1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÌM HIỂU tác tử THÌ, mà, là TRONG TIỂU THUYẾT vỡ đê của vũ TRỌNG PHỤNG

83 206 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 790,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong công trình này, tác giả còn trình bày đếncách dùng cũng như là chức năng của hai yếu tố chuyên dùng đánh dấu và phân giới đề -thuyết, trong đó ông đã đề cập đến những trường hợp bắ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT

   PHẦN 1: MỞ ĐẦU

CÚ PHÁP CƠ BẢN CỦA CÂU TIẾNG VIỆT THEO QUAN NIỆM CHỨC NĂNG LUẬN

1.1 Khái niệm về đề và thuyết

1.7 Các yếu tố chuyên dùng phân giới và đánh dấu đề - thuyết

1.7.1 Một số hiểu biết chung

1.8.1.1 Khái niệm về đề tình thái

1.8.1.2 Đề tình thái được đánh dấu bằng thì

1.8.1.3 Đề tình thái được đánh dấu bằng là

1.8.1.4 Đề tình thái được đánh dấu bằng mà

Trang 3

1.8.2 Thuyết tình thái

1.8.2.1 Khái niệm

1.8.2.2 Thuyết tình thái được đánh dấu bằng thì

1.8.2.3 Thuyết tình thái đánh dấu bằng là

CHƯƠNG 2

KHẢO SÁT TÁC TỬ THÌ, MÀ, LÀ TRONG VỠ ĐÊ CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG

2.1 Giới thiệu tác phẩm, văn bản khảo sát và giới hạn ngữ liệu

2.2 Thống kê, phân loại và phân tích ba tác tử thì, mà, là trong Vỡ đê của Vũ Trọng

Phụng

2.2.1 Thống kê và phân loại sự xuất hiện của các tác tử trong tác phẩm Vỡ đê

2.2.2 Phân tích một số câu có chứa tác tử thì, mà, là trong tác phẩm Vỡ đê

2.2.3.1 Tác tử thì

2.2.3.2 Tác tử là

2.2.3.3 Tác tử mà

2.2.3.4 Thì, mà, là phân giới đề - thuyết

2.2.3.5 Thì, mà phân giới đề - thuyết

2.2.3.6 Thì, là phân giới đề - thuyết

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian được học tập trên giảng đường đại học, người viết đã được tiếpthu rất nhiều kiến thức quý báu từ thầy cô Luận văn tốt nghiệp là công trình nghiên cứucủa sinh viên năm cuối, để đánh giá quá trình học tập và tiếp thu kiến thức của sinh viên

Để thực hiện được công trình nghiên cứu này, đòi hỏi phải có sự nỗ lực, tìm tòi và sángtạo của sinh viên Trên trang viết đầu tiên này, người viết xin được chân thành cảm ơnthầy Chim Văn Bé - người trực tiếp hướng dẫn và đã tận tình giúp đỡ để người viết hoànthành luận văn này Đồng thời, người viết cũng xin được cảm ơn đến tất cả quý thầy côtrong bộ môn Ngữ Văn - Khoa Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn, cùng quý thầy cô bộ môn

Sư phạm Ngữ Văn - Khoa Sư Phạm, những người đã dìu dắt, truyền đạt những kiến thức

bổ ích để người viết có được mọi điều kiện thuận lợi nhất khi thực hiện luận văn Xin cảm

ơn quý thầy cô trong Trung tâm học liệu, Thư viện Khoa Sư Phạm đã giúp đỡ trong suốtquá trình sưu tầm và nghiên cứu tài liệu Người viết cũng xin gửi lời cảm ơn đến các anhchị của Thư viện Thành phố Cần Thơ đã cung cấp tài liệu cần thiết cho quá trình nghiêncứu Sau cùng, xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, những người thân yêu và bạn bè xungquanh đã động viên, chia sẻ và luôn đứng sau ủng hộ để tiếp thêm nhiệt thành cho ngườiviết hoàn thành luận văn này

Do khả năng hiểu biết kiến thức còn hạn chế và trong quá trình tìm hiểu, sưu tầm tàiliệu còn gặp nhiều khó khăn nên khi luận văn này hoàn thành vẫn không tránh khỏi nhữnghạn chế và thiếu sót nhất định Vì vậy, người viết rất mong nhận được sự thông cảm củaquý thầy cô Bên cạnh đó, người viết cũng rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến từthầy cô và các bạn sinh viên để luận văn này được hoàn chỉnh hơn

Trân trọng cảm ơn!

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trang 6

Ngôn ngữ nói chung và tiếng Việt nói riêng bao gồm các bình diện: cú pháp, nghĩahọc, dụng pháp… Trong đó, cú pháp luôn giữ một vai trò rất quan trọng Do đó, việcnghiên cứu cú pháp tiếng Việt đã thu hút được sự quan tâm của các nhà ngôn ngữ trongnước và ngoài nước Ở đây, người viết mong muốn đóng góp một phần nhỏ những hiểubiết của mình để có thể làm sáng tỏ phần nào những vấn đề của ngữ pháp tiếng Việt nói

chung và có thể “giải nỗi oan” cho ba tác tử thì, mà, là nói riêng Vì trong đời sống hằng

ngày, khi giao tiếp với nhau, chúng ta thường không để ý đến tác dụng của ba tác tử nàynên việc vận dụng đôi khi không hợp lí, nếu không nói là tùy tiện, và nhiều lúc ta còndùng sai chức năng của chúng Chính vì lẽ đó mà người viết mong muốn triển khai nghiên

cứu cách dùng và chức năng của ba tác tử này để từ đó có thể phần nào “giải nỗi oan” cho ba yếu tố thì, mà, là đồng thời giữ được sự trong sáng khi sử dụng tiếng Việt Và

quan trọng hơn là tìm hiểu cách dùng cụ thể của ba tác tử trong một tác phẩm văn học để

ta có thể thấy rõ hơn những cách dùng và tác dụng cũng như là thực trạng sử dụng củachúng Vì hơn ai hết, nhà văn là đối tượng sử dụng ngôn từ tương đối chuẩn hơn so vớinhững đối tượng khác Do đó, người viết đã tìm đến với tác phẩm của nhà văn Vũ Trọng

Phụng, người được mệnh danh là “ông vua phóng sự đất Bắc” trong thập niên 30 của thế

kỉ XX

2 Lịch sử vấn đề

Trong những thập niên gần đây, việc nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt nói chung và

ba tác tử thì, mà, là nói riêng theo quan niệm chức năng luận đã và đang được nhiều nhà

ngôn ngữ tập trung tìm hiểu, lí giải và đã cho kết quả rất khả quan Sau đây, người viếtxin điểm qua các công trình nghiên cứu đã được công bố để chúng ta có cái nhìn khái

quát về vấn đề nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt nói chung và ba tác tử thì, mà, là nói riêng

theo quan điểm chức năng luận

Đầu tiên, chúng ta phải kể đến công trình nghiên cứu mang tên Khảo luận về ngữ

pháp tiếng Việt của Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê (Đại học Huế, 1963) Đây là

một công trình được xem đã vượt qua giới hạn của ngữ pháp cấu trúc truyền thống để cóthể phần nào tiếp cận đến lĩnh vực nghiên cứu ngữ pháp tiếng việt theo quan niệm chứcnăng luận Và đặc biệt, trong công trình của mình thì hai tác giả đã đi sâu tìm hiểu, phântích những vấn đề liên quan đến chủ đề của câu cũng như chức năng và cách dùng của ba

Trang 7

tác tử thì, mà, là Trong đó, đáng chú ý là chức năng phân cách của tác tử thì, các cách dùng của tác tử mà và một vài cách dùng của trợ từ là trong câu Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên đã đề cập đến các chức năng của ba tác tử chuyên dùng thì, mà, là.

Đến công trình nghiên cứu của Helge J J Dyvik mang tên Subject or Topic in

Vietnamese? (University of Bergen, Norway, 1984) (Theo Chim Văn Bé, Giáo trình Ngữ pháp học chức năng: Cú pháp học) Trong công trình này, tác giả đã phân biệt chủ ngữ

với đề ngữ trong câu tiếng Việt, cũng như làm sáng tỏ chức năng của tác tử thì trong câu Theo tác giả thì yếu tố thì có chức năng trực chiếu đánh dấu phần đề khi đề có mối quan

hệ “tương phản” với các đề khác, và chức năng thứ hai của yếu tố thì là đánh dấu sự mở

đầu của phần thuyết / vị ngữ

Trong công trình nghiên cứu mang tên Tiếng Việt: Sơ khảo ngữ pháp chức năng của

Cao Xuân Hạo Tác giả đã khẳng định cấu trúc của câu tiếng Việt là dựa trên kết cấu đề thuyết, và từ đó ông đã đưa ra định nghĩa về đề và thuyết cũng như là phân loại đề và đisâu làm sáng tỏ thuộc tính cú pháp của đề Trong công trình này, tác giả còn trình bày đếncách dùng cũng như là chức năng của hai yếu tố chuyên dùng đánh dấu và phân giới đề -thuyết, trong đó ông đã đề cập đến những trường hợp bắt buộc, không bắt buộc dùng hai

-tác tử thì và là, và các trường hợp thì và là có thể thay thế cho nhau và không thể thay thế

cho nhau, hoặc cả hai có thể được kết hợp với nhau Ngoài ra, tác giả còn đề cập đến bảy

thông lệ chi phối số lượng và vị trí của hai tác tử thì và là ở trong câu Không dừng lại ở

đó, tác giả còn đề cập đến đề tình thái và thuyết tình thái được đánh dấu bằng hai tác tử

thì, là và các yếu tố khác như: mới, cũng.

Ngoài ra còn có các công trình nghiên cứu được công bố liên quan đến vấn đề này,

trong đó có bộ sách gồm hai quyển: Ngữ pháp chức năng tiếng Việt quyển 1 - câu trong

tiếng Việt phần cấu trúc, nghĩa, công dụng và Ngữ pháp chức năng tiếng Việt quyển 2

phần Ngữ đoạn và từ loại do Cao Xuân Hạo làm chủ biên Trong đó quyển 1 được xem là phần tóm tắt lại của quyển Tiếng Việt: Sơ khảo ngữ pháp chức năng mà người viết đã đề

Trang 8

định nghĩa đề và thuyết cũng như việc phân loại, trình bày các loại câu tiếng việt, xác

định thuộc tính của đề cho đến việc khái quát lại cách dùng và chức năng của ba tác tử thì,

mà, là thành ba phần: một số hiểu biết chung, các quy tắc sử dụng và cách dùng cụ thể

cho từng tác tử Bên cạnh đó, công trình này còn đề cập đến đề tình thái và thuyết tìnhthái qua các định nghĩa cũng như là việc đánh dấu đề tình thái và thuyết tình thái bằng ba

tác tử thì, mà, là và các yếu tố khác như: mới, có, cũng và tiểu cú.

Qua những công trình vừa trình bày thì ta có thể thấy tầm quan trọng của vấn đề

nghiên cứu cú pháp tiếng việt nói chung và ba tác tử thì, mà, là nói riêng theo quan niệm

chức năng luận

3 Mục đích nghiên cứu

Với đề tài “Tìm hiểu tác tử ngữ pháp thì, mà, là trong tác phẩm Vỡ đê của Vũ

Trọng Phụng” Trước hết, người viết sẽ tìm hiểu về ngữ pháp tiếng Việt nói chung và ba

tác tử thì, mà, là nói riêng theo quan niệm chức năng luận để thấy được vai trò của ba tác

tử này trong cấu trúc ngữ pháp tiếng Việt Đồng thời, người viết sẽ đi sâu nghiên cứu ba

tác tử này trong tác phẩm Vỡ đê của Vũ Trọng Phụng qua việc thống kê, phân loại, phân

tích và tổng hợp lại để từ đó làm sáng tỏ hơn chức năng và cách dùng cụ thể cũng như giá

trị biểu hiện của ba tác tử thì, mà, là trong tác phẩm.

Bên cạnh việc tập trung làm rõ các vấn đề nghiên cứu, người viết mong muốn đónggóp một phần hiểu biết của mình vào việc nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt nói chung và

ba tác tử thì, mà, là nói riêng để có thể giúp cho cách sử dụng tiếng Việt được chính xác

hơn Đồng thời, việc triển khai nghiên cứu sẽ tạo điều kiện cho người viết có thể rènluyện khả năng vận dụng những kiến thức đã học vào công tác nghiên cứu thực tiễn.Ngoài ra, nó còn giúp người viết có thể bổ sung cũng như là hiểu sâu sắc hơn những kiếnthức mới khi triển khai nghiên cứu đề tài

4 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài “Tìm hiểu tác tử ngữ pháp thì, mà, là trong tác phẩm Vỡ Đê của Vũ Trọng

Phụng”, đầu tiên người viết sẽ đề cập những cơ sở lí luận về cú pháp tiếng việt nói chung

và ba tác tử thì, mà, là nói riêng Sau đó, người viết sẽ đi sâu vào tìm hiểu các tác tử thì,

mà, là trong tác phẩm Vỡ đê của Vũ Trọng Phụng Do tác phẩm có quy mô lớn, gồm ba

phần, trong đó có hai mươi lăm chương, và số lượng câu có chứa các tác tử thì, mà, là là

Trang 9

rất nhiều nên ở đây người viết sẽ khảo sát, thống kê, phân loại và miêu tả trong ba chương

đó là chương 6, chương 7, chương 8 của phần thứ ba

5 Phương pháp nghiên cứu

Với đề tài này, người viết vận dụng nhiều phương pháp để tiến hành nghiên cứu.Đầu tiên, người viết sẽ hệ thống các tư liệu cần thiết để làm cơ sở lí luận và sau đó kếthợp các phương pháp: thống kê, phân loại, phân tích… để làm rõ những vấn đề đặt ratrong đề tài

Ngoài ra, để hoàn thành đề tài này, người viết còn trao đổi, tham khảo ý kiến từgiảng viên hướng dẫn, cũng như trao đổi ý kiến với bạn bè để tiếp thu kiến thức và tíchlũy thêm kinh nghiệm cần thiết

Trang 10

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1

Trang 11

CÚ PHÁP CƠ BẢN CỦA CÂU TIẾNG VIỆT THEO QUAN NIỆM CHỨC NĂNG LUẬN

1.1 Khái niệm về đề và thuyết

Như chúng ta đã biết, tiếng Việt là loại ngôn ngữ đơn lập, không biến hình, do đó màcác nhà ngôn ngữ đã xếp nó vào dạng ngôn ngữ thiên về đề ngữ Chính vì vậy, khi chúng

ta muốn triển khai một nhận định về sự vật hay hiện tượng trong thế giới khách quan thìbao giờ ta cũng phải lựa chọn một điểm xuất phát cho nhận định rồi mới triển khai nộidung tiếp theo của nhận định đó Trên cơ sở đó mà đã có nhiều định nghĩa về đề và thuyết

được ra đời Theo Chim Văn Bé trong công trình nghiên cứu Giáo trình ngữ pháp học

chức năng phần Cú pháp học thì đề và thuyết được định nghĩa như sau:

“Đề là thành phần trực tiếp thứ nhất của câu, nêu lên phạm vi hiệu lực của nội dung

được triển khai tiếp theo trong thành phần trực tiếp thứ hai: phần thuyết” [1; 49]

Định nghĩa này đã nêu lên được mối quan hệ qua lại giữa phần đề và phần thuyếttrong câu Đề là phần nêu lên phạm vi hiệu lực mà trong phạm vi đó phần thuyết được xáclập giá trị và phần đề thì chỉ có hiệu lực trong phần thuyết

Ví dụ: Anh ấy sắp xuống chơi đấy (NK)

Thật vậy, khi người nói triển khai nhận định này thì người nói đã chọn “Anh ấy” để

làm điểm xuất phát cho nhận định của mình mà không chọn một điểm xuất phát nào khác,

và cái điều “sắp xuống chơi đấy” chỉ có hiệu lực đối với “Anh ấy” mà thôi.

Trong công trình Tiếng Việt: Sơ khảo ngữ pháp chức năng, Cao Xuân Hạo định

nghĩa đề và thuyết như sau:

“ Đề là thành tố trực tiếp của câu, nêu rõ cái phạm vi ứng dụng của điều được nói bằng thành tố trực tiếp thứ hai: phần thuyết.” [4; 151]

Trong cả hai định nghĩa vừa nêu thì chúng ta có thể thấy đề là thành tố nêu lên phạm

vi hiệu lực hay phạm vi ứng dụng của nội dung được triển khai tiếp theo trong phầnthuyết Như vậy trong hoạt động giao tiếp, người nói có thể lựa chọn nhiều điểm xuấtphát khác nhau cho một nhận định để có thể tạo ra nhiều câu có cấu trúc cú pháp và lôgích ngôn từ không giống nhau

1.2 Phân loại đề

Trang 12

Như đã nêu, đề là phần nêu lên phạm vi hiệu lực của nội dung được triển khai tiếptheo trong phần thuyết Dựa vào đặc điểm đó mà các nhà nghiên cứu đã chia phần đề làmhai loại: ngoại đề và nội đề.

1.2.1 Ngoại đề

Ngoại đề đã được một vài tác giả đề cập đến trong các công trình nghiên cứu Theo

Chim Văn Bé, “Ngoại đề là loại đề có chức năng đưa đẩy, dẫn nhập vào sự tình được

nêu trong câu, cú chính” [1; 52] Cao Xuân Hạo giải thích như sau: “Ngoại đề là những

đề ngữ đứng ngoài cấu trúc cú pháp của câu, không có chức năng cú pháp bình thường nào trong câu” [4; 150]

Qua hai định nghĩa trên, ta có thể thấy ngoại đề là một loại thành phần nằm ngoàicấu trúc cú pháp cơ bản của câu và nó chỉ có chức năng đưa đẩy, dẫn nhập

Ví dụ: (1) Riêng Phú, chàng thấy rất đáng tự kiêu ở việc chàng bao lâu nay cứ

ngấm ngầm mà giáo hóa được bọn đàn anh trong làng, làm cho họ có một quan niệm về quốc gia, có những tư tưởng xã hội và biết rõ cái guồng máy chính trị của xứ sở (VTP)

1.2.2 Nội đề:

Theo sự thống nhất của các nhà nghiên cứu thì nội đề được chia làm hai loại nhưngcách định danh thì có những sự khác biệt Theo Chim Văn Bé, nội đề được chia làm: đềkhung và đề tài Còn Cao Xuân Hạo thì phân loại nội đề thành: khung đề và chủ đề

1.2.2.1 Đề khung

Đề khung đã được tác giả định nghĩa như sau: “Đề khung là loại đề nêu lên một

cái khung về thời gian, không gian, trạng huống, điều kiện, số lượng… mà nội dung triển khai tiếp theo trong phần thuyết có hiệu lực” [1; 53]

Trong định nghĩa này thì ta thấy đề khung bao gồm các khái niệm như thời gian,không gian, trạng huống, điều kiện và số lượng…

Ví dụ: (2) Năm nay thì đói to đấy (NC)

Như vậy ta có thể thấy đề khung ở đây là “Năm nay”, đây là cái khung về thời gian mà nội dung triển khai tiếp theo “đói to đấy” có hiệu lực.

Theo Cao Xuân Hạo định nghĩa khung đề như sau:

Trang 13

“Khung đề là phần câu nêu rõ những điều kiện làm thành cái khung về cảnh

huống, thời gian, không gian, trong đó điều được nói đến ở phần thuyết có hiệu lực” [4;

156]

Trong định nghĩa vừa nêu, ta thấy có một chỗ bất ổn là ông lại cho khái niệm

điều kiện là khái niệm bậc trên, bao hàm cảnh huống, không gian, thời gian.

1.2.2.2 Đề tài

Tương tự, đề tài cũng được tác giả định nghĩa như sau: “Đề tài là loại đề nêu lên

một đối tượng mang tính chất chủng loại, tập hợp hay cá nhân, cá thể mà phần thuyết sẽ triển khai tiếp theo” [1; 53]

Ví dụ: (3) Dung trỏ tay ra cửa (VTP)

Cao Xuân Hạo định nghĩa chủ đề như sau:

“Chủ đề là phần câu chỉ cái đối tượng được nói đến trong phần thuyết, cái chủ thể của sự nhận định” [4; 156]

Ta thấy trong cả hai định nghĩa trên đều đề cập đến đề tài là phần chỉ đối tượngđược nói đến trong phần thuyết Tuy nhiên, trong định nghĩa thứ nhất thì đối tượng được

đề cập cụ thể hơn, đó là đối tượng mang tính chất chủng loại, tập hợp hay cá nhân, cá

thể, còn định nghĩa thứ hai thì chỉ đề cập đến đối tượng một cách chung chung.

1.3 Hiện tượng ghép

Theo Chim Văn Bé thì câu tiếng Việt có thể mở rộng cấu trúc theo quan hệ ngữđoạn, kết quả thu được là những câu có nhiều đề, nhiều thuyết, hay nhiều cấu trúc đề -thuyết được ghép lại với nhau bằng kết từ hoặc bằng trật tự tuyến tính

Ví dụ: (4) Nguyệt nhìn vết thương, cười (NMC)

đt t1 t2Đây là một câu có hai phần thuyết được ghép lại với nhau bằng trật tự tuyến tính

(5) Hắn tủm tỉm cười nụ một mình và hai mắt thì sáng lên lấp lánh (KL)

Đt t đk t

Cú 1 Cú 2Đây là một câu có hai phần cú được ghép lại với nhau bằng kết từ

Trang 14

Khi mở rộng câu theo quan hệ ngữ đoạn thì ta sẽ có các loại câu: câu ghép đề, câughép thuyết, câu ghép cú: trong kiểu câu ghép cú thì ta có: câu ghép đẳng lập, câu ghépphụ thuộc.

1.4 Hiện tượng phức

Nếu hiện tượng ghép là hiện tượng câu được mở rộng theo quan hệ ngữ đoạn thìhiện tượng phức là hiện tượng cấu trúc câu được phức tạp hóa theo quan hệ đối vị Đóchính là hiện tượng câu có phần đề, phần thuyết hay phụ tố (định tố hay bổ tố) được cấutạo bằng cấu trúc đề - thuyết dưới bậc và có thể được phát triển thành nhiều bậc

Ví dụ: (6) Những đứa nào ăn chặn tiền thì sẽ biết (VTP)

đk tTrong câu này, ta có phần đề đã được phức tạp hóa bằng một cấu trúc đề - thuyếtdưới bậc

(7) Tôi có bịa thì tôi chết (NC)

đt t đt t

đk tĐây là một câu có cả đề và thuyết đều được phức tạp hóa bằng một cấu trúc đề -thuyết dưới bậc

Khi phức tạp hóa câu tiếng Việt theo quan hệ đối vị thì ta sẽ có được các loại câu:câu phức đề, câu phức thuyết, câu phức cả đề lẫn thuyết

Đây là một cách phân loại có căn cứ, phù hợp với thực tiễn của câu tiếng việt, vìnhư chúng ta đã biết thì câu tiếng Việt được cấu tạo dựa trên hai mối quan hệ chính: quan

hệ ngữ đoạn và quan hệ đối vị

Còn theo Cao Xuân Hạo thì câu tiếng Việt được phân loại thành các loại câu như:câu một bậc có đề là chủ đề hay khung đề; câu hai bậc kiểu I có thuyết đơn, câu hai bậckiểu I có thuyết ghép; câu hai bậc kiểu II có đề đơn, câu hai bậc kiểu II có đề kép; câu haibậc kiểu III không có phần kép; câu hai bậc kiểu III có phần kép; các loại câu từ ba bậctrở lên Tuy nhiên, trong các loại câu vừa trình bày thì ông đã không phân biệt được mộtcách rõ ràng thế nào là câu ghép, kép, thế nào là loại câu được phức tạp hóa Chính điều

đó đã gây nhọc nhằn cho việc tiếp cận các loại câu này

Trang 15

Ngoài ra, theo Chim Văn Bé thì câu tiếng Việt còn có thể cùng một lúc vừa mởrộng theo quan hệ ngữ đoạn và vừa phức tạp hóa theo quan hệ đối vị mà kết quả thu được

là hiện tượng ghép - phức và hiện tượng phức - ghép

1.5 Hiện tượng ghép - phức

Hiện tượng ghép - phức là hiện tượng câu có nhiều đề, thuyết, hay nhiều cú đượcghép với nhau, qua đó thì đề, thuyết của câu, cú, hay phụ tố trong hai thành phần nàyđược phức tạp hóa bằng tiểu cú và có thể được phát triển thành nhiều bậc

Ví dụ: (8) Đến khi cậu rảnh tay vào bế được cháu lên thì mặt cháu đã đầy những nước

Ví dụ: (9) Bao giờ cạn lạch Đồng Nai, nát chùa Thiên Mụ mới sai lời nguyền.(CD)

đk t

Ta thấy, câu trên được cấu tạo bằng một kết cấu đề - thuyết, trong đó phần đềđược phức tạp hóa thành một kết cấu đề - thuyết dưới bậc, trong kết cấu đề - thuyết dướibậc đó thì ta thấy có một đề khung và hai thuyết được ghép lại với nhau

1.7 Các yếu tố chuyên dùng phân giới và đánh dấu đề - thuyết

Trang 16

Các yếu tố chuyên dùng phân giới và đánh dấu đề - thuyết đã được Trương Văn

Trình và Nguyễn Hiến Lê đề cập đến đầu tiên, đó là ba yếu tố thì, mà, là Còn đến công trình nghiên cứu mang tên Tiếng Việt: Sơ khảo ngữ pháp chức năng thì Cao Xuân Hạo chỉ xem xét hai yếu tố thì và là với tư cách là tác tử chuyên dùng để phân giới và đánh

dấu đề - thuyết Trong công trình này, Cao Xuân Hạo đã trình bày những trường hợp bắt

buộc và không bắt buộc dùng thì và là, và đề cập đến những trường hợp thì và là có thể

thay thế cho nhau hoặc không thể thay thế cho nhau Mặt khác, ông còn đưa ra bảy thông

lệ chi phối số lượng và vị trí của thì và là trong một câu, trong đó đáng chú ý nhất là

thông lệ 4, thông lệ 6, thông lệ 7

- Thông lệ 4: Nếu trong câu có một cặp tiêu đề tương phản, có thể dùng hai chữ thì hay hai chữ là cho hai tiêu đề, trong trường hợp đó không thể đặt thì hay là sau đề của câu được nữa.

- Thông lệ 6: Trong những câu gồm có hai tiểu cấu trúc đề - thuyết trở lên, có thể gặp hai từ thì và là phân bố ở hai tiểu cấu trúc khác nhau, và chỉ ở hai mà thôi.

- Thông lệ 7: Bất kì khi nào có cả thì lẫn là trong cùng một câu, thì bao giờ cũng

có cương vị cao hơn [4; 246]

Cũng trong công trình nghiên cứu này thì Cao Xuân Hạo còn đề cập đến một số

nguyên tắc sử dụng các phó từ phủ định với thì và là Ngoài ra, ông còn đưa ra một vài trường hợp không thể dùng thì hay là Tuy nhiên, trong công trình nghiên cứu của mình

thì Cao Xuân Hạo đã không đề cập đến chức năng phân giới và đánh dấu đề - thuyết của

tác tử mà cũng như chưa có sự khái quát các cách sử dụng và chức năng của các yếu tố chuyên dùng thì và là Trong công trình Giáo trình Ngữ pháp học chức năng: Cú pháp

học, Chim Văn Bé đã khái quát hóa và hệ thống hóa, nêu lên một số hiểu biết chung, và

đề ra ba quy tắc sử dụng cũng như cách sử dụng cụ thể với thì, mà, là Dưới đây, người

viết sẽ trình bày sơ lược hệ thống vừa nêu để làm cơ sở lí luận cho việc triển khai đề tài

1.7.1 Một số hiểu biết chung

Như đã trình bày ban đầu, trong tiếng Việt có ba tác tử chuyên dùng để đánh dấu

và phân giới đề - thuyết các bậc trong câu, đó là các tác tử: thì, mà, là.

1.7.1.1 Đối với thì

Với tư cách là tác tử chuyên dùng, thì được dùng với hai chức năng sau:

Trang 17

- Thì được dùng để đánh dấu phần đề và phân giới đề - thuyết, khi đề mang tính

chất đối sánh với đề khác được nêu ra hay mang tính chất tiền giả định.

Ví dụ: (10) Đến đấy, cả hai cùng bước ra khỏi phòng giam, ông lục sự thì cắp

cặp giấy má, anh Cạp thì tay xách một chiếc ghế mây, tay kia bưng một cái đèn son.

(VTP)

- Thì được dùng đánh dấu phần thuyết và phân giới đề - thuyết khi đề của câu, cú,

tiểu cú là đề khung chỉ điều kiện, thời gian, không gian, cảnh huống hay số lượng, và

không mang tính chất đối sánh

Ví dụ: (11) Đến bây giờ, Dung thấy rằng mười phần thì nàng đã cầm chắc đến

Ví dụ: (12) Điều làm cho bà khổ tâm hơn nữa là bắt đầu thấy trong quỹ gia

đình, khoản thu không trội hơn khoản chi bao nhiêu (VTP)

- Là là vị từ quan hệ, khi đó, trước là có thể dùng tác tử thì, mà hay có thể tình

thái hóa bằng cách đặt trước nó các yếu tố tình thái Khi được dùng với chức năng này thì

là thuộc về phần thuyết và có chức năng đánh dấu phần thuyết: ngữ đoạn trước là hay

trước các yếu tố tình thái là đề, ngữ đoạn còn lại là thuyết

Ví dụ: (13) Tuy nhiên những lí về sau nó thế nào ấy, nó hình như không còn là lí

nữa (VTP)

1.7.1.3 Đối với mà

Khi được dùng với tư cách là tác tử chuyên dùng thì mà được sử dụng với hai

chức năng chính:

Trang 18

- Mà là tác tử chuyên dùng để đánh dấu phần đề và phân giới đề - thuyết của câu,

cú, tiểu cú, khi đề và thuyết có quan hệ bất thường về mặt lô gích theo sự nhìn nhận củangười nói

Ví dụ: (14) Quân này, ông con mà đã gan hơn tướng cướp! (VTP)

- Mà dùng để đánh dấu phần thuyết và phân giới đề - thuyết của câu, cú, tiểu cú,

khi đề là đề khung nêu lên điều kiện, còn phần thuyết nêu lên hệ quả nghịch thường vềmặt lô gích theo sự nhìn nhận của người nói Nếu đề khung và phần thuyết nêu lên hệ quả

bình thường về mặt lô gích thì dùng tác tử thì để phân giới và đánh dấu đề - thuyết.

Ví dụ: (15) Đũa mốc mà chòi mâm son Đĩa mà đòi đeo chân Hạt.

 Đũa mốc thì không chòi mâm son Đĩa thì không thể đeo chân Hạt.

Khi mà được dùng với chức năng này trong câu, cú, tiểu cú, thì ngữ đoạn trước

mà là đề, ngữ đoạn sau mà là thuyết.

Thì, là, mà không được dùng cùng lúc để phân giới kết cấu đề - thuyết ở hai bậc

kế cận nhau Khi kiểm chứng biên giới đề - thuyết của câu bằng tác tử thì cũng tuân theonguyên tắc này Điều này tương ứng với thông lệ 4 và thông lệ 6 của Cao Xuân Hạo đãtrình bày mà người viết có đề cập ở phần trước Vì đây là một nguyên tắc khá quan trọngnên người viết sẽ trình bày cụ thể hơn so với các nguyên tắc khác

Trang 19

Ta có thể thấy rõ hơn nguyên tắc này khi ta xem xét câu ca dao sau:

(17) Đàn ông miệng rộng thì sang,

Đàn bà miệng rộng tang hoang cửa nhà (CD)

Ta có thể đưa tác tử mà vào để kiểm tra biên giới đề - thuyết của tiểu cú làm đềkhung của cú Ta sẽ có:

Đàn ông (mà) miệng rộng thì sang, Đàn bà (mà) miệng rộng (thì) tang hoang cửa nhà

Ta thấy khi đưa đồng thời hai tác tử mà vào để kiểm tra biên giới đề - thuyết ở

hai bậc kế cận nhau thì câu trở nên không hợp lí và rất khó chấp nhận, chúng ta thử sosánh:

Đàn ông (mà) miệng (mà) rộng (thì) sang, Đàn bà (mà) miệng (mà) rộng (thì) tang hoang cửa nhà.

Tuy nhiên, quy tắc này có thể không được tuân thủ khi câu được mở đầu bằng

đề tình thái thôi đặt trước thì (thôi thì), mà chúng tôi sẽ đề cập ở phần sau Khi đó, thì

được dùng để phân giới hai bậc đề - thuyết kế cận

Ví dụ: (18) Thôi thì mình không bắt được sàn thì đã có cái mặt hòm đây rồi.

- Những trường hợp bắt buộc dùng thì: khi câu có đề là đề khung và nếu vắng thì

thì cấu trúc đề - thuyết sẽ trở nên mơ hồ, không rõ ràng; câu có đề dài, thuyết ngắn, ranhgiới đề - thuyết khó nhận diện; trong kiểu câu ngắn, kiểu câu tục ngữ có dạng cô đúc; câu

có phần thuyết biểu đạt nội dung tình thái: thì thôi, thì chết, thì nguy, thì khốn, thì phải, thì

phải biết…; thì được dùng ở đầu câu hay cuối câu khi câu có đề hay thuyết bị tỉnh lược.

Trang 20

- Một vài trường hợp không bắt buộc dùng thì và không thể dùng thì: khi biên giới đề - thuyết đã rõ ràng; câu có đề khung là đại từ hồi chiếu thế, vậy; câu tục ngữ được cấu tạo bằng hai vế đối xứng với nhau, và không được dùng thì khi đề của câu, cú đã xác

định và không mang tính chất đối sánh

 Thì được dùng với một vài chức năng khác trong câu như: thì là kết từ được dùng để kết nối với một ngôn cảnh đi trước; thì kết hợp với kết từ rồi, tạo thành tổ hợp rồi

thì được dùng để diễn đạt quan hệ thời gian nối tiếp giữa các sự tình.

- Các trường hợp bắt buộc dùng là: trong những kiểu câu luận định như: định

tính, định lượng, định vị, đẳng thức và trùng ngôn; trong kiểu câu có thuyết là ngữ đoạnphi vị từ tính (giới ngữ, tiểu cú, danh ngữ xác định, đại từ trực chiếu, hồi chiếu, khứchiếu…); trường hợp mà người nói muốn nhấn mạnh nội dung biểu đạt của phần thuyếthay cả sự tình trong mối quan hệ đối sánh với sự tình khác đã nêu hay đã được tiền giả

định; trong kiểu câu phản bác – cải chính; trong kiểu câu có thuyết biểu đạt tình thái: là

may, là phúc, là giỏi, là cùng…; là được dùng ở đầu câu hay cuối câu khi có đề hay

thuyết bị tỉnh lược

- Các trường hợp không bắt buộc dùng là: câu có thuyết giải thích nguồn gốc,

nguyên quán, thời gian, nguyên nhân… của đối tượng được nêu ở phần đề; câu tục ngữ cócấu trúc đối xứng gồm hai hay nhiều vế sóng đôi, nhịp nhàng Ngoài ra, tác giả còn đề cập

đến một vài trường hợp mà thì và là có thể thay thế cho nhau và được dùng phối hợp với nhau để tạo thành tổ hợp (thì là) được dùng để đánh dấu và phân giới đề - thuyết ở bậc

câu, cú

 Là được dùng với nhiều chức năng khác trong câu như: đánh dấu quan hệ chính

- phụ giữa vị từ trung tâm biểu thị hoạt động nói năng, hoạt động tri nhận, hay biểu thịtâm trạng với các tiểu cú làm bổ tố đứng sau; đánh dấu quan hệ chính - phụ giữa vị từ

Trang 21

trung tâm biểu thị hành động xưng - gọi thuộc nhóm từ nói năng, biểu thị sự đánh giá, haytri nhận được dùng với nghĩa đánh giá với bổ tố đứng sau; đánh dấu quan hệ chính - phụ

trong danh ngữ không xác định làm bổ tố trong phần thuyết; là đặt sau từ chỉ lượng, mức

độ như: rất, bao nhiêu, biết bao nhiêu, biết chừng nào; là được xen vào các dạng láy theo kiểu “x ơi là x” trong đó x là từ cơ sở; là được dùng ở cuối câu cảm thán có phần thuyết

là từ láy Ngoài ra, là còn được dùng để phối hợp với các yếu tố khác như: vì, hay, hoặc,

nhất, tiếng, thế, ấy thế, nghĩa, tức để tạo thành các tổ hợp: là vì, được dùng để diễn đạt

quan hệ nguyên nhân - kết quả giữa các sự tình được nêu trong hai câu, hai cú; hay là,

được dùng để đưa ra sự phỏng đoán về tính chân thật của sự tình trong mối quan hệ với

tình huống; hoặc là, được dùng để đưa ra phỏng đoán về tính chân thực của sự tình được nêu tiếp theo; nhất là, được dùng để nhấn mạnh sự đối sánh của sự tình với sự tình khác được nêu trong câu trước; tiếng là, được dùng với nghĩa là có tiếng mà không có miếng;

thế là, ấy thế là, được dùng để biểu thị quan hệ nhân - quả tức thì giữa các sự tình được

nêu trước đó và sự tình được nêu tiếp theo; nghĩa là, tức là, được dùng để dẫn nhập giải

thích ngữ

1.7.5 Cách dùng mà

Cũng giống như cách dùng của thì và là thì mà ở đây cũng được dùng ngoài chức năng phân giới và đánh dấu đề - thuyết của câu, cú, tiểu cú thì mà còn được sử dụng với

nhiều chức năng khác trong câu

 Đầu tiên với chức năng đánh dấu và phân giới đề - thuyết các bậc trong câu thì

tác giả đã đề cập đến những trường hợp bắt buộc và không bắt buộc dùng tác tử mà.

- Các trường hợp bắt buộc dùng mà: khi đề và thuyết có quan hệ bất thường về mặt lô gích theo sự nhìn nhận của người nói; đề tài là đại từ phiếm chỉ ai hay danh ngữ phiếm định, và phần thuyết không có phó từ lại biểu thị sự bất thường làm yếu tố đánh

dấu phụ trợ; câu phủ định phản bác có sắc thái cảm xúc mạnh; đề là đề khung chỉ điềukiện, và quan hệ đề - thuyết mang tính chất nghịch thường về mặt lô gích theo sự nhìn

nhận của người nói; mà được dùng bắt buộc để đánh dấu đề của tiểu cú khi tiểu cú đó làm

đề khung chỉ điều kiện trong câu mà nếu vắng mà thì đề khung sẽ trở thành đề tài.

- Các trường hợp không bắt buộc dùng mà: đề khung của câu chỉ điều kiện, được cấu tạo bằng tiểu cú; đề là đại từ phiếm định ai hay danh ngữ phiếm định, và phần thuyết

Trang 22

có phó từ lại biểu thị sự bất thường làm yếu tố đánh dấu phụ trợ; không bắt buộc dùng mà

để đánh dấu đề của tiểu cú và phân giới đề - thuyết tiểu cú làm phần thuyết của câu

 Mà được dùng với nhiều chức năng khác trong câu như: mà được dùng để kết nối chính tố với định tố đứng sau trong danh ngữ; mà được dùng để kết nối đề, thuyết hay

các cú có mối quan hệ đẳng lập và có quan hệ ngữ pháp gia hợp, tương đồng, khác biệt

hay đối lập; mà được dùng để kết nối hai ngữ vị từ có quan hệ chính - phụ làm thuyết; mà

được dùng ở đầu câu khi nó có chức năng biểu thị quan hệ ngữ nghĩa gia hợp giữa hai

câu; mà hay tổ hợp thôi mà được dùng ở cuối câu khi mà và thôi mà để khẳng định tính hiện thực của sự tình được người nói đề cập đến Ngoài ra, mà còn được dùng kết hợp với các yếu tố khác để tạo thành tổ hợp: mà kết hợp với nhưng, thế, vậy, ấy vậy, ấy thế để tạo thành tổ hợp nhưng mà, thế mà, ấy vậy mà, ấy thế mà, được dùng để biểu thị mối quan

hệ ngữ nghĩa tương phản; mà kết hợp gián cách với: vì, bởi, do, tại, nhờ tạo thành những

tổ hợp: vì… mà, bởi… mà, do… mà, tại… mà, nhờ… mà, để diễn đạt quan hệ nhân - quả giữa các ngữ đoạn; mà kết hợp gián cách với tuy trong câu ghép, trong đó hai cú có quan

hệ chính - phụ về ngữ pháp, có mối quan hệ tương phản về ngữ nghĩa

1.8 Đề tình thái và thuyết tình thái

1.8.1 Đề tình thái

1.8.1.1 Khái niệm về đề tình thái

Tương tự như đề của câu trần thuật, câu miêu tả thì đề tình thái của câu cũng đãđược Cao Xuân hạo đề cập đến trong công trình nghiên cứu của mình Tuy nhiên, ông đãchưa đưa ra được một khái niệm rõ ràng về đề tình thái mà ông chỉ miêu tả những trường

hợp cụ thể của phần đề tình thái được đánh dấu bằng hai tác tử thì và là mà người viết sẽ

đề cập ở phần sau Trong công trình nghiên cứu của tác giả Chim Văn Bé thì đề tình thái

mới được định nghĩa một cách rõ ràng và tường minh: “ Đề tình thái là loại đề nêu lên sự

đánh giá, nhìn nhận chủ quan của người nói về một sự tình hay sở thuyết được nêu tiếp theo” [1;133].

Và đặc biệt tác giả còn nêu ra cụ thể sự nhìn nhận, đánh giá chủ quan của ngườinói thì xoay quanh các tính chất như: tính chân thực, tính khả năng, tính tất yếu, tính hợplí/ đạo lí, tính rủi may, tính tích cực/ tiêu cực…

Trang 23

Ví dụ: (20) Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của

Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa (HCM)

1.8.1.2 Đề tình thái được đánh dấu bằng thì

Theo Chim Văn Bé thì có những loại đề tình thái được đánh dấu bằng thì, thường

được cố định thành những dạng thức biểu đạt cụ thể như:

- Giới hạn giá trị chân thực của sự tình được nêu tiếp theo vào một góc nhìn x nào

đó, có thể là người nói hay người khác: theo x, theo ý x, theo tin x, theo lời x (thì)… và để

tỏ thái độ khiêm tốn, nhúng nhường: nếu tôi không lầm, theo thiển nghĩ của (tôi), (tôi)

thiết nghĩ, (tôi) thiết tưởng…

- Muốn cải chính những điều mà người nói cho rằng chính xác và chân thực hơn

so với những điều đã được trình bày: sự thật, thật sự, thật ra, kể, kể ra, xem ra, nói đúng

hơn, nói cho đúng (thì)…

- Nhận định về một sự tình hay sở thuyết được nêu tiếp theo mới là hợp lẽ

thường, hợp lí, nhưng điều đó đã không xảy ra: lẽ ra, lí ra, đáng ra, đáng lí, đúng ra,

đúng lí, đúng lí ra, đáng lẽ, đáng lẽ ra (thì)….

- Nhận định về một sự tình được nêu tiếp theo là điều tất yếu: thế nào, bất luận

thế nào, dù thế nào (đi nữa), đàng nào, trước sau/ trước sau gì, Sớm muộn/ sớm muộn gì (thì)… cũng…, Chẳng chóng thì chầy, chẳng sớm thì muộn, nói gì thì nói, gì thì gì…;

- Nhận định về sự tình được nêu tiếp theo là kết quả, khả năng tối đa hay cùng

cực: may ra, may lắm, quá lắm, giỏi lắm, cao lắm, hết mức, bất quá, cùng lắm, nói cho

cùng (thì)…

- Nhận định về sự tình tiếp theo là có cơ may hay nguy cơ xảy ra, nhưng đã không

xảy ra, và đó được xem là may mắn hay rủi ro: suýt nữa, suýt chút nữa, tí nữa, một tí nữa,

- Đưa ra cách nhìn nhận, đánh giá sự tình được nêu ra tiếp theo: nhìn chung, nói

chung, nói nôm na, suy cho cùng, xét cho cùng, về cơ bản, về đại thể (thì)….

Trang 24

Còn theo Cao Xuân Hạo thì có những trường hợp các yếu tố tình thái được đánh

dấu bằng thì, và ông đã đưa ra các dạng thức biểu đạt như: hạn định giá trị chân lí vào trong phạm vi ý kiến x nào đó của một (số) người: theo x,(cứ) theo ý x, theo tin x, theo lời

x, cứ như x nghĩ (thì)…; giới thiệu điều được nhận định hay trần thuật có giá trị chân lí

tương đối hay một khả năng xác thực hạn chế nào đó: thật ra, kể ra, xem ra, suy ra, may

ra, lẽ ra, nhớ ra, lí ra, thiếu chút nữa (thì)…; khẳng định tính đương nhiên của tình

huống: dù/ dẫu sao (thì)…cũng, thế nào (thì)…cũng, đằng nào (thì)… cũng, đằng nào

(mà)… chẳng; nhận định về khả năng cùng cực: ít ra, ít nhất, cùng lắm, quá lắm, giỏi lắm, may lắm (thì/ là)…; đóng khung điều được nhận định: nói chung, nói riêng, xét cho cùng, xét về căn bản (thì)… .

Như vậy, ta có thể thấy rằng trong phần trình bày của tác giả Chim Văn Bé, ông

đã đề cập được hầu hết các dạng thức mà đề tình thái được đánh dấu bằng tác tử thì.

1.8.1.3 Đề tình thái được đánh dấu bằng là

Tương tự với thì, Chim Văn Bé cũng đã nêu lên các loại đề tình thái được đánh dấu bằng là, và nó cũng được cố định hóa dưới các dạng thức biểu đạt cụ thể:

- Khẳng định tính chân thực của nhận định được tiền giả định hay nhấn mạnh tính

chân thực của sự tình, sở thuyết nêu tiếp theo: quả, thật (thực, thiệt), quả thật, thật quả,

sự thật, thú thật, đích thực, đúng, thật tình, rõ, thật rõ, rõ ràng, có thể nói, phải nói, phải thừa nhận, có thể gọi, công nhận (là)…

- Nhìn nhận sự tình hay sở thuyết được nêu tiếp theo là nguyên nhân đích thực

hay ý nghĩa của sự tình nào đó đã được nêu ra: chả là, chẳng qua (là)…

- Phỏng đoán về tính chân thật của sự tình hay sở thuyết được nêu tiếp theo với

nhiều mức độ khác nhau: chắc, đâu như, không chừng, họa, họa chăng, phải chăng,

không khéo, dễ thường, không loại trừ, dường như, chừng như, hình như, cơ chừng, ý chừng, có lẽ, có vẻ, có thể (là)…

- Nêu lên sự hoài nghi về tính chân thực của sự tình hay sở thuyết được nêu tiếp

theo: chẳng biết, chả biết, chẳng hiểu, chả hiểu, chẳng hay, chưa biết, không chừng, chưa

biết chừng (là)…, và biết (là/ rằng)… có… không?

- Nhận định sự tình hay sở thuyết được nêu tiếp theo là kết quả hay khả năng tối

thiểu có thể đạt được: ít nhất, ít ra, kém lắm, chí ít, tệ lắm, tệ nhất (là)…

Trang 25

- Khẳng định tính tất yếu của sự tình hay sở thuyết được nêu tiếp theo: tất nhiên,

dĩ nhiên, đương nhiên, cố nhiên, quả, quả nhiên, lẽ tất nhiên, ắt, hẳn, ắt hẳn, chắc hẳn (là)…

- Nhấn mạnh tính chân thật của sự tình hay sở thuyết tiếp theo, qua đó khẳng định

tính chân thực của sự tình hàm ẩn: nữa là, huống chi, huống gì, nói gì, nói chi (là)…

- Phủ định tính chân thực hay tính hợp lí của sự tình, sở thuyết được nêu tiếp theo:

vị tất, không nhất thiết, chưa hẳn, chưa chắc, không hẳn, không lẽ, chẳng lẽ, chả lẽ, chả nhẽ, còn đâu (là)…

- Nhìn nhận sự tình hay sở thuyết được nêu tiếp theo là ưu điểm hay ưu điểm tuyệt

đối so với sự tình khác: tốt hơn, tốt hơn hết, tốt hơn cả, còn gì hơn, hay nhất, cần nhất,

cần hơn nữa, thà, chẳng thà (là)…

- Nhận định sự tình tiếp theo là điều bất ngờ, không lường trước được: không ngờ,

thật không ngờ, đâu ngờ, ai ngờ, có ai ngờ, đâu ai ngờ, nhờ đâu, ai dè, dè đâu (là)…

- Nhìn nhận sự tình hay sở thuyết được nêu tiếp theo là điều kiện duy nhất chấp

nhận được: miễn, miễn sao, chỉ xin một điều (là)…

- Nhìn nhận sự tình được nêu tiếp theo là một phát hiện bất ngờ hay là một ý nghĩa

của một sự tình khác: té ra, hóa ra, thì ra (là)…

- Nhận định sự tình hay sở thuyết được nêu tiếp theo là điều bất thường mà người

nói muốn nhấn mạnh: thậm chí, đến nỗi, đâu đến nỗi, không đến nỗi (là)…

- Biểu thị thái độ chấp nhận sự tình hay sở thuyết được nêu tiếp theo một cách

miễn cưỡng; như là một giải pháp tình thế: âu, âu cũng, đành, đã đành, chả trách, coi

như, cầm chằng (như) (là)…

- Đánh giá sự tình hay sở thuyết được nêu tiếp theo là tích cực hay tiêu cực xét

trong mối quan hệ với ngôn cảnh, tình huống cụ thể: có điều, chỉ đó điều, được (một) cái,

chết cái, mắc cái, ngặt cái, khốn nỗi, hiềm một nỗi, ác một nỗi, chết một nỗi, chỉ mỗi một tội, chỉ tiếc, chỉ tiếc một điều (là)…

- Dẫn nhập một nhận định mang tính chất đúc kết, tổng kết lại những gì đã nhận

định: rốt cuộc, rốt cục, chung quy, kết cục, kết quả, sau cùng, cuối cùng, nói tóm lại

(là)…

Trang 26

Đối với Cao Xuân Hạo thì ông đã đưa ra những trường hợp đề tình thái được

đánh dấu bằng là thông qua các dạng thức: thừa nhận giá trị chân lí của nhận định được tiền giả định, hay nhấn mạnh giá trị chân lí của nhận định kế theo: quả, quả thật, quả tình,

phải nói (là)…; dẫn nhập khả năng, phỏng đoán, nhận định về khă năng: có thể, có lẽ, hình như, dường như, đâu như, tuồng như, không loại trừ, không chừng, chưa biết chừng, nghe đâu, biết đâu, nghe nói, không khéo (là)…; dẫn nhập sự tình kèm theo sự đánh giá:

có điều, được một cái, khốn nỗi, hiềm một nỗi, (chỉ) phải là mỗi/ một cái, (chỉ) mỗi/ một

tội, (chỉ)tiếc mỗi/ một cái, đáng tiếc, đáng buồn, đáng mừng (là)…; nhận định về tính

chân tất yếu của sở thuyết: tất nhiên, (lẽ) dĩ nhiên, (lẽ) đương nhiên, cố nhiên, hẳn, ắt,

chắc chắn, chắc hẳn, chính, đúng, thật, quả, quả thật, vị tất, chưa chắc, không nhất thiết (là)…; nhận định về tính cùng cực của sự tình hay sở thuyết: hết sức, hay nhất, tốt hơm

cả, tệ nhất, đáng tiếc nhất, ít nhất, may lắm (là)…; nhận định về ưu thế của sự tình được

nếu tiếp theo: tốt hơn, thà, chẳng thà (là)…; giới thiệu điều tiếp theo là một điều duy nhất, cần thiết: miễn, miễn sao, chỉ xin một điều, chỉ cốt (sao) (là)…; nhận định về tính bất ngờ của sự tình tiếp theo: không ngờ, ai dè, có ai ngờ, ngờ đâu, dè đâu (là)…; dẫn nhập ý tổng kết: rốt cuộc, chung quy, (nói) tóm lại, kết quả là, vị chi, đổ đồng (là)…; dẫn nhập sự tình mới phát hiện hay có tác dụng giải thích: té ra, hóa ra, chẳng hóa ra, số là, chả(…) là

(là)…; ngữ đoạn nêu lên ý kiến, cảm nghĩ và những cấu trúc đề - thuyết mà đề là tôi (có

thể ẩn) và thuyết là một vị từ nói năng, tri giác hay cảm nghĩ mong muốn kèm theo tiểu cú

làm bổ tố cho nó và không có tính tự sự: chẳng qua, bất quá, không biết, tôi tiếc, tồi lấy

làm tiếc, tôi nghĩ, tôi không ngờ (là)….

Cũng tương tự như phần trình bày về đề tình thái được đánh dấu bằng tác tử thì, các dạng thức của đề tình thái được đánh dấu bằng là cũng được Chim Văn Bé đề cập

tương đối đầy đủ hơn so với tác giả Cao Xuân Hạo

1.8.1.4 Đề tình thái được đánh dấu bằng mà

Ngoài các yếu tố tình thái được đánh dấu bằng thì và là thì trong phần trình bày này tác giả còn đề cập đến chức năng đánh dấu đề tình thái của yếu tố mà Ông đã nêu lên những trường hợp mà đề tình thái được đánh dấu bằng mà, và cũng được biểu đạt bằng

những dạng thức có xu hướng cố định:

Trang 27

- Đánh giá sự tình hay sở thuyết được nêu tiếp theo là điều may mắn: may, cũng

may, may sao (mà)…

- Phỏng đoán về tính khả năng của sự tình được nêu tiếp theo và xem đó là điều tích

cực hay tiêu cực: may ra, chẳng may, chẳng may ra, lỡ, nhỡ, ngộ nhỡ, nhỡ ra, rủi, kẻo,

khéo, không khéo, khéo không (mà)…

- Nêu lên sự hoài nghi về tính chân thực của sự tình hay sở thuyết được nêu tiếp

theo: lẽ nào, có lẽ nào, có lí nào (mà)…

- Phủ định tính hợp lí của sự tình hay sở thuyết được nêu tiếp theo: hơi đâu, cớ chi,

hà cớ gì, can chi (mà)…

- Khẳng định sự tình hay sở thuyết được nêu tiếp theo là chân thực hay khả năng

cùng cực: có mà…

- Phủ định tính chân thực của sự tình hay sở thuyết được nêu tiếp theo: dễ gì, làm

sao, làm gì, biết đâu, biết thế nào, chẳng biết thế nào, không đời nào, đời nào, chẳng đời nào, không đời nào, không khi nào, có khi nào, chưa bao giờ, không bao giờ, chẳng bao giờ, có bao giờ (mà)…

- Nhận định về sự tình được nêu tiếp theo là không rõ lí do hay có nguyên do nào đó:

khi không, bỗng không, tự dưng, bỗng dưng, tự nhiên, không hiểu sao, không hiểu tại sao, chẳng hiểu vì sao (mà)…; không dưng, không phải ngẫu nhiên (mà)…

- Nhận định về sự tình được nêu tiếp theo là một phát hiện tình cờ, nhờ biết được

nguyên nhân của nó: hèn chi, hèn gì, hèn nào, thảo nào (mà)…

- Nhận định về sự tình hay sở thuyết được nêu tiếp theo là không hợp lí, không cần

thiết phải thực hiện: tội gì, tội tình gì, dại gì, không dại gì, không dại dột gì, việc gì, cần

gì, hơi đâu, hơi sức đâu, can chi (mà)…

- Giả định về tính hiện thực của sự tình hay sở thuyết được nêu tiếp theo, kèm theo

thái độ tiếc rẻ: phải chi (mà)…

- Nhìn nhận sự tình hay sở thuyết được nêu tiếp theo là điều tùy nghi, tùy thích thực

hiện, không bị hạn chế: tha hồ, mặc sức (mà)…

1.8.2 Thuyết tình thái

1.8.2.1 Khái niệm

Trang 28

Thuyết tình thái được tác giả Chim Văn Bé định nghĩa như sau: “Thuyết tình thái

là loại thuyết nêu lên sự nhìn nhận, đánh giá của người nói về sự tình hay sở đề đã được nêu ra trước đó” [1;150] Cũng giống như đề tình thái, thuyết tình thái cũng được đánh

dấu bằng các tác tử chuyên dùng như thì, mà, là và các trợ từ: mới, cũng, có có xu hướng

được cố định hóa thành các tổ hợp Ở đây vì sự hạn chế của đề tài nên người viết chỉ trìnhbày phần thuyết tình thái được đánh dấu bằng các tác tử chuyên dùng mà không trình bàycác phần còn lại

Ví dụ: (21) Gọn gàng và ngon lành đến thế là cùng (NT)

1.8.2.2 Thuyết tình thái được đánh dấu bằng tác tử thì: Theo Chim Văn Bé thì có

những tổ hợp như sau: thì phải (phỏng đoán tính chân thật của sự tình hay sở đề), thì có

(phản bác và khẳng định), thì đã hẳn (khẳng định), thì thôi, thì đã đành (chấp nhận được hay chấp nhận miễn cưỡng), thì tốt, thì hơn, thì chết, thì đúng hơn, thì khốn, thì nguy, thì hỏng bét, thì bỏ mẹ, thì lạ thật, thì chớ (phủ định), thì phải biết, thì khỏi phải nói, thì khỏi chê, thì hết xẩy,…

Ví dụ: (22) Cho tới khi buộc phải chia lìa không cưỡng được thì thôi. (BN)

Trong khi đó, theo Cao Xuân Hạo thì thuyết tình thái được đánh dấu bằng thì thường xuất hiện ở một số tổ hợp sau: thì phải, thì có, thì tốt, thì hơn, thì càng tốt, thì

Tương tự, chúng ta cũng có thể tham khảo thêm phần trình bày của Cao Xuân Hạo

về vấn đề thuyết tình thái được đánh dấu bằng là Trong đó, ông đã đưa ra một số tổ hợp:

là khác, là đằng khác, là cùng, là hết nước, là ít, là nhiều, là hết sức, là may, là quý, là phúc, là thường, là hơn, là cái chắc, là đủ, là được, là xong, là hết

Trang 29

CHƯƠNG 2

KHẢO SÁT TÁC TỬ THÌ, MÀ, LÀ TRONG VỠ ĐÊ CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG

2.1 Giới thiệu tác phẩm, văn bản khảo sát và giới hạn ngữ liệu

2.1.1 Giới thiệu tác phẩm

Tác phẩm Vỡ Đê được Vũ Trọng Phụng viết năm 1936 và in trên báo Tương lai,xuất bản thành sách năm 1957

Vỡ đê là một tác phẩm văn học công khai đầu tiên thời Pháp thuộc khi lấy đề tài

trực tiếp từ phong trào đấu tranh chính trị thời đó Trong tác phẩm của mình, tác giả đãphản ảnh sự đối lập giữa thế lực thống trị với những người lao động chân lấm tay bùn Do

đó, tác phẩm có sức mạnh tố cáo rất đáng kể Trong đó, thầu khoán Khoát, quan huyện,Lục sự, cai lệ… là hàng loạt mẫu người tiêu biểu cho các tầng lớp tư bản mại bản, tầnglớp thống trị phong kiến và tay sai đương thời đã thi nhau ức hiếp và bốc lột dân lành.Ngoài ra, tác phẩm còn tố cáo chế độ đàn áp vô nhân đạo của các nhà tù thực dân đối vớinhững tù nhân chính trị, đồng thời đề cập đến cuộc đấu tranh tích cực của nông dân cũngnhư phần nào phác họa được chân dung của người chiến sĩ cách mạng Đó là cái nhìn mới

mẻ của Vũ Trọng Phụng so với các nhà văn cùng thời Nhưng tác phẩm còn hạn chế trongcách nhìn đối với vai trò của tầng lớp quần chúng lao động rất đông đảo của cách mạng

Ở trong tác phẩm thì những người nông dân kéo nhau đi biểu tình mới chỉ vì lòng cămhờn được khơi dậy một cách nhất thời Hình ảnh của những người trí thức như Phú,Minh… có sức hấp dẫn, nổi trội nhưng ở đây nhận vật Phú còn ảo tưởng về những chínhsách thuộc địa của thực dân Pháp ở Việt Nam Từ đó đã thể hiện sự thiếu tin tưởng về mộtcuộc cách mạng giải phóng dân tộc của nhà văn

2.1.2 Văn bản khảo sát

Tác phẩm Vỡ đê của Vũ Trọng Phụng là một tác phẩm có giá trị trong nền văn học

Việt Nam Tác phẩm này đã được in trong nhiều tuyển tập khác nhau Trong phần nghiên

cứu này, người viết sẽ sử dụng tác phẩm được trích trong quyển Vũ Trọng Phụng toàn tập

3, NXB văn học, 1987.

2.1.3 Giới hạn ngữ liệu

Trang 30

Do số lượng câu có chứa các tác tử thì, mà, là trong tác phẩm là rất nhiều nên

người viết không thể khảo sát hết toàn bộ tác phẩm được Vì vậy, ở đây người viết chỉtrình bày trong phạm vi của những phần mà người viết đã lựa chọn, cụ thể là người viết

chỉ khảo sát ba tác tử thì, mà, là với chức năng là đánh dấu và phân giới đề - thuyết trong

chương 6, chương 7, chương 8 trong phần thứ ba của tác phẩm

2.2 Thống kê, phân loại và phân tích ba tác tử thì, mà, là trong tác phẩm

Vỡ đê

2.2.1 Thống kê và phân loại câu chứa các tác tử của tác phẩm Vỡ đê

(Xem phần phụ lục)

Việc phân loại là dựa vào cách dùng và chức năng đánh dấu và phân giới đề

-thuyết của ba tác tử thì, mà, là, cũng như là sự phối hợp giữa các yếu tố này trong

câu mà người viết đã nêu ở chương một Trên cơ sở đó, người viết phân loại như sau:

Thì đánh dấu phần đề và phân giới đề thuyết: 14 câu, chiếm 23% trong tổng số

câu được khảo sát

Thì đánh dấu phần thuyết và phân giới đề thuyết: 38 câu, chiếm 63%

Thì đánh dấu đề tình thái: 2 câu, chiếm 3%

Thì đánh dấu thuyết tình thái: 2 câu, chiếm 3%

Là đánh dấu thuyết và phân giới đề - thuyết: 29 câu, chiếm 64% trong tổng số câu

được khảo sát

Là đánh dấu đề tình thái: 4 câu, chiếm 9%

Là đánh dấu thuyết tình thái: 2 câu, chiếm 4%

Mà đánh dấu phần đề và phân giới đề - thuyết: 1 câu, chiếm 2% trong tổng số câu

được khảo sát

Mà đánh dấu phần thuyết và phân giới đề - thuyết: 9 câu, chiếm 22%

Mà đánh dấu đề tình thái: 1 câu, chiếm 2%

Thì, mà, là cùng là tác tử chuyên dùng để phân giới đề - thuyết các bậc trong câu:

2 câu, chiếm 18% trong tổng số câu được khảo sát

Thì, mà cùng là tác tử chuyên dùng phân giới đề - thuyết các bậc trong câu: 8 câu,

chiếm 26% trong tổng số câu được khảo sát

Trang 31

Thì, là cùng là tác tử chuyên dùng phân giới đề - thuyết các bậc trong câu: 4 câu,

chiếm 44% trong tổng số câu được khảo sát

2.2.2 Phân tích một số câu chứa tác tử thì, mà, là trong Vỡ đê

2.2.2.1 Tác tử thì

2.2.2.1.1 Thì đánh dấu phần đề và phân giới đề - thuyết

Như đã trình bày, thì được dùng để đánh dấu phần đề và phân giới đề - thuyết các

bậc trong câu khi đề của câu, cú, hay tiểu cú mang tính chất đối sánh với các đề khác

được nêu hay mang tính chất tiền giả định Khi đó ngữ đoạn phía trước thì là đề và ngữ đoạn sau thì sẽ là phần thuyết của câu Dưới đây, người viết sẽ phân tích một số câu mà

Vũ Trọng Phụng đã sử dụng tác tử thì để đánh dấu phần đề và phân giới đề - thuyết các

Trong câu này, ta thấy phần đề “những người khác” có một sự đối sánh với

“những gia đình vẫn sống vì nhờ vả” hay “đàn bà trẻ con, những người già yếu” mà Vũ Trọng Phụng đã trình bày Qua đó, ta thấy tác tử thì ở đây được dùng để đánh dấu đề và

phân giới đề - thuyết của cú 1

Trang 32

(2) Còn tuần tráng thì cố nhiên đã lâu nay vẫn ở chổ đê vỡ.

Trong câu này, ta thấy có sự đối sánh giữa “dân” với “các quan” hay những

người khác như: ông công sứ, ông tuần phủ… Chính vì đề của câu có sự đối sánh với

các đề khác đã được tác giả đề cập trong tác phẩm nên ở đây tác tử thì được dùng để đánh

dấu đề và phân giới đề - thuyết bậc câu

Trong câu này, thì ta thấy có kết từ chứ và đề “con chủ nhà” theo tiền giả định

thì nó có sự đối sánh với con của người khác hay với một người nào khác Chính vì vậy

mà tác tử thì trong câu được dùng để đánh dấu phần đề và phân giới đề - thuyết bậc câu.

Trang 33

(6) Phú thì còn ngơ ngác và sau thì lung túng không biết nên xử trí thế nào…

đt t đk t

Cú 1 Cú 2

Cũng tương tự như câu trên, trong câu này thì ta thấy đề của cú 1 “Phú” thì có sự đối sánh với những người khác, và đề của cú 2 “sau” cũng có sự đối sánh với trước hay các thời điểm nào đó mà người nói đã tiền giả định Từ đó, ta thấy tác tử thì ở đây được

dùng để đánh dấu đề và phân giới đề - thuyết bậc cú

(7) Đến chiều thì Phú đã phải thất vọng trong cuộc kiếm cái gì nhét cho đầy bụng.

đt t

đk t

Trong câu này, phần đề “Đến chiều” là đề khung chỉ thời gian và có sự đối sánh với các khoảng thời gian khác như: đến sáng, đến trưa… Vì vậy, tác tử thì được dùng ở

đây với chức năng đánh dấu phần đề của câu

(8)Đến đây thì cụ Cử bỗng ho một trận ghê gớm đến bậc tưởng chừng sắp rách cổ mất.

đt t

đk t

Tương tự, trong câu này có phần đề là một đề khung chỉ thời gian “Đến đây” và

có sự đối sánh với khoảng thời gian trước đó Từ đó, tác tử thì ở trong câu được dùng để

đánh dấu phần đề và phân giới đề - thuyết của câu

(9) Anh em nhà mày thì lúc nào hợp mặt nhau sau này không được?

Trang 34

Các câu còn lại thì chúng ta cũng xem xét tương tự, và sau đây người viết sẽ

chuyển sang một chức năng khác của tác tử thì với tư cách là tác tử chuyên dùng, đó là

chức năng đánh dấu phần thuyết và phân giới đề - thuyết các bậc trong câu

2.2.2.1.2 Thì đánh dấu phần thuyết và phân giới đề - thuyết

Cũng tương tự, tác tử thì được dùng để đánh dấu phần thuyết và phân giới đề thuyết các bậc trong câu khi đề của câu, cú, hay tiểu cú là đề khung chỉ điều kiện, thời

-gian, không -gian, cảnh huống hay số lượng, và không mang tính chất đối sánh Khi đó

ngữ đoạn phía trước thì là đề và ngữ đoạn sau thì sẽ là phần thuyết của câu, cú, hay tiểu

cú Sau đây, chúng ta sẽ phân tích một vài câu mà Vũ Trọng Phụng đã sử dụng tác tử thì

với chức năng đánh dấu phần thuyết và phân giới đề - thuyết các bậc trong câu mà chúngtôi đã phân loại trong phần phụ lục

(1) Câu thì cá không cắn mồi.

đt t

đk t

Trong câu này, phần đề là đề khung chỉ điều kiện và không mang tính chất đốisánh với các đề khác Trên cơ sở đó, tác tử thì được dùng để đánh dấu phần thuyết vàphân giới đề - thuyết của câu

(2) Nhưng khi chàng ra đến nơi thì không còn quả nào trên cây, và mấy đứa trẻ

Trang 35

Đối với câu này thì ta thấy, đề ở đây là đề khung chỉ thời gian “khi chàng ra đến

nơi”, và cũng tương tự như các câu đã phân tích phía trên thì đề khung ở đây cũng không

mang tính đối sánh với các đề khác Vì vậy, tác tử thì ở đây được dùng để đánh dấu phần

thuyết và phân giới đề - thuyết của cú 1

(3) Đến khi cậu rảnh tay vào bế được cháu lên thì mặt cháu đã đầy những nước

Ở câu này thì ta thấy, đề trong câu là đề khung chỉ thời gian “Đến khi cậu rảnh

tay vào bế được cháu lên”, và đề khung này thì không có mang tính đối sánh với các đề

khác, nên ở đây, tác tử thì được dùng để đánh dấu phần thuyết và phần giới đề thuyết bậc

câu

(4)Khi hai mẹ con trông thấy mặt nhau thì có một phút im lặng gần như linh thiêng.

đk t

Tương tự, trong câu này thì đề của câu là đề khung chỉ thời gian “Khi hai mẹ con

trông thấy mặt nhau” và đề khung này cũng không có sự đối sánh với các đề khác, vì vậy

mà tác tử thì trong câu này được dùng để đánh dấu phần thuyết và phân giới đề - thuyết

bậc câu

(5)Giá anh gửi thư trước thì mất thú.

đt t

đk t

Với câu này thì ta thấy, đề ở đây là đề khung chỉ điều kiện “Giá anh gửi thư

trước”, và đề khung này không mang tính đối sánh với các đề khác nên tác tử thì ở đây

được dùng để đánh dấu phần thuyết và phân giới đề - thuyết bậc câu

Trang 36

(6) Tuất ẵm con xong thì Minh ái ngại nhìn mẹ thở dài.

đt t đt t

đk t

Với câu này thì ta thấy, đề ở đây là đề khung chỉ điều kiện “Tuất ẵm con xong” và

đề khung này cũng không mang tính đối sánh với các đề khác Vì vậy, tác tử thì ở đây

được dùng để đánh dấu phần thuyết và phần giới đề - thuyết bậc câu

(7) Tôi mượn bè thì họ cho mượn chứ họ có bảo gì tôi đâu?

thuyết và phân giới đề - thuyết của cú 1

(8) Không có gạo thì về làm gì vội, buồn chết.

đk t1 t2

đk t

Trong câu này, phần đề là đề khung chỉ điều kiện “Không có gạo” và không mang

tính đối sánh với các đề khác Do đó, tác tử thì được dùng để đánh dấu phần thuyết vàphân giới đề - thuyết của câu

(9) Không đi thì chết đói cầm chắc.

Trang 37

(10) Mẹ nó đã đi mấy tiếng đồng hồ thì thằng cu Hiền mới trở dậy.

đt t đt t

đk t

Trong câu này, phần thuyết là đề khung chỉ điều kiện “Mẹ nó đã đi mấy tiếng

đồng hồ” và không mang tính chất đối sánh với các đề khác Trên cơ sở đó, ta thấy tác tử thì được dùng để đánh dấu phần thuyết và phân giới đề - thuyết của câu.

Và các câu còn lại thì chúng ta cũng có thể xem xét tương tự Sau đây, người viết

sẽ trình bày thêm hai chức năng nữa của tác tử thì với tư cách là một tác tử chuyên dùng,

đó là chức năng đánh dấu đề tình thái và thuyết tình thái

2.2.2.1.3 Thì đánh dấu đề tình thái và thuyết tình thái

- Đầu tiên chúng ta sẽ đề cập đến chức năng đánh dấu đề tình thái của tác tử thì.

Ngoài chức năng đánh dấu đề và phân giới đề - thuyết của câu miêu tả, trần thuật,

thì tác tử thì còn được dùng để đánh dấu đề tình thái của câu, cú khi đề của câu nêu lên sự

nhìn nhận, đánh giá chủ quan của người nói Và ta sẽ phân tích một vài câu mà Vũ Trọng

Phụng đã dùng tác tử thì để đánh dấu đề tình thái.

(1) Bây giờ, thôi thì đủ thứ!

đtth t

Đk t

Ở đây Vũ Trọng Phụng cũng sử dụng tổ hợp thôi thì làm đề cho nhận định của

bà huyện để biểu thị thái độ chấp nhận một cách miễn cưỡng là hiện tại thì đã có rất nhiều

trò giải trí mới được ra đời nhưng lại là một thái độ không thích thú, tác tử thì được dùng

để đánh dấu đề tình thái của tiểu cú

(2) Rồi sau cùng thì các quan bảo dân hãy về đến mai mới có gạo.

Trong câu này, tác giả đã dùng tổ hợp “sau cùng” để dẫn nhập một nhận định

mang tính chất đúc kết, tổng kết lại những gì đã trình bày

- Và sau đây người viết sẽ trình bày chức năng cuối cùng cửa tác tử thì với tư cách

là một tác tử chuyên dùng, đó là chức năng đánh dấu thuyết tình thái của câu, cú

Trang 38

Ngoài chức năng đánh dấu đề tình thái thì tác tử thì còn được dùng để đánh dấu

thuyết tình thái khi phần thuyết nêu lên sự nhìn nhận, đánh giá của người nói về sự tình

được nêu ra trước đó, và các sự đánh giá, nhìn nhận được đánh dấu bằng tác tử thì thường

được cố định hóa bằng các tổ hợp Các tổ hợp được Vũ Trọng Phụng sử dụng trong tác

phẩm của mình là: thì chết, thì hơn.

(1) Tôi con giai thế này, ra đấy, nó thấy nó lại bắt đi phu hàn khẩu thì chết.

(2) Không, chàng chẳng bao giờ cho chị biết vội, cứ để chị về rồi đột nhiên trông

thấy, bất kì như thế nào cũng như Phú, thì hơn!

2.2.3.2 Tác tử là

2.2.3.2.1 Là đánh dấu phần thuyết và phân giới đề - thuyết

Như đã trình bày, là được dùng với tư cách là tác tử chuyên dùng để đánh dấu phần

thuyết và phân giới đề - thuyết các bậc trong câu khi nó có tác dụng thuyết hóa những ngữ

đoạn phi thuyết tính Khi đó, ngữ đoạn trước là là phần đề, ngữ đoạn sau là sẽ là phần thuyết và ta không thể tình thái là bằng cách đặt trước là các phó từ chỉ thời gian hay chỉ

sự tiếp diễn: đã, đang, vẫn, vừa, mới, sẽ, sắp, còn Ngoài ra, tác tử là xuất hiện trong câu với chức năng là vị từ quan hệ, thì ngoài việc có thể tình thái hóa là bằng cách đặt trước

nó các phó từ: đã, đang, vẫn, vừa, mới, sẽ, sắp, còn và các yếu tố tình thái khác; mà ta còn có thể đặt trước nó các tác tử như thì, mà Khi đó tác tử là không được dùng với chức

năng phân giới đề - thuyết mà là sẽ thuộc về phần thuyết và đánh dấu phần thuyết Ta có

thể xem xét một số câu mà Vũ Trọng Phụng đã dùng tác tử là để đánh dấu thuyết và phân

giới đề - thuyết các bậc trong câu

(1) À đây đây, đứa bé này là con cô Tuất phỏng?

đt t

Trong câu này, ta thấy có tình thái ngữ à để biểu thị cảm xúc, kiểm ngữ đây

đây, hai thành phần này là thành phần phụ của câu và tác tử là được dùng để làm rõ cho

“đứa bé này” là đứa bé nào, và trong câu hỏi này thì “đứa bé này” ở đây là “con cô Tuất

phỏng?” Chính vì vậy mà tác tử là được dùng ở đây được dùng với chức năng đánh dấu

phần thuyết và phân giới đề - thuyết bậc câu

Trang 39

2) Ấy đó là cái kết quả bao năm đằng đẵng thờ chồng nuôi con.

đt t

Cũng tương tự như câu trên, tác tử là ở đây cũng được dùng để làm rõ cho

“đó” là cái gì, và ở đây “đó” chính là “cái kết quả bao năm đằng đẵng thờ chồng nuôi con” Như vậy thì ta có thể thấy tác tử là trong câu được dùng để đánh dấu phần thuyết và

phân giới đề - thuyết của câu

(3) Đích thị đó là người Dung đã cứu sống rồi.

đt t

Trong câu này thì ta thấy tác tử là được dùng để làm rõ cho “Đích thị đó” đó là cái gì, là một ai đó hay là một vật gì và ở đây cái “Đích thị đó” đó là “người Dung đã cứu

sống rồi” Như vậy ta thấy, tác tử là ở đây được dùng với chức năng đánh dấu phần

thuyết và phân giới đề - thuyết bậc câu

(4) Ở tận trong vùng sân trong là một cái vườn gần như của chung.

đk t

đk t

Tương tự, tác tử là trong câu này được dùng để thuyết hóa cho “Ở tận trong

vùng sân trong” là cái gì, và ở đây nó là “một cái vườn gần như của chung’ Như vậy ta

thấy, tác tử là được dùng để đánh dấu phần thuyết và phân giới đề - thuyết của câu.

(5) Đó là người cháu bên họ nhà chồng gọi Tuất bằng thím.

đt t

Trong câu này, tác tử là được dùng để làm rõ cho “đó” là cái gì, nà ở đây nó là

“người cháu bên họ nhà chồng gọi Tuất bằng thím” Trên cơ sở đó, tác tử là ở đây được

dùng để đánh dấu phần thuyết và phân giới đề - thuyết của câu

Trang 40

Ở câu này, tác tử là được dùng để làm rõ cho “đó” là cái gì, và ở đây nó là

“Minh thật” Do đó, tác tử là ở đây được dùng để đánh dấu phần thuyết và phân giới đề

-thuyết của câu

(8) Bữa ấy, Phú đã là một tên bếp rất vất vả.

Ngày đăng: 02/04/2018, 05:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm