TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI & NV BỘ MÔN NGỮ VĂN ĐỖ VĂN VIỆT NGHỆ THUẬT SỬ DỤNG ĐIỂN CỐ TRONG TÁC PHẨM CƯ TRẦN LẠC ĐẠO PHÚ CỦA TRẦN NHÂN TÔNG Luận văn tốt nghiệp đại h
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI & NV
BỘ MÔN NGỮ VĂN
ĐỖ VĂN VIỆT
NGHỆ THUẬT SỬ DỤNG ĐIỂN CỐ TRONG TÁC PHẨM CƯ TRẦN LẠC ĐẠO PHÚ
CỦA TRẦN NHÂN TÔNG
Luận văn tốt nghiệp đại học Ngành Ngữ Văn
Cán bộ hướng dẫn: ThS GV BÙI THỊ THÚY MINH
Cần Thơ, 5 - 2011
Trang 24 Đối tượng phạm vi nghiên cứu
5 Phương pháp nghiên cứu
B PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
1 Điển, điển cố và điển tích
2 Viêc sử dụng điển cố trong nền văn học trung đại
3 Thể loại phú và phú đời Trần
3.1 Thể loại phú
3.1.1.Nguồn gốc, sự ra đời và phát triển phú đời Trần
3.2 Phú đời Trần
3.2.1.Nội dung phú đời Trần
3.2.1.1.Thể hiện tinh dân tộc, ca ngợi thiên nhiên, đất nước và con người thời Trần
3.2.1.2 Thể hiện chí khí, khát vọng của kẻ sĩ
3.2.1.3 Thể hiện tinh thần triết luận về vũ trụ và nhân sinh, cảm khoái thời thế, bày tỏ
sự thất vọng và nhu cầu thay đổi hiện tại xã hội
3.2.2 Đặc điểm về hình thức phú đời Trần
3.2.2.1 Phú cổ
3.2.2.2 Phú cận thể
Trang 3CHƯƠNG II: TÌM HIỂU VỀ TÁC GIẢ TRẦN NHÂN TÔNG VÀ TÁC PHẨM CƯ TRẦN LẠC ĐẠO PHÚ
1 Tác giả
2 Tác phẩm Cư trần lạc đạo phú
2.1 Hoàn cảnh sáng tác
2.2 Nội dung tác phẩm
2.3 Giá trị tư tưởng tác phẩm
2.3.1 Chủ thuyết Cư trần lạc đạo
2.3.2 Tinh thần nhập thế
3 Mối quan hệ tam giáo đồng nguyên
CHƯƠNG III: ĐIỂN CỐ TRONG TÁC PHẨM CƯ TRẦN LẠC ĐẠO PHÚ CỦA TRẦN NHÂN TÔNG
1 Số lượng và tần xuất sử dụng điển cố
2 Điển cố Phật giáo trong tác phẩm Cư trần lạc đạo phú
2.1 Đặc điểm điển cố trong tác phẩm Cư trần lạc đạo phú
2.2 Điển cố phật giáo trong tác phẩm Cư trần lạc đạo phú
3 Nghệ thuật sử dụng điển cố trong tác phẩm Cư trần lạc đạo phú của Trần Nhân
Tông
3.1 Sử dụng điển một cách khéo léo và tài tình
3.1.1 Chuyển mã điển cố âm Hán Việt sang âm Thuần Việt
3.1.2 Chuyển mã điển cố âm Hán Việt sang âm bán Việt hóa
3.1.3 Kết hợp văn cảnh với điển cố âm Hán Việt
3.2 Kết hợp điển cố vào câu phú một cách linh hoạt, uyển chuyển và độc đáo
3.2.1 Kết hợp điển cố và câu phú một cách linh hoạt và uyển chuển
3.2.2 Kết hợp điển cố và câu phú một cách độc đáo
3.3 Xây dựng phép đối của điển cố trong câu phú
Trang 43.3.1 Phép đối ngẫu điển cố trong câu phú
3.3.2 Kết hợp nhiều điển cố trong câu phú
4 Ý nghĩa của việc nghiên cứu điển cố trong tác phẩm Cư trần lạc đạo phú của Trần
Nhân Tông
C PHẦN KẾT LUẬNPhụ lục
Tài liệu tham khảo
Mục lục
Trang 5A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Văn học Việt Nam đã trải qua chặng đường hơn hai ngàn năm cùng với lịch sử dân tộc, hơn một thiên niên kỷ đã đi qua với bao biến đổi thăng trầm Từ thủa sơ khai đến nay, chúng ta đã có một kho tàng văn học vô cùng phong phú, hấp dẫn, mà trong
đó còn chứa đựng bao nhiêu thách thức và bí ẩn đối với những người nghiên cứu và độc giả miệt mài tìm tòi, khám phá
Mỗi loại hình nghệ thuật đều có một chất liệu riêng để diễn đạt Hội họa có chất liệu là màu sắc, âm nhạc có chất liệu là âm thanh và văn chương cũng vậy Chất liệu của văn chương chính là ngôn ngữ song điều quan trọng nhất là trong xuất chặng đường dài phát triển của văn học Việt Nam, cũng cùng là chất liệu ngôn ngữ nhưng mỗi giai đoạn lịch sử, văn học lại thể hiện khác nhau Chính điều này mang lại đặc trưng riêng cho từng giai đoạn văn học đó
Nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định: Đặc trưng nổi bật văn học trung đại là việc các tác giả thường hay sử dụng điển cố cho các sáng tác của mình Và việc sử dụng điển cố thực sự trở thành đặc trưng của nền văn học trung đại
Các công trình, đề tài nghiên cứu khoa học của các nhà nghiên cứu đã cho người đọc thấy được nhiều hơn công dụng của việc sử dụng điển cố trong các sáng tác thơ văn xưa, như làm cho câu thơ trở nên sang trọng, quý phái, uyên bác, hàm súc, lời
ít ý nhiều, ý tại ngôn ngoại… Và các tác giả sử dụng điển khéo léo, nhuần nhuyễn bao nhiêu thì càng cho thấy được tài năng cũng như sự uyên thâm của người sáng tác bấy nhiêu
Tuy nhiên, ngày nay khi cuộc sống đô thị phát triển, sống trong thời buổi kinh
tế thị trường con người ngày càng quay mặt đi với văn chương chạy theo những giá trị vật chất Khác với các cụ nho ngày xưa, ngày nay văn chương đã từ lâu không còn là
“món ăn tinh thần” không thể thiếu đối với đời sống mỗi con người Và có lẽ cũng vì thế mà đã từ lâu điển cố không còn là dễ hiểu, dễ nhớ đối với con người hiện đại Quả đúng như vậy, ngày nay khi người đọc bắt gặp một đoạn thơ có sử dụng điển cố, người đọc sẽ không thể hiểu hết ý nghĩa thâm thúy của câu thơ nếu không có phần chú thích, giải thích nghĩa của điển cố nêu trên Từ đó, chúng ta ngày càng xa rời một đặc trưng, một thủ pháp nghệ thuật vốn là nổi bật của nền văn học trung đại nước nhà
Trang 6Chính những lý do ấy đê tạo cho tôi, một người yíu văn chương, được học về văn chương vă có thể sống nhờ nghiệp văn chương nhiều băn khoăn, trăn trở vă thôi
thúc tôi chọn đề tăi “Nghệ thuật sử dụng điển cố trong tâc phẩm Cư trần lạc đạo phú
của Trần Nhđn Tông” Với đề tăi nghiín cứu “Nghệ thuật sử dụng điển cố trong tâc
phẩm Cư trần lạc đạo phú của Trần Nhđn Tông”, tôi mong muốn thông qua đề tăi năy
mọi người có thím một hướng tiếp cận mới vă sđu sắc về một tâc phẩm văn chương
Vă cũng thông qua đề tăi năy, mọi người cũng có thể biết nhiều hơn về việc câc câc nhă văn, nhă thơ xưa đê sử dụng điển cố như thế năo trong tâc phẩm của mình Từ đó, người đọc có thể hiểu vă yíu thích nền văn học trung đại nước nhă hơn
2 Lịch sử nghiín cứu vấn đề
Nghiín cứu, đânh giâ việc sử dụng điển cố trong thơ văn trung đại từ trước tới nay đê được nhiều nhă nghiín cứu quan tđm đến với nhiều công trình lớn vă có tđm huyết
Trong quyển Việt Nam văn học sử yếu của tâc giả Dương Quảng Hăm trong
“Chương thứ mười bảy: Tính câch chính của tâc phẩm trong văn chương: câc điển cố”
Ở chương năy Dương Quảng Hăm đê níu lín được điển cố lă gì? vă câc câch dùng điển cố Ông còn níu lín công dụng của câc câch dùng điển cố như lăm cho cđu văn
“gọn găng, ít chữ mă nhiều ý…” [6;172] Vă cũng ở trong chương năy Dương Quảng
Hăm còn dẫn thím băi viết Việc dùng điển trong thơ văn để lăm phần đọc thím vă
nghiín cứu thím cho bạn đọc hiểu hơn về việc dụng điển cố trong quốc văn ngăy nay
Quyển Những thế giới nghệ thuật thơ của Trần Đình Sử, ông cũng đề cập đến
điển cố Trong mục “Tính cổ điển”, ông níu lín khâi niệm điển cố vă đưa ra một số ví
dụ để chứng minh Bín cạnh đó, để tăng sức thuyết phục ông còn dẫn chứng thím ý kiến của Đỗ Phủ khi băn về điển cố “Dùng điển như dùng muối” [20;30]
Quyển Nghệ thuật ngôn ngữ thơ đường của 2 tâc giả Cao Hữu Công vă Mai Tổ
Lđm ở mục số III.2 tâc giả năy cũng có nghiín cứu vă đề cập đến “Điển cố vă nguyín mẫu lịch sử” trong mục năy Cao Hữu Công vă Mai Tổ Loan đê níu lín được phạm vi định nghĩa của điển cố vă giải thích được nhiều vấn đề như: Cấu trúc của điển cố, điển
cố được thể hiện như thế năo, nguyín bản lịch sử ra sao [3;288]
Cũng viết về điển cố trong một công trình khâc, quyển Thi phâp thơ đường của
tâc giả Quâch Tấn trong bức thư thứ 17 vă 18 cũng đề cập tới vấn đề thế năo lă dùng điển? vẵng cũng níu lín được câc câch dùng điển của cổ nhđn như: Minh dụng, thâi
Trang 7dụng, áp dụng, tá dụng [22;228] Từ đó, ông giúp cho người đọc hiểu biết hơn về điển
và áp dụng vào trong sáng tác
Nhìn chung, bốn công trình nghiên cứu trên chỉ dừng lại ở mức khái quát, nghiên cứu sơ lược về điển cố còn việc điển cố được sử dụng như thế nào và mang đặc điểm nghệ thuật gì trong từng tác phẩm thì các các tác giả này chưa đề cập đến
Sau này mới có một số công trình nghiên cứu về việc sử dụng điển cố trong
một tác phẩm như công trình nghiên cứu của Trần Đình Sử trong quyển Thi pháp Truyện Kiều ông có dành một số mục để nói về điển tích trong Truyện Kiều, tác dụng
của các điển cố trong tác phẩm Mỗi một điển cố sử dụng trong tác phẩm có một hiệu quả nghệ thuật khác nhau
Cũng nói về Truyện Kiều trong quyển Điển tích Truyện Kiều tác giả Phạm Đan
Quế cũng đi vào phân tích cái hay trong điển tích Truyện Kiều đó là dùng một cách
“đích đáng, gọn gàng, nhuần nhuyễn, ý vị….” [17;6] Nhưng trọng tâm của quyển sách tác giả chỉ đi vào phân tích 61 điển tích mà ông cho là có nhiều dị bản
Trong những năm gần đây trong công trình nghiên cứu Điển cố và nghệ thuật
sử dụng điển cố trong truyện thơ và ngâm khúc giai đoạn văn học nửa cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX của tác giả Đoàn Ánh Loan đã cho chúng ta một cách nhìn khái
quát hơn và cụ thể hơn về việc sử dụng điển cố trong nền văn học trung đại Với công trình nghiên cứu này tác giả đã giải quyết được nhiều vấn đề lớn về điển cố như khái niệm điển cố, tính chất của điển cố, điển cố được sử dụng như thế nào Đặc điểm và các cách sử dụng điển cố của các nhà văn, nhà thơ trung đại cũng được tác giả bàn đến
và song song trong những đề mục đó là nhiều dẫn chứng trong Chinh phụ ngâm và Cung oán ngâm khúc để chứng minh rất thuyết phục
Nghiên cứu về điển cố thì rất nhiều nhưng riêng đối với việc nghiên cứu về việc
sử dụng điển cố trong Cư trần lạc đạo phú của Trần Nhân Tông thì vẫn còn rất khiêm tốn Trong bài viết Tìm hiểu giá trị Cư trần lạc đạo phú của Trần Nhân Tông của tác
giả Trần Lý Trai, bài viết này đã đi sâu vào nghiên cứu, tìm hiểu khá tốt và sâu sắc về
tác phẩm Cư trần lạc đạo phú Trần Lý Trai đã nêu lên được nhiều nội dung cơ bản
của tác phẩm như “Giá trị nội dung tư tưởng thiền học” [30;36], “Tinh thần nhập thế” [30;40] của Trần Nhân Tông trong tác phẩm Tuy nhiên, do nghiên cứu chủ yếu là tác phẩm nên việc sử dụng điển cố và nghệ thuật trong tác phẩm còn chưa được nhắc tới
Trang 8Tóm lại, tất cả các công trình nghiên cứu trên đều thể hiện được sự công phu, tỉ
mỉ và tích cực của các tác giả Các công trình này đưa lại cho người đọc một cái nhìn toàn diện về việc sử dụng điển cố trong nền văn học trung đại nước ta và các công trình trên cũng là cơ sở cho chúng tôi nghiên cứu đề tài “Nghệ thuật sử dụng điển cố
trong tác phẩm Cư trần lạc đạo phú của Trần Nhân Tông” Trong quá trình thực hiện
đề tài còn nhiều thiếu sót kính mong quý thầy cô giúp đỡ và có ý kiến để đề tài thành công tốt đẹp
3 Mục đích nghiên cứu
Khi đi sâu vào nghiên cứu đề tài này chúng ta cần đạt được mục đích nghiên cứu đó là:
Tìm hiểu những nét nổi bật về nội dung và nghệ thuật cùng những giá trị tác
phẩm Cư trần lạc đạo phú của Trần Nhân Tông
Khảo sát thống kê điển cố trong cách thể hiện của tác phẩm
Phân tích, đánh giá hiệu quả nghệ thuật sử dụng điển cố trong tác phẩm để thấy
được giá trị cũng như những đóng góp của tác phẩm Cư trần lạc đạo phú trong nền
văn học dân tộc
4 Đối tượng phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu chủ yếu của chúng tôi là tác phẩm Cư trần lạc đạo phú cho nên phạm vi nghiên cứu của đề tài này cũng cũng tập trung gói gọn trong tác phẩm Cư trần lạc đạo phú của Trần Nhân Tông và các vấn đề liên quan tới điển cố, nghệ thuật
sử dụng điển cố trong tác phẩm Cư trần lạc đạo phú
5 Phương pháp nghiên cứu
Khi nghiên cứu khoa học, việc lựa chọn phương pháp thực hiện là rất quan
trọng Đề tài luận văn “Nghệ thuật sử dụng điển cố trong tác phẩm Cư trần lạc đạo phú của Trần Nhân Tông” cũng là một đề tài nghiên cứu khoa học nên việc lựa chọn
phương pháp nghiên cứu cũng rất quan trọng đối với sự thành công của đề tài
Đối với đề tài này, chúng tôi chủ yếu sử dụng một số phương pháp sau: Tìm hiểu về điển cố trước tiên chúng tôi đi vào khảo sát, thống kê toàn bộ điển cố trong
mười hội của tác phẩm Cư trần lạc đạo phú Từ những khảo sát, thống kê đó chúng tôi
đi vào phân loại, phân tích, đánh giá, chứng minh để làm rõ những đặc trưng nổi bật và
Trang 9riêng biệt của tác phẩm Cư trần lạc đạo phú so với các tác phẩm khác Trong các
phương pháp trên thì phương pháp phân tích, chứng minh là quan trọng nhất
Trang 10B PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
1 Điển, điển cố và điển tích
Trước khi đi vào định nghĩa điển cố là gì, chúng tôi sẽ đi vào khảo sát các cách gọi tên của một số nhà nghiên cứu vế thuật ngữ điển cố và thống nhất ở luận văn này một cách gọi duy nhất để tránh sự khó hiểu cho người đọc cũng như người nghiên cứu Bởi vì, trong quá trình nghiên cứu về điển cố cũng như các cách sử dụng điển cố chúng tôi nhận thấy các nhà nghiên cứu chưa đi đến thống nhất được quan điểm về tên gọi cũng như định nghĩa về điển cố
Nhìn chung, qua thống kê một số tài liệu nghiên cứu chúng tôi thấy nổi lên một
số tên gọi sau: Về điển cố chúng ta bắt gặp một số tên gọi như Điển cố Trung Hoa của
Võ Ngọc Châu, Văn học điển cố thuyết minh của Nguyễn Huy Nhường, Điển cố văn học của Đinh Gia Khánh Về thuật ngữ điển tích chúng ta bắt gặp Điển tích Truyện Kiều của Phạm Đan Quế, Điển tích chọn lọc của Mộng Bình Sơn, hay Truyện điển tích
của Nguyễn Huy Chú Ngoài ra, một số tác giả khác như Nguyễn Thạch Giang gọi
chung là Điển nghĩa văn học Nôm Việt Nam hay tác giả Đặng Đức Siêu với tên gọi là Ngữ liệu văn học
Do không thống nhất được tên gọi nên việc đưa ra một khái niệm chung vẫn chưa hoàn toàn thống nhất, nhiều khái niệm đã được đưa ra thể hiện nhiều quan điểm của các tác giả:
Trong quyển Việt Nam văn học sử yếu tác giả Dương Quảng Hàm đưa ra khái
niệm chung về điển: “Điển (nghĩa đen là việc cũ) là một chữ hoặc một câu có ám 典
chỉ đến một việc cũ, một sự tích xưa khiến cho người đọc phải nhớ đến việc ấy, sự tích
ấy mới hiểu được ý nghĩa và cái lý thú của câu văn Dùng điển chữ nho gọi là dụng điển (用典 ) hoặc sử sự (史事 ) (nghĩa đen là khiến việc) ý nói sai khiến việc đời xưa cho
nó có thể ứng dụng vào bài văn của mình” [6;170]
Theo tác giả Bửu Kế: “Điển là sách s典 ử, cố là cũ từ đó đưa ra khái niệm 故
Điển cố là truyện cũ đã từng chép trong sách xưa” [12;170]
Trang 11Quan niệm của Thiều Chửu trong Hán việt từ điển cũng gần giống như tác giả
Bửu Kế Ông cho rằng: “Điển là kinh đi典 ển, sự cũ [4;52], cố là cũ [4;306] Như 故
vậy, điển cố là những gì đạt đến độ kinh điển mẫu mực”
Trong quyển Thi pháp thơ Đường tác giả Quách Tấn có trích dẫn “Thơ cũ của
Việt Nam và Trung Hoa còn có một đặc điểm nữa bên cạnh phép đối ngẫu lá phép dụng sự tức là dùng điển cố gọi tắt là dụng điển” Như vậy, ở quan niện trên tác giả Quách Tấn đã đánh đồng 2 khái niệm điển và điển cố, ông cho rằng: “Dụng điển là lấy
sự tích nơi kinh sử đời xưa, mượn chữ, mượn ý trong câu văn, câu thơ cũ, trong cổ ngữ
… đem vào trong tác phẩm để nói được kín đáo, được bóng bẩy, được gọn gàng, nhất
là gọn gàng những tình ý mà số chữ giới hạn trong câu văn, câu thơ không thể nói đầy đủ” [22;224]
Tác giả Đoàn Ánh Loan thì lại cho rằng điển cố bao gồm cả điển tích: “Điển cố
là những truyện xưa, tích cũ, được dùng làm phương tiện diễn đạt ý tưởng một cách ngắn gọn, hàm xúc Điển cố là một kho tàng quý báu của một nền văn hóa, là hình ảnh sinh động của sự tích lịch sử (nhà cỏ, thang võ, thường đảm ngọa tâm, ), là hình ảnh đất nước địa phương (Xích Bích, Mịch La, Lư Sơn Chân Diện, ), là kinh nghiệm quý báu được tích lũy từ cuộc sống của tiền nhân (thực thiếu sự phồn, Ngu Công di sơn,…), là phẩm chất đạo đức con người (ôm cây đợi thỏ, khắc thuyền tìm gươm, vẽ rắn thêm chân,…)” [13;20]
Tác giả Mộng Bình Sơn thì lại có sự phân biệt rạch ròi, ông cho rằng: “Điển tích là những câu chuyện ngắn gọn hoặc những câu chuyện trong sách đời trước chứa đựng một nội dung xã hội và văn hóa sâu sắc được lưu truyền qua sử sách đời trước và được tác giả của mọi thời kì thừa nhận giá trị điển tích của nó” [19;5]
Tác giả Phạm Đan Quế lại có sự phân biệt giữa điển, điển cố, điển tích, ông cho rằng :
“Điển là một chữ hoặc một câu ám chỉ đến việc cũ, một sự tích đời xưa làm 典
cho người đọc nhớ tới việc ấy, câu chuyện ấy mà hiểu được ý nghĩa cũng như cái lý thú của câu văn
Điển cố là một sự việc hay câu chữ trong sách đời trước được dẫn trong 典 故
thơ văn
Điển tích 典 昔 là những câu chyện trong sách đời trước được dẫn lại cô đúc trong tác phẩm” [17;8]
Trang 12Bên cạnh các cách gọi tên điển, điển cố, điển tích Đặng Đức Siêu lại chọn cho
mình một tên gọi mới Ngữ liệu văn học và theo ông dẫn ra trong công trình nghiên cứu
của mình ngữ liệu ở đây bao gồm: “Điển cố, từ ngữ, thàng ngữ, nhân danh, địa danh, tên, chức quan, danh ngôn, …có ý nghĩa biểu trưng [18;18] Ngoài ra, nó còn bao gồm một số từ ngữ cổ rút ra từ ca dao, ngạn ngữ được tác giả trung đại Việt Nam đưa vào tác phẩm của mình dưới dạng điển cố” và “Một số từ ngữ, điển cố Phật giáo thường thấy trong thơ văn Hán Nôm” từ đó ta thấy, quan điểm Đặng Đức Siêu, ông cho rằng ngữ liệu bao hàm rất rộng cả điển cố, điển và điển tích Ông hoàn toàn không có sự phân biệt giữa ba phạm trù này
Mặc dù có nhiều cách giải thích khác nhau về điển cố nhưng chúng ta thấy các cách giải thích ấy đều giống nhau ở bốn điều cơ bản sau đây:
Thứ nhất, điển cố xuất hiện trong các tác phẩm văn thơ
Thứ hai, điển cố bao gốm hai loại: Điển cố câu chuyện và điển cố từ ngữ
Thứ ba, điển cố câu chuyện là những chuyện thuộc thời cổ đại, hoặc ở trong sách xưa
Thứ tư, điển cố từ ngữ được dẫn dụng phải có xuất xứ từ trong sách xưa
Từ những khảo cứu trên cho ta thấy các nhà nghiên cứu đều chưa tìm thấy được một khái niệm chung nhất cho việc dùng điển Các khái niệm mà các tác giả đưa ra luôn có sự lẫn lộn, bao hàm lẫn nhau Đây cũng là một khó khăn khiến cho việc học tập và tiếp cận thơ văn trung đại nước ta trở nên xa lạ với bạn đọc cũng như nhiều người nghiên cứu
Từ thực tế đó, dựa trên cơ sở định nghĩa về điển cố của tác giả Trần Đình Sử
trong quyển Những thế giới nghệ thuật thơ- Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội- 1997
nhóm nghiên cứu chúng tôi xin được khái quát lại định nghĩa điển cố như sau: “Điển
cố là những sự việc, câu chữ của tác phẩm văn học đời trước đã đạt tới mức chuẩn mực được nhiều người biết tới và thừa nhận, được sử dụng lại trong tác phẩm văn học mới nhằm tăng cường sức biểu hiện, mở rộng và đổi mới ý thơ thì gọi là điển cố” Bên cạnh đó, để tránh sự nhập nhằng khó hiểu cho người đọc, nhóm nghiên cứu chúng tôi sẽ chọn một tên gọi thống nhất đó là tên gọi “điển cố” trong xuất quá trình
nghiên cứu đề tài “Nghệ thuật sử dụng điển cố trong tác phẩm Cư trần lạc đạo phú của
Trần Nhân Tông”
2 Vấn đề sử dụng điển cố trong nền văn học trung đại
Trang 13Trong lịch sử dân tộc, đất nước ta đã từng trải qua hơn một ngàn năm đô hộ phương bắc Chính những điều này đã ảnh hưởng lớn đến đời sống tinh thần, tư tưởng, văn hóa và xã hội nước ta Chữ Hán từng được xem là chữ viết “độc tôn” trong nền văn học nước ta qua nhiều thế kỷ do ảnh hưởng của đô hộ Tuy nhiên, do tinh thần tự lực, tự cường cũng như ý thức dân tộc các bậc tiền nhân xưa đã khẳng định tinh thần độc lập và khả năng sáng tạo của mình khi cho ra đời chữ Nôm Mặc dù, chữ Nôm không được lưu truyền rông rãi, không được xem là chữ viết chính của dân tộc và đưa vào thi cử nhưng cũng đã cho thấy sự ý thức và cố gắng sáng tạo không mệt mỏi của cha ông ta khi không muốn bị đồng hóa
Bên cạnh những điều đã làm được, nhìn chung văn học nước ta còn chịu ảnh hưởng khá nhiều từ nền văn hóa Trung Quốc Đặc biệt là trong thời kì trung đại, chúng
ta chịu ảnh hưởng nhiều từ đề tài, chủ đề, tư tưởng, cũng như vận dụng các thể thơ trong sáng tác, nhất là việc sử dụng điển cố trong các sáng tác của mình Tác giả Phạm Đan Quế nhận xét: “Dùng điển vốn là một thói quen đã trở thành tập quán trong sáng tác thơ văn xưa kéo dài xuất từ thời kì cổ đại đến trung đại của các nền văn học chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Trung Hoa Biết bao sự tích trong Sử - Sách, Kinh - Truyện, biết bao ý tứ câu chữ trong thơ văn cổ điển Trung Quốc đã được các nhân văn thi sĩ ta sử dụng như những hình ảnh, câu chữ tách rời nguyên bản như một kho từ vựng để trở thành lối vay mượn mang tính từ chương thuần túy” [17;5] Ở đây, không phải là chúng tôi cho rằng việc ảnh hưởng Trung Hoa trong việc sử dụng điển cố trong sáng tác là xấu, vì thực chất việc sử dụng điển cố trong sáng tác cũng có nhiều tác dụng tốt Biểu đạt bằng điển cố là một hình thức thể hiện sâu sắc, hấp dẫn, với nội dung cụ thể, hàm xúc, đầy hình tượng và vì lẽ đó mà điển cố được dùng phổ biến trong văn học, nhất là văn học trung đại
Nói về mục đích dùng điển trong sáng tác văn học trung đại, Lê Quý Đôn phát biểu Ông cho rằng: “Ta thường làm thơ có 3 điểm chính: Một là tình, hai là cảnh, ba
là sự Trong lòng có cảm xúc thực sự, rung cảm nên lời Thực tế bên ngoài gây thành
ý, rồi dùng điển tích để nói việc ngày nay, chép việc ngày xưa hay thuật truyện hiện đại, đến tự nhiên có thần.” [28;2] Từ phát biểu của Lê Quý Đôn ta thấy, người xưa dùng điển trong sáng tác như một phương tiện hữu hiệu để thể hiện, bộc lộ tư tưởng, tình cảm của mình
Trang 14Đặc điểm của điển cố là dùng hình tuợng biểu trưng diễn đạt bất cứ lãnh vực nào của cuộc sống được nhiều người sử dụng, sửa chữa thành cố định Tuy nhiên, nói điển cố trở thành cố định là nói về mặt ý nghĩa chứ không phải mặt hình thức, bởi vì
nó tùy thuộc vào sự vận dụng đa hình, đa dạng của mỗi người trong cách diễn đạt của mình Điển cố bao giờ cũng gồm hai nghĩa: Nghĩa đen và nghĩa bóng Nghĩa đen của điển cố do bản thân nó mang lại, nhiều hình tượng, cụ thể, sinh động Nghĩa bóng mang tính khái quát, trìu tượng, có khi cho một sự vật, một tính chất hay một hành động nên rất đa dạng, rất nhiều biểu cảm Sử dụng điển cố chính là vận dụng hài hòa nghĩa đen và nghĩa bóng làm phương tiện ý nghĩa, mục đích biểu trưng và sau đó thể hiện thái độ người sử dụng
Điển cố trong văn học Phuơng Đông nói chung và văn học Trung Hoa, Việt Nam nói riêng đuợc xem như là một chất liệu mang chức năng xây dựng hình tượng một cách sâu sắc, nhiều ý nghĩa Điển cố vừa mang chức năng nhận thức vừa mang chức năng biểu cảm Điển cố là hiện tượng nghệ thuật tạo sự liên tưởng đặc biệt, biểu hiện tâm hồn tác giả và gợi cảm cho người đọc vì tính đa nghĩa và sinh động, điển cố
có thể giúp người đọc nhận thức vấn đề sâu sắc và tinh tế hơn Sự hình thành điển cố trong văn học không đơn thuần là một biện pháp nghệ thuật mà thực tế do quan niệm triết học chi phối
Trong văn học trung đại người viết thường thích dùng điển cố trong sáng tác của mình bởi nhiều lý do Trước hết, là do để tạo hình ảnh sinh động cho bài văn tránh khô khan, trần trụi chỉ một vài câu chữ mà hàm chứa cả triết lý cuộc đời làm cho ý nghĩa sâu sắc ngoài lời nói Hơn nữa, do quy định khắt khe của khuân khổ, câu chữ, niên luật của các thể thơ xưa buộc người viết phải tuân theo những quy cũ Trong số câu chữ hạn định của bài thơ muốn thể hiện hết tư tưởng, ước vọng của người viết thì cách giải quyết tốt nhất là sử dụng điển cố, lấy chuyện xưa để kể truyện ngày nay
Như đã nói ở phần đặc điểm của điển cố, điển cố bao giờ cũng gồm hai tầng nghĩa là nghĩa đen và nghĩa bóng Nếu người viết khéo vận dụng thì đó sẽ là phương tiện giúp lời, ý thêm đậm đà lý thú Diễn đạt được những sự việc mà không thể dùng
lời mà nói hết được Ví dụ trong Chinh phụ ngâm có câu:
“Chí làm trai dặm nghìn da ngựa, Gieo Thái sơn nhẹ tựa hồng mao”
Trang 15Điển da ngựa do chữ Mã cách khoả thi (da ngựa bọc thây) là điển chỉ trong Mã Viện truyện có ghi: “Làm trai nên chết ở chiến trường biên ải lấy da ngựa bọc thây chôn, sao lại chết ở trên giường trong tay đàn bà trẻ con?” Ý nói kẻ làm trai phải có chí tung hoành thiên hạ, nên xem cái chết nơi chiến trường là danh dự, không nên bó chí ở xó nhà làm nhụt nhuệ khí người trai
Điển Thái Sơn (núi Thái Sơn bên Trung Quốc ý chỉ vật nặng), hồng mao ( lông con ngỗng trời ý chỉ vật nhẹ) sách xưa có ghi lại: “Người ta ai cũng một lần chết, có cái chết nặng hơn núi Thái sơn, có cái chết nhẹ hơn lông hồng.” Ý nói kẻ làm trai nên tìm lấy cái chết vinh quang, xứng đáng, hơn là chết trong sự ươn hèn
Chỉ dùng có ba điển Da ngựa, Thái sơn và Hồng mao mà ý thơ sâu sắc hơn gấp bội Sức diễn tả mãnh liệt tô đậm ý chí của đấng nam nhi Không cần diễn tả dài dòng nhưng hiệu quả của câu thơ tăng lên rất nhiều
Bên cạnh đó, điển cố còn giúp cho người sáng tác diễn tả được những điều khó nói mà nếu nói thành lời sẽ thô tục, khiếm nhã, làm cho câu thơ, câu văn nhẹ nhàng,
thanh nhã, nghiêm túc Ví dụ Truyện Kiều có câu:
“Ngẫm duyên kỳ ngộ xưa nay,
Lứa đôi ai lại đẹp tày Thôi Trương
Mây mưa đánh đổ đá vàng,
Quá chiều nên đã chán trường yến anh”
Điển Thôi Trương kể về câu truyện có chàng Trương Sinh đến chơi đất Bồ, trọ
ở chùa Phổ Cứu Gặp bọn quân lính quấy rối, người đàn bà họ Thôi trọ cùng chùa với chàng rất sợ hãi, chàng đã ra tay cứu giúp Nhân đó bà mời chàng về đãi tiệc, chàng gặp con gái bà tên Oanh Oanh, nhờ người tỳ nữ làm mối để kết tình Vài năm trôi qua, Oanh Oanh lấy chồng, chàng Trương cũng kết hôn với người khác Từ đó, không còn
ai nhớ lại chuyện cũ nữa ý chỉ nam nữ lén lút tư tình với nhau trước khi kết hôn
Điển mây mưa (vân vũ) truyện kể vua nước Sở (Sở Hoài Vương) đi chơi ở Cao Đường, nằm mộng thấy thần nữ đến xin hầu chăn gối Khi từ biệt luyến tiếc nàng nói:
“Thiếp sớm làm mây, tối làm mưa” ý chỉ trai gái trao tình ân ái với nhau Chỉ với hai điển mây mưa và Thôi Trương thi hào Nguyễn Du cho người đọc thấy được sự khéo léo của Kiều trong việc từ chối cũng như nhẹ nhàng dạy cho Kim Trọng về việc phải nghiêm túc trong truyện tình yêu Ý thô nhưng lời rất thanh tao
Trang 16Ngoài ra, tác giả trung đại còn sử dụng điển cố như những dẫn chứng, ví dụ minh họa bởi vì nếu vận dụng tốt sẽ giúp tăng sức thuyết phục cũng như lý lẽ cho lập luận làm cho lập luận trở nên vững trắc, xác thực rõ ràng Đó cũng là sự thể hiện của tính uyên bác và là tài năng của người sáng tác
Về phương thức sử dụng điển cố trong văn học trung đại, nhìn chung đều dựa trên cơ sở vay mượn những sự kiện, yếu tố, chi tiết, nhân vật, hình ảnh từ những câu chuyện hoặc câu thơ, câu văn được chép trong sách xưa Điển cố như những rừng rậm chứa nhiếu loại thực vật phong phú, đa dạng, nhiều màu sắc, muốn khai thác hiệu quả điển cố làm phương tiện biểu đạt văn sĩ dùng nhiều cách thức khác nhau Thông qua
sự vay mượn đó nhà văn tùy theo nội dung, ý nghĩa và yêu cầu của thể loại văn mà chọn lựa và áp dụng vào trong tác phẩm của mình
Tóm lại, chính những đặc điểm ưu việt cùng với nhiều lý do khác nhau đã làm cho điển cố trở thành một trong những đặc trưng văn học trung đại Việt Nam Tuy nhiên, chúng ta không nên vì thế mà quá lạm dụng điển cố Đỗ Phủ ngày xưa cho rằng:
“Dùng điển như dùng muối, tức không thể dùng nhiều, đồng thời dùng điển phải hòa tan, tự nhiên, không nhìn thấy, dùng điển phải thoát sáo, linh hoạt, làm ra ý mới thì mới hay” [20;30] Trong nền văn học của ta do ảnh hưởng Hán học nên chủ yếu các sáng tác của các văn sĩ xưa vẫn còn dùng nhiều điển trong sách vở Trung Hoa Trong
tác phẩm Cư trần lạc đạo phú tác giả đã cố gắng thoát khỏi khuân sáo của điển cố
Trung Hoa bằng việc sáng tác tác phẩm bằng chữ Nôm và sử dụng nhiều điển cố âm Thuần Việt nhưng không vì thế mà bài phú mất đi giá trị Tác phẩm đã cho người đọc
thấy được tài năng Trần Nhân Tông và khẳng định Cư trần lạc đạo phú là một tác
phẩm lớn trong nền văn học nước ta
3 Thể loại phú và phú đời Trần
3.1 Thể loại phú
3.1.1 Nguồn gốc, sự ra đời và phát triển phú đời Trần
Phú là một thể loại văn học quan trọng của Trung Quốc, ra đời từ thời chiến quốc Tên thể loại phú do Tuân Huống đặt ra để gọi tên cho tác phẩm của mình Lưu Hiệp viết : “Xét về nguồn gốc, rõ ràng phú bắt nguồn từ nước Sở, thịnh lên ở đời Hán” Nhưng ông cũng chỉ ra rằng phú có nguồn gốc sâu xa hơn : “Ban Cố cho phú là
một thể loại thơ cổ Đến khi Khuất Nguyên làm Ly tao, thì thơ phú mới bắt đầu lan
Trang 17rộng Phú bắt nguồn từ các nhà thơ, lấy cơ sở từ sở từ” [7;134] Như vậy ta có thể thấy được phú có nguồn gốc sâu xa từ văn học Trung Hoa Phú gồm có 5 thể : Tao thể, tán thể (còn gọi là phú cổ thể), biền lệ (biền thể), luật thể và văn thể
Ở Việt Nam, phú không có điều kiện xuất hiện ở xã hội phật giáo đời Lý do nhiều nguyên nhân khách quan về điều kiện lịch sử và tư duy, tình cảm của con người
Nó được sử dụng chủ yếu ở thời Trần, khi mà vai trò của đạo Nho được đề cao và việc xây dựng nhà nước phong kiến Nho giáo được kính trọng
Phú Việt Nam được mở đầu với bài phú Nôm của Trần Nhân Tông, Lý Đạo Tái
và Mạc Đĩnh Chi vào cuối thế kỷ thứ XIII đầu thế kỷ XIV Phú của Trần Nhân Tông
có đối tượng, biền ngẫu làm theo lối trữ tình ngôi thứ nhất chia thành mười hội và kết lại bằng bài kệ Phú dạy con của Mạc Đĩnh Chi gồm 204 câu 4 chữ Đây là những bài phú có nội dung và hình thức độc đáo khó thấy có ở phú của Trung Quốc
Phú là một thể loại văn học nhằm phô diễn tư tưởng, tình cảm, ý chí của kẻ sĩ với non sông đất nước, đối với thánh triều Những điều này cũng được thể hiện khá rõ
trong ba bài phú ra đời sớm nhất thời Trần là Cư trần lạc đạo phú của Trần Nhân Tông, Vịnh Vân Yên tự phú của Lý Đạo Tái và Giáo tử phú của Mạc Đĩnh Chi Một
điều đáng chú ý là trong số ba bài phú chữ Nôm ra đời sớm nhất vào thời Trần thì có
tới hai bài xuất xứ từ thiền phái Trúc Lâm đó là hai bài phú Cư trần lạc đạo phú của Trần Nhân Tông và Vịnh Vân Yên tự phú của Lý Đạo Tái Nội dung hai bài phú Cư trần lạc đạo phú và Vịnh Vân Yên tự phú nêu lên những tư tưởng quen thuộc của thiền
phái Tuy nhiên, không vì thế mà hai bài phú này không thể hiện hết được thuộc tính của phú là tả chí Cái “chí” ở đây được Đặng Thai Mai giải thích: “Ta nên hiểu chữ
“chí” ở đây là “tâm” của kẻ sĩ Cho nên “chí” không chỉ có phần nghị lực, phần ý chí
mà thôi mà nó có phần tâm tình kẻ sĩ nữa” [30;44]
Với ba bài phú nêu trên, người đọc đã biết đến phú chữ Nôm Tuy nhiên, phải đến cuối thời Lê nó mới bắt đầu nở rộ và đạt đến mức điêu luyện, tinh xảo Người thực
sự khơi dòng cho phú Nôm là Nguyễn Hàng với Đại hồng phong cảnh phú và Tịch cư ninh thể phú Từ đây trở đi phú Nôm mới bắt đầu được ưa chuộng, về sau phú Nôm tiếp tục phát triển theo hai hướng Thứ nhất là ca ngợi và tỏ chí như tác phẩm Ngã ba hạc phú của Nguyễn Bá Lân, Tụng Tây Hồ phú của Nguyễn Huy Lượng Thứ hai là giáo huấn với các bài phú khuyết danh như: Răn cờ bạc, Răn rượu, Khuyên thế nhân
Phú Nôm giàu tính hiện thực, nhiều bài đạt thành tựu cao về nghệ thuật
Trang 18Tóm lại, phú có nguồn gốc xâu xa từ văn học Trung Hoa Khi du nhập vào nước ta phú bắt đầu xuất hiện vào thời Trần với ba bài phú chữ Nôm của Trần Nhân Tông, Lý Đạo Tái, Mạc Đĩnh Chi và ngày càng phát triển đạt những thành tựu cao về
cả nội dung lẫn nghệ thuật
3.2 Phú đời Trần
3.2.1 Nội dung phú đời Trần
3.2.1.1 Thể hiện tinh dân tộc, ca ngợi thiên nhiên, đất nước và con người thời Trần
Phú thời Trần Thể hiện tinh thần quật cường của dân tộc, ca ngợi công đức của các vị vua Trần trong chống xâm lược và xây dựng đất nước Bày tỏ tâm trạng hào hứng, phấn khởi của con người trước thiên nhiên, đất nước tươi đẹp, giàu có, bày tỏ
khát vọng hòa bình Đó là tinh thần Bạch đằng giang phú của Trương Hán Siêu, Trảm
xà kiếm phú của Sử Hy Nhan, Thiên hưng trấn phú của Nguyễn Bá Thông…, Những bài phú của thời thịnh Trần (1225 -1340) Bạch đằng giang phú là bài ca hào hùng của
thời đại phô diễn vẻ đẹp tráng lệ của khí thế dân tộc qua những hình ảnh chói lọi trong kháng chiến chống quân Nguyên Mông:
“Đương khi:
Muôn đội thuyền bày, hai quân giáo chỉ Gươm tuất sáng lòa cờ bay đỏ khé
Tướng bắc quân nam, hai bên đối lũy
Đã nổi gió mà bay mây, lại kinh thiên mà động địa
Kìa Tất Liệt thế cường, Lưu công chước quỷ
Nó bảo rằng:
Phen này một trận gieo roi, quét sạch Nam bang bốn cõi
Thế nhưng : Trời cũng chiều người, hung đồ hết lối
Khác nào khi xưa:
Trận Xích Bích, quân Tào Tháo tan tác tro bay;
Bến Hợp Phì, giặc Bồ Kiên lát giây cháy rụi
Đến nay nước sông tuy chảy hoài,
Mà nhục quân thu khôn rửa nổi
Tái tạo công lao, muôn đời ca ngợi.”
Trang 19Non sông đất nước tươi đẹp cũng là niềm tự hào và ca ngợi bất tận của các tác giả:
“Lớp lớp sóng kình muôn dặm, thướt tha đuôi trĩ một màu
Nước trời một sắc, phong cảnh ba thu.”
của Nguyễn Nhữ Bật,…
Những bài phú loại này chủ yếu xuất hiện trong thời vãn Trần, bắt đầu từ Trần
Dụ Tông (1341 – 1369 ) Thời kỳ này, giai cấp thống trị sau một khoảng thời gian
“nằm gai nếm mật”, “đồng cam cộng khổ” với nhân dân, nay bắt đầu đi vào xa hoa hưởng lạc và triều đình nhà Trần cũng bắt đầu nghiêng ngửa vì những biến động xã hội Ý thức được điều này, các tầng lớp nho sĩ đề ra yêu cầu cấp thiết là nhà vua phải
“tu thân” Trong bài Thang bàn phú (phú cái chậu vua Thành Bang) một tác giả đã viết
hết sức xúc động:
“Mặt trời là biểu tượng của nhà vua Chiếc chậu là tượng hình của mặt nguyệt
Tuy dáng tròn vẫn không đổi thể xưa,
Mà ánh sáng vẫn luôn đổi mới
Chắc thánh nhân khi thể nghiệm đạo trời,
Sẽ nhận ở chậu này nhiều tâm đắc”
Cảm hứng can gián, khuyến phúng xuất hiện ở hàng loạt phú thời này, phản ánh
một vấn đề xã hội có tính cấp thiết, bức xúc của lịch sử Trong Cầm chính lâu phú
Nguyễn Pháp khuyên vua không nên ăn chơi xa xỉ, mà phải chăm chỉ việc chiều chính:
“Thanh sắc lánh xa chẳng thiết;
Bắn săn bỏ dứt không chơi
Cầm gấm vóc không cho là quý ; Mặc giản đơn làm trước mọi người…
Thức khuya dậy sớm, sử dụng hiền tài
Trang 20Thân coi chính sự, nắm hết quyền oai
Đức Nghiêu Thuấn mong rằng sánh kịp;
Công vua Văn cố gắng theo đòi”
3.2.1.3 Thể hiện tinh thần triết luận về vũ trụ và nhân sinh, cảm khoái thời thế, bày tỏ sự thất vọng và nhu cầu thay đổi hiện tại xã hội
Điều này thể hiện trong các bài phú của Trương Hán Siêu, Đào Sư Tích, Trần
Công Cẩn….Bạch đằng giang phú là một bài ca nhưng lại mang cả một nỗi bi ai ngấm
ngầm Đó là tâm trạng thương xót cho những ai đã ngã xuống trên dòng sông này:
“Bờ lau xào xạc, bến lách đùi hiu, Sông chìm giáo gãy, gò đầy xương khô
Buồn vì cảnh thảm, đứng lặng giờ lâu…”
Và man mác nỗi buồn hoài cổ:
“Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá,
Mà nay dấu vết luống còn lưu…
Khách chơi sông chừ ủ mặt, Người hoài cổ chừ lệ chan….”
3.2.2 Đặc điểm về hình thức phú đời Trần
Phú đời Trần có nghệ thuật khá điêu luyện và thuần thục Phú chủ yếu được làm theo hai thể cổ thể và cận thể Âm điệu hài hòa, đối chỉnh, lời ý chặt chẽ Lê Quý Đôn từng nhận xét “Văn thể phú về triều nhà Trần phần nhiều khôi kỳ, hùng vĩ, lưu loát, đẹp đẽ, âm vận, cách điệu giống như văn nhà Tống” [7;152] Sau đây tôi xin được dẫn một số nét chính về đặc điểm của hai thể phú: Cổ thể và cận thể
3.2.2.1 Phú cổ thể
Phú cổ thể chính là một thể văn vốn là từ thơ cổ phong dãn ra, do đó cách kết cấu rộng rãi, các đoạn mạch cũng không cần phải chặt chẽ chỉ cần vần mà không cần đối, cũng không cần hạn số vần nhất định mỗi câu có thể là bốn từ, bảy từ hay nhiều từ theo lối trường đoản cú không cân đối Những bài phú hoàn toàn dùng câu bốn từ (gọi
là phú tứ tự), dùng hoàn toàn câu bảy từ (gọi là phú thất tự) Những bài phối theo lối trường đoản cú, lối văn xuôi có vần gọi là phú lưu thủy Ngoài ra, những bài phú có
Trang 21những câu đệm từ hề (chừ), gọi là phú theo điệu Sở từ Sau đây, chúng tôi xin dẫn một
số ví dụ tiêu biểu
Ví dụ 1: Trích đoạn đầu bài phú Tài bàn làm thể tứ tự:
“Tài bàn, tài bàn! Ai sinh ra chàng? Trăm hai mươi quân, Phu bá kéo hàng Cũng văn, cũng sách cũng chi, lão, thang
Nào ăn, nào đánh, muốn dọc muốn ngang Có lạ gì đâu, khác chín lưng khàn
Từ khi mới sang, vát mặt nghênh ngang; đi dâu theo đó, sum họp thành làng”
(Khuyết danh)
Ví dụ 2: Trích đoạn đầu của bài Ngọc tỉnh liên phú của Mạc Đĩnh Chi, làm theo
thể Lưu thủy:
“Khách có kể: nơi nhà cao tựa ghế, trưa mùa hạ nắng hồng
Ao trong ngắm làn nước biếc nhạc phù vịnh phúc Phù dung
Chợt có người: Mặc áo quê, đội mũ vàng
Hỏi: “Ở đâu lại?” Rằng: “Từ Họa sơn”
Bèn bắc ghế, bèn mời ngồi…”
Ví dụ 3: Trích đoạn đầu của bài Bạch Đằng giang phú của Trương Hán Siêu,
làm thể Lưu thủy có pha lối Sở từ:
“Khách có kẻ giương buồm giong gió chơi vơi, lướt bể chơi trăng mải miết
Sớm gõ thuyền chừ Nguyên Tương; chiều lần thăm chừ Vũ Nguyệt Cửu giang, Ngũ hồ, Tam Ngô, Bách Việt,
Nơi có người đi đâu mà chẳng biết
Đầm Vân mộng chứa trong kho tư tưởng cũng nhiều,
Mã tráng chí bốn phương vẫn còn tha thiết
Bèn giữa dòng chừ buông chèo; học Tử trường chừ thú tiêu giao ”
Bài Ngọc tỉnh liên phú và bài Bạch Đằng giang phú đều theo lối Lưu thủy, câu
dài câu ngắn không nhất định và không buộc phải đối nhau Nhưng thỉnh thoảng cũng
có câu đối nhau Bài sau chỉ khác bài trước ở chỗ thỉnh thoảng có pha điệu Sở từ
3.2.2.2 Phú cận thể
Trang 22Phú cận thể hay phú Đường luật: Nếu phú cổ thể ít được dùng trong văn học quốc âm thì phú cận thể hầu như được dùng phổ biến Thể phú này có từ đời Đường nên đời sau gọi là phú Đường luật So với phú cổ thể, phú Đường luật có kết cấu chặt chẽ, theo một số quy luật nhất định
Về cách đặt câu: Câu trong phú Đường luật phải có vần và phải đối nhau Vần có hai lối: Độc vận, nghĩa là xuất cả bài chỉ có một vần Liên vận, nghĩa là bài thơ gồm có nhiều vần Vần thì có thể vần bằng, có thể vần trắc, độc vận cũng có thể hoặc bằng, hoặc trắc Gieo vần có hai cách: Phóng vận, tức là tự người làm buộc phải theo một vần (độc vận) hay nhiều vần (liên vận) nhất định Hạn vận Trong phú liên vận, từ câu trên chuyển xuống câu dưới, từ đoạn trên chuyển xuống đoạn dưới đều
tự do thay đổi vần lúc nào cũng được, miễn là nằm trong một đoạn mạch bố cục Câu trong phú Đường luật khác câu trong phú cổ thể là phải đối nhau dù đặt theo lối bát tự, song quan, cách cú hay hạc tất Đối là phải đối thanh đi với đối ý Trong câu bát tự và song quan, nếu từ cuối câu trên là trắc thì từ cuối câu dưới là bằng hoặc ngược lại Trong câu cách cú hay hạc tất, từ đậu (tức là từ cuối trong vế đầu trong câu cách cú hay từ cuối trong vế đầu và vế thứ hai trong câu hạc tất) cũng phải theo luật lệ đó Đấy là luật của hệ thống ngang, còn có niên của hệ thống dọc, tức là quan
hệ về thanh giữa các câu bát tự, song quan, cách cú, hạc tất trong một bài phú Thí dụ:
“Khổ dạng trâm anh Nết na chương phủ Hoi miệng sữa còn giọt máu, nét hào hoa chừng ná Tấn Dương; Chòm tóc xanh vừa chấm ngang vai, lời khi nghiệp chững so Y, Phó”
Ở đây, hai câu bát tự chuyển xuống hai câu cách cú Như vậy, từ “phủ” ở cuối câu thứ hai bát tự là trắc phải ăn khớp với từ “máu” là từ đậu cũng trắc ở cuối vế thứ nhất câu đầu cách cú kế tiếp Cũng như vậy, từ “Dương” là bằng ở cuối câu đầu cách
cú phải ăn khớp với từ “vai” là từ đậu cũng bằng ở cuối vế thứ nhất câu thứ hai cách
cú, v.v…Có thể tóm tắt niêm trong bốn câu nói trên như sau: Phủ(trắc), Máu(trắc), Dương (bằng),Vai (bằng), Phó (trắc) Như vậy là thanh trắc hay thanh bằng phải niêm từng cặp với nhau, nếu lẻ là thất niêm
Về cách bố cục: Cách sắp đặt đoạn mạch trong một bài cú Đường luật cũng chặt chẽ như trong một bài thơ Đường luật, nghĩa là cũng đủ khai, thừa, thực, luận, kết
Trang 23Trong một bài phú, thường người ta chia ra 5 hoặc 6 đoạn: Lung, biện nguyên, thích thục, phù diễn, nghị luận, kết
Những phần đề cập bên trên chỉ là khái quát, thực chất một bài phú thường gồm
4 đoạn: Đoạn mở, đoạn giải thích, đoạn bình luận và đoạn kết Ở đoạn mở đầu cũng như ở phần đầu mỗi đoạn không dùng câu dài như cách cú hay hạc tất, mà chỉ dùng câu ngắn như bát tự, song quan, rồi mới đến câu dài Trong mỗi đoạn thường gieo một vần (nếu bài có nhiều vần), nhưng cũng có thể gieo nhiều vần, nếu không muốn gò bó
Đó là những nét chính về hình thức nghệ thuật phú đời Trần
CHƯƠNG II: TÌM HIỂU VỀ TÁC GIẢ
Trang 24TRẦN NHÂN TÔNG VÀ TÁC PHẨM
CƯ TRẦN LẠC ĐẠO PHÚ
1 Tác giả
Trần Nhân Tông 陳仁宗(1258 – 1308) tên thật là Trần Khâm 陳昑 Ông sinh ngày
11 tháng 11 năm Mậu Ngọ Niên hiệu nguyên phong thứ 8 Trần Nhân Tông là con trưởng vua Trần Thánh Tông 陳聖宗, mẹ là Nguyên Thánh Thiên Cảm hoàng thái hậu
Đại việt sử ký toàn thư có ghi lại: “Trần Nhân Tông được tinh anh thánh nhân, thuần
túy đạo mạo, sắc thái như vàng, thể chất hoàn hảo, thần khí tươi sáng, hai cungcho là
lạ, gọi là Kim Tiền đồng tử Trên vai có một nốt ruồi đen nên có thể gánh vác việc lớn” [5;54]
Vốn bản tính thông minh, đa tài và học rộng về Phật học cũng rất tinh tường, thường cùng các vị tôn đức trong thiền gia giảng cứu thiền học Nhất là được sự giáo huấn của Tuệ Trung thượng sĩ nên Trần Nhân Tông am hiểu Phật pháp đến mức uyên đáo
Năm 16 tuổi được lập làm thái tử, Trần Nhân Tông có ý tù chối xin nhường cho
em nhưng không được vua cha chấp nhận Năm 21 tuổi được vua cha truyền ngôi và lấy hiệu là Thiện Bảo Nguyên Niên
Trong thời gian người tại vị đất nước gặp rất nhiều khó khăn, khi người vừa lên ngôi nhà Nguyên cũng vừa diệt xong nhà Tống và có ý đồ xâm chiếm nước ta Lợi dụng chú của Trần Nhân Tông là Trần Di Ái cùng Lê Tuân, Lê Mục đi sứ sang Trung Quốc Vua nhà Nguyên phong Trần Di Ái làm An Nam Quốc Vương và sai Xài Thung đem quân sang xâm lược nước ta lần thứ nhất Vốn là người có thể gánh vác được việc lớn cùng sự anh minh, tài trí cộng thêm sự giúp sức của quan tài, tướng giỏi Trần Nhân Tông cùng với quân và dân cả nước đã đánh tan 3 lần xâm lược của quân Nguyên Mông
Đại việt sử ký toàn thư nhân định “Trần Nhân Tông là một vị vua nhân từ, hòa
nhã, cố kết lòng dân, sự nghiệp trùng hưng đời trước Thực sự là một vị vua hiền đời Trần”[5;54]
Bên cạnh hậu thế ca ngợi là một vị anh hùng, tài trí có công chống giặc Nguyên
mà đồng thời Trần Nhân Tông còn được biết đến như một nhà thiền học Phật giáo Vốn yêu thích đạo Phật từ nhỏ, sau khi tại vị 14 năm Trần Nhân Tông truyền ngôi cho
Trang 25vua Anh Tông và lên làm Thái Thượng Hoàng Ông ở ngôi Thái Thượng Hoàng được
5 năm, thấy vua Anh Tông có thể tự mình trông coi quốc sự Trần Nhân Tông quyết định xuất gia ở núi Yên Tử lấy đạo hiệu là Trúc Lâm Đại Sĩ Ông đã khai sáng ra phái Thiền Viện Trúc Lâm đồng thời là vị tổ sư thứ nhất của phái thiền này
Năm 1038 Trần Nhân Tông mất tại am Ngọa Vân núi Yên Tử (Đông Triều, Quảng Ninh) Trần Nhân Tông tại vị ngôi vua 14 năm, làm Thái Thượng Hoàng 5 năm, và xuất gia 8 năm, thọ 51 tuổi
Tóm lại, Trần Nhân Tông là một vị vua đặc biệt nhất trong các vị vua của Việt Nam xưa Ngài vừa là một vị anh quân, anh hùng một thời, vừa là một thiền sư đạo cao đức trọng là một tấm gương sáng cho nhiều thế hệ sau noi theo
Bài Cư trần lạc đạo phú tức là bài phú Cư trần lạc đạo (bài phú ở cõi trần vui
với đạo) được sáng tác trong khoảng 6 năm người làm Thái Thượng Hoàng (1279 – 1300) để hướng dẫn vua Anh Tông trị vì Và ta cũng thấy rõ điều này trong hội thứ nhất khi người viết:
“ Mình ngồi thành thị 命憹城市
Nết dụng sơn lâm”
涅用山林
(Hội thứ nhất) Hai câu trên có nghĩa là “Mình ngồi thành thị” ý chỉ người đang ở triều đình, nơi chốn kinh đô thành thị làm Thái Thượng Hoàng hướng dẫn cho con trông coi việc nước nhưng tinh thần hay hành động của người giống như người ở núi rừng “Nết dùng
Trang 26sơn lâm” Đây cũng là ý nghĩa tinh thần Cư trần mà lạc đạo trong tác phẩm Cư trần lạc đạo phú
2.2 Nội dung tác phẩm
Cư trần lạc đạo phú là một bài phú làm bằng chữ Nôm gồm có mười hội (tức
mười đoạn tương đối độc lập với nhau) cuối cùng có một bài kệ chữ Hán viết theo thể thơ tứ tuyệt Sau đây chúng tôi xin tóm tắt nội dung cơ bản của từng hội:
Hội thứ nhất: Gồm có 14 câu diễn tả tâm trạng Trần Nhân Tông lúc còn làm Thái Thượng Hoàng luôn luôn thành tâm hướng Phật không nhất thiết là ở thành thị hay thôn quê, rừng núi, bất cứ hoàn cảnh nào tâm luôn luôn trong sạch tỉnh giác thuần tịnh Ngài đang ở thành thị nhưng tinh thần của người như ở chốn núi rừng Thượng Hoàng khẳng định:
“Tham ái nguồn dừng, chẳng còn nhớ châu yêu ngọc quí”
貪愛源停,庄群汝珠腰玉貴
Đối với ngài trong lòng bây giờ chỉ còn lòng yêu thích Phật:
“Kinh nhàn đọc dấu, trọng lòng rồi trọng nữa hoàng kim”
經閒讀酉,重峼耒重女黃金
Tóm lại, qua hội thứ nhất ta có thể thấy được tấm lòng của Trần Nhân Tông, tuy còn là thái thượng hoàng nhưng tâm đạo tràn trề Đối với thiền, với trí tuệ, ngài lúc nào cũng thấy nó trùm khắp Đối với chỗ vô tâm ngài thấy quý trọng nhất đời
Hội thứ hai: Trong hội này Trần Nhân Tông dạy ta tu cốt nhận và sống được với tâm chân thật của mình, chứ không có phép nào khác Giữ gìn tánh sáng suốt, buông bỏ các vong niệm thì mới được an ổn:
“Gìn tính sáng tính mới hầu an;
Trang 27đức và trong sạch thì chẳng cần tìm đến Tây Phương, Cực Lạc mà Phật chính trong lòng ta Thượng Hoàng vạch ra con đường cho kẻ tu hành đó là phải “Cầm giới hạnh,
ăn rau trái, vận giẻ vận sui.” Điều đó cho ta thấy được cốt của kẻ tu hành: Ăn, mặc đơn giản, đạm bạc miễn sao được khỏe mạnh để tu hành, chứ không hề khen chê đẹp sấu, ngon dở Cốt lõi là lấy đạo đức làm gốc
Hội thư ba : Hội thứ 3 liền mạch, tiếp ý của hội thứ 2, Trần Nhân Tông quan niệm:
“Chỉn Bụt là lòng, xá ướm hỏi đòi cơ Mã Tổ;
Trần Nhân Tông còn quan niệm không cần lên núi cao Yên Tử hay ngồi am Sạn non đông mà tu hành, ở trần tục (cõi trần) mà đắc đạo thì mới thật là quý
Hội thứ tư: Ở hội này Trúc Lâm đệ nhất tổ nhắc nhở cho người tu hành muốn đắc đạo thành Phật thì phải như thể nào? Tu hành cốt biết được tâm thì sẽ chấm dứt mọi lậu hoặc, chuyển ba độc mới chứng ba thân, làm chủ sáu căn mới trừ được sáu giặc Biết được tâm thì chấm dứt tất cả các lậu hoặc
“Chuyển tam độc mới chứng tam thân;
Trang 28倿戒行断慳貪
Thì chúng ta chính là Phật Thích Ca, Di Lặc, chứ không ai khác Qua hội này chúng ta thấy được Trần Nhân Tông đã ngộ đạo, dù ở địa vị Thái Thượng Hoàng cao sang nhưng tâm hồn ngài vẫn rất trong sáng không nhiễm nhơ Xứng đáng là một tấm gương sáng cho chúng ta noi theo
Hội thứ năm: Vì thiếu căn bản trong cái tâm, xao lãng cái gốc tức là Phật nên mới tìm Phật ở nơi khác Phật ở trong nhà nhưng mà mình lo đi tìm ngọn tức tìm Phật bên ngoài mà đâu biết Phật chính là mình Ở hội này, Trần Nhân Tông còn khuyên chúng sanh nên học theo đạo, để được đắc đạo chúng ta cần phải “Ngăn bát thức, lẫy tam huyền” Nhưng không được gượng ép mà phải để tùy duyên vì “Càng đè thì càng bội”
Và cuối cùng khi đã giác ngộ lẽ đạo thì có thể bao quát được vũ trụ, vạn vật
trong khóe mắt của mình, lọt qua được cái lỗ nhỏ của cái khuyên kim cương, có thể thông xuất được mọi việc không còn vướng mắc Mặc dầu có nuốt quả cức có gai góc trơn tuột thì cũng không làm sước da của mình
Hội thứ sáu: Ở hội này, triết lý thiền tông được chuyển hóa nhuần nhuyễn trong đời sống tâm linh của con người, những thiền sư tạo thành những nhân sinh quan độc đáo và đẹp đẽ: Khi tu hành đã sạch vọng niệm trong lòng, bên ngoài giữ được điều răn
về sắc tướng thì có thể trở thành một vị bồ tát trang nghiêm và người tu thiền kén được bạn giỏi, tìm được thầy hay thì dù tan thân nát óc cũng chưa đủ để đền ơn
Hội thứ bảy: Trần Nhân Tông chỉ ra cái hay, cái quý của nhà Phật đó là:
“Vô minh hết bồ-đề thêm sáng;
無明歇菩提添瞆
Phiền não rồi đạo đức càng say”
煩惱耒道德強蔢
Nêu lên triết lý của đạo Khổng cũng như với đạo Phật:
“Vâng ơn thánh, xót mẹ cha, thờ thầy học đạo;
埄恩聖律憽吒蜍柴學道
Mến đức Cồ, kiêng bùi ngọt, cầm giới ăn chay.”
勉德瞿經裴兀倿戒吿齋
Trang 29Vì đền nghĩa sinh thành, cảm đức từ bi của Phật mà giữ giới ăn chay Thờ thầy học đạo thân chẳng màng bao đắng cay Việc tu hành cốt trọn một bề đạo đức chớ chẳng phải nói suông ngoài miệng mà trong tâm thường sanh lỗi Người tu hành phải đến nơi mới nhận ra được giá trị tuyệt vời của đạo
Hội thứ tám: Muốn trở thành Phật thì phải cố gắng rèn luyện, phải để cho tâm hồn thoải mái chớ câu nệ gì cả Bởi vì, chúng ta càng cố gắng nén xuống thì càng nổi lên như xông cốc Bên cạnh đó, người tu hành cần tích cực làm việc thiện
Hội thứ chín: Ở hội này Thượng Hoàng chỉ cho chúng ta biết lối tu của chư tổ, chư tổ dạy:
ra tâm chân thật mà không cho chúng ta dựa vào bất cứ phương tiện nào suy nghĩ phân biệt Do đó, ở đây hành giả chỉ tu mới đạt được kết quả chứ không thể học hiểu suông
và dùng thức tỉnh mà suy lường chỗ cứu kính ấy được
Hội thứ mười và bài kệ:
Trang 30sanh tiền ngồi ngựa cao ở lầu vàng điện ngọc, chết xuống ấy cũng bị bọn ngục tốt hành
hạ mà thôi Những kẻ không quyết chí tu hành mà mê đắm công danh thì người cho đó
là những kẻ phàm phu Đấy chính là khoảng cách giữa người phàm và bậc thánh
Trong kinh Phật thường dùng lối văn xuôi xen lẫn văn vần, sau một đoạn văn xuôi thường dùng một bài văn vần để thuật lại và đúc kết lại ý đã nói Bài văn vần đó gọi là kệ Kệ chính là nơi tập trung những quan niệm, tín điều cơ bản của đạo Phật Do
đó kệ thường được chau chuốt để có thể ngâm, hát được cho dễ nhớ, dễ truyền bá Cũng do đó, kệ thường là bộ phận có nhiều giá trị nhất trong kinh Phật Vì vậy, khi nói
tới tác phẩm Cư trần lạc đạo phú không thể không nhắc tới bài kệ của Trần Nhân
Trong nhà sẵn của báu, đừng tìm đâu khác
Đối diện với mọi cảnh giới mà vẫn vô tâm, thì cần chi hỏi thiền nữa
2.3 Giá trị tư tưởng tác phẩm
2.3.1 Chủ thuyết Cư trần lạc đạo
Thiền Viện Trúc Lâm chú trọng việc tọa thiền vừa tu vừa giảng dạy kinh điển Tạo nên sức sống mãnh liệt và nền văn hóa đặc thù cho Phật giáo đời Trần Tu thiền không còn chỉ dành riêng cho người xuất gia mà tu sĩ tại gia vẫn có thể tu được Nhiều người sống giữa dòng thế tục mà vẫn vui với đạo (tiêu biểu như thượng hoàng Trần
Trang 31Nhân Tông) Đó chính là tinh thần “Nhập thế tùy duyên” và cũng là chỗ công phu của
thiền tông được đúc kết thành thuyết Cư trần Lạc đạo cuối bài phú của Trần Nhân
Trong nhà sẵn của báu, đừng tìm đâu khác
Đối diện với mọi cảnh giới mà vẫn vô tâm, thì cần chi hỏi thiền nữa) Qua bài phú ta thấy Trần Nhân Tông đã ngộ đạo, ngộ được chân lý của thiền phái mà các thế hệ trước đã đúc kết lại: “Trong núi vốn không có Phật, Phật chỉ ở trong tâm Tâm lặng mà sáng suốt mà biết thì đó chính là Phật”
“Sơn bản vô phật, duy tồn hồ tâm
Tâm tịch nhi tri thi danh chân phật”
Trần Nhân Tông cũng đã từng nói “Pháp tức là tính Phật tức tâm Vì vậy, tính nào không phải pháp, tâm nào không phải Phật Tâm là Phật mà tâm cũng là pháp ”
Tư tưởng nhất quán này thể hiện rõ trong bài kệ của ông Theo Trần Nhân Tông, thiền phái mà ông lập ra không chỉ chủ trương tùy tục mà còn nhập thế tích cực Ông cho rằng: “Ta trộn lẫn cùng với thế tục, hòa cùng ánh sáng, đối với mọi vật chưa từng xúc phạm hay trái ngược” trong hội thứ hai ông khẳng định rõ
“Mình ngồi thành thị
命憹城市
Nết dụng sơn lâm
Trang 32đây cũng là tinh thần “tùy duyên mà vui với đạo” trong tác phẩm Cư trần lạc đạo phú
Trong câu phú trên tác giả cũng đã xác định được phạm trù đời và đạo theo một cách nhìn mới mà các thiền phái Trung Hoa trước đó chưa đề cập đến Ở đây, người đọc có thể hiểu đời là thành thị đạo là sơn lâm Từ thực tiễn cho chúng ta thấy, một con người
ở thành thị dù phải gánh vác bao nhiêu việc đời song họ biết sử lý theo lòng trong sạch chẳng khác gì người ở núi rừng Đó chính là quan điểm “Chẳng phải đại ẩn, tiểu ẩn,
không phân biệt tại gia xuất gia” như Trần Thái Tông đã đề cập đến trong Thiền tông chỉ nam tự
Xưa nay, mọi người đều biết đại ẩn chính là sống ở thành thị mà giữ lòng trong sáng, còn tiểu ẩn là sống ở núi rừng mà trau dồi bản thân đến chỗ hoàn thiện Người Phật tử sống ở thành thị cần phải biết tu thiền mà theo Trần Nhân Tông:
“Dứt trừ nhân ngã thời ra tướng báu kim cương;
Trang 33(Hội thứ hai) Khi chúng sinh đã biết cách tu thiền, sống đạo thì không cần phải đến núi Canh Diều của Yên Tử hay ngồi Am Sạn non đông mà có sự giác ngộ:
“Áng tư tài tính sáng chẳng tham, há vì ở Cánh Diều Yên Tử;
盎資財性瞆庄貪呵為於歳鷂安子
Răn thanh sắc niềm dừng chẳng chuyển, lọ chi ngồi am Sạn non Đông”
譤聲色念停庄轉路之憹庵棧筃東
(Hội thứ ba) Những danh lam thắng cảnh ấy chỉ là nơi con người quy hướng, chiêm ngưỡng lại những vẻ đẹp của non sông mà tu tâm dưỡng tính như Huyền Quang đã ngọa trong
bài Vịnh vân yên tự phú:
“Ngọa đỉnh Vân Tiêu; cưỡi chơi Cánh Diều
Coi Đông Sơn tựa hòn kim lục; xem Đông Hải tựa miệng con ngao.” Bởi vì, sự giác ngộ hiện diện ngay trên cõi đời Đây cũng là điểm mới mà Trần Nhân Tông muốn khẳng định: “Bụt chính ở trong lòng ta, chỉ cần tâm có Phật con người có thể giác ngộ ngay trong cuộc sống thường ngày của mình” Ở đây, vấn đề không phải là sống ở thành thị hay núi rừng mà đắc đạo, vấn đề là ở chỗ người Phật tử sống ở giữa cõi trần mà vẫn đắc đạo thì thật là đáng quý, thật đáng tự hào Phật luôn hiện hóa giữa cõi đời, mỗi người chỉ cần đoạn ghen tham, sống đạo nghĩa nhân đức với người khác thì đó chính là Phật Thích Ca, Di Lặc
“Tích nhân nghì, tu đạo đức, ai hay này chẳng Thích Ca;
Nói về tinh thần nhập thế trong bài viết Tìm hiểu về Trần Nhân Tông, vị Tổ
sáng lập dòng thiền Trúc Lâm, Mạn Đà La phát biểu: “Tinh thần của Thiền học Trúc
Lâm là thiền học dân tộc, nghĩa là một mặt không ngừng phát triển tận cùng khả
Trang 34năng giác ngộ giải thoát để vươn lên đỉnh cao của con người: Giác ngộ giải thoát hoàn toàn Mặt khác không ngừng tích cực xây dựng an lành cho chúng sinh bằng cách trước hết phục vụ đất nước, dân tộc những người gần mình và có ân nghĩa đối với cuộc sống của mình” Thực ra khi nói về tinh thần nhập thế từ lâu đã được nhà Phật định hình theo tinh thần: “Này các Tỳ kheo, hãy du hành, vì hạnh phúc cho quần sinh, vì an lạc cho quần sinh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài người”[30;3] Và các đệ tử của Phật từ xưa đến nay đã đi từ thành thị đến nông thôn để làm lợi cho đời
Xét cho cùng, khái niệm xuất thế của đạo Phật thì mang ý nghĩa nhập thế mà
Phật đã vạch định Bài văn Cảnh sách của Quy Sơn (771-853) rất phổ biến trong các
Thiền đường Việt Nam đã nêu khái niệm xuất thế khá rõ: “Phù xuất gia giả phát túc siêu phương, tâm hình dị tục, thiệu long thánh chủng, chấn nhiếp ma quân, dụng báo
tứ ân, bạt tế tam hữu” (Người xuất gia là cất bước thì muốn vượt tới phương cao rộng, tâm tính và hình dung khác hẳn thế tục, tiếp nối một cách rạng rỡ dòng giống của Phật, làm cho quân đội của ma phái rúng động, với mục đích báo đáp bốn ân, cứu vớt ba cõi) [30;3]
Từ những khái niệm đó ta thấy thiền phái quy định quan niệm nhập thế đối với người Phật tử là phải: “Tích cực, xây dựng an lành cho chúng sinh, phục vụ đất nước, dân tộc”, phải “Đáp bốn ân, cứu vớt ba cõi” Tiếp thu quan điểm thế hệ đi trước Trần Nhân Tông đã tiếp tục xây dựng và phát triển quan điểm này Ông đã thổi vào đó những giá trị tươi mới, tích cực đó chính là đó chính là Phật tại tâm, tu theo Phật thiện chứ không khuyến khích khổ hạnh ép xác, càng không coi nhẹ bổn phận của công dân đối với dân tộc, đất nước Chính vì vậy mà ngay trong hội thứ nhất Thái Thượng Hoàng khẳng định
Trang 35“Trần tục mà nên, phúc ấy càng yêu hết tấc;
塵俗麻年,福意強腰歇則
Sơn lâm chẳng cốc, hoạ kia thực cả đồ công”
山林庄谷,禍箕實垰徒功
(Hội thứ ba) Đạo Phật theo Trần Nhân Tông là phải xuất thế, là phải gắn liền với con người
và thời đại và người Phật tử đem đạo hạnh của mình ra để ứng dụng vào đời
“Trong đạo nghĩa, khoảng cơ quan, đà lọt lẫn trường kinh cửa tổ;
瑇道義曠機關,它突吝場經翓祖
Lánh thị phi, ghê thanh sắc, ngại chơi bời dặm liễu đường hoa”
另是非稽声色,櫀制排淡柳塘花
(Đệ ngũ hội) Người Phật tử muốn thành Phật không cần khổ hạnh ép xác mà điều trước tiên
là phải sống cho đúng với bản tâm tính thiện của con người Phật tử cần rèn luyện đạo đức “Lánh thị phi, ghê thanh sắc, trọng đạo nghĩa…” hơn nữa còn cần phải:
“Sạch giới lòng, dồi giới tướng, nội ngoại nên Bồ Tát trang nghiêm; 瀝戒峼搥戒相,內外年菩薩莊嚴
Ngay thờ chúa, thảo thờ cha, thi đỗ mới trượng phu trung hiếu.”
Trang 36(Hội thứ bảy) Bên cạnh tu thân, tu dưỡng đạo đức để giúp đời tác giả còn khuyên chúng sanh Phật tử cần tích cực làm việc thiện để giúp đời, tích đức để rèn lòng làm bụt
“Dựng cầu đò, dồi chiền tháp, ngoại trang nghiêm sự tướng hãy tu;
3 Mối quan hệ tam giáo đồng nguyên
Trong quá trình bảo vệ, xây dựng và mở rộng bờ cõi thời Lý Trần, đất nước ta
có nhiều điều kiện để tiếp xúc, giao lưu và học hỏi các nền văn hóa khác từ phương bắc và phương nam chính điều này đã tạo cho tín ngưỡng tôn giáo Việt Nam trở nên phong phú hơn Và khi tam giáo gia nhập vào nước ta, ông cha ta đã biết khéo léo tiếp nhận, chọn lọc dung hoà và biến chúng thành cái riêng của mình phù hợp với điều kiện
và hoàn cảnh sống của mình Tam giáo đồng nguyên là một hình thức cụ thể của sự dung hợp tam giáo (Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo trong tổ hợp tư tưởng)
Nhìn lại các tác phẩm văn thơ Lý – Trần chúng ta nhận thấy được tinh tần dung hoà này, có khi là sự phân công hợp tác giữa Phật và Thánh Có khi là sự kết hợp uyển chuyển giữa Lão và Phật để đi đến sự thống nhất là tam giáo đồng nguyên Đặc biệt là
trong tác phẩm Cư trần lạc đạo phú Trần Nhân Tông mối quan hệ tam giáo này càng
Trang 37nhất của Cư trần lạc đạo phú:
“Lo hoán cốt, ước phi thăng, đan thần mới phục;
Hai câu đầu của đoạn phú này phản ánh chủ trương của Đạo giáo về sự tu tiên
để đạt trường sinh bất tử Đó là sự đam mê đi tìm thần dược của các đạo sĩ, điều này hoàn toàn phù hợp với tư tưởng thời Trần Ở thời đó ngoài Phật giáo vốn được xem là quốc giáo, Nho và Đạo cũng được chú trọng Đặc biệt, Nho giáo với vai trò quản lý nhà nước đã từng bước khẳng định vị thế của mình trong hệ tư tưởng thời Trần Trần Nhân Tông khi tham khảo sách Dịch đã tìm thấy ở đó tính sáng của thánh nhân, quân
tử, giúp ông trở thành bậc minh quân Ông cho rằng, tâm sáng (Phật) và tính sáng (Nho) đều quý hơn vàng bạc châu báu
Trang 38Như chúng ta đã biết, trong tam giáo mỗi một đạo đều mang một tư tưởng, đặc trưng riêng Nếu như Phật giáo chủ trương mang lại nguồn an lạc, hạnh phúc cho nhân loại Đạo giáo đã có tác dụng trong đời sống tâm linh của người dân Việt thì Khổng giáo cũng có nhiệm vụ lập lại kỷ cương của đời sống xã hội Nhưng trong thời Trần, Nho giáo có phầm “nhỉnh” hơn do nhu cầu cai trị và ổn định xã hội của chế độ phong
kiến lúc bấy giờ Tuy nhiên, trong tác phẩm Cư trần lạc đạo mối quan hệ tam giáo
đồng nguyên được Trần Nhân Tông lý giải rất hài hòa, sự đồng nguyên ấy luôn lấy Phật giáo làm chủ đạo Trước hết, người chủ xướng kêu gọi: “Gìn tính sáng” và “sửa mình học đạo” để đạt đạo, tức là đạt đến trình độ nhận biết chân như “chứng thực tướng” mà Trần Nhân Tông gọi là “lòng trong sạch” hay “sạch làu cái tâm mầu nhiệm của sự giác ngộ” Con đường đạt đến mục đích ấy cũng giống như tiến trình của nhà Nho đến với sự đạt đức (trí, nhân, dũng), còn mục đích của Đạo Lão Trang là vô vi, tri túc Cả dật sĩ, cư sĩ và đạo sĩ đều chấp nhận:
“Ăn rau ăn trái, nghiệp miệng chẳng hiềm thửa đắng cay;
“Tìm đường hoán cốt, chỉn sá năng phục dược luyện đan;
寻唐換骨㐱舍能服藥煉丹
Hỏi phép chân không, hề chi lánh ngại thanh chấp sắc
坙法真空分之另櫀聲執色