1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Nâng cao hiệu quả dạy học môn hóa học ở trường THPT bằng việc giải thích các hiện tượng trong thực tiễn có liên quan đến kiến thức của bài học

20 258 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 234 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước thực trạng đó, chúng tôi mạnh dạn đưa ra sáng kiến kinh nghiệm với đề tài: “Nâng cao hiệu quả dạy học môn Hóa học ở trường THPT bằng việc giải thích các hiện tượng trong thực tiễn

Trang 1

A ĐẶT VẤN ĐỀ

I Cơ sở lí luận

Chăm lo phát triển giáo dục là một nhiệm vụ rất quan trọng mà mọi quốc gia trên thế giới đều lấy đó làm chiến lược phát triển của dân tộc mình Đảng và Nhà Nước ta cũng đã xác định rõ: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” Tương lai của mỗi quốc gia phụ thuộc rất nhiều vào chiến lược phát triển giáo dục của quốc gia đó

Trong điều kiện hiện nay nền khoa học kỉ thuật của nhân loại phát triển như vũ bão, nền kinh tế trí thức đóng vai trò then chốt và có tính toàn cầu, thì nghành Giáo dục lại có một vai trò vô cùng to lớn Xã hội đòi hỏi ngành Giáo dục phải đổi mới và phát triển nhiều hơn nữa để kịp đáp ứng với thời đại Giáo dục không chỉ đơn thuần là cung cấp kiến thức khoa học cho học sinh mà còn phải giúp học sinh biết vận dụng những kiến thức đó vào thực tiễn cuộc sống Từ đó giúp cho học sinh rèn luyện nhân cách, yêu thương cuộc sống, yêu thương thiên nhiên và con người, phấn đấu rèn luyện vươn lên thành người có ích cho xã hội

II Cơ sở thực tiễn

Môn Hóa học trong nhà trường phổ thông là một môn khoa học ứng dụng, cùng với những môn học khác đóng vai trò hình thành tư duy sáng tạo, phát triển trí dục của học sinh Môn Hóa học giúp học sinh nâng cao hiểu biết về thế giới vật chất xung quanh mình thông qua các giờ học lí thuyết và các giờ học thực hành thí nghiệm Từ đó khởi nguồn cho sự phát triển tư duy sáng tạo đưa những ứng dụng của hóa học vào phục vụ nhu cầu cuộc sống con người Hóa học còn góp phần giải thích các hiện tượng tự nhiên xung quanh ta, xóa bỏ những hiệu biết sai lệch làm phương hại đến đời sống tinh thần của con người

Để đạt được những mục đích trên, người Thầy giáo dạy môn Hóa học phải là một nhân tố chính quyết định chất lượng Người Thầy giáo phải trang bị cho mình một vốn kiến thức rộng lớn về lý thuyết và ứng dụng của Hóa học Bên cạnh đó thì phương pháp truyền đạt kiến thức phải sinh động gây hứng thú cho học sinh, giúp học sinh nhận thấy những kiến thức đó nó gần gũi với mình, từ đó các em say mê lĩnh hội kiến thức một cách dễ dàng hơn

B THỰC TRẠNG CỦA VIỆC HỌC VÀ DẠY BỘ MÔN HÓA HỌC Ở NHÀ

TRƯỜNG HIỆN NAY

I Thực trạng:

Môn Hóa học ở nhà trường phổ thông hiện nay là môn học khó Kiến thức xuyên suốt từ lớp dưới cho đến lớp trên, nếu bị hỏng một chổ nào đó là học sinh sẽ khó tiếp thu kiến thức mới Kiến thức khô khan, lý thuyết dài dòng, khá mơ hồ làm cho học sinh khó hiểu bài Đã có một bộ phận không nhỏ học sinh không thích học môn Hóa học Hiện nay kì thi đại học đã có khối thi A1 (Toán, Lý, Anh) nên đã có rất nhiều học sinh từ bỏ môn hóa học vì cho rất khó đạt điểm cao trong kì thi đại học khối A

Nhiều giáo viên đã chưa quan tâm đúng mức tới việc đổi mới phương pháp, chưa

cập nhật việc liên hệ thực tế để làm sinh động bài giảng Hiện tượng dùng đồng loạt một bài giảng cho nhiều lớp, nhiều đối tượng học sinh là không hề ít Thiết bị thực hành ở

các phòng thí nghiệm các trường phổ thông hầu hết đều thiếu, không đồng bộ cho nên học sinh ít được làm thực hành thí nghiệm thường xuyên, làm cho học sinh không tin tưởng lắm vào kiến thức mà giáo viên cung cấp Do phương pháp giảng dạy không tiến

Trang 2

bộ nên giáo viên chỉ truyền thụ kiến thức có một chiều mang nặng tính hàn lâm, làm cho học sinh cảm thấy nặng nề khó tiếp thu Giáo viên phải là người hướng dẫn học sinh nghiên cứu, chủ động lĩnh hội kiến thức, đừng biến các em thành “cái bình đựng kiến thức” vô thức và xa rời thực tiễn

Trước tình hình đó, cần phải đổi mới phương pháp giảng dạy bộ môn Hóa học

Phải “trả hóa học về cho hóa học” Một trong những yếu tố để giờ dạy đạt hiệu quả là

phải phát huy tính thực tế, giáo dục về môi trường, về tư tưởng mang màu sắc dân tộc Phát huy những cái củ còn có giá trị, tìm tòi và cập nhật những cái mới đãm bảo tính khoa học, chính xác và hiện đại

II Giải quyết thực trạng:

Để giải quyết thực trạng, trong thời gian qua, việc giảng dạy bộ môn Hóa học ở trường THPT Chuyên Trần Hưng Đạo đã có những đổi mới rất tiến bộ Ngoài việc ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy, Tổ bộ môn còn tổ chức các buổi ngoại khóa, giúp các em tìm hiểu thêm về kiến thức trong thực tiễn Nhưng điều đó vẫn chưa đủ để tạo hứng thú cho việc học của học sinh

Trước thực trạng đó, chúng tôi mạnh dạn đưa ra sáng kiến kinh nghiệm với đề tài:

“Nâng cao hiệu quả dạy học môn Hóa học ở trường THPT bằng việc giải thích các hiện tượng trong thực tiễn có liên quan đến kiến thức của bài học” Có những vấn đề Hóa

học có thể giúp học sinh giải thích các hiện tượng trong tự nhiên, tránh được tật mê tín

dị đoan, hoặc là giải thích được các câu ca dao tục ngữ mà dân gian để lại trên phương diện khoa học Từ đó học sinh cảm thấy không nhàm chán mà kiến thức môn Hóa học rất gần gũi và như là đâu đó ở xung quanh mình, góp phần cải tiến tư duy làm cho hóa học bớt đi khô khan, bớt đi tính hàn lâm và những đặc thù phức tạp của bộ môn

Trong phạm vi của đề tài này, chúng tôi không có tham vọng giải quyết mọi vấn

đề có trong thực tiễn, mà chỉ cố gắng nêu một số kinh nghiệm và một số kiến thức về hiện tượng hóa học trong tự nhiên có liên quan đến nội dung bài học, với mong muốn là góp phần cải tiến phương pháp giảng dạy để nâng cao hiệu quả của bài dạy, giúp học sinh hứng thú hơn khi học môn Hóa học

C GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

Cơ sở lí luận và thực tiễn giảng dạy qua nhiều năm với nhiều đối tượng học sinh, chúng tôi nhận thấy việc vận dụng kiến thức Hóa học để giải thích các hiện tượng trong thực tiễn sẽ tạo hứng thú, khơi dậy niềm đam mê trong học sinh với khoa học Để làm được việc này người Thầy giáo phải nghiên cứu kĩ bài giảng, nắm được vấn đề trong tâm, tìm hiểu các vấn đề thực tiễn có liên quan phù hợp với học sinh thành thị hoặc nông thôn Đôi lúc cần quan tâm đến tính cách và sở thích của các đối tượng học sinh Từ đó hình thành nên giáo án theo hướng phát huy tính chủ động sáng tạo của học sinh, nhưng phải bảo đãm tính hài hòa, đôi lúc cần có tính chất khôi hài nhưng vẫn không làm mất đi nội dung chính của bài giảng

I Các giải pháp thực hiện:

Có những cách nêu vấn đề như sau:

1) “Nâng cao hiệu quả dạy học môn Hóa học ở trường THPT bằng việc giải thích các hiện tượng trong thực tiễn có liên quan đến kiến thức của bài học” bằng cách nêu các

hiện tượng thực tiễn vào cuối bài học Cách nêu vấn đề như thế này có thể tạo cho học sinh vận dụng kiến thức đã học tìm cách giải thích các hiện tượng ở nhà hay những lúc

Trang 3

bắt gặp các hiện tượng đó Học sinh sẽ ấp ủ câu hỏi: tại sao có hiện tượng đó, từ đó tạo điều kiện thuận lợi để các em tiếp tục nghiên cứu bài học mới

2) “Nâng cao hiệu quả dạy học môn Hóa học ở trường THPT bằng việc giải thích các hiện tượng trong thực tiễn có liên quan đến kiến thức của bài học” bằng cách nêu các

hiện tượng thực tiễn hằng ngày thông qua các phương trình phản ứng hóa học có trong bài học Cách nêu vấn đề này có tính cập nhật, làm chó học sinh hiểu ngay và thấy được

ý nghĩa thực tiễn của bài học Giáo viên có thể giải thích ngay để thỏa mãn tính tò mò của học sinh

3) “Nâng cao hiệu quả dạy học môn Hóa học ở trường THPT bằng việc giải thích các hiện tượng trong thực tiễn có liên quan đến kiến thức của bài học” bằng cách nêu các

hiện tượng thực tiễn hằng ngày cho lời giới thiệu bài học mới Cách nêu vấn đề này tạo tính bất ngờ cho học sinh Có thể đó là một câu hỏi khôi hài hoặc là một vấn đề rất bình thường bắt gặp hàng ngày, tạo ra sự chú ý và quan tâm của học sinh khi học bài mới

4) “Nâng cao hiệu quả dạy học môn Hóa học ở trường THPT bằng việc giải thích các hiện tượng trong thực tiễn có liên quan đến kiến thức của bài học” bằng cách nêu các

hiện tượng thực tiễn hằng ngày thông qua các bài tập tính toán Cách nêu vấn đề này giúp học sinh hứng thú tìm tòi huy động các kiến thức để giải cho được bài tập đó

5) “Nâng cao hiệu quả dạy học môn Hóa học ở trường THPT bằng việc giải thích các hiện tượng trong thực tiễn có liên quan đến kiến thức của bài học” bằng cách nêu các

hiện tượng thực tiễn hằng ngày thông qua các câu chuyện ngắn có tính khôi hài có thể xen vào bất cứ lúc nào trong suốt buổi học Cách nêu vấn đề này tạo tâm lý thoải mái, gây hứng thú nhiều cho học sinh

6) “Nâng cao hiệu quả dạy học môn Hóa học ở trường THPT bằng việc giải thích các hiện tượng trong thực tiễn có liên quan đến kiến thức của bài học” bằng cách nêu các

hiện tượng thực tiễn hằng ngày bằng cách thực hiện các thí nghiệm biễu diễn Cách nêu vấn đề này giúp học sinh vận dụng kiến thức để quan sát và giải thích các hiện tượng thí nghiệm, giúp học sinh phát huy khả năng ứng dụng hóa học vào thực tiễn đời sống

7) “Nâng cao hiệu quả dạy học môn Hóa học ở trường THPT bằng việc giải thích các hiện tượng trong thực tiễn có liên quan đến kiến thức của bài học” bằng cách nêu các

hiện tượng thực tiễn hằng ngày bằng cách nêu các hiện tượng tự nhiên xảy ra có tính quy luật Cách nêu vấn đề này giúp học sinh thấy được sự chính xác của khoa học, làm cho kiến thức không khô khan mà trái lại rất gần gủi với cuộc sống

II Các biện pháp tổ chức thực hiện:

Để tổ chức thực hiện, giáo viên có thể vận dụng nhiều cách, nhiều phương tiện như sau:

+ Bằng lời thuyết trình, giải thích

+ Bằng các đoạn phim ảnh, máy chiếu

+ Bằng các thí nghiệm thực hành biểu diễn

+ Bằng các hình vẽ, tranh ảnh

+ Bằng các mẫu vật

+ Sưu tầm nhiều thí dụ minh họa, nhiều hiện tượng trong thực tiễn

+ Yêu cầu học sinh nêu câu hỏi về các hiện tượng mà mình bắt phải

+ Chất vấn học sinh để giải thích các hiện tượng đó

Trang 4

D MỘT SỐ THÍ DỤ MINH HỌA

THÍ DỤ 1: Vai trò của ozon (O 3 ) trong đời sống và trong công nghiệp như thế nào? + Cơ sở lý thuyết:

- Ozon có khả năng cải tạo nước thải, có thể khử các chất độc hại như phenol, hợp chất xianua, chất diệt cỏ, các hợp chất hữu cơ gây bệnh… có trong nước Ozon còn có thể tác dụng với các kim loại nặng có trong nước, biến nước thải thành nước sạch vô hại cho môi trường

- Trên tầng bình lưu của khí quyển (cách mặt đất từ 10 đế-n 30km) có tầng ozon bao bọc

có chức năng ngăn cản tia tử ngoại có hại cho sinh vật từ mặt trời chiếu vào trái đất Hiện nay do khí thải công nghiệp gây ô nhiễm có thể phá hủy tầng ozon Trong vòng 50 năm gần đây tầng ozon đã bị mỏng đi 1%, có nơi tầng ozon bị thủng gây nguy hại cho

sự sống dưới mặt đất

- Trong không khí nếu có một lượng nhỏ ozon thì làm cho không khí trong lành, sát khuẩn Nhưng nếu lượng ozon quá lớn thì gây ô nhiễm Có một số loài cây quá trình quang hợp có tạo ra ozon như: cây thông (Đà lạt), cây dương (trồng ở các bờ biển)

- Ozon còn dùng để bảo quản rau quả lâu hư, khử trùng nước uống, chữa bệnh sâu răng

+ Phạm vi áp dụng:

- Đây là vấn đề có liên quan đến giáo dục bảo vệ môi trường Giáo viên cần vận dụng cho học sinh thấy được tầm quan trọng của ozon, từ đó có ý thức chăm lo bảo vệ môi trường sống

- Giáo viên có thể vận dụng vấn đề này vào bài giảng về OXI – OZON ở lớp 10

THÍ DỤ 2: Vì sao khi luộc rau muống nên cho vào nước một ít muối ăn (NaCl) ?

+ Cơ sở lý thuyết:

Nhiệt độ sôi của nước ở áp suất thường (1 atm) là 100oC, khi ta thêm NaCl vào thì nhiệt độ sôi của dung dịch muối cao hơn 100oC Vì vậy làm cho cọng rau mau mềm hơn, thời gian luộc rau mau hơn nên ít mất vitamin làm cho rau giữ được màu xanh

+ Phạm vi áp dụng:

- Đây là vấn đề giúp học sinh biết được nhiệt độ sôi của dung dịch cao hơn của dung môi, và nhiệt độ đông đặc của dung dịch lại thấp hơn của dung môi Học sinh cảm thấy hứng thú hơn khi áp dụng vào những công việc thường ngày trong đời sống

- Giáo viên có thể vận dụng vấn đề này vào bài giảng về MUỐI CLORUA ở lớp 10

THÍ DỤ 3: Làm thế nào để khắc chữ, vẽ hình trên thủy tinh ?

+ Cơ sở lý thuyết:

- Như học sinh đã biết, dung dịch axit florhiđric (HF) ăn mòn được thủy tinh theo phản ứng như sau: SiO2 + 4HF → SiF4 + 2H2O

- Muốn khắc chữ lên thủy tinh, người ta nhúng thủy tinh vào sáp nóng chảy, sau đó nhắc ra để nguội Dùng vật có mũi nhọn tạo hình, chữ cần khắc nhờ cạo đi lớp sáp Nhỏ dung dịch HF vào các chỗ đó Sau một thời gian lớp thủy tinh sẽ bị ăn mòn tạo ra hình hoặc chữ như ý muốn

- Nếu không có dung dịch HF, ta có thể thay thế bằng H2SO4 đặc và bột CaF2 bằng cách làm như sau: rắc lớp bột CaF2 lên những chổ lớp sáp bị cạo theo hình khắc, sau đó nhỏ dung dịch H2SO4 đặc vào và lấy bìa cứng che lại để không cho HF bay hơi, sau một thời gian lớp thủy tinh sẽ bị ăn mòn

Trang 5

Phản ứng: CaF2 + H2SO4 (đặc) → CaSO4 + 2HF

+ Phạm vi ứng dụng:

- Giúp học sinh biết được công nghệ khắc chữ trên thủy tinh, làm cho các em cảm thấy hứng thú, thấy hóa học gần gủi với đời sống

- Học sinh cũng biết được vì sao không dùng chai lọ bằng thủy tinh để dựng dung dịch axit florhiđric (HF)

- Giáo viên có thể vận dụng vấn đề này trong bài giảng về FLO ở lớp 10

THÍ DỤ 4: Tại sao nước máy dùng trong các thành phố lại có mùi khó chịu ?

+ Cơ sở lý thuyết:

- Đó là mùi khí clo (Cl2)

- Khi sục khí Cl2 vào nước thì khí clo tan một phần trong nước :

Cl2 + H2O  HCl + HClO

- Hợp chất HClO không bền có tính oxi hóa mạnh:

HClO  HCl + [O]

- Chính vì thế mà nó có tính diệt được các vi khuẩn trong nước

- Để giảm bớt mùi khí Cl2 ta có thể chứa nước máy qua bồn chứa một thời gian, hạn chế dùng trực tiếp nước máy từ vòi nước chính Hạn chế tưới cây bằng nước máy vì khí Cl2

có thể làm cho cây chậm phát triển

+ Phạm vi ứng dụng :

- Học sinh hiểu được quy trình khử trùng nước ở các nhà máy nước cung cấp cho các vùng dân cư sử dụng Ngoài Cl2 ra thì có thể khử trùng nước bằng ozon, tia cực tím

- Giáo viên có thể vận dụng vấn đề này vào bài giảng CLO ở lớp 10

THÍ DỤ 5 : Hiện tượng « Ma trơi » là gì ?

+ Cơ sở lý thuyết :

- Trong xương người (và động vật) có chứa hàm lượng phospho (P), khi phân hủy có thể tạo ra photphin (PH3) Vào những ngày có thời tiết nóng, khí PH3 thoát ra, khi có lẫn một ít P2H4 (điphotphin) thì khí PH3 có thể tự bốc cháy tạo thành các khối cầu lửa bay trong không khí :

2PH3 + 4O2 → P2O5 + 3H2O

- Điều trùng lập ngẫu nhiên là chúng ta chỉ gặp hiện tượng này ở các khu nghĩa trang vào những ngày đầu mùa hè, có mưa đầu mùa hơi đất bốc lên nhanh và nhiệt độ cao Do

đó một số người mê tín dị đoan gọi là ma trơi.

+ Phạm vi ứng dụng :

- Học sinh sẽ hứng thú khi gặp vấn đề này, giải thích các hiện tượng tự nhiên dưới góc

độ khoa học, tránh tình trạng mê tín dị đoan, góp phần làm cuộc sống lành mạnh hơn

- Giáo viên có thể vận dụng vấn đề này trong bài giảng về PHOT PHO ở lớp 11

THÍ DỤ 6 : Tại sao trong xăng có pha chì ? Tại sao bây giờ không dùng xăng pha

chì nữa?

+ Cơ sở lý thuyết :

- Xăng pha chì là thêm tetraetyl chì vào xăng, có tác dụng tăng khả năng cháy nổ của xăng giúp tiết kiệm được khoãng 30% xăng dầu khi sử dụng

Trang 6

- Nhưng khí cháy có tạo ra chì oxit (PbO2) bám vào ống xả, thành xilanh của động cơ nên thực tế người ta còn cho thêm đibrom etan (C2H4Br2) vào để chì oxit chuyển thành chì bromua (PbBr2) dễ bay hơi Nhưng vấn đề này gây ô nhiễm nghiêm trọng môi trường không khí Ngoài ô nhiễm chì rất độc, còn có ô nhiễm hơi brôm gây viêm đường

hô hấp, gây bỏng da Vì vậy hiện nay ở nước ta và các nước khác đã không còn sử dụng xăng pha chì nữa

+ Phạm vi ứng dụng :

- Giáo dục cho học sinh ý thức bảo vệ môi trường, không vì cái lợi trước mắt mà gây ra các tác hại lớn cho sức khỏe của cộng đồng

- Giáo viên có thể vận dụng vấn đề này trong bài giảng về DẦU MỎ ở lớp 11

THÍ DỤ 7 : Tại sao khi quẹt diêm thì que diêm bốc cháy ?

+ Cơ sở lý thuyết :

- Thuốc ở đầu que diêm chứa các chất oxi hóa mạnh như K2Cr2O7, KClO3, MnO2 và các chất khử như S, tinh bột Thuốc ở vỏ bao diêm chứa P đỏ, Sb2O3 Để tăng độ ma sát người ta trộn bột thủy tinh nghiền mịn vào cả hai thứ thuốc trên Khi quẹt que diêm, những hạt nhỏ P tác dụng với các chất oxi hóa, phản ứng tỏa nhiều nhiệt làm cháy thuốc

ở đầu que diêm, rồi sau đó que diêm bốc cháy theo

+ Phạm vi ứng dụng :

- Giúp học sinh thấy tầm quan trọng của Hóa học với đời sống con người

- Giáo viên có thể vận dụng vấn đề này trong bài giảng về KClO3 ở lớp 10 và P ở lớp 11

THÍ DỤ 8 : Thuốc chuột là gì ?

+ Cơ sở lý thuyết :

- Thuốc chuột có thành phần chính là Zn3P2 (kẽm photphua), đây là chất rắn dạng bột không màu, không mùi, không vị nên khi trộn với thức ăn (cơm) thì con chuột không phát hiện được Khi chuột ăn vào thì muối này bị thủy phân tạo ra khí PH3 rất độc, giết chết con chuột

Zn3P2 + 6H2O → 3Zn(OH)2 + 2PH3↑

+ Phạm vi ứng dụng:

- Vấn đề góp phần cho học sinh biết được thành phần hóa học của thuốc chuột, học sinh cảm thấy hứng thú hơn khi học

- Giáo viên có thể vận dụng vấn đề này trong bài giảng về PHOSPHO ở lớp 11

THÍ DỤ 9 : Muối iôt là gì ? Tại sao phải ăn muối iôt ?

+ Cơ sở lý thuyết:

- Muối ăn (NaCl) trộn thêm một lượng nhỏ KI hoặc KIO3 được gọi là muối iôt Thông thường 1 tấn muối ăn NaCl được trộn thêm 25 kg muối KI

- Trong cơ thể con người trưởng thành có chứa 20 – 50 mg iôt chủ yếu tập trung ở tuyến giáp Nếu thiếu iôt ở tuyến này thì có thể gây ra một số bệnh như: bướu cổ, đần độn Phụ

nữ thiếu iôt có thể dẫn đến tai biến sau khi sinh, hoặc bệnh vô sinh Do đó phải thường xuyên bổ sung iôt (bảo đãm mỗi ngày khoãng 150 mg iôt)

+ Phạm vi ứng dụng:

- Học sinh biết được vai trò của iôt đối với sức khỏe, biết được muối iôt hằng ngày sử dụng là như thế nào

Trang 7

- Giáo viên có thể vận dụng vấn đề này trong bài giảng về IOT ở lớp 10.

THÍ DỤ 10 : Tục ngữ Việt Nam có câu “Nước chảy đá mòn” Hóa học có thể giải

thích hiện tượng này như thế nào?

+ Cơ sở lý thuyết:

- Trong đá, thông thường là đá vôi CaCO3, trong nước tồn tại cân bằng điện li:

CaCO3  Ca2+ + CO3

2 Khi nước chảy cuốn theo các ion trên làm cho nồng độ các ion đó giảm xuống Theo nguyên lý chuyển dời cân bằng hóa học thì cân bằng trên bị chuyển dịch theo chiều chống lại bằng cách làm cho nồng độ các ion tăng lên, tức là theo chiều thuận (làm phân hủy CaCO3) Qua thời gian làm cho đá bị mòn dần

+ Phạm vi ứng dụng:

- Hiện tượng này gặp phổ biến trong tự nhiên, chứng tỏ dân gian ta rất tài tình trong việc quan sát hiện tượng, góp phần làm cho học sinh cảm thấy hứng thú khi học bộ môn hóa học Các công trình xây dựng cũng nên chú ý các hiện tượng này

- Giáo viên có thể vận dụng vấn đề này trong bài giảng về CÂN BẰNG HÓA HỌC ở lớp 10 và bài giảng về CaCO3 ở lớp 12

THÍ DỤ 11: Ca dao Việt Nam có câu:

“ Lúa chiêm lấp ló đầu bờ

Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên”

Hóa học có thể giải thích như thế nào?

+ Cơ sở lý thuyết:

- Trong không khí có khoãng 80% thể tích là N2 và khoãng 20% thể tích là O2 Cây trồng không thể hấp thụ đạm ở dạng N2 Khi có sấm sét, tức là có hiện tượng phóng tia lửa điện vào không khí thì một phần khí N2 kết hợp với O2 tạo ra khí NO:

N2 + O2  NO Sau đó NO kết hợp với O2 tạo ra NO2: 2 NO + O2 → 2NO2

Khí NO2 tan trong nước mưa tạo ra HNO3 (ion NO3- cây trồng hấp thụ dễ dàng)

4NO2 + O2 + 2H2O → 4HNO3

- Lúa chiêm đang trong thời kì tăng trưởng, rất cần hàm lượng đạm, khi hấp thụ lượng ion NO3- từ nước mưa sẽ phát triển rất nhanh, cho năng suất cao

- Nhờ hiện tượng này mà hàng năm làm tăng khoãng 6 – 7 kg nitơ cho 1 ha đất, tạo thêm lượng màu mỡ cho đất Ngày nay người ta sản xuất phân urê (NH2)2CO từ nguồn nguyên liệu không khí để chủ động nguồn đạm bón cho cây trồng

+ Phạm vi ứng dụng:

- Đây là câu ca dao rất hay, mang tính thực tiễn trong đời sống nông dân Ông bà ta đã rất tài tình đúc kết qua thời gian, và bây giờ lại được giải thích dưới ánh sáng của khoa học Giúp học sinh hứng thú, thấy Hóa học rất gần gũi cuộc sống

- Giáo viên có thể vận dụng vấn đề này trong các bài giảng về NITƠ, PHÂN BÓN HÓA HỌC ở chương trình lớp 11

THÍ DỤ 12 : Ngộ độc khí CO như thế nào?

+ Cơ sở lý thuyết:

- Khi đốt cháy than (cacbon) sẽ xảy ra phản ứng: C + O2 → CO2

Trang 8

Trong điều kiện thiếu O2 thì xảy phản ứng: CO2 + C → 2CO

- Khí CO rất độc do có khả năng hóa hợp với hemoglobin trong máu tạo ra hợp chất bền ngăn cản quá trình chuyển tải oxi từ phổi đến các mao quản máu trong cơ thể con người

và động vật, gây đông máu, gây trụy tim mạch dẫn đến tử vong

- Trong quá trình hô hấp của con người, khí CO sẽ thâm nhập từ từ, làm cho ta bị “lịm” dần, gây tử vong nếu không cấp cứu kịp thời

- Trong mùa lạnh, người dân hay đốt lò than trong nhà kín cửa để sưỡi khi ngủ Đây là việc làm rất nguy hiểm vì sẽ bị ngộ độc khí CO Nhà bếp cũng nên rộng thoáng, có thông hơi để không ngộ độc khí CO cho con người

+ Phạm vi ứng dụng:

- Giúp học sinh hiểu và tránh bị ngộ độc khí CO, đặc biệt là không nên dùng lò than để sưỡi ấm trong nhà kín

- Giáo viên có thể vận dụng vấn đề này khi giảng bài CACBON ở lớp 11

THÍ DỤ 13 : Ngộ độc khí CH 4 như thế nào?

+ Cơ sở lý thuyết:

- Trong thực tế có xảy ra hiện tượng khi người ta leo xuống các giếng sâu, hoặc vào trong các bồn chứa nước xây thành bằng xi-măng thì bị ngộ độc khí, dẫn đến chết người

- Học sinh đã biết, khí metan (CH4) có thể sinh ra khi xác thực vật bị phân hủy lâu ngày Cho nên khí metan còn được gọi là “khí bùn ao” Trong các giếng sâu hoặc hồ chứa nước có xây bằng gạch đá, xi-măng lâu ngày có rong rêu bao phủ Chính sự phát triển, cũng như phân hủy lớp rong rêu có sinh ra khí metan (CH4) Ngộ độc khí CH4 có thể gây

tử vong nhanh cho người nếu không cấp cứu kịp thời

+ Phạm vi ứng dụng:

- Giúp học sinh biết được một mối nguy hiểm có thể xảy ra trong cuộc sống để phòng tránh, cũng như giải thích cho mọi người hiểu

- Giáo viên có thể vận dụng vấn đề này khi giảng về bài ANKAN ở lớp 11

THÍ DỤ 14 : Người ta phát hiện ra dấu vân tay của tội phạm để lại trên hiện trường

như thế nào?

+ Cơ sở lý thuyết:

- Lấy tờ giấy sạch, ấn ngón tay vào một mặt rồi sau đem mẫu giấy đó đặt trên miệng ống nghiệm có đựng cồn iôt Dùng đèn cồn đun ống nghiệm cồn iốt đó Đợi cho đến khi có khí màu tím (hơi I2) thoát ra một lúc sau thấy dấu vân tay hiện dần lên tờ giấy (màu nâu)

- Do đầu ngón tay có mồ hôi (trong đó có dầu khoáng, chất béo ) sẽ lưu lại trên giấy mà mắt thường không nhìn thấy Các chất này khi gặp hơi I2 sẽ cho màu nâu rất rõ

- Ngày nay kỉ thuật lấy dấu vân tay trong khoa học hình sự còn có nhiều tiến bộ hơn

+ Phạm vi ứng dụng:

- Đây chỉ là một câu chuyện về ứng dụng của Hóa học gây thích thú cho học sinh

- Giáo viên có thể vận dụng vấn đề này trong bài giảng về CHẤT BÉO ở lớp 12

THÍ DỤ 15 : Làm thế nào để có thể khử mùi tanh của cá (đặc biệt là cá mè) ?

+ Cơ sở lý thuyết:

Trang 9

- Trên lớp vảy cá (đặc biệt là cá mè) có chứa nhiều các amin như metyl amin, đi metyl amin, nhiều nhất là trimetyl amin (CH3)3N Các amin này có mùi khai khó chịu, gây nên mùi tanh của cá

- Để khử mùi tanh đó, sau khi mổ cá rửa sạch, ta có thể dùng giấm ăn (CH3COOH) chà sát lên thân mình cá, sẽ khử hết mùi tanh

- Amin là những chất có tính bazơ, giấm ăn là axit sẽ trung hòa các amin tạo ra muối amoni tan nhiều trong nước, sau đó bị nước rửa trôi:

CH3COOH + (CH3)N → [CH3COO]- (CH3)3NH+

+ Phạm vi ứng dụng:

- Vấn đề này gần gũi với cuộc sống, gây hứng thú cho học sinh

- Giáo viên có vận dụng vấn đề này trong bài giảng về AMIN ở lớp 12

THÍ DỤ 16 : Vì sao khi ăn bánh bao nguội ta nghe mùi khai? Vì sao thuốc uốn tóc

ta cũng nghe mùi khai khó chịu?

+ Cơ sở lý thuyết:

- Để tạo độ cứng và dai cho vỏ bánh bao cũng như là để tạo nếp uốn cho tóc, người ta dùng thạch cao CaSO4 được tạo ra từ phản ứng:

(NH4)2SO4 + Ca(OH)2 → CaSO4↓ + 2NH3 + 2H2O

- Khi sản xuất vỏ bánh bao, cũng như thuốc uốn tóc có các chất (NH4)2SO4 và Ca(OH)2 Phản ứng xảy ra có tạo ra NH3 gây mùi khai khó chịu

- Cho nên khi ăn bánh bao ta phải ăn bánh nóng, để cho khí NH3 thoát ra nhanh, giảm bớt mùi khai

+ Phạm vi ứng dụng:

- Vấn đề này cũng rất gần gũi cuộc sống hàng ngày, gây thích thú nhiều cho học sinh

- Giáo viên có thể vận dụng vấn đề này trong bài giảng về AMONIAC ở lớp 11

THÍ DỤ 17 : Tại sao nước giếng mới múc lên trong suốt, khi đun sôi để nguội lại

thấy đóng cặn?

+ Cơ sở lý thuyết:

- Trong nước giếng có chứa các muối tan Ca(HCO3)2 và Mg(HCO3)2 (nước cứng tạm thời) Các muối này tan nhiều nên nước giếng trong suốt

- Khi ta đun sôi nước thì các muối này phân hủy tạo nên muối kết tủa, gây đóng cặn:

Ca(HCO3)2

o t

  CaCO3↓ + CO2 + H2O Mg(HCO3)2

o t

  MgCO3↓ + CO2 + H2O

- Muốn tẩy cặn ở đáy ấm đun nước: ta dùng một lượng giấm (dd CH3COOH 5%) và một

ít rượu etylic Đun sôi để nguội qua đêm thì sẽ được một lớp “cháo” đặc chỉ có việc hớt

ra rồi lau sạch ấm

+ Phạm vi ứng dụng:

- Hiện tượng này xảy ra phổ biến ở các vùng nông thôn người dân sử dụng nước giếng Giúp học sinh hiểu được vấn đề, có hướng xử lý các nguồn nước

- Giáo viên có thể vận dụng vấn đề này trong bài giảng về NƯỚC CỨNG ở lớp 12

THÍ DỤ 18 : Tại sao khi nhai cơm lâu ở miệng ta cảm thấy có vị ngọt? Tại sao ăn

cơm cháy cảm thấy ngon?

+ Cơ sở lý thuyết:

Trang 10

- Trong cơm có chứa một lượng lớn tinh bột (khoãng 80%) Trong nước bọt của người

có rất nhiều các enzym Khi ta nhai kĩ cơm trong miệng, tinh bột trộn đều với nước bọt tạo ra sự thủy phân tinh bột tạo ra đường mantozơ và cuối cùng là glucozơ:

Tinh bột (C 6 H 10 O 5 ) n    α-amilaza+H O2  Đextrin (C 6 H 10 O 5 ) x 2

+H O β-amilaza

     Mantozơ +H O 2

mantaza

   glucozơ.

- Ở cơm cháy, hay vỏ bánh mì là những nơi tiếp xúc với nhiệt độ cao nên quá trình thủy phân diễn ra nhanh hơn, tạo ra glucozơ nhiều hơn, khi ăn ta cảm thấy ngọt hơn

+ Phạm vi ứng dụng:

- Vấn đề này cung cấp cho học sinh kiến thức về sự thủy phân tinh bột, học sinh gặp vấn

đề này hàng ngày trong các bữa ăn, giúp các em hứng thú khi học

- Giáo viên có thể áp dụng vấn đề này khi giảng về bài TINH BỘT ở lớp 12

THÍ DỤ 19 : Tại sao khi trồng răng bằng kim loại thì phải dùng kim loại đồng chất?

+ Cơ sơ lý thuyết:

- Nếu ta trồng răng bằng kim loại (ví dụ bằng vàng Au), nếu dùng các kim loại không đồng chất thì sẽ tạo ra pin điện (hiện tượng ăn mòn điện hóa học) Sẽ có một dòng điện nhỏ xuất hiện trong hàm răng chúng ta gây cảm giác khó chịu

- Học sinh đã biết điều kiện xảy ra ăn mòn điện hóa học là: Có hai kim loại khác nhau cùng tiếp xúc với nhau trong dung dịch chất điện li Ăn mòn điện hóa học có sinh ra dòng điện

- Chính vì vậy khi trồng răng kim loại thì phải dùng kim loại đồng chất

+ Phạm vi ứng dụng:

- Làm phong phú thêm kiến thức về hiện tượng ăn mòn điện hóa học, một hiện tượng ăn mòn kim loại xảy ra phổ biến

- Giáo viên có thể áp dụng vấn đề này vào bài giảng về ĂN MÒN KIM LOẠI ở lớp 12

THÍ DỤ 20 : Các hộp xốp dùng chứa thức ăn nhanh hiện nay dùng rất nhiều, nó có

lợi hay có hại như thế nào?

+ Cơ sở lý thuyết:

- Các hộp xốp dùng chứa thức ăn nhanh có thành phần chính là polistiren được điều chế

từ stiren (C6H5–CH=CH2) Nó bị đepolime hóa (giải trùng hợp) ở 250oC và hóa mềm ở khoãng 240oC Bền với kiềm, axit nên polistiren được dùng sản xuất các vật dụng gia đình, trong đó có hộp xốp dùng chứa thức ăn

- Cách chế tạo: trộn chất dẽo polistiren với chất tạo bóng khí, khi gia nhiệt các bọt khí sinh ra làm cho nhựa nở ra, gọi là chất dẻo bọt, nhựa xốp rất nhẹ

- Polistiren là chất nhựa nhiệt dẻo không màu, bị hóa mềm ở khoãng 100oC và trở thành lỏng nhớt ở khoãng 185oC Nếu dùng chứa thức ăn nóng thì có thể làm cho nhựa xốp hóa mềm và bay hơi polistiren gây độc hại cho thức ăn

- Nên chỉ dùng hộp xốp chứa thức ăn nguội và dùng ngay, không nên dùng lâu

- Polistiren khó phân hủy, nên dùng nhiều có thể gây ô nhiễm môi trường

+ Phạm vi ứng dụng:

- Đây là vấn đề rất lý thú, gặp gỡ hàng ngày ở cuộc sống Giúp trang bị cho học sinh một

số kiến thức để sử dụng sao cho tốt

- Giáo viên có thể áp dụng vấn đề này trong bài giảng về CHẤT DẺO ở lớp 12

Ngày đăng: 02/04/2018, 12:25

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w