDL) và bằng 0 (cho tất

cả các gia đình khác); Xj là các yếu tố có ảnh hưởng đến quyết định canh tác tập trung cây dược liệu (j = 1 – n) ; u là phần dư

Dạng tổng quát của mô hình hồi quy Binary Logistic:

Trong đó, P(Y=1) = P0 : Xác suất xảy ra sự kiện, trong nghiên cứu này là xác suất để hộ dân trồng tập trung các loại cây dược liệu;

P(Y=0) = 1- P0 : Xác suất không xảy ra sự kiện Trong nghiên cứu này là xác suất hộ không trồng cây dược liệu

P(Y=1)

P(Y=0)

= β0 + β1X1 + β2X2 + β3X3 + …+ βnXn

Ln

Ngày đăng: 02/04/2018, 23:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w