1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MỘT số BIỆN PHÁP NGHỆ THUẬT TRONG CA từ TRỊNH CÔNG sơn

82 253 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 841,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có lẽ vì thế mà chúng ta không khỏi ngạc nhiên khi thấy rằng có cả một dòng nhạc Trịnh tồn tại song song cùng với các dòng nhạc khác: Quê hương, nhạc trẻ, nhạc đỏ…Bên cạnh đó, đã có nhiề

Trang 1

ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

BỘ MÔN NGỮ VĂN

- -

TRẦN THỊ LAN ANH MSSV: 6086162

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NGHỆ THUẬT TRONG

Trang 2

CHƯƠNG MỘT: VÀI NÉT VỀ NHẠC SĨ TRỊNH CÔNG SƠN –

TRỊNH CÔNG SƠN MỘT DẤU ẤN RIÊNG

1.Vài nét về nhạc sĩ Trịnh Công Sơn

1.2.2 Trịnh Công Sơn - một nhà thơ -một họa sĩ

2 Trịnh Công Sơn - một dấu ấn riêng

CHƯƠNG HAI: CA TỪ TRONG ÂM NHẠC VÀ CÁC PHƯƠNG TIỆN, CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ

2 Các cách hiểu về ca từ

3 Các phương tiện và biện pháp tu từ tiếng việt

3.1 Các biện pháp tu từ từ ngữ tiếng việt được cấu tạo theo quan hệ liên tưởng

3.1.1 So sánh

3.1.1.1 Phân biệt so sánh luận lí và so sánh tu từ

3.1.1.2 Định nghĩa so sánh tu từ

3.1.1.3 Các loại hình thức so sánh tu từ

Trang 3

3.1.1.4 Đặc điểm so sánh tu từ

3.1.2 Nhân hóa

3.1.2.1 Định nghĩa nhân hóa

3.1.2.2 Đặc điểm của nhân hóa

3.2 Các phương tiện và các biện pháp tu từ cú pháp

3.2.1 Điệp từ, điệp ngữ

3.2.1.1 Định nghĩa 3.2.1.2 Các hình thức điệp từ, điệp ngữ 3.2.2 Câu hỏi tu từ

5 Nhân hóa trong nhạc Trịnh

6 Câu hỏi tu từ trong nhạc Trịnh

7 Điệp từ, điệp ngữ trong nhạc Trịnh

Trang 4

1/ Lí do chọn đề tài

Như chúng ta đã biết, văn chương, hội họa là hai trong những loại hình nghệ thuật đáng tự hào của dân tộc Và song song với sự phát triển của hai lĩnh vực đó, chúng ta không thể nào quên sự tồn tại và phát triển vững mạnh của nền âm nhạc

Âm nhạc đã là một phần tất yếu, không thể nào thiếu trong đời sống của con người, cũng như không thể nào khuyết trong kho tàng nghệ thuật trên thế giới, và

Cũng như trong các lĩnh vực khác, trong âm nhạc, mỗi tác giả trên đấu trường

âm nhạc đều chọn cho mình một con đường nghệ thuật, do đó âm nhạc của mỗi nhạc sĩ mang một sắc thái riêng Có lẽ vì thế mà chúng ta không khỏi ngạc nhiên khi thấy rằng có cả một dòng nhạc Trịnh tồn tại song song cùng với các dòng nhạc khác: Quê hương, nhạc trẻ, nhạc đỏ…Bên cạnh đó, đã có nhiều cuốn sách, cùng hàng ngàn bài viết viết về tiểu sử cũng như cuộc đời âm nhạc của Trịnh Công Sơn Nhưng tất cả những điều đó dường như không đủ để giải mã một thiên tài mà tầm ảnh hưởng quá lớn đối với văn hóa Việt Nam

Nhạc Trịnh mang lại cho người nghe nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau, làm xao xuyến lòng người Đôi khi chúng ta bắt gặp chính mình ở trong đó, trong cái

cõi vô thường ấy: Sinh ra từ cát bụi và cuối cùng là trở về với cát bụi - “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để một mai vươn hình hài lớn dậy Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để một mai tôi về làm cát bụi” (Cát bụi) Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã đưa ra một nguyên lí về cuộc sống của con người: “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng Để làm gì em biết không? Để gió cuốn đi Để gió cuốn đi” (Để gió cuốn đi)… Trong nhạc phẩm của ông, nhiều triết lí về cuộc sống đã được thể hiện

mà mọi người sẽ phải chiêm nghiệm trong cuộc sống của chính mình

Cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn là một trong số ít nhạc sĩ tài hoa của nền âm nhạc hiện đại nước nhà, âm nhạc của ông có sức ảnh hưởng rất lớn đối với người

Trang 5

nghe Nhạc Trịnh làm cho người thưởng thức như thoát ra được khỏi những lo toan, phiền muộn trong cuộc sống có nhiều biến động như hiện tại

Nhạc Trịnh bao gồm những khúc thức gần gũi, bình dân nhưng lại không dễ

hiểu Với danh hiệu Phù thủy ngôn từ, ca từ của nhạc Trịnh mang nhiều màu sắc,

hình ảnh cùng nhiều cảm xúc lạ Trong nhạc phẩm của ông, ca từ luôn có nhiều tầng nghĩa với nghệ thuật riêng của nó Có lẽ vì thế mà đã có nhận định rằng

“Nói đến việc đặt lời (ca từ) cho các ca khúc tân nhạc thì ai cũng phải công nhận Trịnh Công Sơn là một trong những nhạc sĩ bậc thầy” Từ âm nhạc của

Trịnh Công Sơn, chúng tôi - sinh viên ngữ văn - được hiểu thêm về từ ngữ phong phú của tiếng Việt cũng như các biện pháp nghệ thuật tiếng Việt Đó là lý do chúng tôi chọn nhạc Trịnh Công Sơn làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình

Chúng tôi đến với âm nhạc Trịnh Công Sơn còn vì lòng tôn kính đối với người nghệ sĩ tài hoa đã cống hiến suốt cuộc đời mình cho nghệ thuật, sau nữa là

do niềm đam mê âm nhạc Ngoài ra, từ việc nghiên cứu này, người viết được hiểu sâu hơn về âm nhạc của Trịnh Công Sơn và đóng góp của ông cho nền âm nhạc nước nhà

2/ Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Qua việc tìm hiểu một số tài liệu và những công trình nghiên cứu trước thì người viết nhận thấy có một số công trình nghiên cứu cũng lấy ngôn từ trong âm nhạc Trịnh làm đề tài nghiên cứu Ở đây, người viết chỉ xin điểm qua một vài công trình nghiên cứu chủ yếu có liên quan

Trước hết, đó là những công trình, những bài viết về nhạc sĩ Trịnh Công Sơn Các công trình này đa số viết về cuộc đời, sự nghiệp sáng tác của ông:

+ Trịnh Công Sơn và những ám ảnh nghệ thuật - chuyên luận của Bùi Vĩnh

Phúc Một chuyên luận tập hợp rất nhiều bài viết về Trịnh Công Sơn Trong chuyên luận, tác giả đã nói lên suy nghĩ của riêng mình về cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn Ngoài ra, chuyên luận còn nghiên cứu về các biện pháp tu từ được sử dụng

trong âm nhạc của Trịnh Công Sơn “Không ai nghe nhạc Trịnh Công Sơn mà lại không thấy những nét kì ảo trong ngôn ngữ của người nhạc sĩ Những nét kì ảo trong thế giới của anh đã khiến cho cái thế giới ấy trở nên, có khi, đẹp đẽ, lung linh nhiều màu sắc, có khi nhòe nhạt thấp thoáng nhưng cũng không thật gần với

Trang 6

cuộc đời này, giống như chút tình mà Trịnh Công Sơn đã nhắc đến trong một câu hát của bài Như một lời chia tay “Tình không xa nhưng không thật gần” Trong một câu hát khác của bài Đời cho ta thế, anh viết, “Không xa bờ và cũng không

xa mịt mù (…)/ Không xa trời và cũng không xa phận người” Đúng như thế, trong thế giới của anh, ngôn ngữ làm ra tất cả Chính ngôn ngữ đã tạo ra một thế giới mới”.[3,tr.145]

+ Trịnh Công Sơn - Người hát rong qua nhiều thế hệ: Tập hợp bài viết của nhiều

tác giả cũng như là của chính nhạc sĩ Trịnh Công Sơn Qua các bài viết, chúng ta thấy và hiểu được tình cảm của mọi người dành cho ông Bên cạnh đó, những

tâm tư tình cảm của chính cố nhạc sĩ cũng được viết lên: “Có những ngày tuyệt vọng cùng cực, tôi và cuộc đời đã tha thứ cho nhau Từ buổi con người sống quá

rẻ rúng tôi biết rằng vinh quang chỉ là điều dối trá Tôi không còn gì để chiêm bái ngoài những nỗi tuyệt vọng và lòng bao dung Hãy đi đến tận cùng của tuyệt vọng để thấy tuyệt vọng cũng đẹp như một bông hoa Tôi không muốn khuyến khích sự khổ hạnh, nhưng mỗi chúng ta hãy thử sống cùng một lúc vừa kẻ chiến thắng vừa kẻ chiến bại Nỗi vinh nhục đã mang ta ra khỏi đời sống để đưa đến những đấu trường.” [8,tr.9]

+ Một cõi Trịnh Công Sơn của nhiều tác giả là tập hợp những bài viết, nhận xét

về ông một cách chân thật nhất về những đóng góp ở mặt nội dung lẫn nghệ thuật

“Phải thừa nhận rằng, cách cấu tạo ngôn ngữ Trịnh Công Sơn tài hoa, táo bạo

và lạ Trong quá trình tạo vần cho phù hợp với âm thanh và với nét nhạc, anh

“bật” ra những ý tứ, những ý, những hình ảnh ngôn ngữ hết sức bất ngờ, mới lạ đôi khi khiến người ta sửng sốt y như chúng từ trên trời rơi xuống”.[5,tr.321] + Một vài đặc điểm nghệ thuật trong ca từ Trịnh Công Sơn của Mai Văn Hoan

Bài viết đã đi sâu vào việc tìm hiểu những đặc điểm nổi bật về cách ghép từ, nhịp điệu, gieo vần và biện pháp so sánh trong phạm vi những ca khúc viết về tình yêu

của Trịnh Công Sơn: “Có người cho rằng Trịnh Công Sơn là một nhà thơ lớn Nhạc chỉ là “chiếc xe tải” chở thơ anh đến với mọi người Thực tế rất khó lòng tách bạch giữa thơ và nhạc trong những ca khúc của anh Nhạc và thơ hòa quyện vào nhau, nương tựa vào nhau tạo nên những nhạc phẩm đã và sẽ làm say mê hàng triệu trái tim qua bao thế hệ Trong đó phải nói phải nói phần ca từ đóng một vai trò hết sức quan trọng…”

Trang 7

+ Ngôn ngữ nghệ thuật trong ca từ Trịnh Công Sơn : “Ta còn chứng kiến một công cuộc thể nghiệm của tiếng việt trên những chặng đường mới của ngôn ngữ với những kết hợp tài hoa, những góc độ thu hình lạ lẫm, những tri giác dày dặn nhiều tầng, đồng thời làm sáng giá những sự vật thông thường và tầm thường, khả năng tưởng tượng bay bổng”(Bửu Ý) - Trích trong “Trịnh Công Sơn vết chân dã tràng” của Ban Mai

+ Bài viết về Tính dung hợp triết lý trong ngôn ngữ ca từ Trịnh Công Sơn, tác giả

Lê Thị Tuyết Hạnh đã đề cập đến tính triết lý ẩn sau lớp từ ngữ trong nhạc phẩm

của ông “Trịnh Công Sơn qua phần lời viết cho ca khúc của mình đã thể hiện một tư tưởng nghệ thuật độc đáo về tình yêu - thân phận con người như một ám ảnh mà cũng như một bệ phóng cho các sáng tác của ông”

+ Bài viết Nghệ thuật ca từ của Trịnh Công Sơn qua tác phẩm “Đóa hoa vô thường” Bài viết đã phân tích cụ thể nhạc phẩm “Đóa hoa vô thường” và đưa ra nhận xét “ “Đóa hoa vô thường” ấy chỉ nở có một lần Và trong lần nở ấy, hoa chỉ kể về những bí mật của riêng mình mà thôi”

+ Bài viết “Trịnh Công Sơn và ngôn từ trong những bản tình ca” của tác giả

Nguyễn Thị Thu Thủy trên tạp chí ngữ học trẻ 2005 Bài viết đã đưa ra một số

dẫn chứng và cơ sở để nói về ngôn từ của ông “Trịnh Công Sơn là nhạc sĩ đầu tiên vẽ về thân phận con người Lời, nhạc và tư tưởng của ông kết hợp lại thành một thể thống nhất Ông chấp cánh cho ngôn từ, cho tư tưởng và tưởng tượng len lỏi vào các hốc hẻm của đời sống khiến cho các sự vật ông phác thảo trở nên lung linh, mộng ảo Ông đi trước người khác một bước, ngạc nhiên trước người khác, mừng reo hay tư lự cũng trước người khác Sự vật nào đó quan tâm của ông cũng trở thành lạ hơn vẻ thật”.[7, tr.399]

+ Trịnh Công Sơn, một người thơ ca, một cõi đi về của ba tác giả Nguyễn Trọng

Tạo, Nguyễn Thụy Kha và Đoàn Tử Huyến Cuốn sách là tập hợp những bài viết,

cũng như những bài mà các tác giả sưu tầm được “Chúng tôi, những người mến

mộ, những người bạn và cũng là đồng nghiệp của ông, trong niềm xúc động chân thành đã cùng nhau sưu tầm lại những bài viết về ông, những trước tác của ông nhằm lưu giữ kỷ niệm về người nghệ sĩ lớn, một thiên tài đã từng có mặt trên chốn trần gian này” [6,tr 10]

Trang 8

Ngoài những công trình trên, người viết còn tập hợp được một số công trình mang tính lý thuyết làm nền tảng cho việc nghiên cứu:

+ Phong cách học và đặc điểm tu từ Tiếng Việt của PGS.Cù Đình Tú Trong đó,

công trình đã trình bày đầy đủ các biện pháp tu từ như: So sánh, ẩn dụ, nhân hóa, hoán dụ, chơi chữ…Cũng trong công trình này, tác giả đã đưa ra những ví dụ cụ thể nhằm thể hiện một cách chính xác về đặc điểm tu từ của tiếng việt Qua đó, giúp người viết hiểu được thêm phần nào về các đặc điểm cũng như về cách sử dụng các biện pháp tu từ ấy

+ Phong cách học và các phong cách chức năng Tiếng Việt do Hữu Đạt biên

soạn đã nghiên cứu về giá trị phong cách của các đơn vị ngôn ngữ và một vài biện pháp tu từ thông dụng trong tiếng việt

+ Phong cách học Tiếng Việt của hai tác giả Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái

Hòa cũng đã nghiên cứu về các phương tiện tu từ và các biện pháp tu từ Tác giả

đã xây dựng một hệ thống khái niệm về phong cách học hướng về giao tiếp Cách

sử dụng cũng như tác dụng của các biện pháp tu từ thông dụng Ngoài ra, tác giả còn minh họa cụ thể bằng những ví dụ

+ Giáo trình Phong cách học Tiếng Việt của TS Nguyễn Văn Nở biên soạn dành

cho sinh viên Ngữ văn và chuyên ngành Sư phạm Ngữ văn trường Đại học Cần Thơ cũng đã trình bày đầy đủ, chi tiết về các biện pháp tu từ tiếng việt

+ 99 phương tiện và biện pháp tu từ Tiếng Việt của tác giả Đinh Trọng Lạc Cuốn

sách trên đã đi sâu vào từng khái niệm , đặc trưng cũng như ý nghĩa sử dụng của các biện pháp tu từ

+ Ca từ trong âm nhạc Việt Nam của tác giả Dương Viết Á Tác giả đã đi vào tìm

hiểu về vấn đề ca từ, đặc trưng, vai trò của ca từ trong âm nhạc Việt

Ngoài những tài liệu trên còn có nhiều tài liệu khác nói về cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn Tuy nhiên, do thời gian cho phép cũng như là đề tài của luận văn chỉ nghiên cứu các biện pháp trong ca từ nhạc Trịnh Công Sơn nên người viết không

đi sâu vào những vấn đề khác Nói tóm lại, đã có nhiều công trình nghiên cứu về phong cách học nói chung, về ca từ nhạc Trịnh, nhưng chưa có công trình nào đi sâu vào các biện pháp tu từ trong ca từ nhạc Trịnh Công Sơn Đề tài này sẽ đi sâu vào chỗ còn bỏ ngõ đó

3/ Mục đích nghiên cứu

Trang 9

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã ra đi Âm nhạc của nước nhà đã vắng một người

chèo lái thực thụ, người có thể đưa con thuyền âm nhạc Việt tiến xa hơn Suốt

cuộc đời của mình, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã cống hiến hết cho nghệ thuật âm nhạc nước nhà, không ai có thể phủ nhận tài năng và tầm ảnh hưởng của ông đối với âm nhạc cả trong quá khứ lẫn hiện tại và ngay cả ở tương lai Nhạc sĩ Trịnh

Công Sơn mất đi đã để lại một khoảng trống trong văn hóa nền âm nhạc Việt

Nam Và với đề tài nghiên cứu này, người viết chỉ xin hướng đến việc tìm hiểu những biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong các sáng tác của Trịnh Công Sơn Từ đó, nổi bật vẻ đẹp cũng như tác dụng của các biện pháp tu từ ấy Đồng thời, thông qua việc nghiên cứu này chúng ta sẽ được hiểu và thấy rằng âm nhạc của ông không chỉ là những nốt nhạc hay, những giai điệu chuẩn mà nó còn là

một kho tàng nghệ thuật ngôn từ

4/ Phạm vi nghiên cứu

Như tiêu đề luận văn đã xác định rõ, luận văn này sẽ đi vào nghiên cứu

“Một số biện pháp nghệ thuật trong ca từ nhạc Trịnh Công Sơn” Vì vậy, đề tài

cũng chỉ xin hướng đến việc tìm hiểu một số biện pháp tu từ được sử dụng trong

ca từ nhạc Trịnh Trong phạm vi của luận văn và thời gian được hạn định, người viết chỉ tập hợp và khảo sát một số biện pháp nghệ thuật tiêu biểu dễ nhận thấy trong âm nhạc của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn thông qua các sáng tác của ông: biện pháp so sánh, nhân hóa, điệp từ, điệp ngữ, câu hỏi tu từ

5/ Phương pháp nghiên cứu

Trong khuôn khổ của một luận văn cũng như là với đề tài nghiên cứu, người viết đã tìm hiểu và đã lựa chọn ra những phương pháp nghiên cứu hợp lý nhất trong quá trình thực hiện bài nghiên cứu nhằm mục đích làm nổi bật được nội dung của đề tài Qua đề tài nghiên cứu, người viết đã sử dụng một số các phương pháp sau:

+ Phương pháp thống kê: Đối với luận văn này, người viết sử dụng phương

pháp thống kê nhằm mục đích tập hợp tất cả những bài hát của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn để làm nổi bật lên vấn đề của đề tài (trong khả năng có thể tìm hiểu các sáng tác của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn)

Trang 10

+ Phương pháp phân loại: Được sử dụng trong đề tài nghiên cứu này với mục

đích làm rõ các vẻ đẹp trong ca từ nhạc Trịnh ở những khía cạnh, các mảng sáng tác của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn

+ Phương pháp phân tích: Trên những cơ sở đã có, người viết dùng phương

pháp phân tích để khai thác triệt để những biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong nhạc Trịnh để thấy được vẻ đẹp của nhạc Trịnh thông qua các biện pháp tu

từ đã tìm hiểu

+ Phương pháp tổng hợp: Phương pháp tổng hợp được sử dụng trong luận văn

nhằm đúc kết lại các vấn đề nổi bật và cốt lõi mà luận văn này muốn đi đến Từ

đó, giúp người tiếp nhận hiểu rõ và hiểu sâu hơn về các biện pháp được sử dụng trong nhạc Trịnh cũng như mở ra sự tiếp cận phong phú và mạnh mẽ đối với

dòng nhạc rất chọn lựa người nghe như dòng nhạc Trịnh

Trang 11

CHƯƠNG MỘT VÀI NÉT VỀ NHẠC SĨ TRỊNH CÔNG SƠN - TRỊNH CÔNG SƠN

MỘT DẤU ẤN RIÊNG 1.Vài nét về nhạc sĩ Trịnh Công Sơn

Ông sáng tác bài Sương đêm và Sao chiều vào năm 17 tuổi, nhưng tác phẩm đầu tiên của ông là Ướt mi ( 1958) Từ đó tên tuổi của ông được nhiều

người biết đến, trong những năm sau đó nhạc của ông được phổ biến rộng rãi Vì lời lẽ trong nhiều bài hát của ông có tính chất phản chiến, nhà cầm quyền Việt Nam Cộng hòa đã cấm lưu hành vài tác phẩm của ông Ngay cả Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, vốn đối lập, cũng không tán thành việc ông gọi

Chiến tranh Việt Nam là “nội chiến” trong bài Gia tài của mẹ, vì quan điểm của

họ cho rằng đây là cuộc chiến tranh chống xâm lược và thống nhất đất nước Tuy nhiên nhiều bài hát của ông lại rất thịnh hành trong công chúng cho đến hôm nay

như: Huyền thoại mẹ, Nối vòng tay lớn

Năm 1961 vì bắt buộc phải trốn lính nên ông thi và theo học ngành tâm lí giáo dục trẻ em tại trường Sư phạm Qui Nhơn Sau khi tốt nghiệp, ông dạy tại một trường tiểu học ở Bảo Lộc, Lâm Đồng

Trước ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông lên đài truyền thanh Sài Gòn hát bài

“Nối vòng tay lớn”, bài hát nói về ước mơ hòa hợp dân tộc hai miền Nam Bắc

mà ông viết từ năm 1968 Sau khi chiến tranh kết thúc, gia đình ông di tản sang

Trang 12

Mỹ và ông đã phải sống 4 năm trong trại cả tạo Một thời gian dài sau năm 1975, nhạc của ông bị cấm hát ở Việt Nam hay bị một số ít ngấm ngầm tẩy chay ở hải ngoại

Những năm 1975, sau thời gian tập trung lao động, ông làm việc tại Hội âm nhạc Thành Phố Hồ Chí Minh và tạp chí Sóng nhạc Từ thập niên 1980, Trịnh Công Sơn bắt đầu sáng tác lại và có viết một số bài có nội dung ca ngợi chế độ

như Thành phố mùa xuân, Em ở nông trường em ra biên giới, Huyền thoại mẹ…Sau đó ông lại tiếp tục đóng góp nhiều bản tình ca có giá trị

Ngoài ra ông cũng là một diễn viên điện ảnh nghiệp dư Năm 1971 ông

đóng vai chính trong phim Đất khổ Năm 1974 phim được hoàn tất nhưng phim

chỉ được chiếu cho công chúng xem được hai lần rồi không được trình chiếu tại

miền Nam Việt Nam với lý do có tính phản chiến Sau năm 1975, bộ phim không

được trình chiếu tại Việt Nam Nhưng vào năm 1996, bộ phim lại được chọn là phim Việt Nam chính trong liên hoan Á Mỹ

Sau thời gian dài chống chọi lại với bệnh tật (ông từng bị gan, thận, tiểu đường), ông mất tại Thành Phố Hồ Chí Minh lúc 12h45’ ngày 1 tháng 4 năm

2001 (tức ngày 8 tháng 3 năm Tân Tỵ) Từ đó hàng năm giới hâm mộ đều lấy ngày này làm ngày tưởng niệm

Suốt đời Trịnh Công Sơn yêu nhiều nhưng không chính thức kết hôn với ai, và cũng không công nhận có con

1.2 Sự nghiệp

Trịnh Công Sơn là một trong những nhạc sĩ lớn nhất của nền âm nhạc Việt Nam hiện đại Trong sự nghiệp âm nhạc, Trịnh Công Sơn đã để lại cho đời khoảng 600 ca khúc chủ yếu có thể nói đến là tình ca Sự nghiệp sáng tác của Trịnh Công Sơn trải qua nhiều sóng gió của những thời kì lịch sử đầy biến động Những nhạc phẩm của ông mang đậm một phong cách riêng, một phong cách độc đáo, tha thiết, đắm say và một phong cách Trịnh Công Sơn Ngoài ra, những nhạc phẩm của ông còn gửi gắm cả một triết lý nhân sinh sâu sắc Ông từng lý

giải cho sự sáng tác của mình “Tôi chỉ là một tên hát rong đi qua miền đất này

để hát lên những linh cảm của mình về những giấc mơ đời hư ảo” Hai mảng đề

tài lớn nhất trong âm nhạc Trịnh là tình yêu và thân phận con người Ngoài ra, ông còn là một nhà thơ, một họa sĩ tài hoa

Trang 13

1.2.1 Một nhạc sĩ

1.2.1.1 Nhạc tình

Tình yêu là đề tài lớn nhất trong các tác phẩm của Trịnh Công Sơn Những bản tình ca chiếm đa số trong danh mục nhạc phẩm Khả năng viết nhạc tình của Trịnh Công Sơn tưởng chừng như không biết mai một theo năm tháng, theo thời

đại Trải dài từ năm 1958 với Ướt mi tha thiết, yêu thương - nhạc khúc đã khẳng

định tên tuổi của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn Cho đến hai mươi, ba mươi năm sau

vẫn có nhiều bản tình ca đã làm đắm say lòng người: Biển nhớ, Xin trả nợ người, Như lời chia tay…

Đa số nhạc tình của Trịnh Công Sơn là nhạc buồn, thường nói lên tâm trạng

buồn chán, cô đơn: Sương đêm, Ướt mi: “Ngoài hiên mưa rơi rơi, lòng ai như chơi vơi, người ơi nước mắt hoen mi rồi Đừng khóc trong đêm mưa, đừng than trong câu ca Buồn ơi trong đêm thâu Ôm ấp dùm ta nhé Người em thương mưa ngâu hay khóc sầu nhân thế…” Trải dài trong toàn bộ bài hát là âm điệu nhẹ nhàng, buồn bã và cô đơn của đêm mưa “Mưa rơi rơi”, “như chơi vơi”, “nước mắt hoen mi”, “khóc trong đêm mưa”, “than trong câu ca”…Tất cả đã làm nổi

bật lên tâm trạng cô đơn của tác giả Tiếp theo nhạc tình của Trịnh Công Sơn là

những khúc tình mang sầu ly biệt như Diễm xưa, Biển nhớ “Mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ Dài tay em mấy thuở mắt xanh xao Nghe lá thu mưa reo mòn gót nhỏ Đường dài hun hút cho mắt thêm sâu Mưa vẫn hay mưa trên hàng lá nhỏ Buổi chiều ngồi ngóng những chuyến mưa qua Trên bước chân em âm thầm lá đổ Chợt hồn xanh buốt cho mình xót xa Chiều nay còn mưa sao em không lại? Nhỡ mai trong cơn đau vùi Làm sao có nhau hằn lên nỗi đau Bước chân em xin về mau” hay tiếc nuối một cái gì đã qua: Tình xa, Tình sầu, Tình nhớ, Em còn nhớ hay em đã quên, Hoa vàng mấy độ!

“Ngày tháng nào đã ra đi, khi ta còn ngồi lại? Cuộc tình nào đã ra khơi, ta còn mãi nơi đây” (Tình xa)

Hay:

“Em còn nhớ hay em đã quên

Nhớ Sài Gòn mưa rồi chợt nắng

Nhớ phố xưa quen biết tên bàn chân

Nhớ đèn đường từng đêm thao thức

Trang 14

Sáng cho em vòm lá me xanh” (Em còn nhớ hay em đã quên)

Ngoài ra, còn có những bài hát triết lý tình, mang một bóng dáng ngậm ngùi,

lặng lẽ của người từng trải: Cỏ xót xa đưa, Gọi tên bốn mùa, Mưa hồng…

“…Người đến và người sẽ về

Bên kia núi…

Từng câu nói là từng cánh buồm

Giang cuối trời

Còn lại tiếng cười khóc

Giữa đời…” (Cỏ xót xa đưa)

Hay:

“Cuộc đời có bao lâu mà hững hờ” (Mưa hồng)

Những bài hát tình của Trịnh Công Sơn thường có giai điệu nhẹ nhàng, dễ hát Phần lời được đánh giá cao nhờ đậm chất thơ, bề ngoài tuy mộc mạc nhưng rất sâu sắc, triết lý đôi khi mang nhiều yếu tố tượng trưng, siêu thực Nhạc tình của Trịnh Công Sơn rất phổ biến tại Việt Nam và nhạc sĩ Thanh Tùng từng gọi

Trịnh Công Sơn là “Người Việt viết tình ca hay nhất thế kỉ” Còn nhà thơ Mai Linh thì nói về nhạc tình của Trịnh Công Sơn “Bài hát nào của Trịnh cũng là diễm tình cả Sơn là một cuốn bách khoa thư về tình yêu, là cuốn từ điển nhấp nháy những kí tự về tình yêu Cố nhiên, khái niệm tình yêu trong nhạc Trịnh Công Sơn tồn tại ở một nghĩa lớn hơn, rộng hơn, triết học hơn khái niệm tình yêu thông thường mà ta hiểu Sơn là người bắt được “kinh mạch” của ái tình và mỗi bài hát của Sơn giống như một cơn mưa của tâm hồn Nó an ủi, chia sẻ mà không

bi lụy Bằng âm nhạc, Trịnh Công Sơn có khả năng mã hóa được thân phận của con người, của dân tộc, của quê hương đất nước qua thân phận của tình yêu Vì sao Sơn viết về tình yêu? Vì tình yêu chính là liều thuốc an thần của nhân loại

Và những vui buồn, thân phận thì con người ở nơi nào cũng giống nhau Sơn đã nói những tiếng thì thầm ấy với khả năng biến cảm mãnh liệt của mình Và Sơn

đã gặp được người nghe nhiều thế hệ”

Trang 15

Năm 1967, nhạc Trịnh lên đến đỉnh cao của sự phản chiến bằng tập Ca khúc

da vàng Năm sau, ông cho ra tiếp tập Kinh Việt Nam Từ năm 1970 - 1972 ông

tự ấn hành hai tập nhạc phản chiến là Ta phải thấy mặt trời và Phụ khúc da vàng

Cùng với lời ca chân tình thống thiết, giai điệu nhẹ nhàng những bài hát rất cảm động nhưng không hề yếu đuối, ủy mị Những bản nhạc này được ông cùng Khánh Ly đem đi hát ở nhiều nơi tại miền Nam, được nhiều người nhất là giới sinh viên nhiệt tình ủng hộ Đây cũng là loại nhạc làm cho danh tiếng của Trịnh Công Sơn lan ra thế giới: Một số bài của Trịnh Công Sơn đã đến với công chúng

Nhật Bản từ năm 1970 như Diễm xưa, Ca dao mẹ, Ngủ đi con

Năm 1972, ca khúc Ngủ đi con qua tiếng hát của ca sĩ Khánh Ly được tặng

giải thưởng âm nhạc đĩa vàng tại Nhật

Trong thời kì chiến tranh Việt Nam, nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn

đã chịu sự cấm đoán, hạn chế của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa Cũng vì loại nhạc này mà ông đã bị tẩy chay nhiều lần từ cả hai phe đối địch Nhưng không thể phủ nhận rằng Trịnh Công Sơn đã trở thành một tên tuổi đặc biệt nhờ vào dòng nhạc phản chiến này Và phải nói rằng nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn có vai trò không nhỏ trong giai đoạn cuối của chiến tranh Việt Nam

Theo nhận xét của tác giả Bùi Vĩnh Phúc trong chuyên luận Ngôn ngữ và những ám ảnh nghệ thuật: “Qua Trịnh Công Sơn thế giới phần nào biết thêm về cuộc chiến tranh kinh hoàng và đau thương của người Việt Cũng qua Trịnh Công Sơn, thế giới còn biết được đây là một đất nước của bi kịch lịch sử nhưng đồng thời cũng là một đất nước của con người tài hoa, tâm hồn hiền hòa thơ mộng và thiết tha với cuộc đời.” [3,tr.12]

1.2.1.3 Nhạc khác

Bên cạnh các bản nhạc tình và nhạc phản chiến, Trịnh Công Sơn còn để lại

những tác phẩm viết về quê hương: “Chiều trên quê hương tôi”, viết cho trẻ em:

“Em là hoa hồng nhỏ”, “ Mẹ đi vắng”, “Em đến cùng mùa xuân”, “Tiếng ve gọi hè”, “Tuổi đời mênh mông”, “Mùa hè đến”, “Tết suối hồng”…Và tất cả những bài nhạc đỏ: “Huyền thoại mẹ”, “Em ở nông trường em ra biên giới”, “Nối vòng tay lớn”…Trong đó nổi tiếng hơn cả là các bài “Em là hoa hồng nhỏ” và “Nối vòng tay lớn”

1.2.2 Trịnh Công Sơn - một nhà thơ - một họa sĩ

Trang 16

Ngoài một nhạc sĩ, Trịnh Công Sơn còn là một nhà thơ, một họa sĩ không chuyên

+ Một nhà thơ

“Có một nhà thơ tên Trịnh Công Sơn”

Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo đã từng có một bài viết rất dài với tên gọi trên và những gì trong bài viết ấy đã minh chứng hùng hồn cho điều này, trong

đó có đoạn: “Cho dù khi sáng tác ca khúc, Trịnh Công Sơn có thể viết lời và nhạc cùng một lúc, hoặc có đoạn lời viết sau khi đã có nhạc hay trước khi phổ nhạc thì mỗi lời ca của anh đều là những bài thơ hoàn chỉnh cả về ý, tứ, cấu trúc, ngôn từ và cảm xúc Mà Trịnh Công Sơn không phải là một nhà thơ bình thường, anh là nhà thơ rất độc đáo ôm chứa tư tưởng nhân sinh và thời cuộc với một thi pháp khác riêng biệt trong thơ Việt Trịnh Công Sơn rất nhuần nhuyễn trong các thể thơ truyền thống như lục bát, đồng dao….”

Ông làm thơ ít trong những lúc ngẫu hứng, hiện nay còn lưu giữ lại một số bài thơ tự sáng tác, và các bản dịch phỏng như trong tập Hán tự hài cú của Ngô Văn Tao

Là chút hồng phai

“Chẳng có gì đâu em ở lại Một chút cỏ hoa giữa tâm hồn Tâm hồn một chút hồn cỏ lá

Cỏ lá tâm hồn một chiếc hôn Chiếc hôn xưa ấy là hôn cũ

Đã phai mờ trên những lối đi Đường về là gió, là mưa, là bão lũ Nhưng gót chân em vẫn ấm áp một lời thề

Cứ ấm áp cho gót chân hồng mãi Hồng như chiếc hôn cũ đã tàn phai

Em ơi em ạ hồng mất dấu

Sẽ mất dấu hoài giữa hư không

Hư không là gì hư không nhỉ

Là chút hồng phai chút hoài nghi

Trang 17

Hoài nghi là chiếc hôn có lẽ

Đã tàn phai quá giữa đường về”

+ Một họa sĩ

Trịnh Công Sơn để lại khá nhiều tác phẩm hội họa, bút tích Các tác phẩm hội họa của ông đã được triển lãm tại Nhà Hữu Nghị Tiệp Khắc - Việt Nam từ 14.01.1989 đến 24.01.1989 cùng với hai họa sĩ Đinh Cường và Đỗ Quang Em Triển lãm tại nhà khách Ritz và Trang Viện Con Nai Vàng, Thủ Đức, từ 15.12.1990 đến 20.01.1991 cùng với hai họa sĩ Trịnh Cung và Đỗ Quang Em Một số trong đó hiện còn được lưu giữ và trưng bày tại Hội Ngộ Quán

Ông để lại khá nhiều bút tích ghi chép về suy tưởng từ cuộc đời:

“Sống giữa đời này chỉ có thân phận và tình yêu Thân phận thì hữu hạn Tình yêu thì vô cùng Chúng ta làm cách nào nuôi dưỡng tình yêu để tình yêu có thể cứu chuộc thân phận trên cây thập giá đời”

Văn Cao có nhận xét về Trịnh Công Sơn: “ Tôi gọi Trịnh Công Sơn là người của thơ ca (Chantre) bởi ở Sơn, nhạc và thơ quyện vào nhau đến độ khó phân định cái nào là chính, cái nào là phụ…Trong âm nhạc của Sơn, ta không thấy dấu vết của âm nhạc theo cấu trúc bác học phương Tây Sơn viết hồn nhiên như thể cảm xúc nhạc như nó tự nhiên trào ra” [3,tr 18]

2 Trịnh Công Sơn - một dấu ấn riêng

Trịnh Công Sơn là một nhạc sĩ lớn, một nghệ sĩ với cả cuộc đời dành cho nghệ thuật âm nhạc nước nhà Thời gian ông về với cát bụi đã là 10 năm Nó

không quá dài so với cuộc đời của một con người nhưng thời gian ấy lại là vô tận

để khẳng định tên tuổi của một cá nhân đối với cuộc sống này Ông đã trở về với cát bụi của chính mình như lúc ban đầu ông đã đến với cuộc đời này Và hình như Trịnh Công Sơn không hối tiếc về cuộc sống đã qua vì lúc sinh thời, Trịnh

Công Sơn quan niệm cuộc sống trần gian này chỉ là cõi tạm

Có lẽ, Trịnh Công Sơn sinh ra là dành cho âm nhạc Chỉ có âm nhạc mới khẳng định tên tuổi của Trịnh Công Sơn và cũng duy nhất Trịnh Công Sơn là

nhạc sĩ có khả năng làm cánh buồm đưa con thuyền âm nhạc Việt vượt biển đông

đầy gió Thời gian của cả một đời người, ông đã dành hết cho âm nhạc - khoảng

40 năm sáng tác với gần 600 ca khúc để đời mà có lẽ không có một nhạc sĩ nào

Trang 18

cả trong quá khứ lẫn hiện tại làm được như ông Tuy ông mất đi, nhưng dường như ông vẫn hiện hữu ở đâu đó trong cuộc sống của từng người chúng ta Ta vẫn thấy những đêm nhạc tưởng nhớ cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, ta vẫn hay đọc được những cuốn sách hay cũng như có nhiều bài viết về Trịnh Công Sơn, thậm chí

nhạc của Trịnh Công Sơn vẫn len lỏi vào lòng của những người thưởng thức âm

nhạc khó tính nhất Và chúng ta cũng không khỏi ngạc nhiên khi thấy rằng nhạc Trịnh ngày càng được phổ biến rộng rãi trong lĩnh vực nghệ thuật cũng như trong đời sống hàng ngày

“Nhiều người, trong đó có cả những người nước ngoài như John C.Schafer (Giáo sư Anh ngữ, Đại học Humbodl, Hoa Kỳ) đã định danh cho sự nổi tiếng của nhạc Trịnh là “hiện tượng Trịnh Công Sơn” Nhiều bài viết, tập sách được công

bố, xuất bản đã tìm cách giải mã hiện tượng âm nhạc Trịnh Công Sơn nhằm dò thấu căn nguyên của sức hấp dẫn lạ lùng, đầy “ma lực” của nhạc Trịnh”

Trong bài viết của chính mình, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã viết rằng: “…Cứ

tự an ủi mình khi nghĩ rằng mình đau khổ thì có một kẻ khác đang hạnh phúc Và biết đâu cái thời gian mình được yêu thì một người khác cũng đang đau khổ vô cùng Nghĩ thế thì thấy cuộc đời bỗng nhẹ nhàng hơn và cũng dễ dàng tha thứ cho nhau Sống mà cứ giữ mãi trong lòng những hờn oán thì cũng nặng nề” Nhạc sĩ Văn Cao đã viết về Trịnh Công Sơn: “Trong âm nhạc của Sơn, ta không thấy dấu vết của âm nhạc cổ điển theo cấu trúc học phương Tây: Sơn viết hồn nhiên như thể cảm xúc nhạc thơ tự nó trào ra Nói như nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát, người bạn già của tôi, “Trịnh Công Sơn viết dễ như lấy chữ từ trong túi ra” Cái quyến rũ của nhạc Trịnh Công Sơn có lẽ chính là ở chỗ đó, ở chỗ không định tạo ra một trường phái nào, một triết lý nào, mà vẫn thấm vào lòng người như suối tươi Với những lời ý đẹp và độc đáo đến bất ngờ hôn phối cùng một kết cấu đặc biệt như một hình thức của dân ca hầu như không thay đổi Trịnh Công Sơn đã chinh phục hàng triệu con tim, không chỉ ở trong nước, mà cả bên ngoài thế giới nữa…”

Nguyễn Thị Hoàng - tác giả bài viết Nhật ký của sự im lặng đã viết: “Sơn không hát bằng lời, bằng giọng, mà bằng tâm hồn Nên khi tiếng hát yếu đuối mà sóng gió ấy run lên thì những nếp nhăn của tâm hồn Sơn dàn chào cuộc đời trên vầng trán, ở khoảng giữa mày và mắt khép ríu lại không thấy gì ngoài xúc động

Trang 19

bên trong mình dù ngoài kia đang lửa cháy bom rơi Đừng bình luận tiếng hát

ấy, đừng nhận xét vóc dáng con người trình diễn ấy, trình diễn mà không trình diễn, thì ấy là trình diễn của Sơn, trên sân khấu, ở nhà riêng, hay trong một thân tình bạn hữu Bởi Sơn không muốn thích, không muốn, không cần và không biết diễn xuất, tâm hồn hay con người mình trước khán giả Đối với Sơn, mình như thế là như thế, trước mình hay trước người, với một người hay mọi người Sơn chỉ dịch chuyển bằng âm thanh những lời sâu kín của im lặng và rung động”

Trịnh Công Sơn không lập gia đình nhưng ông có những mối tình rất đẹp Những mối tình của ông thường nhẹ nhàng, đơn giản như chính con người của ông Nhưng có lẽ, số phận không cho ông lập gia đình cũng giống như định mệnh

đã đưa ông đến với âm nhạc khi ông bị tai nạn lúc trẻ Thử hỏi, nếu không có tai nạn kia thì nền âm nhạc nước nhà có thể có được một thiên tài như nhạc sĩ Trịnh Công Sơn của hiện tại không?

Trong chúng ta, ít nhiều ai cũng được biết đến ca khúc Diễm xưa Mối tình

của Trịnh Công Sơn và người phụ nữ có tên là Ngô Vũ Bích Diễm Hay chúng ta còn nghe mọi người nói về người phụ nữ với tên gọi Ngô Vũ Dao Ánh - nhân vật chính trong hàng trăm lá thư tình của Trịnh Công Sơn Có thể xem, tất cả những bản tình ca của Trịnh Công Sơn như được lấy ra từ những tình cảm của chính nhạc sĩ tài hoa ấy

Suốt cuộc đời của mình, Trịnh Công Sơn đã hiến dâng tất cả cho âm nhạc, cho những thân phận của một kiếp người, cho những cuộc tình…Và suốt cuộc

đời của riêng mình, Trịnh Công Sơn chỉ là “thôi kệ”

Trong âm nhạc Việt Nam hiện tại, chúng ta không thấy một dòng nhạc nào của một nhạc sĩ tồn tại song song với các dòng nhạc khác Phải chăng là chưa xuất hiện? Có lẽ thế Có thể trong tương lai sẽ có một nhạc sĩ tài năng, và cống hiến cả cuộc đời mình cho nghệ thuật như nhạc sĩ Trịnh Công Sơn Nhưng đó là khi nào? Là ai? Nó vẫn là một dấu chấm hỏi lớn cho nền âm nhạc Việt

Quá khứ đã qua, và Trịnh Công Sơn sẽ sống mãi trong lòng của những người hâm mộ trong nước và cả trên thế giới Trịnh Công Sơn_một huyền thoại của âm nhạc Việt Nam

Trang 20

Theo tác giả Dương Viết Á trong ca từ âm nhạc Việt Nam nhận định:“ Trong loại hình nghệ thuật âm nhạc, ngoài phần âm thanh đóng vai trò chính, đó

là phần ngôn ngữ văn học trong âm nhạc (lời ca trong ca khúc, hợp xướng, kịch bản trong nhạc cảnh, nhạc kịch, tên gọi, tiêu đề của những bài hát, bản nhạc hoặc của từng chương nhạc…) Tất cả phần ngôn ngữ văn học trong âm nhạc, ta gọi chung trong một khái niệm: Ca từ Ca từ như vậy, bao gồm toàn bộ phần ngôn ngữ văn học trong âm nhạc, bắt đầu từ cái nhỏ nhất: tên gọi, tác phẩm, tiêu đề…cho đến cái lớn nhất: kịch bản của nhạc cảnh, nhạc kịch…và dừng lại ở thể thơ được phổ nhạc”.[9,tr.13]

Trong bài viết Miền thơ Trịnh Công Sơn nhà thơ Thai Sắc nhận định: “Ca

từ nói một cách dễ hiểu là phần lời trong ca khúc, nếu được bóc tách khỏi phần nhạc và được xem xét với tư cách là ngôn từ văn chương”

Theo nhạc sĩ Vũ Đức Sao Biển: “ Ca từ là yếu tố quyết định làm nên tính nghệ thuật, tính tư tưởng trong một ca khúc Âm nhạc là một nghệ thuật sang trọng cho nên nó đòi hỏi người nhạc sĩ phải viết ca từ sang trọng…”

Theo tạp chí âm nhạc Việt Nam phân tích thì ca từ là có đặc điểm và chức năng:

+ Ca từ dựa trên sức mạnh của ngôn ngữ, phải gợi cảm xúc cho người nghe, sử dụng các phương pháp tu từ như: Ẩn dụ, so sánh, nhân hóa…dựa vào hình ảnh miêu tả…

+ Ca từ là để hát và nghe cùng với nhạc

+ Ca từ được viết để giao tiếp với người nghe Vì âm nhạc chuyển động nhanh,

ca từ phải lướt mau qua ý thức của người nghe, ca từ phải giao tiếp tức khắc, rõ ràng và tập trung vào chủ đề

+ Ca từ truyền tải sức mạnh của nó thông qua nhạc và âm thanh

Trang 21

+ Ca từ phải phối hợp với nhịp điệu và cấu trúc của âm nhạc

+ Ca từ thì phải hát và phải ngắn gọn

3 Các phương tiện và biện pháp tu từ tiếng việt

3.1 Các biện pháp tu từ từ ngữ tiếng việt được cấu tạo theo quan hệ liên tưởng

3.1.1 So sánh

3.1.1.1 Phân biệt so sánh luận lí và so sánh tu từ

So sánh luận lí ( còn gọi là so sánh logic)

So sánh tu từ(còn gọi là so sánh hình ảnh)

Cả hai phép so sánh trên đều có nét tương đồng là cùng công khai đối chiếu các

vế khi so sánh Tuy nhiên giữa chúng có sự dị biệt và chính sự dị biệt này tạo ra

sự khác biệt cơ bản giữa chúng Nếu so sánh tu từ là sự đối chiếu giữa các đối tượng khác loại thì so sánh luận lí là sự đối chiếu giữa các đối tượng cùng loại Nếu so sánh tu từ nhằm mục đích gợi lên một cách hình ảnh đặc điểm giữa các đối tượng từ đó tạo nên cảm xúc thẩm mĩ trong nhận thức của người tiếp nhận thì

so sánh luận lí đơn thuần chỉ cho ta thấy sự ngang bằng hay hơn kém giữa các đối tượng đấy mà thôi

So sánh tu từ

Mặt tươi như hoa

“Đôi ta như cá ở đìa

Ngày ăn tản lạc, tối dìa ngủ chung.”

“Đứt tay một chút chẳng đau

Xa nhau một chút như dao cắt

lòng”

So sánh luận lí

Thùy cũng đẹp như Trang

Con hơn cha nhà có phúc

“Lúc ở nhà mẹ cũng là cô giáo Khi tới trường, cô giáo như mẹ hiền”

So sánh tu từ cần được khảo sát cả về mặt hình thức( cấu tạo bên trong) lẫn chất liệu (cấu tạo bên trong)

3.1.1.2 So sánh tu từ

Có nhiều quan niệm về so sánh Ở đây, người viết xin đưa ra 3 quan niệm:

Trang 22

 Theo PGS Cù Đình Tú: “So sánh tu từ là cách công khai đối chiếu hai hay nhiều đối tượng cùng có một dấu hiệu chung nào đấy (nét giống nhau) nhằm diễn tả một cách hình ảnh, đặc điểm của một đối tượng”.[14,tr.175]

 Theo tác giả Đinh Trọng Lạc: “ Là một biện pháp tu từ ngữ nghĩa, trong đó người ta đối chiếu hai đối tượng khác loại của thực thể khách quan không đồng nhất với nhau hoàn toàn mà chỉ có một nét giống nhau nào đó, nhằm diễn tả bằng hình ảnh một lối tri giác mới mẻ về đối tượng Cần phân biệt với so sánh luận lí, trong đó cái được so sánh và cái so sánh là cái đối tượng cùng loại và mục đích của sự so sánh là xác lập sự tương đương giữa hai đối tượng”.[11,tr.154]

 Theo TS Nguyễn Văn Nở: “So sánh tu từ (comparison:còn được gọi là tỉ dụ)

là biện pháp tu từ dùng sự đối chiếu hai hay nhiều đối tượng (hoặc sự vật) có một nét tương đồng nào đó về hình thức bên ngoài hay tính chất bên trong để gợi

ra hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mĩ trong nhận thức của người đọc, người nghe” [13,tr.103]

Ví dụ

“Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”

(Ca dao)

“Công cha như núi Thái Sơn”: để nói lên công ơn của người cha cao vời vợi tựa

như núi Thái Sơn, đứng giữa bầu trời trong sáng và trở thành ánh thái dương soi đường chỉ lối, dẫn dắt con cái đi đúng đường, đúng hướng

"Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra" Nước trong nguồn là nước chảy từ

suối, ra sông rồi đổ ra biển cả mênh mông không bao giờ cạn Thứ nước khởi thuỷ đó trong nhất, mát nhất, tinh khiết nhất như nghĩa mẹ ngọt ngào, bất tận Bài ca dao trên đã lột tả được công ơn to lớn của cha mẹ thông qua hai

hình ảnh “núi Thái Sơn”, và “nước trong nguồn” Thông qua từ dùng để so sánh

“như” đã cho chúng ta thấy và hiểu rõ được tình cảm cũng như công lao nuôi

dưỡng của bậc làm cha, làm mẹ

3.1.1.3 Các loại hình thức so sánh tu từ

+ Căn cứ vào sự xuất hiện hay vắng mặt của yếu tố thứ hai hoặc thứ

ba và trật tự của các yếu tố mà ta có các kiểu so sánh như:

Trang 23

 Kiểu một: Có đầy đủ cả bốn thành tố và không đảo trật tự

Trang 24

A bao nhiêu B bấy nhiêu

Ví dụ

“Qua đình ngã nón trông đình Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu”

Em vẫn nằm trong nhung lụa”

Vế so sánh và vế được so sánh bao giờ cũng xuất hiện trên văn cảnh Hai

vế này gắn kết với nhau để tạo nên một cấu trúc so sánh ở dạng thức đầy đủ nhất,

so sánh gồm có bốn thành tố:

Vế so sánh

(A)

Cơ sở so sánh (C)

Từ so sánh (TSS)

Vế được so sánh (B)

Tiếng suối trong như tiếng hát xa

Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân Gái có chồng như gông đeo cổ

Vế so sánh (A): Đối tượng để so sánh

Cơ sở so sánh (C ): Yếu tố chỉ tính chất của sự việc hay trạng thái của hành động,

có vai trò nêu rõ phương diện so sánh

Trang 25

Từ so sánh (TSS): Từ ngữ dùng để so sánh, tạo nên mối liên kết giữa cái được so sánh và cái đem ra để làm đối tượng so sánh

Vế được so sánh (B): Yếu tố được đưa ra làm chuẩn để so sánh

Về mặt nội dung

Các đối tượng nằm trong hai vế là khác loại nhưng lại có nét tương đồng

nào đó, tạo thành cơ sở cho so sánh Nếu nét giống nhau này thể hiện ra cụ thể bằng từ ngữ (cơ sở giống nhau) thì ta có so sánh nổi, nếu nét giống nhau này không thể hiện ra cụ thể bằng từ ngữ (cơ sở giống nhau) thì ta có so sánh chìm

 So sánh nổi: “Dù ai nói ngả nói nghiêng

Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân”

 So sánh chìm: “Thuyền theo lái, gái theo chồng”

So sánh là một dạng thức phổ biến trong lời ăn tiếng nói hằng ngày Như chúng ta biết, so sánh tu từ có hai chức năng cơ bản: Nhận thức và biểu cảm Tuy nhiên, có thể nói thế mạnh của so sánh là chức năng nhận thức Biện pháp này giúp cho người nói, người viết diễn đạt một cách sinh động, cụ thể hình ảnh, thể hiện sự nhận thức về đối tượng được nói đến cũng như thái độ, tình cảm đối với đối tượng đó Và do mang hai chức năng đó ( nhận thức và biểu cảm), do cấu tạo đơn giản cho nên so sánh tu từ được dùng trong nhiều phong cách tiếng việt: Phong cách khẩu ngữ, phong cách văn chương, phong cách chính luận, phong cách báo chí và phong cách khoa học

3.1.2 Nhân hóa

3.1.2.1 Định nghĩa

PGS.Cù Đình Tú nhận định: “ Nhân hóa là cách lấy những từ ngữ biểu thị thuộc tính, hành động của người dùng để biểu thị thuộc tính, hành động của đối tượng khác loại dựa trên mối quan hệ liên tưởng không phải là người (khác loại)”.[14,tr.185]

Theo tác giả Đinh Trọng Lạc: “ Nhân hóa là một biến thể của ẩn dụ, trong đó người ta lấy những từ ngữ biểu thị thuộc tính, dấu hiệu của con người

để biểu thị thuộc tính, dấu hiệu của đối tượng không phải là người, nhằm làm cho đối tượng được miêu tả trở nên gần gũi dễ hiểu hơn, đồng thời làm cho người nói có khả năng bày tỏ kín đáo tâm tư thái độ của mình”.[11,tr.63]

Trang 26

Theo Nguyễn Thái Hòa: “ Thực chất của nhân hóa là sự chuyển đổi trường nghĩa từ trường vô sinh sang trường hữu sinh, qui chiếu về con người Đây cũng là tàn dư của tư duy nguyên thủy, vạn vật hữu linh, vạn vật có linh hồn của con người, mà dấu vết còn lại trong các tộc người nguyên thủy, trong tư duy trẻ em, cho nên phép nhân hóa xuất hiện nhiều trong truyện cổ, đồng dao, ca dao

và đặc biệt là trong thơ trữ tình hiện đại Đây là “vạn vật hòa đồng” hay “nhân vật tương giao”, bổ sung vào những hạn chế của tín hiệu ngôn ngữ và là phương tiện xây dựng hình tượng nghệ thuật”.[12,tr113]

Theo TS Nguyễn Văn Nở: “ Nhân hóa là một biến thể của ẩn dụ tu từ, trong đó người ta lấy những từ ngữ biểu thị những thuộc tính, hoạt động của người dùng để biểu thị hoạt động của đối tượng khác dựa trên nét tương đồng về thuộc tính, về hoạt động giữa người và đối tượng không phải là người”.[13,tr.112]

Ví dụ

“ Khăn thương nhớ ai Khăn rơi xuống đất Đèn thương nhớ ai

Mà đèn không tắt Mắt thương nhớ ai

Mà mắt không yên”

( Ca dao)

Cái khăn, tự nó không biết " thương nhớ",nhưng những hình ảnh vận động

mang cảm xúc người đã hiện lên hình ảnh con người với tâm trạng ngổn ngang niềm thương nhớ cùng nỗi lo âu

Vẫn là điệp khúc "thương nhớ ai", nhưng nỗi nhớ đã chuyển từ " khăn" sang "đèn" Hình ảnh ngọn đèn gợi ra đêm khuya vò võ canh tàn, và cái đốm lửa

đang cháy kia phải chăng là hình ảnh của nỗi nhớ cháy rực trong lòng cô gái? Ngọn đèn mãi không chịu tắt, nỗi nhớ cứ da diết khôn nguôi Cũng như chiếc khăn, ngọn đèn đã giúp cô gái thổ lộ nỗi lòng Nhưng dù gợi cảm bao nhiêu, thì chiếc khăn và ngọn đèn cũng chỉ là cách nói gián tiếp theo lối biểu tượng, nhân hoá

Trang 27

Qua bài ca dao, người xưa muốn lấy những hình ảnh như “khăn”, “đèn”, hay “mắt” để nói lên tình cảm của con người Từ những vật vô tri, vô giác như

vậy mà lại có cảm xúc như con người, đồng thời nhân hóa nhấn mạnh tình cảm của con người

3.1.2.2 Đặc điểm của nhân hóa

 Về mặt hình thức

Nhân hóa được tạo theo hai cách:

 Dùng những từ chỉ tính chất, hoạt động của con người để biểu thị những tính chất, hoạt động của đối tượng không phải là người

Ví dụ

“ Đây những tháp gầy mòn vì mong đợi Những đền xưa đổ nát dưới thời gian Những sông vắng lê mình trong bóng tối Những tượng đài lở lói rỉ rên than”

Nhân hóa có hai chức năng: Nhận thức và biểu cảm

Qua nhân hóa, người ta có thể bày tỏ kính đáo tình cảm tâm tư của mình, thái độ đánh giá của mình đối với đối tượng được miêu tả hoặc là phương tiện để con người giãi bày tâm sự

Trang 28

Nhân hóa được dùng rộng rãi trong các phong cách: Khẩu ngữ, chính luận, văn chương

3.2 Các phương tiện và các biện pháp tu từ cú pháp

3.2.1 Điệp từ, điệp ngữ

3.2.1.1 Định nghĩa

Trong cuốn Phong cách học và đặc điểm tu từ Tiếng Việt, PGS Cù Đình

Tú có viết: “ Điệp từ ngữ là cách tu từ dùng sự lặp lại những từ ngữ, những kiểu câu, kiểu phô diễn như nhau nhằm mục đích nhấn mạnh nội dung biểu đạt”.[14,tr.198]

Theo tác giả Đinh Trọng Lạc: “ Điệp từ ngữ là lặp lại có ý thức những từ ngữ nhằm mục đích nhấn mạnh ý, mở rộng ý, gây ấn tượng mạnh hoặc gợi ra nhiều xúc cảm trong lòng người đọc, người nghe”.[11,tr.93]

Theo TS Nguyễn Văn Nở: “ Điệp từ ngữ là một biện pháp tu từ, lặp đi lặp lai những từ ngữ nào đó nhằm mở rộng, nhấm mạnh ý nghĩa hoặc gợi ra những cảm xúc trong lòng người đọc”.[13,tr.120]

Ví dụ

“ Cũng cờ cũng biển cũng cân đai Cũng gọi ông nghè có kém ai”

( Nguyễn Khuyến) Điệp từ ngữ là biện pháp tu từ có cách vận dụng rất phong phú đa dạng

3.2.1.2 Các hình thức điệp từ, điệp ngữ

 Điệp từ ngữ nối tiếp

“ Hoa dãi nguyệt nguyệt in một tấm Nguyệt lồng hoa hoa thấm từng bông Nguyệt hoa hoa nguyệt trùng trùng

Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đau”

( Đặng Trần Côn)

 Điệp từ ngữ cách quãng

“ Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm

Heo hút cồn may, súng ngửi trời

Nhà ai Pha Luông, mưa xa khơi”

Trang 29

( Quang Dũng) Điệp từ ngữ vừa có chức năng nhận thức và chức năng biểu cảm Biện pháp này được dùng rộng rãi trong các phong cách chức năng ngôn ngữ

3.2.2 Câu hỏi tu từ

3.2.2.1 Định nghĩa

Theo tác giả Đinh Trọng Lạc: “ Câu hỏi tu từ về hình thức là câu hỏi mà

về thực chất là câu khẳng định hoặc phủ định cảm xúc Nó có dạng không đòi hỏi câu trả lời mà chỉ nhằm tăng cường tính diễn cảm của phát ngôn”.[11,tr.194] Trong giáo trình của Phong cách học tiếng việt, TS Nguyễn Văn Nở có viết: “ Câu hỏi tu từ là những câu hỏi chỉ nhằm để khẳng định một ý kiến nào đó chứ không phải để người đối thoại thông tin điều mình muốn biết”

Ví dụ

“Ân cha nghĩa mẹ chưa đền Bậu mong ôm gối cuốn mền theo ai?”

( Ca dao) Câu hỏi tu từ không đơn thuần là để hỏi, mà còn có tác dụng lớn trong việc bộc lộ tình cảm, có ý nghĩa khẳng định, làm cho hình tượng văn học đẹp lên gấp bội

Ví dụ

“ Em là ai? Cô gái hay nàng tiên

Em có tuổi hay không có tuổi Mái tóc em đây, hay là mây là suối Đôi mắt em nhìn hay chớp lửa mưa giông Thịt da em hay là sắt là đồng?”

( Tố Hữu)

Trang 30

CHƯƠNG BA MỘT SỐ BIỆN PHÁP NGHỆ THUẬT TRONG CA TỪ NHẠC

TRỊNH CÔNG SƠN

3 Đôi lời cảm nhận về các biện pháp tu từ trong ca từ nhạc Trịnh

Trong giới nhạc sĩ của Việt Nam, Trịnh Công Sơn là một nhạc sĩ đã chọn được cho mình một con đường riêng, không thể nhầm lẫn với bất kì người nhạc

sĩ nào khác Bởi thế, chúng ta không lấy gì làm ngạc nhiên khi có hẳn một dòng nhạc Trịnh tồn tại cạnh các dòng nhạc Cách mạng, nhạc thiếu nhi, nhạc trẻ… Làm nên sự thành công đó, có sự đóng góp không nhỏ của yếu tố giai điệu Đây chính là dấu hiệu để người thưởng thức phân biệt được đâu là nhạc Trịnh và đâu

Nhạc Trịnh tuy nhẹ nhàng, êm ái nhưng càng nghe mới càng cảm thấy được sự

cuốn hút kì lạ của nó “Ôm lòng đêm, nhìn vầng trăng mới về Ôi phù du, từng tuổi xuân đã già” (Phôi pha) Nếu chỉ đọc thôi, chúng ta sẽ không thể cảm nhận

hết được cái hay của hai câu hát trên Phần lời của ca khúc kết hợp với những giai điệu nhẹ nhàng đã tác động vào người thưởng thức nhạc Trịnh Người thưởng thức sẽ nhận và hiểu ra được những triết lý mà người nhạc sĩ gởi đến trong nhạc phẩm của mình Đó là một thành công của nhạc Trịnh, nghe một lần đồng nghĩa là sẽ nghe mãi mãi Do đó, nhịp điệu là yếu tố vô cùng quan trọng làm nên nhạc điệu của ca khúc Các nhà thơ, các nhạc sĩ tài năng đều có các kiểu ngắt nhịp riêng phù hợp với nhịp điệu của cảm xúc Trịnh Công Sơn cũng có rất

nhiều kiểu ngắt nhịp Ở bài Cát Bụi chủ yếu là nhịp 3/4: Bao nhiêu năm – làm

Trang 31

kiếp con người/ Chợt một chiều – Tóc trắng như vôi…tạo nên nét nhạc trầm lắng, suy tư Bài Tình Nhớ ngắt theo nhịp 3/2: Một người về – đỉnh cao/ Một người về – vực sâu…tạo nên nét nhạc đứt đoạn như sự chia lìa Nhưng kiểu ngắt nhịp 2/2

lại là kiểu ngắt nhịp phổ biến trong ca từ Trịnh Công Sơn Chính kiểu ngắt nhịp này góp phần làm nên nhạc điệu chủ đạo trong nhạc Trịnh nói chung và nhạc tình

của ông nói riêng Chẳng hạn: Ngày mai – em đi – đồi núi – nghiêng nghiêng – đợi chờ/ Sỏi đá – trông em – từng giờ/ Nghe buồn – nhịp chân – bơ vơ…(Biển nhớ) Mưa vẫn – mưa bay – trên hàng – lá nhỏ/ Buổi chiều – ngồi ngóng – những chuyến – mưa qua…(Diễm xưa) Gọi nắng – trên vai – em gầy/ Đường xa – áo bay…(Hạ trắng)

Sinh ra và lớn lên tại Huế, do đó có thể xem Huế là nơi để lại ấn tượng sâu đậm nhất trong lòng Trịnh Công Sơn, âm hưởng Huế đã đi vào trong những nhạc phẩm của ông Bên cạnh đó, cuộc đời của Trịnh Công Sơn lại có quá nhiều bi kịch: Cha ông mất khi ông đang học ở trường dạy chương trình Pháp, bị tai nạn khi đang tập thể thao và phải nằm viện trong khoảng thời gian 2 năm Thời gian sau, gia đình ông bị phá sản nên ông không thể tiếp tục trở lại học khi đã hồi phục Ngoài ra, ông lại lớn lên khi đất nước không ngừng tiếng súng, tiếng đạn

bom “Đại bác đêm đêm ru da thịt vàng, đại bác đêm đêm đánh thức mẹ dậy”

Chiến tranh dai dẳng và cùng khắp đến nỗi đứng ở tọa độ nào trên đất nước cũng thấy hình ảnh chiến tranh Âm nhạc của Trịnh Công Sơn xuất phát từ nỗi buồn có tính cách chung thẩm như vậy

Sau khi triển khai tất cả ý nghĩa của một hiện hữu vào nghệ thuật, Trịnh Công Sơn chỉ nhìn thấy còn lại trong tay mình một chút vôi kết tủa của nỗi cô đơn Có thể nói rằng nỗi cô đơn là không khí tản mạn khắp trong nhạc Trịnh Công Sơn Chính hoàn cảnh của hiện thực lúc bấy giờ đã đưa Trịnh Công Sơn vào nỗi cô đơn, tuyệt vọng Và điều đó đã làm nên một Trịnh Công Sơn, một hiện tượng Trịnh Công Sơn như ngày hôm nay Do đó, ta không lấy làm lạ gì về

ngôn từ trong âm nhạc của ông Và nói như nhạc sĩ Văn Cao, “Trong âm nhạc của Sơn, ta không thấy dấu vết của âm nhạc cổ điển theo cấu trúc của bác học phương Tây Sơn viết hồn nhiên như thể cảm xúc nhạc thơ tự nó trào ra…”

Trịnh Công Sơn, với những khúc nhạc giản dị nhưng có một phong cách riêng,

đã nói được tất cả những gì mà ông muốn bày tỏ với chúng ta, những người đã,

Trang 32

đang và sẽ lắng nghe ông Trịnh Công Sơn đã tạo cho mình một dấu ấn riêng trên con đường âm nhạc đó Và trong lịch sử âm nhạc Việt Nam, không nhạc sĩ nào

có thể tạo cho mình, cho thế hệ mình, những cơn lốc nghệ thuật làm lay động đến chiều sâu tâm thức con người ở trong và ngoài phạm vi quốc gia như Trịnh Công Sơn

Âm nhạc của Trịnh Công Sơn tuy giản dị nhưng lại không dễ hiểu, ai nghe qua một lần cũng có thể nhớ ít nhất một câu trong bài nhạc của ông nhưng để hiểu được nội dung của nó thì quả là vấn đề khó khăn cho những người tiếp cận

Bởi thế, không lấy làm lạ khi có người gọi ông là “Phù thủy ngôn từ” Thế giới

nhạc ngữ của Trịnh Công Sơn rất mới Chúng mới một cách giản dị Không phải mới ở cách dùng những câu chữ phức tạp, cầu kỳ, mà là mới ở cách sắp đặt những từ ngữ, những hình ảnh kết hợp với nhau một cách bất ngờ và rất không truyền thống Trịnh Công Sơn lớn lên trong một thời đại mà ảnh hưởng của văn hóa âu Mỹ, đặc biệt là của Tây phương, điều này đã ghi những dấu ấn khá sâu đậm trong tâm hồn người Việt Ngoài ra, khi nghiên cứu về cuộc đời của Trịnh Công Sơn, ta thấy lạ một điều: Trịnh Công Sơn – một người chỉ học ở trường Pháp, giáo trình Việt ngữ rất hạn chế và lỏng lẻo, khi đặt lời ca, sao có thể sử dụng tiếng Việt điêu luyện như thế? Khi tiếp cận với nhạc của ông, chúng ta nhận thấy đâu đó phảng phất một nền văn học dân gian trong các tình khúc nói riêng

và trong nhạc của ông nói chung Trong nhạc của ông, ta vẫn thường xuyên bắt gặp những bài hát được phổ nhạc từ chính những bài thơ của ông Đôi khi, đó là những bài thơ bốn chữ, năm chữ thậm chí là tám chữ:

Trời còn làm mưa Mưa rơi thênh thang Từng gót chân trần

Em quên em quên

Ôi miền giáo đường Ngày chủ nhật buồn Còn ai còn ai

(Tuổi đá buồn)

Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi

Trang 33

Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt Rọi suốt trăm năm một cõi đi về

(Một cõi đi về) Ngoài ra, ngôn ngữ trong âm nhạc của Trịnh Công Sơn, ta còn thấy thấp

thoáng đâu đó dụng ý “tả cảnh ngụ tình” của ông Ông đã mượn những hình ảnh

của thiên nhiên, của con người… để nói về chính mình Cô đơn, lẻ loi, ông mượn hình ảnh của cánh chim, của những chuyến xe, của những đám mây đi về một mình…Muốn nói lên tiếng lòng của mình trong tình yêu, ông mượn hình ảnh của biển rộng Muốn thấu hiểu nỗi đau của chiến tranh, ông sử dụng những hình ảnh đau thương đến tê tái lòng: hình ảnh của trẻ thơ, của mẹ già… Âm nhạc của ông chất chứa nhiều nỗi đau, nỗi buồn hơn là hạnh phúc, vui tươi Và không phải

tình cờ mà âm nhạc của ông lại có một khuynh hướng như thế

Nhắc đến Trịnh Công Sơn là phải bàn về vấn đề ca từ trong âm nhạc của

ông Nó dường như đã trở thành một quy luật cần phải có khi nhắc đến người

nhạc sĩ tài hoa này Vấn đề ca từ của Trịnh Công Sơn đã làm hao tốn không biết bao nhiêu công sức, giấy mực của các nhà nghiên cứu nhưng dường như vẫn

không thể giải quyết trọn vẹn được Ông là người đã bồi đắp thêm một hạt cát màu nhiệm vào trong kho tàng ngôn ngữ của Việt Nam Mấy ai viết được “Mưa hồng”, “Tuổi đá lăn”, “Vết lăn trầm”, nhưng Trịnh Công Sơn đã làm được điều

 Giữa ẩn dụ và hoán dụ: Trong bài Ru ta ngậm ngùi, câu “Có sợi tóc

nào bay/ Trong trí nhớ nhỏ nhoi” cũng có thể đã mang trong nó một hình ảnh có

tính trùng phức Sợi tóc có thể là một ẩn dụ của người con gái, một bóng đáng

thân yêu đã khuất xa trong cuộc đời người nhạc sĩ Nó cũng có thể mang tính

hoán dụ: tác giả dùng một sợi tóc để chỉ cả một mái tóc, và dùng một mái tóc –

một phần của con người – để chỉ cả một con người Người con gái ấy đã có thể

Trang 34

trở về trong tâm trí tác giả, trước hết, qua hình ảnh một sợi tóc Một sợi tóc bay ngang một vành môi hồng ướt chẳng hạn Điều ấy đáng nhớ lắm chứ

 Giữa hoán dụ và nhân hóa: Trong bài Thương một người: “Từng

đêm qua ngõ tối/ Bàn chân âm thầm nói” Đây có thể được hiểu là một hình ảnh với những biện pháp tu từ có tính trùng phức Trước hết, nó là hình ảnh của biện

pháp tu từ nhân hóa: tác giả gán cho bàn chân một thuộc tính của con người đó

là “nói” Theo một hướng khác đó là hoán dụ: lấy bàn chân, là một phần của

con người, để chỉ cái toàn thể con người: người con gái với bước chân âm thầm

đi trong đêm tối, tấm lòng ôm giấu một nỗi buồn riêng tư, không muốn ngỏ cùng

ai

Ngoài ra, nhạc Trịnh Công Sơn còn có sự kết hợp giữa biện pháp tu từ so

sánh và câu hỏi tu từ “Nắng có hồng bằng đôi môi em?/ Mưa có buồn bằng đôi mắt em?” Tính trùng phức đã được hiện lên Trước hết, đó là biện pháp tu từ so sánh thông qua từ so sánh bằng So sánh nắng hồng với đôi môi em, mưa buồn

với đôi mắt em Với lối so sánh như vậy, vẻ đẹp và nét buồn của đối tượng so

sánh đã được nói đến Bên cạnh đó, hai câu hát trên cũng có thể được xem là câu

hỏi tu từ: Nắng có, mưa có – người nhạc sĩ không dám khẳng định vẻ đẹp của

đối tượng Ở đây, người nhạc sĩ như đang ướm hỏi nhằm cho mọi người thấy được vẻ đẹp đó thông qua cách hiểu và cách tiếp nhận của mỗi người

Trước khi đi vào phân tích những biện pháp được sử dụng trong ca từ nhạc Trịnh Công Sơn, người viết xin trích dẫn một nhận xét của nhà thơ Thai Sắc

về Trịnh Công Sơn: “Chính nhờ ngôn ngữ Trịnh Công Sơn giàu có hình ảnh nên nhiều tác phẩm của ông có tính hình tượng cao, có tính biểu tượng rõ nét Các tác phẩm: Cát bụi, Hạ trắng, Biển nhớ, Ở trọ, Bốn mùa thay lá, Hoa vàng mấy

độ, Một cõi đi về…là những ví dụ tiêu biểu Nổi bật nhất trong thơ Trịnh Công Sơn là tần số xuất hiện cao của hệ thống các biện pháp tu từ tiếng việt và hiệu quả đạt được khi sử dụng chúng Ta bắt gặp thường xuyên trong thơ ông lối so sánh, ẩn dụ, nhân hóa, cường điệu…được dùng một cách mới lạ, sáng tạo Đây chính là một trong những nét khu biệt làm nên sự độc đáo của ca từ Trịnh Công Sơn Ta nói ca từ của ông rất thơ cũng vì điều đó! Dường như phẩm chất giao tiếp của Trịnh Công Sơn là luôn luôn làm lạ hóa ngôn ngữ, luôn luôn sáng tạo để

Trang 35

làm giàu có thêm vốn tiếng mẹ đẻ vốn đã rất giàu có!”.[Dẫn theo bài viết Miền thơ Trịnh Công Sơn –Thai Sắc]

Ca khúc của Trịnh Công Sơn là một trong những hiện tượng đặc biệt của

nền âm nhạc Việt Nam Từ ca khúc đầu tay có tên Ướt mi xuất hiện đến nay,

hàng trăm tác phẩm của Trịnh Công Sơn như một miền gió hiền làm mát lành bầu khí quyển âm nhạc của nước nhà Những ca khúc ấy có sức mê hoặc lòng người đến kì lạ Nó không chỉ hấp dẫn người ta khi thưởng thức, chiêm ngưỡng

mà còn cuốn hút người ta tìm hiểu và khám phá

Với phạm vi của một luận văn, người viết chỉ chọn 50 nhạc phẩm tiêu

biểu mà mỗi chúng ta ít nhất đã từng một lần nghe qua để khảo sát như: Cát bụi,

Hạ trắng, Một cõi đi về… trong tổng số 600 ca khúc mà nhạc sĩ Trịnh Công Sơn

đã để lại cho đời Sau khi tiếp cận 50 ca khúc của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, người viết đã thống kê được một số các biện pháp tu từ được sử dụng trong ca khúc của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn theo bảng dưới đây:

STT

(Số thứ tự)

Các biện pháp tu từ nghệ thuật

Tần số xuất hiện (lần)

Tỉ lệ (%)

Nhìn chung, nếu ta tìm hiểu về âm nhạc của Trịnh Công Sơn thì ngoài những biện pháp trên, còn nhiều biện pháp khác mà ông sử dụng Nhưng ở đây, người viết chỉ đi vào những biện pháp tu từ xuất hiện phổ biến và dễ nhận diện nhất trong những ca khúc của ông

4 So sánh tu từ trong nhạc Trịnh

Trang 36

Trịnh Công Sơn là một nhạc sĩ, và cũng là một thi sĩ tự trong bản chất Mỗi nhạc phẩm của ông có thể đồng thời được xem là một thi phẩm với đầy ắp những nghệ thuật ngôn từ, trong đó nổi bật là những biểu thức so sánh tu từ - một thủ pháp nghệ thuật góp phần làm nên nét duyên trong lối diễn đạt ngôn ngữ Trịnh Công Sơn Khảo sát đặc điểm các yếu tố trong cấu trúc so sánh từ góc nhìn của Ngôn ngữ - Phong cách học, chúng ta cũng có thể tiếp cận giá trị của so sánh

tu từ trong biểu đạt nội dung tác phẩm nghệ thuật nói chung và ca từ Trịnh Công Sơn nói riêng

Một điều dễ thấy khi khảo sát các bài hát của Trịnh Công Sơn đó là sử dụng phong phú, đa dạng các biện pháp tu từ Với số lượng 50 bài hát, tần số xuất hiện của biểu thức so sánh là 69 lần chiếm 34.1% So sánh đã giữ một vị trí quan trọng, nó đã góp phần đắc lực vào việc làm cho ca từ của Trịnh Công Sơn trở nên khác lạ Nhờ có so sánh mà người nhạc sĩ đã xây dựng rất nhiều hình tượng độc đáo cũng như đã chuyên chở ý nghĩa của bài hát đến những ngõ ngách trong sâu kín tâm hồn người nghe

Các câu hát có chứa hình ảnh so sánh trong âm nhạc Trịnh:

1 Tôi như giọt nắng ngoài kia

2 Tôi như đứa bé dại khờ

3 Tôi như đường phố nhiều tên

4 Tôi như con chim nhỏ

5 Tôi như chim xa lạ

6 Tôi như chim xa bầy

7 Tôi như con chim bệnh thiếu hạnh phúc trần gian

8 Tôi như chim ưu phiền

9 Tôi như con chim chiều

Trang 37

17 Tình yêu như cơn bão

18 Tình yêu như biển

19 Tình yêu như nỗi chết

20 Tình mong manh như nắng

21 Tình như nắng vội tắt chiều hôm

22 Tình sẽ buồn như một nấm hoang

23 Tình như đá hoài những chờ mong

24 Chút tình dường như hiu hắt bay

25 Đâu ngờ tình như lá úa

26 Ru em tình như lá

27 Có chút tình thoảng như gió vội

28 Đời như vô tận

29 Đời người như gió qua

30 Đời sẽ buồn như một chiều nao

31 Đời sẽ buồn như một chiều hôm

32 Đời sẽ buồn như một chiều đông

33 Đời sẽ buồn như vết thương

34 Đời ta có khi là đốm lửa

35 Đời ta có khi tựa lá cỏ

36 Đời rộng thênh như im vắng tiếng rơi khô

37 Thấy đời mình là những chuyến xe

38 Thấy đời mình là những đám đông

39 Thấy đời mình là những quán không

40 Thấy đời mình là con nước trôi

41 Bốn mùa như gió

42 Bốn mùa như mây

43 Có người lòng như nắng qua đèo

44 Thân nhẹ nhàng như mây

45 Em ra đi như thoáng gió thầm

46 Vùng tuổi xanh thoảng bay như gió

47 Tưởng mình đang là cơn gió

48 Đất kia xanh tươi như cỏ cây

Trang 38

49 Sống chết mong manh như thân cỏ hèn

50 Dù ngày mai em như chim bay

51 Để mắt em cười tựa lá bay

52 Mặt trời như trái cây tuyệt vọng

53 Nhiều đêm thấy ta là thác đổ

54 Tấm lòng em như lá kia còn xanh

55 Em đã đến nơi này tựa như cánh én

56 Nắng có hồng bằng đôi môi em

57 Mưa có buồn bằng đôi mắt em

58 Đôi môi em là đốm lửa hồng

59 Môi em là đốm lửa

60 Chợt một chiều tóc trắng như vôi

61 Chợt thấy vui như trẻ thơ

62 Lạnh lùng như dấu chim

63 Như cánh chim bỏ rừng

64 Như trái tim bỏ tình

65 Như cánh chim chìm xuống

66 Như chim mỏi cánh rồi

67 Như chim xa lìa bầy

68 Như chim xa lìa cành

69 Như chim bỏ đường bay

Qua bảng khảo sát trên, người viết rút ra được:

 Cấu trúc so sánh

1 So sánh có đủ cả bốn thành tố: Đối tượng so sánh – cơ sở so sánh

– từ so sánh – đối tượng được so sánh Với số lượng 24 câu/ 69 câu hát được

Trang 39

2 So sánh có ba thành tố: Đối tượng so sánh – từ so sánh – đối

tượng được so sánh Với số lượng 45 câu/ 69 câu hát được khảo sát chiếm 65%

 Theo TS Nguyễn Văn Nở trong cuốn Phong cách học tiếng Việt nhận

định: “Về mặt nội dung, các đối tượng nằm trong hai vế là khác loại nhưng lại

có nét tương đồng nào đó, tạo thành cơ sở cho so sánh Nếu nét giống nhau này thể hiện ra cụ thể bằng từ ngữ (cơ sở giống nhau) thì ta có so sánh nổi; nếu nét giống nhau này không thể hiện ra cụ thể bằng từ ngữ (cơ sở giống nhau) thì ta có

Thương ai rồi lại nhớ ai,

Mặt em như thể nương khoai mới trồng

(Ca dao) Nét giống nhau giữa gương mặt buồn bã của người con gái khi thương nhớ người

yêu được so sánh với “nương khoai mới trồng” đã không được tác giả nói ra Và

chính điều này đã tạo ra nhiều sức gợi

Qua đó, chúng ta có thể xác định được cụ thể so sánh chìm và so sánh nổi trong nhạc Trịnh Công Sơn Với tổng số 69 câu hát được khảo sát có sử dụng hình ảnh so sánh thì so sánh chìm chiếm 45 câu với tỷ lệ 65% So sánh nổi với tỷ

lệ 35% Về mặt lý thuyết, so sánh nổi ít gợi lên sự liên tưởng so với so sánh chìm

vì nét giống nhau (cơ sở so sánh) đã được thể hiện cụ thể Qua đó, chúng ta thấy,

so sánh chìm và so sánh nổi có một sự khác biệt rõ rệt: Nếu so sánh nổi là những

quyết định chủ quan của người viết, người sáng tác đã được ấn định, đã được

Trang 40

hiện lên trên bề mặt của câu chữ Tức là trong một văn cảnh nào đó, ý kiến của tác giả đã đưa vào và người tiếp nhận có thể hiểu theo cách của tác giả đó Vì thế,

nó mang đầy tính chủ quan của người viết, của tác giả

Ví dụ

(1) (3) (4)

Tại đây, tác giả không nói đến lòng đó phải như thế nào? Chính điều này

đã tạo ra nhiều sức gợi Mỗi người đều có cách nhìn, cách đánh giá riêng của

mình Có người chọn cho mình “lòng ấm như nắng”, có người lại chọn “lòng cao như nắng”… Sự liên tưởng về nét giống nhau này sẽ được mở rộng tùy theo

năng lực ngôn ngữ và sự trải nghiệm cuộc sống của người tiếp nhận Vì thế, so sánh chìm đã tạo ra được nhiều cách hiểu Và đó là một đặc trưng độc đáo của so sánh chìm

Qua việc tìm hiểu về biện pháp tu từ so sánh, người viết rút ra được điều độc đáo, khác thường trong nhạc Trịnh Công Sơn, khi ông sử dụng biện pháp tu từ này vào trong âm nhạc của mình:

 Theo so sánh truyền thống: Cấu trúc so sánh có bốn thành tố:

Đối tượng so sánh – Cơ sở so sánh – Từ so sánh – Đối tượng được so sánh

Ngày đăng: 02/04/2018, 05:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Thị Tuyết Hạnh (số 12-1995) - Tính dung hợp triết lý trong ngôn ngữ ca từ Trịnh Công Sơn - Tạp chí Ngôn Ngữ Đời Sống Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính dung hợp triết lý trong ngôn ngữ ca từ Trịnh Công Sơn
2. Ban Mai (2008) - Trịnh Công Sơn - Vết chân dã tràng - Nhà xuất bản Lao Động - Trung tâm Văn Hóa Ngôn Ngữ Đông Tây, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trịnh Công Sơn - Vết chân dã tràng
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao Động - Trung tâm Văn Hóa Ngôn Ngữ Đông Tây
3. Bùi Vĩnh Phúc (2008) - Trịnh Công Sơn và những ám ảnh nghệ thuật - Nhà xuất bản Văn Hóa Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trịnh Công Sơn và những ám ảnh nghệ thuật
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn Hóa Sài Gòn
4. Trịnh Công Sơn (2008) – Những bài ca không năm tháng – Nhà xuất bản âm nhạc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bài ca không năm tháng
Nhà XB: Nhà xuất bản âm nhạc
5. Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Thụy Kha, Đoàn Tử Huyến (2002) - Một cõi Trịnh Công Sơn - Nhà xuất bản Thuận Hóa và Trung Tâm Văn Hóa Ngôn Ngữ Đông Tây, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một cõi Trịnh Công Sơn
Nhà XB: Nhà xuất bản Thuận Hóa và Trung Tâm Văn Hóa Ngôn Ngữ Đông Tây
6. Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Thụy Kha, Đoàn Tử Huyến (2001) - Trịnh Công Sơn, một người thơ ca, một cõi đi về - Nhà xuất bản Âm Nhạc và Trung tâm Văn Hóa Ngôn Ngữ Đông Tây, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trịnh Công Sơn, một người thơ ca, một cõi đi về
Nhà XB: Nhà xuất bản Âm Nhạc và Trung tâm Văn Hóa Ngôn Ngữ Đông Tây
7. Nguy ễn Thị Thu Thủy (2005) - Trịnh Công Sơn và ngôn từ trong những bản tình ca - Tạp chí Ngữ Học Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trịnh Công Sơn và ngôn từ trong những bản tình ca
8. Nhiều tác giả (2004) - Trịnh Công Sơn - Người hát rong qua nhiều thế hệ -Nhà xuất bản Trẻ.Các công trình mang tính lý thuyết Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trịnh Công Sơn - Người hát rong qua nhiều thế hệ
Nhà XB: Nhà xuất bản Trẻ. Các công trình mang tính lý thuyết
9. Dương Viết Á (2000) - Ca từ trong âm nhạc Việt Nam - Viện Âm Nhạc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca từ trong âm nhạc Việt Nam
10. Hữu Đạt (2000) - Phong cách học và phong cách chức năng Tiếng Việt - Nhà xuất bản Văn hóa Thông Tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học và phong cách chức năng Tiếng Việt
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa Thông Tin
11. Đinh Trọng Lạc (2005) - 99 phương tiện và biện pháp tu từ Tiếng Việt - Nhà xuất bản Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: 99 phương tiện và biện pháp tu từ Tiếng Việt
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo Dục
12. Đinh Trọng Lạc (chủ biên), Nguyễn Thái Hòa (2009) - Phong cách học Tiếng Việt - Nhà xuất bản Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học Tiếng Việt
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo Dục
13. TS. Nguyễn Văn Nở (2010) - Giáo trình Phong cách học Tiếng Việt - Đại Học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Phong cách học Tiếng Việt
14. PGS. Cù Đình Tú (2003) - Phong cách học và đặc điểm tu từ Tiếng Việt - Nhà xuất bản Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học và đặc điểm tu từ Tiếng Việt
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo Dục

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w