Các nhà nghiên cứu đã đi sâu vào khai thác dựa trên những thành công đã đạt được của các nhà nghiên cứu nước ngoài đồng thời cũng đưa ra cách hiểu riêng của mình như sau: Trong chương “L
Trang 21 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 5
4 Phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 6
B PHẦN NỘI DUNG Chương một LÝ THUYẾT HÀNH ĐỘNG NGÔN TỪ VÀ LÝ THUYẾT HỘI THOẠI I LÍ THUYẾT HÀNH ĐỘNG NGÔN TỪ: 1 Các hành vi ngôn ngữ: 1.1 hành vi tạo lời (locutionary act, locctiont)………
1.2 Hành vi ở lời (illocutionnary act, illocution)………
1.3 Hành vi mượn lời (perlocutionary act)………
2 Các loại hành động ngôn từ 2.1 Tái hiện
2.2 Cầu khiến ………
2.3 Hứa hẹn ………
2.4 Bày tỏ ………
2.5 Tuyên bố………
II LÍ THUYẾT HỘI THOẠI
1 Khái niệm:
2 Cấu trúc hội thoại:
2.1 Cuộc thoại:
2.2 Đoạn thoại:
3 Cấp độ hội thoại:
3.1 Lượt lời:
3.2 Sự trao lời
3.3 Sự đáp lời:
Trang 34.1 Yếu tố kèm lời:………
4.2 Yếu tố phi lời………
5 Các quy tắc hội thoại………
5.1 Quy tắc điều hành sự luân phiên lượt lời:………
5.2 Quy tắc cộng tác hội thoại………
5.3 Quy tắc lịch sự trong tiếp………
6 Cơ chế tạo hàm ngôn Chương hai KHẢO SÁT NGÔN NGỮ HỘI THOẠI TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN MINH CHÂU I GIỚI HẠN ĐỐI TƯỢNG VÀ VĂN BẢN 1Tác giả:………
2 Tác phẩm: ………
3 Giới hạn phạm vi đề tài:………
II THỐNG KÊ VÀ PHÂN TÍCH NGÔN NGỮ HỘI THOẠI TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN MINH CHÂU: 1 Thống kê:………
2 Phân tích ngôn ngữ hội thoại trong truyện ngắn cụ thể:………
2.1Truyện ngắn “nguồn suối”:………
2.2 Truyện ngắn “ Những vùng trời khác nhau”:………
2.3 Truyện ngắn “Mảnh trăng cuối rừng”:………
2.4 Truyện ngắn “Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành”………
2.5 Truyện ngắn “Cỏ lau”………
2.6 Truyện ngắn “Phiên chợ Giát”………
PHẦN KẾT LUẬN
Trang 5Chương một: LÝ THUYẾT HÀNH ĐỘNG NGÔN TỪ
VÀ LÝ THUYẾT HỘI THOẠI
Trang 64.1 Yếu tố kèm lời:
4.2 Yếu tố phi lời
5 Các quy tắc hội thoại:
5.1 Quy tắc điều hành sự luân phiên lượt lời
5.2 Quy tắc cộng tác hội thoại
5.3 Quy tắc lịch sự trong tiếp
6 Cơ chế tạo hàm ý
6.1 Vi phạm các phương châm hội thoại
6.2 Sử dụng các yếu tố khác
Chương hai: KHẢO SÁT NGÔN NGỮ HỘI THOẠI TRONG
TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN MINH CHÂU
I GIỚI HẠN ĐỐI TƯỢNG VÀ VĂN BẢN
2 Phân tích ngôn ngữ hội thoại trong truyện ngắn cụ thể:
2.1Truyện ngắn “nguồn suối”
2.2 Truyện ngắn “ Những vùng trời khác nhau”
2.3 Truyện ngắn “Mảnh trăng cuối rừng”
2.4 Truyện ngắn “Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành”
Trang 7và một nền văn hóa đặc trưng cho dân tộc ấy Dân tộc Việt Nam cũng không nằm ngoài cái vòng quay đó Văn học Việt Nam đã đi cùng lịch sử đất nước đi cùng với ngôn ngữ dân tộc trải qua bao thăng trầm, văn học vẫn tồn tại và phát triển góp một phần không thể thiếu trong quá trình gìn giữ và phát huy vốn liếng ngôn ngữ dân tộc.Trong nền văn học
có rất nhiều mảng đề tài phản ánh cuộc sống và truyện ngắn là một trong những tấm gương phản ánh nhanh và chân thực hơn cả Nhà văn không mất nhiều thời gian để góp nhặt những điển hình của cuộc sống để viết nên những trang viết dài, chỉ cần một sự kiện bình thường xảy ra trong cuộc sống chúng ta vẫn có những truyện ngắn để mang tới cho độc giả một món ăn tinh thần mới lạ Trong những năm chiến tranh điều này lại càng quan trọng hơn cả bởi đất nước phải đối mặt với quân thù hùng mạnh, nếu không có những món ăn tinh thần kịp thời như thế thì con người không thể có được sức mạnh phi thường để chiến đấu và chiến thắng Ngày hòa bình mới lặp lại, những “cây bút” lớn trong mảng đề tài truyện ngắn vẫn không rời bút mà đi sâu hơn để phản ánh cuộc sống một cách chân thực nhất Nguyễn Minh Châu là một cây bút điển hình thành công trên mảng đề tài truyện ngắn Với mong muốn đi vào khai thác ngôn ngữ hội thoại trong lời ăn tiếng nói hàng ngày được nhà văn Nguyễn Minh Châu đưa vào trong tuyển tập truyện ngắn của mình Ngôn ngữ của người dân, của những anh lính trong chiến trường…được tác giả đưa vào một cách tự nhiên và có chủ ý riêng của mình Thông qua ngôn ngữ nhân vật khi trực tiếp đối thoại đã toát lên được phần nào tính cách, suy nghĩ trong mỗi nhân vật bên cạnh đó chúng ta còn biết thêm về phong cách nghệ thuật của tác giả thông qua tuyển tập truyện ngắn của ông Việc đi vào tìm hiểu ngôn ngữ hội thoại trong truyện ngắn
Trang 8của Nguyễn Minh Châu sẽ giúp người đọc hiểu rõ hơn về tác phẩm cũng như nội dung phản ánh trong tác phẩm ấy một cách trọn vẹn Chính vì thế mà chúng tôi chọn đề tài
ngôn ngữ hội thoại trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu để tiến hành nghiên cứu
Trong quá trình tìm tòi học hỏi những điều mới mẻ của thế giới các nhà nghiên cứu ngôn ngữ Việt Nam đã tiếp thu có chọn lọc và bổ sung thêm cho phù hợp với ngôn ngữ dân tộc Thế nhưng vì sự khác nhau về ngôn ngữ và một số lí do khách quan khác mà lí thuyết hành động ngôn từ chỉ chiếm một chương hoặc một mục nhỏ trong những cuốn sách nghiên cứu về ngôn ngữ ở Việt Nam
Các công trình đầu tiên được nhắc tới là công trình nghiên cứu của Hoàng Phê (1989), Cao Xuân Hạo(1991), Đỗ Hữu Châu (1993) Nguyễn Đức Dân (1996)…
Lí thuyết hành động ngôn từ đã được thực tế chứng minh là một phần không thể thiếu của việc nghiên cứu ngôn ngữ Các nhà nghiên cứu đã đi sâu vào khai thác dựa trên những thành công đã đạt được của các nhà nghiên cứu nước ngoài đồng thời cũng đưa ra cách hiểu riêng của mình như sau:
Trong chương “Lí thuyết hành động ngôn từ” của cuốn dụng học Việt Ngữ mà
Hoàng Phê làm tác giả đã dẫn một số vấ đề về lí thuyết hành động ngôn từ, tuy có cách hiểu đúng về nghiên cứu của Austin hay Searle nhưng ông đã mở đường cho các nhà nghiên cứu này hiểu thêm về một lý thuyết mới Cao Xuân Hạo đã chỉ rõ hơn về lí thuyết này Nhưng có lẽ người dành nhiều giấy mực cho lí thuyết này ở Việt Nam phải kể đến công trình nghiên cứu của Đỗ Hữu Châu với hơn 150 trang cho lí thuyết hành động ngôn
Trang 9từ chương III: hành vi ngôn ngữ trong chương này ông đã nêu lên khái niệm về hành vi
ngôn ngữ và các quan niệm khác nhau, các điều kiện sử dụng hành vi ngôn từ Cuốn sách còn tập hợp các phân chia mà các nhà nghiên cứu trước đó trước đó viết về lý thuyết hành động ngôn từ
Lý thuyết này không chỉ dừng lại ở đó bởi phía sau những trang viết này còn là công trình nghiên cứu của Nguyễn Đức Dân về hành vi ngôn ngữ của Austin ông đi vào các điều kiện dùng của các hành vi ngôn ngữ và các quan niệm của các nhà nghiên cứu trước
đó để người đọc có thể chọn lựa cho mình một cách phân loại đúng đắn Ông còn đề cập tới hành vi ngôn ngữ gián tiếp về khái niệm cách phân loại hành vi ngôn ngữ gián tiếp của một số nhà ngôn ngữ trong và ngoài nước
Gần đây chúng tôi còn thấy trong cuốn “giáo trình ngữ pháp học chức năng cú pháp học” của tác giả Chim Văn Bé đã tóm tắt các công trình nghiên cứu đồng thời đưa ra quan niệm, cách hiểu của mình về lí thuyết hành động ngôn từ Tác giả đã đi sâu vào hành động qua lời để từ đó phát hiện thêm một số điều mới trong ngôn ngữ đời sống
Ngôn từ là nền tảng cho quá trình giao tiếp của con ngường chính vì thế mà chúng tôi chọn cách đi tìm hiểu về lý thuyết hành động ngôn từ qua đó mới đi vào lí thuyết hội
thoại hội thoại là hoạt động giao tiếp diễn ra hai chiều ở dạng nói Nó bao gồm các lượt
lời, lời chêm xen… Nguyễn Đức Dân đã đưa ra những vấn đề đại cương về hội thoại cũng như nội dung và xoay quanh vấn đề phép lịch sự trong quá trình hội thoại Không chỉ có thế mà cách tạo hàm ý trong hội thoại cũng được các tác giả đề cập đến
Quá trình hội thoại diễn ra như thế nào là do những người tham gia hội thoại hay nói đúng hơn là do các phát ngôn trong quá trình hội thoại các tác giả đi vào các vận động hội thoại, các đơn vị, quy tắc các yếu tố kèm lời và phi lời trong hội thoại Dù có hướng đi khác nhau nhưng các tác giả đã hướng cho người đọc hiểu và có những phát ngôn đúng trong những trường hợp cụ thể
Khi chúng tôi đi vào tìm hiểu ngôn ngữ hội thoại trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu chúng tôi thấy trong cuốn giới thiệu về tác giả Nguyễn Minh Châu có một số đoạn bàn về ngôn ngữ trong truyện ngắn của ông Và đặc biệt trong cuốn “Ngữ học trẻ
Trang 102007” có một tác giả đã viết về “bước đầu tìm hiểu về nội dung lời thoại trong truyện
ngắn của Nguyễn Minh Châu” [10;322]
3 Mục đích nghiên cứu:
Với đề tài này chúng tôi hi vọng sẽ giúp người đọc hiểu thêm được một phần nào đó
về ngôn ngữ hội thoại trong một số truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu và những đóng góp của ông cho việc giữ gìn ngôn ngữ dân tộc
4 Phạm vi nghiên cứu:
Với khả năng có hạn với đề tài này chúng tôi đi vào nghiên cứu những tác phẩm trải dài trong quá trình chiến tranh và sau chiến tranh Với từng thời kì là những tác phẩm tiêu biểu, nhũng nhân vật tiêu biểu đánh dấu quá trình sáng tác của Nguyễn Minh Châu.(6 truyện ngắn)
5 Phương pháp nghiên cứu:
Chúng tôi đi vào tổng hợp, thống kê sau đó ở trong từng tác phẩm chúng tôi sẽ lựa chọn ra những cuộc thọai tiêu biểu (chủ yếu là song thoại) để phân tích và sau đó nêu lên nhận xét chung về nhân vật hoặc những điều mà tác giả muốn gửi gắm qua nhân vật ấy
Trang 11người Thế nhưng hành động ngôn từ mới chính thức đi vào nghiên cứu và trở thành một
lí thuyết mới vào nửa sau thập niên XX
Người đặt nền móng cho lí thuyết hành động ngôn từ là nhà triết học người Anh J.L Austin Ông phát hiện nghĩa tương tác xã hội hay nghĩa liên nhân của câu nói Vào năm
1955, J.L Austin sang Đại học Havard (Mĩ) trình bày một chuyên đề về triết học ngôn ngữ thể hiện qua 12 bài giảng Sau khi ông qua đời (1960), 12 bài giảng này được tập
hợp lại và in thành sách với tiêu đề How to Do Things with Words [1;87]
Trong quá trình du nhập vào Việt Nam: Speech act được dịch thành hành động như thế nào bằng lời nói hay lí thuyết hành động ngôn từ Nhiều nhà nghiên cứu đã đi sâu vào
tìm hiểu nội dung cuả lí thuyến này Các tác giả đã dành trọn một chương trong cuốn sách của mình để giúp người đọc hiểu rõ hơn về lí thuyết hành động ngôn từ ví như: hành vi
ngôn ngữ (chương II) trong cuốn ngữ dụng học của tác giả Nguyễn Đức Dân, hành vi
ngôn ngữ (chương III) trong cuốn “ngữ dụng học” (tập hai) của tác giả Đỗ Hữu Châu,
Trang 12lí thuyết hành động ngôn từ (mục 3) tác giả Nguyễn Thiện Giáp…Vậy nội dung chính của
lí thuyết này được các tác giả hiểu như thế nào?
1 Các hành vi ngôn ngữ:
1.1 hành vi tạo lời (locutionary act, locctiont):
Đó là hành động “nói một điều gì đó” [2;17] Trong hành vi tạo lời tác giả đã dịch
và chia thành ba phương diện khác nhau của hành vi này: hành vi ngữ âm, hành vi đưa
giọng và hành vi tạo vật
Hành vi tạo lời là “hành vi sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ như ngữ âm, từ, các
kiểu kết hợp từ thành câu để tạo ra một phát ngôn về hình thức và nội dung”.[1;88], đó
là quan cách hiểu của tác giả Đỗ Hữu Châu
Còn Nguyễn Thiện Giáp hiểu cụm từ này là hành động tại lời ông định nghĩa như sau: hành động tại lời là hành động cơ sở của phát ngôn, là hành động phát ra một câu với
ý nghĩa và cơ sở chỉ xác định Nếu anh gặp khó khăn trong việc phát âm các từ để tạo ra một phát ngôn có ý nghĩa trong ngôn ngữ thì anh không thành công trong việc tạo ra một hành động tạo lời [4;44]
Gần đây có một công trình nghiên cứu về “ngữ pháp học chức năng tiếng Việt -cú
pháp học” của tác giả Chim Văn Bé có đề cập tới vấn đề “lí thuyết hành động ngôn từ”, trong nội dung của lí thuyết này tác giả đã đi và nội dung của hành vi tạo lời được ông hiểu và dịch là hành động tạo lời Vậy “hành động tạo lời là hành động sử dụng các
phương tiện ngữ âm, từ vựng và các quy tắc kết hợp có sẵn trong ngôn ngữ để tạo ra câu với nội dung ngữ nghĩa và chiếu vật ít nhiều xác định [6.18] Hành động tạo lời được ông chia làm ba phương diện hành động phát âm, hành động kiểm giao và hành động tạo nghĩa chiếu vật Ba phương diện này được ông giải thích
Hành động phát âm: (phonetic act) chỉ hành động phát ra âm thanh nào đó
Hành động kiểm giao (phactic act) là hành động phát ra âm thanh hay từ, nghĩa là những âm thanh thuộc loại nào đó thuộc kiểu từ vựng nào đó phù hợp với lớp ngữ pháp nào đó
Trang 13Hành động tạo nghĩa – chiếu vật (rhetic act) là hành động sử dụng những âm thanh với ý nghĩa và sự quy chiếu ít nhiều xác định
1.2 Hành vi ở lời (illocutionnary act, illocution):
Có những phát ngôn như: “Tôi xin cảm ơn ông”, “tôi xin lỗi bạn về chuyện tối hôm qua” Khi kết thúc những phát ngôn ấy thì có nghĩa rằng hành động “cảm ơn”, “xin lỗi”
đã được thực hiện Vậy hành động đó được các tác giả hiểu như thế nào?
“Nói một điều gì đó là để thực hiện một hành động gì đó” đó là quan niệm mà tác giả Nguyễn Đức Dân hiểu về hành vi ở lời
Hành vi ở lời là hành vi người nói thực hiện ngay khi nói năng Hiệu quả của chúng
là những hiệu quả thuộc ngôn ngữ, có nghĩa là chúng gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng với chúng ở người nhận.[1;89] Khác với hành vi mượn lời, hành vi ở lời có ý định, có mục đích, quy ước và có thể chế Cho dù những thể chế ấy không tồn tại trên ngôn ngữ mà chúng được một cộng đồng người chấp nhận tuân thủ theo một cách không
tự giác
Hành vi ở lời được tác giả Chim Văn Bé hiểu là hành động trong lời: “là hành động được người nói thực hiện bằng cách nói ra điều gì đó” Ông còn đưa ra một số điều kiện
thuận lợi (Diễn theo cách hiểu của Austin):
- Phải có một thủ tục mang tính chất quy ước chấp nhận được tạo ra một hiệu quả
quy ước chấp nhận được Thủ tục này bao gồm việc phát ngôn những từ nào đó từ người nào đó bởi những người nào đó trong những hoàn cảnh nào đó
- Hoàn cảnh và con người cụ thể trong từng trường hợp phải phù hợp với yêu cầu được quy định trong thủ tục
- Thủ tục phải được tất cả mọi người tham gia thực hiện đúng đắn và đầy đủ
- Thủ tục quy định người tham gia phải có xúc cảm suy nghĩ và ý định nào đó, thì
người tham gia phải thật sự có cảm xúc suy nghĩ về ý định ấy [6;19]
Khi phát ra hành động trong lời như “cảm ơn” thì người nghe sẽ trở thành người ban
ơn còn người nói là người chịu ơn Chính những điều này mà hành động ngôn từ đã làm thay đổi tư cách của người nghe hay người nói trước đó
Trang 141.3 Hành vi mượn lời (perlocutionary act):
Khi nắm được một ngôn ngữ thì không có nghĩa là nắm được âm, từ ngữ, câu… của ngôn ngữ đó mà phải hiểu được những nội dung ẩn đằng sau nó Hành vi mượn lời là hành vi nằm phía sau ngôn ngữ, thông qua ngôn ngữ để gây ra một hiệu qua nào đó ngoài ngôn ngữ
Nguyễn Đức Dân quan niệm: “khi thực hiện một hành vi tại lời, người nói có thể nhằm một chủ đích, một mục tiêu nào đó cần đạt được” một ví dụ điển hình như câu nói
“tôi tuyên bố khai mạc hội nghị” người nói thông qua nội dung mệnh đề “khai mạc hội nghị” để yêu cầu mọi người giữ trật tự và chuẩn bị cho những nghi thức của buổi lễ Hành động đó đã tạo ta một hiệu lực ngoài lời và tác giả Đỗ Hữu Châu khái quát lên như sau:
“hành vi mượn lời là hành vi mượn phương tiện ngôn ngữ, nói cho đúng hơn là mượn cách phát ngôn để gây ra hiệu quả ngoài ngôn ngữ nào đó ở người nghe, người nhận hoạc chính người nói”[1;88]
Chúng ta còn bắt gặp một khái niệm khác được Nguyễn Thiện Giáp dịch
perlocutionary act thành hành động sau lời và ông đưa ra khái niệm: “ hành động sau lời
là hành động gây được hiệu quả ở người nghe được phát ra một câu, hiệu quả phát ngôn như thế là chỉ riêng cho hoàn cảnh phát ngôn” [4;45]
Tác giả Cao Xuân Hạo đưa ra định nghĩa của mình cho nội dung này như sau: “một hành động xuyên ngôn là một sự tác động vào tâm lí hay/ và hành vi của người nghe (…) làm cho người nghe xúc động, yên tâm, bị thuyết phục, phấn khởi, bị áp đảo ” [7;122] Hành động qua lời là cách gọi tên khác của hành vi mượn lời mà tác giả Chim Văn
Bé dịch Ông đưa ra khái niệm: “hành động qua lời là hành động mà người nói thực hiện
thông qua hành động trong lời nhằm gây ra những hiệu quả nào đó đối với xúc cảm, suy nghĩ, tình cảm, hành động của người nghe, của chính người nói hay người khác một cách
có chủ định, có mục đích Hành động qua lời có chủ định, có mục đích như hành động trong lời, nhưng không có quy ước và chế định của xã hội [6;21]
Ví dụ sau sẽ giúp mọi người hiểu rõ hơn về khái niệm này:
Trang 15Trong “Những vùng trời khác nhau” Nguyễn Minh Châu cũng đặt vào miệng nhân
vật những lời nói đầy sức mạnh như :
- “Làng tao đây rồi, Sơn ơi!
Sơn ngước nhìn bốn phía chân trời tối đen như mực
- Đâu hả?
- Bên tê …bên tê song chỗ có hướng mái chèo hướng thẳng sang.(….)”
Hành động trong lời mà nhân vật Lê thể hiện đó chỉ đơn thuần là một nội dung mệnh
đề mang tính chất thông báo: “làng tau đây rồi…” Thế nhưng để cho người nghe nhận biết một cách chính xác hơn, rõ ràng hơn Lê đã nói: “Bên… bên tê sông Chỗ có hướng mái chèo hướng thẳng sang” Qua câu nói ấy Lê không những chỉ đường cho Sơn biết mà còn cả một kí ức tuổi thơ tràn về mang theo bao suy nghĩ Những câu văn tiếp theo đã làm
sáng tỏ điều này “anh nghe rất rõ tiếng mái chèo đặc biệt của con sông quê anh tiếng mái
chèo đò dọc chậm rãi và uể oải xuôi sông Lam thủa lọt lòng Lê nghe và nhớ không dứt ra
- (1)Chí Phèo đấy hả, lè bè vừa vừa chứ, tôi không phải là cái kho
Rồi ném bẹp năm hào xuống đất, Cụ bảo hắn:
- (2)Cầm lấy mà cút đi cho rãnh Rồi làm mà ăn chứ cứ báo người ta mãi à?
Hắn trợn mắt, chỉ tay vào mặt cụ:
- (3)Tao không đến đây xin năm hào
Thấy hắn toan làm giữ cụ đành dịu giọng:
- (4)Thôi, cầm lấy đi, tôi không còn hơn
Hắn vênh cái mặt lên rất là kiêu ngạo:
- (5)Tao đã bảo tao không đòi tiền
Trang 16- (6)Giỏi! Hôm nay mới thấy anh không đòi tiền thế thì anh cần gì?
- (9)Không được! ai cho tao lương thiện? làm thế nào cho mất được những vết mảnh
chai trên mặt này? Tao không thể làm người lương thiện được nữa Biết không! Chỉ có một cách… biết không! Chỉ còn một cách là…Cái này! Biết không!
Các phát ngôn của Chí Phèo là (3),(5),(7),(9) trước nhứng điều mà bá Kiến nói (2) Chí Phèo khẳng định mình không đến “để xin năm hào” đó là hành động trong lời sau câu nói xoa dịu của Bá Kiến- một người biết “mềm nắn rắn buông”, Chí Phèo đã khẳng định lại một lần nữa rằng (5) Vì theo thói quen thì Chí Phèo đến nhà Bá Kiến chỉ để vòi tiền thế nhưng Chí đã nói rõ mục đích đến nhà Bá Kiến của mình là “đòi lương thiện” vì không hiểu được ý định trả thù đằng sau cái ẩn ý ấy mà Bá Kiến lại tiếp tục mỉa mai đẩy
sự căm thù lên đến tột đỉnh Chi giết Bá Kiến rồi tự kết liễu đời mình như một điều tất yếu Yếu tố phản hiệu lực ở đây có tác dụng trong việc đẩy xung đột và kịch tính đi tới tột đỉnh và cách giải quyết đó là tất yếu
Hay trong tác phẩm “Cỏ lau” của Nguyễn Minh Châu ta bắt gặp cuộc nói chuyện của đôi vợ chồng Lực, Thai khi hai người cùng lên đi làm:
- (1) Đi thôi, sao em ở nhà lâu vậy?
- (2) Em phải dọn dẹp, thu xếp nhà của một chút
- (3) Em có gặp thằng Nhi vừa dắc xe đi lên không?
- (4) Có
- (5) Chắc là em bận đứng nói chuyện với hắn nên mới lâu vậy?
Thai cắn chặt môi:
- (6) Em với hắn có gặp nhau thì em cũng không nhìn mặt hắn Không phải bây giờ
mà ngày trước cũng vậy thôi
Trang 17Phát ngôn (1) là của Lực khi phải đợi người vợ của mình để cùng đến chỗ làm Phát ngôn đó dùng để hỏi thế nhưng trong câu hỏi ấy hàm ý rằng “có phải em đứng nói chuyện với thằng Nhi?” vì không hiểu được ý đó của chồng mà Thai đã đưa ra phát ngôn (2) Khi hàm ý được nói rõ trong phát ngôn (3),(5) thì Thai mới hiểu và đưa ra lí lẽ dẫn chứng để giải tỏ nghi vấn trong lòng Lực Nếu phát ngôn ấy không được nói rõ thì hai nhân vật tham gia hội thoại sẽ dẫn tới xung đột
Qua tìm hiểu một số các khái niệm về hành vi tạo lời, hành vi lượt lời và hành vi ở lời Với đề tài này chúng tôi thống nhất lấy cách hiểu của tác giả Chim Văn Bé làm nền tảng để đi vào tìm hiểu ngôn ngữ hội thoại trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu
2 Các loại hành động ngôn từ:
Trong quá trình phát triển lí thuyết hành động ngôn từ thì Searle được thừa nhận là người có vị trí đặc biệt
Ông đưa ra được 5 loại hành động ngôn từ:
2.1 Tái hiện (Representatives) yếu điểm ngôn trung: là miêu tả sự tình đang được nói đến Hướng khớp gép là lời -hiện thực trạng thái tâm lí là niềm tin vào điều mình xác tín Nội dung mệnh đề là một mệnh đề các mệnh đề này có thể đánh giá theo tiêu chuẩn chân ngụy Ví dụ than thở, khoe …
2.2.Cầu khiến (Directive) ra lệnh yêu cầu cho phép: yếu điểm ngôn trung của loại này là người nói dùng ngôn từ để người nghe làm một việc gì đó nội dung mệnh đề chính
là các hoạt động đó hỏi cũng là hành động cầu khiến
2.3.Hứa hẹn (Commissives) hứa hẹn tặng biếu: J.R.Searle chấp nhận các định nghĩa của Austin “người nói cam kết sẽ thực hiện một hành động nào đấy Và đó cũng là nội dung của phát ngôn”
2.4.Bày tỏ (Expressives) yếu điểm ngôn trung: là bày tỏ một trạng thái tâm lí đối với
sự tình được chỉ trong mệnh đề 1 như : “cảm ơn”, “xin lỗi”, “lấy làm tiếc” Nội dung mệnh đề là một hoạt động hay một tính chất nào đó của người nói hay người nghe
Trang 185.Tuyên bố (Declarations) tuyên bố buộc tội là hành động ngôn từ nếu được thực hiện đúng quy cách và nếu người nói có đủ tư cách đưa đến sự tương ứng giữa nội dung mệnh đề và hiện thực Nội dung mệnh đề là một mệnh đề Đây là những lời ngôn hành
II LÍ THUYẾT HỘI THOẠI:
1 Khái niệm:
Như chúng ta đã biết giao tiếp là một hoạt động tất yếu của con người trong xã hội Hoạt động này diễn ra trong một hoàn cảnh nhất định, với một nội dung nhất định, thông qua phương tiện giao tiếp nhất định, trong đó ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người
Giao tiếp có thể diễn ra ở dạng nói hoặc dạng viết Tuy nhiên dạng nói là phổ biến
và chủ yếu Trong giao tiếp có giao tiếp một chiều và giao tiếp hai chiều Đối với giao tiếp một chiều chỉ có một bên nói còn bên kia tiếp nhận hình thức này chúng ta bắt gặp ở những diễn văn, mệnh lệnh quân sự, lời dẫn của xướng ngôn viên truyền hình… Đó là độc thoại Còn đối với hình thức giao tiếp hai ở chiều, hình thức này rất phổ biến : bên
này nói bên kia nghe và phản hồi lại Lúc đó vai trò hai bên thay đổi : người nói sẽ trở
thành người nghe và ngược lại hình thức này gọi là hội thoại
Chính vì thế mà khái niệm hội thoại có liên quan mật thiết tới khái niệm giao tiếp Tuy khái niệm hội thoại hẹp hơn giao tiếp nó chỉ là một phần của giao tiếp nhưng nó là một phần căn bản phổ biến và quan trọng nhất Nếu giao tiếp có thể diễn ra một chiều hay
hai chiều có thể ở dạng nói hay viết thì hội thoại là hoạt động giao tiếp diễn ra hai chiều
ở dạng nói
Trong hội thoại số lượng người tham gia hay còn gọi là đối tác hội thoại thay đổi từ hai đến một số lượng lớn Có những cuộc thoại chỉ gồm hai bên đó là song thoại (dialogue) Cũng có thể ba bên hoặc nhiều bên đó là tam thoại (trilogue) ví như : trong cuộc vận động tranh cử ở mọt số nước đa đảng mà có từ ba ứng cử viên tổng thống tham gia tranh luận công khai và được truyền hình trực tiếp thì được gọi là tam thoại Nhưng
Trang 19đây cũng là đa thoại bởi cả ba ứng cử viên này tranh luận cốt để dành phiếu bầu, trong phòng họp thì có thể nói với khán thính giả, rồi những người trong phòng đó có thể hỏi lại, chất vấn các ứng cử viên về những điều họ quan tâm… Tuy nhiên trong các loại hội thoại thì song thoại là quan trọng nhất
Xét về hình thức của hội thoại rất đa dạng Các cuộc hội thoại có thể khác nhau về tính nghi thức hay không nghi thức Chẳng hạn những cuộc thương nghị, hội thảo… Là những cuộc hội thoại mà hình thức khá chặt chẽ trang trọng đến mức thành nghi lễ còn những cuộc trò chuyện thông thường thì không có hình thức tổ chức nào nhất định Nó phụ thuộc hoàn toàn vào hoàn cảnh giao tiếp và nội dung giao tiếp
Xét về mục đích của hội thoại , Đỗ Hữu Châu phân biệt hội thoại có đích hướng
ngoại và hội thoại có đích hướng nội Theo ông “Thực ra theo chuỗi hoạt động của con
người tự chúng đã có mục đích cho nên nói hội thoại có đích hướng ngoại phân biệt với hội thoại có đích hướng nội hơn là hội thoại có đích hay không có đích bởi vì trong những cuộc hội thoại tuy không có đích hướng ngoại nhưng vẫn có đích hướng nội ’’
[3;203] Ông cho rằng hội thoại hướng nội như những cuộc xã giao nhằm tạo lập quan hệ
xã hội hay biểu lộ tình cảm hay giải trí Còn hội thoại hướng ngoại là trong đó các đối tác nhằm thoả thuận với nhau để xứ lí một lĩnh vực thực tế nào đó
Nguyễn Đức Dân cũng nhận định rằng “mọi cuộc hội thoại đều có mục đích, đều
chứa đựng một hoặc nhiều chủ đề Ở đó mỗi cá nhân có thể tìm thấy một mục đích riêng”
[2 ;80] Nhưng ông phân biệt mục đích được thể hiện ở hành vi tại lời và mục đích nằm ở ngoài lời
Tóm lại các tác giả đều có cách phân biệt khác nhau về hình thức biểu hiện của mục đích trong hội thoại Nhưng xét về nội dung thì chúng tôi thấy rằng có những cuộc hội thoại xác định trước và không xác định trước Ví như : Những cuộc hội thoại thương thuyết ngoại giao, hội thảo khoa học được xác định trước về nội dung rõ ràng nghiêm túc những cuộc tán gẫu hay trò chuyện ,tâm tình được xen vào và đó được xem là không xác định trước nội dung, mà chỉ do ngẫu hứng tự do
Trang 202 Cấu trúc hội thoại:
Hội thoại là hành động giao tiếp phổ biến nhất cấp độ hội thoại nhỏ nhất là một lượt lời và lớn nhất là một cuộc thoại Trong một cuộc thoại có thể chứa một hoặc nhiều chủ
đề và trong mỗi chủ đề ấy lại có nhiều vấn đề Để hiểu rõ hơn về cấp độ hội thoại trước tiên chúng ta cần nắm rõ các khái niệm sau:
2.1 Cuộc thoại:
Đó là một lần trao đổi, nói chuyện giữa cá nhân trong hoàn cảnh xã hội nào đó Là đơn vị bao trùm lớn nhất Có thể nói toàn bộ hoạt động ngôn ngữ của con người là một chuỗi dằng dặc những lời đối đáp Việc phải tách ra trong chuỗi dằng dặc lời đối đáp của con người những đơn vị gọi là cuộc thoại là cần thiết để nghiên cứu Thực ra có một loại đơn vị lớn hơn nữa một lịch sử hội thoại gồm nhiều cuộc thoại do hai hoặc một số người tiến hành bị ngắt quãng về thời gian và thay đổi về địa điểm nhưng vẫn chung một chủ đề
từ khi bắt đầu đến khi kết thúc Như cuộc hội đàm Paris giữ Hoa Kỳ và Việt Nam
2.2 Đoạn thoại:
Về nguyên tắc có thể định nghĩa đoạn thoại là một mảng diễn ngôn do một số cặp trao đáp liên kết chặt chẽ với nhau về nghĩa và ngữ dụng Về ngữ nghĩa đó là sự liên kết chủ đề một chủ đề duy nhất và về ngữ dụng đó là tính duy nhất về đích Trong đoạn thoại còn có lời mở thoại thân thoại và lời kết thoại
Mở thoại : “ là những lời thoại được dùng để người khác cảm nhận được có thể có một chuỗi những lời nói tiếp theo” Mở thoại chưa bước vào cuộc thoại nó chỉ đánh dấu bước thăm dò tạo không khí thuận lợi để bước vào hội thoại Mở thoại có thể là những lời chào, những yếu tố phi ngôn ngữ hay những tín hiệu ngôn ngữ đưa đẩy mở thoại là những hành vi ngôn ngữ được xã hội quy định chính vì thế mà khi có sự khác nhau về một nền văn hóa hay phong tục tín ngưỡng sự khó khăn trong việc tiếp nhận tín hiệu mở thoại
Thân thoại: như trên đã phân tích kĩ thì thân thoại là nội dung mà cuộc thoại đó đề cập tới nó có thể chứa một hoặc nhiều chủ đề với sự luân phiên lượt lời và các yếu tố ngôn ngữ, phi ngôn ngữ
Trang 21Kết thoại: là lời nói tóm lại nội dung của thân thoại cũng có thể là lời mở thoại cho cuộc thoại tiếp theo Kết thoại có khi còn là các yếu tố phi ngôn ngữ
Ranh giới của đoạn thoại có thể bị mờ đi nhưng nó vẫn hiện hữu
3 Cấp độ hội thoại:
Để có được một cuộc hội thoại thì ít nhất chúng ta cần có một lượt lời, bởi vì lượt lời
là những đơn vị cơ bản tạo nên một cuộc hội thoại Cấp độ thấp nhất của một cuộc hội thoại là các đơn vị hội thoại vậy lượt lời là gì?
3.1 Lượt lời:
Khái niệm: “lượt lời là chuỗi các đơn vị ngôn ngữ được một số nhân vật hội thoại
nói ra kể từ lúc bắt đầu cho đến lúc chấm dứt để cho nhân vật kia nói chuỗi của mình”
[1;205] Trong một cuộc thoại có rất nhiều lượt lời và sẽ không thành lượt lời nếu nhiều người nói một lúc mỗi lượt lời được xây dựng trên cơ sở lượt lời trước đó vậy nên có sự luân phiên lượt lời, luân phiên nói năng trong hội thoại Vậy cơ chế của sự luân phiên lượt lời là gì? Trước hết có sự phân biệt giữa tranh lời với chuyển giao lượt lời còn gọi là sự trao lời
Nguyễn Đức Dân quan niện “lượt lời là một lần nói xong của một người trong khi những người khác không nói để rồi người tiếp theo nói” [2;87]
Tác giả Nguyễn Đức Dân còn phân biệt và chỉ rõ ranh giới gữa lượt lời thú nhất và lượt lời thứ hai Ông xem lượt lời thứ nhất là định hướng ngữ nghĩa cho lượt lời thứ hai
Cả hai quan niệm trên đều hướng tới khái niệm của sự luân phiên lượt lời Để hiểu
rõ bản chất của khái niệm này chúng ta đi vào tìm hiểu sự trao lời, đáp lời , tranh lời và các yếu tố quanh hội thoại có gây tác động tới cuộc hội thoại đó
3.2 Sự trao lời:
Trong quá trình giao tiếp và khi diễn ra cuộc hội thoại thì điều quan trọng là người nói phải biết trao lời cho người nghe Vậy trao lời là gì?
Trang 22Tác giả Nguyễn Đức Dân cho rằng: “trao lời là sự chuyển lời tự nhiên có ý thức chủ động của người đang giữ lời” Sự trao lời có thể diễn ra một các trực tiếp hoặc gián tiếp Một định nghĩa khác cho sự trao lời “đó là vận động mà Sp1 nói lượt lời của mình ra và hướng lượt lời của mình về phía Sp2 nhằm làm cho Sp2 nhận biết được rằng lượt lời được nói ra đó là dành cho Sp2.[1;205]
Đi vào tìm hiểu, phân tích ta thấy sự đa dạng về hình thức hội thoại cũng như sự khó khăn khi xác định được vận động trao lời đó dành cho ai? Ở song thoại thì điều tất nhiên
đó là hướng tới người nghe, bởi song thoại là một người nói và một người nghe Thế nhưng ở hình thức đa thoại thì việc xác định người nghe càng trở nên phức tạp bởi người nghe có thể là tất cả mọi người đang tham gia hội thoại cũng có thể là một nhóm người trong số mọi người Chính vì lẽ đó mà khi người nói kết thúc lượt lời của mình thì cùng lúc đó người đang giữ lời phải có tín hiệu hướng lượt lời của mình về phía người nghe để người nghe có thể nhận biết được rằng người nói đang hướng lượt lời đó về phía mình
3.3 Sự đáp lời:
Có trao lời thì phải có sự đáp lời Vậy đáp lời là người nghe nói ra lượt lời của mình đáp lại lượt lời của người nói và hoán đổi vị trí của cho nhau Vận động trao đáp làm nên hội thoại Vận động này diễn ra một cách liên tục nhịp nhàng nhưng cũng có lúc nhanh lúc chậm, khúc mắc với sự đổi thay liên tục giữa vai nói và vai nghe
Sự đáp lời về hình thức cũng tương tự như sự trao lời vì sau khi thay đổi vị trí thì người đáp lời có thể dùng các yếu tố bằng lời và phi lời để nói về nội dung mà lượt lời thứ nhất yêu cầu
Có nhiều hình thức đáp lời, thế nhưng một hình thức mà người làm đề tài muốn lưu
ý tới đó là sự im lặng Ở đây không phải là sự im lặng đánh giá mà nó là một chiến thuật giao tiếp nó có thể là biểu hiện của sự đồng tình hoặc phản đối nó gây ra cho đối phương
sự hoài nghi Và hầu hết những cuộc thoại có sự xuất hiện của sự im lặng đều là những cuộc thoại có vấn đề
3.4 Sự tranh lời:
Trang 23Sự tranh lời diễn ra khá phổ biến trong các cuộc thoại Sự tranh lời còn gọi là sự ngắt lời nếu người nói đã nói xong và nhường lại quyền nói cho người tiếp theo thì đó là sự đáp lời còn ở đây tranh lời có nghĩa là những lời nói xen ngang vào lời nói của người khác Bởi lẽ khi tham gia vào hội thoại người nghe không chỉ đóng vai trò đóng nhận thông tin mà còn phải tỏ ra thái độ biểu hiện để người nói có thể xác định được rằng nên tiếp tục hay dừng lại lượt lời của mình
Biểu hiện của sự tranh lời khá đa dạng có khi chỉ là một cử chỉ, hành động phi lời
dù chỉ đóng vai trò là một nhân tố thúc đẩy quá trình tiến tới của hội thoại thế nhưng trong quá trình diễn ra hội thoại thì sự tranh lời là không thể thiếu Nếu sự trao lời và đáp lời là điều kiện cần để có một cuộc hội thoại thì sự tranh lời là điều kiện đủ góp phần không nhỏ cho quá trình hội thoại được diễn ra một cách tốt nhất
4 Các yếu tố khác:
Chúng ta không chỉ giao tiếp bằng ngôn ngữ mà chúng ta còn vận dụng các yếu tố
cơ thể cũng như có những điều kiện xung quanh tác động vào quá trình giao tiếp đó là những yếu tố kèm lời và phi lời Vậy yếu tố kèm lời và phi lời là như thế nào và nó có tác động gì tới quá trình giao tiếp
4.1 Yếu tố kèm lời:
Theo Đỗ Hữu Châu thì yếu tố kèm lời là các yếu tố mặc dầu không có đoạn tính như
âm vị và âm tiết nhưng đi kèm với các yếu tố đoạn tính Không một yếu tố đoạn tính nào được phát ra mà không có yếu tố kèm lời đi theo.[1;220]
Nội dung ý nghĩa của phát ngôn đôi khi không nằm ở câu chữ mà nằm ở những yếu
tố kèm lời Ví như “tôi biết chị đẹp” với ngữ điệu hơi cao và dài thì chữ đẹp ấy sẽ trở thành một lời chê chứ không phải là một lời khen như hành động trong lời phản ánh
4.2 Yếu tố phi lời:
Trang 24Ngoài những yếu tố trên thì tất cả các yếu tố khác đều thuộc yếu tố phi lời Đó là cử chỉ khoảng cách không gian, tiếp xúc cơ thể, cử chỉ, nét mặt…ngoài ra còn những tín hiệu phi lời những tín hiệu âm thanh: tiếng còi, tiếng huýt sáo
Các yếu tố cơ thể khi tiếp xúc trực tiếp thì thông qua trang phục, diện mạo bằng thị giác chúng ta có thể biết được giới tính của người tham gia hội thoại Các tín hiệu phi lời đóng vai trò nhất định trong việc lí giải nghĩa của lời nói Chúng ta biết rằng nghĩa trực tiếp, theo câu chữ của phát ngôn là do lời diễn đạt Nhưng nhiều khi chính các yếu tố phi lời mới giúp chúng ta hiểu đúng lời của nhau, thí dụ qua ánh mắt, nụ cười khẩy mà chúng
ta biết một lời khen thực ra lại là một câu nói mỉa
Trong hội thoại, các yếu tố kèm lời và phi lời giúp các nhân vật hội thoại có thể hiểu chính xác ý nghĩa của phát ngôn (diễn ngôn), mục đích giao tiếp của đối ngôn Đồng thời,
nó có thể tăng cường sự sinh động, hấp dẫn của hội thoại, gây sự chú ý đối với người hội thoại Cũng thông qua các yếu tố này, các đối ngôn có thể xây dựng hình ảnh về mình trong mắt của đối ngôn, tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau của các nhân vật (như về tuổi tác, thành phần xã hội, tính cách,…), để từ đó có thể thực hiện sụ tự hòa phối và liên hòa
phối trong quá trình hội thoại Chính vì điều này mà Arbercrombie đã nói “chúng ta nói
bằng cơ quan cấu âm nhưng chúng ta hội thoại với cả cơ thể của chúng ta…”
5 Các quy tắc hội thoại:
Hội thoại diễn tiến theo những quy tắc nhất định dù không thành văn nhưng mọi người trong cộng đồng đều ý thức được rằng hội thoại cũng có những quy tắc riêng nó Chúng tôi cho rằng nên chia những quy tắc hội thoại thành ba nhóm:
Quy tắc điều hành sự luân phiên lượt lời
Các quy tắc cộng tác hội thoại
Quy tắc lịch sự trong giao tiếp
Trang 255.1 Quy tắc điều hành sự luân phiên lượt lời:
Trong cuộc hội thoại, vai nói phải thường xuyên thay đổi nhau (luân phiên) nghĩa là người này nói rồi tiếp đến người kia Người này phải kết thúc lượt lời đúng lúc để nhường lời cho người kia Một cuộc hội thoại bình thường người chiếm độc quyền nói là người dễ
bị lên án Các lượt lời nối tiếp nhau một cách nhịp nhàng, không quá chậm và cũng không qua vội vàng , không dẫm đạp lên lượt lời của nhau không ngừng lại quá lâu ở một lượt lời nào, không có ai tranh mất lượt lời cua người khác Muốn vậy người nói và người nghe đều phải cùng chủ động tham gia vào hội thoại Cụ thể người nói phải biết dành giữ lời và nhường lời đúng lúc
Ở giai đoạn dành lời, người nói phải có dấu hiệu báo cho người nghe biết mình đang
nói với anh ta (ví dụ :thưa cô, thưa cậu, chú à, này, à…)
Ở giai đoạn giữ lời người người nói phải có các kiểm tra, nhắc nhở người nghe (ví
dụ: những câu hỏi giữa chừng: phải không? hiểu không? Cậu thấy thế nào? …)
Ở giai đoạn nhường lời cũng phải có tín hiệu báo trước để người nghe chuẩn bị lượt
lời của họ (Ví dụ:cuối cùng, nói tóm lại….)
Ngược lại người nghe cũng phải có dấu hiệu báo cho người nói biết ràng mình đang theo dõi cuộc thoại Cụ thể như (dùng những từ cảm thám :ghê thế, hay nhỉ, lạ nhỉ, hay những câu hỏi xen vào thế à? Rồi sao nữa? ) Hay đang gặp khó khăn trong việc tiếp nhận (ví như: tôi không rõ chỗ này là thế nào? ) hoặc không thể chú ý được nữa (ví như:tôi mệt, tôi đau đầu…)
Nghiên cứu về sự luân phiên lượt lời chúng tôi cũng chú ý tới thời gian tối thiểu và thời gian tối đa của lượt lời tần số xen lời, tranh lời trong hội thoại Khoảng cách thời gian tối thiểu và thời gian tối đa trong một lượt lời mang dấu ấn của tường nên văn hoá
Theo Kerbarat-Orechioni khoảng cách giữa hai lượt lời của người Mỹ là 5/10s, của Pháp là 3/10s Trong cuộc hội thoại khoảng cách giữa các lượt lời quá lâu sẽ gây cảm giác nặng nề, trống trải thậm chí đôi lúc làm cho đối tác bối rối, khó xử Tuy nhiên trong phán đoán thương mại người Nhật thường kéo dài khoảng cách này đến 10 phút hoặc lâu hơn thế nữa đó là chiến thuật kinh doanh của họ Phép lượt lời có thể được người điều khiển phân phối cho các nhân vật hội thoại tự thương lượng một cách không tường minh với
Trang 26nhau những cuộc hội thoại chỉ có một người nói hoặc thời gian im lặng lớn hơn thời gian nói, phần lớn là những cuộc đối thoại có vấn đề
Tóm lại, luân phiên lượt lời là một quy tắc liên quan đến nghi thúc giao tiếp, nó bị chi phối bởi văn hoá giao tiếp, ứng xử từng dân tộc
5.2 Quy tắc cộng tác hội thoại:
Trong quá trình hội thoại để cuộc thoại diễn biến bình thường, cả người nói và người nghe không những quan tâm đến giao tiếp mà còn phải chú ý đến nội dung hội thoại Nếu như quy tắc luân phiên lượt lời là quy tắc điều chỉnh nghi thức tiến trình hội thoại thì quy tắc cộng tác hội thoại điều chỉnh nội dung hội thoại
Theo Grice nguyên tắc cộng tác hội thoại có dạng tổng quát như sau: “hãy làm cho phần đóng góp của anh chị vào hội thoại đúng như nó được đòi hỏi ở giai đoạn mà nó xuất hiện phù hợp với đích hay phương hướng mà anh chị đã chấp nhận tham gia vào” [3;229]
Nguyên tắc này bao gồm bốn phạm trù mà Grice gọi tên là : phạm trù lượng, phạm trù chất, phạm trù quan hệ và phạm trù cách thức
Bốn phạm trù tương ứng với bốn phương châm
5.2.1 Phương châm về lượng:
¯ Hãy nói sao cho có nội dung đáng nói
¯ Đừng nói nhiều hơn cái nội dung đáng nói
5.2.2 Phương châm về chất:
¯ Hãy cố gắng làm cho phần đóng góp nội dung của bạn là đúng cụ thể là:
¯ Đừng nói những điều anh tin rằng không đúng
¯ Hãy nói đúng sự thật
5.2.3 Phương châm quan hệ.:
¯ Hãy làm cho phần đóng góp của anh dính líu tới câu chuyện đang diễn ra Hay nói khác đi hãy nói vào đề
5.2.4 Phương châm cách thức
¯ Hãy nói rõ ràng cụ thể là:
Trang 27¯ Hãy tránh lối nói trái nghĩa
¯ Hãy tránh lối nói mập mờ mơ hồ nghĩa
¯ Hãy nói ngắn gọn
¯ Hãy nói có trật tự
Grice viết “bất kể thế nào, chúng ta có cảm tưởng rằng khi ai đó nói không đúng
chỗ (tức không quan yếu) nói một cách tối nghĩa thì chính lợi ích của anh ta trong cuộc hội thoại sẽ bị tổn thất” [3;224]
Tuy nhiên trong họi thoại cũng như trong ngôn ngữ nhân vật đôi khi vi phạm phương châm nhằm diễn tả một ý khác ngoài ngôn ngữ Trong quyển “logic và hội thoại” Grice phân ra hai kiểu vi phạm:
-Phạm lỗi về phương châm do người nói vụng về không tuân thủ phương châm một cách vô tình không cố ý không có dụng ý
- Xúc phạm vi phạm, chối bỏ (cả treo một phương châm) là những việc làm có ý thức, cố ý “khai thác” các phương châm nhằm gài đằng sau phát ngôn của mình những hàm ý hội thoại tạo ra những ý nghĩa hàm không tự nhiên
Lý thuyết của Grice cũng có những hạn chế nhất định, nhưng từ 1967 đến nay lý
thuyết của Grice vẫn là cở sở cho tất cả những công trình nghiên cứu của ngữ dụng học
5.3 Quy tắc lịch sự trong tiếp:
Bên cạnh các quy tắc luân phiên lượt lời, quy tắc cộng tác hội thoại thì quy tắc lịch
sự trong giao tiếp cũng là một nhân tố quan trọng có tác dụng chi phối không những đối với quá trình giao tiếp mà cả đối với kết quả giao tiếp
Vậy lịch sự là gì?
Trong tiến Hán “lịch” có nghĩa là trải qua, “sự” là việc đời “Lịch sự” là trải qua nhiều việc đời Ngày nay nói tới lịch sự người ta nghĩ tới cách thức giao tiếp lễ độ nhã nhặn phù hợp với phép tắc xã giao.Nhiều nhà nghiên cứu đã khảo sát theo những góc độ khác nhau và có ba công trình nghiên cứu cần được chú ý đến đó là công trình của R.Lakoff (1973,1989) G.Leech (1983): Tiếp cận lịch sự dưới góc độ phương châm hội
Trang 28thoại P.Brown và S.Levison (1987) tiếp cận lịch sự như một hành vi giữ gìn thể diện nhưng lý thuyết của P.Brown và S.Levison được xem là nhất quán nhất có ảnh hưởng sâu rộng và có ảnh hưởng sâu rộng và có ảnh hưởng nhất định đối với hiệu quả tới việc nghiên cứu phép lịch sự
Lịch sự được thể hiện ở nhiều điểm, trong đó có hai điểm nổi bật là tôn trọng thể
diện của người khác cũng như bảo vệ thể diện của chính mình và khiêm tốn
Dựa trên nền tảng ấy Brow và Livison đã trình bày thể diện như là sự tổng hoà của hai loại mong muốn mong muốn âm tính và mong muốn dương tính Mong muốn âm tính được giải thích là “mong muốn của thành viên trưởng thành và có năng lực hiểu biết rằng mọi hành động của mình không bị người khác ép buộc” [5;9] Mong muốn dương tính là
“mong muốn của thành viên rằng mong muốn của mình đồng thời cũng là mong muốn ít
ra của người khác.”
Mức độ đe dọa của một hành vi ngôn ngữ theo Brow và Livison được đánh giá theo thông số: quyền lực, khoảng cách và mức độ trầm trọng của các hành vi đe dọa thể diện
Do vậy người nói phải tính toán được mức độ hiệu lục đe doạ thể diện của hành vi tại lời
mà mình định thực hiện để từ đó mà chọn chiến lược lịch sự cho phù hợp
Vậy chiến lược lịch sự là gì?có các chiến lược lịch sự nào?
Chiến lược lịch sự có thể hiểu là phương châm và các biện pháp sử dụng các hành vi ngôn ngữ phù hợp trong giao tiếp nhằm giữ thể diện cho chính mình và tránh đe doạ thể diện của người khác
Một số chiến lược lịch sự của người Việt được kể như:
-nêu lý do trước khi thực hiện hành vi tại lời
Trang 29-dùng các yếu tố tình thái để giảm thiểu sự áp đặt với người nghe (ví như làm ơn,hộ,phiền )
-Dùng các yếu tố tình thái để giảm thiểu sự khẳng định mạnh mẽ đồng thời có thể giúp đảm bảo phương châm về chất (như có lẽ,hình như,lẽ ra…)
-Dùng lối dịu hoá để giảm thiểu giá trị thật của sự vật hay giảm thiểu thời gian, không gian có lien quan (như:một chút, một ít, một chút xíu thôi,chút ít…)
-Dùng biện pháp vuốt ve, tháo ngòi nổ, nói vòng, nói giảm (ví dụ: bạn có ý kiến rất hay nhưng…,giá bánh ngọt hơn một tí thì…,tôi nói thật xin anh đừng buồn…)
-Lựa chọn cách xưng hô phù hợp để rút ngắn khoảng cách giữa hai người đối thoại…
-Ướm trước (ví dụ: tôi có thể nhờ anh một việc được không? Tối nay em có rảnh không? )
-Nói cảm ơn, xin lỗi trước khi và sau khi mình đã xâm phạm lĩnh địa cá nhân của người khác
-Ngoài ra lịch sự trong giao tiếp cũng yêu cầu chúng ta đừng xâm phạm lãnh địa hội thoại của người khác: không trả lời thay, không nói hết, chạm đến những khuyết điểm cơ thể, ngôn ngữ của đối ngôn, chạm đến đời sống riêng tư, niềm tin,đời sống nghề nghiệp,
sở thích…của họ Tránh nói tục tiểu chửi bới, lăng mạ… họ
Khiêm tốn:
Từ điển tiếng Việt giải thích: Khiêm tốn là có ý thức và thái độ đúng mức trong việc đánh giá bản thân, không tự mãn, không tự kêu, không tự cho mình là hơn người Tục ngữ Pháp có câu: “Cái tôi là cái đáng ghét” Trong hội thoại, người nào bộc lộ cái tôi quá nhiều sẻ gây khó chịu cho người đối thoại Bởi vậy, trong hội thoại nên tránh nói nhiều về mình, dù điều nói là sự than vãn, kể khổ hay khoe khoang,đề cao về mình Trong hội thoại, thông thường cái tôi được ẩn trốn sau cái chúng tôi Khi buộc phải nói về mình, người nói nên hạ mình một chút
Trên đây là những nguyên tắc hội thoại ít nhiều mang tính phổ quát Có điều cần chú
ý là các quy tắc ấy không tách rời nhau mà có quan hệ qua lại với nhau, có thể chuyển hoá
Trang 30lẫn nhau tuỳ theo hoàn cảnh giao tiếp Ngoài những quy tắc ấy, từng cá nhân, từng địa phương, từng dân tộc còn có thể có những quy tắc đặc ngữ khác Vấn đề quan trọng là chọn lựa cách nói năng phù hợp với văn hoá và ngữ cảnh
6 Cơ chế tạo hàm ngôn:
Hiểu một cuộc thoại không chỉ hiểu ngôn ngữ mà còn phải hiểu hàm ý mà lượt lời
đó đề cập.Để làm được điều đó chúng ta cần biết về một số cách tạo hàm ngôn mà các tác giả sử dụng để tạo thành những nút thắt cho tác phẩm:
6.1 vi phạm các phương châm hội thoại:
Như ở trên chúng tôi đã đưa ra những phương châm (phương châm về lượng,
phương châm về chất, phương châm quan hệ, phương châm cách thức) Khi tạo nên những lượt lời vi phạm một trong những phương châm trên hoặc vi phạm nhiều phương châm một lúc thì hàm ngôn trong hội thoại sẽ xuất hiện trong dân gian các tác giả thường
sử dụng hình thức này để lên án, phê phán hay đưa ra bài học kinh nghiệm cho người nghe, ví dụ:
“Một anh lính hay nịnh quan trên đang ngồi ở công đường Trông thấy con vịt đang đứng ngủ bằng một chân anh ta liền bẩm:
Bẩm quan lớn, con vịt…
Vừa lúc đó con vịt đứng dậy buông chân đứng lên
Quan quay lại hơi anh ta lúng túng không biết nói sao liền đáp:
Bẩm con vịt hai chân ạ!
Con vịt chẳng hai chân thì mấy chân? Bây đâu đè thằng này xuống đánh hai mươi hèo cho ta…” (truyện cười dân gian)
Trong câu chuyện trên ta thấy sự vi phạm về lượng là khá rõ ràng (nói không có nội dung đáng nói
6.2 sử dụng các yếu tố khác
quá trình hội thoại là quá trình luân phiên lượt lời của những người tham gia hội thoại, sự đồng điệu trong quá trình giao tiếp làm cho cuộc thoại tiến triển theo một hướng nhất định Cơ chế tạo hàm ngôn ở đây là quá trình hội thoại một cách bất thường, người nghe không hiểu hết được hành động qua lời mà người nói đã nói tới chính vì lẽ đó mà các lượt lời sau sẽ không có sự ăn khớp trong quá trình giao tiếp
Có khá nhiều tác phẩm sử dụng sự vi phương châm hội thoại hay sử dụng những hành động qua lời tạo nên những nét riêng trong quá trình sáng tác
Với đề tài “tìm hiểu ngôn ngữ hội thoại trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu”
người làm đề tài dựa vào lí thuyết hành động ngôn từ của tác giả Đỗ Hữu Châu làm lí thuyết nền cho việc nghiên cứu đồng thời đi vào khai thác các yếu tố phản hiệu lực mà tác giả Chim Văn Bé đề cập tới tạo nên những xung đột, kịch tính trong tác phẩm về lí thuyết hội thoại chúng tôi lấy sự vi pham phương châm và các yếu tổ xung quanh vấn đề ấy để hiểu rõ hơn về ngôn ngữ trong một số truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu
Trang 31Nguyễn Minh Châu tên khai sinh là Nguyễn Minh Châu sinh ngày 20/10/1930 trong
một gia đình nông dân, tại quê gốc làng Thơi, xã Quỳnh Hải, huyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ
An. Những năm 1944-1945, Nguyễn Minh Châu học trường Kĩ nghệ Huế Năm 1945 ông tốt nghiệp bậc thành chung Năm 1948-1949 Nguyễn Minh Châu học chuyên khoa trường Huỳnh Thúc Kháng Tháng 1-1950 ông nhập ngũ và vinh dự được đứng vào hàng ngũ của Đảng ngay trong năm đó Sau đó Nguyễn Minh Châu theo học trường Sĩ quan Lục quân Trần Quốc Tuấn Từ 1952-1956 ông công tác tại ban tác chiến ban tham mưu tiểu đoàn
722 và 706, thuộc sư 320 năm 1959 Nguyễn Minh Châu học tại trường Văn hóa Quân đội Lạng Sơn 1961 và về công tác tại phòng văn nghệ Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, trong thời gian này ông bắt đầu cho in những tập truyện ngắn đầu tiên Từ
1962 ông chuyển về công tác tại tạp chí văn nghệ quân đội Ông mất ngày 23/01/1989 tại
Hà Nội
2 Tác phẩm:
- Cửa sông (tiểu thuyết) 1966
- Những vùng trời khác nhau (tập truyện ngắn) 1970
- Dấu chân người lính (tiểu thuyết) 1972
- Từ giã tuổi thơ (tiểu thuyết) 1974
- Miền Cháy (tiểu thuyết) 1977
- Những ngày lưu lạc (tiểu thuyết) 1981
Trang 32- Những người đi từ rừng ra (tiểu thuyết) 1982
- Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (truyện ngắn) 1983
- Mảnh trăng cuối rừng (truyện ngắn) 1984
- Bến quê (truyện ngắn) 1985
- Mảnh đất tình yêu (tiểu thuyết) 1987
- Chiếc thuyền ngoài xa (tập truyện ngắn) 1988
- Cỏ lau (tập truyện ngắn) 1989
- Ngoài ra ông còn một số truyện, kí, tuyển tập phê bình và một số kịch bản phim
chưa được in
3 Giới hạn phạm vi đề tài:
Để lấy cứ liệu làm cơ sở cho việc thống kê, phân tích, lấy dẫn chứng cho đề tài “ ngôn ngữ nhân vật (ngôn ngữ hội thoại) trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu” Chúng tôi xin chọn mười truyện ngắn tiêu biểu của Nguyễn Minh Châu để đi vào khảo sát Qua đó tìm ra những cuộc thoại tiêu biểu bộc lộ nên tính cách cũng như qua ngôn ngữ nhân vật nhà văn muốn nói điều gì
Trang 33II THỐNG KÊ VÀ PHÂN TÍCH NGÔN NGỮ HỘI THOẠI TRONG
TRUYỆN NGẮN NGUYỄN MINH CHÂU
1 Thống kê:
Trong sáu truyện ngắn nêu trên chúng tôi thống kê được 55 cuộc thoại trung bình
khoảng 9 cuộc thoại/ 1 tác phẩm, trong đó có tác phẩm “Cỏ lau” (25 cuộc thoại) đây là
tác phẩm có nhiều cuộc thoại nhất và các cuộc thoại có nhiều lượt lời Tác phẩm có ít
cuộc thoại nhất là “Phiên chợ Giát” với một cuộc thoại duy nhất
Cuộc thoại vi phạm phương châm: có 30 trong tổng số 55 cuộc thoại vi phạm phương châm
Có những cuộc thoại vi phạm một lúc nhiều phương châm, và số lượt lời trong tác phẩm cũng thay đổi một cách rõ rệt: như có những cuộc thoại lên tới 65 lượt lời trong tác
phẩm “Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành” và có những cuộc thoại chỉ có 2 lượt lời
2 Phân tích ngôn ngữ hội thoại trong truyện ngắn cụ thể:
2.1Truyện ngắn “nguồn suối”:
Trong truyện ngắn này ta có hai cuộc thoại Song chúng tôi chỉ đi phân tích cuộc thoại thứ hai bởi cuộc thoại đầu tiên chỉ mang tính chất là cuộc thoại dẫn nhập vào câu chuyện mới Nó giống như lời mở thoại của một đoạn thoại
Trang 34Hoàn cảnh của cuộc thoại là một chuyến đi công tác lên miền núi cùng người chiến
sĩ tên Ngạn đây như là cuộc trở về của người lính ấy bởi nới đây đã có quá nhiều kỉ niệm giữa anh và đồng bào mà anh không thể quên
Nội dung cuộc thoại thứ hai như sau:
- Tháng sau thằng Vang đi chiến đấu xa đó
- ….Đi bao giờ đuổi hết thằng Mỹ mới về ư?ai bảo nó ?
- Anh Ngạn đã chấm tên nó vào tờ danh sách rồi Nó đi chiến đấu xa là vinh dự
cho gia đình ta
Y Khiêu quay về phía con hỏi:
- thật không Vang?
- Thật mà, con xung phong đi
Y Khiêu khẽ thở dài rồi nói quả quyết:
- thôi mình cứ giao thằng Vang cho anh Ngạn đi tới đâu thì đi
Mở đầu cuộc thoại là một lời thông báo với nội dung rõ ràng “tháng sau thằng Vang
đi chiến đấu xa đó” thế nhưng qua trình diễn biến tiếp theo của cuộc thoại lại vi phạm phương châm quan hệ (nói nhiều hơn nội dung đáng nói)và người tham gia hội thoại vi phạm điều kiện chuẩn bị, điều kiện chân thành Chính vì thế mà khi nghe phát ngôn ở lượt lời thứ nhất thì người nghe mới tỏ thái độ bất ngờ “Y Khiêu tròn mắt nhìn chồng” Để xác minh lại một lần nữa người nghe đã dùng lượt lời của mình hướng tới một đối tượng khác (Vang- người con) “thật không Vang” Điều này chứng tỏ người nghe không tin vào ngừơi nói Đây là cuộc thoại gồm ba nhân vật tham gia (tam thoại) những lượt lời không được luân phiên bởi hai cặp trao đáp không trùng khớp nhau Thế nhưng hội thoại vẫn diễn ra Và chính những điều này đã tạo nên được hàm ý trong hội thoại
Hoàn cảnh diễn ra hội thoại là một hoàn cảnh đặc biệt (một dịp tết của bà con vùng biên giới tổ quốc, sự xuất hiện của nhân vật Ngạn làm cho không khí tết của bà con có phần trở nên vui hơn Ở lượt lời “thật mà con xung phong đi” không đơn thuần chỉ là xác định sự thật rằng đứa con ấy sẽ trở thành bộ đội mà lòng quyết tâm đánh giặc bảo vệ đất nước của Vang Lượt lời cuối cùng là một lời kết thoại “thôi mình cứ giao thằng Vang
Trang 35cho anh Ngạn đi tới đâu thì đi.” bởi nó khẳng định sự chính xác của thông tin vừa đưa ra
ở lượt lời đầu tiên Đồng thời cũng là sự khẳng định niềm tin vào anh Ngạn vào Đảng Sự chuyển biến của tâm lí nhân vật trong hội thoại từ lo lắng sang hoài nghi rồi tới lúc quả quyết chứng tỏ các vi phạm về phương châm cũng như vì điều kiện mà hội thoại trên có là chủ ý của tác giả Điều mà Nguyễn Minh Châu muốn gửi gắm ở đây chính là quá trình diễn biến tâm trạng của Y Kiêu bởi khi cách mạng chua về với đồng bào dân tộc vùng xa xôi hẻo lánh của tổ quốc thì ai cũng hoài nghi, cũng tò mò Thế nhưng khi đã có cơ sở ở nơi này, tạo được lòng tin cho nhân dân thì sự hi sinh có đáng kể gì
Quá trình diễn biến của các lượt lời cho phép chúng ta hiểu thái độ của người nói là hoàn toàn hợp lí chứ không phải là sự chấp nhận buông xuôi một sự tình
2.2 Truyện ngắn “ Những vùng trời khác nhau”:
Chúng tôi đã thống kê được 9 cuộc thoại trong tác phẩm “ những vùng trời khác
nhau” và trong số đó có hai cuộc thoại cần được lưu ý Đó là những lời đối thoại giữa hai nhân vật chính là Sơn và Lê:
Cuộc thoại đầu tiên:
- Cậu quê ở thành phố hử?
- Mình ở Hà Nội còn cậu?
- Mình ở Nghệ An- ở đây các cậu ấy gọi mình là hai “cá gỗ”
Chỉ có ba lượt lời và hai cặp trao đáp thế nhưng cuộc thoại đã vi phạm điều kiện chân thành (hỏi nhưng không mong muốn câu trả lời của người được hỏi) Qua cuộc thoại
ta thấy được rằng không chỉ vi phạm điều kiện chân thành mà lượt lời thứ ba còn vi phạm
phương châm về lượng “ở đây các cậu ấy gọi mình là hai cá gỗ” điều lượt lời thứ hai
muốn hỏi là nơi chốn chú không phải biệt danh của người được hỏi Thế nhưng câu trả lời
ấy đã phần nào nói lên suy nghĩ của nhân vật ấy Thông qua việc vi phạm phương châm trong quá trình hội thoại điều mà tác giả muốn gửi gắm đó là cách nhìn của Lê đối với Sơn, đó là cách nhìn không mấy thiện cảm về “trai thành phố” Với cách nhìn ấy Lê có quyền hoài nghi về khả năng chiến đấu của Sơn trong đội Pháo Những điều này được tác giả miêu tả rõ nét hơn bằng những lời trần thuật tiếp theo
Trang 36Các cuộc thoại tiếp theo là quá trình cả hai nhân vật bắt đầu hiểu rõ về nhau, cùng nhau sống, chiến đấu và có chung một nỗi nhớ : nhớ quê hương
Dù các cuộc thoại bị đứt quãng bởi thời gian song chúng ta vẫn có thể tìm được sợi dây liên kết để tìm ra được sự logic trong tác phẩm Sau những lời kể dài chúng ta bắt gặp một cuộc thoại đánh dấu bước chuyển mới trong suy nghĩ của hai nhân vật chính tham gia hội thoại:
¯ Mấy hôm nay ngày nào chúng nó cũng cho máy bay trinh sát
¯ Cậu cứ yên tâm Chúng mình sẽ bảo vệ cái đập nước và vùng trời quê
hương của cậu bằng mọi giá …
¯ Tớ rất tin Tớ rất tin cậu!
Hành động ngôn từ mà chúng ta thấy rõ ở đây là hành động tại lời : sự tin tưởng “tớ rất tin tớ rất tin cậu” Ngoài ra trong cuộc thoại trên ta nhận thấy có sự tranh lời: đó là khi lượt lời thứ nhất chưa kết thúc thì có sự xen vào của một lươt lời khác và khi lượt lời
ấy chua kết thúc thì cũng có sự cướp lời của người nghe Quá trình luân phiên lượt lời ở đây bị đảo lộn, không có thời gian để tách biệt sự trao lòi và đáp lời Tất cả những điều trên xét về phương diên ngôn ngữ thì các lượt lời gặp quá nhiều lỗi Sự đan xen nối tiếp quá trình trao đáp diễn ra liên tục ấy cho chúng ta thấy rằng cuộc thoại ngắn ấy có vấn đề Hướng khớp ghép ở đây hoàn toàn không tồn tai trên bè mặt ngôn từ Các nội dung trong cuộc thoại không liên kết với nhau Cùng là phản ánh niềm tin nhưng cách thể hiện của người nói và người nghe là hoàn toàn trái ngược
Lượt lời thứ nhất mang nội dung thông báo nhưng kèm theo đó là sự lo lắng cho quê
hương của mình “mấy hôm nay ngày nào chúng nó cũng cho máy bay trinh sát ” lượt lời này chưa kết thúc thì có sự cướp lời “Cậu cứ yên tâm ” đó là một sự khẳng định đồng
thời người nói muốn người nghe tin rằng mình làm được mong muốn người nghe yên tâm, và lượt lời cuối cùng như xác minh lại điều này
Thông qua hành động tại lời và sự vi phạm trong quá trình diễm ra hội thoại Nguyễn Minh Châu muốn nhân vật của mình bộc lộ rõ tâm trạng “lo lắng, tin tưởng, tự
tin.” qua đó Nguyễn Minh Châu như muốn nói “vùng trời nào cũng là tổ quốc là quê
hương của những người lính Quê hương ấy là đất nước chung của chúng ta Ai cũng có
Trang 37quyền được tin, và tự tin đứng ở bất cứ nơi đâu mà chiến đấu cho hòa bình độc lập dân tộc.”
Chỉ thông qua hai đoạn hội thoại trên chúng ta có đủ cơ sở để hiểu về tính cách nhân vật thông qua ngôn ngữ hội thoại Quá trình thay đổi tâm lý từ chỗ không quen biết tới khi trở thành một đôi bạn thân hoàn toàn hợp lí Hai nhân vật đóng vai trò xuyên suốt truyện ngắn đã in dấu tính cách của mình qua từng lượt lời
2.3 Truyện ngắn “Mảnh trăng cuối rừng”:
Cùng với các truyện ngắn viết về đề tài người lính và chiến tranh truyện ngắn mảnh trăng cuối rừng lại khai thác về một vấn đề khác- đề tài tình yêu trong kháng chiến Vậy
đề tài này sử dụng ngôn ngữ đối thoại như thế nào góp phần vào sụ thành công của tác phẩm:
Với chín cuộc thoại mà chúng tôi đã thống kê được trong đó có một cuộc thoại có lời
mở thoại, sự trao lời, đáp lời và tranh lời Thế nhưng các lời thoại nằm khá xa nhau, bị cắt ngang bởi những cuộc thoại khác Với giới hạn đã được nói ở trên chúng tôi xin đi vào khảo sát ba cuộc thoại tiêu biểu sau:
¯ Em là công nhân giao thông Anh gì ban nãy đã xem chứng minh thư rồi em
về trên đơn vị có chút việc
¯ Việc gì?hay là cô đi thăm chồng hay người yêu
¯ Em đi thăm người yêu đấy!
Cuộc thoại này đánh dấu sự xuật hiện của hai nhân vật chính không phải là những lời chào hỏi thông thường mà ở đây ta bắt gặp những luồng cảm xúc gần như trái chiều
Trang 38giữa Lãm-anh lái xe và Nguyệt- người con gái đi nhờ xe Với tiền giả định là Lãm đã được chị gái (làm công nhân ở cầu Đá Xanh) viết thư muốn em ghé thăm người con gái
tên Nguyệt cùng làm với chị Qua những lời xã giao ta bắt gặp lượt lời của Lãm “việc gì
hay là cô đi thăm chồng hay người yêu?” chỉ là một “câu hỏi bừa” cho vui song nó lại rất
có gái trị Hành động trong lời là một hành động hỏi thế nhưng thông qua hành động ấy
người nói muốn dò hỏi tình hình hôn nhân của người nghe “cô có chồng hay là có người
yêu chưa? ” Thông qua đó để trả lời khúc mắc trong lòng Lãm rằng đây phải chănng là
cô Nguyệt mà chị gái muốn là mai cho mình? Đó chính là điều mà Lãm muốn thực hiện thông qua hành động hỏi của mình
Đáp lại lời thăm dò ấy là câu trả lời nửa thật nủa đùa của Nguyệt “em đi thăm người
yêu đấy!” có hai các hiểu hành động trong lời này đó là: Nguyệt đi thăm người yêu thật vì điều này nằm trong dự tính của Nguyệt và thông qua hành động ấy để đe dọa Lãm vì tham gia vào chuyện riêng tư của người khác Sự đe dọa ấy đã có hiệu lực, và cái điều thông báo ấy trong suy nghĩ của Lãm có khả năng là đúng sự thật Điều này được chứng minh
thông qua câu nói của Lãm “tôi vội nổ máy và trong bụng cũng đã phát hoảng vì cái cách
con gái ăn nói bạo dạn nhường ấy biết đâu đấy biết đâu cô ta nói thật.”
Việc tạo nên mâu thuẫn trong hành động qua lời đã đưa câu chuyện tiếp diễn một cách hợp lí
Tiếp diễn câu chuyện là những lời hội thoại mang tính chất thăm dò đối phương và thông qua đó để hiểu về tính cách của nhau Thế nhung trong đoạn hội thoại này mâu thuẫn như được đẩy lên tới đỉnh cao:
¯ Ở đội ngầm của cô, có nhiều cô tên Nguyệt lắm thì phải?
¯ Sao anh biết? đội em có ba nguyệt nhưng một người đã hi sinh rồi Chỉ còn
em và một chị nữa là hai thôi
¯ Cô nguyệt hi sinh tự bao giờ?
¯ Cách đây đã ba bốn tháng
¯ Cô ấy có chồng chưa?
¯ Hình như mới có người yêu Còn cô Nguyệt thứ hai?
¯ Chị ấy đã có bốn con rồi! sao anh hỏi tỉ mỉ vậy?
Trang 39Thông qua các lượt lời của mình người hỏi muốn nắm thông tin bằng cách “hỏi dò
khéo léo” từng lượt lời một được người nghe trả lời một cách chi tiết nhưng cũng chính trong những câu trả lời ấy lại chứa đựng những mâu thuẫn Điều mà Lãm muốn thông qua các lượt lời ở đây là xác định xem người yêu mình (tên Nguyệt) có phải là người con gái đang đi chung xe với mình hay là một người khác? Khi được biết một trong ba cô Nguyệt
đã hi sinh thì tâm trạng lo lắng xuất hiện trong “câu hỏi vội”: “hi sinh bao giờ? ” và “cô
ấy có chồng chưa?” sự thay đổi tâm trạng liên tục của người hỏi chuyển từ lo lắng này sang lo lắng khác bởi Lãm nghi ngờ rằng Nguyệt đã hi sinh Vì thế mà Lãm phải “hỏi tỉ
mỉ” Ngững câu trả lời của Nguyệt với mục đích là cung cấp thông tin cho người hỏi thế nhưng thông qua những câu trả lời ấy bộc lộ nên tình cảm của mình
Cuộc thoại kết thúc nhưng những suy nghĩ (xuất phát từ hành động trong lời) mà
Lãm có vẫn còn tồn tại anh “phân vân” giũa hai cô gái một người đã hi sinh và một người đang ngồi bên cạnh “ai là người tôi sắp tìm đến?” điểm thắt của câu chuyện nằm ở
đây bởi mâu thuẫn chất chồng Nhà văn đã không đưa ra hướng giải quyết mâu thuẫn ngay lúc ấy mà để chúng sang một bên tiếp tục khai thác tính cách của nhân vật trong câu chuyện Dần đần đưa người đọc tới những lí do hợp lí khác để hai người không gặp mặt nhau như đã hẹn mà thông qua một cuộc thoại khác với nhân vật thứ ba để tìm ra câu trả lời một cách hợp lí nhất cho những mâu thuẫn kia:
Chị Tính dẫn tôi vào nhà trách:
¯ Hôm kia sao cậu không về? Nguỵêt nó chỉ tranh thủ lên có một hôm, đợi cậu
suốt ngày không thấy cô ấy lại phải về dưới ty rồi.!
¯ Cô ấy về dưới ty làm gì?
¯ Cô ấy đang học dở lớp Đảng viên dưới đó
(…)
¯ Đâu ? Cậu Lãm em trai chi Tính tới mà không trình diện với tôi hử? … Mặt
mũi sáng sủa đấy chứ lái xe à? Tôi hỏi thế này nhé anh đã biết tội của anh chưa?
(…)
Trang 40Bao nhiêu câu hỏi, sự nghi vấn đang tồn tại trong đầu Lãm rằng “người con gái ấy
đã hi sinh hay là người mà anh đã gặp trên chuyến xe trước?” Và câu hỏi của chị Tính đã làm sáng tỏ những khúc mắc trong lòng Lãm “hôm kia sao cậu không về? Nguỵêt nó chỉ tranh thủ lên có một hôm, đợi cậu suốt ngày không thấy cô ấy lại phải về dưới ty rồi.! Hành động trong lời của câu nói ấy là một lời hỏi và một lời thông báo qua hành động ấy người nói tỏ thái độ nghi vấn, trách móc “hẹn mà không đến” đối với người nghe Giá trị của câu nói ấy không nằm trong hiệu lực qua lời mà nó nằm trong phản hiệu lực Bởi vì người nói mong muốn biết thông tin và nêu lên lí do vì sao người yêu của Lãm lại
không xuất hiện, biểu hiện của người nghe là “trống ngực tôi không đánh nữa” Đó là câu
trả lời cho những nghi vấn trong lòng Lãm Và đó cũng là “nốt mở” cho câu chuyện Sự
vi phạm ddiều kiện căn bản, quy tắc lượt lời trong giao tiếp: cụ thể qua miêu tả ta biết được người nghe không trả lời câu hỏi ấy mà đáp lại bằng một câu hỏi khác “cô ấy về dưới ty làm gì?” Đặc biệt trong đoạn hội thoại này ta bắt gặp sự vi phạm nguyên tắc lịch
sự trong giao tiếp đó là lời nói chen ngang của nhân vật thứ ba tác dụng của sự vi phạm này là xúc tác quan trọng đưa câu chuyện tới một kết thúc mở
Như vậy các hành động ngôn ngữ và sự vi phạm phương châm trong tác phẩm đã góp một phần không nhỏ cho sự thành công của câu chyện từ khi bắt đầu mâu thuẫn tới khi mâu thuẫn đạt tới đỉnh cao và thoái trào Tất cả đều có sự xuất hiện vai trò của các hành động ngôn ngữ
2.4 Truyện ngắn “Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành”:
Với dung lượng chiếm 69 trang giấy câu truyện kể về những sóng gió và nguyên nhân của căn bệnh mộng du mà Quỳ (nhân vật chính trong truyện) đã mang đến cho người đọc một cái nhìn khác về chiến tranh Vậy ngôn ngữ hội thọai trong truyện ngắn này góp phần gì vào thành công của tác phẩm?
Với mười ba cuộc thoại trong đó có những cuộc thoại lêm tới 65 lượt lời chưa kể những lời dẫn chuyện chêm xen vào đủ để người đọc có thể hình dung ra vai trò của những cuộc thoại trong tác phẩm Trong quá trình khảo sát chúng tôi xin chọn ra những cuộc thoại tiêu biểu đánh dấu bước ngoặt trong cốt truyện thông qua đó để người đọc năm