1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHỆ THUẬT sử DỤNG điển cố TRONG lục vân TIÊN TRUYỆN

72 1,3K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cũng sử dụng điển cố trong phương pháp sáng tác nhưng không cao sang và diễm lệ như Truyện Kiều của Nguyễn Du, không da diết như Chinh Phụ Ngâm Khúc của Đặng Trần Côn, Lục Vân Tiên truyệ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

BỘ MÔN NGỮ VĂN

TRẦN THỊ TỐ NHƯ

NGHỆ THUẬT SỬ DỤNG ĐIỂN CỐ TRONG

LỤC VÂN TIÊN TRUYỆN

Luận văn tốt nghiệp đại học Ngành Ngữ Văn

Cán bộ hướng dẫn: Th.s TẠ ĐỨC TÚ

CẦN THƠ, THÁNG 5 - 2010

Trang 2

Chương 1 : Nguyễn Đình Chiểu và tác phẩm Lục Vân Tiên truyện

Chương 2 : Điển cố và việc sử dụng điển cố trong văn học Việt Nam trung đại

Chương 3 : Điển cố trong Lục Vân Tiên truyện của Nguyễn Đình Chiểu

Trang 3

Lớn lên, trong quá trình sống và học tập người viết càng ngày càng bắt gặp nhiều hơn những trường hợp như thế, và mỗi cái tên, mỗi cụm từ được nói đến là một thắc mắc mà nó lại đang lớn dần trong đầu người viết

Bước vào giảng đường đại học, do yêu cầu của ngành học, người viết đã được nghe, đươc biết và được hiểu nhiều hơn về hiện tượng mà mình đã bị “ ám ảnh” ngày trước Đó là một thủ pháp nghệ thuật độc đáo được gọi là điển cố Thủ pháp nghệ thuật này được sử dụng rất rộng rãi và phổ biến trong nền văn học trung đại Việt Nam và Trung Hoa

Và trong những tác phẩm văn học trung đại Việt Nam, người viết bắt gặp rất nhiều tác phẩm sử dụng điển cố một cách điêu luyện làm cho tác phẩm nổi bậc lên với

nhiều giá trị Mà trong đó, người viết ấn tượng nhất là Lục Vân Tiên truyện của nhà

nho kiệt xuất đất Gia Định – Đồ Chiểu

Cũng sử dụng điển cố trong phương pháp sáng tác nhưng không cao sang và

diễm lệ như Truyện Kiều của Nguyễn Du, không da diết như Chinh Phụ Ngâm Khúc của Đặng Trần Côn, Lục Vân Tiên truyện của Nguyễn Đình Chiểu mang một sức hấp

dẫn mộc mạc hiếm có và dễ dàng đi vào lòng người như một kiệt tác của dân gian

Bên cạnh những nguyên nhân trên, khách quan mà nói Lục Vân Tiên truyện

không dừng lại ở một tác phẩm văn học mà còn là một bài học đạo đức và luân lý hết sức cao đẹp, và trong đó điển cố góp phần rất lớn trong nghệ thuật sáng tác làm cho bài học luân lý đẹp đẽ trên trở nên sinh động, và tính thuyết phục đi đến trọn vẹn

Trang 4

3

Có không ít những công trình tìm hiểu về điển cố trong Lục Vân Tiên truyện,

nhưng chỉ dừng lại ở mức độ liệt kê và dẫn chứng sơ lượt, cho nên người viết nghĩ rằng khi tìm hiểu vấn đề này người viết sẽ góp công sức nhỏ bé của mình vào việc khai thác một phần giá trị văn học và giáo dục to lớn của tác phẩm Đó là tất cả lý do

khiến người viết quyết định chọn đề tài “Điển cố trong Lục Vân Tiên truyện của

Nguyễn Đình Chiểu”

2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

Do là một tác phẩm được lưu hành bằng phương thức truyền miệng nên vấn đề

nghệ thuật trong Lục Vân Tiên truyện có thể vì thế mà ít được nghiên cứu nhiều Các công trình nghiên cứu về Lục Vân Tiên truyện đa phần nghiêng về mặt nội dung

Bên cạnh đó nghiên cứu về vấn đề sử dụng điển cố trong thơ văn Trung đại được các nhà nghiên cứu đề cập với nhiều mức độ khác nhau:

Dương Quảng Hàm trong cuốn Văn học sử yếu có viết về vấn đề “ Tính cách chính của tác phẩm về văn chương: các điển cố” Trong phần này tác giả đã đưa ra khái niệm của mình về điển cố, các cách dùng điển cố cũng như hiệu quả của việc dùng điển cố

Ngoài ra, cuốn Thi pháp thơ Đường của Quách Tấn cũng đề cập đến những điều

tương tự, ví dụ như: thế nào là dùng điển? và các cách dùng điển của người xưa

Hoặc là công trình nghiên cứu mang tên “Điển tích Truyện Kiều” của Phạm

Đan Quế đã đi sâu vào phân tích cái hay trong điển tích Truyện Kiều và rút ra nhận xét: “ Điển được dùng một cách đích đáng, tự nhiên, thích hợp, nhuần nhuyễn, gọn gàng, ý vị, thanh nhã, thuyết phục, linh động, đa dạng, thần tình”

Gần đây nhất là tập hợp những bài viết trong quyển sách Điển cố và nghệ thuật

sử dụng điển cố của Đoàn Ánh Loan Trong cuốn này tác giả đã đưa ra được những

luận điểm về cách sử dụng điển cố trong văn học Trung đại Việt Nam, đặc điểm tu từ của điển cố cũng như những căn cứ hiệu quả của việc sử dụng điển cố trong sáng tác Nhìn chung đây là một công trình nghiên cứu chi tiết, công phu và tương đối hoàn chỉnh Thông qua công trình này, người đọc bước đầu đã có cái nhìn khái quát về điển

cố từ quá trình hình thành, đặc điểm nghệ thuật cũng như hiệu quả sử dụng

Những công trình nghiên cứu trên đã góp phần rất lớn trong việc làm cơ sở cho

việc tìm hiểu và nghên cứu điển cố trong những tác phẩm cụ thể mà điển hình là Lục

Vân Tiên truyện

Trang 5

4

3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

“ Nghệ thuật sử dụng điển cố trong Lục Vân Tiên truyện” là đề tài mà người

viết chọn để tìm hiểu và khám phá nghệ thuật sử dụng điển cố trong sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu Qua đề tài này người viết mong rằng bản thân người viết cũng như mỗi cá nhân tiếp nhận tác phẩm sẽ cảm nhận được vẻ đẹp, nét tinh tế của điển cố

nói chung cũng như điển cố trong Lục Vân Tiên truyện nói riêng

4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Lục Vân Tiên truyện được xem như là sáng tác nổi bậc nhất của văn học hậu

trung đại cũng là một truyện thơ bất hủ cuối cùng đánh dấu sự thăng hoa của cách sử dụng điển cố trong phương pháp sáng tác của một nho gia thời kì cuối trung đại Do tính chất khá đặc biệt này và quan trọng nhất là do yêu cầu của đề tài nên phạm vi

nghiên cứu sẽ gói gọn trong giới hạn của Lục Vân Tiên truyện

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Luận văn là một công trình nghiên cứu khoa học, tuy quy mô nhỏ nhưng cũng được đầu tư rất nhiều công sức và tâm huyết đồng thời phải vận dụng nhiều phương pháp khác nhau để nghiên cứu Trong một công trình khoa học như thế này người nghiên cứu có thể dùng nhiều thao tác khác nhau như liệt kê, thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp… Trong đề tài này đầu tiên người viết sẽ dùng thao tác thống kê tất cả điển cố xuất hiện trong tác phẩm, sau đó tiến hành phân loại điển cố kết hợp với thao tác phân tích để thấy hết cái hay cái đẹp mà điển cố đã mang lại cho tác phẩm Từ đó người viết sẽ rút ra giá trị nghệ thuật của điển cố cũng như khả năng sáng tạo nghệ thuật kiệt xuất của Nguyễn Đình Chiểu

Trang 6

5

CHƯƠNG 1

NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU VÀ TÁC PHẨM

LỤC VÂN TIÊN TRUYỆN

1.1 Về tác giả Nguyễn Đình Chiểu

1.1.1 Tiểu sử

Nguyễn Đình Chiểu, tự Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ, Hối Trai, sinh ngày 01.7.1822 tại Gia Định, Sài Gòn Thân sinh là Nguyễn Đình Huy, người xã Bồ Điền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Ông làm Thơ lại ở Văn hàn ty của Tổng trấn Lê Văn Duyệt Mẹ là Trương Thị Thiệt, người Gia Định vốn là vợ lẽ của ông Huy

Tuổi niên thiếu, Nguyễn Đình Chiểu từng chứng kiến cảnh loạn lạc của xã hội lúc bấy giờ Những cuộc nổi dậy của đồng bào các dân tộc bị triều đình Huế đàn

áp, đặc biệt là cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Khôi tại Gia Định đã gây ra những bão táp kinh hoàng trực tiếp đến gia đình ông Nguyễn Đình Huy bỏ trốn ra Huế, bị cách chức, sau đó trở vào Nam đón Nguyễn Đình Chiểu, đem gửi cho một người bạn để ăn học Cuộc sống 8 năm ở Huế đã giúp ông nhận rõ hơn sự thối nát và phức tạp của triều đình, đồng thời có điều kiện để tiếp thu truyền thống văn hoá dân tộc ở đất kinh đô

Năm 1843, ông thi đỗ Tú tài ở Trường thi Gia Định Năm 25 tuổi, ông trở

ra Huế học tập, chờ khoa thi năm Kỷ Dậu (1849), nhưng chưa kịp thi thì có tin mẹ mất Trên đường trở về quê chịu tang mẹ, vì quá lo buồn, khóc thương, ông lâm bệnh

và mù cả hai mắt

Về đến Gia Định, sau khi mãn tang mẹ, ông tổ chức dạy học, bốc thuốc chữa bệnh và sáng tác thơ văn Nhờ sống gắn bó với nhân dân, ông có điều kiện hiểu đồng bào của mình sâu sắc hơn Có thể nói cho đến lúc này, ông đã trưởng thành về

tuổi đời và cả tư tuởng “ Lòng đạo” , tư tưởng nhân nghĩa của ông được phát huy

bằng những phương thức khác nhau: dạy học, làm thuốc và sáng tác văn học

Một người học trò của ông là Lê Tăng Quýnh, vừa trọng nể tài năng và nhân cách, lại vừa thương cảm hoàn cảnh của thầy, đã đem gả người em gái là Lê Thị Điền cho ông Bà sinh cho ông sáu người con, ba trai ba gái Ngày 17.2.1858, quân Pháp sau khi chiếm đánh Đà Nẵng, đã kéo vào Sài Gòn, tràn vào sông Bến Nghé, quan

Trang 7

6

quân triều đình chống trả yếu ớt, giặc Pháp chiếm thành Gia Định Sự kiện này mở đầu cho một thời kì đen tối của đất nước Lịch sử dân tộc sang một trang mới ghi lấy những hàng ước mà nhà nước phong kiến đương thời kí kết với thực dân, và cũng mở đầu cho những trang sử đẫm máu mà vẻ vang oanh liệt của nhân dân ta chống trả quyết liệt bọn thực dân cướp nước Lúc này, Nguyễn Đình Chiểu cùng gia đình chạy giặc về quê vợ ở làng Thanh Ba, huyện Cần Giuộc Cuộc đời ông cũng sang trang để bắt đầu ghi nhận những sự kiện oai hùng chống ngoại xâm của dân tộc

Sau hàng ước ngày 5 – 6 - 1862, ba tỉnh miền Đông rơi vào tay quân Pháp, không chịu sống trong vùng chiếm đóng của giặc, Nguyễn Đình Chiểu cùng gia đình xuôi thuyền về làng An Đức, tổng Bảo An, tỉnh Vĩnh Long, nay là huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre Tại đây, ông tiếp tục dạy học trò, bốc thuốc chữa bệnh cho dân, đồng thời vẫn giữ mối liên hệ chặt chẽ với những sĩ phu yêu nước như Phan Văn Trị, Nguyễn Thông và lực lượng kháng chiến

Cũng từ đây cho đến những năm tháng cuối đời, Nguyễn Đình Chiểu không ngừng dùng ngòi bút của mình làm vũ khí sắc bén ủng hộ và cổ vũ phong trào khởi nghiã chống thực dân Pháp, thể hiện cốt cách đẹp đẽ của một nhà nho chân chính

và khẳng định tấm lòng yêu nước thương dân của mình

Nguyễn Đình Chiểu mất ngày 3 – 7 - 1888, thọ 66 tuổi

1.1.2 Sự nghiệp văn chương

1.1.2.1 Trước khi Pháp đánh Gia Định ( trước 1859)

Giai đoạn này bắt đầu từ những năm 50 của thế kỉ XIX Lúc này tình hình đất nước hết sức phức tạp bởi sự rối ren trong triều đình phong kiến và sự lăm le xâm lược của thế lực phương Tây

Trong giai đoạn này, ngoài việc dạy học và làm thuốc, ông đã sáng tác

hai tập truyện dài là Lục Vân Tiên truyện và Dương Từ - Hà Mậu ( sau này khi về Cần

Giuộc ông đã sửa chữa bổ sung thêm cho hoàn chỉnh) Đây là thời kỳ tiếp tục hoàn thành và khẳng định tư tưởng yêu nước yêu dân, tư tưởng nhân nghĩa Đây như là một

bộ phận trong triết lý nhân sinh tiến bộ của ông

- Lục Vân Tiên truyện : là tác phẩm thơ Nôm đầu tiên, trong đó

thông qua những mối quan hệ tích cực và tiêu cực trong gia đình và xã hội, thông qua những nhân vật lí tưởng như Vân Tiên, Nguyệt Nga, Hớn Minh, Tử Trực, Tiểu đồng, những người lao động nhiều lòng nhân nghĩa như ông Quán, vợ chồng ông ngư, ông

Trang 8

7

Tiều… Nguyễn Đình Chiểu muốn khẳng định cuộc sống của con người tương thân tương ái với nhau trên cơ sở nhân nghĩa

- Dương Từ - Hà Mậu : ( theo nghiên cứu của nhiều người, tác

phẩm này có thể được soạn vào năm 1851) Đây là tác phẩm Nguyễn Đình Chiểu viết với một tinh thần chiến đấu, yêu nước thiết tha, sôi nổi, bên cạnh quan niệm nhân sinh hết sức trung thực Ông kêu gọi đồng bào sớm nhận ra kẻ thù chung của dân tộc, và nói rõ trách nhiệm và bổn phận của người dân Việt trước họa xâm lăng

1.1.2.2 Sau khi Pháp đánh Gia Định ( sau 1859)

Đây là giai đoạn phát triển cao và rực rỡ sự nghiệp văn chương của Nguyễn Đình Chiểu Giai đoạn này bắt đầu từ những ngày giặc Pháp mới tràn vào sông Bến Nghé cho đến khi toàn cõi Lục tỉnh Nam Kỳ bị chiếm đóng (trong khoảng những năm 60 và 70 của thế kỉ XIX) Sáng tác chính của giai đoạn này là thơ, văn tế

và truyện dài với nội dung bộc lộ sự câm thù quân xâm lược, ca ngợi anh hùng đánh Tây và tỏ rõ khí phách của một nho sĩ yêu nước chân chính

- Thơ : nội dung chính trong thơ của Nguyễn Đình Chiểu chủ yếu

bài tỏ tâm trạng đau xót trước cảnh quê hương đất nước trong cảnh lầm than xâm lược,

nổi bật có những bài thơ như Chạy giặc, Từ biệt cố nhân, Ngóng gió đông

- Văn tế: là thành công rực rỡ nhất trong sáng tác của Nguyễn Đình

Chiểu giai đoạn này Nội dung văn tế là ca ngợi những vị anh hùng đánh Tây đã hy sinh mà phần lớn họ xuất thân từ nông dân, họ đã tận trung với nước và tận nghĩa với

dân Những tác phẩm tiêu biểu là Văn tế Trương Định, Văn tế Phan Tòng, Văn tế

nghĩa sĩ Cần Giuộc…

- Truyện thơ dài : giai đoạn này ông còn sáng tác tác phẩm Ngư

tiều y thuật vấn đáp là một quyển văn vần daỵ nghề thuốc chữa bệnh nhưng chủ ý của

tác phẩm này là biểu dương đạo đức làm người Ông cũng mượn tác phẩm này để nói lên lòng yêu nước, căm thù giặc và quân bán nuớc, một mặt ông cũng phản ánh những vấn đề thời sự mà ông băn khoăn và trăn trở qua tác phẩm này

Giai đoạn này ông còn bổ sung hoàn chỉnh Dương Từ - Hà Mậu

1.2 Một số vấn đề xung quanh tác phẩm Lục Vân Tiên

1.2.1 Hoàn cảnh liên quan đến sự ra đời của tác phẩm

- Hoàn cảnh chung: Như đã nói ở trên, Nguyễn Đình Chiểu sống trong một giai đoạn đầy biến động của lịch sử nước nhà, Pháp lăm le chiếm dần dần miền

Trang 9

1.2.2 Tóm tắt nội dung tác phẩm

Lục Vân Tiên là một câu chuyện mang tính chất tự truyện Tính chất tự

truyện thể hiện qua những chi tiết có tính chất bề nổi và bề sâu của tác phẩm Chính nội dung tự thuật này đã bao quát toàn bộ cốt truyện và thể hiện suốt chiều dài tác phẩm

Lục Vân Tiên là một người học trò có nết có tài, con nhà phúc hậu, đã đính hôn với Võ Thể Loan Lục Vân Tiên, Trịnh Hâm và Bùi Kiệm cùng học chung một thầy trên núi Thiên Sơn Sau những năm tháng khổ luyện văn võ, cả ba được thầy cho xuống núi để lai kinh tham gia khoa thi tuyển người tài của triều đình chọn trạng nguyên Trên đường trở về thăm nhà, Lục Vân Tiên đã ra tay nghĩa hiệp cứu Kiều Nguyệt Nga cùng cô hầu gái Kim Liên thoát khỏi tay của bọn cướp Đỗ Dự Phong Lai Cảm kích trước nghĩa cử của Lục Vân Tiên, Kiều Nguyệt Nga đem lòng thầm yêu trộm nhớ vị ân nhân của mình Vốn con gái nhà quan thuộc dòng khuê các biết rõ thi thư nhạc họa , Kiều Nguyệt Nga đã tự họa hình Lục Vân Tiên và đề thơ nhớ chàng treo ở thư phòng Thế nhưng gia đình Lục Vân Tiên đã có lời giao ước với gia đình Võ Công là sẽ hỏi Võ Thể Loan cho Lục Vân Tiên Bởi vậy Lục Vân Tiên đã coi như Võ Thể Loan là vị hôn thê của mình Cả hai gia đình chỉ còn chờ ngày Lục Vân Tiên công thành danh toại trở về là sẽ tiến hành hôn lễ Trong khi đó Kiều Nguyệt Nga đã từ chối lời cầu hôn của gia đình Trịnh Thái Sư muốn hỏi nàng cho Trịnh Hâm – con nuôi của

họ

Trên đường về kinh ứng thi Lục Vân Tiên đã có thêm những người bạn mới

đó là Vương Tử Trực, Hớn Minh … Khoa thi năm ấy Lục Vân Tiên tràn trề nhiệt thành và quyết tâm bảng hổ đề danh Nhưng rồi tin mẹ mất ở quê nhà đã đến với Lục Vân Tiên khiến chàng phải bỏ dở kỳ thi để về quê chịu tang mẹ Nỗi đau buồn cùng

Trang 10

9

với mưu mô thâm độc của Trịnh Hâm đã khiến Lục Vân Tiên lâm vào cảnh mù lòa Bao nhiêu tiền bạc mang theo đã bị lừa trong việc chữa chạy đôi mắt, khiến tiền mất tật mang Lục Vân Tiên chỉ còn chỗ dựa duy nhất là người tiểu đồng trung thành của mình…

Khoa thi năm ấy Vương Tử Trực đỗ đầu và Trịnh Hâm đỗ thứ hai Trên đường về Trịnh Hâm gặp Lục Vân Tiên, vốn ghen ghét đố kị với Lục Vân Tiên vì Lục Vân Tiên được được kiều Nguyệt Nga yêu mến mà hắn lại có tình ý với Nguyệt Nga, Trịnh Hâm đã tìm cách đẩy Lục Vân Tiên xuống biển May mắn là Lục Vân Tiên đã trôi dạt vào bờ và được một ông lão đánh cá cứu sống Ông lão đã đưa Lục Vân Tiên tới nhà Võ Công Gia đình Võ Công hoàn toàn bất ngờ và thất vọng trước một Lục Vân Tiên tàn tạ, mù lòa Điều họ mong muốn lâu nay phải là một Tân khoa Trạng Nguyên trở về vinh quy bái tổ chứ không phải như bây giờ Chính vì vậy mà Võ Công

đã tìm cách bỏ Lục Vân Tiên trong rừng sâu Trong khi đó, Võ Công quay sang thăm

dò Vương Tử Trực hòng gả con gái cho chàng Vốn là một người nghĩa khí và là anh

em kết nghĩa của Lục Vân Tiên, Vương Tử Trực đã giận dữ và lên án hành động bất nghĩa của gia đình Võ Công Riêng Lục Vân Tiên tuy bị bỏ rơi giữa rừng sâu nhưng được Hớn Minh đưa về chùa trị bệnh (Hớn Minh lúc này đang ẩn mình trong chùa để trốn sự truy nã của Triều đình vì tội dám bẻ giò một tên con quan)…

Với mưu đồ chiếm ngôi vua, Trịnh Thái Sư đã câu kết với giặc Ô Qua đem quân sang gây hấn Triều đình đã cử Vương Tử Trực làm Nguyên soái và Trịnh Hâm

là phó soái đem quân đi chống giặc Do sự phản bội của Trịnh Hâm, đội quân của Vương Tử Trực đã thất bại và Vương Tử Trực đã bị giặc bắt cầm tù Giặc Ô Qua một lần nữa lại ra tối hậu thư với triều đình Trịnh Thái sư dâng kế cầu hòa bằng cách tiến

cử Kiều Nguyệt Nga đi triều cống để hại nàng nhằm trả thù việc Nguyệt Nga không đồng ý lấy con trai hắn Trên đường đi triều cống Nguyệt Nga đã nhảy xuống biển tự vẫn vì muốn giữ tròn tiết hạnh với Lục Vân Tiên Người đầy tớ của Nguyệt Nga là Kim Liên phải giả làm nàng sang làm vợ vua Ô Qua Nguyệt Nga không chết và đã được quản gia của gia đình Bùi Kiệm cứu sống Bùi Kiệm muốn lấy Kiều Nguyệt Nga làm vợ, nàng không đồng ý, nếu không hắn dọa sẽ tố cáo chuyện nàng không tuân chỉ Nguyệt Nga một lần nữa phải bỏ trốn… Giữa lúc đó triều đình lại mở khóa thi tuyển chọn nhân tài ra giúp nước chống giặc ngoại xâm

Trang 11

10

Lục Vân Tiên lúc này đã chữa khỏi mắt và một lần nữa lại vào kinh ứng thí Lần này Lục Vân Tiên đã đỗ Trạng nguyên Chàng được phong làm Nguyên soái thống lĩnh đội quân chống giặc Lục Vân Tiên đã xin vua cho triệu tập Hớn Minh và một số người quen biết vào đội quân tướng của mình Với tài nghệ và mưu trí thao lược Lục Vân Tiên đã đánh tan giặc Ô Qua, giải cứu được Vương Tử Trực và tìm lại được Kiều Nguyệt Nga Đồng thời, âm mưu đen tối của cha con Trịnh Thái sư và Trịnh Hâm cũng bị phơi bày trước ánh sáng Hai người nhận nhau rồi sum họp Nhà vua không có con trai mà lại mến tài đức Vân Tiên nên truyền ngôi cho chàng Còn bọn gian ác đã từng hãm haị Vân Tiên và Nguyệt Nga đều bị luật đời trừng phạt đích đáng Tình bạn, tình yêu, lòng chung thủy cuối cùng cũng đã chiến thắng Sự phản bội rốt cuộc cũng có ngày phải đền tội

 Lục Vân Tiên truyện có hơi hướng của một tác phẩm tự sự Nhân vật Lục

Vân Tiên mang dáng dấp của chính Nguyễn Đình Chiểu, vì chịu tang mẹ mà bỏ thi và than khóc đến mù cả mắt Khi bị đui mù lại chịu những vùi dập của số phận, Vân Tiên

bị hại đến trôi dạt khắp nơi còn Nguyễn Đình Chiểu thì phải sống cô đơn một mình và

cũng trải nhiều cay đắng Đáng nói hơn, ta phải công nhận một điều, Lục Vân Tiên

mang tư tưởng của tác giả, Nguyễn Đình Chiểu đã để Lục Vân Tiên thực hiện trọn vẹn nhiệm vụ cứu dân giúp đời và lý tưởng nhân nghĩa của mình Một điều chỉ xuất hiện một cách hạn chế ở Từ Hải của Nguyễn Du và tần suất xuất hiện ít ỏi trong những sáng tác trung đại

1.2.3 Vị trí của tác phẩm trong dòng văn học trung đại cuối thế kỉ

Điều không thể phủ nhận nhất là tính quần chúng và tính đân tộc đậm nét trong nội dung tác phẩm Lục Vân Tiên là hình tượng người anh hùng trọng nghĩa

Trang 12

11

khinh tài, hết sức gần gũi với đời sống tinh thần của nhân dân; quy luật vay trả, ác giả

ác báu, ở hiền gặp lành của nhân dân

Tính quần chúng được thể hiện gần như xuyên suốt tác phẩm, đó là hình ảnh người anh hùng trực tính Vân Tiên khi gặp bọn cướp hung ác liền :

“ Bẻ cây làm gậy nhằm làng xông vô…”

Với thái độ hết sức kiên quyết :

“ Thằng nào dám tới lẫy lừng nơi đây? “

Đó là một Hớn Minh không sợ cường quyền khi thấy con trai quan huyện

ép hãm con gái người ta thì :

“ … Vật chàng xuống đó bẻ đi một giò ”

Rồi tự trói tay nộp mình cho quan huyện Và một Tử Trực với tính cách như chính cái tên chàng, khi Võ công định gả Thể Loan cho chàng, chàng đã khảng khái :

“ Nói sao chẳng biết hổ thầm;

Người ta há phải là cầm thú sao?

… Hổ hang vậy cũng người ta

So loài cầm thú vậy mà khác chi?”

Tất cả những yếu tố trên đã làm nên tính bất hủ của tác phẩm, nó còn khẳng

định vị trí của Lục Vân Tiên truyện trong lòng nhân dân, nhất là nhân dân Lục Tỉnh Nam Kỳ ; đó là tấm lòng say mê và hết sức trân trọng Họ coi Lục Vân Tiên truyện như

một quyển đạo đức răn dạy nhắc nhở con cháu

Điều đặc biệt là tác phẩm được sáng tác khi mà tác giả không thể trực tiếp cầm bút ghi chép, cứ ngỡ đó là hạn chế trong việc tư duy sáng tác, tác giả rất dễ mắc phải những lỗi về bố cục, diễn biến cốt truyện và tuân thủ đúng quy luật về nêm đối

Nhưng thực tế cho thấy Lục Vân Tiên truyện là một chỉnh thể hoàn chỉnh một cách

tuyệt đối về nội dung và hình thức khi câu cú mạch lạc, cốt truyện hợp lý nhịp nhàng

Cần phải nói thêm, đây là một tác phẩm truyện thơ Nôm xuất sắc và đồ sộ

nhất, sau Truyện Kiều Đáng nói hơn, khi Truyện Kiều mượn gần như hoàn toàn nội dung của một xuất phẩm của Trung Quốc thì Lục Vân Tiên truyện lại được viết nên từ

những suy nghĩ hết sức đẹp đẽ về tư tưởng đạo đức vốn có của dân tộc Việt Nam, một

Trang 13

12

áng thơ hùng hồn về luân lý Một tác phẩm gần như thuần Việt về tư tưởng sáng tác và hình thức thể hiện

1.2.4 Bút pháp nghệ thuật

Tác phẩm này được sáng tác trong hoàn cảnh mù lòa nên nhiều chỗ còn thô

vụng Tuy nhiên ngôn ngữ trong Lục Vân Tiên truyện phục vụ đắc lực cho việc kể

Phần nhiều là những lời thơ nôm na, mộc mạc, chất phác, dễ nhớ, dễ truyền miệng trong dân gian

 Từ ngữ đặc chất Nam Bộ ít mang nét cổ kính ước lệ của văn chương cổ Xuất thân là một nho sĩ Lục tỉnh Nam kì, giọng thơ của Nguyễn Đình Chiểu chứa đựng những từ ngữ chất phát, chân thành của người dân Nam kì

“ Thơ hay làm đặng, rượu ngon tặng liền”

Đó còn là những câu trả lời dứt khoát, khảng khái và rõ ràng như sự chính trực của nhân vật chính

Vân Tiên ngó lại rằng: “ Ừ! “ Làm thơ cho kịp chừ chừ chớ lâu

Có một cái gì đó có vẻ cục mịch, khô khan và cộc lốc? Không đó là dẫn chứng tiêu biểu nhất cho tính cách không lệch đi đâu được của người nông dân Nam

Bộ

 Nghệ thuật trào phúng, đả kích

Là một nhà nho theo truyền thống nhưng Nguyễn Đình Chiểu có một con mắt tiến bộ, ông không mê tín và tin vào dị đoan mà cật lực phê phán tệ nạn đó, sự quyết tâm bài trừ nó khỏi tư tưởng con người thể hiện qua cách ông xây dựng hai nhân vật thầy pháp và thầy cúng

Ông tỏ vẻ rành rọt về những thủ pháp của những đối tượng này nhằm lừa bịp thiên hạ:

“Một giao hai sách lại ba sào trùng…”

Ông còn để cho nhân vật này tự vẽ nên cho mình thái độ quá lố của mình khi phô trương khả năng của mình một cách nhố nhăng, hợm hĩnh:

“ Pháp rằng: “ Ấn đã cao tay Lại thêm phù chú xưa nay ai bì Qua sông cá thấy xếp vi

Vào rừng cọp thấy phải quỳ lại đưa…

Trang 14

13

… Sai chim, khiến vượn, đuổi lừa, vật trâu…”

Tiếng cười đả kích bậc ra khi nhân vật thầy Pháp tự lột trần bộ mặt lừa đảo của mình trước mắt người đọc:

“ Đau nam chữa bắc mà thuyên mới tài”

 Hệ thống nhân dân lao động chính nghĩa đông đảo và phong phú :

Mang hơi hướng của một câu chuyện cổ tích, Lục Vân Tiên truyện xây

dựng nhân vật theo hai tuyến thiện ác rạch ròi Bên cạnh đó tác giả cũng thể hiện niềm tin mãnh liệt của mình vào con người vào cuộc đời, rằng dù đời có những kẻ độc ác mất hết đạo đức, tình người thì cũng còn đó rất nhiều những con người tốt đẹp và có một tấm lòng mang nét nhân văn cao quý Đó là Kim Liên, cô hầu nhỏ nhắn nhưng trung thành, giả dạng Nguyệt Nga thay nàng gả đi Ô Qua để nàng tròn chữ thủy chung với Lục Vân Tiên Đó là Tử Trực, kiên quyết từ chối mối giao tình thực dụng và bất nghĩa với cha con Võ Công Đó là tiểu đồng hết lòng hết sức chăm lo cho chủ nhân mà không kể đến thân mình… Còn nhiều lắm những nhân vật bé nhỏ mà chính nghĩa đại diện cho người dân lao động nghèo mà chứa chang tình nghĩa mà Lục Vân Tiên đã tạo

ra làm đẹp thêm hai chữ tình người cao quý như là: tiểu đồng, ông tiều, vợ chồng ông

phán, ông thuyền chài…

Trang 15

14

CHƯƠNG 2

ĐIỂN CỐ VÀ VIỆC SỬ DỤNG ĐIỂN CỐ TRONG

VĂN HỌC VIỆT NAM TRUNG ĐẠI

2.1 Khái niệm điển, điển tích, điển cố

Theo Đào Duy Anh chữ “ điển” này có bốn nghĩa : phép tắt, giữ coi, bán đỗ,

cầm đồ ( Hán – Việt từ điển)

Theo Nguyễn Quốc Hùng, “ điển” có năm nghĩa : Thường, sách vở của Ngũ

Đế thời thượng cổ của Trung Hoa ( nay hay gọi là sách vở xưa) , phép tắc, đứng đầu nắm giữ công việc gì, cầm thế đồ đạc

Trong Từ điển Hán Việt của Thiều Chửu, “ điển” là kinh điển, quy phạm

mẫu mực, sự việc cổ

 Điển tích

Câu chuyện trong sách đời trước được dẫn lại một cách cô đúc trong tác

phẩm ( Từ điển tiếng Việt – Hoàng Phê chủ biên)

 Điển cố

- Theo Bửu Kế : điển cố là sách sử, là những chuyện cũ chép trong sách xưa

Trang 16

15

- Theo Nguyễn Lân : điển cố là câu chuyện chép trong văn học cũ

- Theo Theo Phan Văn Các : điển cố là câu chuyện hay từ ngữ trong sách

cũ nay dùng lại

- Theo Nguyễn Hùng : điển cố là chuyện xưa chép trong sách vở

- Theo Hoàng Phê : điển cố là sự việc hay câu chữ trong sách đời trước được dẫn lại trong thơ văn

Tóm lại: Điển cố là những câu chuyện, câu chữ đã đạt đến độ mẫu mực trong

kho tàng văn hóa Trung Hoa được nhiều người biết đến và được sử dụng lại trong văn chương Điển, điển tích, điển cố có ý nghĩa tương đương nhau nhưng điển cố nặng về chữ nghĩa trong sách còn điển tích nặng về câu chuyện kể lại

2.1.2 Cách hiểu của người viết

Điển cố là một biện pháp tu từ trong văn chương để đạt tới cách diễn đạt lời

ít mà ý nhiều, bằng việc dùng những câu chuyện xưa (trong thần thoại, truyền thuyết, kinh sử, sự tích, sự kiện lịch sử ) thu gọn vào một từ, một nhóm từ nhằm gợi lên ý tưởng mà tác giả muốn đề cập tới Lúc đầu điển cố chỉ là từ ngữ biểu thị một sự vật, nhân vật, sự kiện cụ thể và chỉ có ý nghĩa hiện thực, sau vì được sử dụng nhiều lần, được chuyển cho một cấp độ nghĩa mới là nghĩa biểu trưng, nghĩa bóng, từ đó có thể tạo sự liên tưởng đến chuyện cũ, người cũ tuy không có ý nói về chuyện cũ, người cũ

mà nói về chuyện trước mắt

So với điển tích, điển cố là khái niệm rộng hơn, khi điển tích chỉ dừng lại ở những câu chuyện củ trong sách xưa thì điển cố còn bao hàm những câu chữ trong sách xưa (như Tứ thư, Ngũ kinh) hay những câu nói mang ý giáo dục của những nhân vật có vị trí trong lịch sử hay trong văn học (như Khổng Minh, Lão Phu Tử… )

2.2 Đặc điểm tu từ của điển cố

Trong văn học, một trong những biện pháp tu từ được sử dụng phổ biến nhất là hình thức so sánh So sánh là lấy phẩm chất của một cái này để làm nổi rõ đặc điểm của một cái khác Tiến lên một bước, người ta không dùng hình thức so sánh, mà dùng hình thức ẩn dụ, hoán dụ Thông thường, trong so sánh hay ẩn dụ, hoán dụ, người ta thường lấy những hiện tượng thiên nhiên để làm rõ những hiện tượng xã hội, hay phẩm chất của con người Về mặt nào đó, điển cố cũng có phần giống với những hình thức ẩn dụ, hoán dụ Nhưng có điều khác biệt là, điển cố như chất liệu dùng trong

Trang 17

2.2.1 Tính liên tưởng

Những tính chất, đặc điểm, hoạt động của thế giới tự nhiên, con người và xã hội

có điểm gần gũi, nên khi so sánh, dễ dàng khơi gợi sự liên tưởng, đưa đến kết quả hình thành đối tượng so sánh hoàn chỉnh Một khi đã nắm biết những đặc tính, trạng thái của đối tượng so sánh thì chỉ cần nêu lên một cách cô đọng trong vài từ cũng đủ nắm bắt được sự so sánh và ý nghĩa của nó Điển cố là nghệ thuật xây dựng hình tượng bằng ngôn ngữ kích thích sự tưởng tượng và liên tưởng Đằng sau lớp võ từ ngữ là cả một cuộc sống sinh động mà khi đọc đến nó, toàn bộ những hình ảnh về cuộc sống ấy được khơi dậy Điển cố vận dụng khả năng tư duy hình tượng rất phong phú và chính xác, khả năng liên tưởng nhạy bén Khi điển cố tồn tại và hoạt động trong một ngữ cảnh nhất định thì từ hình tượng cụ thể của nó, người đọc nhanh chóng tái hiện một sự liên tưởng trong đầu óc của mình Nội dung điển cố lập tức được lĩnh hội với tư cách

là những hình ảnh cụ thể, sinh động, gợi cảm và hấp dẫn Sự liên tưởng, so sánh trong quá trình tư duy của người đọc là chất “xúc tác” kết hợp nghĩa trực tiếp của điển cố với hiện thực văn cảnh tạo nên đặc trưng của điển cố Có thể biểu diễn quá trình này qua các bước sau, lấy điển cố “liễu đường” trong Chinh phụ ngâm làm ví dụ:

Liễu, sen là thức cỏ cây,

Đôi hoa cùng dính, đôi cây cùng liền

Hai câu thơ là sự diễn tả nội dung điển cố “Liễu đường” Đọc điển cố này,

những hình ảnh về câu chuyện được tái hiện: Hàn Bằng đời Chiến quốc làm chức xá nhân cho Tống Khang vương, bị Tống Khang vương cướp vợ là Hà thị và phải bị tù

Trang 18

17

Hàn Bằng buồn bã tự tử Trước khi chết theo chồng, Hà thị đề thư xin được chôn cùng chồng Tống Khang vương tức giận cho chôn riêng hai nơi Chẳng bao lâu có hai cây liễu mọc ở hai ngôi mộ, rể và cành liền nhau Rồi người đọc từ câu chuyện sinh động này liên tưởng đến tâm trạng người chinh phụ nhớ thương chồng, so sánh với hình ảnh câu chuyện mà hiểu được tình cảm của người vợ một lòng yêu thương chồng khi cả hai phải chịu cảnh chia ly

Như vậy, có thể thấy bước đầu tiên của hoạt động điển cố là đưa người đọc trở

về với lịch sử Từ sự trở về với hình ảnh, nội dung câu chuyện, hay về với nguồn gốc câu thơ đưa đến giai đoạn rút ra ý nghĩa sâu sắc, rồi so sánh, kết hợp với ngữ cảnh để

có một kết luận và để nâng cao hiệu quả biểu ý và biểu cảm của câu thơ, câu văn Tất

cả là một chuỗi quá trình liên tưởng, mở rộng và sáng tạo trong thế giới riêng của người đọc

2.2.2 Tính hình tượng

Lối so sánh của điển cố được thực hiện theo quy luật lấy đặc tính, ý nghĩa của đối tượng này biểu hiện đặc tính, ý nghĩa của đối tượng kia, so sánh vừa xa lại vừa gần, vừa kín đáo vừa rõ ràng, vừa sinh động vừa biểu cảm mạnh mẽ Sự so sánh như vậy giúp người cảm thụ nhận thức sâu sắc hơn, có thể bày tỏ thái độ khẳng định, yêu thích hoặc phủ định, chán ghét Sự tác động mạnh mẽ đó có được là do điển cố ngoài tính biểu cảm còn biểu hiện rõ tính hình tượng và tính cụ thể Cung oán ngâm khúc có câu:

Đuốc vương giả chí công là thế,

Chẳng soi cho đến khóe âm nhai

Muôn hồng nghìn tía đua tươi,

Chúa xuân nhìn hái một hai bông gần

Câu thứ nhất và thứ hai có gốc từ câu trong Kinh Thư: “Thái dương tuy vô

tư, kỳ chiếu âm nhai hàn cốc giả độc hậu” (Mặt trời tuy không thiên vị, mà soi đến nơi

gành sâu hang thẳm cuối cùng) Câu thứ ba mượn ý câu thơ Đường: “Vạn tử thiên

hồng tổng thị xuân” (Muôn tía, nghìn hồng tất cả là xuân), ở đây chỉ các cung nữ xinh

đẹp; chúa xuân chỉ vua Người đọc qua những hình ảnh ấy có thể so sánh ánh mặt trời với vua, khóe âm nhai ví người cung nữ bất hạnh, bị bỏ quên nơi lãnh cung lạnh lẽo Cung tần mỹ nữ trong cung cấm xinh đẹp như những bông hoa muôn màu tươi thắm, nhưng vua chỉ chọn một vài trong số ấy Hình dung, so sánh, người đọc mới thấu hiểu

Trang 19

2.2.3 Tính cô đọng, ngắn gọn

Điển cố hàm chứa nội dung và ý nghĩa sâu sắc nhưng thể hiện trong một hình thức tiết kiệm lời đến mức thấp nhất Sự tiết kiệm thể hiện ở hình thức giản lược những từ không cần thiết và cô đúc ngắn gọn Ví dụ để nói người hay lo lắng chuyện

không thực tế, trong Hoàn sơn, Nguyễn Thượng Hiền mượn điển cố “Kỷ nhân ưu

thiên” (Người nước Kỷ lo trời đổ), nhưng chỉ gói gọn trong hai từ “ưu thiên”: “Tiện tác ưu thiên khách Hoàn vi xuất thế nhân” ( Làm khách lo trời đổ Lại làm người xuất

thế)

2.2.4 Tính đa dạng và linh động

Thông thường trong chức năng tượng trưng và so sánh, đối tượng được so sánh gắn liền với vật tượng trưng trong một tương quan khép kín: hoa sen chỉ sự thanh khiết, cây tùng, cây bách chỉ đức tính của người quân tử Chức năng ấy bao hàm sự phủ nhận hình thức và chú ý nhiều đến ý nghĩa Hình thức (hay vỏ từ ngữ) nhằm đưa tới nội dung, ý nghĩa và dừng lại ở đó Nhưng điển cố với chức năng tưởng tượng, liên tưởng, hình thức cũng là một yếu tố quan trọng vì nó không mang nội dung, ý nghĩa cứng nhắc và khép kín mà nó có thể đưa đến một hay vài ý nghĩa khác bằng hình thức thích hợp theo chiều sâu của hồi tưởng về câu chuyện quá khứ, và hướng về tương lai Hơn nữa, điển cố còn thể hiện một hình thức linh động bằng cách hết hợp với những câu văn, câu thơ trong một tương quan gần

Điển cố tồn tại trong câu thơ, câu văn như một thực thể phù hợp với câu trúc và yêu cầu về luật định của các thể loại văn học Chính vì vậy, điển cố mang hình

thức phong phú, đa dạng Chẳng hạn, điển “nguyệt lão” không phải mang hình thức

cứng nhắc trong một từ cố định mà được biểu diễn thành rất nhiều từ khác nhau nhưng cùng một nội dung chỉ sự kết duyên vợ chồng như:bà nguyệt, chỉ đỏ, chỉ hồng, xích thằng, ông tơ, trăng già, xe tơ, xe dây, tơ đào Chỉ trong Truyện Kiều, Nguyễn Du diễn tả điển này bằng nhiều từ khác nhau:

Trang 20

19

Dù khi lá thắm chỉ hồng [câu 333]

Nàng rằng hồng diệp xích thằng [câu 459]

Ông tơ ghét bỏ chi nhau [câu 549]

Trăng già độc địa làm sao [câu 687]

Cùng chàng kết tóc xe tơ những ngày [câu 1532]

Kíp toan kiếm chốn xe dây [câu 2099]

Duyên đâu ai dứt tơ đào [câu 2609]

Điển cố là một khu rừng bao la mà trong đó chứa đựng nhiều loại thực vật cực kỳ phong phú, có thể diễn đạt rất nhiều mặt của đời sống từ cụ thể đến trừu tượng,

từ vật chất đến tinh thần Điển cố dùng cho nhiều mục đích: so sánh, ca ngợi, châm biếm, giáo dục, kể chuyện, khẳng định, phủ định Một điển cố có thể được biểu đạt theo nhiều nghĩa Vì tính đa nghĩa ấy mà điển cố có phạm vi hoạt động rộng rãi, tính năng động dồi dào, có thể hoạt động trong nhiều ngữ cảnh có nội dung khác nhau Điển cố với đặc tính đa dạng về biến thể hình thức, có khi chỉ là một từ :

Muộn màng thay giấc điềm bi [câu 57]

Vậy ả Hằng vì ta xe mối [câu 531]

(Sơ kính tân trang)

“Bi” tức là chiêm bao thấy con gấu, ý nói sinh con trai Điển mượn trong

Kinh Thi Ả Hằng tức Hằng Nga trong truyền thuyết Trung Hoa

Những tơ nào thắm những cầu nào xanh [câu 240]

(Truyện Hoa Tiên)

“Tơ” tức tơ hồng, chỉ việc hôn nhân “Cầu” tức cầu Lam (Lam Kiều),

huyện Lam Điền ở Trung Quốc, nơi Bùi Hàng gặp gỡ và lấy nàng Vân Anh làm vợ

Có khi là một cụm từ:

Câu vãn tiết, e khi mai biệu,

Tác cập kê, nay gặp đào yêu

(Kim Thạch kỳ duyên, hồi thừ 3)

“Mai biệu” là mượn tên thiên Phiếu hữu mai và Đào yêu trong kinh Thi,

chỉ cô gái đến tuổi lấy chồng, được có gia đình êm ấm, hạnh phúc

Có khi là một câu:

Trương Thị vãn viết:

Như mình là: Sấm vang bia Phước

Trang 21

20

Còn người ta là: Gió xuôi các Đằng

(Kim Thạch kỳ duyên, hồi thứ 3)

“Sấm vang bia Phước” là chuyện kém may mắn của một thư sinh nghèo

được Phạm Trọng Yêm giúp tiền mực in lên bia bán kiếm lời, nhưng một đêm, cái bia

bị sét đánh tan tành Ý nói không còn cơ may nào cưú vớt được hoàn cảnh khó khăn

“Gió xuôi các Đằng” nói về chuyện may mắn ngẫu nhiên như cơn gió định mệnh thổi

xuôi, đẩy thuyền Vương Bột đến gác Đằng Vương, để rồi ông được nổi danh về tài văn chương từ đó

Sự thể hiện biến thể hình thức của điển cố thật nhiều màu, nhiều vẻ, nhưng tựu trung, nổi bật ở hai điểm: 1 Điển cố có cùng nội dung và ý nghĩa (là những điển

quen thuộc, được nhiều người dùng trong nhiều hình thức từ ngữ như điển “nguyệt

lão”); 2 Điển cố có cùng ý nghĩa nhưng được biểu hiện bằng cách thay đổi một số yếu

tố từ vựng, ví dụ điển “tang thương” (tang: cây dâu, nương trồng dâu; thương là biển

khơi, bãi bể) Sách Liệt tiên truyện chép: bà Ma cô tiên nữ từng thấy đám nương dâu

đã ba lần hóa thành bể khơi, bãi bể Ý nói sự thay đổi của cảnh vật, cuộc sống Điển này được thể hiện qua nhiều hình thức từ ngữ như: tang hải, bãi bể nương dâu, bể dâu :

“Trải qua một cuộc bể dâu”

(Truyện Kiều)

“Ai bày trò bãi bể nương dâu”,

“Bức tranh vân cẩu, vẽ người tang thương”

(Cung oán ngâm khúc)

Điển cố có hai nghĩa: nghĩa cụ thể và nghĩa khái quát hay nghĩa đen và

nghĩa bóng, ví dụ điển “chỉ đỏ” có nghĩa cụ thể là vật (người) mai mối, nghĩa khái

quát chỉ nhân duyên vợ chồng Có những điển giống nhau về sự kiện, ngôn từ nhưng ngược nhau về ý nghĩa Điều này được hiểu như là tác giả khi dùng điển đã biến đổi ý nghĩa từ tiêu tực thành tích cực hay ngược lại, mục đích đế châm biếm hay than thở

“Mập mờ đánh lận con đen”

(Truyện Kiều)

“Con đen” dịch từ chữ “ lê dân” (người dân đầu đen) trong Kinh Thư,

chương Nghiêu điển, nhưng Nguyễn Du đã dùng để chỉ khách làng chơi khờ khạo

Trang 22

21

“Khu văn vị dĩ tần môn sắt” (Đuổi muỗi chưa xong lại bắt rận)

(Huỳnh Thúc Kháng, Dạ thâm bất mị)

Câu trên mượn điển “môn sắt” chỉ động tác bắt rận Tấn sử chép: Vương

Mãnh ở Bắc hải, ở ẩn núi Hoa âm, nghe nói Hoàn Ôn đánh Tần, đến yết kiến, vừa nói vừa bắt rận rất tự nhiên, điềm tĩnh Tuy mượn điển ấy, nhưng tác giả không chọn lấy ý nghĩa của kẻ an bần, có chí lớn, mà dùng để nói lên ý chí muốn diệt trừ bọn hút máu hại dân lành

Tóm lại, điển cố được xem là một đơn vị mở trong hệ thống ẩn dụ mang tính chất và ý nghĩa đặc biệt Điển cố giúp người đọc hiẻu được giá trị của hồi ức, tưởng tượng, liên tưởng và gợi mở một hướng mới để thông hiểu nội dung, ý nghĩa câu thơ Sự thấu hiểu điển cố dựa trên nền tảng nắm được nguồn gốc điển cố Trường hợp sau chứng minh điều này: thành ngữ ta có câu “rét nàng Bân”được thể hiện qua câu ca dao:

Nàng Bân may áo cho cồng,

May ba tháng ròng chửa trọn cổ tay

Lạy trời cho cả gió may,

Nàng Bân chết quách đêm nay cho rồi

xuất xứ từ nhân vật thần thoại là nàng Bân cầu xin trời hóa phép cho trần gian trở rét vào mùa hè (tháng 3 âm lịch) để có dịp may áo ấm cho chồng

Quá trình tiếp nhận câu có điển cố là quá trình vỏ từ ngữ qua khúc xạ tâm

lý trở về câu chuyện (thơ văn) quá khứ, chuyển hóa thành hình ảnh chủ quan của người tiếp nhận Vỏ từ ngữ của điển cố trong lúc này được thay thể bởi hình ảnh mới sinh đông, đầy cảm xúc Hình ảnh này được sự tưởng tượng của chính bản thân người đọc sản sinh ra, khác với hình ảnh được tưởng tượng của người thứ hai, thứ ba

Điển cố mang nhiều tính chất của sự linh động về hình thức, nội dung và ý nghĩa, tạo thêm sức mạnh diễn đạt và biểu cảm cho câu thơ, câu văn Chính vì vậy, điển cố là một trong những thủ pháp sáng tác một thời

2.3 Việc sử dụng điển cố trong văn chương

Ở phần trên chúng tôi đã trình bày những khái niệm của điển cố theo cách hiểu dựa vào bề mặt chữ nghĩa, song song đó ta cũng có thể hiểu khái niệm điến cố thông qua cách sử dụng Lại Nguyên Ân và Bùi Văn Trọng Cường, viết trong Từ điển văn

học Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX:“ Điển cố là thuật ngữ của giới nghiên cứu

Trang 23

22

nhằm mô tả một trong những đặc điểm nổi bật của văn học trung đại Việt Nam, vốn chịu ảnh hưởng văn học cổ và trung đại Trung Hoa Do những nguyên nhân khác nhau, đã hình thành một tâm thế, một phong cách của những người làm văn: trong hành văn thường hay nhắc đến một sự tích xưa hoặc một vài câu thơ, câu văn cổ để diễn tả ý mình, nhưng đây không phải là trích dẫn nguyên văn, mà là lối dùng lại vài chữ cốt gợi nhớ được đến tích cũ ấy, câu văn cổ ấy Lối này được gọi chung là dùng

điển cố, bao gồm phép dùng điển và dùng chữ ” Qua định nghĩa này, ta nhận thấy việc

sử dụng điển cố trong sáng tác đã trở thành một thói quen đẹp trong việc sáng tác văn chương của một số tác gia văn học Việt Nam nhất là các tác gia ở giai đoạn văn học trung đại Có thể cho rằng đây là một trong những nét đặc trưng đáng chú ý của giai đoạn văn học này bởi ngoài sự gắn liền với thành tựu tiếp thu tinh hoa Hán học chọn lọc; khả năng sáng tạo tinh tế về Nôm học còn có sự khéo léo của sáng tác trong việc kết hợp nhuần nhuyễn ba yếu tố trên một cách hoàn hảo của những nhà nho xuất chúng

Bên cạnh đó chúng ta cũng không thể phủ nhận những nét đẹp vốn có của bản thân điển cố, đó là một thủ pháp nghệ thuật cũng có thể gọi là một hiện tượng nghệ thuật độc đáo mà không phải nền văn học nào cũng có

2.3.1 Việc sử dụng điển cố trong sang tác nhằm đạt tới một số đặc

tính quan trọng trong văn chương trung đại:

2.3.1.1 Tính hàm súc

Như trên đã nói, các nhà nho của Trung Quốc lẫn Việt Nam đều thích dùng điển cố trong tác phẩm của mình, để minh hoạ lời nói, để tạo hình ảnh sinh động cho câu văn, tránh khô khan trần trụi Chỉ có một vài chữ mà hàm chứa tất cả triết lý của cuộc đời, làm cho ý nghĩa sâu sắc ngoài lời nói

Do quy định khắc khe của khuông khổ câu cú, niêm luật, trong thể thơ xưa, người viết phải tuân thủ theo mọi quy định Ở phạm vị hạn hẹp của số câu nhất định, người viết phải bộc lộ tài năng của mình qua câu thơ mang một tư tưởng bay bổng, phóng khoáng, mạnh mẽ, vượt ra ngoài khoảng sông núi, đất trời, sao cho người đọc vừa hoài niệm chuyện xưa, nghiệm lấy chuyện nay

Có những sự việc hoặc lớn hoặc nhỏ cần được diễn tả sâu sắc, đầy đủ nhưng diễn đạt thật dài dòng khó nói được hết ý, nếu khéo dùng điển cố thì những chữ

Trang 24

23

ngắn gọn hàm chứa hai nghĩa đen và bóng là phương tiện diễn đạt tốt nhất, giúp lời, ý thêm đậm đà, lý thú

2.3.1.2 Tính uyên bác

Ngoài ra, người sáng tác muốn tự khẳng định mình, muốn qua tác phẩm

tỏ ra uyên bác, họ càng phải tìm tòi những từ ngữ tinh hoa của dân gian, sáng tạo ngôn ngữ chặt chẽ, kết hợp với điển cố để thực hiện nhiều đề tài về mọi khía cạnh của xã hội

và con người Mục đích nhằm xây dựng số chữ ít nhưng hàm ý càng nhiều mà không phải là những lời mang tính lý thuyết khô khan, cứng nhắc Điển cố được sử dụng trong thơ ca càng làm tăng thêm màu sắc sống động, ý nghĩa thêm phong phú, trong các bài nghị luận làm tăng nhiều lần tính thuyết phục

Điển cố không chỉ dừng lại ở các tác phẩm của văn học thành văn Trong văn học dân gian đôi khi điển cố cũng được sử dụng khá rộng rãi, nhưng có chọn lọc do yêu cầu phù hợp với tính dân gian dễ phổ biến Điển cố trong những câu

ca dao, dân ca… thường là những điển dễ hiểu, dễ nhớ gần như được phổ biến rộng rãi

và trở nên quen thuộc:

Sáng trăng suông sáng cả bờ sông,

Ta được cô ấy, ta bồng đi chơi

Ta bồng ta tếch lên trời, Hỏi ông Nguyệt lão tốt đôi chăng là?

Nguyệt lão là ông già dưới trăng, do chữ “ Nguyệt lão hạ nhân ” là ông

thần giữ việc kết duyên vợ chồng Vi Cố đời Đường đi dạo ở Tống thành, gặp một ông già ngồi dựa cái túi, đang tra sách dưới trăng Vi Cố hỏi, ông nói chỉ đỏ trong túi dùng

Trang 25

2.3.1.3 Tính tao nhã

Trong khi bộc lộ ý tưởng, tác giả gặp những điều khó nói, nếu nói ra một cách thông thường thì lời thơ, ý văn trở nên thô tục, khiếm nhã, họ phải nhờ đến

điển cố, một “ trợ thủ đắc lực” để lời được nhẹ nhàng, ý được thanh nhã, nghiêm túc

Truyện Kiều có câu:

Ngẫm duyên kỳ ngộ xưa nay, Lứa đôi ai lại đẹp tày Thôi Trương

Mây mưa đánh đổ đá vàng, Quá chiều nên đã chán chường yến anh

(Thôi Trương tức Thôi Oanh Oanh và Thụy Quân) Điển này ý nói nam nữ lén lút tư

tình trước khi cưới Theo Hội chân ký của Nguyên Chẩn ( đời Đường năm Trinh

Nguyên có chàng Thụy Quân đến chơi đất Bồ, trọ ở chùa Phổ Cứu Gặp bọn quân lính quấy rối, người đàn bà họ Thôi trọ cùng chùa với chàng rất sợ hãi, chàng đã ra tay cứu giúp Nhân đó bà mời chàng về đãi tiệc Chàng gặp con gái bà tên Oanh Oanh, nhờ người tỳ nữ làm mối để kết tình Vài năm trôi qua, Oanh Oanh lấy chồng, chàng Trương cũng kết hôn với người khác, từ đó không còn ai nhớ lại chuyện cũ nữa)

Mây mưa do chữ “vân vũ”, chỉ trai gái trao tình ân ái với nhau Tống

Ngọc trong Cao Đường phú tự có chép: vua nước Sở (Sở Hoài vương) đi chơi ở Cao Đường, nằm mộng thấy thần nữ đến xin hầu chăn gối Khi từ biệt, luyến tiếc, nàng nói: Đán vi hành vân, mộ vi hành vũ (Thiếp sớm làm mây, tối làm mưa)

Trang 26

25

Nguyễn Du, thi hào kiệt xuất trong lịch sử văn học nước nhà, đã để cho

Kiều từ chối và nhẹ nhàng “dạy” cho Kim Trọng bài học về thái độ “ra chiều lả lơi”

của chàng thật là khéo léo Dùng từ thế nào để “sửa” người bạn về thái độ lả lơi thật không phải dễ Hai chữ Thôi Trương cũng đủ để Kim Trọng thấy rằng cần phải nghiêm túc hơn trong chuyện tình cảm để không phải có một kết cuộc đơn thuần là

chuyện “mây mưa” của đôi trai gái Ý thô mà lời vô cùng thanh tao

2.3.1.4 Tính mẫu mực

Điển cố lắm khi là những ví dụ, những chứng cớ xác thực để chứng minh lập luận của tác giả Không phải mất công dài dòng để kể lại việc xưa một cách chi tiết, chỉ cần trích dẫn những hình ảnh, những chuyện tích xưa cho chính xác, phù hợp cũng đủ cho lý lẽ trở nên vững chắc, xác thực rõ ràng Nguyễn Gia Thiều trong Cung oán ngâm khúc có câu:

“Sênh ca mấy khúc vang lừng, Cái thân Tây tử lên chừng điện Tô”

Tây tử tức nàng Tây Thi, người nước Việt, đẹp tuyệt trần, được Việt vương Câu Tiễn dâng cho vua Ngô là Ngô Phù Sai để ngầm phá hoại cơ đồ nước Ngô Điện Tô tức là điện Cô Tô, tên một toà cung điện do vua Ngô Phù Sai dựng lên cho Tây Thi ở Ý miêu tả cảnh cung đình trong những buổi nhộn nhịp vui chơi ca hát mà

số phận người con gái có khác gì nàng Tây Thi

Truyện Kiều có câu:

Duyên Đằng thuận nẻo gió đưa, Cùng chàng kết tóc xe tơ những ngày

Duyên Đằng tức Đằng Vương các, một công trình nổi tiếng do Đằng vương, con vua Đường cho xây trên cửa sông Chương Giang, tỉnh Giang Tây, Trung Quốc Theo truyện Vương Bột, đô đốc Diêm Bá Dữ thiết tiệc ở gác Đằng Vương Vương Bột lúc này mới 16 tuổi, trên đường đi thăm cha, được tin liền tìm đến Đường

xa, đáng lẽ phải đi mấy ngày, nhưng nhờ thuận gió, nên chỉ trong một đêm, thuyền của

Vương đã đến nơi, kịp thời dự tiệc Trong bữa tiệc, ông làm bài thơ nổi tiếng Đằng

Vương các tự Điển duyên Đằng chỉ dịp may hiếm có, ngẩu nhiên, cơ hội thuận tiện.

Tóm lại, biểu đạt bằng điển cố là một hình thức thể hiện sâu sắc, hấp dẫn, với nội dung cụ thể, hàm súc, đầy hình tượng Vì vậy, điển cố được dùng phổ

Trang 27

26

biến trong văn học, nhất là văn học cổ Không riêng gì ở phương Đông, văn học phương Tây cũng sử dụng điển cố, chẳng hạn chúng ta đã gặp những điển như: con ngựa thành Troy, Trở về La Mã, những gì của Xê da hãy trả lại cho Xê da v.v… Điển

cố là hiện tượng tu từ theo quan điểm ngôn ngữ học Hay nói đúng hơn, điển cố được xem như là hình thức chứ không phải chất liệu mang chức năng xây dựng hình tượng một cách sâu sắc, nhiều ý nghĩa

2.4 Thực trạng sử dụng điển cố qua một số tác giả tiêu biểu

2.4.1 Nguyễn Trãi

Khi tiếp xúc với một tác phẩm văn chương có dùng điển cố, ta thấy nó không còn vẻ mộc mạc, dân dã nữa, mà đã thể hiện tính bác học, đó là sự uyên bác và tài năng nghệ thuật của tác giả Có thể nói, điển cố tạo cho tác phẩm văn học một cốt cách sang trọng, mỹ lệ và đạt hiệu quả thẩm mỹ cao.Hãy thử đọc hai câu trong thơ

Đường luật tựa đề Loạn hậu cảm tác trong Ức Trai thi tập, để thấy tác dụng của điển

cố dùng trong đó:

“Tử Mỹ cô trung Đường nhật nguyệt

Bá Nhân chan lệ Tấn sơn hà”

(Nghĩa là: Tử Mỹ giữ lòng cô trung đối với ngày tháng nhà Đường; Bá Nhân ứa nước mắt hai hàng khóc nhìn non sông nhà Tấn).Trong hai câu thơ này, thi nhân đã sử dụng

hai điển “Tử Mỹ” và “Bá Nhân”, tạo nên hai vế đối nhau tuyệt đẹp Tử Mỹ tức là Đỗ

Phủ, là nhà thơ nổi tiếng đời Đường, được giữ một chức quan nhỏ triều vua Đường Huyền Tông Khi An Lộc Sơn nổi loạn dẫn quân tấn công quân triều đình và bao vây kinh đô Trường An, vua Đường Huyền Tông và triều thần phải bỏ chạy đi Ba Thục,

Đỗ Phủ bị bắt giam Trong ngục tù, Đỗ Phủ luôn đau đớn ôm lòng cô trung với nhà Đường Bá Nhân tức Chu Nghĩ người thời Tây Tấn, làm quan đến chức Thượng thư

Tả bộc xạ Khi Tây Tấn bị quân Ngũ Hồ bao vây tiêu diệt, triều đình phải bỏ kinh thành Lạc Dương chạy xuống phương Nam Ông đã cùng các danh sĩ nhà Tây Tấn chạy sang Giang Đông, tụ hội ở Tân Đình bàn thế sự, nhìn về non sông nhà Tấn ở phía bắc mà chứa chan hai hàng lệ Nhưng rồi Tử Mỹ và Bá Nhân, mỗi người đều tìm đường phò giúp giang san Đằng sau hình ảnh Tử Mỹ, Bá Nhân, phải chăng chính là tấm lòng Nguyễn Trãi (tức Ức Trai) đối với non sông Đại Việt đang bị quân Minh giày xéo, muôn dân rên xiết, loạn lạc, điêu linh mà bản thân ông chưa tìm được một hướng

đi để giúp nước? Cho nên, đúng như Bùi Duy Tân đã nhận xét: “Nguyễn Trãi đã ký

Trang 28

Ưu ái lòng phiền nửa đêm Tóc nên bạc bởi lòng ưu ái,

Xuất phát từ một câu nói nổi tiếng của Phạm Trọng Yêm đời Tống, từ

“tiên ưu” thể hiện rõ quan niệm sống cao cả: yêu nước thương dân, chiến đấu suốt đời

vì nước vì dân

Suốt đời mình, Nguyễn Trãi xem công danh chỉ là điều kiện giúp đời và luôn ý thức rõ ràng về trách nhiệm của một kẻ sĩ chân chính:

Ðầu tiếc đội mòn khăn Ðỗ Phủ

Tài còn lọ hái cúc Uyên

(Mạn thuật 9) Xuất phát từ ý của bài thơ Tặng ông họ Chu ở trên núi của Đỗ Phủ và Ẩm tửu ngũ thủ của Đào Nguyên Minh về cuộc sống thanh nhàn, ẩn dật, vui thú với thiên nhiên nhưng vẫn không quên lo lắng cho vân mệnh đất nước

Những khát khao, mơ ước của Nguyễn Trãi luôn đi trước, chỉ đạo mọi hành động, ông ao ước một triều đình lý tưởng, một cuộc sống lý tưởng như cái thời Vua Nghiêu – Vua Thuấn trong sử cũ:

Vua Nghiêu Thuấn, dân Nghiêu Thuấn Dường ấy ta đà phỉ sở nguyền

(Tự thán 4) Mượn ý tứ của người xưa để biểu đạt cái tình ý và mong muốn của mình trong hiện tại, Nguyễn Trãi đã thật khéo léo khi để tâm sự của mình kín đáo trong từng điển cố Phải là một nhà nho uyên thâm lắm mới đạt đến độ đặc sắc như thế

2.4.2 Nguyễn Du

Sau Nguyễn Trãi, có lẽ Nguyễn Du là người xứng đáng nhất với cái danh tác gia văn học Thành tựu văn học mà ông để lại cho đời sau cũng có được độ chín rất

Trang 29

28

đáng tự hào về nội dung cũng như về nghệ thuật Mà nghệ thuật sử dụng điển cố là một độc đáo về nghệ thuật khó có thể phủ nhận được Thể hiện tiêu biểu nhất có lẽ là

đại tác phẩm Truyện Kiều

Trong Truyện Kiều, chỉ một điển cố thôi mà người ta cũng đã ngây ngất

với biết bao cảm xúc trong đó Khi nói đến cảnh chia li, phong cảnh trở nên mênh mông và con người trở nên bơ vơ:

Sông Tần một dải xanh xanh Loi thoi bờ liễu mấy cành Dương Quan

Mượn ý của nhà thơ Vương Duy đời Đường khi chia tay bạn ở của ải

Dương Quan tỉnh Cam Túc “ Tây xuất Dương Quan vô cố nhân”, cảnh chia ly khiến

con người trở nên cô độc giữa biển đời xa lạ

Rồi cũng chính bằng ý tình của người xưa mà Nguyễn Du đã liên tưởng đến chuyện nay

Trong cảnh đoàn viên ở màn “Tái hồi Kim - Kiều” cuối Truyện Kiều, Kim

- Kiều gặp nhau sau 15 năm lưu lạc, trong “tiệc hoa sum vầy” mà mọi người đều mừng mừng tủi tủi, “ tàng tàng chén cúc dở say” đó, Thúy Vân đã đứng lên giãi bày: Trước kia, anh và chị “hai bên gặp gỡ một lời kết giao”, “trăm năm thề chẳng ôm cầm

thuyền ai”, trải qua tai biến, bây giờ gặp lại, tuy không được như xưa nữa, và dù chị đã

lớn tuổi nhưng việc lấy chồng nay vẫn còn kịp Và Thúy Vân đã khuyên:

Quả mai ba bảy đương vừa Đào non sớm liệu xe tơ kịp thời

Nói "quả mai ba bảy" tức là lấy ý từ Kinh Thi Bài Phiếu hữu mai có

đoạn:

“ Phiếu hữu mai kỳ thực thất hề Phiếu hữu mai kỳ thực tam hề Cầu ngã thứ sĩ

Đãi kỳ kim hề”

Nghĩa là: cây mai đã có quả rụng (nói quả là ngụ ý chỉ người con gái), mười phần còn bảy Những chàng trai lành, ai người muốn lấy ta, nên tìm ngày tốt mà làm lễ cưới đi thôi Cây mai đã có quả rụng, mười phần chỉ còn ba Những chàng trai lành ai người muốn lấy ta, ngày hôm nay đến xin làm lễ cưới đi thôi

Trang 30

29

Mục đích cuối cùng của việc dùng điển này, ở trong Truyện Kiều lẫn Kinh

Thi, là để đi đến cái việc làm lễ cưới xin, nên vợ nên chồng…

Cái hay, cái tài của Nguyễn Du là: thuyết phục thì phải dồn dập, phân minh, xác đáng và súc tích Rõ ràng, Thúy Kiều có ưu thế hơn người phụ nữ kia trong

Kinh Thi

Chỉ hai ví dụ trên, ta thấy Nguyễn Du dùng điển cố khéo léo như thế nào

Trong Truyện Kiều còn có nhiều chỗ được dùng điển cũng không kém phần linh hoạt

và thanh nhã Điều đó, một phần có được là tài bút của Nguyễn Du Nhưng điều chắc chắn là ông am hiểu sâu sắc lịch sử và văn hóa Trung Quốc, hiểu rõ cảnh tình của nhân

vật một cách sâu sắc, như sống cùng với nhân vật của mình nên Truyện Kiều mới

thành công như vậy

2.4.3 Đoàn Thị Điểm

Nếu xét về những tác phẩm trung đại có sử dụng điển cố mà không nhắc đến Chinh Phụ Ngâm khúc do Đoàn Thị Điểm diễn Nôm là một thiếu sót lớn, bởi đó là tác phẩm ghi lại hai công lao sáng tác và diễn Nôm tiêu biểu một thời Đó chính là tác

giả Đặng Trần Côn và diễn Nôm của Đoàn Thị Điểm Chinh phụ ngâm chuyển hoá

một cách tài tình những điển cố và những câu thơ của văn học Trung Hoa sang tiếngViệt, làm giàu cho kho từ vựng ngôn ngữ văn học nước nhà, ví như câu:

“ Chí làm trai dặm ngàn da ngựa Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao”

Da ngựa do chữ Mã cách khoả thi (da ngựa bọc thây) Mã Viện truyện trong Hậu Hán thư

Nam nhi yếu đương tử tư biên dã,

Dĩ mã cách khoả thi hoàn táng nhĩ,

Hà năng ngoạ sàng thượng tại nhi nữ tử thủ trung da?

( Làm trai nên chết cở chiến trường biên ải lấy da ngựa bọc thây chôn, sao lại chết ở trên giường trong tay đàn bà trẻ con?) Ý nói kẻ làm trai phải có chí tung hoành thiên

hạ, nên xem cái chết nơi chiến trường là danh dự, không nên bó chí ở xó nhà làm nhụt nhuệ khí người trai

Thái sơn (núi Thái sơn để chỉ vật nặng), hồng mao( lông con ngỗng trời, chỉ vật nhẹ)

Tư Mã Thiên truyện trong Hán thư :

Nhân cố hữu nhất tử,

Trang 31

Chỉ dùng có ba điển Da ngựa và Thái sơn, Hồng mao mà ý thơ sâu sắc

hơn gấp bội, chỉ thái độ khác nhau đối với cái chết nhưng làm tăng lên sức diễn tả mãnh liệt, tô đậm ý chí của đấng nam nhi Không cần diễn tả dài dòng hai điển ấy nhân hiệu quả ý tưởng của câu thơ lên rất nhiều

Hoặc khi người chinh phụ đang lo lắng cho chinh phu đang ở chiến trường

ác liệt, điển cố cũng giúp tác giả xây dựng hình ảnh thật hàm xúc mà ý nghĩa lại vượt

ra ngoài từ ngữ:

“ Lòng thiếp tựa bóng trăng theo dõi

Dạ chàng xa ngoài cõi Thiên Sơn”

Tương truyền rằng Thiên Sơn là nơi diễn ra nhiều trận đánh ác liệt giữa

vua Đường Thái Tông và quân Cao Ly Để từ đó người chinh phụ liên tưởng tới hiện

thực của người chinh phu, đang đối diện với lửa khói và chết chóc chốn biên cương, và cũng nhờ đó mà làm nổi bật lên nỗi niềm lo lắng khôn nguôi của người chinh phụ

Chinh Phụ Ngâm Khúc đã sử dụng điêu luyện và độc đáo các điển cố vào

trong tác phẩm, làm tăng thêm giá trị vào trong tác phẩm rất nhiều

Tóm lại, điển cố trong phương pháp sáng tác của người xưa được xem là

sự lựa chọn tối ưu nhất, bởi do nhiều nguyên nhân Nhưng một điều không thể không thấy là nhờ điển cố mà nhiều tác giả cũng như tác phẩm được sống và sống mạnh mẽ cho đến ngày hôm nay

2.4.4 Điển cố trong thơ hiện đại

Thơ hiện đại từ lâu được cho là vượt ra khỏi nhưng quy luật ý tại ngôn

ngoại của văn học trung đại, nhưng những tác giả hiện đại không vì thế mà cũng quay

lưng lại với một trong những thủ pháp nghệ thuật độc đáo của văn học trung đại là điển cố Dù mật độ xuất hiện trong những vầng thơ hiện đại đã không còn giữ vị trí độc tôn, thậm chí là hiếm thấy xuất hiện Nhưng khi xuất hiện, điển cố vẫn khẳng định giá trị nghệ thuật đăc sắc của mình

Trang 32

Một phút trần ai Ước cũ duyên thừa có thế thôi…”

(Tống biệt)

Điển cố “lối Thiên Thai” cũng mang nội dung về chốn thần tiên, khác xa

với thực tại mà tác giả đang chứng kiến Không miêu tả về thiên đàng mà tác giả đang

mơ ướt một cách cụ thể, chỉ bằng một nét “ thiên thai” người đọc vẫn cảm nhận được

đó là một xứ sở hạnh phúc và thanh thản

Là một nhà thơ hiện đại, lại là một thi sĩ rất “ngông”, Tản Đà đã có một

bước trong sáng tác của mình khi đem những nhân vật trong điển cố vào thơ rất sinh động, những nhân vật tưởng chừng chỉ làm tốt vai trò minh họa cho một ý tưởng nay

đã hòa nhập vào thơ, biến thành một nhân vật sinh động hẳn hoi:

Văn dài hơi tốt ran cung mây!

Trời nghe trời cũng lấy làm hay

Tâm như nở dạ, Cơ lè lưỡi Hằng Nga, Chức Nữ chau đôi mày

( Hầu trời )

“Hằng Nga”, “Chức nữ” bỗng trở nên khó tính chứ không còn dịu dàng

thướt tha y như nguyên bản trong điển cố Cũng giữ vai trò là một thủ pháp nghệ thuật, nhưng điển cố lại được thể hiện theo một cách rất ngông như tính cách của tác giả

Càng về sau, điển cố xuất hiện trong thơ càng ít ỏi và kín đáo

Đưa người ta không đưa qua sông Sao nghe tiếng sóng ở trong lòng?

Bóng chiều không thắm không vàng vọt Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Đưa người ta chỉ đưa người ấy Môt giã gia đình, môt dửng dưng

Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ

Trang 33

32

Chí lớn không thành bàn tay không Thì không bao giờ nói trở lại

Ba năm mẹ già cũng đừng mong

Đọc Tống biệt hành của Thâm Tâm, ta thấy thấp thoáng bóng chàng Kinh Kha, đó là tâm trạng kiên quyết của một tráng sĩ ra đi vì lý tưởng to lớn dù biết sự ra đi này là dấn thân vào cõi chết Kinh Kha là người nước Vệ, là môn khách của Thái Tử Đan nước Yên và là người rất nổi tiếng vì đã ám sát bất thành Hoàng đế Tần Thuỷ

Hoàng Câu chuyện về Kinh Kha được chép lại ở thiên Thích khách liệt truyện trong cuốn Sử Ký của Tư Mã Thiên

Khi lên đường, tại bờ sông Dịch, Kinh Kha đã ứng tác hai câu thơ với các bạn đi tiễn:

Phong tiêu tiêu hề, Dịch thuỷ hàn Tráng sĩ nhất khứ hề, bất phục hoàn Dịch

Gió hiu hắt chừ, Dịch thuỷ lạnh ghê Tráng sĩ ra đi chừ, không bao giờ về

Không hề nhắc đến điển cố Kinh Kha, nhưng người ra đi của Thâm Tâm mang tầm vóc, lý tưởng về chủ nghĩa anh hùng và phản ánh lý tưởng chung của thời đại

Như vậy, trong thơ hiện đại, điển cố không xuất hiện nhiều và giữ vị trí tối

ưu nữa nhưng không vì thế mà nó bị quên lãng Điển cố vẫn được các nhà thơ sử dụng một cách kín đáo và nghệ thuật theo quan điểm nghệ thuật hiện đại và nó vẫn duy trì được sứ mệnh nghệ thuật độc đáo của mình

Trang 34

thông hiểu lịch sử Trung Hoa Tuy nhiên Nguyễn Đình Chiểu sáng tác Lục Vân Tiên

truyện bằng hình thức truyền miệng là chính, và những người tiếp nhận lại là những

dân nghèo bình dân ít học, quanh năm chỉ biết “cui cút làm ăn” và “toan lo nghèo

khó” Nên điển cố được sử dụng trong tác phẩm là những điển cố được chọn lựa kĩ càng với tiêu chí đó là những điển cố có độ bao quát cả về ngoại diên và nội hàm

Tần suất xuất hiện điển cố trong Lục Vân Tiên truyện không dày đặc và phong phú như truyện Kiều nhưng so với các tác phẩm thơ đương đại thì điển cố trong Lục

Vân Tiên truyện vượt trội về chất lượng Bởi tác giả không chú trọng sử dụng điển cố

như một cách thể hiện kiến thức mà ông sử dụng nó với mục đích lớn hơn đó là giáo dục

Qua khảo sát của người viết về bản Lục Vân Tiên truyện của Trương Vĩnh Ký trong quyển Lục Vân Tiên truyện , BẢN NÔM CỔ NHẤT BẢO HOA CÁC, do

Nguyễn Quảng Tuân phiên âm khảo dị và chú thích, điển cố xuất hiện qua hai cách: Qua lời người dẫn truyện và qua lời các nhân vật trong truyện

3.1.1 Qua lời người dẫn truyện

Lời người dẫn truyện tức là lời của chính bản thân tác giả, Nguyễn Đình Chiểu Nguyễn Đình Chiểu đã trực tiếp sử dụng điển cố để bày tỏ thẳng thắng quan điểm của mình về nhân vật và sự kiện kéo dài từ câu đầu đến câu thứ 376

Trang 35

34

Truyện Tây Minh: bài văn tự nổi tiếng về đạo hiếu và đạo nhân của Trương tái Đây là tên bài văn Nguyễn Đình Chiểu đã nhắc đến ở câu đầu của tác phẩm để làm sự gợi mở cho câu chuyện về chàng Lục Vân Tiên

Sân Trình: chỉ Trình Hiệu và Trình Di, hai nhà Tống nho nổi tiếng hai ông

đã nghiên cứu, soạn tập và chú giải Tứ Thư và Ngũ Kinh Ở đây Nguyễn Đình Chiểu mượn ý để nói lên sự quyết tâm cầu học và tư chất thông minh của Lục Vân Tiên

Lục Vân Tiên là con nhà thường dân, học giỏi, mong muốn thi cử đỗ đạt

để được làm quan giúp vua, giúp nước Giữa đường đi thi gặp cướp đang quấy nhiễu cuộc sống bình yên của nhân dân, chàng dã lên tiếng:

“Tôi xin ra sức anh hào

Cứu người cho khỏi lao đao buổi này.”[117 – 118]

Và chàng đã bẻ cây làm gậy, dũng cảm tả xung hữu đột, đánh tan tác giặc Phong Lai Hành động đánh cướp của Vân Tiên oai hùng dũng mãnh giống Triệu Tử Long chiến đấu với kẻ thù để bảo vệ ấu chúa cho ngôi vua nhà Hán:

“Vân Tiên tả đột hữu xung

Khác nào Triệu Tử mở dòng Đương Dương.”[131 – 132]

Với Triệu Tử Long đó là đạo trung với vua với nước, với Vân Tiên, người đọc yêu quý hơn, sâu xa Nguyễn Đình Chiểu muốn đề cao là Vân Tiên đánh cướp vì người dân gặp nạn, nhằm cứu dân, diệt trừ cái ác

Tóm lại những điển cố được nêu ở trên tuy ít nhưng tác giả đã miêu tả tỉ

mĩ vẻ đẹp nội tâm của chàng thanh niên họ Lục Và cũng bằng cách sử dụng điển cố điêu luyện ông đã định hướng cho người đọc nội dung giáo dục mà tác phẩm muốn mang đến

3.1.2 Qua lời các nhân vật trong truyện

3.1.2.1 Nhân vật chính diện

- Lục Vân Tiên

Lục Vân Tiên là vị anh hùng đầy lý tưởng của Nguyễn Đình Chiểu, mà đỉnh cao của lý tưởng ấy là tấm lòng trung, hiếu, lễ, nghĩa Cũng chính vì lý tưởng tốt đẹp đã được đo ni đóng giày ấy nên những điển cố xuất hiện trong câu nói của Lục Vân Tiên là những câu triết lý đạo đức trong sách vở thánh hiền Đó là những câu Luận ngữ rất quen thuộc nhưng lại hàm chứa ý nghĩa giáo dục đầy tính nhân văn

Trang 36

35

Đánh cướp cứu dân, giải thoát cho Kiều Nguyệt Nga - con gái quan tri phủ, con đường công danh của Vân Tiên sẽ rất rộng mở nếu chàng nhận lời mời của

nàng đến thăm nhà để được tạ ơn Nhưng Vân Tiên đã khẳng khái chối từ bởi

“Nhớ câu kiến ngãi bất vi Làm người thế ấy cũng phi anh hùng.”[179 – 180]

“Kiến ngãi bất vi” xuất phát từ câu “kiến nghĩa bất vi vô dũng dã!”

một câu trong Luận ngữ, nghĩa là : Thấy việc nghĩa không làm là người không có dũng Đây là một cách khẳng định lý tưởng cũng như quan niệm làm người của Lục Vân Tiên Chàng cứu Nguyệt Nga xuất phát từ tinh thần chính nghĩa, vì lòng thương người và căm ghét cái ác, đó là bổn phận là trách nhiệm của một trang nam tử khi gặp cảnh bất công

Là một người con có hiếu, khi lâm nạn Vân Tiên không đau xót cho bản thân mình mà thấy tủi hổ với cha mẹ vì đã không tròn chữ hiếu, khi mà mẹ mất mà không về được để chịu tang mẹ, bản thân gặp nạn sợ không thể làm nên sự nghiệp, kiến tạo gia đình nhằm để phụng dưỡng cha già:

“Hữu tam bất hiếu đã đành”

“Hữu tam bất hiếu” xuất phát từ câu “tam bất hiếu dã” trong Kinh Lễ, là

một trong những bộ sách đề cao chữ hiếu một cách tuyệt đối Vân Tiên tự nhận mình mang tội bất hiếu nặng nhất, lớn nhất dù rằng chàng đang trong cảnh màng trời chiếu đất Chàng không run sợ trước cái chết mà lại đau đáu xót xa cho cảnh cha già đang mòn mõi trông tin và e sợ cho tương lai mà chàng không thể quay về

Tinh thông Tứ thư, Ngũ kinh, Lục Vân Tiên không những nằm lòng

những câu răn dạy luân lý trong sách cổ mà còn am tường những tấm gương hiếu nghĩa xa xưa

“ Suy người nằm giá, khóc măng Hai mươi bốn thảo chẳng bằng người xưa”

Về điển cố “nằm giá” có hai câu chuyện, chuyện thứ nhất: theo Sưu thần

ký, Sở Liêu thờ mẹ rất có hiếu mẹ ông bị bệnh thủng đêm nằm mộng thấy một đứa bé

đến bảo rằng Nếu được ăn cá chép thì bệnh sẽ giảm ngay Bà đem chuyện nói với Liêu Bấy giờ là tháng chạp không tìm đâu được cá Liêu đứng ngữa mặt lên trời khóc rồi cởi

áo nằm trên băng bổng có đồng tử phá đám băng Liêu đang nằm băng tan và có 2 con

cá chép nhảy ra Liêu bắt về làm thuốc Chuyện thứ hai: Theo Nhị thập tứ hiếu của Lý

Ngày đăng: 02/04/2018, 05:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Trần Côn, Chinh phụ ngâm khúc, NXB Bộ giáo dục và Thanh niên – 1969 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chinh phụ ngâm khúc
Nhà XB: NXB Bộ giáo dục và Thanh niên – 1969
2. Nguyễn Thạch Giang, Điển nghĩa văn học tập giải, NXB Văn học – 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điển nghĩa văn học tập giải
Nhà XB: NXB Văn học – 2001
3. Dương Quảng Hàm, Việt Nam Văn học sử yếu, NXB Hội nhà văn – 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam Văn học sử yếu
Nhà XB: NXB Hội nhà văn – 1996
4. Diên Hương, Thành ngữ điển tích từ điển, NXB Tổng hợp Đồng Tháp – 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành ngữ điển tích từ điển
Nhà XB: NXB Tổng hợp Đồng Tháp – 1992
5. Đinh Gia Khánh, Điển cố văn học, NXB Văn học – 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điển cố văn học
Nhà XB: NXB Văn học – 2001
6. Vũ Khiêu, Nguyễn Đức Sự, Nguyễn Đình Chiểu ngôi sao sáng của người trí thức Việt Nam,NXB Khoa học và xã hội – 1982 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Đình Chiểu ngôi sao sáng của người trí thức Việt Nam
Nhà XB: NXB Khoa học và xã hội – 1982
7. Đoàn Ánh Loan, Điển cố trong văn học Trung đại Việt Nam, Tập san KHXH&NV, ĐHQG TPHCM - 2/1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điển cố trong văn học Trung đại Việt Nam
8. Đoàn Ánh Loan, Sử dụng điển cố, nét đặc thù của phong cách văn học Trung đại Việt Nam, Tạp chí Ngôn ngữ & Đời sống - 9/19979 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng điển cố, nét đặc thù của phong cách văn học Trung đại Việt Nam
10. Điển cố và nghệ thuật sử dụng điển cố trong truyện thơ và ngâm khúc thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX, NXB Đại học Quốc Gia TP HCM - 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điển cố và nghệ thuật sử dụng điển cố trong truyện thơ và ngâm khúc thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX
Nhà XB: NXB Đại học Quốc Gia TP HCM - 2003
11. Đoàn Ánh Loan, Tính khái quát của điển cố văn học, Kỷ yếu Ngôn ngữ học Trẻ, Xuân 1999, NX KHXH - 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính khái quát của điển cố văn học
13. Nguyễn Tử Quang, Điển hay tích lạ, NXB Trẻ - 07/ 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điển hay tích lạ
Nhà XB: NXB Trẻ - 07/ 2001
14. Phạm Đan Quế, Tìm hiểu điển tích Truyện Kiều, NXB Xã hội – 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu điển tích Truyện Kiều
Nhà XB: NXB Xã hội – 2001
15. Lưu Lực Sinh, Từ điển điển cố Trung Hoa, Nguyễn Văn Thiệu – Đào Duy Đạt biên dịch, NXB Văn hóa thông tin – 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển điển cố Trung Hoa
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin – 2002
16. Mộng Bình Sơn, Điển tích chọn lọc( 2 tập), NXB Văn nghệ TPHCM – 2001 17. Ca Văn Thinh, Nguyễn Đình Chiểu toàn tập, NXB Đại học và trung họcchuyên nghiệp – 1980 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điển tích chọn lọc"( 2 tập), NXB Văn nghệ TPHCM – 2001 17. Ca Văn Thinh, "Nguyễn Đình Chiểu toàn tập
Nhà XB: NXB Văn nghệ TPHCM – 2001 17. Ca Văn Thinh
18. Nguyễn Quảng Tuân ( phiên âm và chú thích), Lục Vân Tiên – Nguyễn Đình Chiểu( bản Nôm và bản quốc ngữ cổ nhất), NXB Văn Học – 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Lục Vân Tiên – Nguyễn Đình Chiểu( bản Nôm và bản quốc ngữ cổ nhất)
Nhà XB: NXB Văn Học – 2007
19. Anh Vũ, Nguyễn Đình Chiểu - Tác Phẩm Và Lời Bình, NXB Văn học - 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Đình Chiểu - Tác Phẩm Và Lời Bình
Nhà XB: NXB Văn học - 2005
12. Đoàn Quang Lưu, Mở rộng điển tích Chinh phụ ngâm, NXB Nghệ An – 12/ 2007 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w