1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

VẤN đề CHỮ nôm TRONG bản cổ NHẤT của lục vân TIÊN TRUYỆN

59 198 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 432,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các bản khắc Nôm của Lục Vân Tiên truyện CHƯƠNG III – CHỮ NÔM TRONG BẢN LỤC VÂN TIÊN TRUYỆN CỔ NHẤT CỦA NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU 1.. Lục Vân Tiên truyện là một tác phẩm được viết bằng chữ Nô

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

BỘ MÔN NGỮ VĂN

PHẠM THỊ TRÚC LY

VẤN ĐỀ CHỮ NÔM TRONG BẢN CỔ NHẤT

CỦA LỤC VÂN TIÊN TRUYỆN

Luận văn tốt nghiệp đại học Ngành Ngữ Văn

Cán bộ hướng dẫn: ThS GV TẠ ĐỨC TÚ

Cần Thơ, năm 2011

Trang 2

1.1 Quá trình hình thành và phát triển của chữ Nôm

1.2 Cấu tạo của chữ Nôm

2 - Các lớp từ vựng tiếng Việt

2.1 Xét về phạm vi sử dụng

2.2 Xét về nguồn gốc

CHƯƠNG II – VÀI NÉT VỀ NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU VÀ LỤC VÂN TIÊN TRUYỆN

1 Vài nét về Nguyễn Đình Chiểu

1.1 Cuộc đời

1.2 Sự nghiệp văn chương

1.3 Đóng góp của Nguyễn Đình Chiểu cho sự phát triển của thơ chữ Nôm

2 Tác phẩm Lục Vân Tiên truyện

2.1 Xuất xứ

2.2 Tóm tắt tác phẩm

2.3 Các bản khắc Nôm của Lục Vân Tiên truyện

CHƯƠNG III – CHỮ NÔM TRONG BẢN LỤC VÂN TIÊN TRUYỆN CỔ NHẤT CỦA

NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU

1 Sự khác biệt cơ bản (về dung lượng và một số điểm ở hình thức) giữa bản Nôm cổ nhất với các bản sau này

2 Những vấn đề về chữ Nôm và các lớp từ vựng Tiếng Việt trong tác phẩm

2.1 Cách viết, phiên âm chữ Nôm trong bản Nôm cổ nhất của Lục Vân Tiên truyện 2.2 Hệ thống từ vựng Tiếng Việt trong Lục Vân Tiên truyện

2.2.1 Lớp từ địa phương

2.2.2 Lớp từ Hán Việt

C – PHẦN TỔNG KẾT

Trang 3

A – PHẦN MỞ ĐẦU

1 – Lý do chọn đề tài

Trong thời đại hội nhập kinh tế hiện nay, vấn đề kinh tế - chính trị luôn được quan tâm hàng đầu Đây cũng chính là điều đáng lo ngại cho thế hệ hiện nay Mọi người đều quan tâm đến việc, mình sẽ lao động miệt mài để tìm ra một khối lượng vật chất để đáp ứng nhu cầu cá nhân và gia đình mà quên đi những giá trị văn hóa tinh thần Nếu cứ tiếp tục tình trạng này thì không khéo đời sống tinh thần của con người sẽ nghèo nàng về những giá trị văn hóa truyền thống

Để đánh thức lại các giá trị tinh thần của mỗi người thì chúng ta cần tìm về những giá trị văn hóa - tinh thần Đó cũng là nguyên nhân để chúng ta nghiên cứu về

đề tài chữ Nôm đặc biệt là trong tác phẩm Lục Vân Tiên truyện Đây là một tác phẩm

có bề dày lịch sử không kém gì các tác phẩm chữ Nôm khác: Truyện Kiều của Nguyễn

Du, Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm,… Chính vì thế, khi tìm hiểu tác phẩm này

chúng ta như tìm về với những tinh hoa văn hóa của dân tộc, làm sống lại những giá trị truyền thống bao đời nay

Lục Vân Tiên truyện là một tác phẩm được viết bằng chữ Nôm khá thành

công của Nguyễn Đình Chiểu Khi tiếp cận với tác phẩm, chúng ta có thể khám phá được cả “kho tàng” chữ Nôm của dân tộc, một nền văn hóa đã từng “vang bóng một thời” Ngoài việc tìm hiểu được văn hóa chữ viết của dân tộc ta còn nhận ra được tinh thần nhân đạo, cương trực của người Việt Nam trong lúc đất nước gặp phải biến cố

Nói tóm lại, khi khảo sát chữ nôm trong Lục Vân Tiên truyện đồng nghĩa với việc đánh thức được ý thức văn hóa của dân tộc Khơi lại được nét đẹp văn hóa truyền thống mà con người hiện đại đã vô tình lãng quên Qua đó, ta cũng nhận biết rõ

và sâu sắc hơn những nét văn hóa, sinh hoạt của nhân dân bằng kinh nghiệm khảo sát thực tế của bản thân

2 – Lịch sử vấn đề

Trong lịch sử nghiên cứu về vấn đề truyện thơ bằng chữ Nôm, thì Lục Vân

Tiên truyện là một trong những sáng tác được chú trọng vì tác phẩm có nhiều ảnh

hưởng trong dân gian và đây cũng là một trong những tác phẩm có nhiều vấn đề bất cập

Trang 4

Sương Nguyệt Ánh góp phần vào việc nghiên cứu qua việc phê bình bản

Lục Vân Tiên truyện bằng Quốc ngữ của Trương Vĩnh Ký Bà cho rằng: “Trương Vĩnh

Ký đọc bản chữ Nôm của cụ Đồ Chiểu không đúng hoặc những chỗ Trương Vĩnh Ký không thấu triệt đạo Nho mà cắt xén lắm câu thăng trầm của Lục Vân Tiên” đặc biệt

là “việc Trương Vĩnh Ký cát bỏ đoạn vua Sở nhường ngôi lại cho Lục Vân

Tiên”[23;tr40]

Giáo sư Dương Quảng Hàm cũng từng nghiên cứu về Lục Vân Tiên truyện trong Ai sửa lại quyển Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu (Tri tân tạp chí số 105

ngày 20/7/1943) bằng cách so sánh hai bản của Abel de Michels và Kim Khuê Sau

khi khảo sát, Dương Quảng Hàm đưa ra nhận xét: “….thực ra là khác nhau rất nhiều,

thường có cả câu hoặc cả đoạn dài không giống nhau

Những điều ấy chứng tỏ rằng trong hai bản ấy: một bản là nguyên văn do Nguyễn Đình Chiểu viết ra mà bản kia là do một văn sĩ nào đó – có lẽ quê ở ngoài Bắc – đã nhân bản trên mà sửa lại, có thể nói là làm lại cũng đúng”[23;tr42]

Ngoài ra, còn có công trình nghiên cứu của Giáo sư Trần Nghĩa và nhiều công trình khác

Công trình nghiên cứu về Lục Vân Tiên truyện đáng kể còn phải nói đến là

công trình nghiên cứu của Nguyễn Quảng Tuân Với ý thức tìm về và lưu giữ bản Nôm Lục Vân Tiên truyện khỏi bị thất truyền, ông đã tiến hành đính chính và khảo đính lại một số điểm quan trọng của bản Nôm cổ nhất do Duy Minh thị đính chính Những điểm hợp lý và chưa hợp lý đều được ông nêu ra khá rõ Những ý kiến khác nhau về thời gian xuất hiện các bản Nôm để đưa ra bản Nôm cổ nhất

Nguyễn Quảng Tuân đã nghiên cứu những phần chữ Nôm khắc sai, những đoạn chưa hợp lý và so sánh những bản Nôm khác nhau Ông nêu ra những điểm sai sót về chữ Nôm, đưa ra nhiều giả thuyết của các nhà nghiên cứu chữ Nôm và cuối cùng là những nhận xét của ông về các bản Nôm

Nguyễn Quảng Tuân đã nghiên cứu và đưa ra những nhận xét tương đối hợp lý

từ việc tìm hiểu tất cả những công trình nghiên cứu Xong ông chỉ khai thác sơ lược về chữ Nôm (có thể phục vụ cho khảo đính tác phẩm) Ngoài ra, các phương diện ngôn ngữ khác không được khai thác

Trang 5

3 – Mục đích, yêu cầu của đề tài

Đối với đề tài trên, mục đích quan trọng là làm sáng tỏ được các vấn đề về chữ

Nôm trong bản Nôm Lục Vân Tiên truyện cổ nhất Từ đó rút ra được những ưu, khuyết

điểm và tạo cơ sở cho việc hiệu chỉnh bản dịch Quốc ngữ sau này

Đề tài yêu cầu phải khảo sát để tìm ra những sự khác biệt, đặc trưng riêng trong tác phẩm Bên cạnh đó, những vấn đề về mặt cấu tạo, âm đọc của chữ Nôm hay những lớp từ Nam bộ được sử dụng trong tác phẩm cũng được khai thác Từ những yêu cầu

trên, chúng ta cần tìm ra những từ ngữ riêng biệt của Nam Bộ trong Lục Vân Tiên

truyện

Khi giải quyết được mục đích và yêu cầu trên chúng ta có thể dễ dàng tìm đến một bản Nôm chuẩn nhất trong tương lai Vì vậy, công việc tìm hiểu tác phẩm từ phương diện chữ Nôm đến các lớp từ Tiếng Việt là rất cần thiết

4 – Phạm vi đề tài

Điểm đặc biệt của đề tài là khảo sát chữ Nôm trong Lục Vân Tiên truyện nên

chúng ta chỉ cần tìm hiểu những nét khác biệt giữa chữ Nôm trong bản chữ Nôm cổ nhất với các bản khác

Hay nói đúng hơn là chúng ta tìm hiểu về âm đọc giữa các vùng, địa phương Song song đó, ta cũng tìm hiểu cấu tạo của các chữ Nôm có phần khác nhau giữa các văn bản

5 – Phương pháp nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu chữ Nôm trong văn bản cổ nhất là đề tài khảo sát trực tiếp trên văn bản Vì vậy, chúng ta phải sử dụng triệt để phương pháp văn bản học Với phương pháp này, chúng ta dựa vào văn bản để phân tích được những cấu tạo chữ Nôm, từ đó có thể suy luận ra những điểm chưa hợp lý của những chữ Nôm làm cơ sở đính chính lại tác phẩm

Ngoài ra, còn có phương pháp ngữ văn học với các thao tác cơ bản như phân tích, so sánh cũng được chúng tôi sử dụng để có những kiến giải cần thiết các kết quả

mà thống kê mang lại

Nói chung, đối với đề tài này, chúng ta có thể sử dụng nhiều phương pháp với nhiều thao tác cụ thể như: để hỗ trợ nghiên cứu nhưng hai phương pháp chính vẫn là

Trang 6

phương pháp văn bản học và phương pháp ngữ văn học Nếu kết hợp được các phương pháp nghiên cứu trên thì vấn đề nghiên cứu càng rõ ràng, hệ thống và mạch lạc từ đó đưa ra kết luận hợp lý, phù hợp với văn bản hơn

Trang 7

B – PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG I - CHỮ NÔM VÀ HỆ THỐNG TỪ VỰNG

TIẾNG VIỆT

1 – Chữ Nôm

1.1 Quá trình hình thành và phát triển của chữ Nôm

Tính đến thời điểm hiện tại, có rất nhiều công trình nghiên cứu về chữ Nôm nhưng thời gian xuất hiện vẫn chưa được xác định chính xác Các nhà nghiên cứu đã đưa ra rất nhiều giả thuyết về thời gian có mặt của chữ Nôm nhưng đó chỉ dừng lại ở giả thuyết chứ chưa có sự thống nhất

Nói về quá trình hình thành và phát triển chữ Nôm, Nguyễn Tài Cẩn trong Chữ

Nôm một thành tựu của thời đại Lý -Trần có viết:

“… Cuối thế kỷ X chữ Nôm được dần hình thành, thế kỷ XI, XII nó tiếp tục phát triển tự hoàn chỉnh, cuối thế kỷ XIII cơ bản được hoàn chế thực sự…Các sáng tác khác nếu phải đợi đến Quốc Âm thi tập cuả Nguyễn Trãi vào giữa thế kỷ thứ 15 để có một bằng chứng văn nôm già dặn thì cũng có rất nhiều câu chuyện được lưu truyền về việc dùng chữ Nôm để sáng tác như phú Hàn Thuyên, thơ Nôm Phi sa tập, thơ Nôm Nguyễn Sĩ Cố, Quốc ngữ thi tập của Chu Văn An… nhưng nay văn bản đều không còn…

…Sự xuất hiện của chữ Nôm đáng được coi như là một cái mốc trên con đường tiến lên của lịch sử và gia tài văn bản chữ Nôm đáng được coi như là một gia tài văn hóa quý của dân tộc”[2;tr476]

 Phạm Huy Hổ trong Việt Nam ta biết chữ Hán từ đời nào cho rằng chữ Nôm

có từ thời Hùng Vương

 Trong sách Việt Nam Văn Hóa Sử Cương, Đào Duy Anh cho rằng Sĩ Nhiếp

(187 trước Tây lịch - 226 trước Tây lịch) nhưng không nêu được bằng cớ rõ ràng hoặc

suy luận có lý Khi tìm hiểu thì không thấy nguồn tài liệu nào nói đến, đặc biệt là trong

Đại Việt sử ký toàn thư của nhóm Lê Văn Hưu (thế kỷ XIII), Phan Phú Tiên và Ngô Sĩ

Liên (thế kỷ XV), Phạm Công Trứ và Lê Hy (thế kỷ XVII) thì không thấy ghi lại bất

cứ chi tiết nào về Sĩ Nhiếp và chữ Nôm Đồng thời, Nguyễn Văn San trong Đại Nam

Trang 8

quốc ngữ, cũng đưa ra nhận định cho rằng chữ Nôm có từ thời Sĩ Nhiếp (thế kỷ thứ II)

Nếu chỉ căn cứ vào giả thuyết trên để giả sử rằng Sĩ Nhiếp là người sáng lập ra chữ Nôm thì không mấy thuyết phục

 Trong sách Việt Nam văn học sử yếu, Dương Quảng Hàm khẳng định: Cuối

thế kỷ 8 (năm 791), Phùng Hưng vì có công đánh giặc Đô hộ Tàu, giữ nước nên được

phong làm “Bố cái đại vương.“Hai chữ bố cái là tiếng Nam thuần túy, nếu đã đem hai

tiếng ấy mà đặt danh hiệu cho một vị chúa tể trong nước, thì có lẽ phải có chữ để viết hai tiếng ấy, mà chữ ấy tất là chữ Nôm: vậy có lẽ chữ Nôm đã có từ cuối thế kỷ thứ 8 rồi” [9;tr114] Nguyễn Văn Tố cũng khẳng định chữ Nôm có từ cuối thế kỷ VIII (năm

791), ông cũng đưa ra giả thuyết như Dương Quảng Hàm Về mặt hình thể, âm đọc cụm từ “Bố cái đại vương” (布蓋大王) có cả trong chữ Nôm lẫn chữ Hán (布 - âm Hán Việt đọc là bố có nghĩa là vải và 蓋 - âm Hán Việt đọc là cái có nghĩa là vung, nắp Chữ Nôm là chữ “bố cái” được dịch là cha mẹ, thay vì dùng chữ Hán là phụ mẫu Nhưng đối với người Việt thời xưa, phải chăng hai tiếng “bố cái” mới biểu thị được tình cảm sâu sắc, gần gũi, chân thành Từ việc xác định cụm từ trên là chữ Nôm nên Nguyễn Văn Tố rằng chữ Nôm có từ thời Phùng Hưng thế kỷ VIII

 Có giả thuyết cho rằng: Năm 1282 Hàn Thuyên được vua Trần Nhân Tông ra

lệnh làm bài “Văn tế cá sấu” vất xuống sông để đuổi cá sấu đi, nhưng bài văn đó

không rõ là được viết bằng chữ Hán hay chữ Nôm Nhưng vua có nhận xét là bài này

giống với việc Hàn Dũ bên Tàu Đối chiếu với sách Đại Việt sử ký toàn thư,Tập 3, ghi

lại như sau: “Mùa thu tháng 8, năm 1282, đời vua Trần Nhân Tông: bấy giờ có cá sấu

đến sông Lô (chú thích: tức sông Hồng ngày nay) Vua sai Hình bộ Thượng thư Nguyễn Thuyên làm bài văn ném xuống sông, cá sấu bỏ đi… Thuyên lại giỏi làm thơ phú quốc ngữ Thơ phú nước ta dùng nhiều quốc ngữ, thực bắt đầu từ đấy.” [10;tr47]

Như vậy rõ ràng Hàn Thuyên không phải là người sáng lập chữ Nôm mà chỉ là người đầu tiên được sử sách ghi nhận đã làm hai bài phú bằng chữ Nôm

 Học giả Trần Văn Giáp lại dựa vào chữ "cồ" trong quốc danh "Đại Cồ Việt" (大瞿越) để đoán định chữ Nôm có từ thời Đinh Tiên Hoàng Trong một số nghiên cứu vào thập niên 1990, các nhà nghiên cứu căn cứ vào đặc điểm cấu trúc nội tại của chữ Nôm, dựa vào cứ liệu ngữ âm lịch sử tiếng Hán và tiếng Việt, so sánh đối chiếu hệ thống âm tiếng Hán và tiếng Hán Việt đã đi tới khẳng định âm Hán Việt ngày nay bắt

Trang 9

nguồn từ thời Đường - Tống thế kỷ VIII - XIX Nếu âm Hán Việt có từ thời Đường, Tống thì chữ Nôm không thể ra đời trước khi cố định cách đọc Hán Việt (nếu xét chữ Nôm với tư cách hệ thống văn tự) và chỉ có thể ra đời sau thế kỷ thứ 10 khi Việt Nam thoát khỏi nghìn năm Bắc thuộc với chiến thắng của Ngô Quyền vào năm 938

Nói tóm lại, các giả thuyết đưa ra đều nhằm lý giải về nguồn gốc chữ Nôm, nhưng hợp lý nhất vẫn là giả thuyết của Dương Quảng Hàm: Chữ Nôm có từ thế kỷ VIII Đây là giả thuyết phù hợp nhất vì các lý lẻ được đưa ra có cơ sở, thời gian, sự kiện và ngay cả có để lại chứng cớ xác thực Đó là việc các giả thuyết khác không đáp ứng được

1.2 Cấu tạo của chữ Nôm

Chữ Nôm là một thành tựu quan trọng của dân tộc ta, góp phần vào việc tạo ra bản sắc riêng cho dân tộc Việt Nam Do chữ Nôm là loại chữ dùng chất liệu của chữ Hán để tạo thành nên một phần chữ Nôm có cấu tạo tương tự như chữ Hán Dựa vào mặt hình thể thì ta có thể tạm thời chia cấu tạo chữ Nôm ra hai loại lớn như sau: loại chữ Nôm vay mượn chữ Hán và loại chữ Nôm sáng tạo Hai loại này được Đặng Đức Siêu – Nguyễn Ngọc San trong Ngữ văn Hán Nôm dùng ký tự A, B để gọi và giúp dễ dàng trong cách gọi tên

1.2.1 Loại vay mượn chữ Hán (loại A):

Do loại chữ này mượn nguyên hình chữ Hán nên không có cấu tạo nội tại và là loại chữ đơn nên khi xét về mặt cấu tạo, chúng ta phải xét một cách toàn diện cả về mặt hình thể, âm thanh và ý nghĩa

a Chữ Nôm mượn toàn bộ ký hiệu văn tự và ngôn ngữ Hán (A1) Loại chữ này được đọc theo âm Hán Việt và mượn nghĩa

Ví dụ:

trung , hiếu, tài, phong

b Chữ Nôm mượn đọc theo âm Tiền Hán Việt hoặc Hán Việt Việt hóa và mượn nghĩa (A2) Vì các âm này đã được “Việt hóa” sâu sắc nên được coi là chữ Nôm đọc theo nghĩa

Trang 10

Ví dụ:

xe, ơn, ngoài, gan

Loại âm tiền Hán Việt được sử dụng nhiều trong các văn bản Nôm đầu tiên

c Chữ Nôm mượn âm Hán Việt nhưng không mượn nghĩa (A3) Quan hệ được xét chủ yếu trong loại chữ này là quan hệ giữa hình thể và âm thanh Trường hợp dùng

âm Hán Việt hay Hán Việt Việt hóa rất ít Chính vì lẽ trên mà ta gặp phải những sự trùng hợp cùng một chữ có cùng cách đọc nhưng biểu thị hai ý nghĩa khác nhau

Ví dụ:

một: biến mất, chết (A1) một: số đứng đầu, hàng đơn vị (A3) tốt: binh lính, chết (A1)

tốt: trái với tốt (A3)

d Nhóm này cũng tương tự như A3 – mượn âm nhưng không mượn nghĩa nhưng khác ở chỗ là âm đọc ở đây không mượn chính xác mà chỉ đọc chệch hoặc na

ná như âm Hán Việt Âm đọc này có ý nghĩa đặc biệt trong việc biểu hiện chữ Nôm

Ví dụ:

tổ chỗ có âm biến thể là giỗ giác chắc có âm biến thể là cóc Trong thời sơ kỳ, chữ Nôm thuộc nhóm A4 xuất hiện khá phổ biến và với một

tỉ lệ khá cao, từ sau thế kỷ XVII và giảm đi rõ rệt và được thay thế bằng loại chữ Nôm

tự tạo

1.2.2 Loại chữ Nôm sáng tạo (B):

Chữ Nôm tự tạo là loại chữ như thế nào, và tại sao phải tạo ra nó? Có nhiều người tự đặt ra câu hỏi, tại sao chúng ta không mượn đã mượn được một vốn chữ Hán khá lớn mà vẫn tạo thêm chữ mới làm gì cho phức tạp? Nếu nghĩ như thế thì đó là một cách nghĩ hoàn toàn sai lầm Vì khi ta mượn chữ Hán thì không đáp ứng đủ được nhu

Trang 11

cầu biểu hiện được ngữ âm của Tiếng Việt, hơn nữa nhu cầu tạo ra một sự riêng biệt, bản sắc riêng trong ngôn ngữ của một dân tộc đã thúc đẩy chữ Nôm tự tạo ra đời

Chữ Nôm loại B này mang tính dân tộc cao hơn loại A vì nó là sản phẩm của dân tộc Việt Nam Chữ Nôm loại B không vay mượn như A mà là sự kết hợp các ký hiệu chữ Hán để tạo ra một ý nghĩa và ngữ âm riêng Đây là một nguyên nhân để chữ Nôm loại B có cấu tạo nội tại khác biệt so với chữ Hán hay chữ Nôm loại B Loại này

có cấu tạo gồm hai thành tố và thuộc loại chữ cấu tạo theo nguyên tắc ghép

a Chữ Hán kết hợp với các ký hiệu để chỉnh âm (B1), ký hiệu được sử dụng quen thuộc nhất là ký hiệu nháy ( ) và ký hiệu cá ( )

Ví dụ:

Chữ nữ ( ) cộng thêm dấu nháy ( ) đọc là nỡ, nợ, nữa ( )

Chữ mã ( ) thêm dấu nháy ( ) đọc là mỡ, mựa ( )

Chữ ba ( ) thêm dấu cá ( ) đọc là bơ ( )

b Ngoài ra còn dựa vào các ký hiệu để chỉnh âm đầu (B2) Trong các bản Nôm thời sơ kỳ có nhiều chữ Nôm dùng các ký hiệu đặc biệt: cự ( ), ba ( ),…

Ví dụ:

Chữ lăng ( ) thêm vào ba ( ) đọc là blăng có nghĩa là trăng

Chữ lược ( ) thêm vào chữ cư ( ) thành chữ blước có nghĩa là trước

c Chữ Hán kết hợp với bộ thủ (B3) Trong hai cách chỉnh âm trên, tuy đã góp phần quan trọng trong việc tạo ra sự sáng tạo chữ Nôm nhưng chưa định hướng cho người đọc cách chỉnh âm thống nhất Để tiện hơn trong việc đọc các âm Nôm một cách tương đối tốt thì chữ Nôm cần vận dụng đến hệ thống gồm khoảng 60 bộ thủ được chọn lọc từ 214 bộ thủ của chữ Hán

Ví dụ:

Bộ thủy ( ) kết hợp với nhược ( ) tạo thành chữ nước

Bộ thủ ( ) kết hợp với chữ vu ( ) tạo thành chữ vo (tròn vo)

d Chữ Hán kết hợp với chữ Hán để tạo thành chữ Nôm (B4) Loại này thường xuất hiện trong các văn bản Nôm thời kỳ sau (từ thế kỷ XVIII) Chữ Nôm thời kỳ này

Trang 12

xuất hiện một số thành tố mới: đó là những chữ Hán có dạng đơn giản và được dùng nghĩa cụ thể của chữ được xác định âm đọc Chữ Nôm đã có một bước tiến mới, tạo ra một lối hình thanh hoàn toàn mới của chữ Nôm không giống trong Hán tự: dùng một chữ Hán nguyên vẹn làm thành tố biểu ý, bộ thủ chỉ dùng vùng nghĩa, còn chữ Hán thì dựa vào nghĩa chữ cụ thể để lái âm xuất phát vào một âm nhất định

Ví dụ:

Chữ nguyệt ( ) kết hợp với thượng ( ) thành tháng Chữ mục ( ) mạt ( ) thành mắt

Chữ thượng ( ) thiên ( ) thành trời

 Đại Việt sử ký toàn thư chia cấu tạo chữ Nôm ra thành ba cách như sau:

a Dùng nguyên hình chữ Nho để viết:

- Những tiếng gốc hoàn toàn chữ Hán không thay đổi chữ viết, âm đọc, nghĩa

- Những tiếng gốc ở chữ Nho chỉ thay đổi chút ít âm đọc

- Những tiếng có lẽ cũng gốc chữ Nho, nhưng âm khác nhiều, chỉ có nghĩa là giống

- Những tiếng khác hẳn nghĩa nhưng đồng âm với chữ Nho

- Những tiếng khác hẳn âm nhưng cùng nghĩa với chữ Nho

b Ghép hai chữ Nho thành một dấu hiệu riêng

c Ghép một chữ Nho (chỉ ý) với một chữ Nôm (chỉ âm)

Qua tiếp xúc với các quan niệm trên, chúng ta có thể rút ra được cách cấu tạo của chữ Nôm dựa trên quan hệ âm và nghĩa

d Chữ Nôm mượn chữ Hán

- Mượn cả âm lẫm nghĩa

- Chỉ mượn âm đọc, không mượn nghĩa

e Chữ Nôm sáng tạo

- Biểu âm

Trang 13

- Biểu ý

- Vừa biểu âm, vừa biểu ý

Nhìn sơ lược về cách cấu tạo chữ Nôm, chúng ta cũng có thể thấy sự phức tạp trong cách đọc và phân biệt nghĩa của chữ Nôm Xong, để giải quyết vấn đề chữ Nôm trong Lục Vân Tiên truyện thì quan điểm của Đặng Đức Siêu – Nguyễn Ngọc San trong Ngữ văn Hán Nôm sẽ giúp ta khảo sát dễ dàng và đạt hiệu quả cao hơn vì trong quan điểm này chữ Nôm được phân loại khá cụ thể và rõ ràng Bên cạnh đó, chúng ta cũng có thể phần nào biết được nguồn gốc và cấu tạo của chữ Nôm đang khảo sát Chữ Nôm sáng tạo gây ra nhiều khó khăn trong quá trình tiếp nhận nếu vốn kiến thức về chữ Hán còn hạn chế Và điều cần thiết là chúng ta phải nắm rõ văn cảnh, ngữ cảnh mới có thể biết được cách chỉnh âm chính xác Đối với chữ Nôm, người tiếp nhận có kiến thức sâu về chữ Hán có thể đọc và viết chữ Nôm sáng tạo một cách dễ dàng hơn

2 - Các lớp từ vựng tiếng Việt:

Các lớp từ vựng Tiếng Việt giúp chúng ta hiểu hơn về phạm vi sử dụng và nguồn gốc của Tiếng Việt Tuy nhiên, đề tài chúng ta đang khảo sát là vấn đề về chữ Nôm nên phần từ vựng Tiếng Việt chỉ được chúng ta vận dụng vào với mức độ tương đối, để hiểu rõ thêm về cách phù hợp khi dùng từ trong tác phẩm Dựa vào đây các lớp

từ vựng Tiếng Việt, có thể hiểu rõ hơn các vấn đề về ngôn ngữ Đối với đề tài này thì điều cần thiết chúng ta chỉ có thể tìm hiểu những vấn đề có liên quan trực tiếp và có tính chất khái quát Xét về phạm vi sử dụng, về nguồn gốc thì từ địa phương và từ Hán Việt được khai thác để phù hợp với tính chất của đề tài

Trang 14

Tiếng lóng

2.1.1 Khái niệm từ địa phương

Từ địa phương là lớp từ chủ yếu được lưu hành và sử dụng trong một phạm vi hẹp, gắn liền với một hoặc một số địa phương nào đó (Tiếng Việt đào tạo cho giáo viên – NXB Đại học Giáo dục và Đại học Sư phạm) Từ địa phương là một bộ phận của phương ngữ Phương ngữ là ngôn ngữ của một địa phương bao gồm cả mặt ngữ

âm, từ vựng lẫn ngữ pháp

Theo Đái Xuân Ninh – Nguyễn Đức Dân – Nguyễn Quang – Vương Toàn thì

“Phương ngữ là hình thức ngôn ngữ có hệ thống từ vựng, ngữ pháp và ngữ âm riêng biệt được sử dụng ở một phạm vi lãnh thổ hay xã hội hẹp hơn là ngôn ngữ Là một hệ thống ký hiệu và quy tắc kết hợp có nguồn gốc chung với hệ thống khác được coi là ngôn ngữ (cho toàn dân tộc) các phương ngữ (có người gọi là tiếng địa phương, phương ngôn) khác nhau trước hết là ở cách phát âm, sau đó là vốn từ vựng”[19;tr232]

Nguyễn Thiện Giáp cũng định nghĩa từ địa phương tương tự như các ý kiến trên Từ địa phương là từ được dùng hạn chế ở một hoặc một vài địa phương Nói chung, từ địa phương là bộ phận từ vựng của ngôn ngữ nói hằng ngày của bộ phận nào

đó của dân tộc, chứ không phải là từ vựng của ngôn ngữ văn học

Như vậy, từ địa phương là từ dùng để sử dụng cho giao tiếp và được giới hạn trong một vị trí địa lý cụ thể Loại từ này đã giúp cho ngôn ngữ của mỗi địa phương vừa đảm bảo tính chung vừa mang được bản sắc riêng của nhiều vùng ngôn ngữ

2.1.2 Phân loại từ địa phương trong Tiếng Việt:

a Từ địa phương không có sự đối lập với từ toàn dân:

Đây là lớp từ chỉ tồn tại ở một địa phương nào đó, không tồn tại song song với ngôn ngữ toàn dân

Ví dụ:

Từ địa phương Nam Bộ: chôm chôm, sầu riêng, tràm, đước,…

Từ địa phương ở Bắc Bộ: tuồng, chèo, …

b Từ địa phương có sự đối lập với từ vựng toàn dân:

Trang 15

Loại từ này chiếm một bộ phận nhỏ Chủ yếu dựa vào mặt ngữ âm, ngữ nghĩa

- Từ địa phương đối lập về mặt ý nghĩa:

Đây là loại từ giống nhau về mặt ngữ âm với ngôn ngữ toàn dân nhưng nghĩa thì khác nhau

Ví dụ:

Từ ngữ Ngôn ngữ toàn dân Phương ngữ

Cậu Em trai của mẹ Anh trai của mẹ (Hải Hưng)

Té Hắt nước Ngã (Nam Bộ)

- Từ địa phương có sự đối lập về mặt ngữ âm:

+ Các từ ngữ địa phương có hình thức ngữ âm khác hoàn toàn với từ ngữ tương ứng trong ngôn ngữ toàn dân

Ví dụ:

Toàn dân Nghệ Tĩnh Nam Bộ

Cá quả Cá tràu Cá lóc Lợn Heo Ngô Bắp

+ Các từ ngữ địa phương có phương thức ngữ âm khác bộ phận với từ ngữ tương ứng trong ngôn ngữ toàn dân

Ví dụ:

Toàn dân Nghệ Tĩnh Nam Bộ

Lưới Lái Thật Thiệt

Trang 16

Từ Hán Việt là những từ gốc Hán đời Đường – Tống được biến đổi theo quy luật ngữ âm Tiếng Việt Thông qua sách vở là chủ yếu, những từ Hán Việt được hình thành một cách có hệ thống, biểu đạt những khái niệm cần thiết cho việc giao tế lúc

đó, nhất là trong ngôn ngữ viết

Trước hết, đó là những từ Hán được đồng hoá về mặt ngữ âm - Chúng là những

từ Hán có cách đọc Hán Việt, được nhập vào tiếng Việt và trở thành yếu tố của hệ thống từ vựng tiếng Việt Vỏ ngữ âm Hán Việt mà mỗi từ Hán có được là sản phẩm của sự tiếp xúc giữa tiếng Việt với tiếng Hán Nhờ có hệ thống cách đọc này mà tất cả các tự Hán dù nhập hay không nhập vào tiếng Việt đều có thể đọc lên bằng âm Hán Việt Đồng thời, cũng từ đó mà có thể nhận diện được các từ Hán Việt có hệ thống vốn

từ tiếng Việt

2.2.1 Về mặt ngữ âm:

Các từ Hán khi nhập vào tiếng Việt không phải từ nào cũng tuân theo phương thức đồng hoá Có những từ Hán khi du nhập vào Việt Nam thì sẽ chịu sự chi phối của quy luật hệ thống ngữ âm tiếng Việt Quá trình “phương ngữ hoá” các từ Hán Việt ở mặt ngữ âm lại hình thành nên các cặp đồng nghĩa giữa từ Hán Việt với các biến thể ngữ âm của chúng

Ví dụ:

Sinh - sanh, báo - biểu, chính - chánh, trường - trang; đương - đang…

a Biến đổi về phụ âm đầu:

Do có sự chênh lệch giữa phụ âm đầu giữa tiếng Hán và tiếng Việt nên khi tiếng Hán vào Việt Nam cần có sự biến đổi để cân bằng Các âm đầu vô thanh Hán sang vô thanh Hán Việt sẽ có các thanh điệu bổng Các âm đầu hữu thanh Hán sang vô thanh Hán Việt sẽ có các thanh điệu trầm ngoài ra, trong nội bộ Tiếng Việt cũng diễn

ra sự biến đổi ngữ âm Một số âm đầu vô thanh lại hữu thanh hóa, một số âm đầu khác được xát hóa tắt hóa: p – b, t – đ, s – t, kj – gi Chính những biến đổi cho phù hợp này

đã tạo ra một hệ thống âm đầu từ Hán Việt như ngày nay

b Phần vần:

Cũng có những biến đổi đều đặn từ âm Hán Trung cổ sang âm Hán Việt Chẳng hạn: Nôm – nam, thơ – thi, xét xác,…

Trang 17

Ngoài ra còn một số quy tắc biến âm khác:

ơ/i: ngỡ/nghĩ, cờ/kỳ,…

ia/i: bìa/bì, lìa/li,…

ưa/ư: chứa/trữ, lừa /lư,…

2.2.2 Về mặt nội dung:

Các từ Hán sau khi được khoác cái vỏ ngữ âm Hán Việt trở thành yếu tố hệ thống từ vựng tiếng Việt thì có khả năng hoạt động như bất kỳ một đơn vị từ vựng nào khác Xét về mặt nội dung, có thể thấy từ hán Việt được sử dụng để biểu đạt những khái niệm thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như: kinh tế, chính trị, khoa học, văn hóa, tôn giáo,…

- Chính trị: hoàng thượng, thượng đế, chính thống, chế độ, triều đình,…

- Kinh tế: thương mại, công nghiệp, thương nghiệp, ngoại thương,…

- Văn hóa: khoa cử, văn chương, hiền triết, triết gia,…

- Tôn giáo: hòa thượng, thiên đường, …

Trang 18

b Bổ tố + động từ:

Ví dụ:

Cưỡng đoạt, độc lập, độc tấu, bi quan, ngoại lai, lạm dụng, kí sinh,…

Một số từ Hán Việt được cấu tạo theo kết cấu đẳng lập:

Tiếp nhận, tàn sát, chiến đấu, đả phá, thương vong, giáo dưỡng,…

Đặc biệt là kiểu cấu tạo theo kết cấu chính phụ có thể đảo vị trí giữa các yếu tố như các thừ thuần Việt

Ngoài những cấu tạo trên, từ Hán Việt còn được tạo ra không theo cấu tạo nào

cả

Ví dụ

Nhạc trưởng (Trung Quốc gọi là nhạc đội chỉ huy, chỉ huy gia), sáng kiến (Trung Quốc gọi là xướng nghị, chủ động tính), truyền thần (có nghĩa là vẽ chân dung, trong khi người Trung Quốc hiểu là rất giống, sinh động), điểm chỉ (Trung Quốc: đả thủ ấn), đa phương (Trung Quốc: đa biên)

Như vậy, có thể nói không phải tất cả từ Hán - Việt đều là từ mượn của tiếng Hán Do đó, không nhất thiết phải tuân theo qui tắc cấu tạo từ của tiếng Hán

Trang 19

CHƯƠNG II – VÀI NÉT VỀ NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU VÀ LỤC VÂN TIÊN TRUYỆN

1 Vài nét về Nguyễn Đình Chiểu

1.1 Cuộc đời:

Nguyễn Đình Chiểu tự Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ, hiệu Hối Trai Quê quán ông vốn ở Phong Điền, Thừa Thiên – Huế Nguyễn Đình Chiểu sinh ngày 13 tháng 5 Nhâm Ngọ (1/7/1822) tại Gia Định (hiện nay là thành phố Hồ Chí Minh) và mất ngày hai mươi bốn tháng năm năm Mậu Tý (3/7/1888) tại huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre Cha ông tên Nguyễn Đình Huy, người xã Bồ Điền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên, (nay là xã Phong An, huyện Phong Điền, TT - Huế), là thư lại Văn hàn ty của Tổng trấn Lê Văn Duyệt Mẹ là Trương Thị Thiệt, người làng Thanh Ba, huyện Phước Lộc, huyện Cần Giuộc, tỉnh Gia Định

Tuổi niên thiếu, Nguyễn Đình Chiểu từng chứng kiến cảnh loạn lạc của xã hội lúc bấy giờ, đặc biệt là cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Khôi tại Gia Định Cuộc nổi dậy này đã khiến cha ông bỏ trốn ra Huế rồi bị cách chức

Năm 1833, Nguyễn Đình Huy trở vào Nam, đem Nguyễn Đình Chiểu ra gửi cho một người bạn ở Huế để tiếp tục việc học Năm 12 đến 19 tuổi, Nguyễn Đình Chiểu sống tại Huế

Năm 1843 ông đỗ Tú tài ở trường thi Gia Định, đúng vào năm 21 tuổi Khi ấy, có một nhà họ Võ hứa gả con gái cho ông

Năm 1847, Nguyễn Đình Chiểu cùng người em ra Huế tiếp tục học hành để chuẩn bị cho kỳ thi Hương năm Kỷ Dậu (1949)

Năm 1948, nghe tin mẹ mất, Nguyễn Đình Chiểu bỏ việc thi cử về thọ tang mẹ Trên đường trở về, Nguyễn Đình Chiểu quá đau khổ và khóc rất nhiều nên mắt đã bị đau nặng Ông phải xin trọ tại nhà một thầy thuốc ở Quảng Nam để chữa bệnh đúng là

“Lỡ đường báo hiếu, lỡ đường lập thân” Nhưng vì bệnh tình quá nặng nên ông cả cuộc đời ông phải sống trong cảnh mù lòa Trong thời gian chữa bệnh, Nguyễn Đình Chiểu đã học thêm nghề thuốc cốt để chữa bệnh, cứu người

Gặp cảnh bất hạnh: mất mẹ, mù mắt, hôn thê bội ước, cảnh nhà sa sút ông đóng cửa chịu tang Đến năm 1851, mãn tang mẹ, ông mở trường dạy học, làm thuốc và cả

Trang 20

sáng tác Nguyễn Đình Chiểu được các học trò rất mến mộ, mọi người yêu quý Cũng

vì lẽ đó mà Nguyễn Đình Chiểu được nhân dân gọi một cách thân mật là Đồ Chiểu Năm 1854, một người học trò tên là Lê Tăng Quýnh vì cảm phục và mến thương ông, nên đã xin gia đình gả cô em gái thứ năm của mình tên là Lê Thị Điền (1835 - 1886), người người làng Thanh Ba, huyện Phước Lộc, quận Cần Giuộc, tỉnh Gia Định (Long An) cho Nguyễn Đình Chiểu

Kể từ đó, gần chục năm sau, ngoài đôi việc trên ông còn sáng tác truyện thơ Lục Vân Tiên và Dương Từ - Hà Mậu, để gửi gắm tình ý cùng hoài bão của mình

Ngày 17/2/1859, Pháp chiếm thành Gia Định Ông cùng gia đình chạy về quê vợ

ở Cần Giuộc Cũng tại nơi đây, ông đã sáng tác Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

Sau hàng ước 5/6/1982 do Phan Thanh Giản, Lâm Duy Hiệp ký giao ba tỉnh miền Đông cho giặc Pháp Nguyễn Đình Chiểu cùng gia đình xuôi thuyền về làng An Đức, tổng Bảo An, tỉnh Vĩnh Long (nay là huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre) Ông tiếp tục dạy học, bốc thuốc Nguyễn Đình Chiểu vẫn giữ mối liên hệ với những sĩ phu yêu nước như Phan Văn Trị, Nguyễn Thông và các lực lượng kháng chiến; từ chối trước mọi cám dỗ của giặc Thời gian này, Nguyễn ông sáng tác nhiều thơ văn bi tráng nhất, tiếc thương những đồng bào, bạn bè, nghĩa sĩ đã mất

Nguyễn Đình Chiểu rất khâm phục tinh thần chống Pháp của vua Hàm Nghi Tin vua Hàm Nghi bị giặc Pháp bắt làm cho ông đau buồn vô hạn, cùng với căn bệnh đã mang bấy lâu nay, càng làm cho sức khoẻ Nguyễn Đình Chiểu suy yếu nghiêm trọng Ngày 3/7/1888, ông đã từ biệt cõi đời tại Ba Tri Nhân dân Bến Tre đã lập đền thờ để ghi nhận những đóng góp của Nguyễn Đình Chiểu trong sự nghiệp đấu tranh của dân tộc và những cống hiến cho nền văn học nước nhà

1.2 Sự nghiệp văn chương:

“Ngôi sao Nguyễn Đình Chiểu, một nhà thơ lớn của nước ta, đáng lẽ phải sáng

tỏ hơn nữa trên bầu trời văn nghệ của dân tộc, nhất là trong lúc này Trên trời có những vì sao, nhưng con mắt của chúng ta phải chăm chú nhìn thì mới thấy, và càng nhìn thì càng thấy sáng” “Ngôi sao” mà Phạm Văn Đồng đánh giá cao đó cũng là

niềm tự hào cho dân tộc Việt Nam Nguyễn Đình Chiểu đã biến trang viết của mình

Trang 21

thành vũ khí tấn công trực diện vào kẻ thù Một nhà nho tài năng, một chiến sĩ kiên cường:

“Thà đuôi mà giữ đạo nhà

Còn hơn sáng mắt cha ông không thờ”

Không biết mệt mỏi trên mật trận văn hóa dân tộc, trọn đời đấu và hy sinh vì nghĩa lớn

Sự nghiệp văn chương của Nguyễn Đình Chiểu có thể chia thành thời kỳ sáng tác tương ứng với hai giai đoạn hình thành và phát triển trong tư tưởng của ông

1.2.1 Giai đoạn đầu những năm 50 của thế kỷ XIX

Nguyễn Đình Chiểu vừa làm thuốc vừa dạy học, ông cũng bắt tay vào sáng tác

Giai đoạn này, ông sáng tác được hai tác phẩm Lục Vân Tiên truyện, Dương Từ - Hà

Mậu Đây là hai tác phẩm đánh dấu sự tiến triển về tư tưởng yêu nước, tư tưởng nhân

nghĩa của Nguyễn Đình Chiểu

 Lục Vân Tiên truyện là một tác phẩm thơ Nôm đầu tay của Nguyễn Đình

Chiểu Tác phẩm phản ánh tất cả những mối quan hệ trong gia đình và xã hội lúc bấy giờ Thông qua những nhân vật lý tưởng như: Lục Vân Tiên, Kiều Nguyệt Nga, tiểu đồng, ông Ngư, ông Tiều,….Nguyễn Đình Chiểu muốn khẳng định nhân – nghĩa là

“ngọn đuốc” soi sáng cho con người tìm đến hạnh phúc Người tốt sẽ gặp may mắn, có

“quới nhân” giúp đỡ, kẻ gian phải chịu những hình phạt thích đáng Triết lý nhân sinh được khẳng định

Lục Vân Tiên truyện là một tác phẩm chiến đấu mạnh mẽ, chiến đấu của những

con người đứng về phía nhân dân mà đấu tranh để thực hiện lý tưởng, hoài bão nhân nghĩa công bằng của nhân dân Đồng thời, tác phẩm cũng có tính chất giáo dục mạnh

mẽ

 Tác phẩm thứ hai là Dương Từ - Hà Mậu Tác phẩm được sáng tác khoảng

1851 và hoàn chỉnh những năm trước khi thành Gia Định rơi vào tay giặc, là khoảng thời gian tác giả dạy học, làm thuốc và cũng đóng góp sức mình vào những trang viết Tác phẩm là sự hiện diện của một con người thà chết nhất quyết không là tay sai cho giặc

Trang 22

Trong cảnh “dưa chia khăn xé” của đất nước, thực dân Pháp liên tục tìm cách xâm chiếm nước ta Chúng đã lợi dụng Hội truyền giáo để dò la, thám thính tình tình của nước ta và chia rẽ hàng ngũ đấu tranh của nhân dân ta Ngoài ra, kẻ thù còn mê hoặc nhân dân bằng tôn giáo để tạo ra một thế đối lập, xúi giục các hành động cuồng tính “tử vì đạo” để “bảo vệ công giáo” cho các cuộc viễn chinh xâm lược

Mục đích của việc truyền đạo ngày càng lộ rõ Năm 1825, thực dân Pháp đã đưa tàu Thestis đến Đà Nẵng và để lại một thừa sai là Rogerot để giảng đạo Cộng thêm vào đó là vụ nổi loạn của Lê Văn Khôi Triều đình Huế nhận ra ý đồ của chúng và hạ lệnh cấm đạo ngay tức khắc

Năm 1847, thực dân Pháp chính thức gây hấn, lấy cớ Thiệu Trị cấm đạo thực dân Pháp tấn công vào Đà Nẵng Hơn ai hết, Nguyễn Đình Chiểu nhìn thấy rõ những thủ

đoạn của thực dân Pháp và đã sáng tác Dương Từ - Hà Mậu để bày tỏ nỗi đau đớn,

ngọn lửa căm hờn trong ông và vạch trần chiêu bài lợi dụng tôn giáo xâm lược nước ta của kẻ thù Nguyễn Đình Chiểu đã vạch ra được nhiệm vụ quan trọng của cả dân tộc là chống lại sự tấn công của bọn thực dân Muốn thực hiện tốt nhiệm vụ này đòi hỏi phải

có nền tảng tư tưởng vững chắc để đấu tranh triệt để với bọn thực dân

Qua Dương Từ - Hà Mậu, Nguyễn Đình Chiểu muốn khẳng định đạo có ở trong

mỗi người, trong từng việc làm hành động chứ không phải ở chỗ sùng bái một hình tượng nào đó Đạo theo quan niệm của Nguyễn Đình Chiểu là một hành động thực tế, mỗi người phải lo “tu dưỡng” bản thân phù hợp với truyền thống đạo đức của dân tộc

Từ đó, giúp dân giúp nước chống lại bọn ngoại xâm và quan trọng hơn là đánh bại được tư tưởng nhu nhược của một số người sùng bái thế giới thần linh

Dương Từ - Hà Mậu đã thể hiện đầy đủ tinh thần yêu nước và căm thù giặc sâu

sắc của tác giả Đây cũng là một đóng góp to lớn trong phong trào đấu tranh chống lại bọn thực dân xâm lược của cả dân tộc

1.2.2 Giai đoạn sau những năm 60 – 70 của thế kỷ XIX

Mở đầu từ những ngày giặc Pháp mới tràn vào sông Bến Nghé cho đến khi toàn cõi Lục tỉnh Nam kỳ bị chiếm đóng Các sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu trong giai đoạn này mang đậm tinh thần yêu nước, yêu dân tộc và mang đầy chất nhân văn

Trang 23

 Tác phẩm đầu tiên cho giai đoạn này là Ngư tiều y thuật vấn đáp Tác phẩm

chủ yếu nói về các phương thuốc và nghề làm thuốc nhưng tràn đầy tinh thần yêu nước

 Ngoài ra, Nguyễn Đình Chiểu còn sáng tác các thể loại thơ Ðường luật, các bài hịch, văn tế… tiêu biểu Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (1861), Mười hai bài thơ và bài văn tế Trương Ðịnh (1864), Mười bài thơ điếu Phan Tòng (1868), Văn tế nghĩa sĩ trận vong lục tỉnh (1874), Hịch kêu gọi nghĩa binh đánh Tây, Hịch đánh chuột chưa xác định thời điểm sáng tác,… Những sáng tác này đã tạo nên một mảng khá quan trọng

và tiêu biểu trong mảng đề tài chống ngoại xâm của Nguyễn Đình Chiểu

Với những tác phẩm giàu tính chiến đấu của mình, Nguyễn Ðình Chiểu trở thành người có ảnh hưởng lớn trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm trên “mặt trận” văn hóa Bọn thực dân nhiều lần tìm cách mua chuộc ông nhưng ông vẫn một mực từ chối tiền tài danh vọng mà bọn giặc đem đến cho ông

Cuộc đời và sự nghiệp văn học của nhà thơ “thà đuôi mà giữ đạo nhà” là một bài học lớn về lòng yêu nước, về việc sử dụng ngòi bút như một vũ khí đấu tranh sắc bén

để chống lại kẻ thù Tấm gương Nguyễn Ðình Chiểu theo thời gian vẫn không mờ đi chút nào

1.3 Đóng góp của Nguyễn Đình Chiểu cho sự phát triển của thơ chữ Nôm

Trong suốt thời gian tồn tại, chữ Nôm là chữ viết ghi lại tiếng nói của người Việt, ghi lại lịch sử, văn hóa của dân tộc Việt nam, đáp ứng đòi hỏi của việc trực tiếp ghi chép, diễn đạt lời ăn tiếng nói, phản ánh tâm tư, suy nghĩ, tư tưởng và tình cảm của bản thân người Việt Sự hình thành và phát triển của chữ Nôm, xét cho cùng vẫn mang đậm tính thuần Việt, nó đi lên từ đòi hỏi của đời sống và từ sâu thẳm của bản sắc văn hóa Việt đã được tạo dựng ngàn năm và được dân tộc Việt Nam chấp nhận trong nền văn hóa của mình Nói như Giáo sư sử học Trần Quốc Vượng: chữ Nôm ra đời chính

là một phương thức hóa giải bài toán “Hán hoá và giải Hán hoá,một thế lưỡng phân

lịch sử, một mâu thuẫn cực kỳ cơ bản của xã hội và văn hoá Việt Nam” của ông cha ta

xưa Chữ Nôm đã khẳng định tinh thần dân tộc của người Việt chống lại xu hướng Hán hóa của người phương Bắc

Nguyễn Đình Chiểu là một nhà thơ có tinh thần yêu nước, yêu tất cả những nét văn hóa của dân tộc và là một trong những nhà thơ Nam Bộ đầu tiên dùng chữ Nôm

Trang 24

làm phương tiện sáng tác chủ yếu Tuy Nguyễn Đình Chiểu không là người sáng tạo ra chữ Nôm nhưng ông đã có công trong việc lưu giữ, phát huy nét trong sáng của Tiếng Việt Nguyễn Đình Chiểu đã chắp cánh cho nền văn học nghệ thuật Việt Nam, tạo nên một nền văn học Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc, điều mà chữ Hán trên đất Việt không hề có được

Sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu đã góp phần bồi đắp tâm hồn dân tộc, nâng vị trí của văn học miền Nam lên ngang tầm văn học cả nước Ông là người kết thúc một cách rực rỡ văn học của giai đoạn trước đó và mở đầu cho dòng văn chương yêu nước chống xâm lược

2 Tác phẩm Lục Vân Tiên truyện

2.1 Xuất xứ

Lục Vân Tiên truyện của Nguyễn Đình Chiểu là tác phẩm lớn trong nền văn học

dân tộc được phổ biến sâu rộng trong nhân dân, cũng là tác phẩm có nhiều cuộc tranh luận về lịch sử sáng tác và quá trình in ấn khá độc đáo, phức tạp: một tác phẩm, một cốt truyện của cùng một tác giả mà có hai dạng văn bản tiêu biểu của cả hai miền Nam – Bắc Ngoài ra, số câu và chữ trong tác phẩm cũng có nhiều sự khác biệt không thống nhất với nhau

Nhiều nhà nghiên cứu hiện nay cho rằng phẩm Lục Vân Tiên truyện được sáng

tác khoảng năm 1850 trở đi Lúc Nguyễn Đình Chiểu lâm vào cảnh mù lòa và mở trường dạy học ở Gia Định

Lục Vân Tiên truyện là một tác phẩm được người dân miền Nam thuộc nằm lòng

thậm chí có người có thể đọc xuôi, đọc ngược mà không bị vấp Lý do để tác phẩm có thể tồn tại lâu đời và rộng rãi như vậy không chỉ đơn thuần là do tài năng văn chương của Nguyễn Đình Chiểu mà chính yếu là do sự trải nghiệm, lòng yêu thương con người (những con người nghèo khổ bị áp bức trong xã hội) Tác phẩm là cả sự trải nghiệm cuộc đời của Nguyễn Đình Chiểu từ cuộc đời mình mà ông đã sáng tác nên tác phẩm mang tầm tư tưởng cao lớn

Cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu luôn gắn với những đau khổ mất mát, chính trong giai đoạn tưởng chừng như vinh quang nhất nào ngờ đột ngột rơi vào vực thẩm, bế tắt

Trang 25

Từ khi lên đường đi thi, cuộc đời của Nguyễn Đình Chiểu như chuyển sang một bước ngoặt mới, tốt đẹp hơn Nào ngờ, ông nhận được tin mẹ mất, đành phải bỏ việc thi cử về quê chịu tang mẹ Cùng lúc đó ông bị gia đình nhà giàu lúc trước hứa gả con gái cho từ hôn, chỉ vì biết được ông bị mù, cộng với việc ông bỏ thi Tất cả những sự tối tăm của cuộc đời đã đến với Nguyễn Đình Chiểu Đó là yếu tố quan trọng nhất cho việc ra đời tác phẩm Lục Vân Tiên truyện của Nguyễn Đình Chiểu

2.2 Tóm tắt tác phẩm

Lục Vân Tiên truyện có kết cấu theo mô típ thông thường của thể loại truyện

thơ Nôm lúc bấy giờ Truyện được chia làm hai tuyến nhân vật thiện – ác rõ rệt và được tác giả dựa trên quan niệm dân gian - “gieo nhân nào, gặt quả ấy”, “ở hiền gặp lành” Cốt truyện có chất tự thuật về cuộc đời riêng của tác giả, xong đó cũng chính là những mơ ước, lý tưởng của tác giả về một xã hội công bằng, hướng đến một xã hội tốt đẹp hơn Qua tác phẩm, chúng ta còn thấy được toàn cảnh sinh hoạt của con người Nam Bộ, những con người chung sống với nhau đậm nghĩa tình

Truyện bắt đầu với nhân vật chính là Lục Vân Tiên Vốn là chàng trai hiền lành, thông minh, văn võ toàn tài, Lục Vân Tiên quyết chí học hành mong ngày đỗđạt Sau bao nhiêu năm theo thầy miệt mài đèn sách, cuối cùng, khoa thi đã đến, Lục Vân Tiên từ giã thầy để lên kinh ứng thí

Trên đường về thăm lại cha mẹ để chuẩn bị đi thi, chàng gặp phải bọn cướp

“Thấy chuyện bất bình rút đao tương trợ” vốn là đạo học của sĩ tử nên Lục Vân Tiên

đã không ngần ngại “bẻ” cây làm gậy xông vào phá tan bọn cướp hung hăng để cứu con quan Tri phủ là Kiều Nguyệt Nga Làm việc nghĩa chủ yếu để cứu người còn chuyện trả ơn thì Vân Tiên không màng nên khi Nguyệt Nga đề cặp đến chuyện trả ơn thì Vân Tiên phớt lờ không nhận và từ giả Nguyệt Nga Trên đường về Vân Tiên gặp

và kết bạn với Hớn Minh và hẹn sẽ gặp lại ở trường thi Về đến nhà để thăm cha, mẹ Vân Tiên liền cùng tiểu đồng lên đường tới trường thi Theo lời dặn dò của cha mẹ, Vân Tiên ghé Hàn Giang để thăm gia đình Võ Công, người đã hứa gả con gái là Võ Thể Loan cho Vân Tiên Thấy Vân Tiên khôi ngô tuấn tú Võ Công rất ưng ý, khi chàng ra đi Võ Công đã cho con gái mình đích thân đưa tiễn Tại đây, Vân Tiên lại làm quen với Vương Tử Trực Vân Tiên cùng Tử Trực lên kinh đô, họ hội ngộ với

Trang 26

Trịnh Hâm, Bùi Kiệm Cả bốn người vào quán uống rượu, làm thơ Thấy Vân Tiên, Tử Trực tài cao, hơn nữa được sự khen ngợi của ông quán, Trịnh Hâm sinh lòng đố kỵ Đúng ngày thi, Vân Tiên nhận được tin mẹ mất, vội vàng bỏ thi về chịu tang mẹ Đường thì xa, lại thêm phần khóc mẹ, Vân Tiên bị đau mắt Bên cạnh chàng là một tiểu đồng hết sức trung thành, đêm ngày chạy chữa thuốc thang tìm đến hết thầy lang, thầy bói rồi lại thầy pháp nhưng vì lao tâm quá sức nên Vân Tiên đã bị mù cả hai mắt Tính tình vốn của kẻ tiểu nhân nên sau khi đi thi về lại gặp Vân Tiên trong cảnh mù lòa, Trịnh Hâm đã dụ tiểu đồng vào rừng hái thuốc và trói ở đó Riêng phần Vân Tiên, hắn giả vờ tốt bụng đưa về nhà nhưng đến giữa sông thì đẩy Vân Tiên xuống sông Tiểu đồng được sự giúp đỡ của Sơn quân nên thoát chết, tưởng chủ đã chết, tiểu đồng

“che chòi giữ mã”, thờ phụng sớm hôm Vân Tiên thì tốt số nên được Giao long đưa vào bờ và được Ngư ông vớt lên cứu chữa

Vân Tiên nhờ Ngư ông đưa về nhà Võ Công nương nhờ nhưng cha con họ Võ thấy Vân Tiên không còn gì nên hất hủi, đưa chàng vào núi Thương Tòng May mắn, chàng được ông Tiều cho ăn, cõng ra khỏi rừng Lúc này, Vân Tiên gặp lại Hớn Minh đang lẫn trốn trong rừng vì tội dám “bẻ giò” con quan để cứu một cô gái bị cưỡng bức Hai người cùng dìu nhau về ngôi chùa cổ trong rừng nương náu

Cha con Võ Công tham danh vọng nên khi nghe Tử Trực đỗ thủ khoa liền có ý bắt Tử Trực làm rể Tử Trực là người trọng nghĩa khí nên đã từ chối và mắng cha con

Võ Công làm cho hắn hổ thẹn, uất ngẹn sinh bệnh mà chết

Còn về Kiều Nguyệt Nga, sau lần gặp gỡ Vân Tiên nàng đã dành trọn tình yêu cho Vân Tiên và xem Vân Tiên như chồng mình Nghe tin Vân Tiên chết, nàng thề sẽ

“thủ tiết thờ chồng” Chính vì mối tình với Vân Tiên nên nàng đã từ chối lời cầu hôn của con quan Thái sư Nguyệt Nga phải trả giá lời từ hôn bằng việc nàng phải làm vật cống nạp cho giặc Ô Qua Nguyệt Nga lên thuyền đi khi đã làm tròn bổn phận “dâu con” với gia đình Vân Tiên, đến nơi nàng gieo mình xuống biển để tự vẫn cùng bức họa của Vân Tiên Quan quân phải bắt cô hầu gái – Kim Liên thế vào Khi tự vẫn, nguyệt nga được Phật Quan Âm đưa vào vườn nhà Bùi ông Tại đây, nàng được Bùi ông nhận làm con nuôi và phải giả vờ chấp nhận lời cầu hôn của Bùi Kiệm Nàng tìm mọi cách trốn khỏi nhà Bùi ông Trốn vào rừng nàng được sự giúp đỡ của bà lão dệt vải

Trang 27

Trở lại với Vân Tiên, sau khi chàng gặp Hớn Minh và được Tiên ông cho thuốc chữa lành đôi mắt Chàng từ biệt Hớn Minh về quê thăm cha, viếng mộ mẹ Biết chuyện Kiều Nguyệt Nga Vân Tiên rất cảm động, chàng đến thăm Kiều Công Vân Tiên ở lại đây dùi mài kinh sử để chuẩn bị cho khoa thi tiếp theo Trời không phụ lòng người, cuối cùng Vân Tiên cũng đỗ Trạng nguyên Được vua xem trọng nên chàng đã quyết dóc hết công sức để trả ơn, Vân Tiên đã nhận nhiệm vụ đánh đưởi giặc Ô Qua, chàng tiến cử Hớn minh làm phó tướng Trong khi đánh trận, Vân Tiên đã lạc vào rừng và gặp lại Nguyệt Nga Thắng trận trở về, Vân Tiên thưa mọi chuyện với Sở vương Sở vương liền cách chức Thái sư, phong cho Nguyệt Nga làm Quận chúa, phục chức cho Kiều công, ban thưởng cho những người có công đánh giặc Ô Qua cứu nước Đối với những kẻ bạc ác, bất nhân như mẹ con Võ Thể Loan, Trịnh Hâm gieo nhân nào thì gặt quả ấy, chúng đều gánh lãnh hậu quả

Riêng đối với những người trung thành, có nghĩa như Tiểu đồng, Ngư ông, Tiều phu đều được đền ơn xứng đáng Vân Tiên và Nguyệt Nga trãi bao gian truân sóng gió cũng đã đến được với nhau và có cuộc sống rất hạnh phúc

2.3 Các bản khắc Nôm của Lục Vân Tiên truyện

Do Lục Vân Tiên truyện được Nguyễn Đình Chiểu sáng tác và lưu truyền rộng

rãi trong nhân dân Nam kỳ Lục tỉnh với nhiều hình thức khác Người biết chữ thì chép tay, người không biết chữ thì nghe và truyền miệng nhau Chính vì những lý do trên

mà tác phẩm chưa có sự thống nhất giữa các giai đoạn Đây cũng là niềm lo lắng đối với những nhà nghiên cứu, nếu cứ tiếp tục để tác phẩm lưu truyền trong dân gian mà không có một văn bản chính thống thì có nguy cơ mất đi bản gốc của tác giả Để lưu giữ được bản chính, các nhà nghiên cứu đã tiến hành tìm hiểu, thu thập, đánh giá, chọn lọc lại những yếu tố phù hợp

 Mở đầu là Duy Minh thị, ông đã tiến hành thu thập các bản Lục Vân Tiên

truyện khác nhau, đính chính lại và cho khắc in tại Trung Quốc Tác phẩm không đề

năm xuất bản nhưng chắc chắn là năm 1864 (vì năm 1865 bản này được in lại ở Chợ Lớn, do hiệu sách Quảng Thạnh Nam xuất bản) Khổ sách 13,5cm x 20cm 46 tờ a - b,

2176 câu, chép 12 hàng, trên câu lục dưới câu bát Bìa sách ghi: Lục Vân Tiên truyện – Thuyền phúc lộc đại nhai, Bửu hoa các phát hành Trang bên trong ghi: Lục Vân Tiên truyện – Gia Định thành Duy Minh thị đính chính – Phật Sơn Bửu Hoa Các tàng

Trang 28

bản Nhà in ở Trung Quốc sử dụng toàn in bằng chữ Hán còn chữ Trung Quốc thì không được in nên khi in chữ Nôm họ đã khắc in sai nhiều lỗi, đặc biệt là những chữ thuần Nôm Ngoài ra, còn có một số vấn đề sai sót trong cấu tạo hình thanh, bản này

có nhiều cách viết lạ, biểu hiện xu thế cụ thể hóa, quy phạm hóa chữ Nôm rất rõ Trong bản của Duy Minh thị, có một số điểm cần rút ra:

Do có nhiều thiếu sót trên nên trong quá trình nghiên cứu sau này ít nhà nghiên cứu khảo sát chỉ có Khuông Việt là người duy nhất dựa vào bản này khảo sát Có chi tiết Lục Vân Tiên thành danh trở về tạ ơn thầy, ông Quán và còn cả chi tiết Lục Vân Tiên được vua Sở nhường ngôi để vào chùa tu mà tất cả những bản khác không có

Trước khi Duy Minh thị cho in Lục Vân Tiên truyện, ông đã từng làm kinh lịch cho

Pháp Đến khi phát hành, in ấn cũng chịu sự kiểm soát của Tôn Thọ Tường Có lẽ, do tác động của những yếu tố trên nên bản khắc in của Duy Minh thị không được phổ biến

 Bản của Ôbarê:

Lục Vân Tiên truyện được in thành sách không bao lâu sau thì Ôbarê dịch sang

tiếng Pháp 1864 Ông nguyên là sĩ quan quân đội viễn chinh Pháp xâm lược Nam bộ,

do quá say mê tác phẩm nên ông đã dốc công sức vào việc dịch tác phẩm sang tiếng Pháp

Ôbarê đã thu thập những bản viết tay bằng chữ Nôm rời rạc trong quần chúng sau đó

cho in trong tập Kỷ yếu châu Á Do tác phẩm được sưu tầm từ nhiều nguồn trong dân

gian và được tác giả sắp xếp theo ý kiến chủ quan nên độ chính xác chưa cao Ôbarê

cũng đã thừa nhận “Truyện thơ này, hay nói đúng hơn truyện truyền thuyết này, đã

được sáng tác bằng tiếng nói bình dân, chưa bao giờ được in thành bản Tác phẩm đã được lưu truyền đến ngày nay với những đoạn chép tay bằng thứ chữ riêng Chúng tôi

đã phải nhờ một số lớn người bản xứ để thu thập năm hay sáu bản chép tay ấy mà chúng tôi đã sử dụng để dựng lại câu chuyện cho tương đối có đầu có đuôi và nhất quán” Chính gì những yếu tố trên mà văn bản do Ôbarê tạo ra hiện nay không được

lưu truyền trong nước

 Bản của Jannô:

Đây là bản Lục Vân Tiên truyện được viết bằng chữ Quốc ngữ đầu tiên được in

ở Sài Gòn vào giữa 1867, là bản được phổ biến sâu rộng hơn cả ở Nam bộ Do là

Trang 29

người nước ngoài, nên khi ông tìm hiểu về Lục Vân Tiên truyện còn gặp nhiều khó

khăn về mặt ngôn ngữ, hơn nữa một số tài liệu vè tác phẩm này còn ít và không rỏ ràng

Sau khi bản Lục Vân Tiên truyện của Jannô xuất bản, các nhà nghiên cứu đã

nhận xét bản này còn nhiều sai sót Văn bản có nhiều chữ viết sai, nhầm lẫn trong khi phiên âm nên có nhiều câu rất tối nghĩa, lại có một số câu mất hẳn Nhưng vì đây là

bản Lục Vân Tiên truyện bằng Quốc ngữ đầu tiên nên đã có nhiều tác dụng tích cực trong việc phổ biến và ổn định bước đầu trong văn bản Lục Vân Tiên truyện

 Bản của Aben de Misen:

Lục Vân Tiên truyện được Aben đề Misen biên soạn lại và được giới thiệu đầu

tiên trong Những truyện thơ của nước An Nam Do đối tượng chủ yếu của Aben đề

Misen là những nhà đông phương học nước Pháp nên ngôn ngữ được dùng trong tác phẩm có xu hướng bác học hóa, làm mất đi màu sắc phong cách dân gian, lối kể, lối nói tự nhiên trong tác phẩm Các thể tiểu đối trong một câu, bình đối trong một đoạn của văn chương bác học thường được vận dụng để sửa chữa lại ích nhiều trong hầu hết mọi câu như ông đã nói

Bản này có ưu điểm là góp phần vào việc ổn định và hoàn chỉnh dần văn bản Bên cạnh đó, cũng có những nhược điểm dễ thấy trong cách tổ chức ngôn ngữ nói chung Chữ viết phần lớn được viết theo cách phát âm của Nam bộ với quy cách giản đơn, nghĩa là phần hình thanh không rõ, không cụ thể nên cách viết cũng không thống nhất Ngoài ra, cũng có nhiều chữ viết sai

Nhìn chung, bản này có một số khuyết điểm nhưng tác phẩm là một trong

những bản Nôm đầu tiên nên có thể tham khảo khi nghiên cứu về Lục Vân Tiên truyện

Trên đây là một số bản tồn tại khi Nguyễn Đình Chiểu còn sống Nhưng khi ông qua đời thì có khá nhiều nhà nghiên cứu văn học của Việt Nam nghiên cứu và biên soạn lại Cơ bản tồn tại ở hai miền biên soạn chính

Các bản được biên soạn và in ấn ở miền Nam

 Bản của Trương Vĩnh Ký:

Xuất bản ở Sài Gòn 1889 Bản của Trương Vĩnh Ký là một trong những bản in sớm nhất do người Việt Nam sưu tầm và chỉnh lý Trương Vĩnh Ký là người cùng thời

Ngày đăng: 02/04/2018, 05:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w