Không ai phủ nhận những lợi ích mà ngành công nghiệp mang lại nhưng việc có nhiều khu công nghiệp hình thành không những làm giảm diện tích đất chuyên canh sản xuất nông nghiệp mà còn gâ
Trang 1LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA CÁC NÔNG HỘ TRỒNG LÚA VỤ ĐÔNG XUÂN CỦA VÙNG Ô NHIỄM VÀ
KHÔNG Ô NHIỄM Ở THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Giáo viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện
Mssv: 4061930 Lớp: Ngoại thương khóa 32
Cần Thơ - 2010
Trang 2LƠI CAM TA
Kêt thuc 4 năm hoc Đai hoc ơ trương Đai hoc Cân Thơ, được sự chỉ day tận tình của các thầy cô giáo, đặc biệt là các thầy cô khoa Kinh tế - Quản tri kinh doanh Vơi kiên thưc được trang bi tư chuyên nganh Ngoai Thương, luân văn tôt nghiêp nay la kêt qua cua qua trinh nghiên cưu dươi sự hương dẫn cua thầy Phạm Lê Thông
Luân văn hoan thanh ngoai nô lực cua ban thân va sự hô trợ hêt minh tư cac ban trong nhom nghiên cưu, bên canh em con co thây Pham Lê Thông vơi cương vi la giao viên hương dẫn đa tân tinh giup đơ em hoan thanh luân văn vê măt nôi dung lẫn hinh thưc trong suôt thơi gian qua
Xin cam ơn thây Trân Viêt Khai, cô Huỳnh Đan Xuân, cô Trân Thi Thu Duyên bộ môn Kinh tế nông nghiệp và Tài nguyên môi trường, Khoa kinh tế- Quan tri kinh doanh, trương đai hoc Cân Thơ va cac ban trong nhom nghiên cưu đa cung em sat canh trong suôt thoi gian lây sô liêu va viêt bai nghiên cưu,
hô trợ nhưng kiên thưc quan trong đê luân văn thêm phong phu va mang y nghia thực tiên
Băng tât ca tâm long, em xin gưi lơi cam ơn chân thanh đên cac thây cô Khoa Kinh tê – Quan tri kinh doanh đa giang day cho em trong nhưng năm qua
va đăc biêt la thây Pham Lê Thông đa giup em hoan thanh luân văn trong năm hoc cuôi nay
Ngay 20 thang 04 năm 2010Sinh viên thực hiên
Nguyễn Minh Cảnh
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn này là do chính tôi thực hiện, các số liệu thu thập và kết quả phân tích được trong đề tài là trung thực, đề tài không trùng với bất kỳ đề tài nghiên cứu khoa học nào
Ngay 20 thang 04 năm 2010Sinh viên thực hiên
Nguyễn Minh Cảnh
Trang 4NHẬN XÉT CỦA CƠ QUAN THỰC TẬP
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Ngay 20 thang 04 năm 2010
Thủ trưởng đơn vị
(ký tên và đóng dấu)
Trang 5NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Ngay 20 thang 04 năm 2010
Giáo viên hướng dẫn
(ký và ghi họ tên)
Trang 6NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Ngay 20 thang 04 năm 2010
Giáo viên phản biện
(ký và ghi rõ họ tên)
Trang 7MUC LUC
Trang
Chương 1: GIƠI THIÊU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 GIẢ THUYẾT CẦN KIỂM ĐỊNH VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 2
1.3.1 Giả thuyết cần kiểm định 2
1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu 2
1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2
1.4.1 Các giả thuyết cần nghiên cứu 2
1.4.2 Phương pháp lấy mẫu 3
1.4.3 Phương pháp thu thập số liệu 3
1.4.4 Phương pháp phân tích số liệu 3
1.5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 4
1.5.1 Không gian 4
1.5.2 Thời gian 4
1.5.3 Giới hạn đề tài 4
1.5.4 Đối tượng nghiên cứu 4
1.6 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 5
Chương 2: CƠ SỞ LÍ LUẬN 7
2.1 TỔNG QUAN VỀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG 7
2.1.1 Khái niệm ô nhiễm môi trường 7
2.1.2 Phân loại ô nhiễm môi trường 7
2.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM SỬ DỤNG TRONG ĐỀ TÀI 9
2.2.1 Hiệu quả và hiệu quả kinh tế .9
2.2.2 Khái niệm nông hộ và nguồn lực nông hộ 9
2.2.3 Khái niệm doanh thu, chi phí, lợi nhuận và một số chỉ tiêu về tài chính 10
2.3.3.1 Khái niệm doanh thu, chi phí, lợi nhuận 10
2.3.3.2 Một số chỉ tiêu tài chính 10
2.3 HÀM LỢI NHUẬN, HÀM GIỚI HẠN LỢI NHUẬN 11
Trang 8
2.3.1 Hàm lợi nhuận 11
2.3.2 Hàm giới hạn lợi nhuận 12
2.4 ĐỘ ĐO LƯỜNG HIỆU QUẢ KINH TẾ 14
2.5 KIỂM ĐỊNH MANN-WHITNEY TRONG MÔ HÌNH 16
2.5.1 Trường hợp mẫu nhỏ (n <=10, n1<=n2) 17
2.5.2 Trường hợp mẫu lớn (n >10) 17
2.5 MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THIỆT HẠI Ô NHIỄM ĐẾN HIỆU QUẢ KINH TẾ 17
2.5.1 Một số phương pháp đánh giá thiệt hại của ô nhiễm 17
2.5.2 Một số kết quả nghiên cứu thiệt hại ô nhiễm đến hiệu quả kinh tế 18
Chương 3: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG SẢN XUẤT LÚA VỤ ĐÔNG XUÂN CỦA NÔNG HỘ VÙNG Ô NHIỄM VÀ KHÔNG Ô NHIỄM Ở THÀNH PHỐ CẦN THƠ 21
3.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÍ VÀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN 21
3.1.1 Vị trí địa lí 21
3.1.2 Điều kiện tự nhiên 22
3.1.2.1 Khí hậu và thủy văn 22
3.1.2.2 Thổ nhưỡng và đất đai 23
3.2 TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN 24
3.2.1 Tai nguyên đât va khoang san 24
3.2.2 Tai nguyên sinh vât 24
3.3 TÌNH HÌNH KINH TẾ -XÃ HỘI Ở THÀNH PHỐ CẦN THƠ 24
3.3.1 Dân số và lao động 24
3.3.2 Tình hình kinh tế 26
3.3.2.1 Công nghiệp 27
3.3.2.2 Dịch vụ 28
3.3.2.3 Nông nghiệp 28
Trang 93.4 TÌNH HÌNH Ô NHIỄM Ở THÀNH PHỐ CẦN THƠ 33
3.5 MÔ TẢ TÌNH HÌNH CHUNG CỦA NÔNG HỘ TRỒNG LÚA Ở ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 35
3.5.1 Nhân khẩu 35
3.5.2 Kinh nghiệm trồng lúa 36
3.5.3 Tập huấn kĩ thuật 36
3.5.4 Diện tích và loại đất 36
3.5.5 Mùa vụ 37
3.6 PHÂN TÍCH CHI PHÍ VÀ THU NHẬP CỦA NÔNG HỘ TRỒNG LÚA VỤ ĐÔNG XUÂN NĂM 2008-2009 38
3.6.1 Phân tích chi phí 38
3.6.1.1 Chi phí làm đất 38
3.6.1.2 Chi phí gieo trồng 39
3.6.1.3 Chi phí phân bón 39
3.6.1.4 Chi phí thuốc nông dược 41
3.6.1.5 Chi phí tưới tiêu 42
3.6.1.6 Chi phí thu hoạch 43
3.6.1.7 Công lao động gia đình 44
3.6.1.8 Tổng chi phí sản xuất lúa vụ Đông Xuân năm 2008 -2009 45
3.6.2 Phân tích thu nhập của nông hộ vụ lúa Đông Xuân năm 2008-2009 46
3.6.2.1 Năng suất 46
3.6.2.2 Giá bán 46
3.6.2.3 Thu nhập từ sản xuất lúa của nông hộ 47
3.6.3 Các chỉ số tài chính 47
3.7 KIỂM ĐỊNH NĂNG SUẤT LÚA VÀ LỢI NHUẬN CỦA VÙNG Ô NHIỄM VÀ KHÔNG Ô NHIỄM 49
4.3.1 Kiểm định năng suất vụ lúa đông xuân năm 2008 – 2009 49
4.3.2 Kiểm định lợi nhuận vụ lúa đông xuân năm 2008 – 2009 49
Chương 4: PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA CÁC NÔNG HỘ SẢN XUẤT LÚA CỦA VÙNG Ô NHIỄM VÀ KHÔNG Ô NHIỄM Ở THÀNH PHỐ CẦN THƠ 51
4.1 HÀM LỢI NHUẬN COBB – DOUGLAS 51
Trang 104.1.1 Mô hình lợi nhuận Cobb- Douglas 51
4.1.2 Phân tích hàm lợi nhuận OLS và MLE 52
4.1.3.Giải thích mô hình hồi qui đã ước lượng theo phương pháp OLS và MLE 54
4.1.3.1 Ngày công lao động gia đình 54
4.1.3.2 Giá phân bón 55
4.1.3.3 Giá thuốc nông dược 56
4.1.3.4 Các biến khác 57
4.2 HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA NÔNG HỘ TRỒNG LÚA VỤ ĐÔNG XUÂN NĂM 2008 – 2009 Ở VÙNG Ô NHIỄM VÀ KHÔNG Ô NHIỄM 58
Chương 5: MỐT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA CÁC NÔNG HỘ TRỒNG LÚA 63
5.1 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TRỒNG LÚA Ở VÙNG Ô NHIỄM VÀ KHÔNG Ô NHIỄM 63
5.2 THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN CỦA CÁC NÔNG HỘ TRỒNG LÚA Ở THÀNH PHỐ CẦN THƠ 64
5.2.1 Thuận lợi 64
5.2.2 Khó khăn 65
5.3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TRỒNG LÚA CỦA NÔNG HỘ HAI VÙNG NGHIÊN CỨU 65
Chương 6: PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 70
6.1 KẾT LUẬN 69
6.2 KIẾN NGHỊ 71
6.2.1 Kiến nghị đến các nông hộ 71
6.2.2 Kiến nghị đến các nhà khoa học 71
6.2.3 Kiến nghị đến nhà nước 71
6.2.4 Kiến nghị đến các nhà doanh nghiệp và ngân hàng 72
Trang 11DANH MUC BIỂU BANG
Trang
BẢNG 1: CHI PHÍ DO THIỆT HẠI Ô NHIỄM GÂY RA TẠI THÁI NGUYÊN
NĂM 2001-2002 19
BẢNG 2: TỔNG GIÁ TRỊ SẢN XUẤT Ở CẦN THƠ NĂM 2008 26
BẢNG 3: GIÁ TRỊ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP Ở CẦN THƠ 28
BẢNG 4: DIỆN TÍCH MỘT SỐ LOẠI CÂY TRỒNG Ở CẦN THƠ 29
BẢNG 5: SẢN LƯỢNG TRỒNG TRỌT MỘT SỐ LOẠI CÂY Ở TỈNH CẦN THƠ NĂM 2004 ĐẾN NĂM 2007 30
BẢNG 6: DIỆN TÍCH, NĂNG SUẤT, SẢN LƯỢNG LÚA Ở CẦN THƠ NĂM 2004 ĐẾN NĂM 2007 32
BẢNG 7: TÌNH HÌNH CHUNG CÁC NÔNG HỘ TRỒNG LÚA Ở QUẬN MÔN THÀNH PHỐ CẦN THƠ 35
BẢNG 8: CHI PHÍ LÀM ĐẤT TRUNG BÌNH TRÊN HA VỤ LÚA ĐÔNG XUÂN NĂM 2008-2009 38
BẢNG 9: SẢN LƯỢNG VÀ CHI PHÍ GIỐNG TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ 39
BẢNG 10: LƯỢNG SỬ DỤNG VÀ GIÁ PHÂN BÓN VỤ ĐÔNG XUÂN TẠI CẦN THƠ NĂM 2008 – 2009 41
BẢNG 11: LƯỢNG SỬ DỤNG VÀ GIÁ THUỐC NÔNG DƯỢC VỤ ĐÔNG XUÂN Ở CẦN THƠ NĂM 2008-2009 42
BẢNG 12: NGUYÊN LIỆU VÀ CHI PHÍ TƯỚI TIÊU VỤ ĐÔNG XUÂN NĂM 2008 -2009 43
BẢNG 13: CHI PHÍ THU HOẠCH VỤ LÚA ĐÔNG XUÂN 2008-2009 43
BẢNG 14: NGÀY CÔNG TRUNG BÌNH VỤ ĐÔNG XUÂN 2008-2009 44
BẢNG 15: TỔNG CHI PHÍ SẢN XUẤT LÚA VỤ ĐÔNG XUÂN NĂM 2008 -2009 THÀNH PHỐ CẦN THƠ 45
Trang 12BẢNG 16: NĂNG SUẤT VÀ THU NHẬP TRUNG BÌNH VỤ ĐÔNG XUÂN CỦA CÁC NÔNG HỘ SẢN XUẤT LÚA Ở CẦN THƠ NĂM 2008 – 2009 46BẢNG 17: PHÂN TÍCH LỢI NHUẬN TRUNG BÌNH VỤ ĐÔNG XUÂN Ở CẦN THƠ NĂM 2008 – 2009 47BẢNG 18: GIÁ TRUNG BÌNH CỦA CÁC YẾU TỐ ĐẦU VÀO VỤ ĐÔNG
XUÂN NĂM 2008-2009 53BẢNG 19: KẾT QUẢ ƯỚC LƯỢNG MÔ HÌNH OLS VÀ MLE 53BẢNG 20: PHÂN PHỐI MỨC HIỆU QUẢ KINH TẾ VỤ LÚA ĐÔNG XUÂN.58BẢNG 21: HIỆU QUẢ KINH TẾ ĐẠT ĐƯỢC TRÊN 1 HA Ở VÙNG Ô NHIỄM
VÀ KHÔNG Ô NHIỄM CỦA VỤ ĐÔNG XUÂN NĂM 2008-2009 60BẢNG 22: HIỆU QUẢ KINH TẾ ĐẠT TỐI ĐA TRÊN 1 HA Ở VÙNG Ô NHIỄM
VÀ KHÔNG Ô NHIỄM CỦA VỤ ĐÔNG XUÂN NĂM 2008-2009 60BẢNG 23: HIỆU QUẢ KINH TẾ MẤT ĐI TRÊN 1 HA Ở VÙNG Ô NHIỄM VÀ KHÔNG Ô NHIỄM CỦA VỤ ĐÔNG XUÂN NĂM 2008-2009 61BẢNG 24: CÁC CHÍNH SÁCH NÔNG HỘ CHO RẰNG CÓ THỂ TĂNG THU NHẬP 64
Trang 13DANH MUC HINH
Trang
HÌNH 1: BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH THÀNH PHỐ CẦN THƠ 19HÌNH 2: CƠ CẤU DIỆN TÍCH ĐẤT SẢN XUẤT Ở THÀNH PHỐ CẦN THƠ NĂM 2008 21HÌNH 3:CƠ CẤU LAO ĐỘNG TRONG CÁC NGÀNH KINH TẾ CỦA CẦN THƠ NĂM 2008 23HÌNH 4: CƠ CẤU CÁC NGÀNH KINH TẾ THÀNH PHỐ CẦN THƠ 25HÌNH 5: CƠ CẤU CÁC NGÀNH NÔNG NGHIỆP Ở CẦN THƠ NĂM 2007 27HÌNH 6: CƠ CẤU CHI PHÍ SẢN XUẤT LÚA VÙNG Ô NHIỄM 44HÌNH 7: CƠ CẤU CHI PHÍ SẢN XUẤT LÚA VÙNG KHÔNG Ô NHIỄM 44
Trang 14NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Việt Nam đã xem phát triển nông nghiệp là nền tảng của sự phát triển bền vững Ngành nông nghiệp nước ta đóng góp gần 21% GDP của kinh tế Việt Nam (năm 2009) và hơn 70% dân số tập trung ở vùng nông thôn Vì vậy phát triển nông nghiệp không những đóng góp quan trọng tăng trưởng kinh tế mà còn góp phần cải thiện và nâng cao đời sống vật chất của toàn bộ xã hội Đặc biệt, Việt Nam luôn xem sản xuất lúa gạo là một trong những trụ cột chính của ngành nông nghiệp nước nhà Trong 10 năm qua sản lượng lúa của Việt Nam liên tục tăng từ 32,529 triệu tấn năm 2000 đến 38,9 triệu tấn năm 2009 Sự gia tăng về sản lượng lúa gạo đã góp phần quan trọng cho Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới với sản lượng xuất khẩu tăng liên tục từ 3,4 triệu tấn năm 2000 đến 6 triệu tấn năm 2009 Với điều kiện thuận lợi, đồng bằng sông Cửu Long không những là vựa lúa lớn nhất của cả nước có vai trò đảm bảo an ninh lương thực quốc gia mà còn đóng góp hơn 80% sản lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam
Tuy nhiên, hiện nay nền kinh tế Việt Nam nói chung và đồng bằng sông Cửu Long nói riêng đang trên đà tăng trưởng mạnh thì sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang lãnh vực kinh tế khác như công nghiệp là vấn đề tất yếu của sự phát triển kinh tế Không ai phủ nhận những lợi ích mà ngành công nghiệp mang lại nhưng việc có nhiều khu công nghiệp hình thành không những làm giảm diện tích đất chuyên canh sản xuất nông nghiệp mà còn gây ô nhiễm môi trường ảnh hưởng đến vật nuôi, sức khỏe con người và quan trọng hơn hết là ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất lúa của các nông hộ đồng bằng sông Cửu Long Do đó, vấn đề đặt ra là ô nhiễm môi trường sẽ ảnh hưởng như thế nào đến hiệu quả kinh tế của các nông hộ sản xuất lúa ở đồng bằng sông Cửu Long đặt biệt là các nông hộ trồng lúa của tỉnh Cần Thơ – nơi có nhiều khu công nghiệp ?
Trang 15Xuất phát từ những thực tế đó, đề tài “ Phân tích hiệu quả kinh tế của các
nông hộ trồng lúa vùng ô nhiễm và không ô nhiễm ở thành phố Cần Thơ” để
nghiên cứu vấn đề nêu trên
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là ước lượng, so sánh hiệu quả kinh tế của các nông hộ có diện tích đất canh tác lúa bị ô nhiễm và các nông hộ có diện tích đất canh tác lúa không ô nhiễm ở thành phố Cần Thơ
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Tìm hiểu tình hình sản xuất lúa vụ Đông Xuân năm 2008 – 2009 của các nông hộ ở thành phố Cần Thơ (TPCT)
- Ước lượng hiệu quả kinh tế của các nông hộ sản xuất lúa có đất canh tác bị
ô nhiễm và không ô nhiễm ở TPCT
- So sánh hiệu quả kinh tế của các nông hộ sản xuất lúa có đất canh tác ô nhiễm và không ô nhiễm ở TPCT
- Đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của các nông hộ sản xuất lúa ở TPCT
1.3 GIẢ THUYẾT CẦN KIỂM ĐỊNH VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Giả thuyết cần kiểm định
Hiệu quả kinh tế của nông hộ sản xuất lúa của vùng ô nhiễm và không ô nhiễm là không khác nhau
1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu
Có phải ô nhiễm môi trường làm chi phí sản xuất lúa của nông hộ vùng ô nhiễm cao hơn vùng không ô nhiễm không?
Có phải ô nhiễm môi trường làm giảm lợi nhuận của nông hộ trồng lúa vùng
ô nhiễm hay không ?
Ô nhiễm môi trường có làm giảm hiệu quả kinh tế của nông hộ sản xuất lúa
vụ Đông Xuân hay không?
1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.4.1 Các giả thuyết cần nghiên cứu
Trang 16- Các hộ nông dân sản xuất lúa trên diện tích đất ô nhiễm sẽ sử dụng nhiều giống, phân bón, thuốc nông dược nhiều hơn các nông hộ canh tác trên đất không bị
ô nhiễm
- Các nông hộ sản xuất lúa trên diện tích đất không bị ô nhiễm sẽ đạt được năng suất, chất lượng lúa và lợi nhuận cao hơn so với các nông hộ có đất bị ô nhiễm
1.4.2 Phương pháp lấy mẫu
Phương pháp lấy mẫu phân tầng được sử dụng để chọn địa điểm khảo sát Quận Ô Môn thành phố Cần Thơ là quận có diện tích trồng lúa nhiều và ở gần khu công nghiệp Trà Nóc Phường Phước Thới là khu vực cách khu công nghiệp khoảng
từ 200 đến 1000 m nên môi trường ở đây có khả năng ô nhiễm cao Phường Thới
An cách khu công nghiệp xa hơn khoảng 3000 đến 5000m nên có thể không ảnh hưởng bởi ô nhiễm môi trường nên đề tài chọn hai khu vực này để khảo sát
Phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên được áp dụng để chọn các nông hộ trồng lúa để phỏng vấn Số mẫu dự kiến quan sát là 300 mẫu nhưng thực tế thì phường Phước Thới được 137 quan sát và phường Thới An được 139 quan sát
1.4.3 Phương pháp thu thập số liệu
Nguồn dữ liệu sơ cấp là dữ liệu phỏng vấn trực tiếp các nông hộ ở địa phương được thu thập qua một mẫu câu hỏi có cấu trúc sẵn gồm những thông tin liên quan đến hai nhóm nông hộ sản xuất lúa có đất ô nhiễm và không ô nhiễm như: đặc điểm nông hộ, chi phí sản xuất lúa, giá các yếu tố đầu vào, giá lúa thương phẩm, sản lượng lúa sản xuất
Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các niên giám thống kê thành phố Cần Thơ, Sở Nông Nghiệp Cần Thơ Ngoài ra, số liệu thứ cấp còn lấy từ các nghiên cứu, báo cáo của Bộ Nông Nghiệp về tình hình canh tác lúa, hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào của sản xuất lúa và các sách báo chuyên ngành kinh tế nông nghiệp
1.4.4 Phương pháp phân tích số liệu
Để đạt được mục tiêu cụ thể thứ nhất, phương pháp thống kê mô tả và phương pháp phân tích chi phí lợi ích để đánh giá tình sản xuất lúa vụ Đông Xuân năm 2008 -2009 ở địa bàn nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu cụ thể thứ hai, tức là, phải so sánh định lượng các yếu
tố đầu vào (giống, phân bón, nông dược) của hai vùng sản xuất lúa để thấy được sự
Trang 17khác biệt giữa các nông hộ canh tác lúa trên đất ô nhiễm và đất không ô nhiễm Sau
đó, bài nghiên cứu dùng kiểm định Mann- Whitney để kiểm định xem những hộ nông dân có đất trồng lúa vùng không ô nhiễm sẽ có năng suất, lợi nhuận như thế nào so với các nông hộ trồng lúa vùng ô nhiễm
Để đạt mục tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế của hai đối tượng khác nhau về diện tích đất lúa ô nhiễm và không ô nhiễm ta so sánh định lượng (OLS và MLE) của hai mô hình sản xuất đặt biệt chú ý hai chỉ tiêu quan trọng (năng suất, lợi nhuận)
1.5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.5.1 Không gian
Đề tài “Phân tích hiệu quả kinh tế của các nông hộ trồng lúa vùng ô nhiễm
và không ô nhiễm ở thành phố Cần Thơ” được thực hiện trong phạm vi quận Ô Môn- thành phố Cần Thơ
1.5.2 Thời gian
Đề tài được thực hiện trên dữ liệu sơ cấp được phỏng vấn trực tiếp các nông
hộ trồng lúa ở Quận Ô Môn - thành phố Cần Thơ từ ngày 23/01/2010 đến ngày 19/03/2010
Đề tài được thực hiện trong thời gian là 4 tháng (từ tháng từ 15/01/2010 đến 30/04/2010)
(2) Đưa ra một số lí luận làm cơ sở thực hiện bài nghiên cứu
(3) Chỉ so sánh, phân tích các chỉ số tài chính như lợi nhuận, chi phí sản xuất, … của vùng ô nhiễm và không ô nhiễm
(4) Bài viết không chuyên sâu phân tích ô nhiễm ảnh hưởng như thế nào đến cây lúa mà chỉ xem xét sự khác nhau về năng suất, lợi nhuận của hai vùng nghiên cứu
(5) Giới thiệu tổng quan về địa bàn nghiên cứu đề tài
1.5.4 Đối tượng nghiên cứu
Trang 18Đối tượng nghiên cứu là các nông hộ sản xuất lúa của vùng ô nhiễm
và không ô nhiễm ở quận Ô Môn thành phố Cần Thơ
1.6 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
Để hoàn thành bài nghiên cứu, luận văn này đã sử dụng một số tài liệu sau: (1) Bài viết “Nghiên cứu so sánh mô hình sản xuất lúa theo mô hình 3 giảm
3 tăng và mô hình truyền thống ở đồng bằng sông Cửu Long” của tiến sĩ Mai Văn Nam, Võ Thị Lang, Ngô Thanh Trúc, Huỳnh Thị Đan Xuân, khoa Kinh tế Quản trị kinh doanh, đại học Cần Thơ Qua khảo sát vùng chuyên canh sản xuất lúa An Giang, Sóc Trăng, Cần Thơ các nhà nghiên cứu nhận định: nếu nông dân trồng lúa
áp dụng chương trình 3 giảm 3 tăng sẽ sử dụng lượng giống, lượng đạm, số lần phun xịt thuốc nông dược thấp hơn và đạt được chất lượng gạo, lợi nhuận cao hơn
mô hình không áp dụng 3 giảm 3 tăng vào sản xuất lúa
(2) Bài viết “Tính thiệt hại kinh tế do tác động ô nhiễm môi trường của khu công nghiệp” của tiến sĩ Nguyễn Thế Chinh, Đinh Đức, khoa Kinh tế quản lí môi trường và đô thị, trường đại học Kinh Tế Quốc Dân Qua khảo sát các nông hộ vùng Cam Giá bị ô nhiễm do công nghiệp gang thép Thái Nguyên gây ra Bài nguyên cứu
đã kết luận rằng: khi bị ô nhiễm các nông hộ mỗi năm phải chi thêm nhiều chi phí như chi phí trị bệnh, chi phí mất thu nhập do bệnh tật, chi phí khắc phục ô nhiễm, chi phí giảm giá thành của đất do ô nhiễm Tổng ước tính thiệt hại trung bình mỗi nông hộ là 420.000 ngàn đồng mỗi năm
(3) Bài nghiên cứu “Tổn thất kinh tế của ô nhiễm nước ngầm ở đồng bằng sông Cửu Long” của tiến sĩ Võ Thành Danh, khoa Kinh tế Quản trị kinh doanh, trường đại học Cần Thơ Qua khảo sát các nông hộ đồng bằng sông Cửu Long và dùng phương pháp định giá môi trường CVM tác giả đã có kết luận rằng: xét về khía cạnh là thiệt hại kinh tế do ô nhiễm nước ngầm mang lại được dự báo dựa vào giá trị ước lượng WTP là từ 29 tỷ đồng đến 34 tỷ đồng trên/năm
(4) Bài nghiên cứu “So sánh hiệu quả kinh tế mô hình lúa 3 vụ và mô hình lúa 2 vụ 1 màu tại huyện Phong Điền thành phố Cần Thơ” là đề tài tốt nghiệp sinh viên kinh tế đại học Cần Thơ Bài viết đã kết luận rằng việc áp dụng mô hình 3 vụ lúa có hiệu quả kinh tế thấp hơn so với việc áp dụng mô hình 2 lúa 1 màu Lợi nhuận từ trồng 2 vụ lúa một màu nhiều hơn khoảng 4.856 nghìn đồng so với 2 lúa 1 màu trên một nông hộ
Trang 19Hiện nay một số nhà khoa học nghiên cứu ô nhiễm môi trường sẽ ảnh hưởng như thế nào đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp để tìm giải pháp giúp nông nghiệp Việt Nam phát triển bền vững.
Trang 20CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÍ LUẬN2.1 TỔNG QUAN VỀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
2.1.1 Khái niệm ô nhiễm môi trường
Ô nhiễm môi trường là tình trạng môi trường bị ô nhiễm bởi các chất hóa học hoặc các dạng năng lượng như tiếng ồn, nhiệt, ánh sáng tới mức độ gây ảnh hưởng có hại cho sức khỏe con người, các cơ thể sống khác, hoặc hại cho chính môi trường Nguyên nhân chính gây ra ô nhiễm môi trường là do một số nguyên nhân chính sau:
- Dân số ngày càng tăng làm cho nhu cầu về lương thực thực phẩm của con người tăng lên Con người phải đẩy mạnh khai thác tài nguyên đất, chặt phá rừng, tăng cường quay vòng sản xuất, sử dụng một khối lượng lớn các phân bón hoá học
và các thuốc bảo vệ thực vật Điều này đã làm cho đất bị giảm độ phì nhiêu, ô nhiễm nặng nề do dư lượng phân hoá học và thuốc bảo vệ thực vật
- Do nhu cầu mở rộng các khu dân cư, đô thị hoá, phát triển các khu công nghiệp và mạng lưới giao thông Đây là hoạt động rất tích cực cho phát triển kinh tế
xã hội của các quốc gia Nhưng do hoạt động quy hoạch không đồng bộ nên đã vô tình làm lãng phí tài nguyên đất
- Con người coi đất như một "chất trơ" biến chúng thành nghĩa địa để chôn tất
cả các loại chất thải do mình tạo ra, làm cho môi trường đất bị ô nhiễm nặng nề
- Do con người tàn phá các khu rừng, làm đẩy mạnh quá trình rửa trôi và xói mòn
- Do sự quản lý không chặt của nhà nước
2.1.2 Phân loại ô nhiễm môi trường
Có nhiều cách để phân loại ô nhiễm môi trường tùy theo từng tiêu chí Nếu dựa vào tiêu chí tài nguyên có thể chia thành các loại sau:
- Ô nhiễm môi trường đất: là hậu quả của các hoạt động của con người làm thay đổi các nhân tố sinh thái của các quần xã trong đất Môi trường đất là nơi trú ngụ của con người và hầu hết các sinh vật ở cạn, là nền móng cho các công trình xây dựng, công nghiệp và văn hóa con người Đất là nguồn tài nguyên quý giá, con người sử dụng tài nguyên đất vào hoạt động sản xuất nông nghiệp để đảm bảo cung
Trang 21cấp lương thực phẩm cho con người Nhưng nhịp độ tăng dân số và tốc độ phát triển công nghiệp và tốc độ đô thị hóa hiện nay thì diện tích đất canh tác hiện nay ngày càng bị thu hẹp, chất lượng đất ngày càng bị suy thoái, diện tích đất bình quân trên đầu người Riêng ở Việt Nam, thực tế suy thoái tài nguyên đất là rất đáng lo ngại và nghiêm trọng.
- Ô nhiễm môi trường nước: là sự thay đổi theo chiều xấu đi các tính chất vật lý- hóa học – sinh học của nước, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại cho con người và sinh vật Làm giảm độ đa dạng sinh học trong nước Xét về tốc độ lan truyền và quy mô ảnh hưởng thì ô nhiễm nước là vấn đề đáng lo ngại hơn ô nhiễm đất
Nước bị ô nhiễm là do sự phủ dưỡng xảy ra chủ yếu ở các khu vực nước ngọt
và vùng ven biển, vùng biển khép kín Do lượng muối khoáng và hàm lượng các chất hữu cơ quá dư thừa làm cho các quần thể sinh vật trong nước không thể đồng hóa được Kết quả làm cho hàm lượng oxy trong nước giảm đột ngột, các khí độc tăng lên, tăng độ đục cho nước, gây suy thoái thủy vực Ở các đại dương nguyên nhân chính gây ra ô nhiễm đó là sự cố tràn dầu Ô nhiễm nước có nguyên nhân gây
ra từ các loại chất thải và nước thải công nghiệp được thải ở các lưu vực con sông
mà chưa qua sử lí đúng mức; các loại phân bón hóa học và thuốc trừ sâu ngấm vào nguồn nước ngầm và nước ao hồ; nước thải sinh hoạt được thải ra từ các khu dân cư ven sông
- Ô nhiễm không khí: là sự có mặt một chất lạ hoặc một biến đổi quan trọng trong thành phần không khí, làm cho không khí không sạch hoặc gây ra sự tỏa mùi,
có mùi khó chịu, giảm tầm nhìn xa do bụi
Hiện nay, ô nhiễm khí quyển là vấn đề thời sự nóng bỏng của cả thế giới chứ không phải riêng một quốc gia nào Môi trường khí quyển đang có những biến đổi
rõ rệt và có ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật Hàng năm con người khai thác và sử dụng hàng tỉ tấn than đá, dầu mỏ, khí đốt Đồng thời cũng thải vào môi trường một khối lượng lớn các chất thải khác nhau như: chất thải sinh hoạt, chất thải từ các nhà máy và xí nghiệp làm cho các hàm lượng độc hại tăng lên nhanh chóng Hàng năm có 20 tỉ tấn cacbon điôxít, 1,53 triệu tấn Silic oxit, 900 tấn Cacbon thải ra môi trường không khí
Trang 222.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM SỬ DỤNG TRONG ĐỀ TÀI
2.2.1 Hiệu quả và hiệu quả kinh tế
Hiệu quả theo nghĩa phổ thông, phổ biến trong cách nói của mọi người là “ Kết quả như yêu cầu của việc làm mang lại hiệu quả” (Theo từ điển tiếng việt trang
440, viện ngôn ngữ học 2002)
Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra, nó là một phạm trù kinh tế chung nhất, liên quan trực tiếp tới nền kinh tế hàng hóa và với tất cả các phạm trù, các quy luật kinh tế khác Một phương án có hiệu quả kinh tế cao hoặc một giải pháp kĩ thuật có hiệu quả kinh
tế cao là một phương án đạt được tương quan tối ưu giữa kết quả đem lại và chi phí đầu tư Bản chất của hiệu quả kinh tế xuất phát từ mục đích của sản xuất và phát triển kinh tế xã hội, là đáp ứng ngày càng cao về vật chất và tinh thần của mọi thành viên trong xã hội
Tiêu chí về hiệu quả kinh tế thực ra là giá trị Có nghĩa là, khi sự thay đổi làm tăng giá trị thì sự thay đổi đó có hiệu quả và ngược lại sẽ không hiệu quả Hiệu quả kinh tế liên quan đến rất nhiều khía cạnh nhưng ở trong đề tài này thì hiệu quả kinh tế được hiểu là lợi nhuận cao nhất mà nông hộ có thể đạt được trong sản xuất nông nghiệp
2.2.2 Khái niệm nông hộ và nguồn lực nông hộ
Nông hộ là những người nông dân sinh sống chủ yếu ở các vùng nông thôn, hầu hết tham gia vào sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp và thủy sản hoặc kết hợp với các ngành nghề (trong đó phải có nông nghiệp); sử dụng lao động, vốn và những nguồn lợi sẵn có của gia đình là chủ yếu để sản xuất và kinh doanh
Để tiến hành sản xuất kinh doanh, bất kỳ một cá nhân, tổ chức đơn vị nào cũng phải có nguồn lực đầu vào nhất định Đối với nông hộ, do sống chủ yếu ở những vùng nông thôn, vùng xa xôi, hẻo lánh… nên việc tiếp cận các phương tiện truyền thông, thông tin khoa học kĩ thuật và dịch vụ còn nhiều hạn chế Vì vậy, nông hộ tiến hành sản xuất nông nghiệp nguồn lực chủ yếu của nông hộ chỉ là những thứ sẵn có, bao gồm nguồn lực hữu hình và nguồn lực vô hình
Nguồn lực hữu hình của nông hộ chủ yếu là diện tích đất canh tác, số lao động gia đình, số tiền sẵn có và tích lũy và một số tài sản khác như ghe, xuồng, máy cày, máy bơm nước, …
Trang 23Nguồn lực vô hình của nông hộ là kinh nghiệm được tích lũy từ sản xuất nông nghiệp, trình độ văn hóa và sự hiểu biết riêng của từng người, thời gian định
cư, thâm niên sản xuất và khả năng tiếp cận vốn, tiếp cận khoa học kĩ thuật trong sản xuất, … Các yếu tố này không thể quy đổi ra thành giá trị bằng tiền
2.2.3 Khái niệm doanh thu, chi phí, lợi nhuận và một số chỉ tiêu tài chính 2.2.3.1 Khái niệm doanh thu, chi phí, lợi nhuận
- Doanh thu là giá trị sản phẩm hay toàn bộ số tiền thu được do tiêu thụ sản sản phẩm tức là tất cả số tiền mà nông hộ nhận được sau khi bán sản phẩm Hay nói cách khác doanh thu chính bằng sản lượng lúa nông hộ sản xuất nhân với giá bán
Doanh thu = Sản lượng x đơn giá
- Chi phí là tất cả những hao phí bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh doanh để tạo ra một sản phẩm nhất định Chi phí gồm có hai loại đó là định phí và biến phí
Sự thay đổi của chi phí là do sự biến đổi của biến phí Khi sản lượng bằng không đồng nghĩa việc không sản xuất lúc này chi phí bằng định phí
- Lợi nhuận/lao động gia đình: cho biết rằng 1 ngày công lao động gia đình bỏ
ra thì chủ đầu tư thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận
Trang 242.3 HÀM LỢI NHUẬN, HÀM GIỚI HẠN LỢI NHUẬN
2.3.1 Hàm lợi nhuận
Trong những điều kiện nhất định, từ hàm chi phí hay hàm sản xuất Cobb- Douglas ta có thể rút ra được một hàm lợi nhuận tương ứng Vì vậy ta có thể chọn hàm sản xuất làm cơ sở để từ đó ta ước lượng hàm lợi nhuận tương ứng
Giả sử ta có hàm sản xuất:
Q = F(X1, X2, X3, …, Xm; Z1, Z2, …, Zn) (1.1) Trong đó:
Q: là sản lượng đầu ra
Xi: là các yếu tố đầu vào biến đổi thứ i (i = 1,2, 3, …,m)
Zi: là các yếu tố đầu vào cố định thứ i (i = 1,2, 3, …,n)
Từ đó ta có được hàm lợi nhuận tương ứng là:
i
c là giá cả của yếu tố đầu vào biến đổi thứ i
Hàm lợi nhuận được định nghĩa như là một hàm số của giá cả đầu vào biến đổi và đầu ra
Để tối đa hóa lợi nhuận, nhà sản xuất chọn mức sử dụng đầu vào tại:
i
i i
Z X F p c
X
Z X F c
Mặt khác, nghiệm số của hệ (1.5) là *
i
X là hàm số của c i và Z i
),(
*
Z c f
X i = i (1.6)Thay (1.6) vào (1.5) ta có:
),
,
;, ,,,
3
* 2
* 1
*
n
X X X X F
Trang 25Từ hàm lợi nhuận trên ta thấy rằng: lợi nhuận cực đại π * phụ thuộc vào giá trị của các yếu tố {c,Z} Từ phương trình (2.7) chúng ta thấy rằng lơi nhuận nó chỉ
là hàm số của c và Z Do đó chúng ta có thể viết lại là:
),
,
;, ,,,
=
π (1.8)Nếu như hàm sản xuất của chúng ta là hàm Cobb – Douglas thì:
i i
i
X A
) 1 ( )
1 ( )
1 ( ) 1
απ
αµ
Hay: ∑ ∑
=
=
++
A
1
* 1
0)1(
)(
µαα
µ µ
i i
i i
m i
i i
A A
Từ hàm lợi nhuận đơn vị UOP ta có thể ước tính được hiệu quả kinh tế của
mô hình Phương pháp ước tính hiệu quả kinh tế từ hàm lợi nhuận được trình bày trong phần sau
2.3.2 Hàm giới hạn lợi nhuận
Hàm giới hạn (Frontier Functions) là những hàm về ước lượng giá trị cực đại Người khởi đầu ra phương pháp cực biên là Farrell (1957) và nó được phát triển rất mạnh cả về phương pháp luận cũng như ứng dụng trong khoảng 2 thập kỷ gần đây (nhất là sau bài viết của Aigner, Lowell, và Schmidt, 1977 và Green, 1980) Hàm giới hạn bao gồm hàm giới hạn sản xuất, hàm giới hạn chi phí và hàm giới hạn lợi nhuận Riêng bài viết này, chỉ trình bày hàm giới hạn lợi nhuận
Hàm giới hạn lợi nhuận là khả năng nông hộ có thể đạt được lợi nhuận cao nhất với tổng hợp giá cả đầu vào đã cho Khái niệm giới hạn trong trường hợp này
có nghĩa là các hàm trên đặt ra một khoảng cho các quan sát đạt được cực đại Chúng ta có thể quan sát thấy những điểm nằm bên dưới đường lợi nhuận cực biên (người sản xuất thường có lợi nhuận dưới mức cao nhất có thể), nhưng không thể
Trang 26có điểm nào nằm trên đường lợi nhuận cực biên Khoảng cách nằm ở phía dưới đường giới hạn lợi nhuận có thể được xem là thước đo phần kém hiệu quả trong sản xuất Do vậy, hàm giới hạn lợi nhuận đã trở thành công cụ để ước lượng phần kém hiệu quả trong sản xuất.
Tuy nhiên, hầu hết những nghiên cứu sử dụng phương pháp bình phương bé nhất (OLS), phương pháp này chỉ cho ra phép ước lượng giá trị trung bình của lợi nhuận có thể đạt được chứ không phải là giá trị lợi nhuận cao nhất Phép ước lượng khả năng cao nhất (MLE) có thể hữu hiệu hơn để ước lượng tất cả các thông số của hàm giới hạn lợi nhuận bởi vì nó dựa trên nguyên tắc của những phần sai số(ε) là không đối xứng Phương pháp ước lượng MLE cho biết giá trị lợi nhuận lớn nhất hay nhỏ nhất của biến quan sát, nên các phần sai số(ε) sẽ nằm một bên của đường
giới hạn lợi nhuận (bên dưới đối với hàm sản xuất và lợi nhuận, bên trên đối với hàm chi phí) Phần sai số này có thể dùng để phân tích hiệu quả của hoạt động sản xuất
Hàm giới hạn lợi nhuận có tham số được chia làm hai loại: lợi nhuận giới hạn xác định và lợi nhuận giới hạn ngẫu nhiên
+ Mô hình lợi nhuận giới hạn xác định giả thuyết rằng mọi chênh lệch giữa giá trị thực tế và giá trị lý thuyết trên đường giới hạn lợi nhuận là do phần không hiệu quả (inefficeincy) gây ra Dạng giới hạn lợi nhuận này được Timmer (1971) phát triển thêm nhằm giảm bớt nhược điểm của hàm này (toàn bộ chênh lệch được coi là bất hiệu quả) Phương pháp này qui định một số tỷ lệ phần trăm nào đó của các quan sát có thể vượt ra khỏi đường giới hạn lợi nhuận
+ Mô hình giới hạn lợi nhuận ngẫu nhiên (còn gọi là mô hình sai số tổng hợp) được đưa ra bởi Aigner và meesen Van Der Broeck (1977) Bản chất của mô hình hàm giới hạn lợi nhuận ngẫu nhiên là phần sai số tổng hợp gồm hai phần: phần đối xứng giải thích sự tác động của yếu tố ngẫu nhên, nằm ở hai phía của hàm giới hạn và nó chứa phần sai số do đo lường; phần lệch một phía chứa phần kém hiệu quả so với hàm giới hạn lợi nhuận ngẫu nhiên Hai phần này này độc lập với nhau
Mô hình hàm giới hạn lợi nhuận ngẫu nhiên được viết như sau:
Yi= f(xi)exp(vi-ui)
hoặc: ln Yi= ln [f(xi)]+ (vi-ui)
Trang 27Trong đó ln [f(xi)] là hàm giới hạn lợi nhuận ngẫu nhiên Battese và Coelli (1988) đã đưa ra rằng (ui) là phần kém hiệu quả của hộ i so với hàm giới hạn lợi nhuận ngẫu nhiên, là phần sai số một bên exp(-u), u≥ 0, cho biết giá trị của biến số ngẫu nhiên:
Những phép ước lượng trực tiếp của hàm giới hạn lợi nhuận ngẫu nhiên có thể thực hiện bằng phương pháp khả năng cao nhất (MLE) Vì vậy, mô hình giới hạn lợi nhuận ngẫu nhiên đã được ứng dụng rộng rãi để đo lường hiệu quả trong quá trình sản xuất
2.4 ĐỘ ĐO LƯỜNG HIỆU QUẢ KINH TẾ
Độ đo lường hiệu quả đầu tiên được Farell giới thiệu vào năm 1957, Ông đã định nghĩa một độ đo hiệu quả của nông hộ có thể tính đến nhiều đầu vào Ông cho rằng hiệu quả của nông hộ sản xuất nông nghiệp gồm có hai phần: hiệu quả kĩ thuật
và hiệu quả phân bổ, phản ánh khả năng của nông hộ sử dụng các đầu vào theo tỷ lệ tối ưu, khi giá cả tương ứng của chúng đã biết Khi biết được hai độ đo này cho ta
độ đo hiệu quả kinh tế
Farell minh họa những ý tưởng của mình bằng việc sử dụng một ví dụ đơn giản bao gồm các nông hộ sử dụng hai yếu tố đầu vào (x1 và x2) để sản xuất một đầu
ra (y), với giả thuyết không đổi theo quy mô Đường đồng lượng đơn vị của nông
hộ hiệu quả toàn bộ, được biểu diễn bằng đường SS’ trong hình (1), cho phép đo lường hiệu quả kinh tế
Trong hình (1), giả sử người nông hộ chỉ sản xuất được đến điểm P thì phần lợi nhuận đạt được (phần hiệu quả) là OR/OP và phần kém hiệu quả là RP/OP hay (1- OR/OP)
Trang 28Hình 1: HIỆU QUẢ KINH TẾ
Tuy nhiên, trong khuôn khổ của hàm giới hạn lợi nhuận, thì phần hiệu quả lợi nhuận (hiệu quả kinh tế) được định nghĩa là khả năng của nông hộ có thể đạt được lợi nhuận cao nhất ứng với mức nhất định của giá cả và các yếu tố đầu vào của nông hộ Phần kém hiệu quả được xem là phần lợi nhuận bị mất đi do người nông dân không sản xuất được trên hàm giới hạn
Hàm lợi nhuận ngẫu nhiên được viết như sau:
Sj= f(pij, Zij, Dij)+ ej
Trong đó:
Sj: là lợi nhuận chuẩn hóa của nông hộ thứ j
pij: là giá chuẩn hóa của đầu vào biến đổi thứ i của hộ j
Zij: là mức độ đầu vào cố định i của hộ j
Dij: là biến giả của hộ j dùng để so sánh
Trang 29Nếu u là phân phối nửa chuẩn và không có yếu tố ngẫu nhiên (v) thì theo cách tính của Maddala ta có:
σσ
λ
j i
i
e F
f e
u
(.)1
(.))
λ = u luôn nằm trong giới hạn (0,1) và nó được dùng để giải thích phần sai
số nào sẽ tác động và làm biến đổi lợi nhuận thực tế từ lợi nhuận tối đa Nếu như tỉ
số phương sai λ’ dần đến 1, tỉ số này giải thích được phần kém hiệu quả này phần lớn là do sự tác động của các yếu tố mà nông dân có thể kiểm soát được như: mức
sử dụng của các yếu tố đầu vào Nếu như λ’ dần tới 0 thì phần kém hiệu quả của nông hộ chủ yếu là do sự tác động của các yếu tố ngẫu nhiên như: điều kiện thời tiết, thổ nhưỡng, dịch bệnh…
Trang 302.5 KIỂM ĐỊNH MANN- WHITNEY TRONG MÔ HÌNH
Kiểm định Mann- Whitney (Kiểm định U) là loại kiểm định bằng cách sắp xếp hạng các mẫu độc lập với mục đích kiểm định sự bằng nhau của các tổng thể có phân phối bất kỳ
n2: là số quan sát mẫu chọn ra từ tổng thể thứ hai
R1: là tổng số hạn quan sát mẫu thuộc tổng thể thứ nhất
F(U) = F n1–n2(U) và quyết định bác bỏ giả thuyết h0 khi α > 2F(U)
hợp n1 > n2 , dạng “ 1 đuôi” giả thuyết h0 bị bác bỏ khi: Z > Zα trường hợp n1 < n2 và
dạng kiểm định “ 2 đuôi” giả thuyết h0 bị bác bỏ khi Z > Zα hoặc Z < -Zα
2.6 MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THIỆT HẠI Ô NHIỄM ĐẾN HIỆU QUẢ KINH TẾ
2.6.1 Một số phương pháp đánh giá thiệt hại của ô nhiễm
Ô nhiễm môi trường ảnh hưởng đến sức khỏe con người, thay đổi môi trường sinh vật và đặc biệt là ảnh hưởng đến sản xuất kinh tế của vùng bị ô nhiễm Đánh giá kinh tế được xây dựng để tính toán các thiệt hại kinh tế do ô nhiễm gây ra, có rất nhiều phương pháp khác nhau, nhưng được chia thành hai
Trang 31loại chính là các phương pháp đánh giá trực tiếp và các phương pháp đánh giá gián tiếp.
Các phương pháp trực tiếp được sử dụng để đánh giá thiệt hại vật chất hữu hình và các thiệt hại đó thường có giá thị trường, đó là phương pháp thay đổi năng suất, phương pháp chi phí sức khoẻ, phương pháp chi phí cơ hội, phương pháp chi phí phòng ngừa, phương pháp chi phí thay thế
Các phương pháp đánh giá gián tiếp thường được sử dụng để đánh giá các thiệt hại vô hình khó lượng giá được trên thị trường như phương pháp giá trị hưởng thụ và phương pháp đánh giá ngẫu nhiên
2.6.2 Một số kết quả nghiên cứu thiệt hại ô nhiễm đến hiệu quả kinh tế
Đây là bài nghiên cứu tính toán một số chi phí do ô nhiễm môi trường của khu công nghiệp gang – thép Thái Nguyên gây ra tại Cam giá – Thái Nguyên (TS Nguyễn Thế Chinh, Đinh Đức Trường – khoa kinh tế quản lí môi trường trường
đại học kinh tế quốc dân) Tổng thiệt hại kinh tế do ô nhiễm được tính bằng tổng
chi phí tính từ 6 loại: Chi phí thay đổi năng suất, chi phí sức khoẻ, chi phí cơ hội, chi phí phòng ngừa, chi phí thay thế (khắc phục) và cuối cùng là giá trị hưởng thụ Chi phí thay đổi năng suất tính thiệt hại kinh tế do giảm năng suất cây trồng vật nuôi cụ thể Chi phí sức khoẻ được tính chi phí trung bình vì thiệt hại cho 1 ca bệnh dưới dạng tiền chữa bệnh đối với từng loại bệnh Chi phí cơ hội tính sự chênh lệch về thu nhập của người dân trong vùng ô nhiễm trước và sau khi mắc bệnh (ở đây ta giả thiết là người dân bị thiệt hại thu nhập do phải nghỉ ngơi điều trị bệnh) Chi phí phòng ngừa tính số tiền mà nhân dân phải bỏ ra hàng năm để phòng ngừa ô nhiễm Chi phí thiệt hại thay thế tính các chi phí để khắc phục ô nhiễm hoặc sự cố môi trường do khu công nghiệp gây ra Tính giá trị hưởng thụ trong nghiên cứu này, có một giả định là chất lượng môi trường được coi như một yếu tố quyết định giá đất tại khu vực Do có ô nhiễm nên giá đất của một số các
hộ dân sẽ giảm đi so với trường hợp không ô nhiễm, đánh giá sự chênh lệch về giá này cho ta ước lượng sơ bộ được thiệt hại vô hình mà ô nhiễm gây ra cho nhân dân Tổng thiệt hại kinh tế do ô nhiễm gây ra năm 2001 ở bảng 1: (đơn vị: đồng)
Trang 32Bảng 1: CHI PHÍ DO THIỆT HẠI Ô NHIỄM GÂY RA TẠI THÁI NGUYÊN
Đơn vị: 1000 đồng
Tổng thiệt hại kinh tế
của ô nhiễm trong 1 năm
của Khu công nghiệp
gang thép Thái Nguyên
Chi phí giảm năng suất (T1) 0
Thiệt hại trung bình 1 hộ 420.000
(Nguồn: điều tra số liệu thực tế tại Cam Giá tỉnh Thái Nguyên)
Qua bảng 1, ta thấy rằng tổng thiệt hại phải bỏ ra do ô nhiễm môi trường tại Thái Nguyên một năm là 1.054.140.000 đồng và trung bình mỗi hộ là 420.000 đồng mỗi năm Thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra rất lớn đến gia đình mỗi nông hộ
Một vấn đề nghiên cứu ảnh hưởng của ô nhiễm đến sản xuất nông nghiệp nhất là trồng lúa đối với các nước khác trên thế giới đã được rất nhiều nhà kinh tế nghiên cứu nhưng ở Việt Nam thì chưa nhiều bài viết nghiên cứu về vấn đề này Các bài nghiên cứu chỉ mô tả sơ lược về ô nhiễm làm giảm năng suất lúa trong nông nghiệp chứ không đo lường được hiệu quả kinh tế việc làm giảm năng suất này
Điển hình cho việc ô nhiễm môi trường ảnh hưởng đến năng suất lúa là bài báo cáo của sở tài nguyên môi trường tỉnh Yên Bái Trước lúc ô nhiễm, Đầm Trâu của tỉnh Yên Bái là nơi cung cấp nước tưới cho cánh đồng Tràn Gốc rộng gần 2 ha
và do rác thải nên nguồn nước ở đây bị ô nhiễm nặng Do cánh đồng Tràn Gốc phải hứng chịu nguồn nước ô nhiễm nên năng suất lúa ngày càng giảm Năng suất lúa
Trang 33trước khi nguồn nước bị ô nhiễm tại đây là 150- 200kg/sào thì sau khi ô nhiễm năng suất chỉ đạt bình quân 50kg/sào
Tóm lại, thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra là rất lớn nhất là các nông hộ sản xuất nông nghiệp Ô nhiễm không những làm giảm năng suất mà còn gây ra chi phí cho các nông hộ như chi phí tiền trị bệnh, giảm giá của đất, chi phí khắc phục,
… Do đó, các nông hộ sản xuất nông nghiệp thường có thu nhập thấp nay chịu sự tác động ô nhiễm môi trường nên giảm thu nhập gây thiệt hại kinh tế rất lớn
Trang 34CHƯƠNG 3 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG SẢN XUẤT LÚA VỤ ĐÔNG XUÂN CỦA NÔNG HỘ VÙNG Ô NHIỄM VÀ KHÔNG Ô NHIỄM Ở THÀNH PHỐ
CẦN THƠ3.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÍ VÀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
3.1.1 Vị trí địa lí
Cần Thơ là một thành phố nằm trên bờ phải sông Hậu; cách thành phố Hồ Chí Minh 169 km về phía Tây Nam; diện tích nội thành là 53 km2 Thành phố Cần Thơ có diện tích là 1.389,59 km2 (tính đến ngày 01/04/2009)
Hình 2:BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Cần Thơ được chia làm 10 đơn vị hành chính gồm 6 quận: Ninh kiều, Bình Thủy, Cái Răng, Ô Môn, Thốt Nốt, Hưng Phú (sẽ được thành lập trên cơ sở điều chỉnh quận Cái Răng và huyện Phong Điền) và 4 huyện: Phong Điền, Cờ Đỏ, Thới Lai, Vĩnh Thạnh Tổng số thị trấn, xã, phường: 68, trong đó có 4 thị trấn, 30 phường
và 34 xã (Tính tới trước thời điểm ban hành Nghị định số 12/NĐ-CP)
Thành phố Cần Thơ nằm ở trung tâm đồng bằng sông Cửu Long, giữa một mạng lưới sông ngòi kênh rạch Cần Thơ tiếp giáp với 5 tỉnh: phía bắc giáp An
Trang 35Giang và đông bắc giáp Đồng Tháp, phía nam giáp Hậu Giang, phía tây giáp Kiên Giang, phía đông giáp Vĩnh Long Với vị trí đó, thành phố Cần Thơ có rất nhiều điều kiện để phát triển thương mại, hợp tác với các tỉnh trong khu vực và trở thành trung tâm kinh tế- xã hội đồng bằng Sông Cửu Long.
3.1.2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
3.1.2.1 Khí hậu và thủy văn
Cần Thơ cũng giống như các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long nằm trong vùng thuộc ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa Có hai mùa rõ rệt trong năm
là mùa khô và mùa mưa
Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 trong năm nhiệt độ giao động trung bình các tháng từ 25,6 đến 28,40C và nhiệt độ cao nhất trong mùa này là 34,90C Có số giờ nắng cao nhất trong năm vào các tháng 1, 2, 3 Giờ nắng trung bình trong các tháng này từ 198 giờ đến 226 giờ Mùa này rất thuận lợi cho việc thu hoạch và bảo quản lúa nhưng cũng khó khăn là do khô hạn nên tốn nhiều chi phí tưới tiêu cho lúa
Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 có nhiệt độ trung bình các tháng mùa mưa
từ 26 đến 270C Mưa tập trung nhiều trong các tháng 8, 9, 10, 11 Trung bình lượng mưa phổ biến trong các tháng từ 150 mm đến 254,5 mm Các tháng cuối mùa gây ngập úng trên diện rộng do lượng mưa lớn và lũ thượng nguồn đổ về Do đó thường gây khó khăn cho sản xuất lúa nhất là công đoạn sau thu hoạch như phơi, cắt, vận chuyển khi bán lúa
Thủy văn của thành phố Cần Thơ phụ thuộc vào con Sông Hậu Mực nước bình quân năm 2008 là 51cm Trong đó, mực nước cao nhất 200 và thấp nhất âm
125 cm Từ đến tháng 6 mực nước thường xuống thấp trung bình đạt 29 cm và trung bình từ tháng 7 đến tháng 12 là 72 cm Độ ẩm trung bình của thành phố Cần Thơ là 83,1%; trong đó, cao nhất là vào tháng 9 với 88% và thấp nhất vào tháng 3 với 76%
Tóm lại, với điều kiện tự nhiên và thủy văn của thành phố Cần Thơ khá thuận lợi cho phát triển nông nghiệp nhất là trồng trọt Chính vì vậy, nông nghiệp luôn là ngành có ý nghĩa quan trọng cho thành phố Cần Thơ phát triển bền vững
Trang 363.1.2.2.Thổ nhưỡng và đất đai
- Điều kiện thổ nhưỡng
Cần Thơ hiện nay có 3 loại đất cơ bản sau: đất phù sa (phù sa nước ngọt, phù
sa ven sông, phù sa có tầng khoan lỗ đỏ vàng, phù sa gley), đất phù sa nhiễm mặn
và đất phèn Do nằm dọc theo sông Tiền và sông Hậu nên đất phù sa ở vùng Cần Thơ thuộc đất phù sa nước ngọt và phù sa có tầng khoan lỗ đỏ vàng
Nhìn chung, hầu hết các loại đất đều là loại đất phù sa có thể trồng được nhiều loại cây trồng khác nhau, không ảnh hưởng lớn đến đặc điểm sinh trưởng cây trồng Đất phù sa hoặc có nguồn gốc phù sa, địa hình bằng phẳng, độ thích nghi đối với các loại cây trồng khá rộng Thổ nhưỡng ở đây tạo điều kiện phát triển cây màu, cây lương thực, thực phẩm khá lý tưởng
Tóm lại, với những điều kiện thuận lợi như trên thì Cần Thơ có rất nhiều ưu thế để canh tác cây lúa Nhưng để trồng lúa đạt được lợi nhuận cao cho nhà nông thì luôn là vấn đề đáng được quan tâm nhiều nhất hiện nay
- Điều kiện đất đai
Hình 3: CƠ CẤU DIỆN TÍCH ĐẤT SẢN XUẤT Ở THÀNH PHỐ CẦN
THƠ
( Nguồn: Sở thống kê thành phố Cần Thơ )
Thành phố Cần Thơ có tổng diện tích đất tự nhiên là 140.161,6 ha Trong đó, diện tích đất nông nghiệp là 115.556,3 ha chiếm nhiều nhất khoảng 82,5% tổng diện tích đất toàn vùng và diện tích đất phi nông nghiệp là 24.282,12 ha, đất chưa sử dụng là 232,2 ha Tóm lại, đất nông nghiệp chiếm đa số trên tổng diện tích đất tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp nhất là trồng trọt
Trang 373.2 TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
3.2.1 Tai nguyên đât va khoang san
Thanh phô Cân Thơ co nguôn tai nguyên đât đai mau mơ, nhât la khu vực phu
sa ngot được bôi đăp thương xuyên, thich hợp cho canh tac lua, cây hoa mau, cây lương thực, cây công nghiêp ngăn ngay, cây ăn qua đăc san nhiêt đơi, tao điêu kiên thuân lợi đê Cân Thơ phat triên nông nghiêp theo hương toan diên
Cân Thơ la vung đông băng tre cua đông băng sông Cưu Long nên tai nguyên khoang san cua vung không nhiêu, chu yêu la set (gach, ngoi), set deo, than bun va cat sông Set (gach, ngoi) co mau xam, tuy không co mo lơn nhưng phô biên ơ tâng gân măt đât, day 1 - 2 m, phân bô rông khăp Bên canh đo, set deo năm cach măt đât 1 - 2 m, vỉa day 5 - 6 m, chưa nhiêu khoang vât va rât min, co thê dung trong cac nganh tiêu thu công nghiêp Ngoai ra, Cân Thơ con co nhiêu than bun vơi nhiêu mo nho, vỉa day trên 1 m, rông 15 - 30 m
3.2.2 Tai nguyên sinh vât
Tham thực vât cua Cân Thơ tâp trung trên vung đât phu sa ngot gôm cac loai
co, rong tao, trâm bâu, co ke, sung va, dưa nươc, rau ma, rau dên lưa, rau sam va cac loai beo, luc binh, rong đuôi chôn, binh bat, Trên vung đât phen chu yêu co cac loai tram, cha la nươc, mây nươc, bong bong, bôn bôn, binh bat, điên điên, lua
ma, sen, bông sung, Vê đông vât, trên can co cac loai như: ga nươc, le le, trich nươc, gie giun, trăn, răn, rua, Dươi nươc co cac loai ca như ca loc, ca rô, ca săc răn, ca trê, ca bông, ca linh, ca ba sa, ca chep, ca đuông, ca me, ca lăng, tôm cang xanh, tep bac, tep co, tep đât,
3.3 TÌNH HÌNH KINH TẾ -XÃ HỘI Ở THÀNH PHỐ CẦN THƠ
3.3.1 Dân số và lao động
Tổng dân số thành phố Cần Thơ năm 2008 là 1.171.069 người; trong đó, nam chiếm 49,43% đạt hơn 578 nghìn người và số nữ chiếm 50,57% đạt hơn 592 nghìn người Cần Thơ có mật độ dân số cao nhất đồng bằng sông Cửu Long đạt khoảng
836 người/km2 Toàn vùng có dân số sống ở thành thị khá cao chiếm 52% đạt 610.378 người và số người sống ở khu vực nông thôn là 48% đạt 560.690 người
Do vậy, người dân thành phố Cần Thơ có điều kiện sống tốt hơn so với các người dân tỉnh khác ở đồng bằng sông Cửu Long Tỷ lệ sinh là 15,2% và tốc độ tăng dân
số tự nhiên là 10,98% Dân số chủ yếu là dựa vào nông nghiệp chiếm 62% đạt
Trang 38khoảng 727 nghìn người còn dân số thuộc lãnh vực phi nông nghiệp là 38% đạt 433 nghìn người Dân số Cần Thơ chủ yếu có bốn dân tộc chủ yếu sinh sống đó là người Kinh chiếm đại đa số khoảng 96% (1.132 nghìn người), người Hoa chiếm 1,8% (16.861 người), người Khmer chiếm 1,8% ( 21.279 người), dân tộc khác chiếm 0,4% (686 người)
Số người trong độ tuổi lao động là 746.396 người trong đó lao động nữ 373.397 người chiếm khoảng 50.03% và số lao động nam là 372.999 người chiếm khoảng 49.97% Dựa vào hình 3, ta thấy rằng tỷ trọng lao động ở Cần Thơ năm
2008 chủ yếu là ngành nông nghiệp chiếm 35,27% đạt 263.237 lao động trong đó phân bố lao động chủ yếu ngành nông lâm ngư nghiệp cụ thể là 260239 lao động Tiếp theo, ngành dịch vụ và công nghiệp và xây dựng chiếm lần lượt là 23,04% (95.616 lao động) và ngành dịch vụ chiếm 12,81% (171.969 lao động) Ngành công nghiệp chủ yếu thu hút lao động trong ngành công nghiệp chế biến (68060 lao động) và xây dựng (25.162 lao động) Ngành dịch vụ trọng tâm thu hút lao động trong lãnh vực du lịch, nhà hàng khách sạn và thương mại (95.529 lao động)
Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động là rất cao hơn 215 ngàn lao động chiếm 28,88% Tuy nhiên, thất nghiệp tự nguyện chiếm 23,88% và tỷ lệ thất nghiệp
tự nhiên chỉ có 5%
Tóm lại, Cần Thơ có nguồn lực lượng lao động dồi dào để phát triển kinh tế nhưng lực lượng lao động chủ yếu là nông nghiệp nên trình độ lao đông chưa cao Hơn thế, tỷ lệ thất nghiệp khá cao tạo gánh nặng cho xã hội
Hình 4: CƠ CẤU LAO ĐỘNG TRONG CÁC NGÀNH KINH TẾ CỦA
CẦN THƠ NĂM 2008
Nguồn:Sở thống kê thành phố Cần Thơ Giải thích: CN & XD- công nghiệp và xây dựng
Trang 39án công nghiệp đưa vào hoạt động, dịch vụ về du lịch tăng cao Tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình từ năm 2005 đến năm 2008 là 18.95% và GDP năm 2008 đạt hơn 32.131 tỷ đồng.
Dựa vào hình 4, cho thấy rằng cơ cấu kinh tế theo ngành có sự dịch chuyển các ngành nông nghiệp (bao gồm thủy sản và lâm nghiệp) sang các ngành công nghiệp, đó là dấu hiệu tất yếu của sự tăng trưởng kinh tế Nếu tỷ trọng ngành nông nghiệp năm 2000 là 46,25% (đạt 1.964.500 triệu đồng) thì đến năm 2008 tỷ trọng nông nghiệp trong GDP là 44,89% đạt hơn 4.062 tỷ còn ngành công nghiệp năm
2005 là 31,11% đạt 3.978 tỷ thì đến năm 2008 là 38,37% đạt 27.043 tỷ Tỷ trọng ngành nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế của thành phố Cần Thơ trung bình từ năm 2005 đến năm 2008 là 43,46 % trên tổng GDP của toàn vùng Riêng, đối với ngành dịch vụ thì cơ cấu kinh tế trung bình trong GDP của toàn Cần Thơ trong giai đoạn 2005 đến 2008 là 16,91% và đang có xu hướng giảm qua các năm điển hình là năm 2005 dịch vụ chiếm 18,7% thì đến năm 2008 chỉ còn 16,74% Tuy nhiên, giá trị của ngành này tăng qua các năm cụ thể là năm 2005 đạt khoảng hơn 6.490 tỷ thì đến năm 2008 đạt 10.420 tỷ Điều này chứng tỏ rằng tốc độ tăng trưởng của ngành dịch vụ không cao bằng tốc độ tăng trưởng của ngành nông nghiệp và công nghiệp
Trang 40
Hình 4: CƠ CẤU CÁC NGÀNH KINH TẾ THÀNH PHỐ CẦN THƠ
( Nguồn: Tổng cục thống kê thành phố Cần Thơ)
Tóm lại, kinh tế thành phố Cần Thơ có tốc tộ tăng trưởng kinh tế ấn tượng trong giai đoạn năm 2005 đến 2008 và cơ cấu kinh tế đang có xu hướng chuyển từ các ngành có giá trị kinh tế thấp sang những ngành có giá trị kinh tế cao Do xuất phát điểm kinh tế từ nông nghiệp nên cơ cấu trong GDP của tỉnh có tỷ trọng ngành nông nghiệp chiếm khá cao nên nông nghiệp vẫn là ngành kinh tế có vị trí quan trọng cho phát triển thành phố Cần Thơ
3.3.2.1 Công nghiệp
Năm 2007, Cần Thơ có 5.880 cơ sở sản xuất công nghiệp; trong đó cơ sở kinh doanh ngoài nhà nước là 5.844 chiếm 99,39% tổng cơ sở sản xuất kinh doanh trong ngành công nghiệp Giá trị sản xuất công nghiệp của toàn vùng năm này đạt 26.336.032 triệu đồng tính theo giá hiện hành Các nhóm ngành công nghiệp chủ chốt là công nghiệp chế biến thực phẩm và đồ uống, sản xuất sản phẩm bằng kim loại, sản xuất sản phẩm từ lâm sản và tổng giá trị sản xuất theo giá hiện hành năm
2007 đạt 24.781.298 triệu đồng Đóng góp vào đó, nhóm ngành thực phẩm đồ uống
có 1876 cơ sở sản xuất đạt hơn 18.653 tỷ chiếm 68% trong ngành công nghiệp chế biến trong năm 2007 Nhóm ngành này chủ yếu là sản xuất thủy sản đông lạnh, nước chấm, xay xác gạo, nước uống đạt lần lượt là 142.954 nghìn tấn, 417 nghìn lít, 3.490.612 tấn, 54.905 nghìn lít Kế đến, nhóm ngành sản xuất thuốc, dày gia, quần
áo may sẵn
2000 2005 2006 2007 2008