1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐIỂN TÍCH TRONG NGỤC TRUNG NHẬT ký của HỒCHÍ MINH

77 303 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 4,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

5 Ngục trung nhật ký của Hồ Chí Minh là một điển hình, một trong những tập thơ hay của văn học hiện đại.. Hai tác giả này đã nhận định: “Phần lớn điển tích được dùng đều đã biến thành t

Trang 1

1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

BỘ MÔN NGỮ VĂN 

Trang 2

ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT ĐIỂN TÍCH TRONG NGỤC TRUNG NHẬT KÝ

1.1 Về tác giả Hồ Chí Minh

1.1.1 Đôi nét về tiểu sử

1.1.2 Sự nghiệp sáng tác

1.1.3 Quan điểm nghệ thuật của Hồ Chí Minh

1.1.4 Những tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh

1.2 Giới Thiệu tác phẩm “Ngục trung nhật ký”

1.2.1 Hoàn cảnh ra đời

1.2.2 Thể thơ

1.2.3 Nội dung tác phẩm “Ngục trung nhật ký”

Trang 3

3

1.2.3.1 “Ngục trung nhật ký” là một tập nhật ký bằng thơ, thể hiện chân thực thái độ tình cảm của tác giả trước thực trạng đen tối ngột ngạt của chế độ nhà tù Quốc dân đảng Tưởng Giới Thạch

1.2.3.2 “Ngục trung nhật ký” là một tập nhật ký thể hiện tiếng lòng của Bác đã thành thơ

1.2.3.3 “Ngục trung nhật ký” đã thể hiện một tinh thần lạc quan phơi phới và một ý chí bất khuất kiên cường

CHƯƠNG 2 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA ĐIỂN TÍCH

2.1 Một số khái niệm điển tích, điển cố

2.2 Những đặc điểm chung của điển tích

2.3 Phân loại điển tích

2.4 Đặc tính tu từ của điển tích văn học

3.1 Việc dùng điển, lấy chữ trong Ngục trung nhật ký

3.1.1 Điển tích truyện

3.2.1 Điển tích chữ

3.3 Công dụng của việc sử dụng điển tích trong Ngục trung nhật ký

3.3.1 Dùng điển làm cho câu văn gọn gàng, ít chữ mà nhiều ý

3.3.2 Dùng điển khiến người đọc nhớ đến một sự tích xưa hoặc một câu văn cũ 3.3.3 Dùng điển làm cho lời văn trang nhã

3.3.4 Dùng điển củng cố thêm chứng cứ trong văn chương

3.4 Giá trị thẩm mỹ của điển tích trong Ngục Trung Nhật Ký

Trang 4

Việc sử dụng điển tích trong các tác phẩm văn chương làm tăng thêm tính hàm xúc, có tính biểu đạt cao Sự xuất hiện của điển tích, điển cố góp phần thể hiện sự uyên bác, uyên thâm của các nhà thơ Phần lớn, một số nhà nghiên cứu ít quan tâm đến nghệ thuật này, chỉ chú trọng đến những vấn đề khác Vì thế, việc tìm hiểu vấn

đề này góp phần làm cho nền văn chương thêm phong phú

Nhắc đến văn chương hiện đại, không thể bỏ qua tác phẩm Ngục trung nhật ký

của Hồ Chí Minh Tập thơ mang dấu ấn của thơ Đường, nhưng nó có phần dễ hiểu, giản dị, có sự mới mẻ Kế thừa văn chương cổ, Bác sử dụng điển tích vào tập nhật

ký, mà rất ít những nhà thơ thời này dùng điển tích như một phương tiện nghệ thuật Bác sử dụng rất hạn chế điển cố, điển tích, nhưng khi sử dụng thì rất sâu sắc,

điều đó làm nên nét đặc sắc của tác phẩm Đi vào tìm hiểu đề tài “Điển tích trong

Ngục trung nhật ký” của Hồ Chí Minh sẽ giúp chúng ta hiểu hơn một khía cạnh

nghệ thuật tạo nên nét đặc sắc của tập thơ Và đây là đề tài khá lý thú và bổ ích Chúng ta sẽ thấy rõ hơn giá trị của tập thơ trong lịch sử chữ Hán của dân tộc Đồng thời, nó là chìa khóa để phục vụ cho công việc nghiên cứu Hán nôm ở nhà trường

2 Lịch sử vấn đề

Việc sử dụng điển tích trong các tác phẩm văn chương hiện đại phần nhiều ít xuất hiện Nhưng có xuất hiện thì việc nghiên cứu vấn đề điển tích vẫn chưa thấu đáo, chưa đưa ra những lý giải nhằm giúp cho người đọc hiểu được rõ vấn đề Cho nên chưa đáp ứng được yêu cầu của người đọc và xã hội Có rất nhiều công trình nghiên cứu điển tích, điển cố xuất hiện: Văn học điển cố thuyết minh, Trung hoa điển cố Các công trình nghiên cứu này chỉ tập trung vào những phần mang tính điển hình và khái quát cao Do văn học hiện đại ít sử dụng điển tích vào trong tác phẩm, nếu có thì việc nghiên cứu nó vẫn chưa mang tính điển hình cao Tác phẩm

Trang 5

5

Ngục trung nhật ký của Hồ Chí Minh là một điển hình, một trong những tập thơ

hay của văn học hiện đại Phần nhiều một số nhà nghiên cứu chỉ quan tâm đến nội dung tinh thần yêu thiên nhiên, tinh thần thép, đặc điểm nghệ thuật của tập thơ nhưng quên đi một khía cạnh nghệ thuật, tạo nên sự thành công của tập thơ là điển tích

Tập thơ là một xã hội Trung Quốc thu nhỏ kể về sự bất công và tàn bạo của chế

độ Tưởng Một lượng điển tích được sử dụng khá công phu, mang ý nghĩa sâu sắc xuất hiện trong tác phẩm

Việc nghiên cứu, tìm hiểu nghệ thuật “ Điển tích trong Ngục trung nhật ký”

từ trước đến nay có được đề cập đến, nhưng chỉ dừng lại ở một chừng mực nào đó

Vì vậy, việc tìm hiểu nghệ thuật dùng điển tích trong tác phẩm này là điều hết sức cần thiết Mặc dù, các điển tích điển cố trong tập thơ được nhiều học giả chú thích khá cụ thể và chi tiết Nhưng người đọc cũng cần có một trình độ nhất định mới có thể tiếp thu được cái hay ý nghĩa sâu sắc mà tác giả muốn gửi đến qua câu thơ Từ

trước đến nay đã có một số công trình nghiên cứu “Điển tích trong Ngục trung

nhật ký” phải kể đến như:

Tạp chí Hán nôm số 4 (83) 2007 có bài nghiên cứu “Điển tích trong Ngục

trung nhật ký” của Nguyễn Thế Nữu và Trần Hữu Dinh Đây là bài viết cũng khá

hoàn chỉnh khi nêu ra một số điển tích có trong tập nhật ký Hai tác giả này đã nhận

định: “Phần lớn điển tích được dùng đều đã biến thành thành ngữ được dùng phổ

biến trong ngôn ngữ Trung Quốc, nhưng cũng có một số điển tích, ý nghĩa khá thâm thúy, văn vẻ, có nguồn gốc sâu xa, ít người biết rõ xuất xứ Để hiểu sâu sắc, thấu đáo Ngục trung nhật ký, thiết tưởng ta cũng nên tìm hiểu kỹ nguồn gốc và ý nghĩa của các điển tích này” [13; tr.16] Bài nghiên cứu khá đầy đủ, đưa người

đọc hiểu hơn về một khía cạnh nghệ thuật đưa đến thành công của tập thơ

Tác giả còn chia điển tích trong Ngục trung nhật ký thành điển tích chữ và điển

tích truyện Và sắp xếp theo thứ tự a,b,c của chữ đầu điển tích để mọi người tham khảo một cách dễ dàng

Trong bài nghiên cứu “Âm vang thơ Đường” của Giáo sư Lương Duy Thứ

nằm trong tập Suy nghĩ mới về Nhật ký trong tù Giáo sư đã chỉ ra chất Đường thi

trong tập thơ Nhưng có sự cách tân đổi mới của Bác, đó là không theo lối mòn cũ

và làm một cách máy móc Vì vậy đã làm nên nét đặc sắc của thơ Bác như Hoàng

Đình Kiên đời Tống nhận định : “Văn chương quý bất tùy nhân hậu” (Cái quý của văn chương là không theo đuôi người khác) Âm vang thơ Đường trong Ngục trung

nhật ký do nhiều yếu tố mang lại nhưng nhìn chung việc sử dụng điển tích cũng là

một trong những yếu tố quan trọng góp phần tạo nên chất Đường thi Tác giả bài

viết đã nhận định “Chính vì tâm hồn thơ chung đúc khí thiêng các nền văn hóa nên

đọc văn thơ Hồ Chí Minh người ta thấy thấp thoáng đâu đây cái tinh thần thâm thúy và cô đúc như những điển cố của văn chương Tả truyện, chiến quốc sách…”

[2; tr 181] Cũng trong bài viết này Giáo sư Lương Duy Thứ nói: “Cũng có thể tìm

thấy trong Nhật ký trong tù những điển cố Trung Quốc thường được vận dụng như những ước lệ thẩm mỹ trong thơ Đường – Tống như Bá Di, Thúc Tề, Quan Vũ, Trương Phi, “Tuyết trung tống thán” (Cho than khi tuyết xuống) v.v…Hơn thế nữa,

Trang 6

có thể tìm thấy cả một bài gần như mô phỏng bài Thanh Minh của Đỗ Mục”

[2; tr 182]

Từ hai nhận định trên, chúng ta thấy bài viết đã một phần đề cập đến đề tài sử

dụng điển tích trong tập thơ Ngục trung nhật ký, nhưng chỉ nêu chung chung,

không đầy đủ

Trong Tạp chí Văn học số 9 – 1999 của Vũ Thị Kim Xuyến có bài “Truyền

thống văn hóa trong thơ chữ Hán Hồ Chí Minh” đã nhận định: “Quả thật, trong

thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh có nhiều bài thơ, câu thơ, tứ thơ, hình ảnh, từ ngữ, màu sắc, âm thanh, nhịp điệu được ông vận dụng tiếp thu có sáng tạo Học tập các nhà thơ cổ khi làm thơ phú theo luật Đường thi, Hồ Chí Minh cũng dùng “điển” mượn “chữ” trong thơ Đường Vì vậy, thơ Đường đã ảnh hưởng sâu sắc, đậm nét trong tâm trí Hồ Chí Minh Nhưng người đã vận dụng một cách sáng tạo”

[20; tr 23]

Bài nghiên cứu này cũng đã nêu lên được cái sáng tạo trong thơ của Bác đó là việc mượn hình ảnh thơ Đường có sử dụng điển tích, để thể hiện nỗi lòng của Bác Không sao chép một cách nguyên mẫu, máy móc, mà Bác còn vận dụng một cách

mới mẻ trên cơ sở kế thừa “Hồ Chí Minh là người am hiểu sâu sắc văn hóa cổ

Trung Hoa, người biết kế thừa để cách tân và ngược lại cách tân trên cơ sở kế thừa.” [20; tr 23] Hơn nữa, tác giả bài viết còn nêu lên được bút pháp cổ điển mà

Bác vận dụng trong thơ Tuy bài viết chưa giải quyết được khía cạnh nghệ thuật

điển tích trong Ngục trung nhật ký nhưng một phần đã làm cho chúng ta hiểu hơn

cái tài của Bác trong việc vận dụng điển tích

Nhìn chung, Vũ Thị Kim Xuyến và Giáo sư Lương Duy Thứ đều có chung một nhận định, việc sử dụng điển ấy chính là sự gặp gỡ sâu sắc, chứ không hề mô phỏng bắt chước

Các công trình nghiên cứu này đều làm nổi bật vấn đề là thơ Bác có sử dụng điển tích Cái tài của việc vận dụng ấy là phải am hiểu và có kiến thức sâu rộng về văn hóa Trung Hoa Chính điều này làm cho thơ Bác mang âm hưởng của Đường thi, sâu sắc trữ tình Tuy nhiên, các công trình này chưa nghiên cứu một cách đầy

đủ về điển tích trong Ngục trung nhật ký nhưng nó góp phần định hướng đề tài của

chúng tôi Qua đó, chúng tôi sẽ tiếp thu ý kiến mà những nhà nghiên cứu đã đưa ra,

để từ đó chúng tôi có định hướng chính xác về đề tài này để hoàn thiện, sâu sắc đề tài này hơn

3 Mục đích nghiên cứu:

Tập thơ Ngục trung nhật ký là cuốn nhật ký viết về những sự việc xảy ra thường

ngày khi Bác bị giam giữ ở nhà tù Việc nghiên cứu tập thơ này là rất cần thiết cả nội dung lẫn nghệ thuật, nhưng ở đây chỉ nghiên cứu một khía cạnh sử dụng điển tích, điển cố trong tác phẩm Muốn nghiên cứu, tập thơ này trước tiên chúng ta phải xác định được mục đích nghiên cứu đề tài, để đạt hiệu quả tốt nhất Việc nghiên

cứu đề tài “Điển tích trong Ngục trung nhật ký” của Hồ Chí Minh có hai mục

tiêu đặt ra đó là: Thứ nhất tìm hiểu khái niệm điển tích là gì? Những đặc điểm

Trang 7

7

chung của điển tích Phân loại điển tích và đặc tính tu từ Thứ hai là điển tích trong

“Ngục trung nhật ký” của Hồ Chí Minh

4 Phạm vi nghiên cứu:

Phạm vi nghiên cứu: Tác phẩm Ngục trung nhật ký của Hồ Chí Minh, phần

nghệ thuật Văn chương hiện đại ít đề cập đến điển tích, điển cố Nhưng kế thừa từ văn học cổ, Bác đã tạo nên tập nhật ký, viết bằng chữ Hán, có các điển tích mang ý nghĩa thâm thúy, nói ít hiểu nhiều Tập nhật ký được đánh giá rất cao, từ nội dung

đến hình thức nghệ thuật Nghiên cứu “Điển tích trong Ngục trung nhật ký” là

để tìm hiểu về một phương pháp nghệ thuật rất cổ điển là sử dụng điển tích trong

văn chương Ở tác phẩm Ngục trung nhật ký, Bác Hồ đã sử dụng rất thành công

biện pháp nghệ thuật này

5 Phương pháp nghiên cứu:

Trong quá trình nghiên cứu đề tài chúng tôi sử dụng một số cách tiếp cận sau: Phương pháp khảo sát: Xem xét qua tất cả tư liệu rồi phân loại, liệt kê nó, ghi lại những dẫn chứng phù hợp

Phương pháp phân tích, tổng hợp: phân tích các dẫn chứng nhằm làm nổi bật các luận điểm cần triển khai Sau đó thâu tóm, khái quát chúng lại thành những đúc kết mang tính kết luận vấn đề

Phương pháp diễn dịch: đưa ra những ý kiến rồi dùng lý lẽ của mình để làm rõ vấn đề được nói đến

Phương pháp so sánh: đi sâu vào so sánh một số khía cạnh nào đó có liên quan đến một số vấn đề cần chứng minh

Trang 8

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Về tác giả Hồ Chí Minh

đỗ phó bảng, bị bọn thống trị thúc ép nhiều lần, cụ ra làm quan, nhưng thường tỏ thái

độ tiêu cực, không hợp tác với chúng Vốn có tinh thần yêu nước, khảng khái, cụ thường chống đối bọn quan trên và bọn thực dân Pháp, cho nên sau một thời gian rất ngắn, cụ bị chúng cách chức Cụ vào Nam bộ làm nghề thầy thuốc, sống cuộc đời thanh bạch, cho đến lúc từ trần

Thân mẫu của Hồ Chủ tịch là Nguyễn Thị Thanh, tức Bạch Liên (1884 - 1954),

và anh của Người là Nguyễn Sinh Khiêm, tức Nguyễn Tất Đạt (1888 – 1950), đều tham gia phong trào chống thực dân Pháp và bị tù đày

Hồ Chủ tịch là con thứ ba trong gia đình Lúc nhỏ, người là học trò thông minh, chăm chỉ học tập và ham tìm hiểu những điều mới lạ Ngoài những sách phải học, Người con ham đọc truyện và thơ ca yêu nước Những chuyện anh hùng liệt sĩ ở địa phương ; những buổi đàm luận về thời cuộc giữa cụ Phó bảng với những nhà yêu nước khác mà Người được nghe đã sớm giáo dục cho Người tinh thần yêu nước, thương nòi,

Trang 9

9

Người sống cho nhân dân, hằng ngày được trông thấy cảnh bà con nông dân bị hành

hạ tàn nhẫn vì thiếu tiền nạp tô, nộp thuế, hoặc bị bắt đi phu làm đường Người rất đau xót trước cảnh thống khổ của đồng bào và bắt đầu có chí căm thù quân cướp nước và bọn tay sai bán nước

Người lớn lên từ các phong trào yêu nước như: phong trào Cần Vương mà tiêu biểu nhất là cuộc khởi nghĩa Yên Khê do Phan Đình Phùng lãnh đạo, cuộc khởi nghĩa Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo bị thất bại

Vào mùa hè năm 1908, Chủ tịch Hồ Chí Minh thôi học, rời Huế đi vào Nam và người đã dừng chân dạy học ở trường Dục Thanh – Phan Thiết một thời gian Trong những ngày dạy học ở trường Dục Thanh, người không chỉ truyền thụ cho học sinh những kiến thức văn hóa mà còn chú trọng giáo dục tinh thần yêu nước thương dân cho học trò mình

Ít lâu sau, Chủ tịch Hồ Chí Minh vào Sài Gòn Sau một thời gian ngắn ở Sài Gòn, ngày 5 tháng 6 năm 1911, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lên tàu La touche Tréville đi

ra nước ngoài với mong muốn thực hiện được hoài bão cứu nước của mình Người từng hoạt động ở nhiều nước thuộc Châu Âu, Châu Phi, Châu Á, Châu Mỹ nhưng chủ yếu là ở Pháp Năm 1919, thay mặt những người Việt Nam ở Pháp, người gửi tới Hội

nghị hòa bình ở Vecxay bản yêu sách “Quyền các dân tộc” Năm 1920, Nguyễn Ái

Quốc tham gia thành lập Đảng Cộng Sản Pháp Ngày 3/2/1930, Người chủ trì Hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản thành lập Đảng Cộng Sản Đông Dương tại Hương Cảng – Trung Quốc Tháng 2 năm 1941, Nguyễn Ái Quốc về nước thành lập Mặt trận Việt Minh Từ khi về nước, Nguyễn Ái Quốc lấy tên Hồ Chí Minh: đọc bản tuyên ngôn độc lập, tiếp tục lãnh đạo cuộc kháng chiến chống pháp và chống Mỹ đến thắng lợi

Ngoài tên gọi Hồ Chí Minh và tên Nguyễn Tất Thành do gia đình đặt, trong cuộc đời hoạt động cách mạng, Bác còn có nhiều tên gọi và bí danh khác như: Nguyễn

Ái Quốc, Paul Tất Thành, Văn Ba, Lý Thụy, Hồ Quang, Vương Tống Văn Sơ, Trần, Chín, Chen Vang

Bác còn dùng hơn 50 bút danh khi viết sách, báo: Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn, Nguyễn A.Q, Ng Ái Quốc, Wang

Người mất vào ngày 02/9/1969 tại Hà Nội vì bệnh nặng Có thể nói, ngoài sự nghiệp cách mạng vĩ đại, Bác còn để lại cho đời sau nhiều tác phẩm văn chương có giá

trị nghệ thuật mà trong số đó có tập Ngục trung nhật ký

Trang 10

nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân và đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc Các tác phẩm tiêu biểu ở giai đoạn này là Bản án chế độ thực dân Pháp và những bài báo bằng tiếng Pháp (bút danh Nguyễn Ái Quốc) đăng trên các tờ báo ở Pari như: Người cùng khổ, Nhân đạo, Đời sống thợ thuyền v.v Nội dung của các tác phẩm này thể hiện tính chiến đấu mạnh mẽ, tập trung lên án chế độ thực dân Pháp, tố cáo chính sách cai trị và bốc lộ vô nhân đạo của Pháp ở các nước thuộc địa đoàn kết, liên hiệp lại, vùng lên đấu tranh để giành độc lập Sức lôi cuốn và thuyết phục mạnh mẽ của các tác phẩm chính luận này không chỉ ở cách viết sắc sảo, đầy chất trí tuệ và hóm hỉnh, ở những cứ liệu, sự việc chân thực, phong phú, chính xác mà còn ở tình cảm sâu sắc và nhiệt huyết cách mạng mãnh liệt của tác giả

Từ sau Cách mạng tháng Tám thành công, những tác phẩm chính luận của người bám sát từng chặng đường cách mạng, thể hiện những sự kiện, những nhiệm vụ

chính trị trọng đại của dân tộc Những tác phẩm tiêu biểu là: Tuyên ngôn độc lập

(1954), tuyên bố chế độ chấm dứt thực dân phong kiến và mở ra một kỉ nguyên độc

lập mới cho dân tộc Việt Nam, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (1946) và Không có

gì quý hơn độc lập tự do (1966) vang lên tiếng gọi thống thiết, thiêng liêng của non

sông đất nước vì được viết trong những giờ phút thử thách đặc biệt của dân tộc, trước

họa xâm lăng của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ; Di chúc là tác phẩm được viết trước

khi Người qua đời, để lại “muôn vàn tình thương yêu” cho dân tộc và những lời căn dặn sâu sắc với các thế hệ cách mạng về những vấn đề chiến lược hệ trọng của Đảng

và đất nước

Văn chính luận của Hồ Chí Minh không chỉ được viết bằng một trí tuệ uyên bác, sáng suốt, một văn phong chặt chẽ, súc tích, giọng điệu hào sảng, giàu tính biểu cảm mà còn bằng cả tấm lòng yêu nước nồng nàn, sâu sắc, bằng nhiệt huyết cách mạng sục sôi và một trái tim vĩ đại mà chân thành, tha thiết nên đã tạo được sức lôi cuốn, thuyết phục lớn với người đọc

Truyện và kí:

Trong thời gian hoạt động cách mạng ở Pháp, Nguyễn Ái Quốc sáng tác một số

truyện ngắn và bút kí bằng tiếng Pháp: Lời than vã của bà Trưng Trắc (1922), Con

người biết mùi hun khói (1922), Đồng tâm nhất trí (1922), Vi hành (1923), Những trò

lố hay Varen và Phan Bội Châu (1925) Nội dung chủ yếu nhằm tố cáo tội ác vô nhân

đạo của thực dân Pháp và bọn phong kiến tay sai đối với nhân dân lao động Việt Nam

và các nước thuộc địa, đề cao những tấm gương yêu nước và cách mạng Nghệ thuật tiêu biểu của các tác phẩm truyện kí nói trên là ngắn gọn, sắc sảo, biến hóa linh hoạt

và đầy tính chất châm biếm nhưng cũng rất thâm trầm sâu sắc

Sau cách mạng tháng Tám 1945 Hồ Chí Minh viết một số tác phẩm hồi kí có

tính chất tự truyện như: Vừa đi đường vừa kể chuyện (1963) với bút danh T.Lan,

Những mẫu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch (1964) với bút danh Trần Dân

Tiên v.v

Thơ ca, có ba giai đoạn sáng tác và cũng hình thành 3 mảng chính:

Ngục trung nhật ký là một tập thơ chữ Hán, được viết trong thời gian Người bị

cầm tù tại các nhà tù Tưởng Giới Thạch ở Quảng Tây, Trung Quốc

Trang 11

11

Những bài thơ chữ Hán và thơ tiếng Việt viết trong Kháng chiến chống Pháp từ

1941 – 1945 và trong thời kì kháng chiến có hai dạng: viết với mục đích tuyên truyền

có tính chất nôm na, dân giã như Ca dân cày, Ca binh lính, Ca công nhân và những bài thơ viết theo cảm hứng nghệ thuật như Pác Bó hùng vĩ, Tức cảnh Pác Bó, Đăng

sơn, mang đậm màu sắc cổ điển và hiện đại, làm nổi bật hình ảnh một con người

mang nặng nỗi âu lo việc lớn của “nước nhà” nhưng vẫn luôn hòa hợp với thiên nhiên, ung dung tự tại, làm chủ tình thế và tinh tưởng vững chắc vào tương lai tươi sáng, mặc

dù cuộc kháng chiến trước mắt còn biết bao gian nan thử thách

Những bài thơ chúc tết của Hồ Chí Minh được viết liên tục từ năm 1946 đến trước khi Người qua đời năm 1969 nhằm tổng kết những chủ trương, thành quả lớn của đất nước một giai đoạn cách mạng qua từng năm, nhưng vẫn thấm đượm màu sắc trữ tình và giàu tính nghệ thuật, có sức thu hút, động viên rất lớn đối với toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta trên các mặt trận chiến đấu và sản xuất, công tác

1.1.3 Quan điểm nghệ thuật của Hồ Chí Minh

Chủ tich Hồ Chí Minh là một nhà quân sự lỗi lạc, nhà văn hóa lớn, nhà chính trị tài ba, một nhà văn, nhà thơ có nhiều đóng góp cho nền văn chương hiện đại nước nhà Đến với văn chương nghệ thuật, Người không chỉ sáng tác mà còn đưa ra những quan điểm sáng tác nghệ thuật của mình:“Cái bút là vũ khí sắc bén, bài báo là tờ hịch cách mạng.” [11; tr.55] Hay :“Hiện đại thi trung ưng hữu thiết - Thi gia dã yến hội xung phong.” [16; tr.102]

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xem trọng vai trò và chức năng của chủ thể sáng tạo, nên đối với Người: người nghệ sĩ cần phải rèn luyện đạo đức, giữ vững lập trường, rèn luyện tư tưởng chính trị, ý chí phấn đấu, tinh thần trách nhiệm, không ngừng nâng cao trình độ để mài dũa ngòi bút ngày một sắc bén hơn nhằm làm tốt nhiệm vụ của người nghệ sĩ trên trận tuyến chống quân thù, chống lại cái ác, phê bình những cái xấu còn tồn tại trên xã hội trên tinh thần “thật thà, chân chính, đúng đắn” mà vẫn đảm bảo tính nghệ thuật của tác phẩm, không đánh mất vai trò tưởng tượng trong sáng tạo nghệ thuật, đồng thời ca ngợi “những người mới, việc mới” góp phần xây dựng cuộc sống tốt hơn, đẹp hơn Hơn thế nữa, trong sự nghiệp “phò chính trừ tà”, người chiến sĩ văn hóa cần phải biến ngòi bút của mình thành một thứ vũ khí hữu hiệu:

“Dùng bút làm đòn chuyển xoay chế độ Mỗi vần thơ, bom đạn phá cường quyền”

(Sóng Hồng) Quan điểm xem thơ văn là vũ khí trong sự nghiệp “phò chính trừ tà” còn thể hiện thái độ đề cao vị thế văn nghệ, vai trò to lớn của văn học nghệ thuật đối với sự nghiệp cách mạng vĩ đại của đất nước Khi dân tộc xung trận thì văn nghệ sĩ cũng xung trận Từ đó văn nghệ không chỉ tiếp sức cho dân tộc mà còn tạo nên sức mạnh tinh thần cho toàn dân tộc Cho đến sau này, quan điểm văn nghệ của Bác còn được phát huy mạnh mẽ như lời khẳng định trong Báo cáo chính trị tại Đại hội toàn quốc lần

thứ VI của Đảng (12-1986): “Không có hình thái tư tưởng nào có thể thay thế được

văn học và văn nghệ trong việc xây dựng tình cảm lành mạnh, tác động sâu sắc vào

Trang 12

việc đổi mới nếp nghĩ, nếp sống của con người” [16; tr.103] Cũng nhờ vậy, trải qua

hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc, văn hóa nghệ thuật đã góp phần to lớn vào việc nâng nền văn học, nghệ thuật Việt Nam lên tầm cao của thời đại như lời biểu

dương của cố Tổng bí thư Lê Duẩn: “Với những thành tựu đã đạt được, chủ yếu trong

việc phản ánh hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc Văn học nghệ thuật dưới ánh sáng quan điểm của Bác đã thực sự mang đậm bản sắc Việt Nam, tinh thần và sức mạnh Việt Nam khi nền văn học này thực sự là một bộ phận khăng khít với toàn bộ sự nghiệp cách mạng của đất nước và của dân tộc” [16; tr.103]

Hồ chủ tịch không có ý định trở thành một nhà văn, nhà thơ: Vì trách nhiệm của một người dân mất nước, dường như Người đã linh cảm con đường tương lai của mình không phải là con đường khoa cử văn chương

Sinh thời không nhận mình là nhà văn, nhà thơ Trong Ngục trung nhật ký , Người viết: “Lão phu nguyên bất ái ngâm thi”

Thơ văn của Người viết ra điều mang đặc tính: trước hết về cuộc đời hoạt động cách mạng, Bác dùng văn thơ như là một phương tiện để tuyên truyền, phục vụ cách mạng

1.1.4 Những tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh

* Những tác phẩm ký tên Nguyễn Ái Quốc:

+ Truyện “Giấc ngủ 10 năm” (1949)

+ Thơ Hồ Chí Minh gồm một số bài viết: chữ Quốc ngữ và chữ Hán từ 1941 đến 1969 Ngoài ra có nhiều bút ký, truyện ngắn, Bác viết ở Pháp, Thái Lan, Trung Quốc Bác còn dịch cuốn “Tỉnh ủy bí mật” của Phê-đô-rốp Năm 1974, nhà xuất bản đã cho in 6 truyện ngắn và bút ký của Hồ Chí Minh khi Người hoạt động cách mạng ở Pháp

1.2 Giới Thiệu tác phẩm “Ngục trung nhật ký”

1.2.1 Hoàn cảnh ra đời

Tháng 1 – 1941, sau 30 năm hoạt động ở nước ngoài, Bác về nước, để chỉ đạo cách mạng trong nước Tháng 5 năm ấy, Hội nghị lần 8 của Trung ương Đảng họp ở hang Pắc bó dưới sự chủ tọa của Người, quyết định thành lập Việt Nam độc lập đồng

Trang 13

13

minh hội tức là Mặt trận Việt Minh để đoàn kết đông đảo nhân dân đuổi Nhật, giải phóng dân tộc Cần tranh thủ thêm sự giúp đỡ của đồng mình, mà đồng minh gần ta nhất là Trung Quốc Người hiểu biết Trung Quốc hơn ai hết, nên Trung ương cử Người đi Trùng Khánh nhằm mục đích tranh thủ sự viện trợ của chính phủ Tưởng Giới Thạch, bên trong thì đặt quan hệ với Đảng Cộng Sản Trung Quốc Bây giờ Người lấy tên là Hồ Chí Minh

Đi suốt 10 ngày 5 đêm, đến thị trấn Túc Vinh thuộc tỉnh Quảng Tây, bị khám xét, đồng chí người Trung Quốc dẫn đường không có giấy tờ bị bắt theo Bọn bộ hạ của Tưởng cho là Bác sang phá tổ chức ‘Việt Nam cách mạng đồng chi hội” của Trương Công Bội và Nguyễn Hải Thần do chúng đỡ đầu Cũng bởi thế cho nên những bức điện của Bác gửi cho bọn cầm quyền trong chính phủ Tưởng đều không được trả lời

Chúng giải Người đi khắp nơi, tay bị trói, cổ mang vòng xích, dầm mưa dãi nắng, trèo núi, vượt đèo Hơn 1 năm trong nhà tù Tưởng Giới Thạch, Người đã làm

134 bài thơ in trong cuốn “Nhật Ký trong tù” trong đó có bài “Mới ra tù tập leo núi” làm sau khi Người mới ra khỏi tù nhưng Nhà xuất bản Văn học vẫn in chung trong tập

“Nhật ký trong tù”, xuất bản năm 1960

Tháng 5 – 1990, kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Người, người ta đã tìm được

20 bài thơ chữ Hán viết trong thời kì Bác bị giam giữ trong nhà tù Tưởng Giới Thạch

Như vậy, Ngục trung nhật ký có 134 bài thơ bằng chữ Hán

Hồ Chí Minh bị bắt ở Quảng Tây ngày 29 – 8- 1942, được trả tự do ngày 10 – 9 – 1943, một năm sau đó, tức là tháng 9 – 1944, nhà đương cục Trung Quốc mới để

Bác về nước Bác viết Ngục trung nhật ký trong hoàn cảnh ấy Ở đây, thơ bật ra ngoài

ý muốn của Người

Ngục trung nhậ ký là cuốn nhật ký ghi chú sự việc xảy ra trong những ngày Bác

bị giam giữ Ngục trung nhật ký viết bằng thơ chữ Hán không phải là một bài thơ

trường thiên liền mạch mà là nhiều bài, mỗi bài viết về một vấn đề, thể điệu có thay đổi nhưng phần lớn là thơ thất ngôn tứ tuyệt

Thơ văn trong tù xưa nay có nhiều bài nổi tiếng như Thi tù tùng thoại của Huỳnh Thúc Kháng, Xiềng xích của Tố Hữu Văn học thế giới có tác phẩm vĩ đại Viết

dưới giá treo cổ M Phuxich và Ngục trung nhật ký của Hồ Chí Minh là một điều hiếm

1.2.1 Thể thơ

Phần lớn những bài thơ trong tập Ngục trung nhật ký đều thuộc thể thất ngôn tứ

tuyệt luật đường Bên cạnh đó còn có một số bài thể tự do, ngũ ngôn tự do, không phân biệt số câu (5 chữ 8 câu, 5 chữ 10 câu, 5 chữ 12 câu) và thất ngôn bát cú biến thể

nhưng chỉ chiếm một lượng nhỏ trong toàn tập Ngục trung nhật ký

1.2.2 Nội dung tác phẩm “Ngục trung nhật ký”

Trang 14

1.2.2.1 “Ngục trung nhật ký” là một tập nhật ký bằng thơ, thể hiện chân thực thái độ tình cảm của tác giả trước thực trạng đen tối ngột ngạt của chế

độ nhà tù Quốc dân đảng Tưởng Giới Thạch

Xã hội Trung Quốc thời kỳ 1942 - 1943 mục rỗng từ lâu Ngục trung nhật ký đã

ghi lại sự việc Bác đã phải sống, đã chứng kiến Qang cảnh Bác nhìn thấy ở những nơi

bị giam hay bị giải đi qua: chuyện bị bắt ở Túc Vinh, sáng trưa chiều tối Chuyện cái cùm, dây trói, cảnh người tù cờ bạc bị chết Đây là đặc trưng của bút pháp tả thực, đứng ở một góc độ nhất định cách rõ ràng, chính xác Bác đã đứng ở góc độ người tù nhân đã từng nếm trải mọi cực hình, chứng kiến mọi sự việc xảy ra trong nhà tù Tưởng Giới Thạch

Trước hết hãy nói đến sự bất công vô lý trong nhà tù Vị lãnh tụ của Cách mạng Việt Nam vừa sang khỏi biên giới đã bị bắt và đưa ngay vào nhà tù của bọn Tưởng:

“Ta là đại biểu dân Việt Nam Tìm đến Trung Hoa để hội đàm

Ai ngỡ đất bằng gây sóng gió Phải làm “khách quý” tại nhà giam”

(Đường đi khó khăn) Cái gì đang chờ Bác ở đó? Nhất là khi chúng biết Bác là một người cộng sản

Mà đường lối sử thế đối với Đảng viên cộng sản hồi bấy giờ là “Thà giết oan một trăm, còn hơn là để một tên chạy thoát”

Đặt chân lên đất Trung Quốc, Bác bị bắt ngay ở phố Túc Vinh “Túc Vinh khước sử dư mông nhục” Lối chơi chữ “vinh – nhục” nhưng quan trọng nhất đối với con người là vấn đề danh dự Nhà tù Quốc dân đảng Tưởng Giới Thạch đã chà đạp lên nhân quyền con người Bọn quân phiệt khắp nơi trên thế giới là một lũ vô pháp, vô thiên

Chế độ xã hội Trung Quốc thời Tưởng mục nát từ bao đời thì nhà tù đâu còn là nơi giáo dục, cải tạo mà ngược lại tội ác tha hồ mà phát triển Một điều vô lý hết sức, ở ngoài đánh bạc bị bắt, vào tù tha hồ đánh bạc bởi vì đánh bạc ở ngoài làm rối ren trật

tự, đẻ ra trộm cắp, phạm đến quyền bốc lột và quyền tư hữu của bọn quan liêu Cho nên ở đây, có tiền thì mua cơm mà ăn, không có tiền thì chết đói:

“Tù cứng ngày ngày no rượu thịt

Tù nghèo nước mắt, bọt mồm tuôn”

(Tù cờ bạc) Vào tù không cần hối cải, phục thiện, thậm chí tha hồ gây tội, tha hồ đánh bạc:

Trang 15

Bọn chúng không hề đếm xỉa đến công lý, pháp luật Ngục trung nhật ký có hai

bài thơ Bác nhắc đến việc trốn lính, vợ phải tù thay cho chồng Mà đi lính để làm gì? Không phải để kháng Nhật, mặc dù Nhật đánh chiếm khắp nơi, mà để tấn công Hồng quân Liên Xô, Trung Quốc và để khai tăng con số cho nhiều để kiếm viện trợ cho Mỹ

Trong tập thơ có hai bài thơ Bác viết về cảnh người vợ phải đi tù thay chồng

Đã là công lý thì ai làm nấy chịu Thế nhưng nhà tù Tưởng Giới Thạch sổ toẹt tất cả, chà đạp tất cả Hơn thế nữa chúng còn bắt cả trẻ em vào tù:

“Sỡ dĩ ngã niên tài bán tuế”

(Cháu bé trong nhà lao Tân Dương) Nhà tù của bọn Tưởng đã trở thành nơi đầu cơ hối lộ Vào tù phải nộp tiền giam, phải mua chỗ ngủ như ở quán trọ, nếu không thì phải nằm cạnh hố xí, thổi cơm đun nước đều phải trả tiền cả:

“Thổi một nồi cơm trả sáu hào Nước sôi mỗi chậu, một đồng trao Một đồng, của đáng sáu hào chỉ Giá cả trong tù định rõ sao!”

(Tiền công) Nhưng nét miêu tả trên đâu phải là những nét cá biệt Mười tám nhà tù, Bác đã miêu tả nhiều hay ít đều như thế Nếu ngoài xã hội mà liêm chính, không có cảnh hối

lộ công khai, phổ biến thì những chuyện quái gỡ ấy lại thành lệ trong nhà lao

Ngục trung nhật ký phải đâu chỉ tố cáo xã hội gián tiếp quan cảnh tượng nhà

lao, nó vươn ra ngoài diễn tả cái xã hội “thái bình” của từng ban trưởng suốt ngày đánh bạc, cao hơn một bậc cảnh trưởng chạy quanh làm tiền, trên một bậc nữa là huyện trưởng chong đèn hút thuốc phiện Bác đã sử dụng thứ vũ khí châm biếm để nói lên cái vô lý, cái lố lăng, cái tàn nhẫn đang ngự trị trong xã hội Trung Quốc thời bấy giờ:

“Ban trưởng nhà lao chuyên đánh bạc Gải người cảnh trưởng kiếm ăn quanh

Trang 16

Chong đèn huyện trưởng làm công việc Trời đất Lai Tân vẫn thái bình”

(Ở Lai Tân)

Tóm lại, toàn bộ những cảnh tượng đã xảy ra trong Ngục trung nhật ký là hình

ảnh thu nhỏ của một xã hội Trung Quốc thời bấy giờ Biết bao những thói nát bất công

và tàn bạo của chế độ Tưởng đang đè nặng lên cuộc sống của dân lành Nói đến sự bất

công ngang trái của chế độ nhà tù Tưởng Giới Thạch những bài thơ trong Ngục trung

nhật ký như một cái tát vào mặt kẻ thù Chất thép của Ngục trung nhật ký là ở đó

1.2.2.2 “Ngục trung nhật ký” là một tập nhật ký thể hiện tiếng lòng của Bác đã thành thơ

Nói đến tâm hồn có nghĩa là nói đến tình cảm mà trước hết là nói đến tình yêu thương con người của Bác Trong văn học nhất là văn học cổ điển, có những trường

hợp tư tưởng tác phẩm tự đặt ra những vấn đề mà tác giả không hề nghĩ tới như truyện

Kiều của Nguyễn Du Với Ngục trung nhật ký thì trái lại, Bác chưa nói hết được những

điều muốn nói Nhưng không phải vì thế mà phẩm chất đạo đức của Bác không ngời

sáng trong thơ Đồng chí Viên Ưng- một nhà thơ Trung Quốc sau khi đọc Ngục trung

nhật ký đã viết: “Chúng ta được gặp tâm hồn vĩ đại của một bậc đại trí, đại nhân, đại dũng tôi cảm thấy trái tim vĩ đại đó tỏa sáng chói ngời trong một hoàn cảnh tối tăm”

Ánh sáng ấy trước hết là ánh sáng của tình thương người Đồng chí Phạm Văn

Đồng nói: “Tình nhân đạo, tình thương đồng bào đó là điều sâu sắc nhất và tốt đẹp

nhất trong con người Hồ Chủ tịch”

Bác ái ngại cho cảnh người vợ đến thăm chồng trong ngục, người đứng trong cửa sắt, người đứng ngoài của sắt mà cách biệt như một đại dương Có lần trong tù bỗng nổi lên tiếng sáo Qua tiếng sáo không những Bác đoán được nỗi lòng của người thổi sáo mà còn nghĩ tới một người nào đó ở phương xa tưởng như cũng đang bồi hồi

vì tiếng sáo:

“Bỗng nghe trong ngục sáo vi vu”

(Người bạn tù thổi sáo) Cùng vất vả, cực khổ thì Bác lại càng thương người bạn tù chỉ có cái chăn bằng giấy bồi, đêm thu cũng như Bác, trằn trọc ngủ không yên Thương người tù cờ bạc nghèo không có cái ăn trước cái cảnh “ngày ngày no rượu thịt” của kẻ khác, đành chịu

“nước mắt bọt mồm tuôn” Thương người bạn tù đêm qua còn ngồi dựa lưng Bác, sáng ngày đã chết cứng Tuy chỉ là một người tù cờ bạc nhưng Bác thương xót như thương xót một người thân, câu thơ đọc lên tưởng như rưng rưng nước mắt:

“Thân anh da bọc lấy xương Khổ đau đói rét hết phương sống rồi ”

Trang 17

17

(Một người tù cờ bạc vừa chết) Thương những người lao động dầm mưa, dãi nắng mà công lao chẳng được bao nhiêu Tâm trí Bác đã âu yếm ghi lại cái quán nhỏ bên đường, chỉ có cháo hoa và muối trắng nhưng khách qua đường vẫn lấy đó làm chỗ tạm dừng chân

Thương tâm nhất vẫn là những em bé Một em bé mới nửa tuổi, có tội tình chi cũng phải theo mẹ vào nhà tù Bài thơ “Cháu bé trong nhà lao Tân Dương” là lời của một em bé, đọc lên nghe như lên một tiếng khóc: “Oa !oa !oa !”

Bác thương mọi số phận, thiết tha với những biểu hiện của sự sống và của tâm linh dù đó chỉ là cái run khẽ của hương hoa bị người đời và tạo hóa lãng quên, dù đó chỉ là chuyện “cái răng”, chuyện chiếc gậy bị “lính ngục đánh cắp” Chẳng phải Bác

cao siêu gì trong quan niệm về con người Người xưa nói: “Nhân chi sơ tính bổn

thiện” (Mạnh Tử), “tính tương cận, tập tương viễn” (Khổng Tử), Bác có thơ:

“Ngủ thì ai cũng như lương thiện Tỉnh dậy phân ra kẻ dữ hiền Hiền dữ phải đâu là tính sẵn Phần nhiều do giáo dục mà nên”

(Nửa đêm)

“Dạ bán” (Nửa đêm) khi những người tù cờ bạc, rượu chè, cướp giật, những

“bạn hữu” nơi tù ngục của Người ngủ thì chỉ mình Bác thức Thức trắng đêm một mình ngắm nghía những kẻ tội lỗi kia và bỗng từ khuôn mặt của những kẻ xấu số đó gợi lên trong Người một nỗi xót xa thương cảm, cao hơn một hy vọng, một quyết tâm

cứu vớt chúng sinh Xuân Diệu nói: “Người bạn tù, người bạn tù là đề tài nhân loại

đối với Bác” Đặng Thanh Lê từ việc khảo sát “Hình tượng bằng hữu” trong “Ngục

trung nhật ký” nhận xét chính xác “Bác là một nhân cách văn hóa mang tâm hồn nhân

loại” Đề tài nào Bác cũng viết, hình tượng nào Bác cũng xây dựng, nhân vật nào Bác

cũng hướng tới nên thơ của bác mang tâm hồn nhân loại rất rõ nét Chế Lan viên đã

phân tích kỹ về hai mối quan hệ đi về giữa dân tộc và nhân loại trong Bác “Ở Bác cái

nhân loại trước tiên là nhân loại – nhân bản, nhân loại – văn hóa” Lòng thương

người ở Bác chính là tinh thần nhân đạo cao độ Chúng ta càng thấm thía ở đây là mạch nhân đạo của nhân loại chìm sâu trong Hồ Chủ tịch, có sức gợi, sức rung kỳ diệu Mạch nhân đạo ấy giúp chúng ta hiểu vì sao độc lập, tự do, hạnh phúc cứ như là một điệp khúc vang mãi trong tâm tưởng của Người

Nói với tâm hồn cao đẹp ở Hồ Chủ tịch là nói đến lòng yêu người và tình yêu thiên nhiên Tình yêu thiên nhiên ở Bác cũng chính là lòng yêu đời Cái mạch nhân đạo trong thơ Bác giúp ta hiểu rõ cảm hứng thiên nhiên của Người

Chúng ta thừa nhận một sự thực phổ biến ngày nay là sự khủng hoảng của môi trường sinh thái, khủng hoảng trong quan hệ giữa con người với thiên nhiên, khủng hoảng này có tác hại không nhỏ đến sự suy thoái về đạo đức, ứng xử con người với thiên nhiên bị phá vỡ Thiên nhiên sinh ra con người, con người khai thác thiên nhiên

Trang 18

để sống, nhưng lại chống phá thiên nhiên bởi khai thác vô kế hoạch, con người vẫn chưa cảm nhận đầy đủ sự phản ứng dữ dội của thiên nhiên đối với mình không công bằng, chỉ biết vơ vét chứ không lo bù đắp trở lại

Trong sự khủng hoảng sinh thái như vậy thì việc trở về với thiên nhiên trong cách ăn mặc, ở, trong cách giao hào cảm xúc với cây cỏ, hoa lá, trăng sao của Bác là bài học nhân đạo lớn lao biết nhường nào đối với mỗi người và cả thời đại Với Bác thiên nhiên đã làm tốt vai trò sinh thái cảm hóa con người “Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ” Với thiên nhiên, Bác đã làm tốt vai trò người hóa: “Cảnh đẹp đêm nay khó

hững hờ” (Mác nói: Con người do hoàn cảnh tạo ra, bởi vậy phải làm cho hoàn cảnh

mang tính người) Bác Hồ là kiểu mẫu đầy nhân đạo trong tính hai chiều đó:

“Mặc dù bị trói chân tay Chim ca rộn núi, hương bay ngát rừng Vui say ai cấm ta đừng

Đường xa âu cũng bớt chừng quạnh hiu”

(Trên đường đi) Thiên nhiên như muốn chia sẽ nỗi vất vã với Bác, thiên nhiên muốn sưởi ấm thêm tâm hồn Bác Bởi Bác rất hiểu, rất cảm, rất mến thiên nhiên Có được tình cảm

ấy chính là lòng yêu đời của Bác

Giữa bao nhiêu tăm tối dày đặc vẫn ngời lên ánh sáng của một tâm hồn thương người và yêu đời vô hạn Giữa bao nhiêu khổ cực Bác vẫn vui, vẫn cảm thấy cái vui tràn đầy trong cuộc sống Cái vui với trời đất theo một cánh chim, một làn mây, một xóm ven sông

Những hình ảnh như thế không thiếu gì xung quanh ta, nhưng thường nó vẫn trôi qua đi nếu như không có một tấm lòng yêu đời sâu sắc thì không thể nào ghi lại được

Không phải cuộc sống ngoài nhà tù Bác mới vui mà ngay trong nhà tù, kẻ thù cũng không sao cướp được cái vui hồn nhiên trong cuộc sống được Quý làm sao cái vui trên nét mặt những người đang sống cảnh tù tội:

“Nắng sớm mặt trời soi cả ngục Sương mù khói đặc sẽ tan hơi Tràn đầy sinh khí trong trời đất Tất cả tù nhân mặt đỏ tươi”

(Nắng sớm)

Trang 19

19

Sống là một niềm vui Sự thật đơn giản và hiển nhiên là như vậy Nhưng chúng

ta còn nhớ biết bao nhiêu tiếng kêu khóc thảm thiết vút lên trong văn thơ ngày trước Trong lòng phải có sẵn một tâm hồn lớn, một niềm tin tưởng vô biên mới nhìn ra được cái sự thật đơn giản và hiển nhiên ấy

Trong hoàn cảnh xã hội cũ, lại sống trong tù đày và biết bao công việc lớn đang chờ đợi thực không dễ gì mà vui Cũng có lúc Bác cảm thấy buồn vô hạn:

“Nghìn dặm bâng khuâng hồn nước cũ Muôn tơ vương vấn mộng sầu nay

Ở tù năm trọng thân vô tội Hòa lệ thành thơ tả nỗi lòng”

(Đêm thu) Tóm lại, một trong những biểu hiện rất cao của tình yêu thương con người và

lòng yêu đời chính là lòng yêu nước Ngục trung nhật ký canh cánh trong lòng nỗi nhớ

nước, thương dân Chân bước đi trên đất Bắc mà lòng vẫn hướng về phương Nam, nhớ đồng bào trong hoàn cảnh lầm than Bác nhớ tiếng khóc của bao em bé Việt Nam qua tiếng khóc của một em bé Trung Quốc, nhớ đồng chí đưa tiễn đến bến sông, nhớ lá cờ tung bay phấp phới, nhớ lúc tỉnh và nhớ cả trong lúc mơ:

“Một canh hai canh lại ba canh Trằn trọc băn khoăn giấc chẳng thành Canh bốn, canh năm vừa chọp mắt Sao vàng năm cánh mộng hồn quan”

(Ngủ không được)

1.2.2.3 “Ngục trung nhật ký” đã thể hiện một tinh thần lạc quan phơi phới

và một ý chí bất khuất kiên cường

Tình thương người, lòng yêu đời, yêu nước trong thơ Bác về một mặt là kế tục truyền thống thơ xưa, mặt khác lại không giống thơ xưa, nó là tâm tình của một người cộng sản, nó gắn liền với chiến đấu, vững tin ở chiến thắng Bác từng nói rất rõ:

“Nay ở trong thơ nên có thép Nhà thơ cũng phải biết xung phong”

(Cảm tưởng đọc Thiên gia thi)

Ý chí sắt đá và tinh thần rèn luyện cao độ, Bác đã giữ vững qua muôn vàng khổ cực và cũng đã nói lên được trong những hình ảnh nên thơ:

Trang 20

“Gạo đem vào giã bao đau đớn Gạo giã xong rồi trắng tựa bông”

(Nghe tiếng giã gạo) Trong cuộc sống tù túng, chật hẹp của nhà tù Quốc dân đảng, Bác đã tìm đủ đề tài cho hơn 100 bài thơ Cơ hồ đối với Bác, chuyện gì cũng thành thơ Chuyện núi non trăng hoa thành thơ mà chuyện dưa cà mắm muối cũng thành thơ Bác làm thơ vì một cái răng, một cái gậy, kể cả những chuyện rất ít nên thơ cũng thành thơ Cho nên khi Bác nói trong thơ nên có thép, ta cũng cần tìm hiểu thế nào là thép trong thơ Có thể

phải hiểu một cách linh hoạt mới đúng: “Không phải chỉ nói chuyện thép và lên giọng

thép mới có tinh thần thép” Trong thơ văn cũng như trong cuộc đời, cái điều quan

trọng nhất vẫn là cái thực chất của con người Ngục trung nhật ký ít có những lời hô to

nói lớn:

“Giọng của người không phải sấm trên cao Thấm từng tiếng, ấm vào lòng mong ước”

(Sáng tháng năm) Bác cứ nhỏ nhẹ, cứ hồn nhiên mà toàn bộ tập thơ toát lên một tinh thần thép, tinh thần của một anh hùng bất khuất, luôn luôn vững bước tiến lên, bền gan chiến đấu

Sống trong tù, lúc nào Bác cũng thể hiện một phong thái ung dung, bình tĩnh, phảng phất thơ văn của các nho xưa đầy khí tiết Nhưng cái ung dung ngày trước có khi là cái ung dung của người quay lưng lại với cuộc đời: trả áo mũ từ quan về sống ẩn dật, hay bất chấp mọi nỗi thăng trầm của thế sự Bác hoàn toàn k phải như vậy Đồng

chí Phạm Văn Đồng nói: “Hồ Chủ tịch là hình ảnh của sức mạnh bình tĩnh không

khiếp sợ, không hoảng hốt, đó là sức mạnh của những người sống một nhịp với trào lưu của thế giới, với quy luật tiến hóa của lịch sử” Chính Bác cũng đã nói:

“Sự vật vẫn xoay đà định sẵn Hết mưa là nắng ửng lên thôi”

(Trời hửng)

Đọc Ngục trung nhật ký, chúng ta tìm thấy một sức mạnh chịu đựng vô cùng

mãnh liệt của Bác Nhà tù đã đày đọa thân thể Bác, chúng giải Bác đi khắp nhà tù này đến nhà tù khác, tối ngủ chân bị cùm, đi thuyền thì bị treo giò:

“Bốn tháng cơm không no Bốn tháng đêm không ngủ Bốn tháng không giặt giũ Bốn tháng không thay áo”

Trang 21

vô cùng sung sướng, tự hào trước chiến thắng của tinh thần Bác, tinh thần của một chiến sĩ Cộng sản vĩ đại đã bấp chấp cả bạo lực của kẻ thù Bằng sức mạnh của nghệ thuật, Người đã truyền cho chúng ta một bài học của một tâm hồn sáng chói, bất diệt:

“Vật chất tuy đau khổ Không nao núng tinh thần”

Nhờ có tinh thần thép mà mọi gian nguy, hiểm nạn Bác đều vượt qua Nhờ có tinh thần thép mà mọi thiếu thốn về vật chất Bác đã đẩy lùi Bác là tinh hoa của lịch

sử, khí phách dân tộc và tâm hồn thời đại

Trang 22

CHƯƠNG 2 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA ĐIỂN TÍCH

2.1 Một số khái niệm điển tích, điển cố

Khi tiếp cận đối với một tác phẩm văn học cổ hay đơn thuần chỉ trong cách nói hằng ngày, ta thường bắt gặp việc sử dụng điển tích, điển cố Ngay trong Tiếng Việt ta cũng thấy 2 khái niệm là: Điển tích 典 昔 và Điển cố 典 故 Vậy định nghĩa cụ thể của hai khái niệm này là gì?

Theo “Hán Việt từ điển” 漢 越 詞 典 của Nguyễn Văn Khôn viết: “Điển 典 : Kinh điển Thường Phép tắc Chủ trương Coi sóc việc gì Cầm cố Họ Tích 昔: xưa, trước, lâu, ban đêm Họ Cố 故: Bền, vững bền Kín đáo Sẵn, vốn, đã Nhiều lần Bỉ lậu Cố nhiên Tất nhiên Họ Điển tích: Sự tích chép trong sách vở xưa Điển cố: Điển

cũ tích xưa, sự tích, luật lệ cũ.” [8; tr.284]

Theo Đào Duy Anh tích 跡 là dấu chân, dấu vết cũ Theo Nguyễn Quốc Hùng tích là dấu chân, vết chân, việc đời xưa, dấu vết đời xưa để lại Từ điển Tiếng Việt của trung tâm từ điển, Hoàng Phê chủ biên thì viết:

Điển tích: câu truyện trong sách đời trước được dẫn lại một cách cô đúc trong tác phẩm Điển cố: sự việc hay câu chữ trong sách đời trước được dẫn trong thơ văn

Trong “Đại từ điển tiếng Việt” do Nguyễn Như Ý chủ biên định nghĩa điển cố

là “Sự nghiệp hay câu chữ trong văn học cổ được dẫn ra khi viết: Điển cố văn học” Điển tích là “Câu chuyện trong sách đời xưa dẫn lại trong bài viết, tác phẩm: điển tích, thành ngữ” [21; tr.634]

Việc dùng điển trong thơ từ xưa đến nay là điều rất phổ biến, mà theo Phạm

Đan Quế việc dùng điển là “một điều hết sức bình thường nếu không nói là bắt buộc”

[15; tr.6]

Vì thế điển tích và điển cố, có nghĩa tương đương nhau

Trang 23

Do đặc điểm của điển tích là chứa đựng nội dung các câu chuyện cổ, nên nội dung của nó bao hàm nhiều sắc thái ý nghĩa và có thể đem áp dụng vào các câu văn, câu thơ Cho nên điển rất được các bậc nho gia ưa chuộng và sử dụng nhiều Vì thế, điển được sử dụng khá rộng rãi

Ví dụ: trong “Cung oán ngâm khúc”, khi miêu tả nét mặt của người cung phi, Nguyễn Gia Thiều viết:

“Áng Đào Kiển đâm bông não chúng Khóe thu ba dợn sóng khuynh thành”

(Câu 13-14) Hai chữ “Áng Đào Kiển” và “Khuynh thành” là điển tích nhắc đến vẻ mặt tốt tươi của nàng Đào Kiển, cung phi vua Thuận Đế nhà Nguyên được vua ưa chuộng hơn các cung phi khác

Hoặc trong tác phẩm Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn, để diễn tả nồi niềm của người thiếu phụ chờ tin chồng, tác giả đã sử dụng điển tích rất quen thuộc: ả Chức, chị Hằng, sông Ngân để nói về cảnh ly biệt Tác giả viết:

Khác gì ả Chức chị Hằng, Bến ngân sùi sụt cung trăng chốc mòng

(239-240) Điển tích ả Chức khiến ta nhớ đến câu chuyện về Chức Nữ “vốn là Thiên Tôn

Nữ, hầu thượng đế có phần lo dệt, không bỏ thì giờ Thượng đế thấy thương, gả cho Khiêu Ngưu (ta kêu là chàng Ngâu) chăn trâu cho trời Chức Nữ có đôi bạn rồi sinh ra biếng nhác, không làm tròn phận sự như xưa Thượng Đế bắt tội, không cho ở chung với chồng nữa, đem về cho ở bên đông ngạn sông Ngân Hà, mỗi năm tới ngày mồng bảy tháng bảy mới cho gặp mặt chồng một lần Đêm đó (đêm thất tịch) có quạ đội cầu

ở sông Ngân Hà (Bến Ngân) cho Chức Nữ qua sông gặp mặt chồng.” [7, tr 68]

Còn điển tích ả Hằng nói về Hằng Nga vợ của Hậu Nghệ Khi Hậu Nghệ xin được thuốc trường sinh của bà Tây Vương Mẫu, Hằng Nga biết Hậu Nghệ làm những việc sai trái, ngăn cản không được nên ăn cắp thuốc rồi thành tiên bay lên cung trăng

2.2.2 Đúc kết các bài học thế sự

Trang 24

Qua các câu chuyện đối nhân xử thế của người xưa, đúc kết thành bài học ở đời, nên sự xuất hiện của điển trong các tác phẩm là không nhỏ, dùng để diễn tả ngụ ý của mình bằng một vài chữ, nói ít hiểu nhiều Ví dụ như điển “Tiền nhân”, “Hậu quả” để chỉ rằng: nếu đời trước ta vốn có nhân đức thì đời nay được hưởng thụ sự an lành, nếu đời nay ta làm chuyện không lành thì đời sau ta sẽ phải lãnh hậu quả nặng nề

Những thay đổi lớn trong cuộc đời, trong xã hội điều được đúc kết thành các câu thành ngữ, câu văn, câu thơ mà nó chứa đựng các điển tích về sự thay đổi của cuộc đời, số phận Ví như câu: “Thương hải tang điền” được người Việt ví là “bãi bể nương dâu” liên quan tới câu chuyện tiên Phật được lưu truyền rộng rãi trong dân gian Tương truyền rằng, ở thời Đông Hán có ông Phương Bình, học giỏi tài cao, thi đỗ đạt

và được bổ nhiệm làm quan Sau một thời gian thi thố với đời, Phương Bình đã bỏ quan đi tu Ông đắc đạo và trở thành Phật Một lần Phật Phương Bình giáng xuống nhà Thái Kinh (người đời Hậu Hán) cho mời tiên nữ Ma Cô đến Ma Cô bảo với Phương Bình rằng:

“Tiếp thị dĩ lai dĩ kiến Đông hải tang vi tang điền”

Nghĩa là “Từ khi hầu chuyện với ông, tôi thấy bể Đông ba lần biến thành ruộng dâu” Câu chuyện này được lưu truyền trong dân gian và được người đời chắt lọc lấy cái tinh chất để phản ánh sự thay đổi của trời đất và cuộc sống Trong thơ văn Trung Quốc, hình ảnh “bãi bể nương dâu” trở thành tứ cho nhiều câu thơ, bài thơ nổi tiếng, như trong thơ Tô Thức đời Tống có câu “Bất kinh bột giải tang điền biến”, có nghĩa là

“Không sợ bể Đông biến thành ruộng dâu” Cũng nhờ câu chuyện trên mà dần dà trong tiếng Hán xuất hiện thành ngữ “Thương hải tang điền”

Việc dùng điển được các bậc nho gia đương thời rất tâm đắc, vì nó mang ý nghĩa sâu sắc, thấm thía Diễn tả hết ý nghĩa của câu văn, mà chỉ bằng vài từ gợi tả

2.3 Phân loại điển tích

Điển tích hay còn gọi là điển cố được hiểu là những từ ngữ thuộc những chuyện xưa, tích cũ, tư tưởng, hình tượng được ghi chép hay lưu truyền từ trong sách xưa, chuyện cũ và được tác giả sử dụng như một phương tiện ngắn gọn, súc tích nhất những

ý tưởng, miêu tả những sự vật, hiện tượng con người ta có thể phân chia điển tích thành các loại sau đây:

Từ hay nhóm từ được lấy ra từ những câu truyện trong Kinh, Sử, Tử, Tập và các tác phẩm văn học cổ điển khác trong thư tịch Trung Hoa về nhân vật lịch sử, sự kiện lịch sử, địa danh, những quan niệm về cuộc sống

Từ hay nhóm từ mượn ý, lời từ câu thơ hoặc bài thơ của người trước hay được trích từ thành ngữ, tục ngữ, ca dao, cổ tích truyện đã được lưu truyền

Sử dụng điển tích mang nhiều cách gọi khác nhau: Dụng sự 用 事, sử sự 使 事, dẫn sự 引 事, lệ sự 栵 事, biên sự 褊 事

Trang 25

25

Điển tích được sử dụng trong phạm vi vô cùng rộng rãi trong giao tiếp, nói

chuyện hằng ngày cho đến trong thơ văn

2.4 Đặc tính tu từ của điển tích văn học

Trong văn học, một trong những biện pháp tu từ được sử dụng phổ biến nhất là hình thức so sánh So sánh là lấy phẩm chất của một cái này để làm rõ đặc điểm của một cái khác Tiến lên một bước, người ta không dùng hình thức so sánh, mà dùng hình thức ẩn dụ, hoán dụ Thông thường, trong so sánh hay ẩn dụ, hoán dụ, các tác giả văn học thường lấy những hiện tượng thiên nhiên để lảm rõ những hiện tượng xã hội, hay phẩm chất của con người Về mặt nào đó, điển tích hay điển cố cũng có phần giống với những hình thức ẩn dụ, hoán dụ Nhưng có điều khác biệt là, điển tích như chất liệu dùng trong những hình thức ẩn dụ, hoán dụ không phải lấy trong thiên nhiên,

mà lấy từ tác phẩm của các thời đại quá khứ xa xưa

Đặc điểm cơ bản của so sánh và ẩn dụ là dùng tính chất, đặc điểm, hình tượng của thế giới tự nhiên gán cho phẩm chất của con người để so sánh và ngược lại Điển tích hay điển cố bao hàm cả hai đặc điểm ấy, vì nội hàm của điển tích rất phong phú, không chỉ là thế giới tự nhiên cùng những tính chất, đặc điểm của nó mà còn là con người với đầy đủ tâm lý, phẩm chất, suy nghĩ, hành động, sinh hoạt, phong tục, tập quán và toàn bộ những hoạt động xã hội như văn hóa, giáo dục, y học, kinh tế, chính trị Chất liệu của điển tích được lấy từ các tác phẩm của thời đại quá khứ xa xưa Điển tích vừa mang tính chất chung của phương thức so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, nhưng cũng biểu hiện nét đặc thù trong hệ thống chung ấy Nhìn chung điển tích hay điển cố mang một số tính chất sau:

2.4.1 Tính liên tưởng

Điển tích là nghệ thuật xây dựng hình tượng bằng ngôn ngữ kích thích sự liên tưởng và tưởng tượng Đằng sau lớp vỏ từ ngữ là cả một cuộc sống sinh động mà khi tiếp cận đến nó toàn bộ những hình ảnh về cuộc sống ấy được khơi dậy Điển tích vận dụng khả năng tư duy hình tượng rất phong phú và chính xác, khả năng liên tưởng nhạy bén Khi điển tích tồn tại và hoạt động trong một ngữ cảnh nhất định thì từ hình tượng cụ thể của nó, người đọc nhanh chóng tái hiện một sự liên tưởng trong đầu óc của mình Nội dung điển tích lập tức được lĩnh hội với tư cách là những hình ảnh cụ thể, sinh động, gợi cảm và hấp dẫn Lấy điển Liễu Đường trong Chinh Phụ Ngâm 征

婦 吟 làm ví dụ, đọc điển này, những hình ảnh về câu chuyện được tái hiện: Hàn Bằng 韓 鵬 đời chiến quốc làm chức trung thư xá nhân cho Tống Khang vương 宋 康

王, bị Tống Khang vương cướp vợ là Hà thị 荷 氏 và phải bị tù Hàn Bằng buồn bã tự

tử Trước khi chết theo chồng, Hà thị đề thư xin được chôn cùng chồng Tống Khang vương tức giận cho chôn riêng hai nơi Chẳng bao lâu có hai cây liễu mọc ở hai ngôi

mộ, rễ và cành liền nhau Rồi người đọc từ câu chuyện sinh động này liên tưởng đến tâm trạng người chinh phụ nhớ thương chồng, so sánh với hình ảnh câu chuyện mà hiểu được tình cảm của người vợ một lòng yêu thương chồng khi cả hai phải chịu cảnh chia ly

2.5.2 Tính hình tượng

Trang 26

Lối so sánh của điển tích được thực hiện theo quy luật lấy đặc tính, ý nghĩ của đối tượng kia, so sánh vừa xa lại vừa gần, vừa kín đáo vừa rõ ràng, vừa sinh động vừa biểu cảm mạnh mẽ Sự so sánh như vậy giúp người cảm thụ nhận thức sâu sắc hơn, có thể bày tỏ thái độ khẳng định, yêu thích hoặc phủ định, chán ghét Sự tác động mạnh

mẽ đó có được là do điển tích ngoài tính biểu cảm còn biểu hiện rõ tính hình tượng và tính cụ thể

Những hình ảnh trong điển tích là những hình ảnh biểu trưng cụ thể, sinh động, tác động mạnh mẽ vào ký ức người đọc làm cho những hình ảnh đó giữ lại lâu bền trong đầu óc người đọc để so sánh, đối chiếu với hoàn cảnh ngôn ngữ, nhằm sự cố kết

ý nghĩa của điển tích với ý nghĩa của ngữ cảnh Như trong Cung oán ngâm khúc có

câu:

Đuốc Vương giả chí công là thế, Chẳng soi cho đến khóe âm nhai Muôn hồng nghìn tía đua tươi, Chúa xuân nhìn hái một hai bông gần

Câu thứ nhất và câu thứ hai có gốc từ câu trong Kinh Thi: “Thái dương ty vô tư,

kỳ chiếu âm nhai hàn cốc gải độc hậu” (Mặt trời tuy không thiên vị, mà soi đến nơi

gành sâu hang thẩm cuối cùng) Câu thứ ba mượn ý câu thơ đường “Vạn tử thiên hồng

tổng thị xuân” (Muôn tía nghìn hồng tất cả là xuân), ở đây chỉ các cung nữ xinh đẹp,

chúa xuân chỉ vua Người đọc qua những hình ảnh ấy có thể so sánh ánh mặt trời với vua, khóe âm nhai ví người phụ nữ bất hạnh, bị bỏ quên nơi lãnh cung lạnh lẽo Cung tần mỹ nữ trong cung cấm xinh đẹp như những bông hoa muôn màu tươi thắm, nhưng vua chỉ chọn một vài trong số ấy Hình dung, so sánh, người đọc mới thấu hiều được nỗi đau khổ, chán chường của người cung nữ trong cuộc sống ghẻ lạnh chốn cung son

2.4.3 Tính cô đọng, hàm xúc

Điển tích hàm chứa nội dung và ý nghĩa sâu sắc nhưng thể hiện trong một hình thức tiết kiệm lời đến một mức thấp nhất Sự tiết kiệm thể hiện ở hình thức giản lược những từ không cần thiết và cô đúc ngắn gọn

Ví dụ để nói người lo lắng chuyện không thực tế trong Hoàn Sơn 澴 山, Nguyễn Thượng Hiền 阮 尚 賢 mượn điển Kỷ nhân ưu thiên 杞 人 憂 天 (Người nước

Kỷ lo trời đổ) nhưng chỉ gói gọn trong hai từ ưu thiên 憂 天: Tiện tác ưu thiên khách Hoàn vi xuất thế nhân 便 作 憂 天 客 還 爲 出 世 人 (Làm khách lo trời đổ Lại làm người xuất thế)

2.4.4 Tính đa dạng và sinh động

gắn liền với vật tượng trưng trong một tương quan khép kín: hoa sen chỉ sự thanh khiết, cây tùng, cây bách chỉ đức tính của người quân tử Chức năng ấy bao hàm sự phủ nhận hình thức và chú ý nhiều đến ý nghĩa Hình thức (hay vỏ từ ngữ) nhằm đưa

Trang 27

27

tới nội dung, ý nghĩa và dừng lại ở đó Nhưng điển tích với chức năng tưởng tượng, liên tưởng, hình thức cũng là một yếu tố quan trọng vì nó không mang nội dung, ý nghĩa cứng nhắc và khép kín mà nó có thể đưa đến một hay vài ý nghĩa khác bằng hình thức thích hợp theo chiều sâu của hồi tưởng về câu chuyện quá khứ, và hướng về tương lai Hơn nữa, điển tích còn thể hiện một hình thức linh động bằng cách kết hợp với những câu văn, câu thơ trong một tương quan gần

Điển tích mang nhiều tính chất của sự linh động về hình thức, nội dung và ý nghĩa, tạo thêm sức mạnh diễn đạt và biểu cảm cho câu thơ, câu văn Chính vì vậy, điển tích là một trong những thủ pháp sáng tác một thời

Như vậy điển tích trong các tác phẩm cổ là một điều không thể thiếu Nó không chỉ giúp cho các tác giả có thể diễn đạt một cách đầy đủ và chính xác nhất về vấn đề, ý tưởng mà mình muốn truyền đến đọc giả mà nó còn nâng cao khả năng hình dung một cách chính xác ý tưởng của người tiếp cận tác phẩm

Chẳng hạn, điển “nguyệt lão” không mang hình thức cứng nhắc trong một số từ

cố định mà được biểu diễn thành rất nhiều từ khác nhau nhưng cùng một nội dung chỉ

sự kết duyên vợ chồng như: bà nguyệt, chỉ đỏ, chỉ hồng, xích thằng, ông tơ, xe tơ, xe dây, tơ đào Chỉ trong Truyện Kiều, Nguyễn Du miêu tả từ này bằng nhiều điển khác nhau:

Dù khi lá thắm chỉ hồng (câu 333) Nàng rằng hồng diệp xích thằng (câu 459) Ông tơ ghét bỏ chi nhau (câu 549)

Trăng già độc địa làm sao (câu 687) Cùng chàng kết tóc xe tơ những ngày (câu 1532) Kíp toan kiếm trốn xe dây (câu 2099)

Duyên đâu ai đứt tơ đào (câu 2609) Điển là một khu rừng bao la mà trong đó có chứa đựng nhiều loại thực vật cực

kỳ phong phú, có thể diễn đạt rất nhiều mặt của đời sống từ cụ thể đến trừu tượng, từ vật chất đến tinh thần Điển tích dùng cho nhiều mục đích: so sánh, ca ngợi, châm biếm, giáo dục, kể chuyện, khẳng định, phủ định Một điển tích có thể biểu đạt nhiều

ý nghĩa Vì tính đa nghĩa ấy mà điển tích có phạm vi hoạt động rộng rãi, tính năng động dồi dào, có thể hoạt động trong nhiều ngữ cảnh có nội dung khác nhau Điển tích với đặc tính đa dạng về biến thể hình thức, có khi chỉ là một từ:

Muộn màng thay giấc điềm bi (câu 57) Vậy ả Hằng vì ta se mối (câu 531)

(Sơ kính tân trang)

Trang 28

“Bi” tức là chiêm bao thấy con gấu, ý nói sinh con trai Điển mượn trong Kinh Thi Ả Hằng tức Hằng Nga trong truyền thuyết Trung Hoa

Sự thể hiện biến thể hình thức của điển tích thật nhiều màu, nhiều vẻ, nhưng tựu trung, nổi bật ở hai điểm: Điển tích có cùng nội dung và ý nghĩa (là những điển quen thuộc, được nhiều người dùng trong nhiều hình thức từ ngữ như điển “nguyệt lão”) Và điển tích có cùng ý nghĩa nhưng được biểu hiện bằng cách thay đổi một số yếu tố từ vựng, ví dụ điển “tang thương” (tang: cây dâu, nương trồng dâu, thương là biển khơi,

bải bể) Sách Liệt tiên truyện chép: bà Ma cô tiên nữ từng thấy đám nương dâu đã ba

lần hóa thành biển khơi, bãi bể Ý nói sự thay đổi của cảnh vật, cuộc sống Điển này được thể hiện qua nhiều hình thức từ ngữ như: tang hải, bãi bể nương dâu, bể dâu

Trải qua một cuộc bể dâu

từ tiêu cực thành tích cực hay ngược lại, mục đích châm biếm hay than thở

Mập mờ đánh lận con đen (câu 835)

ở Bắc hải, ở ẩn núi Hoa âm, nghe nói Hoàn Ôn đánh Tần, đến yến kiến, vừa nói vừa bắt rận rất tự nhiên, điềm tĩnh Tuy mượn điển ấy, nhưng tác giả không mượn ý nghĩa

kẻ an bần, có chí lớn, mà dùng để nói lên ý chí muốn diệt trừ bọn hút máu hại dân lành

Trang 29

29

Tóm lại, điển tích được xem là một đơn vị mở rộng trong hệ thống ẩn dụ mang tính chất và ý nghĩa đặc biệt Điển tích giúp người đọc hiểu được giá trị của hồi ức, tưởng tượng, liên tưởng và gợi mở một hướng mới để thông hiểu nội dung, ý nghĩa câu thơ, sự thấu hiểu điển dựa trên nền tảng nắm được nguồn gốc điển tích

Điển tích mang nhiều tính chất của sự linh động về hình thức, nội dung và ý nghĩa, tạo thêm sức mạnh diễn đạt và biểu cảm cho câu thơ câu văn Chính vì vậy, điển là một trong những thủ pháp sáng tác một thời

CHƯƠNG 3 ĐIỂN TÍCH TRONG NGỤC TRUNG NHẬT KÝ

3.1 Việc dùng điển, lấy chữ trong Ngục trung nhật ký

Dùng điển là một trong những đặc điểm nghệ thuật khá nổi bậc của văn học cổ điển Việt Nam Khảo sát điển tích trong một tác phẩm văn học cụ thể là hướng nghiên cứu không còn mới mẻ, nhưng hầu hết nó chỉ mang tính chung chung, không đi thẳng vào vấn đề Đề tài này vô cùng hấp dẫn và lý thú giúp chúng ta hiểu một cách thấu đáu hơn giá trị của mỹ từ đem lại, từ đó thấy được ý nghĩa sâu sắc của tác phẩm, đặc biệt là đối với những tác phẩm tiêu biểu cho mỗi giai đoạn

Ngục trung nhật ký là tập thơ có giá trị về nội dung và hình thức nghệ thuật

Mang đậm dấu ấn đường thi bởi lẻ nó được viết bằng bạch thoại, thơ tứ tuyệt và sử dụng nhiều điển cổ, điển tích Việc đưa điển vào trong tập thơ, góp phần làm cho câu văn mang ý nghĩa sâu sắc và chỉ bằng một vài từ có thể diễn tả hết ý Mặc dù việc sử dụng điển của Bác rất ít, nhưng khi đã sử dụng thì lại sâu xa, thâm thúy Các điển tích Bác sử dụng là những thành ngữ có nguồn gốc từ Trung Hoa nhưng nó không xa rời khó hiểu với người Việt Nam, gần gũi giản dị với lời lẽ mộc mạc Vì thế Nguyễn Thế

Nữu và Trần Hữu Dinh có nhận định “ Phần lớn điển tích được dùng điều đã biến

thành thành ngữ được dùng phổ biến trong ngôn ngữ Trung Quốc, nhưng cũng có một

số điển tích có ý nghĩa khá thâm thúy, văn vẻ, có nguồn gốc sâu xa, ít người biết rõ xuất xứ”.” [13; tr.16] Với đề tài này, chúng ta phải nêu rõ nội dung của điển tích, thì

mới thấy cái hay mà Bác muốn diễn đạt qua những trang thơ Từ đó, cho thấy việc sử dụng điển tích vào tác phẩm là khía cạnh nghệ thuật mang lại thành công trong thơ Bác Làm cho người đọc thêm hứng thú bởi những câu mang nghĩa thâm sâu, uyên bác bằng một vài chữ gợi tả Trong đề tài này chúng tôi chia điển tích thành hai loại: điển tích chữ và điển tích truyện

Trang 30

3.1.1 Điển tích truyện

送 余 入 獄 作 嘉 賓 Tống dư nhập ngục tác “gia tân”

(Phải làm khách quý tại nhà pha.)

Trong bài số 5 tiêu đề: Thế lộ nan (Đường đời khó khăn), gia tân có nghĩa là:

khách quý Lấy chữ trong Kinh Thi

Ngày xưa các nhà quyền quý thế lực Trung Quốc có lối chiêu tập người giỏi

trong thiên hạ về làm khách để phục vụ nhà mình, được gọi là gia tân nghĩa là khách

quý, khách ăn trong nhà có lúc đông đến hàng ba ngàn người Bác dùng điển này với ngụ ý châm biếm: Bác bị bắt vào tù nhưng không phải là tù phạm tội làm hại chủ nhà,

mà còn là khách quý có thể giúp ích cho chủ nhà Trên thực tế Bác là đại biểu của nhân dân Việt Nam, cùng trong Mặt trận chống xâm lược quốc tế, sang Trung Quốc để bàn việc họp tác chống Nhật Việc đáng trách đáng giận ở đây là họ đã bắt oan Bác, biến khách thành tù, đối sử với bạn như đối với kẻ thù

風 波 平 地 起: Phong ba bình địa khởi

無 奈 風 波 平 地 起

Vô nại phong ba bình địa khởi (Sóng gió bất ngờ đâu bỗng nổi.)

Trong bài số 5 Thế lộ nan (Đường đời khó khăn), phong ba bình địa khởi có

nghĩa là: Đất bằng nổi cơn sóng gió, ví tai họa bắt ngờ Nằm trong câu: Vô nại phong

ba bình địa khởi (sóng gió bất ngờ đâu bỗng nổi)

Điển tích lấy từ chùm thơ Trúc chi từ trong tập thơ Lưu Mộng Đắc văn tập của

Lưu Vũ Tích Năm trinh nguyên 21 đời Đường (805), phong trào cách tân của Vương Thúc Chi thất bại, Lưu Vũ Tích bị liên can phải giáng chức mấy lần, rất đau khổ Trên

đường đi nhậm chức Thứ Sử Quỳ Châu, đã làm mười bảy bài Trúc chi từ, bài thứ bảy

Trang 31

31

Cù Đường cuồn cuộn mười hai bến,

Từ trước đường này vốn khó đi

Giận mãi lòng người không giống nước, Đất bằng nổi sóng khó lường thay

Thơ Đỗ Tuân Hạc cũng có câu:

Bất tri bình địa khởi phong ba

Dịch thơ:

Thường bảo tình đời ác Sóng gió dậy đất bằng

Vì vậy, người sau dùng thành ngữ Đất bằng nổi sóng để chỉ tai họa bất trắc vì lòng

người hiểm sâu

千 兵 萬 馬: Thiên binh vạn mã

千 兵 萬 馬 共 彄 弛 Thiên binh vạn mã cộng khu trì (Nghìn quân muôn ngựa, ruổi quanh.)

Trong bài thơ số 17 Học dịch kỳ (Học đánh cờ), thiên binh vạn mã có nghĩa là:

Nghìn quân muôn ngựa, quân lính và ngựa rất đông, tức lực lượng chiến đấu rất hùng hậu

Thiên binh vạn mã: Đây là một thành ngữ lấy từ trong ca dao cũ của Trung Quốc Khi bày trận Trần Khánh bố trí những người đứng dưới cờ chỉ huy mặc áo trắng, nên quân Trần Khánh đi đến đâu, quân địch trông thấy đội quân áo trắng liền

Trang 32

kinh sợ tránh xa Truyện Trần Khánh trong Nam sử có ghi, vùng Lạc Trung có câu ca

tụ của thời đại Bác bị giam vừa lúc cách mạng đang chuyển sang đấu tranh và bài Học

dịch kỳ (Học đánh cờ) là nói lên bằng thơ những lời cơ bản của khoa học cách mạng

Mác – Lênin về khởi nghĩa

奈 若 何: Nại nhược hà

對 此 良 宵 柰 若 何 Đối thử lương tiêu, nại nhược hà (Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ.)

Trong bài thơ số 20 Vọng Nguyệt (Ngắm trăng) Nại nhược hà có nghĩa là:

Không biết làm thế nào được, không biết làm sao được, không có cách nào làm gì được

Dựa vào thành ngữ của Trung Quốc Vô khả nại hà xuất xứ từ Liệt truyện Phạm Thư trong Sử ký Khi Phạm Thư lên làm thừa tướng nước Tần, Vương Kê là người có công tiến cử, đã nói với Phạm Thư: “có ba việc không thể biết (bất khả tri) là bao giờ

thì nhà vua băng hà, ông từ trần và tôi chết, và ba việc không sao làm gì được sau khi

đã chết ( bất khả nại hà) là mối giận của vua đối với bề tôi, mối giận của các quan đối với ông cũng như đối với tôi”

Người sau dùng thành ngữ Bất khả nại hà để chỉ những việc con người dù

muốn cũng không sao làm được

Trong căn phòng giam chật chội, tối tăm, Người như bị tách ra khỏi cuộc sống bên ngoài Thiên nhiên tươi đẹp từ ánh nắng ban mai đến tiếng chim hót, vầng trăng, tất cả đều không dễ đến được với người tù để hưởng ngoạn Mặc dù, có những ngăn

cách nhưng “tập Nhật ký trong tù đã dành cho thiên nhiên một địa vị danh dự” (Đặng

Thai Mai) Người đọc bắt gặp trong tập nhật ký xuất hiện một vầng trăng Vầng trăng làm cho Người xúc động đến xao xuyến Không có rượu và hoa nhưng khung cảnh đón trăng thật giản dị và hấp dẫn Trăng là biểu tượng cho cái đẹp, cho ánh sáng đối

Trang 33

33

lập với cảnh tù đày tăm tối Trăng cũng là biểu tượng của tự do, vầng trăng nhởn nhơ ngoài khung trời đối lập với cảnh giam hãm của nhà tù Từ đó cho thấy mối giao cảm hài hòa giữa con người và thiên nhiên, giữa cái đẹp của tạo vật và cái đẹp trong tâm hồn con người Tạo cho bài thơ có một sức mạnh lôi cuốn mạnh mẽ

君 為 坐 上 客 我 為 階 下 囚: Quân vi tọa thượng khách, ngã vi giai hạ tù

君 為 坐 上 客

我 為 階 下 囚 Quân vi tọa thượng khách, Ngã vi giai hạ tù

(Anh thượng khách trên phòng, Tôi tù nhân thềm dưới.)

Trong bài thơ số 35 Các báo: Hoan nghênh Uy – Ky đại hội (Các báo đăng tin: cuộc hội họp lớn hoan nghênh Uy – Ky) Quân vi tọa thượng khách, ngã vi giai hạ tù

có nghĩa là: Anh là khách trên ghế, tôi là tù dưới thềm Đây chỉ là một hình ảnh ẩn dụ Bác mượn câu của Lã Bố nói với Lưu Bị khi Lã Bố bị Tào Tháo bắt trói đem xử dưới thềm trong khi Bị ngồi trên ghế khách xem xử:

Quân vi tọa thượng khách,

Bố vi giai hạ tù Dịch nghĩa:

Ông làm khách trên sảnh,

Bố làm tù dưới thềm

Bác mượn cảnh ngộ của Lã Bố để nói đến cảnh ngộ của mình Bác là đại biểu của Việt Nam độc lập đồng minh, có nghĩa cũng là bạn của Trung Hoa dân quốc trong công cuộc chống phát xít Nhật, nhưng khi Bác từ Việt Nam sang, vừa mới tới Thiên Bảo đã bị bắt giam Ngược lại, Uy – ky tức Wendel Willkie, đại biểu Mỹ, cũng là bạn của Trung Hoa dân quốc trong phe Đồng minh chống phát xít, trên đường đi thăm Trùng Khánh, Uy – ky có qua Đệ tứ chiến khu Quảng tây thì lại được nhà đương cục

tổ chức một cuộc hội họp lớn để hoan nghênh

夷 齊 不 食 周 家 粟: Di Tề bất thực Chu gia túc

夷 齊 不 食 周 家 粟

Trang 34

Di, Tề bất thực Chu gia túc (Di, Tề chê thóc của nhà Chu.)

Trong bài thơ 62 Hựu nhất cá (Lại một người nữa ) Di tề bất thực Chu gia

túc có nghĩa là: Bá Di và Thúc Tề không ăn thóc nhà Chu

Bá Di và Thúc Tề là hai con trai vua nước Cô Trúc, chư hầu đời nhà Ân – Thương (1401 – 1122 trước Công nguyên) Trung Quốc Khi vua Vũ Vương nhà Chu cất quân đánh vua Trụ nhà Ân, hai ông can ngăn không được Vua Vũ Vương đánh đổ nhà Trụ, lập ra nhà Thương, thiên hạ đều về quy thuận, riêng hai ông cảm thấy sỉ nhục,

bỏ vào ẩn trong núi Thú Dương, không chịu ăn lương thực nhà Chu hái rau quyết rau

vi mà ăn, đã chết đói ở núi Thú Dương

“Túc” nghĩa là thóc, song ở đây chỉ thóc lương Thời xưa, lương của các quan gọi là “lộc”, mà “lộc” cấp bằng thóc, nên cũng gọi “lộc” là “túc” Bá Di, Thúc Tề không chịu ăn thóc, có nghĩa là không chịu ăn “lộc”, tức không chịu làm quan với nhà

Chu Không ăn thóc nhà Chu sau này trở thành thành ngữ chỉ việc kiên quyết phản đối

một hành động hay chủ trương nào đó Ở đây Bác cũng dùng điển tích này theo ý đó,

để nói việc một số tù nhân kiên quyết phản đối chế độ ăn uống tồi tệ của nhà tù Quốc dân đảng ở Quảng Tây, cự tuyệt việc ăn cháo và chết đói trong tù Hình ảnh tương đồng không ăn thóc nhà Chu với không ăn cháo nhà nước, chết đói trên núi Thú Dương và chết đói trong ngục nhà nước, phù hợp với hoàn cảnh lúc bấy giờ của Bác, sống trong cảnh tù túng, thiếu thốn đủ bề Từ đó, bộc lộ bộ mặt đen tối của nhà tù Tưởng Giới Thạch lúc bấy giờ

首 陽 山: Thú Dương Sơn

夷 劑 餓 死 首 陽 山

Di, Tề ngã tử Thủ Dương sơn (Di, Tề non Thủ đói chết mòn.)

Trong bài thơ số 62 Hựu nhất cá (Lại một người nữa ) Thú dương sơn có

nghĩa là: Núi Thú Dương, cũng gọi là núi Lôi Dương, ở miền nam huyện Vĩnh Tế tỉnh Sơn Tây

Tương truyền là nơi Bá Di và Thúc Tề ở ẩn để phản đối vua Vũ Vương nhà Chu diệt vua Trụ nhà Ân, đã không chịu ăn thóc nhà Chu, chỉ hái rau quyết rau vi mà

ăn và chết đói ở núi Thú Dương

困 難 是 你 玉 成 天: Khốn nạn thị nhĩ ngọc thành thiên

困 難 是 你 玉 成 天

Trang 35

35

Khốn nạn thị nhĩ ngọc thành thiên (Gian nan chuốt ngọc mới thành công.)

Trong bài thơ số 71 Văn thung mễ thanh (nghe tiếng giã gạo), có nghĩa là: khó

khăn chính là lúc luyện ngọc anh thành

Tiêu đề lấy tích trong thiên Càng Xưng sách Chính Mông của Trương Tải đời

Tống Trương Tải quê hương nghèo khổ, cuộc sống gia đình hết sức khó khăn, nhưng

đã ngoan cường vượt khó học tập thành tài, thành triết gia nổi tiếng Ông đã viết vào

sách phương châm phấn đấu của ông: “Bần tiện ưa thích, dung ngọc nữ (nhữ) ư thành

dã” (Điều kiện khách quan đói khó hèn kém khiến người lo buồn, thực ra nó có thể

giúp người mài giũa ý chí để đi đến thành công) Đó là kinh nghiệm quý báu của Trương Tải trong sự học, đã trở thành phương châm tốt để lại cho đời Người xưa

dùng câu: “Gian nan khốn khổ, ngọc nhữ ư thành” để khuyến khích người đời khắc

phục hoàn cảnh khó khăn cố gắng phấn đấu để đạt đến thành công

Đây là bài thơ ngụ ngôn để tự răn mình trong Ngục trung ngục ký Bị tù oan là

một thử thách đối với con người Bác Hồ không chỉ luôn luôn chứng tỏ một nhân cách cao thượng, một tinh thần tự chủ, yêu đời, mà còn tự động viên mình để vượt qua thử thách Xa quê hương, nghe tiếng giã gạo có thể gợi nỗi nhớ nhà, nhớ những ngày mùa, ngày giỗ chạp Nhưng với nỗi khổ đau và ý thức rèn luyện, tự vượt lên khó khăn, tiếng giã gạo lại gợi lên một cuộc vật lộn, rèn luyện giữa đời Tự cảm thấy mình như bị giã,

bị hành hạ, bài thơ nói lên nỗi đau đớn cực nhọc chân thực của Bác Hồ lúc này Sự đau đớn lại đi liền với niềm tin vào phẩm chất trong trắng của mình, vào nghị lực anh hùng của mình

Lấy tích từ Lã thị Xuân thu Bá Nha và Tử Kỳ là bạn Bá Nha có tài đánh đàn

để giãi bày gửi gắm nỗi lòng Tử Kỳ có tài nghe đàn mà biết được nỗi lòng của bạn

Khi Bá Nha đánh đàn mà gửi chí lên núi Thái Sơn, Tử Kỳ liền nói: Thiện tai hồ cố

cằm, nguy nguy hồ nhược Thái Sơn (Đàn đánh hay lắm, tiếng vút cao như núi Thái

Sơn) Khi Bá Nha đánh đàn mà thả lòng theo dòng nước, Tử Kỳ liền nói: Thiện tai hồ

cổ cầm, dãng dãng hồ nhược lưu thủy (Đàn đánh hay lắm, tiếng cuồn cuộn như nước

chảy) Bá Nha nói với Tử Kỳ rằng: Anh thật hiểu được tiếng đàn một cách kỳ diệu,

anh nói về tiếng đàn tôi đánh đúng như điều lòng tôi gửi gắm, những tiếng lòng tôi điều lọt hết vào tai anh Anh đúng là người bạn tri âm trến đời hiếm có

Trang 36

Người sau dùng các thành ngữ Bá Nha đánh đàn, Cao sơn lưu thủy, Tri âm để

ví những người bạn hiểu thấu lòng nhau Ở đây Bác nói về những người tù rất hiểu cảnh ngộ của nhau, như trong cảnh khổ bị ghẻ lở, cũng bị ngứa ngáy khổ sở, cùng gãi, cùng được chút vui đỡ ngứa, cho nên cũng có thể xem là những bạn tri âm của nhau Thật là một lối ví von ẩn dụ hợp cảnh hợp tình, rất thực tế tuy pha chút hài hước nhưng cũng rất thi vị, biến cảnh gãi ghẻ thành cảnh nên thơ

Cảnh đen tối, dơ bẩn của nhà tù đã tạo nên những căn bệnh cho tù nhân, điển hình là ghẻ lở Với lối châm biếm hài hước, Bác đã tố cáo chế độ tàn ác của nhà tù Tưởng Giới Thạch gây nên cho dân chúng Qua đó thấy được tấm lòng nhân ái của Bác đối với số phận con người

雪 中 送 炭: Tuyết trung tống thán

雪 中 送 炭 雖 然 少 Tuyết trung tống thán tuy nhiên thiểu (Cho than trời tuyết tuy quý hiếm.)

Trong bài thơ số 91 Quách tiên sinh (Tiên sinh họ Quách) Tuyết trung tống

thán có nghĩa là: Cho than ngày tuyết rơi Thành ngữ chỉ giúp đỡ người lúc khó khăn

Ngày tuyết rơi là ngày rét, phải có than sưởi ấm Cho than người nghèo sưởi ấm

là một hành động cứu trợ từ thiện rất đáng khâm phục biểu dương Nhưng tiếc rằng cử chỉ nghĩa hiệp đó xưa nay không nhiều

Thành ngữ này có nguồn gốc từ chuyện vua Tống Thái Tông năm Thuần Hóa thứ tư (993) thấy tuyết rơi trời rét, sai quan đem gạo và than đến cho người già và nghèo khó Chính lòng yêu quý, thấy được khó khăn của nhân dân nên nghĩa cử ấy được người đời sau ca tụng và viết nên nhiều bài thơ

Nhà thơ Phạm Thành Đại làm bài thơ có câu:

Bất thị tuyết trung ưng tống thán?

Dịch nghĩa:

Phải chăng ngày tuyết phải có than

Truyện Nhi nữ anh hùng có câu: Thế tình như chỉ, chỉ hữu “cẩm thượng thiêm

hoa”, thùy khẩn “tuyết trung tống thán”? (Tình đời như giấy, chỉ có “thêm hoa trên

gấm” Ai chịu “cho than ngày tuyết”)

Bác cũng biết người đời hờ hững với nhau, ít ai chịu giúp đỡ nhau khi khó khăn Thế nhưng vẫn có người như ông Quách đã ân cần giúp đỡ Bác trong khi hoạn nạn, Bác đã trân trọng ghi lại ghi lại việc này để nhớ ơn người hào hiệp

Trang 37

37

出 恭 也 被 人 制 裁 Xuất cung dã bị nhân chế tài (Ngặt nghèo đến cả chuyện đi tiêu.)

Trong bài thơ số 115 Hạn chế (Bị hạn chế) Cung là một từ dùng theo ý cổ mà

hiện nay trong các từ điển không có chữ giải nghĩa từ này trừ từ ghép xuất cung, cho nên có phần khó hiểu

Sách Lương Đồng thư trực ngữ bổ chính ghi:

Kim nhân vị như xí viết xuất cung, thù bất khả giải (Người nay nói chữ xí là xuất cung (đi vệ sinh, thật không thể giải thích)

Sách Lưu An biệt truyện ghi:

An tức thượng thiên, tọa khởi bất cung, tiên bá chủ giả, tấu An bất kính, trích thủ đô xí tam niên, hoặc bản thử (Khi An lên trời, ngồi không được cung kính , ông

tiên chủ trì tâu trời là An bất kính, trời phạt đày giữ hố xí ba năm, có lẽ xuất xứ nghĩa

này của chữ cung là từ đây) Vì vậy, xuất cung có nghĩa là đi tiêu, đi đại tiện

Bài thơ này Bác nói về cảnh tù túng trong tù đến cả đi ngoài cũng không được

tự do Nên bác sử dụng điển tích xuất cung để ngụ ý cho việc thiếu thốn về mọi mặt

城 火 池 魚: Thành hỏa trì ngư

Thành hỏa trì ngư kham hạo thán (Thành cháy vạ lây, than xót nỗi.)

Trong bài thơ số 116 Dương Đào bệnh trọng (Dương Đào ốm nặng) Thành

hỏa trì ngư có nghĩa là: Lửa thành ao cá

Trong Bách gia thi có câu: Thành môn thất hỏa, họa cập trì ngư (Cửa thành lửa

cháy, vạ tới cá ao) Cửa thành bị cháy người ta múc nước ao tưới lửa cứu mình, nước

ao khô hết, cá ao bị chết

Sách Quảng văn còn có chuyện kể, ngày xưa có người tên Trì Ngư, nhân thành cháy mà bị chết thiêu theo Thành ngữ ta có câu: Cháy thành vạ lây cũng ở tích này

mà ra, người sau dùng thành ngữ Lửa thành cá ao để chỉ việc vạ lây

Bài thơ phải chăng Bác có ý nói vì Dương Đào giúp Bác mà cũng phải vạ lây, mượn thành ngữ để diễn tả nỗi lòng của mình trước việc Dương Đào bị liên lụy phải vào tù và ốm nặng Mặc dù, tai họa ấy không liên quan đến mình

Trang 38

張 飛: Trương Phi

树 捎 巧 畫 張 飛 像 Thụ sao xảo họa Trương Phi Tượng (Cành lá vẽ nên hình Dực Đức.)

Trong bài thơ số 132 Tức cảnh (Tức cảnh)

Trương Phi (? – 221) còn gọi là Dực Đức, tính tình cương trực, nóng nảy, nhưng đầy khí phách Người cuối đời Đông Hán, em kết nghĩa vườn đào với Lưu Bị

và Quan Vũ, cùng hai anh em và Khổng Minh lập nên nước Thục Hán xác lập thế chân vạc của thời Tam Quốc Cùng Quan Vũ được người khen là người địch được vạn người Khi chuẩn bị cùng Lưu Bị đánh Đông Ngô trả thù cho Quan Vũ, Trương Phi bị tùy tướng ám sát

Ở trong tù Bác liên tưởng đến cảnh vật thiên nhiên ngọn cây rất giống với Trương Phi Rồi lại liên tưởng đến cảnh mình bị nhốt trong tù, mà không một chút hồi

âm, bồi hồi nhớ Tổ Quốc Dùng tích Trương Phi để ngụ ý muốn cùng với các chiến sĩ đánh đuổi giặc ngoại xăm, làm cho Tổ Quốc độc lập

Trong bài thơ số 132 Tức cảnh (Tức cảnh)

Bài thơ nhắc đến nhân vật nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc Quan vũ (? – 220) người huyện Giải, Hà Đông, nay thuộc tỉnh Sơn Tây, cuối đời Đông Hán là anh

em kết nghĩa với Lưu Bị và Trương Phi Năm 200 Lưu Bị bị Tào Tháo đánh bại, anh

em thất tán, Quan Vũ có nhiệm vụ bảo vệ gia quyến Lưu Bị Bị quân Tào Tháo vây hãm bức hàng Vì bảo vệ gia quyến Lưu Bị, Quan Vũ không giám liều đánh, miễn cưỡng phải hàng nhưng giao ước với điều kiện Hán không hàng Tào, khi biết tin Lưu

Bị ở đâu phải được cho đi theo ngay Tào Tháo đã xảo quyệt dùng thủ đoạn nhốt Quan

Vũ chung một phòng với hai người vợ của Lưu Bị hòng khiến Quan Vũ loạn luân với hai người chị dâu, hay ít ra cũng mắc tiếng mờ ám Quan Vũ cầm đuốc soi sáng suốt đêm bảo vệ hai chị và tỏ lòng trong sáng của mình Mặc dù, Tào Tháo dùng đủ cách mua chuộc Quan Vũ khi biết tin Lưu Bị đang ở trong quan Viên Thiệu, đã đưa gia đình Lưu Bị đi ngay, qua sáu cửa quan chém bảy tướng cản đường, nổi tiếng trung dũng Đã cùng Lưu Bị, Trương Phi, Khổng Minh dựng nên nước Thục Hán, xác lập thế chân vạc thời Tam Quốc Ông được cử giữ Kinh Châu Vì chủ quan để Đông Ngô cướp mất, bị bắt và bị giết Từ sau đời Tống, bọn phong kiến Trung Quốc thần bí háo

sự tích của ông, tôn ông làm Quan Công, Quan Đế Trong lòng nhân dân Trung Quốc

và Việt Nam, Quan Vũ luôn luôn là biểu tượng của tấm lòng trong sáng, trung dũng kiên cường

Ngày đăng: 02/04/2018, 05:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Huệ Chi, Nhật kí trong tù – Hồ Chí Minh. NXB Đà Nẵng – 2002 Khác
2. Nguyễn Huệ Chi, Suy nghĩ mới về Nhật kí trong tù. NXB Giáo dục- 1993 Khác
3. Nguyễn Đình Chú, Tạp chí văn học số 5 – 2000 Khác
4. Đặng Trần Côn, Chinh phụ ngâm khúc. NXB Bộ Giáo dục và Thanh niên 1969 Khác
5. Dương Quảng Hàm, Việt Nam Văn học sử yếu. NXB Hội Nhà văn 1996 Khác
6. Nguyễn Văn Huân và Bùi Huy Tuấn, Thành ngữ và điển cố Trung Hoa, NXB Hải Phòng – 2008 Khác
7. Diên Hương, Thành ngữ điển tích từ điển. NXB Tổng hợp Đồng Tháp – 1992 Khác
8. Nguyễn Văn Khôn, Hán Việt từ điển, Khai Trí xb, Sài Gòn 1974 Khác
9. Đoàn Ánh Loan, Đặc tính tu từ của điển cố văn học, 2009 Khác
10. Nguyễn Đăng Mạnh, Mấy vấn đề về phương pháp tìm hiểu và phân tích thơ chủ tịch Hồ Chí Minh. NXB Trẻ - 1999 Khác
11. Nguyễn Đăng Mạnh, Quan điểm và phương pháp nghiên cứu văn thơ Hồ Chí Minh. NXB khoa học Xã hội – 2006 Khác
12. Tôn Thảo Miên, Nhật kí trong tù tác phẩm và dư luận. NXB Văn học Hà Nội – 2002 Khác
13. Nguyễn Thế Nữu – Trần Hữu Dinh, Tạp chí Hán Nôm số 4 (83) – 2007 Khác
14. Nguyễn Tử Quang, Điển hay tích lạ. NXB trẻ - 2001 Khác
15. Phạm Đan Quế, Tìm hiểu điển tích trong Truyện KIều. NXB Văn học – 2001 Khác
16. Hồ Thị Xuân Quỳnh, Văn học Việt Nam hiện đại giai đoạn 1930 – 1945, 2009 Khác
17. Mộng Bình Sơn, Điển tích chọn lọc (2 tập). NXB Văn nghệ TPHCM – 2001 Khác
18. Nguyễn Gia Thiều, Cung oán ngâm khúc. Sài Gòn 1967 Khác
19. Trần Đắc Thọ, Tạp chí Hán Nôm số 1 (46) – 2001 Khác
20. Vũ Thị Kim Xuyến, Tạp chí Văn học số 9 – 1999 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w