1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CẢM HỨNG THẾ sự TRONG TRUYỆN NGẮN NAM bộ CUỐI THẾ kỷ XIX đầu THẾ kỷ XX

98 331 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lí do chọn đề tài Ở các giai đoạn trước, cảm hứng yêu nước, cảm hứng sử thi, cảm hứng công dân,… được các nhà văn Việt Nam lấy làm cảm hứng chủ đạo cho tác phẩm của mình thì giờ đây trư

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

BỘ MÔN NGỮ VĂN

PHẠM THỊ KIM TRÂN MSSV: 6095900

CẢM HỨNG THẾ SỰ TRONG TRUYỆN NGẮN NAM

BỘ CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX

Trang 2

4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

5 Phương pháp nghiên cứu

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Khái niệm về cảm hứng và cảm hứng thế sự

1.2.3 Đời sống văn hóa

1.3 Vài nét về truyện ngắn Nam Bộ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX

1.3.1 Lực lượng sáng tác

1.3.2 Các đề tài tiêu biểu

CHƯƠNG 2 CẢM HỨNG THẾ SỰ QUA NỘI DUNG MỘT SỐ TRUYỆN NGẮN

NAM BỘ CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẨU THẾ KỶ XX 2.1 Những vấn đề thế sự trong truyện ngắn Nam Bộ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỷ XX

2.1.1 Hiện thực về đời sống kinh tế của xã hội đương thời

2.1.1.1 Đời sống kinh tế nghèo nàn, lạc hậu

Trang 3

2.1.1.2 Vấn đề đồng tiền trong xã hội giao thời

2.1.2 Hiện thực về giai cấp thống trị

2.1.2.1 Quan lại bị tha hóa

2.1.2.2 Quan lại vô trách nhiệm

2.1.3 Vấn đề đạo đức và lối sống trong xã hội đương thời

2.1.3.1 Lối sống ăn chơi hưởng thụ phổ biến

2.1.3.2 Đạo đức con người bị sa sút nghiêm trọng

2.2 Quan điểm của các nhà văn trước những vấn đề thế sự

2.2.1 Sự lí giải của các nhà văn về thế sự

2.1.2 Cách giải quyết cho những vấn đề thế sự

CHƯƠNG 3 CÁC YẾU TỐ NGHỆ THUẬT GÓP PHẦN THỂ HIỆN

CẢM HỨNG THẾ SỰ

3.1 Ngôn ngữ

3.2 Nhân vật

3.3 Kết cấu truyện

3.4 Không gian nghệ thuật

3.5 Thời gian nghệ thuật

3.6 Chi tiết nghệ thuật

PHẦN KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Ở các giai đoạn trước, cảm hứng yêu nước, cảm hứng sử thi, cảm hứng công dân,… được các nhà văn Việt Nam lấy làm cảm hứng chủ đạo cho tác phẩm của mình thì giờ đây trước buổi bình minh của tiến trình hiện đại hóa văn học, văn học hai miền Nam Bắc giai đoạn cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX với những nhà văn bắt đầu hướng cái nhìn, sự quan tâm của mình nhiều hơn đến hiện thực cuộc sống, họ bắt đầu nói nhiều hơn, suy ngẫm nhiều hơn về những giá trị đạo đức, nhân cách sống của con người Có thể nói, vấn đề thế sự là một trong những vấn đề nhận được nhiều sự quan tâm từ độc giả bởi lẽ đó là những gì gần gũi, gắn bó với đời sống con người Đặc biệt là đối với người cầm bút bởi họ là những người có tâm hồn nhạy cảm trước thời cuộc và cũng bởi để tạo nên những tác phẩm có giá trị lớn thì tác phẩm đó phải mang tính hiện thực xã hội, gần gũi với thực tế đời sống và phản ánh chân thực những vấn đề đang diễn ra trong cuộc sống con người

Xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, văn học Quốc ngữ Nam

Bộ đã có những cách tân đáng kể và được xem là sớm nhất nước ta, cũng như đã đóng góp rất nhiều vào sự phát triển của quá trình xây dựng nền văn học Quốc ngữ hiện đại Nói đến văn học Quốc ngữ Nam Bộ giai đoạn này là nói đến sự mới mẻ, phong phú, đa dạng về đề tài, đặc biệt là ở mảng truyện ngắn, với những nhà văn có tâm hồn luôn nhạy cảm trước cuộc đời, họ mang đến những sản phẩm tinh thần hết sức gần gũi, phản ánh hết sức chân thực những vấn đề đang diễn ra trong đời sống Có thể nói rằng, truyện ngắn đã trở thành phương tiện đắc lực để các nhà văn tái hiện một cách sinh động, đa diện, đa chiều về những chuyển biến hết sức phức tạp của bối cảnh xã hội miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan cho rằng Nam Bộ không phải là “mảnh đất văn chương” vì thế một thời gian dài văn học Nam Bộ nói chung, truyện ngắn Nam Bộ nói riêng không được chú trọng khảo sát Song, đến nay, sau nhiều thập niên bị lùi vào quên lãng thì mảng truyện ngắn Nam Bộ đã trở về đúng vị trí của nó, bắt đầu nhận được sự quan tâm, tiến hành nghiên cứu đúng mức ở những quy mô khác nhau

Trang 5

Qua quá trình tìm hiểu, khảo sát các tác phẩm văn học Nam Bộ, người

viết chọn đề tài “Cảm hứng thế sự trong truyện ngắn Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX”, trước tiên là sự yêu thích đối với thể loại truyện ngắn, bên cạnh

đó nghiên cứu đề tài này một phần nào đó giúp người viết có cái nhìn sâu sắc hơn, thấu đáu hơn về những vấn đề thế sự thông qua quan niệm của các nhà văn,

và cách mà họ lí giải cho những vấn đề ấy khi đưa ra trong tác phẩm của mình, cũng như một phần nào đấy giúp người viết hiểu rõ hơn những đóng góp quí báo

mà các cây bút truyện ngắn Nam Bộ đã cống hiến Như những thư kí trung thành của thời đại, các ngòi bút Nam Bộ đã ghi dấu những điều văn học và xã hội cùng trải qua trong lịch sử

2 Lịch sử vấn đề

Trong những năm trở lại đây, mảng truyện ngắn Nam Bộ đã phần nào khẳng định được ý nghĩa, giá trị của mình trong lòng độc giả, đồng thời bắt đầu nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu thông qua việc sưu tầm, tổng hợp, khảo sát, được tiến hành với những quy mô khác nhau Ở nhà trường, thì với các luận án tốt nghiệp Đại học, Thạc sĩ,… Ở lĩnh vực nghiên cứu chuyên môn, thì có các công trình của các cá nhân và tập thể Về cơ bản, bước đầu đã có những nghiên cứu, đánh giá đúng mức, thỏa đáng về mảng văn học này Trong cái nhìn tổng quan từ trước và sau năm 1975, những công trình nghiên cứu về Văn học Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, có thể kể đến như:

Năm 1992, có công trình nghiên cứu của Bùi Đức Tịnh “Những bước đầu của báo chí, truyện ngắn, tiểu thuyết và thơ mới (1865-1932)”, quyển sách được

xuất bản lần 2 (xuất bản lần thứ nhất năm 1975 không có những tác phẩm truyện ngắn), lần này được tác giả bổ sung thêm vào mảng truyện ngắn đã góp phần làm nội dung tác phẩm được phong phú và trọn vẹn hơn Tuy chỉ vỏn vẹn với sáu

đoản thiên tiểu thuyết, song với lời nhận xét: “Nói chung, các truyện ngắn đáp ứng yêu cầu của đa số độc giả đương thời hơn là thể hiện ảnh hưởng của văn học Pháp Mục đích của người viết là giúp người đọc “mua vui” và suy ngẫm về nhân tình thế thái” [18; 126], nó cũng góp phần không nhỏ vào nguồn tư liệu có

giá trị cho quá trình khảo sát

Năm 1997, khi bàn về chất lượng văn học trong các sách truyện ở miền Nam cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, Cao Xuân Mỹ đã biên soạn quyển

Trang 6

“Truyện dài đầu tiên và Tuyển tập các truyện ngắn Nam Bộ (cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX)”, tác phẩm không đi sâu vào bàn luận mà chỉ tổng hợp những

mẫu truyện ngắn, góp phần giúp cho các nhà nghiên cứu thuận tiện trong việc tìm tư liệu khảo sát Những câu chuyện trong 20 truyện ngắn của tập sách là những chuyện đời thường của xã hội lúc bấy giờ Tuyển tập ra đời có ý nghĩa quan trọng, là cơ sở, tiền đề cho việc nghiên cứu và khảo sát truyện ngắn Nam

Bộ giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

Đến năm 2000, tiếp nối những công trình trước đó, Cao Xuân Mỹ cùng

Mai Quốc Liên ra mắt bạn đọc quyển “Tuyển tập truyện ngắn và văn xuôi Nam

Bộ nửa đầu thế kỷ XX, tập 2” Trong tuyển tập này, có những tác phẩm đoản

thiên tiểu thuyết thật đặc sắc của Trần Quang Nghiệp, mà theo Mai Quốc Liên

thì “Các đoản thiên tiểu thuyết của Trần Quang Nghiệp mà như ngày nay gọi là truyện cực ngắn hay truyện mini là những hoạt động bi hài đầy tính thời sự mà cho tới ngày nay vẫn còn nguyên giá trị” [9; 8] Bên cạnh đó, ông còn nhận định

“Nội dung các đoản thiên tiểu thuyết của Trần Quang Nghiệp tập trung vào các vấn đề đạo đức, nhân cách con người trong buổi giao thời nhố nhăng Lời văn nhẹ nhàng, dí dỏm nhưng tính phê phán lại sâu sắc, giàu ý nghĩa, người đọc luôn rút ra được những bài học sau dấu “…” của truyện” [9; 8] Đây cũng là sự

đóng góp rất đáng kể cho văn học Nam Bộ giai đoạn đầu, vì rằng Trần Quang Nghiệp cũng là một trong những cây bút tiêu biểu cho truyện ngắn Nam Bộ đương thời

Khi vai trò, vị trí của mảng truyện ngắn Nam Bộ giai đoạn đầu được nhìn nhận và khẳng định thì việc tìm hiểu về chúng được phong phú và đa dạng hơn

với nhiều đề tài, chủ đề khác nhau Song, đối với đề tài “Cảm hứng thế sự trong truyện ngắn Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX” vẫn còn là vấn đề khá mới

mẻ trong nghiên cứu Nhìn chung, các tác giả khi bắt tay vào nghiên cứu về

“cảm hứng thế sự” của văn học giai đoạn này thường đi sâu vào mảng tiểu thuyết, hoặc ở truyện ngắn thì chỉ đi sâu vào vấn đề thế sự đặt ra trong những tác phẩm của một nhà văn nhất định, chưa có sự nhận định về “nhân tình thế thái” một cách rộng rãi, khác nhau giữa các quan điểm của nhiều cây bút truyện ngắn cùng thời Song, tất cả những công trình đấy là những đóng góp rất đáng kể,

Trang 7

đồng thời cũng là những nền tảng hết sức vững chắc cho sự nghiên cứu khảo sát sau này và có thể kể đến những công trình như:

“Cảm hứng thế sự - điểm gặp gỡ và khác biệt giữa tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh với tiểu thuyết một số tác giả miền Bắc cùng thời” của hai tác giả Nguyễn Văn Nở và Huỳnh Thị Lan Phương Hoặc, “Cảm hứng thế sự trong truyện ngắn Phạm Duy Tốn” (Luận văn tốt nghiệp đại học), người viết đã đưa ra cái nhìn, sự

trăn trở của nhà văn Phạm Duy Tốn trước những vấn đề thời cuộc,…

Trong quá trình nghiên cứu, kiến thức cũng như sự hiểu biết của người viết còn rất nhiều hạn hẹp, vẫn chưa thực vững vàng nhưng người viết mong rằng với đề tài này sẽ góp một phần nhỏ của mình vào nguồn tài liệu giúp tìm hiểu và khảo sát về cảm hứng thế sự, về những chuyện đời, chuyện thế thái nhân tình trong xã hội miền Nam buổi giao thời đã cùng trôi theo dòng chảy văn học

3 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài “Cảm hứng thế sự trong truyện ngắn Nam Bộ cuối thế

kỷ XIX đầu thế kỷ XX”, mang đến cho chúng ta cái nhìn sâu sắc hơn về hiện thực

xã hội lúc bấy giờ, đồng thời còn giúp chúng ta thấu đáu hơn về quan điểm, về cách nhìn, cách đánh giá, cũng như cách tái hiện chân dung cuộc sống của các cây bút truyện ngắn ở miền Nam trong giai đoạn này Qua sự lí giải về những vấn đề thế sự mà các nhà văn đặt ra trong tác phẩm sẽ phần nào cho chúng ta thấy rõ hơn từng bước phát triển của quá trình hiện đại hóa nền văn học nước nhà

Ngoài ra, nghiên cứu đề tài này sẽ giúp chúng ta càng hiểu rõ hơn về sự đóng góp đáng kể của văn xuôi tự sự quốc ngữ Nam Bộ, trong đó có mảng truyện ngắn với những nét mới trong cách nhìn, cách đánh giá hiện thực cuộc sống con người của các tác giả, sẽ góp thêm cơ sở để khẳng định vị trí, vai trò đi tiên phong của trong quá trình hiện đại hóa văn học đầu thế kỷ XX

4 Phạm vi nghiên cứu

Với đề tài này, người viết sẽ tập trung khai thác những vấn đề thế sự mà các nhà văn Nam Bộ đã đặt ra trong các tác phẩm của mình, tiêu biểu qua những nội dung sau: sự sa sút nghiêm trọng về đạo đức và lối sống trong xã hội buổi giao thời; xã hội xuất hiện những chuyện lường gạt phổ biến cũng vì háo danh, ham tiền,…; quan hệ trong gia đình ngày càng lỏng lẻo; con người chạy theo lối

Trang 8

sống mới, thích ăn chơi, hưởng thụ, xa hoa; hiện thực về giai cấp thống trị phong kiến đương thời: tham nhũng, vô trách nhiệm,… tất cả những yếu tố đấy mang đến sự nhiễu nhương, rối ren, bất cập trong xã hội, phần nào làm vơi đi những giá trị đạo đức vốn có của con người Bên cạnh những nội dung thể hiện cảm hứng thế sự thì còn có sự đóng góp rất lớn của các yếu tố nghệ thuật cũng góp phần thể hiện cảm hứng ấy

Để nghiên cứu về đề tài này, vì thời gian và sự hiểu biết có hạn, người viết tìm hiểu thông qua một số đoản thiên tiểu thuyết Nam Bộ từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, mà tiêu biểu nhất là những đoản thiên tiểu thuyết của nhà văn Trần Quang Nghiệp, nhà văn Bửu Đình và một số tác giả cùng thời khác Đồng thời, người viết cũng đối chiếu những vấn đề thế sự mà các nhà văn miền Nam thể hiện với các nhà văn miền Bắc cùng thời (như Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn), để giúp chúng ta có cái nhìn rõ nét và thông suốt hơn về những chuyện đời, những việc đời nhưng không kém luân lí và bài học đạo đức cho công chúng, độc giả ở cả hai miền Nam Bắc

5 Phương pháp nghiên cứu

Với đề tài này, người viết vận dụng nhiều phương pháp để tiến hành nghiên cứu Trước nhất, người viết sử dụng các phương pháp như khảo sát, thống kê, phân loại nhằm tổng hợp tài liệu để nắm rõ hơn những đoản thiên tiểu thuyết của một số tác giả đã có công đóng góp cho kho tàng văn học Nam Bộ nói chung và truyện ngắn Nam Bộ nói riêng, phương pháp này còn giúp người viết

có cái nhìn khái quát hơn về đối tượng nghiên cứu, đồng thời cũng giúp thuận tiện cho quá trình khảo sát Cùng với đó, người viết sử dụng kết hợp với các thao tác phân tích, bình luận, chứng minh, nhằm làm rõ những vấn đề thế sự mà các nhà văn đã đặt ra, cũng như những boăn khoăn, trăn trở, lí giải của họ thông qua các tác phẩm của mình

Bên cạnh đó, người viết còn sử dụng các phương pháp lịch sử, phương pháp đồng đại, để đối chiếu hiện thực xã hội, những vấn đề thế sự xoay quanh cuộc sống đời thường thông qua các đoản thiên tiểu thuyết của một số nhà văn Nam Bộ với các tác phẩm của một số nhà văn Bắc Bộ cùng thời (Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học)

Trang 9

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Khái niệm về cảm hứng và cảm hứng thế sự

1.1.1 Khái niệm về cảm hứng sáng tác

Tác phẩm văn chương là sản phẩm tinh thần đặc biệt của nhà văn, và để

có được sản phẩm tinh thần đặc biệt ấy, chắc chắn các nhà văn đã phải trải qua là rất nhiều suy tư, trăn trở Khi những “đứa con tinh thần” ra đời sẽ đánh dấu cho

cả chặng đường dày công khổ luyện, và chứa đựng tất cả tâm huyết, lòng nhiệt thành cũng như sẽ giúp độc giả nhận định được tài năng của người cầm bút Một trong những nhân tố quan trọng góp phần làm nên phong cách nghệ thuật của nhà văn đó là cảm hứng sáng tác Ngoài vốn sống, những trải nghiệm phong phú trước cuộc đời, và một năng khiếu bẩm sinh thì đòi hỏi nhà văn còn phải có một tâm hồn nhạy cảm, tinh tế Có như thế mới có cái nhìn sâu sắc và thể hiện vấn đề lên trang viết một cách thật sâu sắc được, và cũng có như thế mới có thể làm rung động lòng độc giả

Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, có rất nhiều ý kiến đã đề cập đến những yếu tố về “cảm hứng”, “tưởng tượng” trong sáng tác tác phẩm văn học Song, cảm hứng ở đây được xem là nhân tố khơi nguồn cho mọi sự thăng hoa trong sáng tạo nghệ thuật, hay khác hơn nó là động lực để làm nên giá trị của tác phẩm Đồng thời, cảm hứng là một trạng thái tâm hồn đặc biệt thuộc về người nghệ sĩ, đó là trạng thái căng thẳng nhưng say mê khác thường và muốn làm ngay một việc “khác thường” Chính vì lẽ đó, đã có rất nhiều nhận định không giống nhau về nó

Trong bài Bàn về thơ Nôm (1917), Phạm Quỳnh nêu ý kiến: “Dù vậy cốt nhất vẫn là phải nuôi lấy cái “hứng” ở trong lòng trước đã Đã có cái cảm hứng đặc biệt thì làm thế nào cũng tìm được lời thích đáng mà diễn ra” Còn theo “Từ điển thuật ngữ văn học” do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử và Nguyễn Khắc Phi chủ biên, có nêu định nghĩa về “cảm hứng”: “Cảm hứng là trạng thái tình cảm mãnh liệt, say đắm xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật, gắn liền với một tư tưởng xác

Trang 10

định, một sự đánh giá nhất định, gây tác động đến cảm xúc của những người tiếp nhận tác phẩm”

Cảm hứng như một cơn gió thổi đến làm mát dịu những tâm hồn khô khan

và đồng thời xoáy tung cảm xúc của họ, nói như Nguyễn Quỳnh trong lời tựa tập

Tây hồ mạn hứng của Ninh Tốn; “Người như sông biển, chữ như nước, hứng thì như gió Gió thổi tới sông biển, cho nên nước lay động làm thành gợn, thành sóng, thành ba đào Hứng chạm vào người ta cho nên chữ nổi dậy, không thể nín được sinh ra ở trong lòng ngâm vịnh ở trong miệng, viết nên ở bút nghiêng, giấy mực”

Bên cạnh đó, trong quyển Từ điển tiếng việt 1999 - 2000 (Nguyễn Văn

Đạm chủ biên – Nxb Văn học tuổi trẻ, Hà Nội), cũng có định nghĩa về “cảm

hứng”: “Cảm hứng đó là luồng ý nghĩa tư tưởng có tính chất sáng tạo thường đột nhiên nảy sinh trong lòng nhà văn” Tiếp đến, Hoàng Trung Thông thì nói đến những điều gợi cảm hứng cho người nghệ sĩ: “Đứng trước một cảnh đẹp, người làm thơ cảm thấy hứng thú Lăn vào một cuộc sống, chiến đấu và lao động người làm thơ cũng cảm thấy hứng thú…” Theo đó, nhà thơ đưa ra cách hiểu của mình về cảm hứng như sau: “Cảm hứng được người ta xem như cái gì huyền diệu nhưng thực ra nó là một sự đồng cảm giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên, giữa sự thành công và thất bại, nỗi đau và niềm vui,

vì thế cho nên ở Việt Nam mới có chữ “cụt hứng” hoặc là “mất hứng” để nói khi

ta không còn có sự tiếp nhận một cách sung mãn với thiên nhiên hay với cuộc đời, với con người”

Vì lẽ đó, cảm hứng sáng tác có thể là “niềm say mê”, cũng có thể đó là những “ham muốn tích cực”, và khi những yếu tố ấy dâng cao trong lòng người nghệ sĩ tự khắc sẽ đưa đến hành động Tuy nhiên, cảm hứng không cho phép nhà văn đặt ngòi bút lên trang viết của mình với những ý tưởng nhạt nhẽo, rỗng tuếch

mà phải là “khơi những nguồn chưa ai khơi và tìm những gì chưa có” (Đời thừa

– Nam Cao), để làm được điều đó ngoài cảm hứng ấp ủ, tích tụ trong lòng còn cần phải có thời khắc thích hợp với ngọn lửa nhiệt huyết cao độ thì mới tạo được

sự thăng hoa, tỏa sáng Suy cho cùng, cảm hứng chỉ là chất xúc tác nhằm khơi nguồn cho những ý tưởng mới lạ và đứa con tinh thần của người cầm bút đẹp đẽ

Trang 11

hay xấu xí còn phụ thuộc vào sự rèn giũa tư duy của mỗi người thì mới mong mang lại giá trị và có sức sống lâu bền trong lòng độc giả

Như vậy, cái hay, cái đẹp của tác phẩm văn chương được hình thành từ xúc cảm của người nghệ sĩ trước hiện thực khách quan Và sáng tác được xem là

sự giao hòa giữa tâm hồn nhà thơ và ngoại giới bằng cảm xúc Qua các lối diễn đạt khác nhau, nhiều ý kiến khác nhau về cảm hứng sáng tác, cho thấy nó là yếu

tố quan trọng được xem như một lớp nội dung của tác phẩm văn học, góp phần đưa người nghệ sĩ tới đỉnh cao của cái đẹp và sáng tạo ra cái đẹp

1.1.2 Khái niệm về cảm hứng tư tưởng và cảm hứng chủ đạo

1.1.2.1 Cảm hứng tư tưởng

Theo Phương Lựu “Cảm hứng trong tác phẩm trước hết là niềm say mê khẳng định chân lí, lí tưởng, phủ định sự giả dối và mọi hiện tượng xấu xa tiêu cực, là thái độ ngợi ca đồng tình với những nhân vật chính diện, là sự phê phán,

tố cáo các thế lực đen tối, các hiện tượng tầm thường”

Cảm hứng tư tưởng trong tác phẩm là những nhận thức, lí giải, là thái độ của người cầm bút đối với “đứa con tinh thần” của mình Nó được thể hiện ở cả hai phương diện: nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Tư tưởng là linh hồn, là hạt nhân, là kết tinh của những cảm nhận và nó được thể hiện sống động qua những vấn đề nhân sinh trong tác phẩm Nội dung của cảm hứng tư tưởng trong tác phẩm đó là những tình cảm xã hội đã được ý thức và những tình cảm ấy, hoặc có thể là sự khẳng định: ngợi ca, biết ơn, tin tưởng, yêu thương, đau xót, thương tiếc,… hoặc có thể là sự phủ định những hiện tượng xấu xa, tiêu cực: tố cáo, căm thù, phẫn nộ, châm biếm, chế giễu, mỉa mai,…

Có thể nói, cảm hứng tư tưởng thuộc về phương diện chủ quan của nội dung tác phẩm và tư tưởng ấy náu mình trong những hình tượng sinh động,

những cảm hứng sâu lắng của tác giả Theo Bêlinxki cho rằng: “Tư tưởng thơ, đó không phải là phép tam đoạn luận, không phải là giáo điều mà là một ham mê sống động, đó là cảm hứng” Ông lại giải thích rằng: “Trong cảm hứng nhà thơ

là người yêu tư tưởng như yêu cái đẹp, yêu một sinh thể sống, thấm nhuần tư tưởng một cách nhiệt tình”

Như vậy, cảm hứng là một tình cảm mạnh mẽ, nó chứa đựng tư tưởng và những ham muốn tích cực để đưa nhà văn đến hành động Cảm hứng tư tưởng là

Trang 12

sức mạnh của tâm hồn, nó làm lay động tâm hồn và phát ra một sức mạnh hùng hậu không mang dấu ấn của sự tầm thường, giả tạo Có chăng, đó là những động lực thúc đẩy người nghệ sĩ vươn tới những cảm hứng nghệ thuật chân chính, đích thực

1.1.2.2 Cảm hứng chủ đạo

Theo Bêlinxki - nhà lí luận văn học Xô Viết, cảm hứng chủ đạo được hiểu

như là “điều kiện không thể thiếu được của việc tạo ra những tác phẩm hiện thực”, vì lẽ nó là động lực biến sự chiếm lĩnh thuần túy của trí óc về tư tưởng

thành một tình yêu mãnh liệt, một khát vọng nhiệt thành để châm ngòi cho những hành động, những suy nghĩ tích cực

Còn theo Hêghen thì, “Cảm hứng chủ đạo là tình thần thời đại xuất hiện trong cá nhân”, mà ở đây “Cảm hứng chủ đạo cần hiểu là tình cảm xã hội của thời đại xuất hiện trong tác phẩm” Những cảm hứng ấy, có thể là cảm hứng yêu

nước, cảm hứng công dân, cảm hứng nhân loại, cảm hứng anh hùng,… nói đến những cảm hứng ấy chính là nói đến những tình cảm mang ý tưởng lớn chi phối

sự đánh giá trong tác phẩm

Những tư tưởng tầm thường, giả tạo sẽ không thể mang lại niềm say mê cho người tiếp nhận, bởi cảm hứng chủ đạo như dòng mạch ngầm tư tưởng của tác phẩm, là yếu tố làm chi phối, khuấy động không khí xúc cảm của cá nhân người sáng tác lẫn đối tượng tiếp nhận thành quả sáng tạo Hay nói cách khác, đó

là những rung động trong tâm hồn nhà văn chi phối sự thống nhất của cảm xúc hiện tượng và hệ thống biểu cảm nghệ thuật của tác phẩm

Xem xét cảm hứng chủ đạo của một tác phẩm ta phải có cái nhìn từ nhiều bình diện Cảm hứng chủ đạo với cái nhìn dưới tư cách là tác giả đối với hiện thực được miêu tả, giúp ta có thể cắt nghĩa được sự vận động của một số yếu tố nội dung, hình thức trong chỉnh thể tác phẩm Nếu đặt cảm hứng chủ đạo với cái nhìn dưới tư cách là yếu tố bản thân nội dung tác phẩm, sẽ giúp ta chỉ ra được mạch cảm xúc tuôn chảy trong tác phẩm, cũng như lí giải được phần nào sức hấp dẫn, sức sống của tác phẩm với công chúng, độ bền bỉ của tác phẩm với thời gian

Nói như vậy để thấy rằng, cảm hứng chủ đạo quả thực đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với quá trình sáng tạo và thưởng thức văn học nghệ thuật

Trang 13

Nó như là sự hòa điệu tuyệt vời giữa thế giới quan và tài năng, bản lĩnh và mức

độ thâm nhập của người sáng tác vào hiện thực đời sống, cũng như nó có khả năng làm thức tỉnh những tình cảm ở độc giả, làm tiền đề cho sự tiếp nhận sâu sắc tác phẩm, biến quá trình tiếp nhận một cách khô khan thành tự nguyện nhờ

sự đồng cảm thăng hoa nghệ thuật

1.1.3 Khái niệm về cảm hứng thế sự

Nói đến cảm hứng là nói đến trạng thái tâm hồn đặc biệt của người nghệ

sĩ nhằm khơi nguồn cho mọi sáng tạo nghệ thuật Nói đến cảm hứng thế sự là nói đến cảm hứng về cuộc sống đời thường, là những điều tai nghe mắt thấy trong cuộc sống thường nhật để rồi bằng sự chiêm nghiệm thực tiễn người nghệ sĩ sẽ chế tác ra “đứa con tinh thần” chứa đựng tất cả sự kì vọng của mình, và những tác phẩm nghệ thuật ấy đó có thể là những suy nghĩ, tình cảm đối với cuộc sống,

là việc đời, là những lẽ thường và là cả những suy ngẫm về những con người hiện tại Những tác phẩm mang cảm hứng thế sự thường hướng đến những gì gần gũi, và quen thuộc trong đời sống, mà ở đó người cầm bút đã lắng nghe bằng trái tim nhiệt thành, để rồi từ những vụn vặt ấy họ đã giúp độc giả nhận ra chân giá trị cuộc sống

1.2 Những yếu tố khách quan góp phần tạo cảm hứng thế sự trong truyện ngắn Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

1.2.1 Hoàn cảnh chính trị, xã hội

Đầu năm 1858, thực dân Pháp nổ phát súng đầu tiên xâm lược nước ta ở bán đảo Sơn Trà, đó cũng chính là bước mở đầu cho dã tâm khai thác và bình định Việt Nam Đến năm 1897, về cơ bản bọn thực dân phong kiến đã thực hiện xong công cuộc chiếm lĩnh ở Việt Nam, chúng cử tên Pôn-đu-me sang làm toàn quyền Đông Dương và từ đó nước ta từ một quốc gia có chủ quyền bỗng phút chốc trở thành thuộc địa của một đế quốc lớn mạnh và xa lạ ở phương Tây Bên cạnh những công trình khai thác thuộc địa mang tính quy mô mà với chúng đó là khai hóa văn minh, xây dựng trật tự mới, nhưng thực chất dưới chiêu bài khai hóa ấy chỉ là những trò lừa bịp nhằm thực hiện chiến lược vơ vét khai thác tài nguyên thiên nhiên của nước ta, bóc lột nhân dân để làm giàu cho chúng điển hình là bọn chúng ban hành những chính sách cai trị hà khắc đối với nhân dân ta, đẩy nhân dân ta lâm vào bao cảnh lầm than, khốn khổ Núp dưới bộ mặt khai hóa

Trang 14

văn minh bọn chúng nhằm mưu đồ, dã tâm cướp nước ta, để thực hiện được điều

đó chúng ban hành Hội đồng tư vấn, bày trò dân chủ giả hiệu, lập ra Viện hàn lâm Bắc kì để dựng lên cái qui luật bảo vệ và phát triển văn hóa Dân tộc Việt Nam nói chung, đồng bào miền Nam nói riêng dưới sự cai trị của thực dân Pháp

đã và đang phải đối mặt với những tháng ngày đau thương, bi đát nhất của lịch

sử Xã hội xáo trộn đảo điên với bao cảnh lầm than, bao cảnh nhá nhem bất cập

và hứng chịu vẫn là những người dân vô tội vạ Chính những lẽ trên, xã hội Việt Nam phải chứng kiến, phải gánh chịu những thay đổi lớn cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, lẫn giáo dục

Từ sau hòa ước năm 1884, Nam Bộ đã sớm trở thành xứ thuộc địa do thực dân Pháp cai trị, cũng chính vì thế vùng đất này chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn minh vật chất và văn minh tinh thần từ phương Tây Sau khi chiếm được Nam

Kỳ, thực dân Pháp thành lập chính quyền quân sự mà mọi quyền lực đều nằm trong tay chúng Pháp đặt ra Hội đồng quản hạt Nam Kỳ trong đó có sáu người Việt và sáu người Pháp, họ ráo riết đề bạt thuế vụ và ngân sách, cứ thế bọn chúng tăng cường bóc lột nhân dân ta, ban đầu sự bóc lột của chúng chỉ là sưu thuế, mức thuế còn nặng nề hơn cả triều đình nhà Nguyễn đã từng ban hành, về sau chúng lại độc quyền về thuốc phiện và rượu Dưới ách áp bức nặng nề của thực dân Pháp, những cuộc vận động và đấu tranh cách mạng diễn ra ngày càng sôi nỗi, liên tiếp dưới sự lãnh đạo của tầng lớp sĩ phu yêu nước phần nào được tiếp thu tri thức tân học Điển hình là phong trào “Cải cách duy tân” gắn với những tên tuổi như: Phan Bội Châu, Cường Để, Nguyễn Thành Hiến, Trần Chánh Chiếu,… Ngoài ra, phong trào Đông Du phát triển một cách mạnh mẽ ở Nam Kỳ (1907-1908), con số du học sinh trên dưới hai trăm người, chỉ riêng ở Nam Kỳ đã chiếm một trăm người trong tổng số Sau vụ chống đi phu, chống nộp thuế ở Trung Kỳ năm 1908 và nhất là vụ Hà thành đầu độc tháng 6 năm

1908, thực dân Pháp càng tăng cường đàn áp cuối cùng phong trào Duy tân cũng tan rã Riêng ở Nam Kỳ, vẫn tồn tại những Hội kín âm thầm tập hợp lực lượng chờ cơ hội khởi nghĩa Có các cuộc khởi nghĩa của Phan Xích Long năm 1913, cuộc đánh phá Khám lớn của quân dân ở Sài Gòn diễn ra năm 1916, Tuy nhiên, do thiếu tổ chức, thiếu sự chỉ huy nên cuối cùng các phong trào ròng rã rồi

Trang 15

cũng thất bại, song vẫn thấy được tinh thần yêu nước mãnh liệt và tinh thần kháng Pháp quật cường của nhân dân ta

Chính sách khai thác thuộc địa đã làm cho vùng đất Nam Bộ mang những đặc điểm riêng về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa so với Bắc Bộ và Trung Bộ

Xã hội có những thay đổi sâu sắc trong buổi giao thời, đáng chú ý là sự xuất hiện của tầng lớp tiểu tư sản thị dân, bộ phận công chúng mới ở các đô thị Những người nông dân đói khổ bỏ ruộng nương lên thành thị kiếm sống, một số ít người thì được làm việc trong các công xưởng, nhà máy hay đồn điền thực dân, đa số còn lại trở thành những anh bồi, những phu xe, những vú em, con ở, những người “mua gánh bán bưng” và một bộ phận thì trở thành lưu manh, gái điếm,… Trong sự tái cấu trúc về mặt xã hội của Nam Bộ thời kì này, đáng chú ý nhất là

sự xuất hiện của tầng lớp tiểu tư sản, bộ phận công chúng mới ở các đô thị, những người nông dân nghèo, đói khổ bỏ ruộng nương lên thành thị kiếm sống, kéo theo xã hội tăng đáng kể số lượng dân nghèo thành thị với đời sống tạm bợ bấp bênh Dân số tập trung ngày càng cao ở các đô thị đồng thời cũng kéo theo nhiều sự hỗn tạp và tệ nạn xã hội Khi thực dân Pháp tiến hành khai thác thuộc địa lần thứ hai, xã hội miền Nam tiếp tục biến đổi theo con đường tư sản hóa, theo hướng của xã hội hiện đại phương Tây Pháp đầu tư vào Việt Nam mạnh mẽ hơn, chúng tăng cường khai thác đất đai để xuất khẩu gạo, lập đồn điền để trồng cao su, cà phê và các loại cây công nghiệp khác Thành phố Sài Gòn – Chợ Lớn

từ đó trở thành trung tâm chính trị, văn hóa của cả vùng đất Nam Bộ

Chính những biến động của xã hội miền Nam buổi giao thời, đã tạo những cảm hứng sâu sắc cho giới văn nghệ sĩ Nam Bộ và có lẽ đó cũng là nơi ra đời cho những tác phẩm chứa chan suy ngẫm về những sự đời, việc đời trong giai đoạn này

1.2.2 Tình hình kinh tế

Cuối thế kỷ XIX, kinh tế nước ta vẫn là nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu Trong quá trình mở rộng khai thác thuộc địa bọn thực dân có đầu tư vốn vào nước ta, tuy có đầu tư về nhân lực và kỹ thuật, song lại rất hạn chế Nhìn chung, nền kinh tế nước ta vẫn trong tình trạng mất cân bằng, bị phụ thuộc chặt chẽ vào kinh tế Pháp

Trang 16

Bấy giờ về mặt kinh tế, để thuận tiện cho việc khai thác triệt để, Pháp tăng cường xây dựng cơ sở vật chất ở Nam Kỳ Pháp cho xây dựng cảng Sài Gòn, mở đường tuyến xe lửa Sài Gòn – Mỹ Tho, xây cầu trên sông Vàm cỏ, bến phà Mỹ Thuận qua sông Tiền, Sân bay Tân Sơn Nhất, nhiều công xưởng ở Sài Gòn - Chợ Lớn như đóng thuyền, vận tải đường sông, nhà máy xay lúa đã được xây dựng … Đường sá được mở rộng hơn, có được sự thông thương vận chuyển, việc sản xuất lúa gạo cứ gia tăng, chi phí vận chuyển hàng hóa thấp mang lại nhiều lợi nhuận kinh tế Những năm chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918) cũng không gây ảnh hưởng đáng kể đến thị trường lúa gạo tại Nam Kỳ, Pháp tiếp tục cho đào thêm kênh chiến lược nhằm đưa lúa gạo tận Cà Mau xa xôi lên đến Sài Gòn Những người tham gia hoạt động kinh tế ở các lĩnh vực thương mại, sản xuất với các tiệm buôn, vựa lúa, cơ xưởng sản xuất lớn nhỏ tùy theo quy mô đã trở thành tầng lớp tiểu tư sản và tư sản Quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, đặc biệt là ở Sài Gòn, Chợ Lớn Dân số đô thị ngày càng đông, cuộc sống đô thị ngày càng phức tạp, thành phần dân cư ngày càng đa dạng với sự xuất hiện của các giai cấp và tầng lớp xã hội khác nhau: công nhân, tư sản bản xứ và tiểu tư sản thị dân…

Đầu thế kỷ XX, nền kinh tế có sự phát triển hơn trước, đất nước trên con đường tư sản hóa Tuy nhiên, thì sự phát triển không đồng đều giữa các vùng miền trên cả nước, khoảng cách chênh lệch giữa nông thôn và thành thị, giữa người giàu và người nghèo ngày càng rõ rệt Chính những điều đó, đã mang đến

sự bất công, cũng như những rối ren phức tạp trong xã hội đương thời

1.2.3 Đời sống văn hóa

Năm 1867, Pháp chiếm trọn sáu tỉnh Nam Kỳ, và đề ra nghị định dùng chữ Quốc ngữ La-tinh trong các giấy tờ chính thức Có thể nói, chữ Quốc ngữ là một tiền đề văn hóa rất quan trọng của văn học miền Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX Chữ Quốc ngữ đã được sáng tạo và xuất hiện vào khoảng nửa đầu thế kỷ XVII, tuy nhiên nó chỉ được sử dụng trong bộ phận đạo công giáo Họ dùng chữ Quốc ngữ để truyền đạo và nhằm vào trước hết là giai cấp nông dân nghèo khổ, cùng đinh ở nông thôn vì những người này không am tường về chữ Hán, chữ Nôm nên các giáo sĩ buộc phải nghĩ ra một thứ chữ để ghi lại và truyền bá những điều giảng dạy Song, lúc bấy giờ có nhiều ý kiến trái

Trang 17

chiều hoặc đồng tình ủng hộ học tập chữ Quốc ngữ, hoặc phản đối kịch liệt việc

học chữ mà theo họ đó là “chữ của lũ cướp nước” Lúc bấy giờ, tờ Gia Định báo,

ngày 15-04-1867 có cho đăng một đoạn nói về sự hữu dụng của chữ Quốc ngữ:

“Thầy Ký (Trương Vĩnh Ký) dạy học, có làm sách mẹo dạy tiếng Lang Sa, có chữ Quốc ngữ để người ta dễ học Những người kí lục giỏi, siêng năng, lo học chữ Quốc ngữ vì có hai mươi bốn chữ cái mà viết đặng muôn ngàn chuyện, chữ chi mắc rẻ cũng viết đặng, không phải như chữ ta, học già đời mà có chữ lạ viết không ra, ở đấy có phủ Tường (Tôn Thọ Tường) đã học đặng chữ Quốc ngữ, viết đặng, học đặng Chữ ấy chẳng khó đâu, ra công học một đôi tháng thì thuộc hết”, để giúp nhân dân ta có cái nhìn thông thoáng hơn về việc tiếp thu hình thức

Đa số sĩ phu Nho học đều không hưởng ứng việc học tập chữ Quốc ngữ vì họ vốn gắn bó lâu đời vớ chữ Hán mà với họ đó là “chữ của ta”, “chữ của thánh hiền” và cũng bởi do quan niệm chữ Quốc ngữ là sản phẩm của ngoại bang, tất

cả những gì liên quan đến Pháp đều xấu, thái độ bài xích rất dữ dội, họ cho rằng

đó là “chữ của Tây”, “chữ của lũ cướp nước” Dân tộc Việt Nam, với tinh thần nồng nàn yêu nước, ban đầu đã kháng cự và không cho con em mình học chữ Quốc ngữ đến mức người Pháp phải dùng biện pháp cưỡng chế, bắt đi học như đi sưu Trên thực tế khi xâm lược Nam Bộ, thực dân Pháp cũng đã nghĩ đến việc sử dụng chữ Quốc ngữ để làm công cụ nô dịch và đồng hóa nhân dân ta Thư của

giám mục Puginier gửi cho Tổng trưởng thuộc địa Pháp có đoạn viết: “Điều thứ nhất phải làm là bỏ chữ Nho và trước hết thay thế bằng tiếng An Nam với chữ viết Âu châu gọi là “quốc ngữ” rồi sau đó bằng tiếng Pháp” Ý đồ của bọn thực

dân là tách Việt Nam ra khỏi ảnh hưởng của văn hóa Trung hoa đễ người Việt dễ rơi vào vòng ảnh hưởng văn hóa Pháp Khi chiếm xong Nam kỳ, chính quyền thực dân đã nhanh chóng thực hiện mưu đồ này và chính sách phổ biến chữ Quốc ngữ do đó rất được coi trọng Trước tiên trong lĩnh vực hành chính, chữ

Trang 18

Quốc ngữ từng bước trở thành văn tự chính thức trong giao tiếp hành chính Nhiều thông tư nghị định đã được ban hành để thể chế hóa chủ trương này Nghị định ngày 22-2-1869 ghi rõ: “Kể từ ngày 1-4-1869 tất cả các giấy tờ chính thức, nghị định, quyết định, ấn lệnh, phán quyết, thông tư,… đều sẽ được viết bằng mẫu tự Âu châu với những chữ kí của người có thẩm quyền” Kế đến nghị định ngày 6-4-1878 yêu cầu: “Kể từ ngày 1-1-1888 không một tuyển dụng nào được thi hành, không một thang trật tự nào được cho phép trong ngạch phủ, huyện,

dân Pháp cũng đẩy mạnh việc đưa chữ Quốc ngữ vào lĩnh vực giáo dục Kỳ thi Hương đã bị xóa bỏ trước nhất ở Nam Bộ Nghị định ngày 14-6-1880 cho phép

“mỗi làng, thị trấn của tổng không có trường Pháp sẽ thiết lập một trường dạy chữ Quốc ngữ” và “những làng nhỏ có một trường dạy chữ Quốc ngữ sẽ được miễn mọi thuế đóng cho trường hàng tổng” Thực dân Pháp dùng cả biện pháp

cưỡng chế để bắt thiếu niên đi học Sau khi thành lập Sở học chánh Nam Bộ, ngày 17-3-1879 thực dân Pháp ban hành chương trình giáo dục Pháp – Việt ở Nam Bộ Chương trình gồm có hai cấp, trong đó ở cấp tiểu học ngoài tiếng Pháp, chữ Quốc ngữ cũng được giảng dạy chính thức trong môn tập đọc và viết tường thuật Tuy nhiên, ở hai lớp cuối bậc tiểu học thì phải dùng hoàn toàn tiếng Pháp,

và đó đã trở thành qui định bắt buộc

Đến những năm đầu thế kỷ XX trở đi, nhờ tiếp xúc với sách vở, báo chí

nước ngoài, nhờ ảnh hưởng của các phong trào Duy Tân luôn kêu gọi “trước hết hãy học ngay chữ Quốc ngữ”, nhiều người dân Nam Kỳ đã thấy rõ được ưu thế

và sự thuận tiện của chữ Quốc Ngữ Một phần vì lợi ích của sự giao tiếp và phần

vì cuộc sống mưu sinh, hầu hết những người thạo chữ Quốc ngữ rất dễ dàng tìm việc làm và số người ưu tú còn được Pháp đưa đi du học Điều mà thực dân Pháp không thể ngờ tới đó là chữ Quốc ngữ đã khơi gợi ở nhân dân ta lòng yêu nước, thức tỉnh nhân dân ta về sự thống nhất gắn bó dân tộc và đã trở thành tiếng nói chung trong toàn dân

Bước vào chế độ thuộc địa, trên danh nghĩa, vùng đất Nam kì cũng được hưởng quyền tự do báo chí Tuy nhiên, qua hệ thống các phương tiện truyền thông đại chúng, bọn thực dân Pháp chỉ muốn lợi dụng sự thiết lập ấy nhằm mang lại lợi ích cho chế độ thực dân của chúng mà thôi Song, tầng lớp trí thức

Trang 19

Nam kì đã biết nắm bắt và lợi dụng ngay quyền “tự do báo chí” để nhằm chống lại bè lũ cướp nước Những năm đầu của thế kỷ XX, Nam Bộ đã có sự xuất hiện của báo chí, điển hình là tờ Nông cổ mín đàm (1901) Sau đó là sự ra đời của tờ báo nổi tiếng Lục tỉnh tân văn (1907),… Ngoài ra, các nhà văn tiên phong trong giai đoạn này đã mau mắn phóng tác những tác phẩm văn học phương Tây bằng chữ Quốc ngữ và thông qua phương tiện báo chí để truyền bá nhằm phục vụ kịp thời cho tầng lớp độc giả mới Do nhu cầu phản ánh, nắm bắt thông tin về cơ chế thị trường và nhịp sống đô thị trong xã hội ngày càng cao, báo chí phát triển một cách mạnh mẽ ở Nam kỳ đã thúc đẩy quá trình sáng tác và hình thành đội ngũ các nhà văn, nhà báo chuyên nghiệp hơn Và để không ngừng thu hút đa dạng các tầng lớp độc giả, báo chí thường đăng tải nhiều kì với những tiểu thuyết, phóng sự, truyện ngắn,… Trong đó, truyện ngắn có lợi thế hơn hết, tuy dung lượng nhỏ nhưng có thể chứa đựng nhiều vấn đề khác nhau về ý nghĩa cuộc sống

và cũng như phản ánh kịp thời những biến động không ngừng của tâm tư, tình cảm, và số phận con người trong sự phức tạp của xã hội giao thời Các nhà văn Nam Bộ đã có ý thức về sức mạnh ngòi bút của mình cũng như vai trò của công chúng trong việc phát triển nền văn học mới và họ cũng ý thức được rằng, không

có con đường nào mang tác phẩm văn học đến độc giả nhanh bằng con đường báo chí

Như vậy, Nam bộ là vùng đất đầu tiên sử dụng chữ Quốc ngữ như chữ viết chính thức ở Việt Nam Chữ Quốc ngữ vốn dễ học tập và nắm bắt, tỏ ra rất thích hợp cho nền văn học mới, một nền văn học mang tính chất đại chúng Việc

chữ Quốc ngữ được sử dụng một cách rộng rãi đã “khiến cho số lượng độc giả tăng lên nhanh chóng” như nhà nghiên cứu Trung Quốc Nhan Bảo nhận xét

Chữ Quốc ngữ như cầu nối để văn hóa Việt Nam nhanh chóng tiếp xúc văn hóa phương Tây và đóng vai trò tích cực cho sự phát triển của Văn học Việt Nam nói chung, thể loại truyện ngắn của miền Nam nói riêng

1.3 Vài nét về truyện ngắn Nam Bộ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX 1.3.1 Lực lượng sáng tác

Truyện ngắn Nam Bộ giai đoạn cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX là sản phẩm tinh thần đặc biệt của một đội ngũ sáng tác hoàn toàn khác so với thế hệ cha ông về cả quan niệm sống và viết Song, trên nền chung, vẫn là những nhà

Trang 20

nho bị dứt khỏi môi trường sinh hoạt truyền thống, bị đẩy vào môi trường đô thị

và chấp nhận văn chương như một thứ nghề để mưu sinh

Bước vào thập niên 20, 30 của thế kỷ XX, có thể nói đoản thiên tiểu

thuyết đã nở rộ với hàng trăm tác giả và tác phẩm được đăng trên Đông Pháp thời báo, Nam Kỳ kinh tế báo, Thần chung, Tân thế kỷ (bao gồm cả những truyện

ngắn dự thi và dịch thuật), nhưng các sáng tác ấy đa phần của những nhà văn không chuyên và trong số đó phải kể đến sự đóng góp đáng kể của nhà văn Trần

Quang Nghiệp với những đoản thiên tiểu thuyết tiêu biểu như: Chọn đá thử vàng, Gặp người bạn cũ, Trên lầm dưới lỗi, Chuyến xe trưa, Hai bó giấy, Người thương của tôi, Ăn mày trúng số,…

Ngoài cây bút tiêu biểu là Trần Quang Nghiệp, truyện ngắn miền Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX còn có rất nhiều tác phẩm của các tác

giả không chuyên khác, chẳng hạn như: Chủ nhà phong lưu (1911) của Toản, Thời sự tiểu thuyết (1911) của Huỳnh Minh Phụng, Vịt một cẳng (1911) của P Hòa, Ôi! Ái tình (1922) của Công Bình, Bạch Công tử gặp Hắc Công tử (1925) của Mộng Xuân, Cũng vì ham bằng cấp tú tài (1931) của Thanh Nhàn, Cười ra nước mắt (1931) của Thái Bình Dương, Đồ hèn mạt (1931) của Thức Anh, Bà chủ nhà và tên Sốp-phơ (1931) của Vũ Văn Đang, Dưới cội đào (1932) của

Khổng Lồ,…

Các nhà văn Nam Bộ trong giai đoạn này, thường sử dụng ngôn ngữ và lối diễn đạt hết sức Nam Bộ cho các tác phẩm của mình Trong dung lượng là truyện ngắn, các nhà văn đã tái hiện khá sinh động những bức tranh về hiện thực cuộc sống và mang những dấu ấn riêng góp phần cho những suy ngẫm, những cảm hứng thế sự về thế thái nhân tình trong xã hội buổi giao thời

1.3.2 Các đề tài tiêu biểu

Vào giai đoạn cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, Văn học Nam Bộ nói chung, truyện ngắn Nam Bộ nói riêng phần lớn chứa đựng quan niệm sáng tác của người cầm bút là đưa hiện thực đời sống, những điều chân chất đang diễn ra hằng ngày trước cuộc đời thực vào tác phẩm Từng tác phẩm như những lát cắt rất chi tiết về cuộc đời, giúp độc giả thấm nhuần và ngẫm suy về những giá trị đạo đức vốn có của con người Cũng chính vì thế, đề tài các tác phẩm văn chương trong giai đoạn này rất phong phú, đa dạng, muôn màu vạn trạng, song

Trang 21

cũng thật gần gũi thân quen với những điều bình dị trong cuộc sống, và tất cả đều được các nhà văn Nam Bộ cống hiến cho đời, giúp ích cho xã hội

Các đề tài tiêu biểu từ cuộc sống nông thôn cho đến cuộc sống thành thị;

đề tài về tình yêu, hôn nhân, gia đình; Cho đến những lối sống mới, với những chuyện lường gạt phổ biến;… tất cả đều được miêu tả, phản ánh một cách khá sâu sắc và sinh động qua các khía cạnh cụ thể ở các chủ đề khác nhau như: vấn

đề đạo đức, nhân cách con người trong xã hội giao thời; vấn đề tình bạn, tình yêu; vấn đề đồng tiền; vấn đề giáo dục trong xã hội đương thời; hiện thực về giai cấp thống trị… Chính sự phong phú và đa dạng về đề tài mang đến sự đóng góp

to lớn cho kho tàng truyện ngắn miền Nam giai đoạn này

Trang 22

CHƯƠNG 2 CẢM HỨNG THẾ SỰ QUA NỘI DUNG MỘT SỐ TRUYỆN NGẮN NAM BỘ CUỐI THẾ KỶ XIX

ĐẦU THẾ KỶ XX

2.1 Những vấn đề thế sự trong truyện ngắn Nam Bộ cuối thể kỷ XIX đầu thế kỷ XX

2.1.1 Hiện thực về đời sống kinh tế của xã hội đương thời

2.1.1.1 Đời sống kinh tế nghèo nàn, lạc hậu

Từ bao đời nay, đất nước Việt Nam vốn dĩ là một đất nước nông nghiệp, người dân Việt Nam nói chung, đồng bào miền Nam nói riêng, đã có sự gắn bó máu thịt với cây lúa, với cánh đồng, thế nhưng khi gót giày xâm lược của thực dân Pháp đặt lên toàn bờ cõi với dã tâm muốn biến nước ta thành thuộc địa thì nền kinh tế Việt Nam từ kinh tế nông nghiệp lạc hậu nay luồng gió “khai hóa” đã bật tung tất cả và chuyển dần sang nền kinh tế tư bản, thật không dễ dàng cho dân tộc Việt một sớm một chiều có thể thích nghi Bộ mặt xã hội phong kiến, đặc biệt là xã hội nông thôn Nam Bộ biến đổi một cách sâu sắc và chưa từng thấy trong lịch sử dân tộc, chính những biến đổi này đã phơi bày tất cả những mặt hạn chế, rối ren của xã hội Người nông dân một nắng hai sương bao đời gắn bó với đồng ruộng nay bị đẩy khỏi mảnh đất của mình, và trôi dạt về thành thị, nơi có những nhà máy, cơ sở sản xuất của các nhà tư bản nổi lên Những người nông dân tuy quần quật “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” nhưng họ được làm chủ trên cánh đồng của mình thì giờ đây trở thành những người làm thuê với lương công rẻ mạt hoặc trở thành phu xe, bồi bếp, con ở trong gia đình giàu, hoặc một

số sa vào con đường cùng quẫn, trở thành những kẻ lưu manh, gái điếm, trộm cướp…, cũng từ đó mà tầng lớp dân nghèo thành thị ra đời Ngoài ra, một số bộ phận trong xã hội làm ăn buôn bán phát đạt đã lập nên những cơ sở kinh doanh, sản xuất và đã tạo ra tầng lớp tiểu tư sản, tư sản thành thị trong xã hội Những biến động sâu sắc của xã hội khiến đời sống người dân càng trở nên nghèo nàn lạc hậu, cùng quẫn và bế tắc hơn

Trang 23

Trong các truyện ngắn Nam Bộ giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, các tác giả truyện ngắn miền Nam thường không chú trọng khai thác kĩ mảng đề tài về đời sống kinh tế nghèo nàn, lạc hậu của người dân Nam Bộ và nếu có khai thác thì cũng không nhắc đến một cách trực tiếp mà chỉ thông qua câu chuyện về

một vùng quê nào đó ở các tỉnh phía Bắc Điển hình qua tác phẩm Cười ra nước mắt, nhà văn Nam Bộ Thái Bình Dương đã mượn bối cảnh nạn đói, nạn rét đến

thê lương, đã dày xéo, đẩy đưa một gia đình nhỏ ở vùng quê Thái Bình vào hoàn cảnh khốn cùng, bế tắc nhằm làm nền chung cho sự xuống cấp đến thảm hại của nền kinh tế nước nhà Mở truyện, tác giả đã dựng lên trước mắt người đọc là

hình ảnh “Trời chập chạng, một người đàn bà chỉ mặc một cái ướm, ngồi chài bài dưới đất, ru một đứa con dại độ 2 tuổi đang nằm khóc u oa trong nôi, một đứa nhỏ nữa, độ 6, 7 tuổi, ở trần ở truồng, má cóp má xanh, hai chơn tay ốm nhôm như ống sậy, đứng một bên mẹ nó khóc rên: “Rét lắm bu ôi! Đói lắm bu ôi!”.”, chúng ta thấy cái nghèo đói dường như đang bủa vây gia đình ấy “Nầy con ôi, vú cũng đói cũng rét như con vậy! Con nán chờ một chốc nữa, bố đi lãnh tiền và gạo về đây thì tha hồ mà no con ạ!” Suốt cả năm trời quần quật, vất vả

làm lụng chỉ mong kiếm đủ cái ăn, mong một manh áo lành chống chọi cái rét thế mà trong không khí tết đến như vầy gia đình ấy họ nghèo vẫn cứ hoàn nghèo, đói rét thì vẫn cứ hoàn đói rét

Dù nhà văn Thái Bình Dương không trực tiếp nói đến nạn nghèo, nạn đói của xã hội Nam Bộ nhưng thông qua lời nói của nhân vật người chồng, người

cha trong gia đình khi đi xin trợ cấp từ hội đồng cứu tế trở về “Bấy nhiêu gạo đó,

ăn nhơn nhịn cho tới mồng 4 Tết, chớ nếu ăn thật no thì hụt rồi không biết xin ai nữa, bu nó nghe không”, cũng đủ cho độc giả nhận ra hiện thực về sự lạc hậu,

xuống cấp của nền kinh tế và qua đấy độc giả sẽ tự ngầm hiểu về thực trạng của đồng bào Nam Bộ trong buổi giao thời Nam Bộ là vùng đất phì nhiêu màu mỡ, mưa thuận gió hòa, thế nhưng trong tình hình chung của nền kinh tế nước nhà thì vùng đất ấy cũng không tránh khỏi cái nghèo, cái đói đang vây bủa ;… Song ,

qua truyện ngắn Cười ra nước mắt, còn giúp chúng ta phần nào nhận ra trong cái

nhìn của các tác giả truyện ngắn Nam Bộ có gì đó không được lạc quan, đặc biệt

là đối với thực trạng nền kinh tế nước nhà trong giai đoạn hiện thời

Trang 24

Dù không trực tiếp đưa vào trang văn của mình những thực trạng khó khăn của kinh tế, xã hội Nam Bộ, nhưng trong một số tác phẩm ta vẫn có thể bắt gặp các nhà văn Nam Bộ đã hướng cái nhìn của mình vào xã hội, với hình ảnh ông lão già phải đi ăn xin từng đồng, từng cắt được bố thí từ lòng thương hại của

mọi người trong tác phẩm Ăn mày trúng số của nhà văn Trần Quang Nghiệp; hay

hình ảnh chị vú nghèo đáng thương phải đi ở đợ cho lão Huyện giàu, để rồi chị

bị lão ta hại đời con gái trong tác phẩm Lỗi bù lỗi,…

Bên cạnh những số phận, những cảnh đời nghèo khó đã được các nhà văn Nam Bộ phát hiện trên trang viết, thì dưới ngòi bút của các tác giả miền Bắc là

biết bao mảnh đời phải sống trong cảnh lầm than “thấy có một người gầy gò, yếu đuối, khẳng kheo, cố công cùng sức kéo miết cái xe tay, mà không sao nhích được, xe chồng chất hai bồ xem chừng đã nặng, lại còn một mụ vắt vẻo trong xe” (Câu chuyện thương tâm), Phạm Duy Tốn đã xây dựng hình ảnh một người dân

nghèo đại diện cho biết bao tầng lớp nghèo khổ ngoài xã hội, với thân hình thì

ốm yếu, gầy guộc họ đánh đổi cả danh dự của mình chỉ vì cuộc sống mưu sinh, chỉ vì vài đồng bạc cắt và chính cuộc sống thiếu thốn ấy đã vắt kiệt sức khỏe của

họ, họ lê từng bước, từng bước chân để kéo xe với đầy ắp những đồ đạc mà đúng

ra công việc nặng nhọc ấy phải nhờ vào sức kéo của vật nuôi

Đời sống kinh tế khó khăn, khiến nhân dân ta phải hứng chịu và đối mặt với biết bao thách thức, gian khổ Dù xã hội miền Bắc hay miền Nam trong buổi giao thời, thì những cảnh lầm than, cơ cực của dân nghèo cũng cứ thế mà ngồn ngộn hiện lên trên từng trang viết

2.1.1.2 Vấn đề đồng tiền trong xã hội giao thời

Trong xã hội giao thời, đồng tiền lên ngôi và chi phối mọi mặt đời sống con người Thật ra, vấn đề đồng tiền không phải là vấn đề mới mẻ trong văn học,

đã một thời các cụ Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Tú Xương,… từng lên án gay gắt và đặt nó vào đời sống nhân vật mình Song, vấn đề đồng tiền hiện lên trong

xã hội giao thời cũng không kém phần nhức nhối, điển hình như trong tác phẩm

Chuyến xe trưa, Trần Quang Nghiệp đã khắc họa hình ảnh cô ba Dung, cô đang

tuổi kén chồng, vì nhẹ dạ cả tin cộng với lòng tham mù quáng đã giết chết đời

cô Với ngoại hình “coi cũng được”, đôi khi cũng có một vài anh trêu nhưng cô

không ưng bụng vì “Cái quân phèn đóng mốc cẵng, ai thèm!” Cuộc sống xa hoa

Trang 25

giàu có, sự chớp nhoáng, ảo ảnh nơi đô thị đã làm cô tham mê Theo thư người chị, cô khăn gối lên Sài gòn để “kén chồng”, với cô thì chồng mình phải là người trai đứng đắn, giàu sang, vợ chồng yêu thương nhau, sống rất đầm ấm hạnh

phúc “Cô mơ màng thấy mình ở Sài Gòn cùng với một người trai đúng đắn lắm; chồng vợ yêu thương nhau, một bước không rời, thường cùng nhau ăn ở nhà hàng xem hát cải lương, gia đình rất là yên vui đầm ấm” Và cuối cùng người cô

chọn trong phút chốc là thầy Lớn, người đàn ông đi cùng cô trong chuyến xe từ Cần Thơ lên Sài Gòn, và ông ta cũng là mẫu người chồng mà cô hằng mơ tưởng

Vì sự ham mê vật chất, cô khờ dại cả tin lời của gã đàn ông ấy, những lời ngon ngọt như mật rước vào tai hóa ra là những tiêu chuẩn “giăng bẫy” của kẻ lọc lừa, qua cuộc trò chuyện giữa thầy Lớn và thầy nhỏ đi cùng: chọn vợ thầy chọn “cô gái ở đồng”, “ở vừa lòng tôi là đủ”, và tất cả những lời cởi mở khoe mẻ về tài sản của mình đã làm cô ba Dung hoa mắt Đến Sài Gòn thay vì đến nhà chị kén một tấm chồng qua mai mối, cô ba Dung một mạch khăn gối theo, ăn ở với thầy

Lớn Để cuối cùng, “Tôi với cô không phải là có duyên nợ, nợ duyên chi chi nhưng thấy cô có vàng bạc chút đỉnh mà không biết xài, ý cô cũng muốn chồng nên tôi vô làm chồng cô tạm trong mấy ngày và dạy cô ăn xài chơi cho biết Hôm nay tôi xin kiếu cô nhưng cũng còn nghĩ lại chút tình, để cho cô hai đồng về xe”,

sự thực phũ phàng đến với đời cô “Cô khi không mà lớn bụng”, đó là bằng chứng

cho sự nhơ nhớp, mất tất cả danh dự vì một tấm chồng “đúng đắn”, âu đó cũng là kết quả cho mối tình hào nhoáng vì ham mê đời sống kiêm tiền

Ở đây, việc cô ba Dung mơ ước cho mình một người chồng đúng đắn, giàu sang, thương yêu cô là điều rất đỗi bình thường như bao cô gái khác, nhưng

cô cũng hết sức thực tế khi chỉ muốn có một tấm chồng giàu, nhiều tiền nhiều của mà quên đi hạnh phúc thực sự của mái ấm gia đình Trong phút chốc, chính đồng tiền đã làm mờ mắt và giết chết đời cô Cô đã đi nhằm “chuyến xe trưa” và chuyến xe ấy mang đến đời cô nhiều điều ngang trái Phải chăng cuộc đời người như một chuyến xe trưa và hành khách thì phải luôn luôn cẩn trọng trước khi bước lên chuyến xe ấy, kẻo kết quả cuối cùng ta lại đổ thừa cho việc “đi nhằm chuyến xe trưa?” Điều đáng lên án ở đây chính là những con người lường lọc, dối trá cứ thế ung dung, tồn tại, sống trên những đồng tiền lừa bịp, rồi sẽ còn biết bao “cô ba Dung” nhẹ dạ, đánh đỗi cuộc đời mình cho chúng nữa?

Trang 26

Trong tác phẩm Cũng vì ham bằng cấp tú tài, cô Lê Thị Phi Tiễn cũng

“nhiễm sự giàu sang cho nên cô chỉ ước làm sao cho cô có một người chồng xứng đáng làm ông này, ông kia, có bằng cấp tú tài, tấn sĩ, cùng là cử nhân,…

mà lại giàu sang, ruộng cò bay thẳng cánh, thì cô mới chịu lấy làm chồng cô”

Vì thế, cô đã từng khinh rẻ, chê bai những người hỏi cưới cô mà nghèo khó Thầy Hoàng Vô Tâm là một trong những người từng bị cô coi thường, khinh miệt, nhưng thầy nhất quyết cưới cô cho bằng được chỉ vì “cho bõ ghét”, thầy

bày ra kế sách “thầy mới năn nỉ ông Cò mi Ngô Minh Thẹo… đặng mượn bằng cấp tú tài và xe Talbot Limousine của ông”, thầy dùng cái vẻ hào nhoáng bên

ngoài để cưới được vợ chanh chua Song, chuyện vỡ lẽ thầy cũng thật thà thú

nhận với vợ và gia đình nhà gái “cô Phi Tiễn nghe nói ứ hự, mặt cô dàu dàu, việc

đã lở ra rồi biết tính làm sao?” Chính xã hội đồng tiền đã đẩy ông ta vào con

đường xảo huyệt, muốn cưới được vợ phải che mắt, lừa lọc, phải mượn tiếng giàu sang, phô trương hình thức thì mới hòng đạt được mục đích

Ngoài ra, ở những tác phẩm khác như Gái đâu có gái lạ lùng của Liên Chiểu hay Hai bó giấy của Trần Quang Nghiệp cũng đề cập đến tiêu chuẩn kiếm

chồng của những người phụ nữ ấy và với họ tiền là thước đo tình ái, là thước đo cho hạnh phúc hôn nhân của mình Chính vì thế, hạnh phúc thực sự, một người chồng đứng đắn thực sự với họ chỉ là điều hoang tưởng, cứ thế họ lao vào cuộc truy hoan kiếm tìm giấc mộng sang giàu và cũng chính bởi thói hám tiền, hám giàu là nguyên nhân dẫn đến bi kịch cho cuộc đời họ Thế đấy, những việc đời rất đỗi bình thường trong cuộc sống đã được các nhà văn Nam Bộ phanh phui trên trang viết của mình, từ việc nhỏ nhặt là “kén chồng” nhưng sâu sắc hơn là các nhà văn muốn hướng cái nhìn thế sự vào số phận những cô gái hám danh ham tiền và có lẽ kết quả cuộc đời cô ba Dung, cô Phi Tiễn,… sẽ trở thành bài học đáng giá cho những cô gái đang mơ màng một tấm chồng đúng đắn, lắm bạc nhiều tiền

Không chỉ thể hiện cái nhìn của mình vào sự hám tiền của những cô gái trong đường tình duyên, các tác giả truyện ngắn Nam Bộ còn thể hiện sự quan tâm của mình vào những mối quan hệ gia đình, nơi mà tình nghĩa gia đình được đặt trên hàng thứ yếu thì nay chính bởi đồng tiền đã chi phối mạnh mẽ, làm mất

đi tình nghĩa thâm giao, ruột rà máu mủ Ông Cả Bình trong Số bạc mười ngàn,

Trang 27

sắp cưới vợ cho con là cậu Hai Lang Hai vợ chồng ông Cả là những người hám danh, chuộng vẻ bề ngoài vì thế trong đám cưới con, ông bà mời toàn những

người quyền cao chức trọng, giàu có như “ông hội đồng Tư có xe hơi mới; thầy cai thầy phó,…” Duy, ông Hương Hào ở trên Biên Hòa, bác ruột cậu hai Lang, chỉ vì ông nghèo nên không được mời đến dự đám cưới cháu mình “may nhờ thằng Kiệt nó đọc nhựt trình nên bác mới hay mà xuống đây” Với cái nhìn phân biệt đối xử, cái nhìn khinh rẻ, miệt thị sự nghèo “Cậu hai Lang dòm kỹ thấy ông bịt một cái khăn đen mà chỗ mấy lằn xếp bị gián cắn nên bày tim đèn ra trắng trắng, áo cổ giữa ông giặt ở nhà nên không được sạch, bâu không cứng; đôi giầy

da láng ông dùng đã lâu nên hết láng hết đen mà lại trổ màu mốc mốc” hay khác

hơn cái nhìn ấy là cái nhìn của kẻ thiếu nghĩa tình, nhân cách, thậm chí cái nhìn

ấy còn là sự xua đuổi, vì rằng gia đình và cả cậu hai nữa không có nhã ý mời ông, họ thực lòng không mong muốn sự có mặt của ông trong bữa tiệc Họ đối

xử với ông chẳng khác nào một kẻ ăn mày nơi “đầu đường xó chợ”, hoàn toàn

không với tư cách là người anh, người bác “Ông Hương hào ngồi một mình, trước một mình, sau cũng một mình, không ai nói tới”, ta thấy diễn biến tâm trạng rất đỗi bình thường của ông Hương Hào “em mình, cháu mình nó không coi mình ra gì thì giận, buồn, tủi hỗ lộn xen” và rồi “nước mặt rịn rơi hai khóe rồi chảy ào ra lăn dài theo má”, và rồi ông chẳng chịu được nữa mà ôm gói, xách

dù, lùi lũi bỏ về, tâm trạng ông như thế xem ra là lẽ hiển nhiên của một con người Chính vì tình, vì nghĩa, vì ông thương yêu đứa em, đứa cháu này, nên dù biết nó không có ý định nhớ tới mình trong ngày vui của nó nhưng ông vẫn cứ đến, gạt đi tất cả lòng tự ái chỉ vì ông trọng nghĩa trọng tình Song, chính sự bạc nghĩa, trọng tiền của họ là nguyên nhân khiến ông Hương hào đau lòng nhất, cũng chính vì thế nên ông quyết định đem số bạc mười ngàn mà bấy lâu ông chắt chiu dành dụm, làm ăn rồi tiện tặn, định bụng đến ngày cháu cưới vợ, ông sẽ đem đó làm quà cho cháu bởi vì ông không có con cái chi hết nhưng nay ông quyết định đem tất cả quyên góp vào Hội phước thiện vì bản chất của em, của cháu đã lộ rõ, họ sống chỉ vì hai chữ kiêm tiền Tuy nhiên, điều quan trọng đáng nói ở đây, ông Hương hào không chỉ vì giận vì buồn mà không cho cháu mình số bạc ấy, mà chính vì sự rạn nứt trong tình nghĩa anh em, bác cháu, thà ông giúp người đời qua cơn khốn khó còn hơn đem tất cả sự kỳ vọng của mình, tình yêu

Trang 28

thương của mình cho nhầm những kẻ vô lương Ở đời, tiền bạc là quý, là cần nhưng nghĩa tình cũng nặng bằng trời, không bạc tiền chi mua được Khi cậu Hai Lang biết rõ sự tình thì hối hận nhưng không thể cứu vãn, nên đành tự cay đắng cho bản thân mình Số bạc mười ngàn khá lớn nhưng cái lớn hơn là tình nghĩa ruột thịt chẳng còn Thế đấy, thói đời nịnh bợ kẻ giàu sang, quyền thế, hắt hủi lạnh nhạt với người nghèo lắm lúc đưa người ta vào cảnh “sống dỡ chết dỡ” như vậy và đây cũng là bài học cho cậu Hai Lang cùng người nhà cậu ấy và cũng là bài học đáng nhớ cho tất cả mọi người: đừng vì vẻ hào nhoáng bên ngoài của vật chất thấp hèn mà khinh bạc nghĩa tình ruột thịt, nhìn vẻ bề ngoài mà đánh giá bản chất con người

Đến đồng tiền trong Bạch công tử gặp Hắc công tử của Mộng Xuân, là

đồng tiền mạnh bạo, đồng tiền thế lực, nó sang bằng tất cả đạo lí, nghĩa nhân Tình bạn, tình anh em kết nghĩa giữa cậu tư Tiền Giang và cậu ba Hậu Giang có được là bởi mượn nhờ thế lực kiêm tiền và cũng chính bởi bạc đồng đã tráo trở tình nghĩa bạn bè thành lòng thù hận Cậu ba Hậu Giang vì mê đắm người tình

của cậu Tư Tiền Giang “Cậu ba Hậu-giang lúc ấy hồn bay phách mất, mình ngồi

đó mà hồn ở đâu… sậc sừ như tỉnh như say, rượu chưa cạn ba ly, mà trí giả không nhứt định Còn cậu tư thì tình thiệt, không chút chi để ý, nên cứ điều nói nói cười cười, nào biết ý cậu ba, thấy cục thịt ba rọi của mình thèm thôi nhiểu nước miếng”, sự ham mê gái đẹp là một lẽ nhưng lẽ khác cũng bởi vì thói ganh tị

ở đời “… Tuy ta đã nếm trải mùi đời về đường hoa-nguyệt, song bấy lâu nay chưa từng gặp một đứa tuyệt-sắc giai-nhân như con tình nhân của Tiền-giang công-tử, thiệt hắn có diệm-phước nên mới đặng hưỡng món ngon nhứt đó! Cũng thời công tử với nhau, Tiền-giang công-tử chọn đặng một nàng tuyệt-sắc, còn ta đây củng công-tử, mà gặp tinh những bà chằng không, chẳng là xấu hổ cho ta lắm! Vậy ta làm sao? Làm thế nào cho cờ nọ về ta… ngọc kia vào túi, mới khỏi mất thễ-diện ta là Hắc-công-tử ở Hậu-giang chớ.” Để đạt được những suy tính

đê hèn của mình không cách nào hay hơn bằng dùng bạc tiền để mà kéo lôi tình

ái và ta thấy đạo nghĩa vợ chồng yêu thương chia sẻ cũng không bằng sức mạnh của tờ giấy bạc Cậu ba nhờ một tấm giấy bạc mà cướp được người tình kiều

diễm của cậu Tư “Làm… làm bộ… gì… vậy… nà! Rồi lại đứng chận ngan cữa, móc bốp-phơi ra lấy một tấm giấy xăn đưa cho nàng nọ” “Nàng nọ tuy bấy lâu

Trang 29

theo Bạch-công-tử cũng túc y túc thực, song máu tham hễ thấy hơi đồng thì mê, nên vói lấy tấm giấy sắc mặt đang giận đổi lại thành vui…” Và người đẹp đã vui

lòng ưng thuận, nghĩa là với cô không có khái niệm tình yêu, tình nghĩa mà trong trường tình ấy chỉ vì chữ tiền Có thể nói, tình nghĩa, tình yêu chẳng qua là sự mua bán, đổi chác sòng phẳng, trắng trợn Độ giàu có của đồng tiền trở thành thước đo tình ái: tiền nhiều là tình nhiều và ngược lại

Vì đồng tiền mà người ta có thể dễ dàng buông lỏng danh dự nhân phẩm của mình, vì đồng tiền mà người ta có thể chơi trò xỏ lá vụn vặt trong tình bạn

Trong Gặp người bạn cũ, một thanh niên trong lúc đang rất túng quẫn, khó khăn

“trong túi không có đồng xu”, thì tình cờ gặp một người nhận là bạn cũ năm xưa, mặc dù trí nhớ của anh ta về người bạn ấy chỉ là mờ nhạt, song họ mừng mừng

rỡ rỡ dẫn nhau vào chầu nhậu nhẹt, cốt để bạn bè trò chuyện tâm giao Anh bạn

cũ tỏ vẻ giàu sang hơn ra chiều chiêu đãi bạn mình để lên mặt là lắm tiền nhiều của vì rằng anh ta may mắn lấy được vợ giàu sang, sắp sắm xe hơi, còn có cả cô

em vợ rất đẹp mà vẫn chưa chồng, sau một hồi huyên thuyên nhỏ to tâm sự đến khi buổi tiệc phải tàn thì cũng là lúc anh bạn cũ giàu sang phải móc hầu bao của mình để trả tiền cho bữa tiệc thịnh soạn ấy, song anh ta dửng dưng thốt rằng trớ trêu thay đã quên “bỏ ví ở nhà”, vội xin về nhà mà lấy, để lại anh bạn nghèo làm vật thế chân và nghiễm nhiên anh bạn “giàu sang có vợ giàu và sắp sắm xe ấy”

đã một đi không quay lại nữa Sự trốn chạy của anh chàng danh ảo ấy đã để lại cho người bạn mình là sự thất vọng ê chề và lẽ dĩ nhiên còn là nụ cười miệt thị, khinh khi Nhưng xem ra cả hai anh đều có chung suy nghĩ bỉ ổi, có chung mưu cầu được no bụng mình và họ kẻ thì hả hê vì sắp được bữa ăn miễn phí, kẻ thì suy tính đường nào để thoát thân và cứ thế vô tư kêu món, vô tư kêu rượu, cả hai đều muốn tranh thủ “một bữa no” Cớ sự bất ngờ đến với anh chàng nghèo vì anh đã tưởng đâu mình may mắn được một bữa ăn không mất tiền nhưng không ngờ anh bạn “giàu sang” còn ma mãnh hơn gặp bội phần Và chỉ vì miếng ăn, vì đồng tiền mà tình bạn hai người họ đã vỡ tan Liệu mai này, một lần nữa vô tình gặp lại nhau họ còn tay bắt mặt mừng như những người bạn cũ?

Hay trong Đồ hèn mạt, Thức Anh đã xây dựng nhân vật Cao Quốc Sĩ đã

vì nhiễm thói ham mê bạc tiền mà xem nhẹ tình bạn, tình bạn với hắn chỉ là thứ nửa vời, không giá trị Trước khi đi du học và sau khi đi du học trở về, Cao

Trang 30

Quốc Sĩ đã hoàn toàn khác trước, anh hờ hững với mọi thứ, trước cảnh đẹp của quê hương với anh chỉ là những thứ tầm thường không sính bằng Pháp quốc; trước sự đôn hậu của bạn mình Lâm Trung Ngôn, Cao Quốc Sĩ càng lộ rõ ràng hơn bản chất của một con người say mùi danh lợi, bạc tiền, mang nặng tư tưởng sính ngoại Để cuối cùng, tình bạn của họ đành tan vỡ Nhận được lời mắng “đồ hèn mạt” từ bạn mình chẳng biết có làm anh ta suy nghĩ hay ánh hào quang của đồng tiền đã làm lóe đi tất cả Vật chất phù du có thể đánh đỗi bằng tình bạn cao đẹp nhất Chính xã hội đẩy đưa hay nguyên do bởi con người không biết điểm dừng của sự ham mê thấp hèn, để rồi sa lầy nhân cách

Ngoài ra, còn rất nhiều thói đời đen bạc khác cũng được sản sinh từ sức mạnh của đồng tiền Khi con người càng mê đắm với những ảo mộng giàu sang,

sẽ làm lí trí lu mờ mà dẫn đến cả tin, dễ bị bọn lừa đảo lợi dụng Trong truyện

Gặp người khách quý, chúng ta bắt gặp cái cười ra nước mắt khi cả hai vợ chồng

chủ tiệm đồ cổ vì tham mối lợi to nên tự rơi vào tròng lừa đảo, mưu mô của

“người khách quý”, để rồi bị cú lừa nhẹ nhàng làm mất toi hai ngàn đồng Trong

Ai muốn làm giàu?, là thủ đoạn lừa bịp hiện đại, tinh vi của Trương Thiên Tả khi

đánh được vào lòng tham muốn làm giàu của những con người trong xã hội

“Đồng tiền eo hẹp, nghề làm ăn nghề gì cũng khó”, để rồi chính hắn đã được làm

giàu từ sự mù mờ của những người hám sự giàu sang,…

Không bỏ sót một khía cạnh nào của cuộc sống, những ngòi bút thế sự đã hướng cái nhìn của mình khắp mọi tầng lớp trong xã hội, từ những kẻ sang giàu tham tiền để rồi đánh mất đi nhân nghĩa; từ những cô gái với giấc mơ lấy chồng giàu để rồi đánh mất của cải và đổi lại là một thân xác nhớp nhơ; từ những người mong muốn làm giàu để rồi đi lừa người và từ những người muốn được làm giàu

lại bị người khác lừa; cho đến mảnh đời của “lão ăn mày” trong Ăn mày trúng số;… Sau bao năm làm nghề ăn xin, lão ăn mày nay may mắn trúng được tờ vé

số, trong suy nghĩ của lão lập tức có sự thay đổi “vì lão cũng như thế gian thường tình, nên dù tiền chưa lãnh, nhà chưa cất, xe hơi chưa sắm thế mà lão nghiễm nhiên làm bộ làm tịch như một bực giàu sang phong lưu từ mấy đời rồi”

Tự cho mình đã khác hẳn trước kia, tự cho mình là bậc phong lưu rồi dù trên người vẫn bộ quần áo rách nát, và dưới cặp mắt thế gian lão vẫn là lão – một lão

ăn mày không hơn không kém, nhưng giờ đây cặp mắt nhìn cuộc đời của lão đã

Trang 31

khác “ai đi ngang qua trước mặt, lão đều thấy không bằng lão… vì hôm nay lão không còn là một người ăn xin như trước nữa” Đứng bên dòng nước, lão mơ màng về viễn cảnh huy hoàng mà tương lai đang chào đón “chỗ ở của lão là một cái nhà rộng thật khéo thật đẹp, chung quanh có vườn tược, có đủ thứ cây ăn trái và đủ thứ bông hoa kiễng vật”, lại còn có cả một xe hơi cũng tốt cũng đẹp,

lão sẽ không cô đơn vì từ đây lão có dư tiền để cưới một cô vợ để chia cái sự buồn vui Cũng chính ảo mộng giàu sang đã làm cho lão căm ghét chính thân xác

của mình, lão muốn vứt hết những thứ của con người cũ “bộ tướng xấu xa, thân hình dơ dáy” Lão muốn từ biệt quá khứ, từ biệt chính mình, lão quăng hết bị,

gậy xuống sông và cứ thế dòng nước đã cuốn phăng đi tất cả quá khứ và trôi luôn cả tờ vé số trong bị cũng như trôi luôn cái viễn cảnh huy hoàng mà lão lờ

mờ vẽ ra ban nãy Không còn lí trí, lão lao vụt xuống nước theo tiếng gọi phù du

và rồi lão nằm im dưới đáy nước cùng tờ vé số, mãi mãi chẳng ai biết cớ sự

“giàu sang chớp nhoáng” xoay quanh lão ăn mày Khi còn nghèo khó, từng ngày với những đồng cắt nhận được từ lòng thương hại của người khác đã giúp lão qua cơn đói và chính lúc ấy suy nghĩ của lão cũng thật giản đơn, lão chỉ mong sau có chút cơm thừa canh cặn mà sống đắp đỗi, có chổ lão nằm sau một ngày ngửa tay xin lòng thương từ thiên hạ Vậy mà phút chốc, từ ông lão đáng thương tội nghiệp khi biết mình sẽ được giàu sang qua sự may rủi của tờ vé số, lão đã hoàn toàn khác hẳn, lão khác trong suy nghĩ và hành động của mình, sức mạnh của đồng tiền có thể làm thay đổi mạnh mẽ một con người và qua tất cả sự viễn vong, trong ánh mắt của người đời cái kết cục bi thảm nhất đời lão vẫn biến ông trở thành lão ăn mày vừa đáng thương vừa xấu số và có lẽ mãi mãi là như vậy!

Thế thái nhân tình lắm nỗi chua cay Uy lực đồng tiền trong xã hội mới

có sức vẫy vùng ghê gớm, tất cả có thể khiến người này trở thành nạn nhân của người kia, nhưng cũng có thể biến con người làm nạn nhân của chính mình, hay đúng hơn làm nạn nhân cho lối suy nghĩ, lề thói tiêu cực trong chính cuộc đời mình

Song, viết về vấn đề thế sự xoay quanh đời sống kiêm tiền, bên cạnh những tác phẩm với những con người mê đắm vẻ đẹp hào nhoáng của đồng tiền

mà sa lầy nhân cách, đạo đức, làm suy đồi những giá trị luân lí truyền thống thì vẫn còn đó những tác phẩm với những con người không màng đến cái tầm

Trang 32

thường của vật chất, hoặc dùng đồng tiền và cái tâm của mình để thứ tha, để thử thách rồi giúp tìm lại cái bản chất thật của những con người lầm đường lạc lối,

rọi ánh sáng để dẫn dắt họ đi vào con đướng hướng thiện Trong tác phẩm Xâu chìa khóa của nhà văn Trần Quang Nghiệp, thầy Hai Thông làm công cho nhà

máy Nam Hiệp được hơn mười năm trời, thầy luôn giữ trọn phận sự của một người làm công, nhưng nay vì nỗi ham mê sắc dục mà trộm mất của chủ mình là ông Nguyễn Trung số bạc năm ngàn, may thay tấm lòng nhân đức của ông chủ

đã độ lượng khoan dung cho ông, tạo cơ hội để ông trích số lương ít ỏi của mình

mà trả góp hàng tháng cho chủ Song, cái thảm cảnh thiếu trước hụt sau đến lâm

vào túng quẫn của gia đình ông xuất phát từ đó Vợ ông than thở “cũng tại mình

mê sa đĩ điếm mà ngày nay vợ con phải tới nỗi này”, ông chỉ biết cuối mặt hổ

thẹn Cảnh tượng túng quẫn của gia đình thầy kéo dài đến sáu năm trời, có đôi lúc trong cái sự nghèo khó đến cùng cực ấy trong con người thầy cũng nảy sinh

những suy nghĩ bất chính, độc ác với ông chủ của mình “Muốn cho hết khổ thì một là thầy tự giết mình hoặc là giết ông chủ đi thì xong…”, thế nhưng “nhưng

mà thầy không làm vậy được, thầy còn có lương tâm” Qua những lần đấu tranh

nội tâm, ông đã chiến thắng được những suy nghĩ tàn nhẫn của chính con người mình, và qua đấy, ta thấy ông cũng đã có sự tiến bộ rất nhiều trong nhận thức Khi nhặt được xâu chìa khóa cố tình đánh rơi của chủ mình, thay vì mở tủ ra lấy

đi tấm thơ ghi nợ đó và ông sẽ được kết thúc nợ nần, kết thúc những tháng ngày

khốn khó của mình và gia đình “Cái tũ đó, xâu chìa khóa đây, ông Nguyễn Trung lại không có mặt, thầy chĩ có bước tới ít bước, mỡ tủ lấy phong thơ ra là xong chuyện, không còn phải cực khổ gì nữa” Nhưng không, cuối cùng thầy đã

trả lại xâu chìa khóa cho chủ Những hành động ấy, đã đánh dấu những bước phát triển nhân cách của ông ta và cũng cho thấy rằng ông ta đã thực sự hối cãi, trong con người ông tinh thần phục thiện rất mạnh mẽ Điều đáng trân quí ở đây chính là ông đã gặp được người chủ tốt bụng, ông Nguyễn Trung đã giúp ông nhìn ra giá trị cuộc sống của mình, giúp ông trở về làm một người chồng, người cha đúng mực

Hay trong Hai bó giấy, sức mạnh ghê gớm của đồng tiền đã giúp Nguyễn

Trọng Nguyên con trai ông Nguyễn Trọng Tín nhận ra được bộ mặt thực của gia

đình ông Phán Phụng Để ngoài tai biết bao lời khuyên nhủ của cha mình “Còn

Trang 33

lầm nhiều lắm, nội nhà ông Phán Phụng không người nào tử tế với con cả, họ thương đồng tiền của cha nên mới tử tế với con”, và khuyên cậu nên cưới cô hai

Duyên ông cả Đồng vì đó mới là người vợ hiền dâu thảo, song cậu hai Nguyên ra

sức bảo vệ tình yêu của mình “làm cho người ta thương mình rồi bỏ người ta ra,…người có lương tâm không bao giờ làm vậy được”, và cuối cùng cha của cậu

đã ra một điều kiện “cha bằng lòng cho con cưới con ông Phán Phụng nhưng phải đợi mãn tang cha”, không bao lâu ông Trọng Tín cũng qua đời và cậu hai

Nguyên lúc này cũng thật bất ngờ vì tất cả sản nghiệp của gia đình đã tiêu tan hết

thãy “Mấy ngày sau, sau khi ông qua đời rồi thì cậu hai Nguyên mới hay rằng sở cao su, vườn sầu riêng, ruộng muối, phố lầu gì ông đều đã bán hồi nào đâu hết chỉ còn để lại có ba căn phố cũ ở đường Frères Louis mà thôi Cậu mở tủ sắt ra thì không thấy gì khác hơn là một bó giấy to, cậu cả mừng lật đật mở ra xem; tiền bạc đâu không thấy mà chỉ là giấy nhựt trình cũ thì cậu ngẩn ngơ cho rằng ông giận cậu Tuy vậy cậu cũng không buồn gì, cậu không màng gì tiền của, cậu được con ông Phán Phụng là hơn” Cậu hai vì xem trọng tình yêu, cái tình cái

nghĩa mà không đành phụ bạc con ông Phán Phụng Thế nhưng, cô năm Cũa và

cả gia đình ông Phán chỉ vì thấy sự sang giàu địa vị của nhà cậu hai mà ưng bụng, nhưng giờ mọi sự vỡ lẽ, cha cậu qua đời chẳng để lại của cải chi nhiều,

thấy cậu ta hết tiền hết của mà mọi người thờ ơ, lạnh nhạt với cậu ta lắm “Tại cậu chậm chơn nên má nó đã hứa gả nó cho con ông Tám rồi” Thế đấy, nhân

nghĩa ở đời với gia đình ông Phán Phụng được đo bằng sự giàu sang, danh vọng

và giờ đây cậu hai Nguyên nhận ra được hết sự tình thì thấy thật buồn và có tội

với cha mình Không nói nên lời, cậu ta uất nghẹn đập bàn mà rằng “Bạc tiền làm tiêu tình nghĩa” Và ở đời “người hiền ắt sẽ gặp lành”, duyên trời đã an bài,

sắp đặt, nhân chuyến đi Phú Xuân thăm người chú của mình, tình cờ cậu ta gặp

cô hai Duyên con ông cả Đồng, người mà ngày xưa cha cậu ta hết mực khuyên nhủ nên gắn kết trăm năm và thế là họ tình ý với nhau, để rồi thành tình chồng nghĩa vợ Song, chính vì cái nghèo giúp cậu ta nhận ra được bộ mặt thật của con

ông Cả, và chính sự nghèo mà theo cô hai Duyên thì “nếu anh không nghèo thì làm sao anh cưới em?” Tuy giờ đây, hai vợ chồng họ sống không dư giả, sang

giàu nhưng nhờ vậy mà họ rất mực thương yêu nhau, cậu hai Nguyên thì rất trân trọng cái tấm chân tình của vợ

Trang 34

Song, cha mẹ nào cũng đều yêu thương và lo lắng cho con cái mình, ngay khi đứa con đó có vì một chút mê đắm tình yêu mà cãi lời đi nữa, ông Trọng Tín trước khi mất đã bán hết số sản nghiệp của mình rồi gửi lại cho người em trai,

đợi đến khi nào “tôi giao năm trăm ngàn đồng cho chú Ba cất giùm, ngày nào thằng hai Nguyên cưới con ông cả Đồng, hay là coi thế nó nên được thì sẽ giao lại cho nó” và đúng với ước nguyện của ông, nay cậu hai Nguyên đã biết nhận ra

con đường đúng đắn nên chú Ba giao lại cho hai vợ chồng họ một bó giấy, và cậu hai Nguyên sững sốt vì trong bó giấy đấy là toàn bộ những của cải cha cậu

để lại “Cha tôi không ép uổng tôi song để lại hai bó giấy, mà sửa dạy tôi được cũng là hay lắm”, cảm động với tấm chân tình, với bài học quí báo ấy cậu hai Nguyên rằng “Bó trước là giấy nhựt trình, bó sau là giấy bac nhưng bó trước nghĩ lại quí hơn” Đúng thế, bó giấy trước đã giúp cậu trưởng thành hơn trong

cách nhìn người, và chính bó nhựt trình kia đã giúp cậu có được hạnh phúc thực

sự khi cưới được một người vợ ngoan hiền

Các tác giả Nam Bộ dù ra sức phê phán những thực trạng nhố nhăng, đáng buồn của xã hội kim tiền, nhưng nhìn chung họ hướng cái nhìn của mình từ nhiều góc độ, ngoài những đồng tiền bất chính bất lương thì vẫn còn đó những đồng tiền thức tỉnh nhân cách, lương tri nhân loại Tất cả điều đó cho ta thấy rằng, bản thân đồng tiền là vô tội, tội lỗi chăng là do chính thái độ, do cách mà con người sử dụng nó vậy!

Chất hiện đại trong truyện ngắn Nam Bộ giai đoạn này chính là các tác giả đã không bỏ sót bất kì những chuyện bình thường nào dù đôi khi bị cho là lặt vặt trong xã hội Chính cái lặt vặt đời thường ấy đã được các nhà văn Nam Bộ nắm bắt, ghi nhận, và khắc họa một cách ấn tượng, đó cũng là sự đóng góp đáng

kể vào bức tranh sinh động của xã hội đương thời dưới cái nhìn nghệ thuật

Trang 35

nhiên vững vàng trong ngôi vị vốn có của mình Đa số những người thuộc giai cấp phong kiến đương thời đã trở thành lực lượng đối lập với nhân dân

Bước vào xã hội mới, khi mà lối sống phương Tây xa lạ du nhập vào Việt Nam đã phần nào làm người Việt dần đánh mất đi cội rễ của chính mình, đánh mất những giá trị đạo đức truyền thống Nho gia vốn có, từ đó đồng thời kéo theo hàng loạt những vấn đề mang tính thế sự đời thường nổi lên, tiêu biểu như: sự lỏng lẻo trong mối quan hệ giữa người với người trong gia đình; xã hội với những chuyện lường gạt ngày càng phổ biến; con người rơi vào lối sống thích ăn chơi hưởng thụ, xa hoa; bọn quan lại thì vô trách nhiệm và ngày càng bị tha hóa;… Chính những hiện tượng đó đã được những thư kí trung thành của thời đại phản ánh vào trang văn và truyện ngắn Nam Bộ giai đoạn này cũng không ngoại lệ

2.1.2.1 Quan lại bị tha hóa

Trong các truyện ngắn Nam Bộ giai đoạn cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ

XX, ta thấy bóng dáng bọn quan lại, cường hào ác bá với tần số xuất hiện trong các truyện không nhiều nhưng cũng đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả

về tính tham lam, bủn xỉn, ỷ chức sắc mà hà hiếp dân lành, hiếp đáp người cô

thế Điển hình là tình cảnh đáng thương của chị vú nghèo trong Lỗi bù lỗi của

nhà văn Trần Quang Nghiệp Lỗi bù lỗi, lỗi của chị vú là đã trộm vài đồng bạc của ông Huyện và cái giá phải trả cho lỗi đã gây ra, đó là phải bù lại bằng cách thỏa mãn dục vọng thấp hèn của ông ta Sự nghèo khổ của dân tình không được quan trên thông cảm mà bọn chúng còn hòng lợi dụng thời cơ để ức hiếp, để thỏa mãn và che đậy cho việc làm đồi bại của con người mình Quả thật vô lí, bất công cho một xã hội mà thế lực uy quyền luôn ngự trị và những con người thấp

cổ bé họng chỉ còn biết luồng cúi cho qua

Viết về hiện thực sự tha hóa của giai cấp thống trị đương thời, các tác giả Nam Bộ không trực tiếp nói đến sự tha hóa của bọn quan lại nơi vùng đất mình đang sống mà thông qua hình ảnh sự tha hóa của các vị “quan phụ mẫu” thuộc các tỉnh phía Bắc Ở đấy, với những người dân đang phải sống cuộc sống lầm than dưới ách thống trị của bọn quan trên, bị tha hóa về nhân cách, băng hoại về đạo đức trong giai đoạn hiện thời, và thông qua đó nhằm để độc giả tự ngầm hiểu

về sự thống khổ đến tột cùng trước tình hình chung của đồng bào cả nước Điển

Trang 36

hình qua tác phẩm Cười ra nước mắt của nhà văn Nam Bộ Thái Bình Dương, tác

giả đã phác họa hình ảnh bọn Tổng lý, Quản lý là những người đại diện cho giai cấp thống trị thuộc một vùng quê nghèo của tỉnh Thái Bình, nơi đó có những con dân sống trong lầm than, đói khổ, và nơi đó có bọn quan sai chuyên “ăn bẩn”,

bòn rút của dân lành “Ăn bớt hay không thì không hiểu, đều nghe mấy người đọc nhựt báo trong Nam họ kễ chuyện lại thì té ra trong ấy có một tờ báo cổ động cứu tế nạn dân, nghe nói tờ báo ấy thâu được 12 nghìn đồng, mà ông Tổng lý và ông Quản lý chi chủ bút chi đó họ chia tay nhau hết 4 nghìn làm cho số tiền ấy ngày nay cũng chưa thấy họ thường lại, thành ra ở đây mình cũng bị thiệt theo”

Thế đấy, cái đói, cái rét, cái khổ của người dân bị nhận lại bằng thái độ bàng quang của bọn thống trị Các vị quan phụ mẫu giờ đây không còn vui với niềm vui của dân, lo lắng cho dân mà chỉ là những vị quan chuyên lợi dụng sơ hở, thời

cơ nhằm tích lợi cho mình

Phản ánh sự tha hóa của tầng lớp quan lại, không riêng các tác giả miền Nam, các tác giả miền Bắc trong thời kì này cũng phả vào trang văn của mình những bất bình đến tột độ, họ đay nghiến, họ dùng ngòi bút của mình để vạch trần, tố cáo tất cả tội ác của bọn quan thống trị, những kẻ nhơ bẩn, tham lam, ích

kĩ, độc ác, chuyên hà hiếp dân lành Nhà văn Phạm Duy Tốn cũng thế, cảm hứng sáng tác của ông được gợi lên từ chính sự bất bình, bất mãn đối với xã hội lúc bấy giờ và ông đã chứng minh những suy thoái gây ảnh hưởng xấu đến đời sống người dân không đâu khác bởi do chính giai cấp thống trị đương thời Xã hội ấy, nơi mà đầy rẫy những quan lại hám tiền, hám lợi, chuyên tham nhũng, ức hiếp người nghèo, bọn chúng xem mạng người như cỏ rác, và mua vui trên chính sự

đau khổ, sự sống còn của “con dân” của họ Tên quan huyện trong Sống chết mặc bay được khắc họa với đầy đủ những nét đặc thù của giai cấp thống trị lúc

bấy giờ Sự băng hoại về đạo đức đến thảm hại, tên quan huyện ấy được xếp vào hạng “tứ đổ tường” (tửu, sắc, yên, đỗ), hắn ta vừa hám tiền lại vừa mê sa cờ bạc,

không màn quan tâm đến nước, đến dân Trong tác phẩm Sống chết mặc bay, tác

giả đã miêu tả rất chi tiết, sinh động cảnh tượng bát nháo khi thảm họa từ thiên nhiên đổ ụp xuống người dân, con sông Nhị Hà có một con đê ngăn lũ, là nơi bảo vệ làng mạc, ruộng lúa và đêm hôm ấy trời mưa như trút nước lại kết hợp với nước sông dâng cao làm con đê có nguy cơ không đủ sức chống cự, sức quật

Trang 37

mạnh mẽ của thiên nhiên khiến người dân cuống cuồng vì họ ý thức được hậu quả nặng nề, sự thiệt hại ghê gớm của một trận vỡ đê Tiếng người gọi nhau sang

hộ, tiếng ốc thổi vô hồi, dường như mối hiểm nguy đang dồn dập kéo đến, của cải, tính mạng con người đang bị đe dọa Lúc bấy giờ, hoang mang lại càng hoang mang hơn khi người dân như rắn bị mất đầu, chẳng có sự chỉ huy, đôn đốc, giúp sức của các vị “quan phụ mẫu” Đối nghịch với sự cố gắng, sự chống chọi của người dân trong cơn giá rét, ướt mưa tầm tả, bì bõm giữa dòng tìm cách ngăn chặn sự quật phá mạnh mẽ của thiên tai, là cảnh tượng yên vị trong chăn

êm nệm ấm, trong ngôi đình “cao và chắc chắn” của các vị quan cùng cuộc vui

đỏ đen với đám bộ hạ của mình Trước tình thế nguy kịch của việc vỡ đê, lí ra những người đứng đầu ấy phải hiểu được mối nguy hiểm đang trực chờ đe dọa người dân thì họ lại lơ là xem như chẳng phải là việc của mình mà cứ từ từ nhâm nhi bác yên thơm phức Bọn quan lại ích kĩ chỉ biết nghĩ đế sự vui vẻ của bản thân, bọn chúng để cho dân tình “sống chết mặc bay” và chỉ biết hớn hở với ván bài ù to của mình Có lẽ vì ham mê cờ bạc, tửu sắc mà những con người ấy đang dần bị tha hóa nhân cách, nếu có chút tình người bọn quan huyện đã không bỏ mặc con dân của mình bơ vơ trong vòng sống chết Tiếng kêu la, rên xiết của người dân không làm cho các quan thức tỉnh, mà tiếng kêu la ấy chỉ là dấu hiệu giúp người đời đo lường mức độ tha hóa của chúng mà thôi

Sự tha hóa về nhân cách, sự băng hoại về đạo đức của bọn thống trị luôn

là đề tài nhạy cảm đối với những ngòi bút thế sự ở cả hai miền Nam Bắc Đọc tác

phẩm Chuyện ông Lý Chắm của Nguyễn Bá Học ta thấy chua chát, xót thương

cho những con người luôn sống vì nghĩa lí, luôn giữ khí tiết thanh liêm, chính trực, nhưng chính sự bất công của xã hội sống đương thời đã khiến những con

người ấy không có vị trí để tồn tại “nếu cứ giữ đường thẳng mà đi, đã không xong việc cho làng mà mình lại mang tiếng là nghêu, là ngạnh” Bọn quan trên

bắt dân chúng phải cống nạp thứ chim quí “chim sâm cầm”, vì tương truyền ăn thịt chim ấy sẽ bổ như được ăn nhân sâm, theo lí lẽ của bọn chúng thì có như vậy mới trừ bớt tai họa cho dân lành Tất cả chỉ là lời ngụy biện cho sự thối nát nhân cách, cho hành động lãng phí, vơ vét của dân, nhằm hưởng lợi cho mình của bọn quan lại ác bá Trong xã hội ấy, ta chỉ thấy những rạn nứt trong nhân cách sống,

Trang 38

thói hám tiền rồi tham nhũng, bòn rút của dân thì tràn lan như sâu mọt hoành hành, như thứ bệnh truyền nhiễm phát tán khắp cả mọi nơi

Những vấn đề thế sự xoay quanh hiện thực về giai cấp lãnh đạo mà đặc biệt là sự tha hóa nhân cách của bọn thống trị đương thời, dưới ngòi bút của các tác giả truyện ngắn ở cả hai miền Nam Bắc đều thật nhức nhối Bằng đôi mắt tinh tế cùng tâm hồn nhạy cảm, các ngòi bút thế sự đưa vào trang văn của mình những hiện thực mà dù cho bao năm nữa thì nó vẫn còn nguyên giá trị, vẫn còn nguyên sức mạnh tố cáo tội ác của giai cấp thống trị, cùng bè lũ tay sai

2.1.2.2 Quan lại vô trách nhiệm

Tội ác của bọn thực dân và bè lũ tay sai không chỉ tráo trở và dừng lại ở

đó, nếu cái sự nhục nhã vì bị hại đời của chị vú là tiếng kêu xé lòng thì trong tác

phẩm Cười ra nước mắt của Thái Bình Dương lại là tiếng khóc lớn, tiếng khóc

làm đứt ruột bao người khi chứng kiến cảnh tượng sắp chết vì đói của một gia đình trong xóm bị lụt Nhưng hỡi ôi, khi dân nghèo khổ, rên xiết vì đói rét thì

đâu rồi những quan lại, những chức sắc giúp dân? “Trời chập chạng, một người đàn bà chỉ mặc một cái ướm, ngồi chài bài dưới đất, ru một đứa con dại độ 2 tuổi đang nằm khóc u oa trong nôi, một đứa nhỏ nữa, độ 6, 7 tuổi, ở trần ở truồng, má cóp má xanh, hai chơn tay ốm nhôm như ống sậy, đứng một bên mẹ

nó khóc rên: “Rét lắm bu ôi! Đói lắm bu ôi!”.” Và tiếng khóc, tiếng rên nẫu ruột

ngày càng nhỏ dần, cuối cùng là khoảng không im lặng vì đứa nhỏ đã ngất lịm đi rồi, có thể nói cả gia đình họ đang đi vào cõi chết Trước thực cảnh như thế, những sinh mạng kia biết trong chờ vào ai ngoài “hội đồng cứu tế”, nhưng đời

lắm nỗi nực cười vì bọn “ông Tổng lý và ông Quản lý chi chi chủ bút chi đó họ chia tay nhau hết bốn nghìn làm cho số tiền ấy ngày nay cũng chưa thấy họ thường lại, thành ra ở đây mình cũng bị thiệt theo”, dân chết đói tới nơi vậy mà

bọn lãnh đạo còn đổ lỗi cho nhau, một bè lũ vô trách nhiệm, tiền cứu tế cho dân nghèo rơi vào tay chúng, chúng rủng rỉnh nhưng dân thì chiến đấu vật vả với sự sống còn Chính bọn chúng góp phần đắc lực vào việc bóp nghẹt cổ họng người dân khốn khổ Và có lẽ, không bàn tay nào vấy máu bẩn thỉu và độc ác bằng bọn Tổng lý, Quản lý, cái bọn tham nhũng, ăn bẩn chuyên bòn rút của dân Có thể nói, chính thói tham nhũng của bọn cường hào ác bá đã gián tiếp cướp đi sự sống

Trang 39

của người dân vô tội vạ, khiến họ như những thây ma héo rủ rồi cứ thế chết lần mòn

Nói đến sự vô trách nhiệm, mất nhân tính của bọn quan lại phong kiến, không riêng các nhà văn miền Nam thể hiện nỗi bất bình của mình vào trang văn

mà các nhà văn miền Bắc điển hình như Phạm Duy Tốn còn vạch trần những việc làm xấu xa, những hành động biến chất của bọn thống trị Qua tác phẩm

Sống chết mặc bay, tác giả đã dựng lên toàn bộ thảm cảnh cấp bách đối với mạng

sống người dân và sự lơ đễnh, vô trách nhiệm đến bất lương của bọn quan lại Khi được cho hay tin “bẩm có khi đê vỡ”, thay vì thái độ cuống quýnh, xông xáo giúp dân đằng này tên quan kia phát quạu mà quát bộ hạ của mình “mặc kệ” Khi được người dân tất tả báo tin là đê đã vỡ rồi, xem ra thái độ của tên quan kia

cũng chẳng có gì khác trước “bỗng nghe ngoài xa, tiếng kêu vang trời dậy đất Mọi người đều giật nẩy mình, duy quan vẫn điềm nhiên, chỉ lăm le trực người ta bóc trúng quân cờ mình mà hạ” Lúc quan vui mừng vì thắng to cũng là lúc người dân đang vật vã trước sự sống còn “nước tràn lênh láng, xoáy thành vực sâu, nhà của trôi băng, lúa má ngập hết, kẻ sống không chỗ ở, người chết không nơi chôn…” Với những chi tiết rất hiện thực, nhà văn Phạm Duy Tốn đã vạch

trần hết thảy những bản chất xấu xa, suy đồi đạo đức, vô trách nhiệm của bọn quan lại thống trị trong xã hội bấy giờ Quan lại giờ đây đóng vai trò chỉ là bọn

bù nhìn, tay sai cho thực dân Pháp, không còn vui với niềm vui của dân, lo cho dân mà chỉ là sự vơ vét, lũng đoạn đạo đức

Viết những trang văn rất hiện thực về giai cấp thống trị đương thời, ta thấy các ngòi bút truyện ngắn hai miền Nam Bắc đều tái hiện những hiện thực nhức nhối, cũng như họ dùng ngòi bút của mình mà tố cáo, vạch trần tội ác bọn thực dân một cách sâu cay nhất Và trong xã hội nhá nhem như thế, còn đâu lòng tin của người dân vào sự công bằng công lí? Sống mà không còn niềm tin vào chế độ mình đang sống, đó có lẽ là một trong những nguyên nhân khiến đạo đức con người sa sút nghiêm trọng

2.1.3 Vấn đề đạo đức và lối sống trong xã hội đương thời

Ngay từ thế kỷ XVII, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã than rằng:

“Đời nay, nhân nghĩa, tựa vàng mười

Có của thì hơn hết mọi lời

Trang 40

Trước đến tay không nào thốt hỏi

Sau vào gánh nặng lại vui cười

Anh anh chú chú mừng hơ hải

Rượu rượu chè chè thết tả tơi

Người của lấy cân ta thử nhắc

Mới hay rằng của nặng hơn người”

Đọc mấy câu thơ sao mà thấy chua chát cho thế thái nhân tình, dù thời đại nào chăng nữa đạo đức con người đều cần phải được giữ gìn và rèn giũa Trong xã hội buổi giao thời, trước lằn ranh của sự chuyển giao từ chế độ phong kiến sang chế độ thực dân đã mang đến nhiều biến động cho xã hội và cả sự biến động trong thẳm sâu tư tưởng, tình cảm của người dân Nam Bộ Chính những biến động ấy đã cám dỗ lòng người, tạo điều kiện kích thích cho những thói đời như: trọng phú khinh bần; tham tài hám sắc; ham danh vọng, phú quí; ham đắm dục vọng thấp hèn;… được ươm mầm và càng có điều kiện để bộc phát tràn lan,

và cũng chính những điều đó đã kéo theo bao rối ren, đi ngược lại những giá trị đạo đức trong quan hệ giữa người với người, hoặc chính bởi những thói hư tật xấu ấy đã làm nhân cách con người trở nên méo mó, tự mình trở thành nạn nhân của chính mình Bước vào xã hội mới, những thói đời đen bạc mới trong cuộc sống lại tranh nhau ùa đến, khiến con người trở nên ích kĩ, vụ lợi, chạy theo những cám dỗ vật chất tầm thường mà đánh mất lương tri, nhân nghĩa ở đời Con người sống với nhau không còn tình nghĩa mà chỉ có sự xảo trá, tráo trở, cơ hội chen vào và phổ biến là lối sống ăn chơi hưởng thụ khiến đạo đức từ đó ngày càng sa sút nghiêm trọng

2.1.3.1 Lối sống ăn chơi hưởng thụ phổ biến

Trong xã hội giao thời, đứng giữa lằn ranh tư tưởng cũ của Nho gia và tư tưởng mới du nhập từ phương Tây xạ lạ đã khiến cho lí trí, lương tri con người dường như ngày càng chao đảo Xã hội xuất hiện đầy rẫy những loại người mới, tân thời chỉ thích cuộc sống ăn chơi, hưởng thụ, chạy theo những hào nhoáng của danh vọng, bạc tiền, mê sa đĩ điếm,… những thói đời ấy đã góp phần phá nát hạnh phúc gia đình, tiêm nhiễm phát tán thói hư tật xấu vào xã hội và đó cũng là mấu chốt dẫn đến sự sa sút nhân cách, đạo đức ở đời

Ngày đăng: 02/04/2018, 05:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w