1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bản chất con người theo quan điểm triết học MácLênin và việc phát huy nhân tố con người trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ở Nghệ An hiện nay

80 550 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 115,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC A.MỞ ĐẦU 1 B.NỘI DUNG 4 1. QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MÁCXÍT VỀ NHÂN TỐ CON NGƯỜI VÀ NHỮNG ĐIỀU KIỆN TÁC ĐỘNG ĐẾN NHÂN TỐ CON NGƯỜI……… 4 1.1. Về khái niệm con người và nhân tố con người 4 1.1.1. Quan điểm của Mácxít về con người và nhân tố con người 4 1.1.1.1 Quan điểm mác xít về con người 4 1.1.1.2. Quan niệm mácxít về nhân tố con người 10 1.1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và nhân tố con người11 1.2. Những điều kiện cơ bản tác động đến nhân tố con người trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam hiện nay 15 1.2.1. Đặc điểm của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta hiện nay. 16 1.2.1.1. Đặc điểm của kinh tế thị trường định hướng XHCN trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 17 1.2.1.2. Đặc điểm về chính trị xã hội trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. 20 1.2.1.3. Đặc điểm của văn hoá trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. 24 2.PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ Ở NGHỆ AN THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP.25 2.1. Khái niệm và một số yêu cầu về việc phát huy nhân tố con. 25 2.1.1Khái niệm nhân tố con người? 25 2.1.2.Một số yêu cầu về phát huy nhân tố con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 26 2.2. Đặc điểm kinh tếxã hội của Nghệ An và sự ảnh hưởng của nó đến nhân tố con người 36 2.2.1. Đặc điểm kinh tế xã hội của Nghệ An 36 2.2.1.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của Nghệ An 36 2.2.1.2. Đặc điểm văn hoá, giáo dục, khoa học kỹ thuật, truyên thống con người Nghệ An 43 2.2.1.3.Đặc điểm con người Nghệ An 46 2.2.2. Thực trạng nhân tố con người dưới sự ảnh hưởng của điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ở Nghệ An 47 2.2.2.1. Nhân tố con người dưới sự ảnh hưởng của phát triển kinh tế ở Nghệ An 48 2.2.2.2. Nhân tố con người dưới sự ảnh hưởng của đời sống chính trị ở Nghệ An 49 2.2.2.3. Nhân tố con người dưới sự ảnh hưởng của đời sống văn hoá xã hội ở Nghệ An 51 2.2.2.4. Nhân tố con người dưới sự ảnh hưởng của giáo dục, đào tạo ở Nghệ An 52 2.3. Phương hướng và một số giải pháp cơ bản trong việc phát huy nhân tố con người ở Nghệ An trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế 56 2.3.1. Phương hướng phát huy nhân tố con người trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ở Nghệ An 56 2.3.1.1. Phương hướng chung phát huy nhân tố con người 56 2.3.1. 2. Quan điểm phát triển của Nghệ An 58 2.3.2. Một số giải pháp cơ bản trong việc phát huy nhân tố con người ở Nghệ An trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.60 2.3.2.1. Giải pháp khai thác hợp lý, có hiệu quả nguồn lực con người60 2.3.2.2 Giải pháp giải quyết việc làm và thu nhập cho người lao động64 2.3.2.3 Giải pháp về sử dụng và đãi ngộ đối với người lao động65 2.3.2.4. Giải pháp xây dựng môi trường xã hội và chính sách xã hội thuận lợi cho việc khai thác, sử dụng, phát triển có hiệu quả nguồn lực con người67 2.3.2.5. Giải pháp về nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng và hệ thống chính trị69 2.3.2.6.Thu hút chuyên gia, nhà quản lý, cải thiện môi trường lao động.71 2.3.2.7.Chính sách ưu tiên phát triển nhân lực các dân tộc thiểu số, vùng cao và vùng sâu, vùng xa72 2.3.2.8. Mở rộng hợp tác và giao lưu quốc tế nhằm tạo điều kiện phát huy nhân tố con người trong việc khắc phục tâm lý thụ động, khép kín, thiếu năng động…74 III. Kết luận 77 IV.DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢo

Trang 1

A.MỞ ĐẦU

Vấn đề con người luôn là chủ đề trung tâm của lịch sử triết học từ cổ đại đến hiện đại Từ khi Triết học Mác-Lênin ra đời đã giải quyết những nội dung liên quan đến con người Khẳng định con người có vị trí và vai trò rất quan trọng đối với thế giới, và trong thực tế hiện nay thì con người là một lực lượng chủ đạo trong nền sản xuất xã hội Trong công cuộc đổi mới xã hội chỉ

có con người-yếu tố quan trọng nhất trong lực lượng sản xuất của xã hội, là nhân

tố chính, là nguồn lực mang tính quyết định sự thành công hay thất bại

Đảng ta đã khẳng định, tư tưởng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cùng với Chủ nghĩa Mác-Lê nin mãi mãi là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nan cho hành động của Đảng Vì vậy, thấm nhuồn tư tưởng chủ nghĩa Mác-Lênin về con người, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa

xã hội, Đảng ta đã khẳng định: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển Tôn trọng và bảo vệ quyền con

người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân Kết hợp và phát huy đầy đủ vai trò của xã hội, gia đình, nhà trường, từng tập thể lao động, các đoàn thể và cộng đồng dân cư trong việc chăm lo xây dựng con người Việt Nam giàu lòng yêu nước, có ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân; có tri thức, sức khoẻ, lao động giỏi; sống có văn hoá, nghĩa tình; có tinh thần quốc tế chân chính” Đặc biệt là, trong giai đoạn hiện nay đất nước ta đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa-hiện đại hóa, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng đến năm 2020 nước thực hiện cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Ngoài những nhân tố quan trọng quyết định sự thành công, đó là vai trò lãnh đạo của Đảng,

Trang 2

sự quản lý điều hành của nhà nước, sự tham gia ủng hộ tích cực của các đoàn thể

xã hội, chúng ta cần khẳng định rằng, yếu tố con người, nguồn nhân lực có vị trị rất quan trọng như trong Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định: “Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa-hiện đại hóa”

Nước ta hiện nay, được thế giới đánh giá là có lợi thế về dân số đông,

đang trong thời kỳ “dân số vàng” nên lực lượng trong độ tuổi lao động rất dồi dào Đây là nguồn lực vô cùng quan trọng để đất nước ta thực hiện thành công Chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011-2020 đã được Đại hội Đảng

XI thông qua ngày 16/2/2011 Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam vẫn còn thấp, nguồn nhân lực khá dồi dào, nhưng chưa được sự quan tâm

đúng mức; chưa được quy hoạch, khai thác; chưa được nâng cấp; chưa được đào tạo đến nơi đến chốn Chất lượng nguồn nhân lực chưa cao, dẫn đến tình trạng mâu thuẫn giữa lượng và chất Sự kết hợp, bổ sung, đan xen giữa nguồn nhân lực

từ nông dân, công nhân, trí thức chưa tốt, còn chia cắt, thiếu sự cộng lực để cùngphối hợp thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.Và đây là vấn đề cần phải được cải thiện càng sớm càng tốt

Từ khi Triết học Mác - Lênin ra đời đã giải quyết những nội dung liên quanđến con người Khẳng định con người có vị trí và vai trò rất quan trọng đối vớithế giới, và trong thực tế hiện nay thì con người là một lực lượng chủ đạo trongnền sản xuất xã hội Trong công cuộc đổi mới xã hội chỉ có con người là yếu tốquan trọng nhất trong lực lượng sản xuất của xã hội, là nhân tố chính, là nguồnlực mang tính quyết định sự thành công hay thất bại Đảng ta đã khẳng định, tư

Trang 3

tưởng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cùng với Chủ nghĩa Mác-Lê nin mãi mãi

là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nan cho hành động của Đảng Vì vậy, Cương lĩnhxây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã

khẳng định: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân Kết hợp

và phát huy đầy đủ vai trò của xã hội, gia đình, nhà trường, từng tập thể lao động, các đoàn thể và cộng đồng dân cư trong nền sản xuất xã hội”[8; tr.76] Do

nhận thức được tâm quan trọng của vấn đề này, em chọn đề tài: "Bản chất con người theo quan điểm triết học Mác-Lênin và việc phát huy nhân tố con người trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ở Nghệ An hiện nay” làm tiểu

luận học phần những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (I)

Trang 4

B.NỘI DUNG

1 QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MÁC-XÍT VỀ NHÂN TỐ CON NGƯỜI VÀ NHỮNG ĐIỀU KIỆN TÁC ĐỘNG ĐẾN NHÂN TỐ CON NGƯỜI

1.1 Về khái niệm con người và nhân tố con người

1.1.1 Quan điểm của Mác-xít về con người và nhân tố con người

Vấn đề triết học về con người là một nội dung lớn trong lịch sử triết học nhân loại Đó là những vấn đề: Con người là gì? Bản tính, bản chất con người? Mối quan hệ giữa con người và thế giới? Con người có thể làm gì để giải phóng mình, đạt tới tự do? … Đây cũng chính là nội dung cơ bản của nhân sinh quan - một nội dung cấu thành thế giới quan triết học

Tuỳ theo điều kiện lịch sử của mỗi thời đại mà nổi trội lên vấn đề này hayvấn đề kia Đồng thời, tuỳ theo giác độ tiếp cận khác nhau mà các trường pháitriết học, các nhà triết học trong lịch sử có những phát hiện, đóng góp khác nhautrong việc lý giải về con người Mặt khác trong khi giải quyết những vấn đề trên,mỗi nhà triết học, mỗi trường phái triết học có thể lại đứng trên lập trường thếgiới quan, phương pháp luận khác nhau: Duy vật hoặc duy tâm, biện chứng hoặcsiêu hình

1.1.1.1 Quan điểm mác - xít về con người

* Con người và bản chất của con người

- Quan niệm về con người trong triết học phương Đông ?

+ Phật giáo: Con người là sự kết hợp giữa sắc và danh (vật chất và tinh thần)

Trang 5

Cuộc sống vĩnh cửu là cõi Niết bàn, nơi linh hồn con người được giải thoát đểtrở thành bất diệt.

- Khổng Tử: Bản chất của con người là do “thiên mệnh”, chi phối, đức “nhân” làgiá trị cao nhất của con người, đặc biệt là con người quân tử

- Lão Tử: Con người được sinh ra từ “Đạo” Vì vậy, con người cần phải sống

“vô vi” theo lẽ tự nhiên, không trái với tự nhiên

Có thể nói rằng, với nhiều hệ thống triết học khác nhau, triết học phươngĐông biểu hiện tính đa dạng và phong phú thiên về vấn đề con người trong mốiquan hệ chính trị đạo đức Nhìn chung con người trong triết học phương Đôngbiểu hiện yếu tố duy tâm có pha trộn tính chất duy vật trong mối quan hệ với tựnhiên và xã hội

Trong nền triết học Phương Đông nói chung và nền triết Trung Hoa nóiriêng thì xuyên suốt chiều dài lịch sử trên hai ngàn năm cổ - trung đại, vấn đềbản tính con người là vấn đề được quan tâm hàng đầu Giải quyết vấn đề này,các nhà tư tưởng của Nho gia và Pháp gia đã tiếp cận từ giác độ hoạt động thựctiễn chính trị, đạo đức của xã hội và đi đến kết luận bản tính người là Thiện (Nhogia) và bản tính người là Bất Thiện (Pháp gia) Các nhà tư tưởng của Đạo gia,ngay từ Lão tử thời Xuân Thu, lại tiếp cận giải quyết vấn đề bản tính người từgiác độ khác và đi tới kết luận bản tính Tự Nhiêncủa con người Sự khác nhau vềgiác độ tiếp cận và với những kết luận khác nhau về bản tính con người đã là tiền

đề xuất phát cho những quan điểm khác nhau của các trường phái triết học nàytrong việc giải quyết các vấn đề về quan điểm chính trị, đạo đức và nhân sinh củahọ

Khác với nền triết học Trung Hoa, các nhà tư tư tưởng của các trường pháitriết học ấn độ mà tiêu biểu là trường phái Đạo Phật lại tiếp cận từ giác độ khác,giác độ suy tư về con người và đời người ở tầm chiều sâu triết lý siêu hình (Siêu

Trang 6

hình học) đối với những vấn đề nhân sinh quan Kết lụân về bản tính Vô ngã, Vôthường và tính hướng thiện của con người trên con đường truy tìm sự Giác Ngộ

là một trong những kết luận độc đáo của triết học Đạo Phật

- Quan niệm về con người trong triết học phương tây trước C.Mác

Trong suốt chiều dài lịch sử triết học phương Tây từ Cổ đại Hy Lạp trải qua giaiđoạn Trung cổ, Phục hưng và Cận đại đến nay, những vấn đề triết học về conngười vẫn là một đề tài tranh luận chưa chấm dứt

Đối lập với các nhà triết học duy vật, các nhà triết học duy tâm trong lịch sửtriết học phương Tây lại chú trọng giác độ hoạt động lý tính của con người Tiêubiểu cho giác độ tiếp cận này là quan điểm của:

- Ky tô giáo: Ky tô giáo quan niệm con người có thể xác và linh hồn Thể xác thìmất đi nhưng linh hồn tồn tại vĩnh cửu Vì vậy, phải thường xuyên chăm sóc linhhồn để hướng đến Thiên đường vĩnh của

- Hy Lạp cổ đại: Con người là một tiểu vũ trụ trong vũ bao la

- Thời kỳ Trung cổ: Con người là sản phẩm sáng tạo của thượng đế Cuộc sốngtrần thế là tạm bợ, hạnh phúc là ở thế giới bên kia

- Triết học Phục hưng: Con người là một thực thể có trí tuệ

- Triết học cổ điển Đức: G.V.Hegel cho rằng, là hiện thân của “ý niệm tuyệtđối”, còn L.Feuerbach lại cho rằng, con người là kết quả của sự phát triển của tựnhiên Con người và tự nhiên là thống nhất, không thể tách rời

Trong suốt chiều dài lịch sử triết học phương Tây từ Cổ đại Hy Lạp trảiqua giai đoạn Trung cổ, Phục hưng và Cận đại đến nay, những vấn đề triết học

về con người vẫn là một đề tài tranh luận chưa chấm dứt

Đối lập với các nhà triết học duy vật, các nhà triết học duy tâm trong lịch sửtriết học phương Tây lại chú trọng giác độ hoạt động lý tính của con người Tiêubiểu cho giác độ tiếp cận này là quan điểm của Platôn thời cổ đại Hy Lạp,Đêcáctơ trong nền triết học pháp thời cận đại và Hêghen trong nền triết học ổ

Trang 7

điển Đức Do không đứng trên lập trường duy vật, các nhà triết học này đã lýgiải bản chất lý tính của con người từ giác độ siêu tự nhiên Với Platôn, đó là bảnchất bất tử của linh hồn thuộc thế giới ý niệm tuyệt đối, với Đêcáctơ, đó là bảntính phi kinh nghiệm (apriori) của lý tính, còn đối với Hêghen, thì đó chính làbản chất lý tính tuyệt đối

Trong nền triết học phương Tây hiện đại, nhiều trào lưu triết học vẫn coinhững vấn đề triết học về con người là vấn đề trung tâm của những suy tư triếthọc mà tiêu biểu là chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa Phơrớt

Các quan niệm về con người trong thời kỳ triết học trước C.Mác, dù là đứngtrên nền tảng thế giới quan duy tâm, nhị nguyên hay duy vật siêu hình đều chưaphản ánh đúng bản chất con người

Nhìn chung, các quan điểm triết học trước Mác và ngoài mácxít còn có mộthạn chế cơ bản là phiến diện trong phương pháp tiếp cận lý giải các vấn đề triếthọc về con người, cũng do vậy trong thực tế lịch sử đã tồn tại lâu dài quan niệmtrừu tượng về bản chất con người và những quan niệm phi thực tiễn trong lý giảinhân sinh, xã hội cũng như những phương pháp hiện thực nhằm giải phóng conngười Những hạn chế đó đã được khắc phục và vượt qua bởi quan niệm duy vậtbiện chứng của triết học Mác-Lênin về con người

* Những quan niệm cơ bản của triết học Mác-Lênin về con người

- Khái niệm con người

Con người là một thực thể tự nhiên mang đặc tính xã hội; có sự thống nhất biện chững giữa hai phương diện tự nhiên và xã hội

- Nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội của con người

Tiền đề vật chất đầu tiên quy định sự hình thành, tồn tại và phát triển của con người là giới tự nhiên, do đó trước hết con người có bản tính tự nhiên

Nghiên cứu, khám phá khoa học về cấu tạo tự nhiên và nguồn gốc tựnhiên của

Trang 8

con người là cơ sở khoa học để con người hiểu biết về chính bản thân mình, tiến đến làm chủ bản thân trong mọi hành vi hoạt động sáng tạo ra lịch sử.

Bản tính tự nhiên của con người thể hiện trên hai giác độ sau đây:

Thứ nhất, con người là kết quả tiến hóa và phát triển lâu dài của giới tự nhiên, cơ sở khoa học của kết luận này đã được chứng minh bằng toàn bộ sự phát triển của chủ nghĩa duy vật và khoa học tự nhiên, đặc biệt là học thuyết của Đácuyn về sự tiến hóa của các loài

Thứ hai, con người là một bộ phận của giới tự nhiên và đồng thời giới tự nhiên cũng “là thân thể vô cơ của con người” Do đó, những biến đổi của giới tự nhiên và tác động của quy luật tự nhiên trực tiếp hoặc gián tiếp thường xuyên quy định sự tồn tại của con người và xã hội loài người, nó là môi trường trao đổi vật chất giữa con người với giới tự nhiên; ngược lại, sự biến đổi và hoạt động của con người luôn tác động trở lại môi trường tự nhiên và làm biến đổi môi trường tự nhiên

Tuy nhiên, con người cũng không đồng nhất với các tồn tại khác của giới

tự nhiên, nó có đặc tính xã hội Bản tính xã hội của con người là bản tính đặc thùcủa nó trong quan hệ với các tồn tại khác của giới tự nhiên Bản tính xã hội của con người thể hiện ở các giác độ sau đây:

Một là, xét từ giác độ nguồn gốc hình thành, con người không phải chỉ là nguồn gốc của sự tiến hóa,phát triển của sự vật chất tự nhiên mà còn có nguồn gốc xã hội của nó, mà trước hết và cơ bản nhất là nhân tố lao động Chính nhờ lao động mà con người có khả năng vượt qua loài động vật để tiến hóa và phát triển thành người Đó là một trong nhưỡng phát hiện của chủ nghĩa Mác – Lênin,nhờ đó có thể hoàn chỉnh học thuyết về nguồn gốc của loài người mà tất cả các học thuyết trong lịch sử đều chưa có lời giải đáp đúng đắn và đầy đủ

Hai là, xét từ giác độ tồn tại và phát triển,thì sự tồn tại của con người luôn

bị chi phối bởi các nhân tố xã hội và các quy luật xã hội Xã hội biến đổi thì mỗi

Trang 9

con người cũng biến đổi và ngược lại, sự phát triển của mỗi cá nhân lại trở thành tiền đề cho sự phát triển xã hội.Ngoài mối quan hệ xã hội thì mỗi con người chỉ tồn tại với tư cách là mọt thực thể sinh vật thuần túy, không thể là “con người” với đầy đủ ý nghĩa của nó.

Hai phương diện tự nhiên và xã hội của con người tồn tại trong tính thốngnhất của nó, quy định lẫn nhau, tác động lẫn nhau, làm biến đổi lẫn nhau, nhờ đótạo nên khả năng hoạt động sáng tạo của con người trong quá trình làm ra lịch sửcủa chính mình Vì vậy, để lý giải bản tính sáng tạo của con người cần kết hợpchặt chẽ cả hai phương diện tự nhiên và xã hội nhằm tránh rơi vào phiến diện,không triệt để, dẫn đến những sai lầm trong nhận thức và hoạt động thực tiễn

- Bản chất của con người

Theo C.Mác, “Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội”[ 2; tr.11].

Trong lịch sử tư tưởng nhân loại đã có nhiều quan điểm khác nhau và bảnchất, “bản tính người” của con người song về cơ bản những quan niệm đó đềumang tính phiến diện, trừu tượng và duy tâm, thần bí Trong tác phẩm Luậncương về Phoiơbắc,C.Mác đẵ phê phán vắn tắt những quan niệm đó và xác lậpquan niệm mới của mình: “Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng

cố hữu của cá nhân riêng biệt.Trong tính hiện thực của nó,bản chất con người làtổng hòa những mối quan hệ xã hội” tuyệt đối hóa phương diện tự nhiên của conngười, xem nhẹ việc lý giải con người từ phương diện lịch sử xã hội

Quan điểm của C.Mác đã khắc phục được hạn chế của quan điểm duy vậtsiêu hình về con người, trong khi thừa nhận bản tính tự nhiên của con người còn

lý giải con người từ giác độ các quan hệ lịch sử xã hội, từ đó phát hiện ra bảntính xã hội của nó, hơn nữa chính bản tính xã hội của con người là phương diện

Trang 10

bản chất nhất của con người, là cách phân biệt con người với các tồn tại khác củagiới tự nhiên.

Năng lực sáng tạo lịch sử của con người và các điều kiện phát huy năng lựcsáng tạo của con người:

Con người làm ra lịch sử của chính mình Theo quan điểm duy vật biệnchứng về bản chất xã hội của con người thì sự hình thành và phát triển của conngười cùng những khả năng sáng tạo lịch sử của nó là xuất phát từ sự hình thành

và phát triển của những quan hệ xã hội của nó trong lịch sử., khi những quan hệnày thay đổi thì cũng có sự thay đổi về bản chất của con người Vì vậy, sự giảiphóng bản chất con người cần phải hướng vào sự giải phóng những quan hệ kinh

tế, chính trị, xã hội của nó, thông qua đó mà phát huy khả năng sáng tạo lịch sửcủa con người

Không có con người phi lịch sử mà trái lại luôn gắn với điều kiện hoàn cảnhlịch sử nhất định Con người là sản phẩm của lịch sử, lịch sử sáng tạo ra conngười trong chừng mực nào thì con người lại sáng tạo ra lịch sử trong chừngmực đó Đây là biện chứng của mối quan hệ giữa con người – chủ thể của lịch sửvới chính lịch sử do nó tạo ra và đồng thời lại bị quy định bởi chính lịch sử đó.Với tư cách là thực thể xã hội, con người trong hoạt động thực tiễn tác độngvào giới tự nhiên, cải biến giới tự nhiên theo nhu cầu của mình thì đồng thời conngười cũng sáng tạo ra lịch sử của chính nó, thực hiện sự phát triển của lịch sửđó

1.1.1.2 Quan niệm mác-xít về nhân tố con người

- Nhân tố con người :

Nhân tố con người là một khái niệm rộng, bao gồm những nhân tố, nhữngtiêu chí nói lên vai trò của con người với tư cách là chủ thể của các quan hệ xãhội trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội

- Các nội dung của nhân tố con người :

Trang 11

Đó là một chỉnh thể các giai cấp, tầng lớp xã hội liên kết nhau chặt chẽ Sựtác động qua lại giữa chúng và hoạt động của chúng bảo đảm cho sự phát triểntiến bộ của xã hội Nội dung này được phản ánh qua các tiêu chí về ý thức giaicấp, ý thức trách nhiệm trước cộng đồng, ý thức về nghĩa vụ và quyền lợi côngdân,…

Nhân tố con người được hiểu là những chỉ tiêu về số lượng, chất lượng nóilên khả năng của con người, của cộng đồng người như những khả năng tiềm tàngcần khai thác, bồi dưỡng và phát huy Đó là những tiêu chí về số lượng lao động,tình hình sức khỏe, trình độ học vấn, tuổi thọ, mức sống…

Đó là những tiêu chí về nhân cách, về chức năng xã hội của con người.Những tiêu chí này nói lên khả năng sáng tạo của cá nhân trong hệ thống cácquan hệ xã hội, bao gồm năng lực chuyên môn, kỹ thuật được đào tạo lẫn thái độlao động

Các mặt nội dung này có mối quan hệ biện chứng Cần tính đến đầy đủnhững nội dung đó khi hình thành chiến lược về con người trong quá trình xâydựng chủ nghĩa xã hội

1.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và nhân tố con người

Mặc dù Hồ Chí Minh không đưa ra một khái niệm hoàn chỉnh về con người,nhưng trên cơ sở thế giới quan, phương pháp luận duy vật biện chứng, Người đãđưa ra một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về con người Quan niệm vềcon người của Hồ Chí Minh có thể khái quát lại như sau: Con người là một chỉnhthể thống nhất giữa mặt sinh học và mặt xã hội; con người chủ thể của các mốiquan hệ xã hội - lịch sử, là chủ thể sáng tạo và hưởng thụ các giá trị vật chất vàtinh thần của xã hội

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con người là một thực thể mang tính xã hội.

Tính xã hội đó được hình thành trong tổng hoà các quan hệ xã hội với nhiều cấp

độ khác nhau Người viết: "Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng,

Trang 12

bầu bạn, nghĩa rộng là đồng bào cả nước Rộng nữa là cả loài người" [2, tr.664].Con người trong quan niệm của Người vừa là mỗi thành viên cụ thể, vừa lànhững cộng đồng người trong xã hội Trong cộng đồng con người Việt Nam, rõràng quan hệ gia đình, anh em, họ hàng là rất quan trọng Hơn nữa, nét độc đáo

trong cộng đồng người Việt Nam là quan hệ "đồng bào"; cộng đồng đó có cùng

một nguồn gốc "con Rồng, cháu Tiên" Điều đó cắt nghĩa vì sao Hồ Chí Minh rấtcoi trọng sức mạnh cộng đồng người Việt Nam, tìm mọi cách để bồi dưỡng vàphát huy sức mạnh đó trong tiến trình phát triển của cách mạng Việt Nam Đó làmột trong những cơ sở lý luận, thực tiễn mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã dựavào đó để đề ra chính sách về đại đoàn kết toàn dân tộc trong quá trình lãnh đạocách mạng Việt Nam và trong thời kỳ đổi mới đất nước hiện nay

Khi nghiên cứu nguồn gốc, bản chất con người, triết học Mác - Lênin đặtcon người trong lịch sử sản xuất vật chất để xem xét và từ quan điểm duy vậtlịch sử đã khẳng định, lao động là điều kiện chủ yếu quyết định sự hình thành vàphát triển của con người, làm biến đổi điều kiện tồn tại tự nhiên của con người,biến đổi bản chất tự nhiên của con người, đồng thời hình thành nên và phát triểnbản chất xã hội của con người Nhờ lao động mà con người khẳng định mình làchủ thể sáng tạo mọi giá trị vật chất, tinh thần Lao động sáng tạo là giá trị nhânvăn, giá trị cao nhất của con người Tiếp thu quan điểm đó của chủ nghĩa Mác -Lênin, Hồ Chí Minh cho rằng, con người trước hết là người lao động, là nhândân lao động Ơ Việt Nam, Hồ Chí Minh đề cập đến công nhân, nông dân, tríthức, bộ đội, và coi họ chính là chủ thể sáng tạo xã hội mới

Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi ra đời tới nay, luôn chăm lo phát triểnnguồn nhân lực, nhất là trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vì mụctiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Đảng ta xác định rất rõrằng: con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển Bởi vì, mục

Trang 13

tiêu của sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước suy cho cùng là phải hướngtới phục vụ con người, vì con người và giải phóng con người.

Chính vì lẽ đó, trước khi bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên

CNXH thông qua tại Đại hội lần thứ VII (tháng 6-1991) Đảng ta khẳng định:

“phát huy nhân tố con người trên cơ sở bảo đảm công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân; kết hợp tốt tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội; giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần; giữa đáp ứng các nhu cầu trước mắt với chăm lo lợi ích lâu dài; giữa cá nhân với tập thể và cộng đồng xã hội”[5; tr.55].

Vấn đề phát huy nhân tố con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện

đại hóa được Đại hội VIII của Đảng tiếp tục khẳng: “Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa”[6;tr.47].

Từ sau Đại hội VIII, thực hiện chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước, Đảng cũng đã ban hành nhiều nghị quyết về nhiều lĩnh vực trong đó cóliên quan trực tiếp đến việc chăm sóc, bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người.Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII về định hướng chiến lược phát triển giáodục, đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000 đã

thể hiện rõ quan điểm của Đảng về phát triển nguồn nhân lực Nghị quyết nêu: “Lấy việc phát huy nhân tố con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững”.

Đại hội X cũng chỉ ra: “Xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam, bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế”[6; tr.47].

Đại hội XI (2011) kế thừa và phát triển quan điểm phát triển nguồn nhân

lực từ các đại hội trước, đã nêu rõ mục tiêu tổng quát là: “ Đến năm 2020

Trang 14

nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo.hướng hiện đại ”[6;

tr.50] Để đạt được mục tiêu đó Đảng đã xác định ba khâu đột phá chiến

lược, trong đó “Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao”[6 ; tr.50] được khẳng định là khâu đột phá thứ hai Đây

được xem là khâu đột phá phù hợp với hoàn cảnh nguồn nhân lực nước tahiện nay khi hội nhập kinh tế quốc tế, với sự cạnh tranh diễn ra vô cùngquyết liệt và cuộc cách mạng khoa học, công nghệ Đó vừa là cơ hội cũngvừa là thách thức đòi hỏi chúng ta buộc phải nâng cao chất lượng nhân tố

con người Đại hội XI của Đảng đồng thời cũng xác định rõ phải “ gắn kết chặt chẽ giữa phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ”[8 ;tr.75] Và để thực hiện chiến lược này, Đại hội XI cũng

nêu rõ những giải pháp trực tiếp cho chiến lược phát triển nguồn nhân lực,

đó là: “xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam”; “đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt”; “Xây dựng và thực hiện chiến lược quốc gia về nâng cao sức khỏe, tầm vóc con người Việt Nam”[8; tr.77]

Tầm quan trọng của nhân tố con người ngày càng được thể hiện rõ, đặc biệttrong nền kinh tế tri thức như hiện nay Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013Hội nghị Trung ương 8 khóa XI của Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và

đào tạo, với quan điểm chỉ đạo rằng : “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu,

là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế -

xã hội”[8; tr.79]

Một lần nữa, gần đây nhất Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9/6/2014 Hộinghị Trung ương 9 khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt

Trang 15

Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước lại tiếp tục được Đảng quan tâm nhấn mạnh với mục tiêu lớn lao “Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”[8; tr80]

Như vậy, với những chiến lược về phát huy nhân tố con người của Đảng tatrong suốt chặng đường phát triển đất nước rõ ràng đã phát huy hiệu quả và đếnnay đã đạt được nhiều thành tựu to lớn Trình độ dân trí ngày càng cao, kinh tếcũng ngày càng khởi sắc và trên đà phát triển ổn định, đời sống của người dânđược cải biến rõ nét, con người được tạo điều kiện phát triển toàn diện, nhân dânngày càng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng Điều này một lần nữa khẳng địnhđường lối đúng đắn của Đảng và chủ trương chính sách của Nhà nước hợp lý

1.2 Những điều kiện cơ bản tác động đến nhân tố con người trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam hiện nay.

Con người là một thực thể sinh vật - xã hội Thông qua hoạt động thực tiễn,con người làm biến đổi đời sống xã hội, đồng thời cũng làm biến đổi chính bảnthân mình và trong tính hiện thực của nó như C.Mác nói bản chất con người làtổng hòa những quan hệ xã hội Tất cả đó cho thấy sự tồn tại và phát triển củacon người nói chung, của nguồn lực con người nói riêng chịu sự tác động củanhiều nhân tố khác nhau, cả khách quan lẫn chủ quan; cả môi trường tự nhiên lẫnmôi trường xã hội

1.2.1 Đặc điểm của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta hiện nay.

Hội nhập quốc tế của nước ta trong giai đoạn mới diễn ra trong bối cảnhtình hình quốc tế và nước ta hiện nay hoàn toàn khác trước, kể cả giai đoạn từ

Trang 16

khi nước ta gia nhập WTO năm 2007 đến nay.Cuộc khủng hoảng tài chính –kinh tế toàn cầu 2008 – 2009 đã thúc đẩy nhanh những chuyển dịch trên phạm vitoàn cầu cũng như ở từng nước, từng khu vực tạo nên tương quan sức mạnh kinh

tế giữa các trung tâm Xu hướng đa trung tâm, đa tầng nấc đang ngày càng đượckhẳng định Nền tảng kinh tế thế giới có những chuyển dịch căn bản, toàn cầuhóa và công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ.Xu hướng hội nhập, liên kết kinh

tế đa tầng nấc, đặc biệt là các hiệp định thương mại tự do (FTA), gia tăng mạnh.

Nổi bật là các hiệp định FTA thế hệ mới phát triển nhanh hơn, ngày càng sâurộng, gắn kết với phát triển bền vững và ứng phó với các thách thức toàn cầu.Châu Á – Thái Bình Dương đóng vai trò đầu tàu trong tăng trưởng và liên kếttoàn cầu Hàng loạt các đàm phán FTA thế hệ mới tạo ra những bước ngoặt trong

liên kết kinh tế ở hầu khắp các khu vực, tiêu biểu là Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)kết thúc đàm phán 10/2015, Hiệp định đối tác thương mại – đầu tư xuyên Đại Tây Dương Hoa Kỳ – EU (TTIP), Khuôn khổ đối tác kinh tế khu vực toàn diện (RCEP)

1.2.1.1 Đặc điểm của kinh tế thị trường định hướng XHCN trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Nói đến KTTT định hướng XHCN có nghĩa không phải là nền kinh tế dựatrên kế hoạch tập trung quan liêu bao cấp, không phải giống như nền kinh tế tưbản chủ nghĩa và cũng không phải là KTTT XHCN Bởi lẽ chúng ta đang trongthời kỳ quá độ lên CNXH ở đó có sự đan xen giữa cái mới và cái cũ , cái hiện đại

và cái lạc hậu.Như vậy,nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ởnước ta vừa mang tính phổ biến (đặc trưng chung) của mọi nền kinh tế thịtrường; vừa có đặc trưng riêng của tính định hướng xã hội chủ nghĩa Kinh tế thịtrường được thừa nhận là thành tựu chung của nền văn minh nhân loại, khôngphải là cái riêng của chủ nghĩa tư bản và Kinh tế thị trường không đồng nhất với

Trang 17

chủ nghĩa tư bản Đại hội VIII của Đảng (1996) đã chỉ rõ: Sản xuất hàng hóa làthành tựu của nền văn minh nhân loại, nó không đối lập với chủ nghĩa xã hội, nócần thiết cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và cả khi chủ nghĩa xã hội đãđược xây dựng Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu, Ban Chấp hành Trung ươngĐảng khóa X về tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa cũng đã chỉ rõ: Nền Kinh tế thị trường là sản phẩm của văn minh nhânloại được phát triển tới trình độ cao dưới chủ nghĩa tư bản, nhưng bản thân Kinh

tế thị trường không đồng nghĩa với chủ nghĩa tư bản Lựa chọn Kinh tế thịtrường định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa ở Việt Nam không phải là sự gán ghépchủ quan giữa Kinh tế thị trường với chủ nghĩa xã hội, mà là nắm bắt và vậndụng sáng tạo xu thế khách quan của Kinh tế thị trường trong thời đại ngày nay,

là sự kết tinh trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân trong quá trình xây dựng đất nước.Trên cơ sở nhận thức tính quy luật phát triển của thời đại và sự đúc rút kinhnghiệm phát triển kinh tế thị trường trên thế giới, đặc biệt là từ thực tiễn xâydựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và Trung Quốc, Đảng Cộng sản Việt Nam đãđưa ra chủ trương phát triển nền Kinh tế thị trường định hướng Xã Hội ChủNghĩa Chủ trương xây dựng và phát triển Kinh tế thị trường định hướng Xã HộiChủ Nghĩa thể hiện tư duy, quan niệm của Đảng ta về sự phù hợp của quan hệsản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ lênchủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Kinh tế thị trường định hướng là nền kinh tế mởphù hợp với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển trong thời đại ngày nay.Nền Kinh tế thị trường định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa thực chất là kiểu tổ chứcnền kinh tế dựa trên nguyên tắc và tuân thủ những quy luật của kinh tế thịtrường, tức là thể hiện đầy đủ các đặc trưng chung, cơ bản của nền Kinh tế thịtrường như: Các chủ thể Kinh tế thị trường tồn tại độc lập, tự do kinh doanh, tựchủ về kinh tế;

Trang 18

`- Các loại thị trường cơ bản và các yếu tố cơ bản của tưng loại thị trườngđược hình thành đồng bộ;

- Cạnh tranh thực sự là môi trường, là động lực phát triển;

- Giá cả được hình thành trên cơ sở quan hệ cung – cầu;

- ( Sự can thiệp của Nhà nước vào nền Kinh tế thị trường nhất thiết phảitheo nguyên tắc thị trường, tôn trọng quy luật thị trường Kinh tế thị trường ởViệt Nam là Kinh tế thị trường định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, do đó quá trìnhphát triển Kinh tế thị trường đồng thời cũng là quá trình tăng cường các yếu tốbảo đảm định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Các yếu tố định hướng Xã Hội ChủNghĩa mang "tính nội sinh" trong quá trình phát triển Kinh tế thị trường ở ViệtNam là những "dấu hiệu" hay là tiêu chí để nhận biết bản chất và phân biệt Kinh

tế thị trường nước ta với Kinh tế thị trường các nước khác Tại Đại hội lần thứVII của Đảng, vấn đề định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa trong xây dựng nền kinh tếhàng hóa nhiều thành phần trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

đã được đề cập Đại hội lần thứ VIII của Đảng đã nêu ra 6 điểm về định hướng

Xã Hội Chủ Nghĩa Đại hội lần thứ X của Đảng đã phát triển quan điểm của Đạihội VIII và nêu ra 7 nội dung định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa trong nền Kinh tếthị trường Đó là:

-Thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, vănminh;

-Giải phóng mạnh mẽ và không ngừng phát triển sức sản xuất, nâng caođời sống nhân dân;

-Đẩy mạnh xóa đói, giảm nghèo,đồng thời khuyến khích mọi người dânlàm giàu chính đáng và giúp đỡ, tạo điều kiện để người khác thoát nghèo,từngbước khá giả hơn;

Trang 19

-Phát triển kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong

đó kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắccủa nền kinh tế quốc dân;

-Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từngchính sách phát triển; tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, y tế, giáodục…giải quyết tốt các vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người;

-Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh

tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn khác và thông qua phúc lợi

xã hội;

-Phát huy quyền làm chủ xã hội của nhân dân bảo đảm vai trò quản lý,điềutiết nền kinh tế Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo củaĐảng Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là một hìnhthức đặc thù của kinh tế thị trường, thể hiện sâu sắc mối quan hệ giữa phát triểnkinh tế thị trường với bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế Đặctrưng cơ bản nhất của kinh tế thị trường là sự tồn tại của nhiều hình thức sở hữu,nhiều thành phần kinh tế, đa dạng các loại hình doanh nghiệp trong điều kiệnphân công lao động xã hội ngày càng phát triển Những đặc trưng này tự nókhông mang tính chất tư bản chủ nghĩa Tính chất tư bản chủ nghĩa không phải làthuộc tính vốn có của kinh tế thị trường Tính chất của một nền kinh tế thị trườngphụ thuộc vào tính chất của những bộ phận cấu thành của nó, đặc biệt là tính chấtcủa Nhà nước và tính chất của thành phần kinh tế giữ vai trò chủ đạo trong nềnkinh tế thị trường đó Một nền kinh tế thị trường mang tính chất tư bản chủ nghĩa

là do trong nền kinh tế đó các doanh nghiệp tư bản chủ nghĩa (doanh nghiệp sửdụng và bóc lột lao động làm thuê để chiếm đoạt giá trị thặng dư) tạo nên thànhphần kinh tế tư bản chủ nghĩa giữ vai trò chủ đạo, chi phối nền kinh tế, điều tiết

Trang 20

nền kinh tế, mang tính chất tư bản chủ nghĩa, là người đại diện cho quyền và lợiích của tư bản.

1.2.1.2 Đặc điểm về chính trị - xã hội trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

Để tìm hiểu về đặc điểm chính trị - xã hội trong quá trình hội nhập kinh tếquốc tế thì đầu tiên chúng ta cần phải hiểu thế nào là hệ thống chính trị

Có thể thấy Hệ thống chính trị Việt Nam lần đầu tiên được Đảng ta sử dụngtrong Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa VI (3-1989) thay cho khái niệm chuyên chính vô sản

Hệ thống chính trị Việt Nam được ra đời ngày 2 tháng 9 năm 1945 (khiChính phủ lâm thời ra mắt quốc dân) thay thế cho hệ thống chính trị thực dânnửa phong kiến do thực dân pháp áp đặt

Hệ thống chính trị Việt nam là một chỉnh thể bao gồm: Đảng Cộng sản ViệtNam, Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc ViệtNam và các đoàn thể nhân dân (Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, Hội Nôngdân Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Đoàn Thanh niên cộng sản HồChí Minh, Hội Cực chiến Binh Việt Nam) Mỗi tổ chức đều có vị trí, vai trò,phương thức hoạt động khác nhau với những chức năng nhiệm vụ khác nhaudưới sự lãnh đạo củamột Đảng duy nhất cầm quyền, sự quản lý của nhà nướcnhằm thực hiện quyền lực chính trị của nhân dân vì mục tiêu “dân giàu, nướcmạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.Qua đó chúng ta có thể thấy được các đặcđiểm của hệ thống chính trị nước ta như sau:

Thứ nhất nước ta có 1 chính đảng duy nhất lãnh đạo và cầm quyền đó là Đảng cộng sản Việt Nam,thứ hai là có tính thống nhất cao,thứ ba là mang bản

chất dân chủ nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, chịu sự kiểm tra, giám sát

Trang 21

của nhân dân,thứ tư là có sự kết hợp giữa tính giai cấp và tính dân tộc và cuối cùng là có tổ chức và hoạt động được đảm bảo bằng nguồn ngân sách Nhà nước.

Về mục tiêu của hội nhập quốc tế: Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế đểtranh thủ tối đa các nguồn lực từ bên ngoài phục vụ sự nghiệp bảo vệ, xây dựng

và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Trong lĩnh vực kinh tế, Nghị quyết 07 của Bộ Chính trị nêu rõ mục tiêu: “mở rộng thị trường, tranh thủ thêm vốn, công nghệ, kiến thức quản lý để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, thực hiện dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh Qúa trình hội nhập quốc tế trước hết là đáp ứng nhu cầu và lợi ích phát triển của đất nước; mặt khác thông qua đó phát huy vai trò của nước ta trong quá trình hợp tác cùng phát triển khu vực và thế giới, đóng góp vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc,dân chủ và tiến bộ xã hội Để hội nhập quốc tế một cách có hiệu quả, Đảng ta xác định rõ nguyên tắc cơ bản và bao trùm là đảm bảo giữ vững độc lập, tự chủ

và định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, bảo đảm vững chắc an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Giữ vững độc lập tự chủ thể hiện trước hết trong quyết sách hội nhập nhằm khai thác tối đa các lợi thế, đối phó với thắng lợi các thách thức đặt ra của quá trình hội nhập; chủ động lựa chọn các tổ chức tham gia, các đối tác và hình thức quan hệ, thời điểm chung; chủ động điều chỉnh chính sách cho phù hợp với mục tiêu và yêu cầu hội nhập Đường lối và chính sách đối ngoại rộng mở luôn dựa trên sự kiên trì giữ vững nguyên tắc đối ngoại cơ bản, bao trùm là vì hòa bình, độc lập, thống nhất và chủ nghĩa xã hội Trong đóphát triển quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế, Đảng ta còn nêu rõ 4 nguyên tắc cụ thể: Một là, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau Hai là, không dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực Ba là, giải quyết các bất đồng và tranh chấp thông qua thương lượng hoà

Trang 22

bình Bốn là, tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng và cùng có lợi Về tư tưởng chỉ đạo hội nhập quốc tế: Xuất phát từ mục tiêu và lợi ích của hội nhập quốc tế, Đảng ta

đề ra tư tưởng chỉ đạo đối ngoại nói chung và hội nhập quốc tế nói riêng Theo

đó, trong hội nhập quốc tế phải giữ vững nguyên tắc vì độc lập, thống nhất và chủ nghĩa xã hội (Xã Hội Chủ Nghĩa), đồng thời phải rất sáng tạo, năng động, linh hoạt, phù hợp với vị trí, điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, cũng như diễn biến của tình hình thế giới và khu vực, phù hợp với từng đối tượng mà Việt Nam có quan hệ Đây chính là sự kế thừa và vận dụng sáng tạo quan điểm

“dĩ bất biến ứng vạn biến”, vừa kiên định về nguyên tắc chiến lược, vừa mềm dẻo, linh hoạt về sách lược trong tư tưởng Hồ Chí Minh đối với việc xử lý các vấn đề quốc tế của nước trong quá trình hội nhập Quán triệt sâu sắc tư tưởng chỉđạo nêu trên, Việt Nam chú trọng mở rộng quan hệ quốc tế cả song phương và

đa phương nhưng có nguyên tắc, mà nguyên tắc cao nhất, đồng thời cũng là lợi ích dân tộc cao nhất, đó là độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và phát triển theođịnh hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Đại hội XI của Đảng chỉ rõ chủ động và tích cực hội nhập quốc tế là vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủnghĩa giàu mạnh, đồng thời góp phần tích cực vào sự nghiệp hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới Trong hội nhập quốc tế về kinh

tế, Đảng ta xác định rõ 5 quan điểm chỉ đạobao gồm: Một là: Phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập, tự chủ và định hướng

Xã Hội Chủ Nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc; an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường Hai là: Hội nhập kinh tế quốc tế là sự nghiệp củatoàn dân, trong quá trình hội nhập cần phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của mọi thành phần kinh tế, của toàn xã hội, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo Ba là: Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh

và cạnh tranh, vừa có nhiều cơ hội vừa không ít thách thức, do đó cần tỉnh táo, khôn khéo và linh hoạt trong việc xử lý tính hai mặt của hội nhập tuỳ theo đối

Trang 23

tượng, vấn đề, trường hợp, thời điểm cụ thể; vừa phải đề phòng tư tưởng trì trệ, thụ động, vừa phải chống tư tưởng giản đơn, nôn nóng Bốn là: Nhận thức đầy

đủ đặc điểm nền kinh tế nước ta, từ đó đề ra kế hoạch và lộ trình hợp lý, vừa phùhợp với trình độ phát triển của đất nước, vừa đáp ứng những quy định của các tổ chức kinh tế quốc tế mà nước ta tham gia Năm là: Kết hợp chặt chẽ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với yêu cầu giữ vững an ninh, quốc phòng, nhằm củng

cố chủ quyền và an ninh đất nước, cảnh giác với những âm mưu thông qua hội nhập để thực hiện ý đồ diễn biến hoà bình đối với nước ta Phương châm cơ bản

để tiến hành hội nhập quốc tế là bảo đảm nguyên tắc cùng có lợi trong quan hệ song phương và đa phương Theo nguyên tắc này, một mặt không để thiệt hại đến lợi ích cần có và hợp lý mà ta được hưởng, mặt khác phải chấp nhận một sự chia sẻ hợp lý lợi ích cho các đối tác tuỳ theo mức độ đóng góp của các bên thamhợp tác Trong hợp tác liên kết và hội nhập quốc tế cần giữ vững nguyên tắc vừa hợp tác vừa đấu tranh, vừa kiên quyết vừa mềm dẻo để đạt tới mục tiêu, bảo vệ được lợi ích chính đáng của đất nước; đồng thời phải luôn cảnh giác, không mơ

hồ trước những âm mưu và thủ đoạn lợi dụng hợp tác quốc tế để can thiệp, áp đặt

về chính trị

1.2.1.3 Đặc điểm của văn hoá trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

Nước ta đang trong quá trình mở cửa, trao đổi văn hóa với các nước khác;chia sẻ các giá trị văn hóa, tinh thần với thế giới; tiếp thu các giá trị văn hóa tiến

bộ của thế giới để bổ sung và làm giàu nền văn hóa dân tộc; tham gia vào các tổchức hợp tác và phát triển văn hóa-giáo dục và xã hội khu vực và hợp tác chặtchẽ với các nước thành viên hướng tới xây dựng một cộng đồng văn hóa-xã hộirộng lớn hơn trên phạm vi khu vực và toàn cầu (ví dụ, tham gia Cộng đồng vănhóa-xã hội ASEAN, UNESCO…); ký kết và thực hiện các hiệp định songphương về hợp tác-phát triển văn hóa-giáo dục-xã hội với các nước

Trang 24

Đại hội XII của Đảng nhấn mạnh vai trò của văn hóa trong phát triển đấtnước Đại hội đề ra các phương hướng, nhiệm vụ phát triển văn hóa, chủ độnghội nhập quốc tế về văn hóa Để làm chủ quá trình hội nhập quốc tế cần hiểuđược các giá trị, chuẩn mực chung, hiểu được sự tác động qua lại giữa các yếu tốcủa văn hóa chung, quốc gia dân tộc và hệ quả của sự tác động trong phát triểnđất nước Báo cáo chính trị tại Đại hội XII của Đảng đã nhấn mạnh vai trò củavăn hóa trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, giai đoạn chủ động và tíchcực hội nhập quốc tế như sau: “Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phùhợp với bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hộinhập quốc tế Xây dựng văn hóa trong chính trị và kinh tế Nâng cao chấtlượng, hiệu quả hoạt động văn hóa Phát triển công nghiệp văn hóa đi đôi vớixây dựng, hoàn thiện thị trường văn hóa Chủ động hội nhập quốc tế về văn hóa,tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại Xây dựng con người Việt Nam phát triểntoàn diện Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và nâng cao hiệulực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực văn hóa”(1) Để thực hiện thắnglợi Nghị quyết Đại hội, làm chủ quá trình hội nhập quốc tế, cần hiểu được cácgiá trị, các chuẩn mực chung, hiểu được sự tác động qua lại giữa những yếu tốcủa văn hóa chung (hội nhập) và văn hóa quốc gia - dân tộc, hệ quả của sự tácđộng đó trong phát triển đất nước.

2.PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ Ở NGHỆ AN -

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP.

Trang 25

2.1 KHÁI NIỆM VÀ MỘT SỐ YÊU CẦU VỀ VIỆC PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƯỜI.

2.1.1Khái niệm nhân tố con người?

nhân tố con người là sự phát triển sáng tạo quan điểm Mác - Lênin về conngười với tư cách là người sáng tạo có ý thức, là chủ thể của lịch sử Trong thờigian gần đây, xuất hiện nhiều khái niệm: nhân tố con người, nguồn nhân lực, Khái niệm nhân tố con người đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước đềcập với những góc độ khác nhau, cách tiếp cận khác nhau Có tác giả đề cập dướigóc độ quản lý, có tác giả đề cập dưới góc độ phân tích tâm lý - xã hội Trong tàiliệu triết học - xã hội về nhân tố con người cũng nổi lên nhiều cách tiếp cận khácnhau Tựu trung lại, có hai cách tiếp cận chính :

-Thứ nhất, coi nhân tố con người như là một tổng hoà các phẩm chất thuộc

tính, đặc trưng, năng lực đa dạng của con người, biểu hiện trong các dạng thứchoạt động khác nhau

- Thứ hai, coi nhân tố con người như là hoạt động của những con người

riêng biệt, những năng lực và khả năng của họ do các nhu cầu và lợi ích cũngnhư tiềm năng trí lực và thể lực của mỗi người quyết định

Như vậy, cái chung trong các quan niệm này là coi nhân tố con người vềbản chất là nhân tố xã hội, quy định vai trò chủ thể của con người Nhưng sựkhác nhau là quan niệm thứ nhất lấy hoạt động làm đặc trưng cơ bản, còn phẩmchất, năng lực được thể hiện trong hoạt động Quan niệm thứ hai, lấy đặc trưng

cơ bản là những phẩm chất năng lực, còn hoạt động là sự thể hiện của nó Nhân

tố con người là khái niệm không chỉ để phân biệt nhân tố "người" với các yếu tố

Trang 26

khác: kinh tế, chính trị, xã hội… trong đời sống xã hội, mà quan trọng hơn là đểkhẳng định vai trò của nhân tố "người" đối với các yếu tố đó Tức là không cókhái niệm nhân tố con người tách khỏi hoạt động, dù đó là hoạt động trong lĩnhvực kinh tế, chính trị, xã hội.

2.1.2.Một số yêu cầu về phát huy nhân tố con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Thứ nhất, con người Việt Nam phải có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có ý chí vươn lên đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, đoàn kết với nhân dân thế giới trong sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội

Về tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc: Đây là tiêu chí bao trùm, xuyên suốt nói lên phẩm chất chính trị của công dân đối với đất nước Yêu nước ngày nay là phải gắn với mục tiêu, lý tưởng xây dựng chủ nghĩa xã hội; yêu nước là phải thể hiện ý chí quyết tâm thoát nghèo từ mỗi người dân, mỗi địa phương để vươn lên làm giàu cho mình và cho xã hội, tạo nên sức mạnh cho đất nước phát triển theo mục tiêu mà Đảng và Nhà nước ta đã đề ra là xây dựng một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”; thực hiện lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; có ý thức giữ gìn và bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc; yêu thương, tôn trọng con người trong mỗi hoạt động sống; có những hoạt động tích cực để bảo vệ môi trường vì sự phát triển bền vững

Trong giai đoạn hiện nay và cả trong vài thập kỉ tới, xu thế toàn cầu hóa tiếp tục phát triển mạnh mẽ, quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng, sự hợp tác

và cạnh tranh giữa các quốc gia dân tộc ngày càng mãnh liệt, thì ý thức dân tộc

Trang 27

hay tinh thần dân tộc càng trở thành một động lực mạnh mẽ cho sự phát triển đất nước.

Trong toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, tinh thần dân tộc sẽ cố kết cả cộng đồng thành một khối thống nhất để hợp tác và cạnh tranh Không tạo được khối thống nhất đó để mỗi người đứng riêng lẻ, tách biệt, rời rạc thì sẽ không có sức mạnh, không đủ khả năng hợp tác và cạnh tranh, càng không có khả năng đưa cả dân tộc vượt qua khó khăn, thử thách trong toàn cầu hóa Do vậy, để nhìn nhận, đánh giá một con người trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập khu vực và quốc

tế, yêu cầu tinh thần dân tộc càng phải được chú trọng nhằm một mặt, phải khơi dậy, bồi dưỡng, cổ vũ, khuyến khích tinh thần dân tộc; mặt khác, để sử dụng nó như một động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội và hội nhập Khơi dậy tinh thần dân tộc cũng là khơi dậy tự hào dân tộc, phát huy tất cả những gì tốt đẹp, thích hợp cho công cuộc đổi mới, hội nhập và gạt bỏ, sửa đổi tất cả những

gì không còn phù hợp, cản trở sự phát triển Tinh thần dân tộc trong điều kiện phát triển hòa bình của đất nước là một đảm bảo cho sự đoàn kết dân tộc, cho ý chí phấn đấu để dân tộc ta có thể “sánh vai cùng các cường quốc năm châu”

Để tạo dựng, khơi dậy và phát huy tinh thần dân tộc trong mỗi con người, trước hết, công tác văn hóa, tư tưởng và công tác chính trị phải đi vào lòng người

và ở từng giai đoạn, phải biết hướng tinh thần vào việc giải quyết một vấn đề cụ thể của đất nước Ngoài ra, chú trọng giáo dục tinh thần dân tộc đối với học sinh ngay từ lúc còn ở tuổi học đường Thêm nữa, cần phải mở rộng cánh cửa giao lưu với thế giới bên ngoài để mỗi người có thể nhìn được ra thế giới, nhận thức,

so sánh, hiểu rõ về cái hay, cái đẹp của dân tộc và thấy rõ những tiêu cực bất cập

để loại bỏ, khắc phục

Trang 28

Như vậy, trong điều kiện hiện nay, tạo dựng, khơi dậy và phát huy tinh thầndân tộc là một đòi hỏi tất yếu để hội nhập và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước Đó là mục tiêu nhưng đó cũng là thước đo, tiêu chí để đánh giá một con người, một doanh nghiệp, một đoàn thể xã hội hội nhập và phát triển.

Về tinh thần đoàn kết: Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, truyền thống đoàn kết cộng đồng của người Việt Nam đã tạo nên sức mạnh to lớn, góp phần đưa dân tộc ta vượt qua biết bao thử thách, gian nguy, giành và giữ vững quyền độc lập, tự do Nối tiếp truyền thống đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xây dựng khốiđại đoàn kết của dân tộc Việt Nam dựa trên nền tảng liên minh công, nông, trí thức vững chắc Người đã kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, tạo nên sức mạnh tổng hợp, đưa cách mạng Việt Nam giành những thắng lợi

to lớn Ngọn cờ tư tưởng đại đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là sức mạnh để Đảng Cộng sản Việt Nam hội nhập và phát triển, mở rộng và nâng khối đại đoàn kết lên một tầm cao mới

Tư tưởng đoàn kết hiện nay không chỉ là đoàn kết dân tộc, đoàn kết trong đảng, đoàn kết toàn dân, đó còn là đoàn kết quốc tế Đảng Cộng sản Việt Nam đãchỉ rõ: “Đại đoàn kết dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam;

là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã đặt ra cho mỗi người cần phải nâng cao ý thức trách nhiệm đối với cơ quan, đơn vị, nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ

mà Đảng và nhân dân giao phó trong đó có lợi ích của bản thân mình Thực hiện được điều này đòi hỏi mỗi người phải đấu tranh với chính mình, vượt qua chính mình, ra sức tu dưỡng rèn luyện đạo đức, sống có nhân cách, xử lý hài hòa giữa lợi ích chung và lợi ích riêng

Trang 29

Trong điều kiện hiện nay, đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế trở thành nhân tố của sự ổn định, động lực của sự phát triển, hạt nhân thúc đẩy mọi phong trào Xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc và quốc tế trên lập trường của giai cấp vô sản là định hướng giá trị và lý tưởng sống của con người Để có thể hòa mình vào tổ hợp sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, mỗi người không chỉ phải tự giác, đặt trách nhiệm phải tham gia vào khối đại đoàn kết toàn dân, mà mỗi người còn phải tự xây dựng, nỗ lực phấn đấu để xứng đáng với vị trí, vai trò

và công nghệ Trong bối cảnh đó, đòi hỏi con người Việt Nam hiện đại phải có trình độ chuyên môn cao để có thể nắm bắt được các thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại của thế giới và ứng dụng chúng vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của đất nước, nhằm thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa Bởi lẽ, nhưC.Mác đã khẳng định: “Sự ngu dốt là sức mạnh của ma quỷ và chúng ta lo rằng,

nó sẽ còn là nguyên nhân của nhiều bi kịch khác nữa”

Trình độ chuyên môn cao được thể hiện ở khả năng nắm bắt, tiếp cận nhanhnhạy, kịp thời và đúng hướng xu thế phát triển của những vấn đề thuộc lĩnh vực lao động của mình, để có thể lao động một cách sáng tạo, độc lập, có năng suất

và hiệu quả tốt Trong thời đại ngày nay, trình độ chuyên môn cao trong lao độngcòn thể hiện ở khả năng vận dụng tốt, kịp thời các thành tựu khoa học công nghệ hiện đại, có khả năng cải tiến, hoàn thiện và hiện đại hóa các công cụ và phương

Trang 30

thức lao động ở phạm vi và lĩnh vực chuyên môn của chính mình trên cơ sở của khoa học và công nghệ hiện đại.

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thời đại cách mạng khoa học và công nghệ đòi hỏi khá cao về phẩm chất trí tuệ ở người lao động - một phẩm chất được coi là quan trọng nhất hiện nay Đó là người lao động phải có năng lực sáng tạo, năng lực hoạt động thực tiễn tốt; có khả năng áp dụng những thành tựu của khoa học để sáng chế ra những kỹ thuật, công nghệ tiên tiến; có năng lực thuthập và xử lý thông tin trong điều kiện bùng nổ thông tin; có sự nhạy bén, thích nghi nhanh và thực sự làm chủ khoa học, kỹ thuật, công nghệ hiện đại Đồng thời, người lao động phải có khả năng biến tri thức thành kỹ năng lao động nghề nghiệp, nghĩa là phải có kỹ năng lao động giỏi thể hiện qua trình độ tay nghề, mức độ thành thạo chuyên môn nghề nghiệp

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta được tiến hành trong xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới với tư cách là xu thế phát triển khách quan, do đó đòi hỏi người lao động Việt Nam còn phải biết chủ động hội nhập quốc tế nhằm tiếp thu tri thức, kinh nghiệm, sức mạnh của thế giới bên ngoài để phát huy, tăng cường sức mạnh của đất nước mình Hội nhập quốc tế cũng có nghĩa là chấp nhận cạnh tranh với thế giới bên ngoài trong điều kiện Việt Nam còn nhiều mặt hạn chế, yếu kém, đặt ra những đòi hỏi bức xúc về chất lượng nguồn lực con người Việt Nam

Hiện nay, đầu tư nước ngoài đang vào Việt Nam với tốc độ và quy mô ngàycàng lớn, trong khi chúng ta có đội ngũ lao động trẻ dồi dào nhưng lại thiếu trình

độ chuyên môn, vì vậy việc tận dụng có hiệu quả các nguồn đầu tư nước ngoài

có nhiều hạn chế Mặt khác, do không có trình độ chuyên môn và tính chuyên nghiệp nên lao động người Việt Nam ít được vào làm việc trong các lĩnh vực

Trang 31

quan trọng, hoặc trong các cơ sở sản xuất có trình độ khoa học công nghệ cao,

mà phần lớn chỉ được lao động trong các cơ sở sản xuất có hàm lượng kỹ thuật

và công nghệ thấp hoặc trung bình, vì vậy việc xuất khẩu lao động của Việt Namcòn hạn chế

Như vậy, trình độ chuyên môn cao và tính chuyên nghiệp là một trong những yếu tố cấu thành và quyết định chất lượng nguồn nhân lực hiện đại Thiếu

nó, con người chỉ có sức lao động mà không có khả năng lao động trong nền sản xuất hiện đại

Thực tế ở nước ta nhiều năm qua kể từ khi mở cửa, hội nhập khu vực và quốc tế, tình trạng yếu kém về chuyên môn và thiếu tính chuyên nghiệp trong laođộng bộc lộ một cách rõ rệt Mặt khác, quá trình hội nhập trong điều kiện Việt Nam có trình độ công nghệ và kinh tế chậm phát triển; năng lực cạnh tranh của các sản phẩm của Việt Nam yếu hơn so với các nước khác Do vậy, để hội nhập quốc tế một cách vững chắc, đòi hỏi Việt Nam buộc phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đào tạo nguồn nhân lực theo hướng tạo dựng nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao, có tính chuyên nghiệp trong lao động và thích ứng nhanh với tiến bộ của nền khoa học - công nghệ nhân loại, nhất là cuộc cách mạng khoa học - công nghệ 4.0 hiện nay

Thứ ba, con người Việt Nam phải có đạo đức mới

Nói đến đạo đức mới là nói đến hệ thống các quy tắc, chuẩn mực quan hệ đạo đức, tương ứng với thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế để phân biệt với hệ thống các quy tắc, chuẩn mực đạo đức đã từng tồn tại trong các thời kỳ trước đây

Trang 32

Đạo đức mới của con người Việt Nam hiện nay không thoát ly, tách biệt vớinhững nội dung đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc mà nó là sự tiếp thu, kếthừa những nội dung tốt đẹp của đạo đức truyền thống dân tộc, đồng thời, cải biến một số nội dung cũ cho phù hợp với xã hội hiện đại, gạt bỏ những nội dung lỗi thời không còn thích hợp với bối cảnh xã hội hiện nay Đạo đức mới bao hàmtrong nó những nội dung rộng lớn từ lý tưởng phấn đấu cho độc lập dân tộc, đất nước phồn vinh, dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ,công bằng, văn minh đến hành vi tiết kiệm, nếp sống văn minh, lòng trung thực, nhân nghĩa, lối sống lành mạnh…

Các nội dung đạo đức, hay nói cách khác, khía cạnh đạo đức trong mỗi con người không bao giờ đứng độc lập, tách rời các khía cạnh khác, mà thường hòa trộn lẫn nhau, đan xen vào nhau, kết hợp bổ sung cho nhau làm nên phẩm chất của mẫu hình con người của thời đại, của từng giai đoạn lịch sử, vừa có kế thừa, tiếp thu những nét trong mẫu hình con người của quá khứ vừa mang những nét mới đặc trưng cho mẫu hình con người của giai đoạn mới Ngay cả những nét cũ tiếp thu từ quá khứ, thì nội dung, tinh thần và cốt cách của nó cũng đã mang dấu

ấn của thời kỳ mới, hay được cải biến cho phù hợp với những điều kiện mới.Lối sống giản dị, chất phác, chân thành, khiêm tốn trong ứng xử, tiết kiệm, ứng xử hợp lý, hợp tình cũng là một nội dung của đạo đức mới Con người Việt Nam vốn có lối sống tiết kiệm, giản dị, chân thành, chất phác và khiêm tốn như một nét tự nhiên, tất yếu, bắt nguồn từ điều kiện sống và lao động của họ Trong bối cảnh hội nhập quốc tế lối sống thực dụng, trọng đồng tiền, xa hoa, lãng phí

đã và đang ít nhiều ảnh hưởng đến một bộ phận dân cư Do đó, việc phát huy cácchuẩn mực lối sống tiết kiệm, giản dị, chân thành, chất phác và khiêm tốn như một yêu cầu đối với con người Việt Nam hiện đại lại càng cần thiết Điều đó, sẽ giúp cho việc xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay có định

Trang 33

hướng đúng, ngăn ngừa và ngăn chặn tác hại của lối sống trái ngược với thuần phong mĩ tục, xa lạ với bản chất nhân nghĩa của người Việt Nam.

Điểm quan trọng và thiết yếu trong nội dung đạo đức mới của con người Việt Nam hiện nay là chống chủ nghĩa cá nhân Đây là một trong những nội dung đạo đức cách mạng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói trước đây “đạo đức mới như người hai chân đứng vững được dưới đất, đầu ngẩng lên trời” “Đạo đức mới, đạo đức vĩ đại, nó không phải là danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người”

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, việc xây dựng, bồi dưỡng, nâng cao đạo đức mới đòi hỏi phải sửa đổi những việc rất phổ thông, rất cần thiết trong đời sống của tất cả con người từ cách ăn, mặc, ở, đi lại, cách làm việc Xây dựng phong cách sống khiêm tốn, giản dị, điều độ, chừng mực, ngăn nắp, quý trọng thời gian,

ít ham muốn bất hợp lý về vật chất, chức quyền, danh, lợi, khoan dung, độ

lượng, xây dựng tác phong quần chúng, tác phong dân chủ, tác phong khoa học

là rất cần thiết Xây dựng thuần phong mỹ tục để có lối sống đẹp cho cả cộng đồng, xóa bỏ những phong tục tập quán không còn phù hợp, tạo dựng một nếp sống văn hóa và có văn hóa ngày càng cao

Thứ tư, con người Việt Nam phải có thể lực tốt

Thể lực, sức khỏe tốt có ý nghĩa quan trọng, quyết định năng lực hoạt động của con người Phải có thể lực, con người mới có thể phát triển trí tuệ và quan hệcủa mình trong xã hội Đây là yêu cầu đầu tiên đối với người lao động ở mọi thờiđại lịch sử, mọi quốc gia, dân tộc khác nhau, song ở từng thời đại, mỗi quốc gia, dân tộc khác nhau có những yêu cầu với mức độ, nội dung khác nhau Thể lực tốt được hiểu không phải chỉ là tình trạng không có bệnh tật, mà còn là sự thoải mái, hoàn thiện về thể chất, về trí lực và về xã hội Song, trước hết con người

Trang 34

phải có sức khỏe cơ thể với tư cách là điều kiện tiên quyết để duy trì và phát triển trí tuệ, là phương tiện thiết yếu để chuyển tải trí thức vào hoạt động thực tiễn, để biến tri thức thành sức mạnh vật chất Đồng thời, phải có trí lực - đó là

sự dẻo dai của hoạt động thần kinh, là sức mạnh của niềm tin và ý chí, là sức sáng tạo và khả năng vận động của trí lực Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Mỗi một người dân yếu ớt, tức là cả nước yếu ớt, mỗi một người dân khỏemạnh tức là cả nước mạnh khỏe… Dân cường thì quốc thịnh” Cũng như để giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khỏemới thành công Sức khỏe của con người phải là sự thống nhất giữa hai yếu tố tinh thần và thể chất Sức khỏe phải gắn liền với cuộc sống lao động, gắn với một nếp sống đẹp, có văn hóa, hướng tới lao động hữu ích Sức khỏe cá nhân là một bộ phận, gắn liền với sức khỏe của cộng đồng, mỗi người khỏe mạnh, cả dântộc khỏe mạnh Một quốc gia, dân tộc phát triển thì đời sống của con người đượcnâng cao, tạo điều kiện để mỗi người dân được nâng cao sức khỏe Do vậy, luyện tập thể dục, bồi bổ sức khỏe là bổn phận của mỗi một người yêu nước.Thể lực của con người được xác định bởi kết cấu cơ thể sinh học của con người (chiều cao, cân nặng, sự cân đối của cơ thể, sự nhạy cảm và sức chịu đựng…) hoạt động theo những chức năng tự nhiên do cơ thể sinh học điều tiết vàđiều khiển Với sự phát triển của nền kinh tế, nền văn minh xã hội, cơ thể con người cũng ngày càng phát triển và hoàn thiện theo quy luật tiến hóa

Trong điều kiện cách mạng khoa học và công nghệ, công nghiệp hóa gắn liền với hiện đại hóa, hàm lượng trí tuệ, chất xám trong mỗi sản phẩm lao động chiếm tỷ trọng rất lớn, thì yêu cầu về trí lực càng cao Bởi lẽ, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng như trong cuộc cạnh tranh quyết liệt như hiện nay, vai trò quyết định thuộc về lao động trí tuệ và năng lực sáng tạo của đội ngũ lao động Song, muốn lao động trí tuệ có hiệu quả, muốn thúc đẩy năng

Trang 35

lực sáng tạo thì người lao động không những phải có sức khỏe, thể lực tốt, mà hơn thế nữa, còn phải có trí lực cao Để có trí lực cao, họ cần phải có sức khỏe tốt, thể lực không khỏe mạnh thì sẽ hạn chế đáng kể sự phát triển trí lực - yếu tố quyết định phần lớn khả năng sáng tạo của con người Mặt khác, họ phải được giáo dục và đào tạo kỹ lưỡng, thể hiện qua trình độ học vấn và vốn văn hóa, nhất

là phải được sống và làm việc trong một môi trường xã hội thuận lợi, có văn hóa đạo đức, thực sự dân chủ, bình đẳng, được cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời

2.2 Đặc điểm kinh tế-xã hội của Nghệ An và sự ảnh hưởng của nó đến nhân

tố con người

2.2.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội của Nghệ An

2.2.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của Nghệ An

Nghệ An nằm ở vị trí trung tâm Bắc Trung Bộ, có diện tích lớn nhất Việt Nam, lãnh thổ của Nghệ An (đất liền) nằm trong tọa độ từ 18 độ 35"00 vĩ độ Bắc(tại núi Thiên Nhẫn - Nam Kim - Nam Đàn) đến 20 độ 00'10" (tại Bản Liên - Thông Thủ - Quế Phong) và từ 103 độ 50'25" (tại núi Bù Xoi - Mường Ải - Kỳ Sơn) đến 105 độ 40'30" kinh độ Đông (bờ biển Quỳnh Lập - Quỳnh Lưu) Tọa

độ đó nằm lọt trong vành đai đới bắc bán cầu, chịu ảnh hưởng sâu sắc tính chất gió mùa Đông Nam Á

Phía Bắc Nghệ An giáp tỉnh Thanh Hóa (chung ranh giới 128 km); PhíaNam giáp tỉnh Hà Tỉnh (chung ranh giới 91 km); Phía Tây giáp với ba tỉnh củaLào (chung biên giới dài khoảng 419 km): Hủa Phẳn, Xiêng Khoảng,Bolikhamxay; Phía Đông là biển Đông, có bờ biển dài 82 km, có cửa Cờn, của

Trang 36

Quèn, cửa Thơi, cửa Vạn, cửa Lò và cửa Hội Cửa Lò là một cảng lớn Nhờ đócác mối giao lưu kinh tế trong và ngoài nước không những thuận lợi mà còn làmcho Nghệ An chóng phát triển Tỉnh có tuyến đường sắt Bắc - Nam dài 94 kmchạy qua.

Nghệ An có diện tích tự nhiên lớn nhất nước ta chiếm khoảng16.490,25km² cả nước [9; tr.14] và chiếm gần 5% diện tích cả nước, gấp gần 1,5lần diện tích tỉnh Thanh Hóa và hơn 2,7 lần diện tích tỉnh Hà Tĩnh Hiện nay,Nghệ An có 20 huyện, thành phố và thị xã và và với số dân chiếm khoảng2.942.875 người đứng thứ tư cả nước [9; tr.14] sau Thành phố Hồ Chí Minh, HàNội, Thanh Hóa, gấp gần 2,4 lần dân số tỉnh Hà Tĩnh Nghệ An có thành phốVinh là 1/9 đô thị loại 1 và 1/48 thành phố trực thuộc tỉnh của cả nước Với vị trínhư vậy, Nghệ An đóng vai trò quan trọng trong giao lưu kinh tế, thương mại, dulịch, vận chuyển hàng hoá với cả nước và các nước khác trong khu vực, nhất làcác nước Lào, Thái Lan và Trung Quốc, là điều kiện thuận lợi để kêu gọi đầu tưphát triển kinh tế - xã hội

Địa hình Nghệ An tương đối đa dạng, phức tạp bị chia cắt mạnh Về tổngthể, địa hình nghiêng theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, với ba vùng sinh thái rõrệt: miền núi, trung du, đồng bằng ven biển Trong đó, miền núi chiếm tới 83%diện tích lãnh thổ

Trên đất Nghệ An có 5 con sông đổ nước ra biển Đó là sông Hoàng Mai,sông Thái, song Bùng, sông Cấm và sông Lam Trong đó, sông Lam dài khoảng

390 km Diện tích lưu vực sông Lam khá lớn có đến 27.200 km² Độ dốc bìnhquân chung cho toàn lưu vực là 18,3% Sông suối ở Nghệ An có giá trị rất lớnđối với việc phát triển kinh tế - xã hội Đó là nguồn cung cấp nước chủ yếu chonông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và sinh hoạt hàng ngày cho nhân dân, là tuyếngiao thông thủy và là nguồn thủy năng để phát triển thủy điện (Bản Vẽ, ThácMuối…)

Trang 37

Về khí hậu thì Nghệ An nằm trong vùng nhiệt đới ẩm gió mùa, chịu ảnhcủa nhiều hệ thống thời tiết Nhiệt độ trung bình các tháng nóng nhất (tháng 6đến tháng 7) là 33oC, nhiệt độ cao tuyệt đối 42,7ºC; nhiệt độ trung bình các thánglạnh nhất (tháng 12 năm trước đến tháng 2 năm sau) là 19oC, nhiệt độ thấp tuyệtđối - 0,5oC Số giờ nắng trung bình/năm là 1.500 - 1.700 giờ Tổng tích ôn là3.500oC - 4.000oC [21; tr.2].

Về tài nguyên, đất đai Nghệ An có thể phân thành 2 nhóm chính: Thuỷthành và địa thành Nhóm thủy thành có 247.774 ha, chiếm 15,75% diện tích thổnhưỡng toàn tỉnh [22; tr.13] Nhóm địa thành có 1.324.892 ha, chiếm 83,25%diện tích thổ nhưỡng tập trung chủ yếu ở vùng núi Rừng ở Nghệ An rất phongphú và đa dạng Nghệ An là một trong những tỉnh có diện tích rừng lớn Theo sốliệu thống kê của Chi cục Kiểm lâm Nghệ An thì hiện nay toàn tỉnh có 883.971

ha diện tích đất có rừng, trong đó diện tích rừng tự nhiên là 734.515 ha và diệntích rừng trồng là 149.456 ha với 347 xã có rừng, được phân bố trên các địa hìnhphức tạp Cùng với sự đa dạng của địa hình, cảnh quan sinh thái đã tạo cho hệđộng vật ở Nghệ An cũng đa dạng phong phú Theo thống kê động vật Nghệ Anhiện có 241 loài của 86 họ và 28 bộ

Nghệ An có bờ biển dài 82 km với vùng biển rộng 4.230 hải lý vuông.Biển Nghệ An có rất nhiều hải sản quý: 200 loài tảo, 190 loài động vật nổi, 300loài động vật đáy, 207 loài cá, 20 loài tôm… [10, tr.11] Nghệ An có thể pháttriển một cách toàn diện về kinh tế biển là đánh bắt, nuôi trồng và công nghiệpchế biến hải sản xuất khẩu Với bờ biển dài và nhiều cửa lạch, Nghệ An có nhiềutiềm năng phát triển vận tải biển, trong đó có cảng Cửa Lò và cảng cá Cửa Hội.Đây là điều kiện thuận lợi, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh vàvùng Bắc Trung Bộ trong tương lai Bờ biển Nghệ An còn có tiềm năng vềkhoáng sản như cát, quặng và có nhiều bãi tắm lý tưởng như: cửa Lò, cửa Hội,Nghi Thiết, Diễn Thành, Quỳnh Bảng… nước sạch, sóng không lớn, độ sâu

Trang 38

thoải, độ mặn thích hợp, ở vị trí thuận lợi về giao thông, thu hút khách thậpphương đến du lịch, nghỉ mát Tuy nhiên, chưa được đầu tư để khai thác tốt phục

vụ du khách như Cửa Hiền, Quỳnh Phương, đảo Ngư, đảo Lan Châu

Về khoáng sản, Nghệ An có nhiều loại khoáng sản khác nhau, phân bố tậptrung, có trên địa bàn nhiều huyện Các loại khoáng sản của Nghệ An có chấtlượng cao, nguyên liệu chính gần nguyên liệu phụ, gần đường giao thông nên rấtthuận lợi cho phát triển sản xuất xi măng, gốm sứ, bột đá siêu mịn, gach lát, sảnphẩm thủ công mỹ nghệ Nghệ An có tiềm năng rất lớn như các mỏ quặng sắt,măng gan, titan Quặng sắt ở Vân Trình (Nghi Lộc), quặng măng gan phân bố ởHưng Nguyên, Nam Đàn, Nghi Lộc Ngoài ra, còn có mỏ than Khe Bố ở TươngDương

Về nước thì lượng mưa ở Nghệ An hàng năm tương đối lớn nên lượngnước mặt cũng khá dồi dào, khoảng 24 tỷ m³ (theo tài liệu trung tâm nước sạchNghệ An năm 2012), thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, các ngành kinh tế khác

và dân sinh

Về nhân lực, con người ở miền núi Nghệ An trong lịch sử, dù có nguồn gốclịch sử khác nhau đều là những người đã khai phá,, thích ứng với tự nhiên và cảitạo tự nhiên không ngừng Dân số Nghệ An 2.942.875 người [22; tr.14]

Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, tỉnh Nghệ Anvới trung tâm là Thành phố Vinh được xác định là một trung tâm kinh tế, vănhóa của vùng Bắc Trung Bộ Nghệ An là nơi tập trung nhiều cơ sở giáo dục đàotạo trong đó có những cơ sở mang tầm cỡ vùng (điển hình là Đại học Vinh), từnhiều năm nay đã đào tạo nhân lực (bậc đại học, trung học chuyên nghiệp và dạynghề) cho tỉnh và Vùng Bắc Trung Bộ Vai trò của Nghệ An đối với vùng tronglĩnh vực khoa học – công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực sẽ ngày càng được củng

cố và nâng cao hơn nữa

Trang 39

Về công nghiêp Nghệ An tập trung phát triển ở 3 khu vực là Vinh - Cửa

Lò gắn với Khu kinh tế Đông Nam, Khu vực Hoàng Mai và khu vực Phủ Quỳ.Phấn đấu phát triển nhiều ngành công nghiệp có thế mạnh như các ngành chếbiến thực phẩm - đồ uống, chế biến thuỷ hải sản, dệt may, vật liệu xây dựng, cơkhí, sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ, chế tác đá mỹ nghệ, đá trang trí, sản xuất bao

bì, nhựa, giấy Trong bảng xếp hạng về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh củaViệt Nam năm 2014, tỉnh Nghệ An xếp ở vị trí thứ 28/63 tỉnh thành GDP 2014đạt gần 8% Thu nhập bình quân đầu người 2014 đạt 29 triệu đồng/ người /nămHiện nay, trên địa bàn tỉnh Nghệ An các khu công nghiệp sau:

- Khu kinh tế Đông Nam

- Khu công nghiệp đô thị Việt Nam Singapore

- Khu công nghiệp Bắc Vinh

- Khu công nghiệp Nam Cấm

- Khu công nghiệp Nghi Phú

- Khu công nghiệp Hưng Đông

- Khu công nghiệp Cửa Lò

- Khu công nghiệp Hoàng Mai1,2

- Khu công nghiệp Đông Hồi

- Khu công nghiệp Phủ Quỳ

- Khu công nghiệp Tân Thắng

- khu công nghiệp Diễn Hồng - Diễn Châu

- Khu công nghiệp Hưng Lộc

Về du lịch có bãi tắm Cửa Lò là khu nghỉ mát; Khu du lịch biển diễn Thành, huyện Diễn Châu - một bãi biển hoang sơ và lãng mạn; khu di tích Hồ Chí Minh,khu di tích đền Cuông Năm 2008, Khu du lịch Bãi Lữ được đưa vào khai thác

Trang 40

Nghệ An là xứ sở của những lễ hội cổ truyền diễn ra trên sông nước như lễ hội Cầu Ngư, Rước hến, Đua thuyền Lễ hội làm sống lại những kỳ tích lịch sử được nâng lên thành huyền thoại, giàu chất sử thi, đậm đà tính nhân văn như lễ hội đền Cuông, lễ hội đền Khai Long, lễ hội làng Vạn Lộc, làng Sen, lễ hội đền Quả Sơn Miền núi có các lễ hội như Hang Bua, lễ hội Xàng Khan, lễ Mừng nhà mới, lễ Uống rượu cần Lễ hội Đền Tiên Đô (Tiên Đô Miếu) ở Đặng Sơn vào lễ khai hạ mồng 7 tháng giêng và Lễ kỵ nhật 16/6 của 3 thần bản cảnh- Thành Hoàng nơi Thờ Phó Quốc Vương Mạc Đăng Lượng thượng thượng thượng đẳng thần, Binh nhung Đại tướng Hoàng Trần Ích thượng đẳng thần, Hoàng Bá Kỳ Đoan túc tôn thần.

Nghệ An còn lưu giữ được nhiều di tích văn hoá lịch sử, nhiều danh lam thắng cảnh, lễ hội văn hoá truyền thống - đó là những yếu tố thuận lợi giúp cho

du lịch Nghệ An phát triển

Về du lịch biển, Nghệ An có 82 km bờ biển với nhiều bãi tắm đẹp hấp dẫn khách du lịch quốc tế như bãi biển Cửa Lò, Cửa Hội; Nghi Thiết, Bãi Lữ (Nghi Lộc), Quỳnh Bảng, Quỳnh Phương, Quỳnh Nghĩa (Quỳnh Lưu), Diễn Thành (Diễn Châu) Đồng thời Nghệ An rất có lợi thế phát triển du lịch văn hóa Hiện nay Nghệ An có trên 1 ngàn di tích lịch sử văn hóa, trong đó có gần 200 di tích lịch sử văn hoá được xếp hạng, đặc biệt là Khu di tích Kim Liên, quê hương của Hồ Chí Minh, hàng năm đón xấp xỉ 2 triệu lượt nhân dân và du khách đến tham quan nghiên cứu

Khu di tích lịch sử Kim Liên, cách trung tâm thành phố Vinh 12 km về phíaTây Nam, là khu di tích tưởng niệm Hồ Chí Minh tại xã Kim Liên, huyện Nam Đàn Nơi đây gắn với thời niên thiếu của Hồ Chí Minh và còn lưu giữ những kỷ niệm thuở nhỏ của cậu bé Nguyễn Sinh Cung, những dấu tích và những kỷ vật của gia đình Làng Sen, quê nội của Hồ Chí Minh, tên chữ là Kim Liên (bông sen vàng) Làng có nhiều hồ thả sen suốt hai bên đường làng Ngôi nhà của Hồ

Ngày đăng: 02/04/2018, 12:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bàn về chiến lược phát triển con người (1990), Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về chiến lược phát triển con người
Tác giả: Bàn về chiến lược phát triển con người
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1990
3. Văn Kiện Đại Hội, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Nxb Sự thật 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn Kiện Đại Hội", Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lênCNXH
Nhà XB: Nxb Sự thật 1991
4. Đảng bộ tỉnh Nghệ An (2010), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứXVII
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Nghệ An
Năm: 2010
5. Văn Kiện Đại Hội, Đại biểu toàn quốc lần VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại biểu toàn quốc lần VII
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
6. Văn Kiện Đại Hội, Đại biểu toàn quốc lần VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại biểu toàn quốc lần VIII
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
7. Văn Kiện Đại Hội, Đại biểu toàn quốc lần X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại biểu toàn quốc lần X
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
8. Văn Kiện Đại Hội, Đại biểu toàn quốc lần XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại biểu toàn quốc lần XI
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
11. Phạm Ngọc Anh (1995), “Nguồn lực con người - nhân tố quyết định quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Tạp chí Nghiên cứu lí luận Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nguồn lực con người - nhân tố quyết định quátrình công nghiệp hóa, hiện đại hóa”
Tác giả: Phạm Ngọc Anh
Năm: 1995
12.Đảng bộ tỉnh Nghệ An (2010), Vă kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII,Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vă kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứXVII
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Nghệ An
Năm: 2010
2. C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995 Khác
9. Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An (19/12/2011), Đề án quy hoạch phát triển nhân lực tỉnh Nghệ An giai đoạn Khác
10. Đảng bộ tỉnh Nghệ An (2010), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, Nghệ An Khác
13. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995 Khác

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w