Cuộc đời Nguyễn Khuyến đã trải qua biết bao khó khăn, chính vì thế mà thơ ôngluôn có nhiều cung bậc khác nhau, thể hiện cái tâm, cái tình của mình.Tìm hiểu đề tài “Bút pháp trào phúng tr
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠKHOA KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
BỘ MÔN NGỮ VĂN
TÔ THÚY KIỀU MSSV: 6062186
BÚT PHÁP TRÀO PHÚNG TRONG THƠ VĂN NGUYỄN KHUYẾN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NGỮ VĂN KHÓA 32 (2006 – 2010)
Cán bộ hướng dẫn: PHAN THỊ MỸ HẰNG
CẦN THƠ, 05/2010
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô đã giúp đỡ em trong quá trình học tập tại
trường Em rất biết ơn các thầy cô đã tạo điều kiện cho em hoàn thành các tín chỉ học
phần trong những năm qua
Và em cũng xin chân thành cảm ơn cô hướng dẫn luận văn đã nhiệt tình giảnggiải, hướng dẫn cho em, giúp em hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Em cũng rất biết ơn các thầy cô trong thư viên khoa, trung tâm học liệu đã tạo
điều kiện tốt nhất để em có đầy đủ nguồn tư liệu trong quá trình học tập cũng như trong
quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp
Trong quá trình làm luận văn, chúng tôi đã có nhiều cố gắng nhưng không tráchkhỏi sơ xót rất mong được ý kiến đóng góp của quý thầy cô và bạn bè để luận văn đượchoàn chỉnh hơn
Người viết xin chân thành cảm ơn
Sinh viên thực hiện: Tô Thúy Kiều
Trang 3ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT PHẦN MỞ ĐẦU
1.2 Nguyên nhân hình thành thơ văn trào phúng của Nguyễn Khuyến
1.2.1 Sự sụp đổ chuẩn mực của đạo đức phong kiến
1.2.2 Sự tiếp thu truyền thống trào phúng trong văn học bác học
và bình dân
1.2.2.1 Sự tiếp thu truyền thống trào phúng trong văn học bình dân.1.2.2.2 Sự tiếp thu truyền thống trào phúng trong văn học bác học
CHƯƠNG 2 NGÔN NGỮ TRÀO PHÚNG TRONG THƠ VĂN NGUYỄN
KHUYẾN ĐẠT ĐẾN TRÌNH ĐỘ THÂM SÂU, KÍN ĐÁO
Trang 43.3.1 Cách nói đùa mà nghiêm.
3.3.2 Cách nói ngông mà hiền
3.4 Hình tượng trào phúng được miêu tả bằng cách nói công khai trực diện
3.4.1 Vạch trần bản chất của đối tượng
3.4.2 Vạch trần mâu thuẫn của đối tượng
PHẦN KẾT LUẬN
THƯ MỤC THAM KHẢO
MỤC LỤC
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài.
Nguyễn Khuyến là một nhà thơ lớn của Việt Nam Ông được nhà thơ Xuân Diệumệnh danh là nhà thơ làng cảnh Việt Nam, nhưng Nguyễn Khuyến cũng rất thành côngvới bút pháp trào phúng độc đáo, đem lại tiếng cười vừa thâm sâu, uyển chuyển, và kín
đáo Trong thơ thể hiện rõ con người vừa yêu đời, lạc quan, cất lên tiếng cười ngông
ngạo Bên cạnh đó, Nguyễn Khuyến cũng rất bi quan, chán nản, bộc lộ tiếng cười chuacay, thầm kín, xót xa
Thơ Nguyễn Khuyến có rất nhiều màu sắc về ngôn ngữ cũng như cách vận dụng
các biện pháp nghệ thuật, cho ta thấy một mảng thơ lớn muôn hình, muôn vẻ Nếu ai chưatừng đọc hết thơ ông hay chưa tìm hiểu thơ ông thì quả thực khó ai nhận ra thơ ông cónhiều màu sắc như thế Khi trữ tình, khi trào phúng, lúc ngông ngạo, lúc bi quan, sự kếthợp hòa quyện làm nên giọng thơ riêng đặc biệt
Sống trong thời kỳ lẫn lộn Tây – Ta, Nguyễn Khuyến không thể thích nghi với
điều kiện như thế Cuộc đời Nguyễn Khuyến đã chứng kiến những cảnh triều đình sụp đổ,đất nước mỗi lúc một suy vong, mà chính bản thân ông lại bất lực trước thời thế Mỗi câuthơ là một tình cảm của một vị quan tthanh liêm khong gặp thời Nguyễn Khuyến không
thể đối kháng hay chống đối một cách thẳng thừng, ông cũng không gia nhập vào cáccuộc khởi nghĩa nhưng Nguyễn Khuyến luôn là một thành viên yêu nước Ông dùng ngòibút của mình để làm vũ khí chiến đấu, đó là tinh thần yêu nước quật cường của một nhà
thơ
Ở buổi giao thời, Nguyễn Khuyến đã chứng kiến biết bao cuộc thăng trầm, dời đổi
của cuộc đời Từ khó khăn, Nguyễn Khuyến đã tạo nên những vần thơ khó quên làm
người đọc phải ngẫm nghĩ, xót xa Bút pháp trào phúng đã được Hồ Xuân Hương và TúXương thể hiện khá đặc sắc, nhưng ngòi bút của Nguyễn Khuyến luôn mang một nét
riêng mà chỉ có ông mới có Tính trào phúng trong thơ sâu cay nhưng không đốp chát,vừa kín đáo nhưng cũng rất công khai Thơ ông luôn là đề tài mà các nhà nghiên cứu thế
hệ sau muốn tìm đến
Trang 6Cuộc đời Nguyễn Khuyến đã trải qua biết bao khó khăn, chính vì thế mà thơ ôngluôn có nhiều cung bậc khác nhau, thể hiện cái tâm, cái tình của mình.
Tìm hiểu đề tài “Bút pháp trào phúng trong thơ văn Nguyễn Khuyến” giúp cho
người viết hiểu thêm về con người cũng như thơ ông trong thời kỳ thực dân nửa phong
kiến Với đề tài này người viết có cơ hội tiếp cận cách thức sử dụng các biện pháp nghệthuật trong thơ Nguyễn Khuyến Sự phối hợp hoài hòa giữa phương tiện ngôn ngữ với cácbiện pháp nghệ thuật tạo nên những vần thơ độc đáo Tâm tư tình cảm của nhà thơ cũng
được tìm hiểu kĩ hơn, giúp người viết có cách nhìn sâu sắc hơn về bậc thi nhân Việt Nam
yêu nước của mình
Công trình nghiên cứu của Nguyễn Khuyến tiêu biểu như: Thi hào Nguyễn Khuyến đời và thơ [1], phê bình bình luận về văn học Nguyễn Khuyến [16], Nguyễn Khuyến, Nguyễn Khuyến về tác gia và tác phẩm [17] …
Trong “Thi hào Nguyễn Khuyến đời và thơ” [1] Nguyễn Huệ Chi nhấn mạnh “Thơ
trào phúng của Nguyễn Khuyến, mặc dù mức độ đã kích, sâu cay và tính tập trung, cô
động khác nhau, song xét trên phương diện lý tưởng thẩm mỹ và đặc trưng nghệ thuật
phải nói đã tạo nên một giọng điệu hết sức độc đáo”[ 271; 1] Công trình nghiên cứu này
đã đề cập đến bút pháp trào phúng trong thơ văn Nguyễn Khuyến, mặc dù đây không phải
là phần nói riêng đến bút pháp nghệ thuật nhưng thông qua “sự kết hợp phức điệu trào phúng và trữ tình” chúng ta có thể nhận thấy được bút pháp trào phúng thể hiện trong thơ.
Ở phần này, tác giả đã đưa ra dẫn chứng xác thực về tác phẩm để làm sáng tỏ tính trào
Trang 7phúng Ở công trình nghiên cứu này, có những nhận định chính xác về Nguyễn Khuyến
cũng như bút pháp nghệ thuật của ông “Điều cơ bản là, trong khi nhìn nhận diện mạo dòng văn học trào phúng Việt Nam cổ trung đại, mọi người điều dễ thống nhất thơ Nguyễn Khuyến là một đại biểu xuất sắc của làng thơ trào phúng, bên cạnh Hồ Xuân
Hương và Tú Xương”[ 271; 1] Trong phần này, công trình nghiên cứu còn cho chúng ta
thấy rõ mối quan hệ đồng cảm giữa tác giả và đối tượng nghệ thuật, điều này đã làm cho
thơ trào phúng của Nguyễn Khuyến trở nên chân thực Qua đó, Nguyễn Khuyến cũng gửi
gấm nổi buồn thương và tâm sự của mình
Trong “Nguyễn Khuyến”[4], Hồ Sĩ Hiệp đã đề cập đến nhiều yếu tố nghệ thuật trong thơ văn Nguyễn Khuyến Phần “ Cuộc đời và sự nghiệp” tác giả nêu rõ “Ông hay
chỉ trích những cái dở, cái xấu của người đời Hạng người bị ông chỉ trích là tham quan
ô lại, những người dốt mà thích khoe chữ, những kẻ tham tiền mà quên điều sĩ nhục Trong những lời thơ tự trào, ông cũng đã nghiêm khắc với chính mình đem những tật xấu của mình mà chế giễu”[16; 4] Công trình nghiên cứu đã đánh giá, nhận xét những nét
hay, nét độc đáo trong thơ văn Nguyễn Khuyến Tuy công trình này viết không nhiều về
các biện pháp trào phúng nhưng cũng đã giúp người đọc hiểu thêm về sự thành công củabút pháp nghệ thuật này
Trong “Nguyễn Khuyến về tác gia và tác phẩm”[17] đã khái quát quá trình sáng
tác và các biện pháp nghệ thuật trong thơ văn Nguyễn Khuyến Công trình đã khai thác sựvận dụng cũng như sự thành công của các biện pháp nghệ thuật này, làm nâng cao tính
trào phúng trong thơ Bài viết “ Nghệ thuật trong thơ văn Nguyễn Khuyến” ,Văn Tân đã nêu rõ nghệ thuật ám dụ hay ẩn dụ, Văn Tân nhấn mạnh “Không phải là sự ngẫu nhiên
mà Nguyễn Khuyến dùng phương pháp ám dụ để nói lên ý nghĩa của ông ở hầu hết những
văn thơ có liên quan đến thời cuộc Để chửi thực dân pháp đã chiếm cứ nước ta, cướp
của phá nhà của nhân dân ta, ông phải dùng tích “Chuột lớn” (Thạc Thử) ở thiên Ngụy
Phong trong kinh thi Để lên án tính chất tàn bạo của thực dân bắt nông dân đưa đi
những nơi như Yên Bái, Lào Cai … làm đường xe lửa, hoặc khai mỏ để làm giàu cho thực
dân, ông đã viết bài “Mồng bảy tháng bảy không mưa”[394;17] hay trong phần “Tâm
trạng Nguyễn Khuyến trong thơ tự trào” do Vũ Thanh viết cũng đã đề cập trực tiếp đến
Trang 8hình tượng trào phúng được miêu tả bằng cách nói phủ định để khẳng định và ngược lại.
Vũ Thanh đã chỉ rõ sự biến đổi tâm trạng Nguyễn Khuyến trong thơ văn Từ thời điểm
Nguyễn Khuyến lui về ở ẩn đã có sự thay đổi về cách nhìn, cách cảm “Ở giai đoạn này tiếng cười tự tin, khẳng định vẫn không tắt đi nhưng bên cạnh đó đã xuất hiện hàng loạt tiếng cười đau đớn, xót xa, cười ra nước mắt, tiếng cười từ nghi ngờ đến nhạo báng chính mình, phủ nhận chính mình”[374; 17] Vũ Thanh đã đưa ra những lý do thỏa đáng, xác
thực chứng minh sự thay đổi ở con người Nguyễn Khuyến, khẳng định bút pháp trào
phúng được Nguyễn Khuyến nâng lên theo từng giai đoạn
Trong bài viết “Tài chơi chữ”, Đào Thản cũng đề cập đến vấn đề ngôn ngữ trào
phúng trong thơ văn Nguyễn Khuyến Ông đã khẳng định “Nguyên tắc chơi chữ nói
chung là sự lợi dụng tính hai mặt nhập nhằng của các tính hiệu đồng âm Đó là thủ pháp nghệ thuật có tính chất truyền thống, chứng tỏ óc thông minh linh hoạt của con người và
đặc sắc của tiếng nói”[546; 17] để dựa trên nguyên tắc đó mà phát huy nghệ thuật chơi
chữ trong việc thể hiện nội dung trào phúng “Nghệ thuật hài hước coi chơi chữ là biện pháp lợi hại trong văn chương” Quả như vậy, chơi chữ đã được Nguyễn Khuyến sử dụng
một cách rất tài tình để thể hiện tính trào phúng Dùng nghệ thuật trào phúng để chửithẳng vào những đối tượng là quan lại, tay sai hay những đối tượng làm băng hoại xã hộikhác Từ đây chơi chữ không còn là biện pháp tỉa tót về hình thức, chỉ để đùa vui mà trởthành một nghệ thuật kín đáo và sắc sảo Đào Thản đã nhận xét, đánh giá tỉ mỉ về biệnpháp nghệ thuật này Đồng thời, ông cũng chứng minh cho người đọc thấy sự tinh túy củanghệ thuật chơi chữ, làm nổi bật nội dung trào phúng trong thơ, và khẳng định tài chơichữ của Nguyễn Khuyến
“Bút pháp trào phúng trong thơ văn Nguyễn Khuyến” không phải là đề tài xa lạ
mà chúng ta có thể dễ dàng tìm thấy trong các công trình nghiên cứu Nhưng công trìnhnghiên cứu riêng về bút pháp trào phúng trong thơ văn Nguyễn Khuyến thì còn rất khiêmtốn Chúng tôi thực hiện đề tài này là muốn tìm thấy sự mới mẻ hơn và góp phần làm sáng
tỏ hơn về bút pháp trào phúng trong thơ văn Nguyễn Khuyến
Trang 9Các công trình nghiên cứu trên được xem là nguồn tư liệu quí báu mà người viếttham khảo trong quá trình thực hiện luận văn.
3 Mục đích nghiên cứu.
Tìm hiểu “Bút pháp trào phúng trong thơ văn Nguyễn Khuyến” để xem xét về
những phẩm chất và đóng góp của nhà thơ trong mối tương quan với thời đại mà NguyễnKhuyến đang sống Từ đề tài, người viết có thể nắm bắt thêm một vài vấn đề quan trọng
trong thơ văn Nguyễn Khuyến
Đề tài sẽ giải quyết những vấn đề chung về bút pháp trào phúng và nguyên nhân
hình thành thơ văn trào phúng của Nguyễn Khuyến, thông qua những diễn biến của xã hội
để thấy sự sụp đổ chuẩn mực của đạo đức phong kiến và sự tiếp thu, phát triển tính tràophúng trong văn học bình dân và văn học bác học Giúp người viết hiểu thêm về nguồn
gốc của nghệ thuật trào phúng Thông qua đề tài này, người viết có cơ hội tiếp cận đếnngôn ngữ trào phúng trong thơ văn Nguyễn Khuyến dựa trên các biện pháp nghệ thuật
như: Nghệ thuật đối; nghệ thuật chơi chữ; tình thái từ; ẩn dụ hay nghệ thuật sử dụng khẩu
ngữ để chứng minh cho vấn đề ngôn ngữ trào phúng trong thơ văn Nguyễn Khuyến đạt
đến trình độ thâm sâu, kín đáo và uyển chuyển Đề tài “Bút pháp trào phúng trong thơ
văn Nguyễn Khuyến” giúp người viết thấy được sự độc đáo của ngôn ngữ thơ văn Nguyễn
Khuyến
Không chỉ trên phương diện ngôn ngữ thâm sâu, kín đáo đề tài còn giúp người viết
có cơ hội nghiên cứu về hình tượng trào phúng trong thơ văn Nguyễn Khuyến để thấyđược sự đa dạng, phong phú và sắc sảo Hình tượng trào phúng được đề tài khai thác kháđầy đủ bằng các cách nói như: cách nói khẳng định để phủ định và ngược lại; cách nói hạ
thấp để đề cao và ngược lại; cách nói đùa vui có tính chất giải khuây hay bằng cách nóicông khai, trực diện để làm rõ cho sự đa dạng, phong phú của hình tượng trào phúng
trong thơ văn Nguyễn Khuyến
Qua quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi đã có được rất nhiều điều bổ íchcũng như vốn kiến thức cần thiết về nhà thơ Nguyễn Khuyến và đặc biệt là nghệ thuật
trong thơ ông Tuy chỉ tìm hiểu một khía cạnh về bút pháp trào phúng nhưng thông qua đề
tài này chúng tôi có cách nhìn khái quát hơn về bút pháp nghệ thuật trong thơ văn Nguyễn
Trang 10Khuyến Trước tiên, là về những vấn đề chung về bút pháp trào phúng và nguyên nhânhình thành của bút pháp này Khi hoàn cảnh đất nước thay đổi, Nguyễn Khuyến đã hướngnhững trang thơ của mình theo một hướng đi khác Mặc dù có sự kế thừa của truyềnthống trào phúng bình dân và truyền thống trào phúng bác học, nhưng Nguyễn Khuyến đã
có lối rẽ riêng tạo phong cách thơ đặt biệt, sắc sảo …
Qua đề tài này, chúng tôi cũng được hiểu thêm về phương tiện ngôn ngữ và hìnhtượng trào phúng trong thơ văn Nguyễn Khuyến, thông qua các biện pháp nghệ thuật và
các cách nói khác nhau tạo nên sự phong phú, đa dạng nhưng không kém phần kín đáo,thâm sâu
4 Phạm vi nghiên cứu.
Để nghiên cứu đề tài này, phạm vi khảo sát chủ yếu là thơ văn Nguyễn Khuyến, và
những công trình nghiên cứu có liên quan đến bút pháp trào phúng Bên cạnh đó, ngườiviết có so sánh với bút pháp trào phúng của Hồ Xuân Hương, Tú Xương
Kết cấu đề tài gồm ba chương: chương thứ nhất, tìm hiểu về một số vấn đề chung
Chương thứ hai, tìm hiểu về ngôn ngữ trào phúng trong thơ văn Nguyễn Khuyến đạt đến
trình độ thâm sâu, kín đáo và uyển chuyển Chương thứ ba, tìm hiểu về hình tượng trào
phúng trong thơ văn Nguyễn Khuyến, thể hiện sự đa dạng, phong phú và sắc sảo
Về phạm vi tư liệu, người viết đã khảo sát các công trình nghiên cứu về thơ văn
Nguyễn Khuyến và một số tư liệu liên quan đến đề tài như: “Từ điển tiếng Việt”[5] giúp
người viết tham khảo thông tin một cách chính xác về bút pháp trào phúng; “Nguyễn
Khuyến tác gia và tác phẩm” [17] là nguồn tư liệu chính mà người viết tham khảo trong
quá trình thực hiện đề tài Công trình nghiên cứu này đã cung cấp khà đầy đủ những vấn
đề có liên quan đến đề tài Một vài tư liệu khác như: Thi hào Nguyễn Khuyến đời và
thơ[1]; phê bình bình luận văn học Nguyễn Khuyến[16]; lịch sử văn học Việt Nam[9]; cơ
sở ngôn ngữ học và tiếng Việt [18] cũng góp phần quan trọng trong việc thực hiện đề tài.
5 Phương pháp nghiên cứu.
Để giúp cho việc nghiên cứu đề tài một cách khoa học, logic, và dễ tiếp nhậnngười viết đã sử dụng các phương pháp như: phân tích, so sánh, tổng hợp, chứng minh để
Trang 11làm sáng tỏ bút pháp trào phúng trong thơ văn Nguyễn Khuyến, đồng thời cũng tạo nên
sự phong phú cho đề tài
Trang 12Theo Đại từ điển tiếng Việt[19]: “Bút pháp là cách thức sử dụng các
phương tiện biểu hiện để phê phán tư tưởng, ý nghĩa trong tác phẩm nghệ thuật”[213;19].
Theo Từ điển Từ và Ngữ Việt – Nam [7]: “ Bút: Viết; Pháp: phép Bút pháp là cách viết chữ Hán của con người và lối viết văn”[169; 7].
Theo Từ điển tiếng Việt - Ngôn ngữ học[11]: “Trào phúng là có tác dụng
gây cười để châm biếm, phê phán”[1376;11].
Đối với trào lộng cũng có hai cách định nghĩa nhưng ý nghĩa không khác
nhau
Theo Từ điển tiếng Việt - Ngôn ngữ học: “Trào lộng có tính chất chế giễu
để đùa cợt, gây cười”[1376;11].
Theo Từ điển Từ và Ngữ Việt – Nam [7]: “ Trào: chế nhạo; lộng: chơi đùa Trào lộng là đùa cợt và chế nhạo”[1879;7].
Trang 13Trào phúng và trào lộng tuy đều mang ý nghĩa chế giễu nhưng lại có ý nghĩakhác nhau Trào phúng chế giễu để răn đe, cũng là tiếng cười nhưng tiếng cười ấy xót xa,
cay đắng, để lại nhiều suy ngẫm
Trong tiếng cười, hay những lời chế giễu đều mang một ý nghĩa sâu xa Sửdụng bút pháp trào phúng là để khai thác những ý nghĩa ngầm sâu bên trong của từng bài
thơ mà bên ngoài đang phủ một tiếng cười châm biếm Nguyễn Khuyến là một nhà thơ
luôn chất chứa trong lòng nổi uất hận, đau xót muốn nói thẳng lòng mình nhưng ngại thờithế Vì thế ông mượn bút pháp trào phúng để cười và chế nhạo nhưng thực ra ông muốnbài tỏ thái độ cũng như quan điểm của mình trước thời cuộc
Đối với trào lộng cũng cất lên tiếng cười chế nhạo nhưng là để đùa cợt, chế giễu,gây cười để giải khuây Thơ Nguyễn Khuyến không phải đùa cợt để giải khuây mà luôn
mang tâm sự, cười để đau xót, ngậm ngùi Vì thế, trào phúng luôn là bút pháp hợp lý khi
nói đến thơ văn Nguyễn Khuyến, bao quát cả về hình thức lẫn nội dung của thơ ông Cònđối với trào lộng thiên về hình thức hơn, chỉ gây cười trên bề mặt ngữ nghĩa Do đó, khi
tìm hiểu thơ văn Nguyễn Khuyến chỉ có thể tìm hiểu ở bút pháp trào phúng, vì bút pháptrào lộng không thể bao hàm hết ý nghĩa thơ ông
Hồ Xuân Hương đã thể hiện bút pháp trào phúng khá đặc sắc Bà đã giám nói lên
những điều bọn “mũ cao áo dài” không dám nói đến, đặc biệt Hồ Xuân Hương dám thẳng
tay tát vào mặt cả một bọn phong kiến thống trị từ trên xuống dưới không sợ hãi, chẳng
nể nang ai một chút nào Nhà thơ xé toạc hết các bộ mặt giả dối, lột trần hết những chiếc
áo đạo đức cũn cỡn để chúng lộ nguyên hình là một lũ bịp bợm, dối đời, dốt nát
Đối với giai cấp thống trị nhà thơ đã nói to lên với mọi người rằng “chúa dấu vua
yêu một cái này” vua chúa chỉ yêu “cái này” thôi và không yêu cái gì khác nữa.
Trang 14Đối với bọn văn nhân tài tử, dốt nát mà thích khoe chữ là chuyện lố lăng, bà chửi
thẳng mặt
“Ai về nhắn bảo phường lòi tói,
Muốn sống đem vôi quét trả đền”.
(Phường lòi tói)Đối với bọn tu hành giả dối nhà thơ tỏ ra khó chịu và đã kích bọn chúng Y như
rằng mỗi lần nói đến sư là Xuân Hương lai quất chiếc roi đánh mạnh vào bọn chúng
“Chẳng phải Ngô, chẳng phải ta,
Đầu thì trọc lốc, áo không tà.
Oản dâng trước mặt dăm ba phẩm, Vải núp sau lưng sáu bảy bà Khi cảnh, khi tiu, khi chũm chọe, Giọng hì, giọng hỉ, giọng hi ha”
(Sư hổ mang)
Bút pháp trào phúng đã được Hồ Xuân Hương khai thác khá triệt để, cả một bức
tranh xã hội thời phong kiến đã được bà phơi bài ra trước mắt Hồ Xuân hương phê phángay gắt, châm biếm, đả kích không khoan nhượng làm nổi bật lên bút pháp trào phúng
Sau Nguyễn Khuyến Tú Xương đã nổi danh là ông tổ thơ trào phúng Việt Namông đã thể hiện một cái cười sâu sắc khóc liệt để bóc trần thối hư, tật rởm của người đời
và một cái cười phong phú và sinh động Bút pháp trào phúng đã được Tú Xương thể hiệnrất thành công trong việc lột trần những cái xấu của xã hội, người đời
“Trên ghế bà đầm ngoi đích vịt,
Dưới sân ông cử ngỏng đầu rồng”
Hay: Đối với bọn thầy tu thì Tú Xương phơi bày một cách rõ ràng
Trang 15“Một thằng trọc tếch ngồi khua mõ,
Hai ả tròn xoe đứng múa bông”.
Bút pháp trào phúng được các nhà thơ trung đại thể hiện một cách nổi bậc nhằm
châm biếm, phê phán, mĩa mai một cách bóng bẫy bằng các phương tiện nghệ thuật đểphản ánh tư tưởng, bộc lộ tình cảm của mỗi nhà thơ vào tác phẩm của mình
1.2 Nguyên nhân hình thành thơ văn trào phúng của Nguyễn Khuyến.
1.2.1 Sự sụp đổ các chuẩn mực của đạo đức phong kiến.
Nguyễn Khuyến đã chứng kiến cảnh mất nước.Triều đình bất lực dâng đất
nước cho thực dân pháp Mẫu mực đất nước theo hệ Nho giáo hầu như bị sụp đổ hoàn
toàn khi xuất hiện văn hóa ngoại lai xâm nhập vào đời sống văn hóa dân tộc, xã hội trởnên nhố nhăng lộn xộn, từ trong ra ngoài từ trên xuống dưới Cả chế độ đã như đập vào
mắt nhà thơ tạo nên vết hằng vĩnh viễn trong lòng Yên Đổ Chính ông đã từng là anh khóa nghèo qua chín lần dự thi mà bảy lần “không đâu cả” để được rạng ngời công danh,
mong được giúp nước thoả chí bình sinh Nhưng suốt cuộc đời làm quan, Nguyễn Khuyến
đã làm một vị quan thanh liêm nhưng bất lực trước thời thế, không thay đổi được thời
cuộc Thời đại Nguyễn Khuyến là một thời đại khủng hoảng toàn diện Trước hết và chủyếu là khủng hoảng về hệ tư tưởng- văn hóa Đất nước không những bị thực dân xâm lược
mà còn bị sự biến loạn trong lòng dân tộc, sự sụp đổ của một hệ tư tưởng là sụp đổ cả mộtnền Hán học mấy mươi đời
Sự thối nát trong triều đình là nguồn gốc cho sự mất nước, mất văn hóa của dân tộc
Dưới ngòi bút của Nguyễn Khuyến vua quan như những thằng hề trong tuồng hát Đấtnước ta vốn theo chế độ quân chủ, triều đình là nơi mẫu mực cho thiên hạ, là gốc của
thiên hạ, đại diện cho một quốc gia, nay lại bị hạ bệ dưới ngòi bút của Nguyễn Khuyến
Sự kính trọng đối với một vị vua hoàn toàn mất đi chỉ còn lại sự xem thường châm biếm.Nguyễn Khuyến viết ít nhưng lại có hàm ý rất sâu xa phơi bày hiện thực một cách trần
trụi của cả hệ thống quan lại trong triều đình nhằm phê phán một triều đình thối nát “Từ
năm Đoan Khánh (1505-1509) trở về sau thì lời bàn luận sáng suốt bẵng đi, thói cầu
cạnh mỗi ngày một thịnh, người có chức vị ít giữ được phong độ thanh liêm nhún nhường,
Trang 16trong triều đình không nghe có lời can gián, gặp có việc thì rụt rè cẩu thả, thấy lúc nguy thì bán nước để toàn thân, dẫu người gọi là bậc danh nho, cũng đều yên tâm nhận sủng vinh phi nghĩa, rồi nào thơ, nào ca trao đổi, khoe khoang tán tụng lẫn nhau, tập tục sĩ phu thối nát đến thế là cùng, tệ hại biến đổi lần này không thể nào nói cho xiết
được”.[642;17] Nền Nho học đầu nhà Nguyễn được bừng sáng lên lần cuối rồi lại vụt tắt,
nho giáo, quân chủ đều đã ở cuối con đường Sự đổi mới đã không diễn ra trên đất nướchàng ngàn năm theo chế độ phong kiến mà dẫn đến kết quả là mất nước Triều đình, quanlại đều đã trở nên bất lực xuôi tay để đất nước rơi vào tay giặc, chưa kể một số đã đầuhàng giặc Nguyễn Khuyến là chứng nhân mà cũng là nạn nhân trong vấn đề tồn vong của
đất nước, chính thời cuộc không chấp nhận một vị quan như Nguyễn Khuyến, công lý
không tồn tại, mây đen phủ mờ cả đất nước để lại uất hận cho bao nhiêu sĩ tử nhà nho.Nguyễn Khuyến cũng là một vị quan yêu nước, muốn đem công sức cống hiến cho nước,
cho dân nhưng thời thế không cho phép một vị quan như ông tồn tại, bất lực, ông đã đem
cả danh vị của mình và của cả giới trí thức cũ ra châm biếm Ông phê phán chế độ quânchủ bù nhìn đã làm tan tác cả nền văn hóa truyền thống
Chế độ thi cử cũng đã lụi tàn dần theo thời thế, mặc dù còn thi Nho giáo nhưng đãtheo chiều hướng đáng châm biếm và Nguyễn Khuyến đã dùng ngòi bút của mình để phơibày một thể trang trọng ấy Sự hạ bệ đến tận cùng và dần lụi tàn đi Trước đây, ông Nghè,ông Cống vẫn còn được xem là vinh dự nhưng đến đây thì “Ông nghè, ông Cống cũngnằm co” thể hiện sự bật gốc của giáo dục và nền văn hóa cổ truyền của chế độ phongkiến Pháp xâm lược, nước ta làm thuộc địa, nền văn hóa gọi là tiến bộ dần dần tràn vàogần như giao thoa với văn hóa truyền thống nước ta Sự xuất hiện một thứ văn hóa ngoạilai ấy đã hủy hoại dần tính truyền thống tốt đẹp của một xã hội
Sự đối chọi giữa cái cũ và cái mới tạo nên một thời “nhố nhăng” Ta không là Ta,
Tây không ra Tây, lúc này xã hội như thể hỗn loạn đủ tất cả loại người mà chế độ phong
kiến không có, sự xuất hiện của Me tây, ông Cò, ông Cẩm làm thay đổi cuộc sống của xã
hội Cái tốt đẹp của dân tộc gần như bị biến dạng làm băng hoại giá trị của con người
Con người dưới chế độ quân chủ trước đây luôn mẫu mực như Kiều Nguyệt Nga,như Đồ Chiểu làm tấm gương chung cho nữ nhi, cho học trò thì nay nữ nhi trong thời này
Trang 17lại là Đĩ cầu nôm, thầy đồ thì lại là “Thầy đồ ve gái góa”, tiến sĩ thì là Tiến sĩ giấy Ngòi
bút của Nguyễn Khuyến đả kích mạnh mẽ mọi phương diện, sâu xa, buồn bã, phát lêntiếng cười đau xót cho cả chế độ mẫu mực nay lại hủy hoại về đạo đức, nhố nhăng vềphẩm chất, xã hội như đảo điên bởi những thứ văn hóa ngoại lai, bởi con người tham lam,
đen bạc
1.2.2 Sự tiếp thu truyền thống trào phúng trong văn hóa bác học và bình dân.
1.2.2.1 Sự tiếp thu truyền thống trào phúng trong văn học bình dân.
Trong văn học bình dân, trào phúng cũng là thể loại quen thuộc đối với con ngườinói chung và đặc biệt là đối với tầng lớp bình dân trong xã hội Những câu chuyện ngắn
tuy không hàm ẩn nhiều ý nghĩa sâu xa nhưng đã thể hiện quan niệm sống phê phán, đảkích những thối nát trong xã hội, những việc làm trái tai, gai mắt trong đời sống hằngngày Những câu chuyện ấy tuy quen thuộc nhưng ý nghĩa như Trạng Quỳnh, Trạng Tí,Trạng Lợn…Từ trong truyện Trạng ta có thể thấy được những ý nghĩa châm biếm phê
phán, đả kích của nó đối với bọn quan lại, nịnh bợ, tham lam như “Đào thường thọ” hay
ích kỉ, xem thú vật quý hơn con người, xa hoa, lãng phí trong “Mèo quý tộc”
Nguyễn Khuyến đã tiếp thu những tinh hoa của truyền thống trào phúng trong vănhọc bình dân, từ những câu truyện Trạng của dân gian, tuy còn mộc mạc nhưng ý nghĩa,
tuy chưa trau chuốt nhưng lại đẹp Nguyễn Khuyến đã tiếp thu những tinh hoa ấy tạo nên
sự thâm sâu, kín đáo và sâu sắc, uyển chuyển nhằm châm biếm, đả kích bọn tham tiền,nịnh nọt, ích kỉ…Văn học bình dân tạo nên những tiếng cười sảng khoái Từ tiếng cười
đó, Nguyễn Khuyến đã biến thành tiếng cười ra nước mắt, cười để mà khóc, cười không
chỉ để vui mà còn để buồn, tiếng cười trong thơ Nguyễn Khuyến có nhiều cung bậc khácnhau
Nguyễn Khuyến đã góp nhặt những tinh hoa trào phúng trong văn học bình dân để tạo
thành cái thâm sâu trong văn thơ của mình.Trong văn học bình dân những câu chuyệnmang tính trào phúng, hài hước được nhân dân truyền miệng và sáng tác có tính chất rộng
rãi dễ đi vào lòng người bởi truyện trào phúng dân gian phản ánh mặt trái của xã hội của
Trang 18bọn quan lại, triều đình nhưng không có nhân vật cụ thể, không phản ánh rõ ràng, phản
ánh theo hướng chung chung Nguyễn Khuyến đã biến cái chung chung thành mục tiêu cụ
thể, phản ánh có mục đích và nâng cao hơn ý nghĩa phê phán, châm biếm Vì vậy màNguyễn Khuyến là nhà thơ biết cười, không chỉ vậy, tiếng cười của ông có nhiều cungbậc khác nhau làm người khác thắm thía nỗi đau chung của xã hội và nỗi đau riêng củamình
Từ mộc mạc giản đơn, Nguyễn Khuyến đã biến văn học bình dân thành vũ khí sắc
bén, để phản ánh một cách sâu sắc lòng yêu nước và tinh thần phản kháng đối với bọn bù
nhìn, quan lại, tay sai Điều này chứng tỏ nhân dân ta từ xưa đã có truyền thống ghét cáixấu, phê phán chuyện bất công Nguyễn Khuyến cũng tiếp thu truyền thống ấy và pháthuy ngòi bút trào phúng của mình dựa trên văn hóa trào phúng của văn học bình dân Mặc
dù, ngoài Nguyễn Khuyến còn nhiều nhà thơ thể hiện ngòi bút trào phúng, nhưng nhà thơ
Yên Đổ đã dùng sự tinh túy của văn học truyền thống trào phúng để tạo nên nét khác biệt
của riêng mình, lên tiếng tố cáo thẳng thừng bọn người chỉ biết khom lưng uốn gối, chêtrách bản thân mình, lấy ý nghĩa của truyện Trạng làm gương soi cho ngòi bút trào phúngcủa mình Ngoài ý nghĩa đả kích, phê phán đối với sự bất công thói tham nịnh của bọnquan lại, văn thơ Nguyễn Khuyến còn thể hiện sự sâu xa, uyển chuyển, kín đáo hơn,khiến người đọc phải lặng người suy nghĩ So với văn học bình dân thì văn thơ NguyễnKhuyến tiến bộ hơn rất nhiều Mặc dù nhà thơ đã tiếp thu lối viết, tính chất trào phúng
trong văn học dân gian nhưng nhà thơ đã có sự phát huy và có những thay đổi về hình
thức và mở rộng về nội dung làm cho văn học trào phúng có nhiều mới mẻ hơn
Trong dân gian có rất nhiều câu truyện mang tính trào phúng như truyện Trạng,truyện ngụ ngôn, nhưng xét cho cùng thì những câu truyện ấy phản ánh sự bất công, cái
đáng lên án trong một xã hôi yên bình, còn nằm trong mẫu mực của dân tộc, vì thế nội
dung của truyện trào phúng ấy còn mộc mạc, đơn sơ Đến thời đại Nguyễn Khuyến thìthời thế đã thay đổi, đất nước đã không còn nằm trong cảnh thanh bình mà là sự hỗn loạn,rối ren, không còn giữ được tính mẫu mực tốt đẹp của xã hội, tất nhiên nội dung, đối
tượng phản ánh cũng phải thay đổi theo thời cuộc để lột trần hiện thực Song, Nguyễn
Trang 19Khuyến vẫn giữ nét truyền thống trào phúng của dân tộc từ đó mà phát huy thành một nền
văn học rộng lớn
1.2.2.2 Sự tiếp thu truyền thống trào phúng trong văn học bác hoc.
Trước Nguyễn Khuyến ta thấy xuất hiện nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương, thơ Hồ XuânHương cũng đã kích, châm biếm bọn tham quan, thể hiện cái tôi của mình Đối tượngtrong thơ bà là những người đại diện cho chính quyền phong kiến vua chúa, quan lại, hiền
nhân, quân tử, anh hùng
“Hiền nhân quân tử ai mà chẳng
Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo”
(Đèo Ba Dội)
Những con người sống trái tự nhiên, quan lại hay những gương mặt nam nhi lại không
đáng mặt nam nhi, những danh tướng bại trận như Sầm Nghi Đống, những tên học trò dốt
Phường lòi tói hoặc đối tượng là nhà sư…Hồ Xuân Hương phê phán, đã kích một cách
táo bạo, mạnh mẽ Nguyễn Khuyến đã tiếp thu lối phê phán ấy, nhưng ông đã mở rộng
đối tượng phê phán, Nguyễn Khuyến đã phê phán cả những Bà Đầm, Me Tây, những cô
gái thích lấy ông Tây, ông Phán, phê phán những gì bình dân nhất trong cuộc sống Vì lẽ
đó thơ trào phúng của Nguyễn Khuyến nhiều màu sắc hơn về đối tượng, không táo bạo
mạnh mẽ nhưng thâm sâu, kín đáo Trong văn học trung đại, có sự tiếp nối giữa các thế hệ
về mặt tư tưởng cũng như trên văn học Nguyễn Khuyến đã tiếp nối tính trào phúng củathế hệ trước tạo nên sự đa dạng trong văn học Thời thế thay đổi, văn học thay đổi, nếu
Hồ Xuân Hương lên tiếng bênh vực cho người phụ nữ thì nay Nguyễn Khuyến lên tiếngphê phán lối sống vì vật chất bỏ mất phẩm chất con người, mất đi truyền thống tốt đẹpcủa người phụ nữ Trước thực trạng xã hội đang lúc rối ren, triều đình hỗn loạn, cái xấu
đang ngự trị thì tính trào phúng càng tồn tại có hiệu quả để phản ánh hiện thực xã hội
Nhờ tiếp thu truyền thống trào phúng trong văn học bác học, sự trau chuốt, thâm thúy,châm biếm mạnh bạo của thế hệ trước mà Nguyễn Khuyến đã tạo thành cái riêng củamình một giọng cười sâu cay, văng vào nền văn học một trường thơ sắc sảo đôi lúc cũngtục tằn nhưng vẫn giữ được tính chuẩn mực, cốt cách của một vị quan, cũng là phê phán
Trang 20những việc bất mãn đối với xã hội, con người nhưng giữa thế hệ trước với thế hệ sau tathấy rằng có một khoảng cách khá xa, tiến bộ rõ rệt chứng tỏ Nguyễn Khuyến đã tiếp thu
có chọn lọc và phát huy hết cái hay của nền văn học truyền thống trào phúng trong vănhọc bác học Không những thế Nguyễn Khuyến còn cải tiến thành cái riêng độc đáo củamình
Trong văn học, không chấp nhận sao chép ý tưởng văn chương Vì vậy, trong thơ
của Tam Nguyên mặc dù đối tượng phê phán cũng là bọn quan lại, bọn nhà sư nhưng
trong mắt của nhà thơ thì tiến sĩ chỉ là Tiến sĩ giấy, bên cạnh đó những hình ảnh trong thơ
phong phú và đa dạng mà thế hệ trước chưa hoặc ít khi đề cập đến như tự chế nhạo bản
thân mình, hình ảnh người phụ nữ trong mắt Yên Đổ thì lại là đĩ Cầu Nôm, thầy đồ cũng
không giữ được phẩm chất của một vị nho sư đúng mực hoặc thi cử, trong mắt nhà thơcũng chỉ là trò cười cho thiên hạ, điều khác biệt nhất là thế hệ trước luôn tôn trọng bậc chí
tôn nhưng trong ngòi bút của Nguyễn Khuyến thì vua chẳng khác chi một thằng hề trong
tuồng hát, sự khác biệt về đối tượng và cách thức phê phán có phần cách xa nhau và cũng
làm tăng thêm hiệu quả trào phúng
Tính trào phúng trong văn học tuy đã có từ rất lâu nhưng qua nhiều thế hệ sự tiến bộ
đã vượt lên một cách rõ ràng Văn học đã có sự cải tiến qua những ngòi bút sành sỏi như
Hồ Xuân Hương làm khơi dậy một nguồn cảm xúc, làm tăng thêm sự căm ghét đối vớinhững đối tượng mà Hồ Xuân Hương nhắc đến, lòng yêu nước thiết tha, sự phóng khoángtrong từng câu thơ thể hiện được tính phê phán, đả kích mạnh mẽ cho cả triều đại của nữ
sĩ Nhưng lúc này văn học trào phúng vẫn còn mộc mạc về nội dung còn có khoảng cách
so với thế hệ sau Xét về mặt thời thế ta cũng đã thấy rõ sự khác biệt ấy “Tam cương ngũ
thường” trước đây là điều kiện mẫu mực cho một xã hội và vẫn còn là nền móng vững
chắc cho chế độ quân chủ Bậc đế vương vẫn là đấng quân vương khiến cho người ngườirất mực tôn kính, quân xâm lược cũng chẳng phải là điều nguy hại đến thời cuộc, không
làm thay đổi cả một cơ chế vững chắc của một quốc gia Nhưng nay đến thời đại Nguyễn
Khuyến thì tất cả đã thay đổi, thời thế, con người, xã hội, thay đổi cả cơ chế quản lí của
nước nhà Lúc này đấng quân vương không còn là một vị vua đáng tôn kính mà chỉ là bù
nhìn cho bọn thực dân, không chỉ có thế mà nền văn hóa nước ta lại bị xâm lấn bởi nền
Trang 21văn hóa khác, những mẫu mực nghiêm trang đáng quý từ trước đến nay đã sụp đổ, thayvào đó là những nhố nhăng, lộn xộn Sự uất hận trong lòng nhà thơ như được chất caohơn núi, sự thất vọng tràn ngập như đã len lỏi vào tâm tư của nhà thơ và xuất phát ra từ
ngòi bút để phản ánh lên những trò cười trong xã hội
Nguyễn Khuyến đã sử dụng tính trào phúng của văn học truyền thống để lột trần bảnchất xấu xa của chế độ Đất nước ta đã bị hàng ngàn năm Bắc thuộc chịu ảnh hưởng nhiềubởi nền văn hóa Trung Hoa nhưng vẫn giữ được tính truyền thống của dân tộc có TrạngTrình, Trạng Lợn đến Hồ Xuân Hương thay phiên nhau lên án cái xấu nhưng dù sao cáigốc của xã hội vẫn còn, lòng người không xao động, lòng dân không rối loạn Nay đất
nước rơi vào tay bọn thực dân, triều đình lại quy hàng giặc, quan lại làm tay sai tiếp tay
bóc lột nhân dân đưa nền văn hóa phương Tây gọi là nền văn hóa “tiến bộ” vào làm tan
vỡ đi giá trị truyền thống tốt đẹp lâu đời của nước ta Tất nhiên giữa hai thời thế khác biệt
nhau như thế thì hai vần thơ mặc dù chung mục đích nhưng sẽ khác nhau rất nhiều về nội
dung Những vần thơ của Nguyễn Khuyến có phần đau đớn hơn, chua chát hơn nhiều, lời
lẽ mộc mạc đôi lúc cũng trau chuốt bóng bẩy đã đánh thẳng vào sự xấu xa, vào mặt tráicủa xã hội lúc bấy giờ
Nguyễn Khuyến đã làm tăng thêm tính trào phúng trong văn thơ vừa thể hiện lòng
yêu nước nồng nàn vừa cất lên tiếng chửi vào mặt những lớp người đen bạc Đắng cayhơn đó là lớp người nắm quyền trong bộ máy quản lí trụ cột của đất nước Chính ông
cũng là người đứng trong hàng ngũ ấy nên ông càng xót xa khi không thực hiện được hoàibão của đời mình, càng chứng kiến càng đau lòng cho số phận làm quan Tầm nhìn củaông không gói gọn vào một lớp người nào mà là cái nhìn tổng thể cho cả xã hội và cảchính mình Nữ sĩ Xuân Hương cũng có cái nhìn như thế nhưng chỉ chế giễu bọn tham
quan cường hào, bọn thầy tu mất nết, nhưng nhà thơ Yên Đổ đã phê phán chế nhạo bản
thân mình, và những gì là mẫu mực, tôn nghiêm Như ta đã nói, sự thay đổi của thời thế
đã kéo theo sự thay đổi của tổng thể, lấy cách đánh giá của người xưa để làm nền cho
cách nhìn hiện tại Từ trong sâu xa của dân tộc đã có khái niệm không chấp nhận cái xấu,
sự bất công Nguyễn Khuyến đã tiếp nối truyền thống ấy mà phơi bày hiện thực
Trang 22Qua đó, ta thấy rằng thế hệ sau đã làm nên vần thơ vừa mới lạ, vừa xót xa cho
thời thế Nguyễn Khuyến đã phát huy rất tốt truyền thống của văn học dân tộc Vừa mang
đậm cái cũ cũng vừa thể hiện cái mới rất sắc sảo, ngòi bút vừa sâu cay, vừa chua chát,
nghẹn ngào
Nguyễn Khuyến đã tiếp thu những tinh hoa, tinh túy nhất từ văn học bình dân và từ
văn học bác học để tạo nên một giọng thơ riêng của mình, giọng thơ trào phúng vừa có
tiếng cười bình dân vừa có ý nghĩa sâu xa, vừa trau chuốt, thâm sâu của bác học NguyễnKhuyến đã tạo nên một nền văn thơ trào phúng thêm nhiều điểm mới lạ
Trang 23CHƯƠNG 2: NGÔN NGỮ TRÀO PHÚNG TRONG THƠ NGUYễN KHUYẾN ĐẠT ĐẾN TRÌNH ĐỘ THÂM SÂU, KÍN ĐÁO VÀ
UYỂN CHUYỂN.
2.1 Nghệ thuật đối với việc thể hiện nội dung trào phúng.
2.1.1 Vài nét về đối.
Đối là biện pháp tu từ dùng hình thức sóng đôi cú pháp và ngữ nghĩa tạo
nên một cấu trúc đối nhằm làm nổi bật nội dung cần biểu đạt và tăng cường sức biểu cảm
cho thơ văn
Một đối ngữ bao giờ cũng có hai vế Thường thì hai vế này có sự tương
đồng về cú pháp, cân bằng về số lượng âm tiết, đối nhau về nội dung
Trong văn học trung đại các nhà thơ thường sử dụng phép đối về nội dung
có thể theo hướng tương phản (hai vế có ý trái ngược nhau) hoặc tương hỗ (hai vế có ý bổsung cho nhau)
Đau lòng kẻ ở người đi
Lệ rơi thấm đá, tơ chia rũ tầm
(Nguyễn Du)
Nguyễn Du đã sử dụng phép đối tương phản để nói đến niềm đau chia li
Các quy tắc đối ngữ có yêu cầu khắc khe về tất cả các mặt ngữ âm (bằng –trắc), ngữ pháp (từ loại, cấu trúc ngữ pháp, ngữ nghĩa)
Lom khom dưới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông chợ mấy nhà”
(Bà Huyện Thanh Quan)
Thơ văn học trung đại thường bị gò bó bởi những tiết tấu, âm điệu
Kẻ đấp chăn bông, kẻ lạnh lùng
Trang 24Chém cha cái kiếp lấy chồng chung
(Hồ Xuân Hương)
Ở bài hỏng thi Trần Tế Xương đổi tên ra Trần Cao Xương tưởng là khỏi xúi
quẩy, nhưng lại cứ hỏng thi, chỉ tai vạ ở một chử “kiện” trông nhằm ra chử “tiệp” đến nổi
phải kêu trời Nhà thơ đã lấy “Trời” đối “Chó” để chửi vào sự hỏng thi của mình
“Trách mình phận hẩm lại duyên ôi
Đổ suốt hai trường hỏng một tôi.
“Tế” đổi thành “Cao” mà chó thế
“Kiện” trong ra “Tiệp”, hỡi trời ôi”
(Hỏng thi)
2.1.2 Các hình thức đối trong thơ văn Nguyễn khuyến.
Nguyễn Khuyến đã sử dụng những loại hình câu đối để thể hiện thái độ trào lộngcủa mình làm tăng thêm tính trào phúng trong văn thơ Hạt nhân nghệ thuật của đối là tính
đối xứng còn hạt nhân của nghệ thuật trào lộng là sự xung đột mâu thuẫn “Nguyễn
Khuyến đã hết sức lợi dụng cái lợi thế của câu đối để gây cười, để tạo những xung đột
gây cười rất hoạt, rất sắc, rất trẻ Các đối tượng và hoàn cảnh cười trong câu đối Nguyễn
Khuyến thật phong phú: Trêu gái, say rượu, nghèo hèn, làm quan , về vườn, người sinh,
kẻ chết, kẻ sang, người hèn, người giỏi, kẻ dốt” [ 512;17]
Nguyễn Khuyến là một nhà thơ thực hiện được tính thông tục hóa mạnh mẽ, nhất
là trong việc thể hiện các nội dung, hình thức câu đối trong văn thơ, thường là câu đối
được trưng bày ở những nơi trang nghiêm, bởi câu đối là một loại hình nghệ thuật quen
thuộc trong đời sống văn hóa, có ý nghĩa trang trọng, thường dùng ngôn ngữ thuộc phong
cách cao, nhưng nhà thơ đã chuyển biến thành những lời lẽ giản dị, bông đùa nhưng
không làm mất đi giá trị của nó Qua đó còn thể hiện được tiếng cười nhẹ nhàng đôi khixót xa, khi thì cay đắng, đồng thời bộc lộ rõ thái độ của nhà thơ qua từng câu đối
Trang 25Nghệ thuật đối trong văn chương có nhiều cách đối thể hiện sự đa dạng của ngônngữ Đối ngữ có đối về nội dung có thể theo hướng tương phản, có thể trái ngược hoặc bổsung cho nhau, bên cạnh đó còn đối ngữ theo luật bằng trắc, đối ngữ pháp theo từ loại,cấu trúc ngữ pháp ….
Trong văn thơ Nguyễn Khuyến cũng vận dụng những hình thức đối ấy nhưng có sự
khác biệt về cách sử dụng ngôn ngữ, ta thấy hình thức đối phổ biến nhất là đối ngữ, đối về
từ loại, ngữ nghĩa
Nói về đối ngữ pháp ta thấy rằng trong văn thơ Nguyễn Khuyến cũng có nhiều bài
thơ đối theo kiểu kết hợp quy luật Bằng – Trắc hay đối theo từ loại Nguyễn Khuyến có
tài dùng từ và cách sử dụng ngôn ngữ Trước tình trạng xã hội lúc bấy giờ đã gieo vàolòng nhiều nhà nho yêu nước một nỗi uất hận và chán chường, nhất là những nhà nho đãtrải qua cảnh quan trường như Nguyễn Khuyến, bởi nhà thơ đã chứng kiến bao nhiêucảnh tang tóc, do bọn thực dân cướp nước và bọn quan lại làm tay sai gây ra Bọn chúngluôn dòm ngó, để ý và theo dõi ông từng lúc, ông đã dùng ngôn ngữ để đánh lừa chúng và
ông đã đặc hết tâm sức của mình vào văn thơ Ông sử dụng phương tiện ngôn ngữ cũngnhư dùng các biện pháp nghệ thuật để phơi bày về mối quan hệ giữa con người với conngười Bọn thực dân luôn đàn áp nhân dân một cách hà khắc Để nói lên tình trạng đồng
loại giết hại đồng loại Nguyễn Khuyến đã sử dụng hình thức đối :
“Lòng tham không chán, cá ăn cá
Cùng giống tranh nhau, tre trói tre”
( Than một mình)
Theo hình thức đối T - B - T đối với B - T - B tạo nên một giọng thơ trầm lắng nỗibuồn, tâm trạng của thi nhân được thể hiện rõ ở hai câu thơ Nguyễn Khuyến sử dụng
nghệ thuật đối nhằm ngụ ý nói đến kẻ tham danh mà giết hại lẫn nhau như “cá ăn cá”,
đồng loại giết hại đồng loại khác nào tre lại trói tre, lời khuyên chân thành của nhà thơ đối
với những người đang tiếp tay cho bọn thực dân cướp nước quay lại giết hại nhân dânmình
Trang 26Cách đối của Nguyễn Khuyến rất chuẩn với hình ảnh “cá ăn cá” và “tre trói tre”
cũng là những hình ảnh có ý nghĩa, bởi cá thì thường sống theo bầy đàn và luôn đoàn kếtnhau Tre cũng là loại cây sống theo lũy, theo cộng đồng, tre và cá là hai hình ảnh tượngtrưng cho sự gắn bó, sống có trật tự Nguyễn Khuyến lấy hình ảnh đó để khuyên răn nhắcnhở con người quả là hợp lý Cách dùng từ, cách đối đều rất chuẩn
Cũng là một hình thức đối ngữ nhưng đối từ loại cũng được Nguyễn Khuyến đưa
vào trang thơ rất độc đáo và tinh tế, Nguyễn Khuyến muốn phơi bày cuộc sống đến thời
nhố nhăng lộn xộn của ngày “Hội Thăng Bình” cảnh mấy mụ me Tây, Bà Đầm làm trò
cười trong ngày hội Ông đã lấy hình ảnh của bà quan đối với hình ảnh của thằng bé đi
xem hát chèo
“Bà quan tênh nghếch xem bơi trải
Thằng bé lom khom nghé hát chèo”
( Hội Tây)
“Tênh nghếch” đối với “Lom khom” sự khác nhau giữa hai đối tượng, hình ảnh của bà
quan đối nghịch với hình ảnh thằng bé đi xem hát điều này cũng đã phơi bày lên cuộc
sống của hai đối tượng, hai giai cấp “Bà Quan” tượng trưng cho giai cấp thống trị, bọn thực dân tay sai còn “Thằng Bé” đại diện cho tầng lớp dân nghèo bị áp bức, bóc lột đến thống khổ cũng là cùng một hành động đi xem hội nhưng Bà Quan “Tênh nghếch” xem một cách thoải mái đến trắng trợn và vô liêm sĩ, đối nghịch với hình ảnh đó là “Thằng Bé” chỉ có thể “Nghé” xem một chút, một cách khúm núm, thấp hèn, cơ cực Nguyễn Khuyến
sử dụng hai từ tượng hình để đối nhau và đồng thời thông qua hai câu đối đó đã thể hiện,phản ánh lên cả một thực trạng xã hội đang đi vào tuyến đường băng hoại về đạo đức.Thực dân Pháp muốn lấy những cuộc vui chơi làm cho nhân dân ta quên đi nỗi nhục mất
nước Nhưng ông đã dùng cách nói, cách đối như thế để khơi dậy lòng yêu nước nỗi nhục
mất nước của nhân dân Trong lòng nhà thơ không bao giờ nguôi ngoai nỗi hờn căm màchính bọn thực dân đã gây ra, chính bản thân ông luôn muốn dùng ngòi bút và ngôn ngữcủa mình để làm quật dậy chí kiên cường, lòng phản kháng của những con người đangnằm dưới sự thống trị đàn áp của quân xâm lược Trong mắt bọn quan lại luôn là bọn bù
Trang 27nhìn và làm trò cười cho mọi người Nguyễn Khuyến đã diễn tả tên quan huyện “thanh
liêm”
“Nghênh ngang võng lọng nhờ ông Sứ
Ngọng nghẹo văn chương giở giọng ngô”
“Nghênh ngang” đối với “Ngọng nghẹo” từ tượng hình đối nhau để làm sáng tỏ tư thế
của một ông quan thanh liêm, “Nghênh ngang” mà lại “Ngọng nghẹo” nhưng nghênh
ngang mà lại nhờ ông Sứ Nguyễn Khuyến đối rất chuẩn và rất hình tượng Dưới ngòi bútcủa Nguyễn Khuyến thì cả hệ thống quan phụ mẫu của nhân dân thì nay chỉ là một trò vui
để Nguyễn Khuyến trêu đùa miệt thị, chất liệu của câu đối, của chữ nghĩa tuy nói rộng ra
là chất liệu của văn chương, nghệ thuật nhưng bao giờ cũng có ngay, có sẵn ở trong bảnthân cuộc sống, chỉ cần con người hay các bậc thi nhân mẫn cảm được với chữ nghĩatiếng Việt, vận dụng nhuần nhuyễn ngôn ngữ dân tộc thì câu đối luôn ở cửa miệng của
chặt chẽ, hoàn chỉnh, có tính nghệ thuật cao Nếu không có một năng khiếu nghệ thuật
đặc biệt về tiếng Việt và một năng lực mạnh mẽ trong liên tưởng và sáng tạo thì không
thể nào dùng được và điều khiển được cả một khối lượng ngôn ngữ khổng lồ của tiếngViệt Thật ra nếu xét về mặt hình thức thì câu đối này chưa được hoàn hảo :
“ Điều dại điều khôn nhờ bố đỏ
Tím gan tím ruột với ông xanh”
(Vợ thợ nhuộm khóc chồng)
“Điều” và “Tím” đối với nhau được về nét nghĩa và tín hiệu chỉ màu khác nhau
còn chổ không đối được là hai câu đối này không đối xứng với nhau về từ loại, về chức
Trang 28năng ngữ pháp của hai tổ hợp từ “Điều dại, Điều khôn” và “Tím gan, Tím ruột” Mặc dù
vậy người thưởng thức câu đối thường bỏ qua hoặc chấp nhận những lỗi đó, bởi đối vớiNguyễn Khuyến người đọc phục ông và tâm đắc với ông là đối chẳng qua chỉ là hình thức
mà cái Nguyễn Khuyến quan tâm nhất là nội dung
Ngoài đối về ngữ pháp và từ loại Nguyễn Khuyến còn đối theo hình thức ngữ
nghĩa cấu trúc cân đối toàn vẹn
“ Ba vuông phấp phới, cờ bay dọc
Một bức tung hoành váy xắn ngang”
(Lấy Tây)
“Cờ” đối với “váy” một kiểu đối hạ thấp khiến cho quốc thể của một quốc gia chỉ
ngang bằng với chiếc “váy” mà thôi Sự xuống dốc của một đất nước đang hồi suy vong.
Hình ảnh một Bà Tây, bà Đầm đem so sánh ngang bằng với hình ảnh của một đất nước.Tuy nhiên hãy nhìn lại mà xem một đất nước có hàng trăm năm lịch sử nay lại hủy hoại
dưới tay của bọn thực dân Triều đình nhu nhược dâng giang sơn cho giặc, bọn quan lại
hèn yếu cúi đầu làm tay sai cho bọn thực dân Vì thế vật đại diện cho một quốc gia chỉ có
đã lợi dụng cái lợi thế của câu đối gây cười hay tạo nên sự phản kháng thể hiện tinh thần
bất hợp tác với giặc Chúng ta nên thấy một điều là Nguyễn Khuyến là một trong những
nhà thơ thực hiện quá trình thông tục quá mạnh mẽ, nhất là nội dung và hình thức của đối,
một loại hình thức nghệ thuật quen thuộc trong đời sống văn hóa, văn học có ý nghĩatrang trọng, thường dùng các loại ngôn ngữ thuộc loại ngôn ngữ cao, để ở những nơithành kính, trang nghiêm Nay Nguyễn Khuyến đưa loại hình câu đối vào trong thơ, thểhiện lên mâu thuẫn của các đối tượng hoặc ở những nơi bình thường trong đời sống
Trang 29Nhưng vẫn không làm mất đi vẻ thanh lịch của nó Đồng thời thông qua những câu đối đã
bộc lộ thái độ của Nguyễn Khuyến đối với thời cuộc
2.2 Nghệ thuật chơi chữ với việc thể hiện nội dung trào phúng.
2.2.1 Vài nét về chơi chữ.
Chơi chữ là biện pháp tu từ vận dụng âm thanh, từ ngữ, ngữ pháp một cách đặc
biệt nhằm tạo nên những lượng ngữ nghĩa bổ sung đem đến cho người đọc, người nghenhững nội dung tư tưởng bất ngờ, lý thú
“Chàng Cóc ơi ! Chàng Cóc ơi !
Thiếp bén duyên chàng có thế thôi Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé Nghìn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi”
(Hồ Xuân Hương)
Các từ “Cóc, bén, chàng, nòng nọc, chuộc” tạo thành một dãy từ làm ta liên tưởng
đến các từ thuộc trường nghĩa động vật, lớp ếch nhái Chính ý nghĩa liên hội này tạo nên
cái “ hoan hỉ” trong tiếng khóc tiễn đưa “Chàng” Cóc của “Bà chúa thơ Nôm”, trái ngược
hẳn với âm điệu sầu não của những tiếng khóc thường gặp
Khi chơi chữ người nói (viết) luôn luôn có ý định hướng người nghe (đọc) phải có
ý thức điều chỉnh lượng tin trên bề mặt thì mới nắm bắt được cái thông tin tiềm ẩn đằng
sau các phương tiện ngôn ngữ
2.2.2 Các hình thức chơi chữ trong thơ văn Nguyễn Khuyến
Nguyễn Khuyến có rất nhiều tài trong việc sử dụng ngôn ngữ, sử dụng các phươngtiện nghệ thuật vào trong thơ để tạo nên tính trào phúng, đôi khi đến cao trào Những điềulàm chúng ta bất ngờ ở một bậc thi nhân như Nguyễn Khuyến là biệt tài chơi chữ Như aicũng biết Nguyễn Khuyến giỏi về thơ chữ Nôm lẫn cả thơ chữ Hán, nhưng riêng về biệt
tài chơi chữ thì thể hiện chủ yếu ở thơ chữ Nôm.“Chơi chữ đối với Nguyễn Khuyến là
việc hàng ngày, hàng giờ vì ông là người bất cứ lúc nào cũng có thể đề chữ, làm thơ, viết
Trang 30câu đối, đáp ứng yêu cầu của bà con làng xóm và cũng thỏa được thú vui chơi chữ nói
chung là sự lợi dụng tính hai mặt nhập nhằng của các tính hiệu đồng âm Đó là thư pháp nghệ thuật có tính chất truyền thống, chứng tỏ óc thông minh linh hoạt của con người và
đặc sắc của tiếng nói” [ 544;17], chơi chữ là biện pháp lợi hại của nghệ thuật hài hước
trong văn chương Nguyễn Khuyến muốn vận dụng lợi thế của chơi chữ nhằm đả kích,
phê phán, lên án và vạch ra cái rởm đời, kịch cỡm của bọn thực dân trong ngày hội
“Cậy sức cây đu nhiều chị nhún
Tham tiền cột mỡ lắm anh leo”
( Hội Tây)
Câu thơ miêu tả cảnh với lời lẽ sáng rõ, thanh lịch nhưng bọn thực dân Pháp đâubiết rằng bên trong hai câu thơ ấy có tiếng chửi tục tằn ném vào mặt bọn tay sai, bọn cướp
nước, đây được xem là vũ khí lợi hại cần thiết để sử dụng trong hoàn cảnh xã hội lúc bấy
giờ để phơi bày lên một cách trần trụi sự nhố nhăng, lộn xộn của xã hội, và sự rối loạntrong những con người đang tồn tại ở xã hội ấy Tuy nhiên, đối với Nguyễn Khuyếnkhông phải lúc nào cũng sử dụng biện pháp chơi chữ theo lối hài hước mà còn có những
câu thơ trầm lắng mà khiến người nghe phải suy nghĩ, bâng khuâng Nguyễn Khuyến
không chỉ phát hiện ra khía cạnh chơi chữ thuần túy về hình thức nhằm thỏa mãn thị hiếuhoặc gây một tiếng cười, mà luôn biết cách ngữ nghĩa hóa để biểu đạt nội dung tư tưởng
để nói lên tình cảm tâm tư Chính điểm này Nguyễn Khuyến đã làm nên sự sáng tạo củavăn chương và đồng thời cũng làm nổi bật lên đặc trưng, bản chất của văn chương tiếng
Việt Trong bài thơ “Ăn Mày” có câu “Ăn mày chớ có ăn tao nhé”, ở đây có sự khám phá giữa mối quan hệ đối lập “mày”, “tao” trong tiếng “Ăn mày” thật sự có giá trị nội dung
làm cho người đọc có phần bất ngờ, sửng sốt Đọc qua câu thơ chúng ta có thể nghĩ rằngđây là câu nói bông đùa nhưng nếu liên hệ câu ca dao:
“Ăn mày là ai, ăn mày là ta
Đói cơm rách áo hóa ra ăn mày”.
Nguyễn Khuyến đã nghĩ đến chính bản thân mình đang trong cảnh long đongthiếu cơm, thiếu áo và ông liên tưởng đến mình có khác chi ăn mày Ăn mày vốn để chỉ
Trang 31một người đi xin ăn nhưng Nguyễn Khuyến đã đưa từ cái danh từ “Ăn Mày” thành một
biện pháp chơi chữ rất độc đáo, bắt cầu cho các mối quan hệ và nhà thơ đã đặt mối quan
hệ giữa “Ăn Mày” với thân phận nhà thơ, từ đâu lại có lối nghĩ “Ăn Mày” và “Ăn Tao”
phải chăng chính là bọn cướp nước và bọn tay sai làm cho nhà thơ có lối nghĩ như ăn
mày Hai câu thơ tuy có hình thức là đùa vui đôi khi là không bình thường nhưng càng
nghĩ càng thắm thía thời cuộc Nguyễn Khuyến cũng là một người dân yêu nước, vì thếông phải chịu cùng cảnh ngộ với mọi người dân khác Chế độ đàn áp dã man, cai trị tànnhẫn đã làm xáo trộn cả một xã hội, làm khốn đốn dân tình đến nỗi bản thân nhà thơ phải
đối lại với “ăn mày” Sự nhập nhằng này không phải ngẫu nhiên mà có dụng ý của nhà
thơ phơi bày ra được hết thực trạng xã hội khốn khổ lúc này Nhưng cũng thông qua haicâu thơ trên mà ta càng thấy cái tài của Nguyễn Khuyến trong việc sử dụng biện phápchơi chữ như ông khó có ai sánh kịp
Biện pháp chơi chữ vốn là một tiểu xảo nghệ thuật về hình thức nhưng thi nhâncủa chúng ta đã đưa một việc làm chỉnh sửa chữ nghĩa để bông đùa, để cười vui trở thànhmột nghệ thuật kín đáo và sắc sảo, và một cách tiếp cận đối tượng đều theo mục đích củatác giả, điểm xuất phát đều được định hướng sẵn Chơi chữ dù là điểm khởi đầu làm đònbẩy để thâm nhập, tiến sâu vào nội dung và đến lúc này thì chơi chữ không còn nằm ngoàinữa mà đã trở thành một biện pháp tiêu biểu để biểu hiện cuộc sống và phản ánh thực tế.Những yếu tố có tính chất tình cờ, ngẫu nhiên về hình thức mà lại được đi vào bản chấtcủa sự vật, hiện tượng bên trong đó thật sự là một biến hóa vô thường trong phép chơichữ của Nguyễn Khuyến nói riêng, của các thi nhân nói chung Cách chơi chữ củaNguyễn Khuyến đã để lại ấn tượng rất sâu xa, sự hòa quyện gắn chặt giữa hình thức vànội dung đã làm nên một sản phẩm rất hoàn hảo
Trong thơ của Nguyễn Khuyến ta thấy rằng các tín hiệu đồng âm hay trái ngượcđều được liên kết thành một chuỗi, tạo nên sự luyến lái về hình thức và có giá trị như mộtcơn lốc xoáy về âm điệu và ngữ điệu Về hình thức ta tưởng chừng như Nguyễn Khuyếnđưa ta vào một thế trận chữ nghĩa rối mù, có thể gây ra cảm giác mơ hồ khó hiểu đôi khi
còn là sự thách đố nhưng thực chất thì không phải như vậy mà lại rất đơn giản, minh
Trang 32bạch, dễ hiểu về mặt ngữ nghĩa Sự phong phú trong việc biến đổi chữ nghĩa chính là do
đặc điểm của ngôn ngữ thơ tiếng Việt, do nhân dân ta sáng tạo và cảm thụ:
“Rượu ngon không có bạn hiền
Không mua không phải không tiền không mua”.
(Khóc Dương Khuê)
Hay
“Câu thơ nghĩ đắn đo không viết
Viết đưa ai, ai biết mà đưa”.
(Khóc Dương Khuê)
Vừa đọc qua có cảm giác mơ hồ nhưng nghe kĩ, xem kĩ lại thấy câu thơ có ý nghĩarất rõ ràng, ý nghĩa giản dị nhưng không kém phần thú vị, lối chơi chữ này ta gặp không ít
trong thơ của tác giả Nhưng điều đáng nói ở đây là Nguyễn Khuyến đã biết sử dụng một
cách nhuần nhuyễn cái tính lắc léo tiếng mẹ đẻ của các phương tiện ngôn ngữ để diễn đạtcái thực tại éo le trong xã hội đang lúc phức tạp oái oăm về tình cảm và cuộc đời Từ sựrối rắm tơ vò của hình thức mà lại đưa đi phân tích, để từ đó bộc lộ được nội dung cầnthiết thì hiệu quả trào phúng càng lớn hơn, gây ra một ấn tượng mạnh mẽ về hình thức thơ
và nội dung thơ hay nói đúng hơn là phơi bày hòa quyện được thơ và thực tại, đáp ứng
được nhu cầu của con người
Như ta đã nói, Nguyễn Khuyến có tài làm thơ về chữ Nôm lẫn chữ Hán Trong thơ
Nôm, Nguyễn Khuyến đã vận dụng rất khéo léo và tài tình biện pháp chơi chữ vào thơlàm bật lên ý nghĩa sâu xa trong các mối quan hệ thực tại Trong thơ chữ Hán thì chúng tacũng có thể thấy rải rác trong nhiều bài thơ cũng có biện pháp chơi chữ Nguyễn Văn
Huyền cho biết “Thơ Nguyễn Khuyến thường dùng lối sang quan, một từ có hai tầng ý nghĩa, có nghĩa mặt chữ, có nghĩa bóng, nghĩa ngầm” [545;17] Chúng ta có thể lấy dẫn chứng như bài thơ “Mất Con Ba Ba” nhà thơ dặt tên chữ Hán là “Thất Tam Tam” trong nhà Phật ngụ ý là “Mất sự cực lạc” hay bài thơ “Nhân tặng nhục” từ “nhục” theo ý tác
giả là sự nhục nhã từ đó cho ta thấy rằng Nguyễn Khuyến sử dụng biện pháp chơi chữ ở
Trang 33mọi nơi chỉ cần đạt được mục đích lên án cái xấu và cũng chứng tỏ là phong cách riêngcủa nhà thơ Tuy nhiên biệt tài chơi chữ của Nguyễn Khuyến vẫn nghiêng về chữ Nômnhiều hơn, bởi ông vốn là nhà thơ Việt Nam Ông hiểu rõ đời sống người dân Việt Nam
hơn ai hết, vốn là một nhà nho yêu nước ông luôn yêu quý và gắn liền với tiếng Việt,
tiếng mẹ đẻ của mình để gắn bó với nhân dân tầng lớp thấp cổ bé họng, vì vậy ông cànggần gũi với nhân dân, làng xóm và là một đại danh khoa yêu nước của nước Việt
2.3 Nghệ thuật sử dụng từ tình thái với việc thể hiện nội dung trào phúng 2.3.1 Vài nét về từ tình thái.
Tình thái từ là kiểu từ chuyên dùng biểu thị ý nghĩa tình thái trong quan hệ củachủ thể phát ngôn với người nghe hay với nội dung phản ánh hoặc ý nghĩa tình thái gầnvới mục đích phát ngôn
Tình thái từ góp phần thể hiện mục đích phát ngôn hay biểu thị cảm xúc chủ quanhoặc khách quan như: nhỉ, a, à, hỡi,ư…
“Thân này ví biết dường này nhỉ
Thà trước thôi đành ở vậy xong”
(Lấy chồng chung)
Từ “nhỉ” trong bài thơ đã thể hiện thái độ ngao ngán trước cảnh đời “Lấy chồng chung” của Hồ Xuân Hương
Hay:
Ngày ba tháng tám thấy đâu mà
Sao đến ngày xuân lắm thế a!
Ý hẳn thịt xôi lèn chặt dạ , Cho nên con tự mới thò ra”
(Ngày xuân ở làng thơ)
Trang 34Tế Xương đã dùng tình thái từ “a” để châm biếm bọn dốt nát thích khoe chữ, tìm
dịp hội họp, ngâm vịnh, xương họa, một mặt để lòe đời, mặt khác để chè chén phè phởnvới nhau
2.3.2 Nghệ thuật sử dụng từ tình thái trong thơ văn Nguyễn Khuyến.
Nguyễn Khuyến đã sử dụng từ ngữ lúc thì khen, lúc thì chê, lúc tự chế nhạomình Cách khen chê của Nguyễn Khuyến làm cho người đọc đôi lúc phải thốt lên tiếng
cười chua chát Trong bài thơ “Hỏi thăm quan tuần mất cướp” tuy tác giả thể hiện sự
cảm thông đối với quan tuần nhưng lại là tiếng chửi, sự mỉa mai, châm biếm
“ Lấy của đánh người quân tệ nhỉ
Thân già da cóc có đau không ?”
Giọng điệu câu thơ nhẹ nhàng nhưng chứa đựng mối hiềm khích giữa hai tầng lớp
như hai lớp người không thể cùng tồn tại, thể hiện sự mâu thuẫn của tác giả thông qua từ
tình thái nhằm làm tăng thêm tính trào phúng trong thơ Từ “nhỉ” trong những bài thơ
“Tự thuật”, “Tự trào”, “Lên lão” hay “Hỏi thăm quan tuần mất cướp” điều nhằm mục
đích thể hiện thái độ của nhà thơ ngắm vào đối tượng đáng lên án Mỗi bài thơ có cách
dùng từ khác nhau, sự chân thật hay lời lẽ mang nhiều ý nghĩa đều dựa trên từng đối
tượng mà nhà thơ Yên Đỗ bộc lộ Nhưng nhìn chung cũng phần nào dựa vào cách sử
dụng từ tình thái mà tác giả đã vận dụng vào văn thơ làm tăng thêm tính trào phúng mộtcách tự nhiên thâm thúy, sâu cay Đôi lúc như đùa mà thật, tuy thật mà lại bông đùa
Trong “ Kiều bán mình” hai câu thơ cuối :
“ Có tiền việc ấy là xong nhỉ
Đời trước làm quan cũng thế a !”
Giọng điệu cũng rất nhẹ nhàng nhưng tố cáo cả một thế hệ, tầng lớp quan lại,
đồng thời cũng khẳng định được sức mạnh của đồng tiền Từ tình thái “a” như một câu
hỏi, nửa như là câu trả lời Tuy không khẳng định nhưng tạo cho người đọc một nhận xétchắc chắn về một triều đại đang hồi suy vong
Trang 35Tác giả đã mượn thân phận của Kiều để nói lên thực trạng xã hội ở hiện tại Hai
câu thơ mang ý nghĩa vừa khẳng định, vừa mang một nỗi hàm xúc bởi từ “a” ở cuối câu.
Tình thái từ “a” như điểm nhấn làm cho bài thơ có phần nhấn mạnh hơn, góp phần làm
nên cảm xúc chủ đạo, sự bất bình trước thực trạng đã phần nào làm nên sự phẫn uất tronglòng nhà thơ Trong văn thơ của Nguyễn Khuyến từ tình thái có hiệu quả rất cao trongviệc phê phán, đả kích, châm biếm những sự bất công trong xã hội Nguyễn Khuyến
thường dùng những từ tình thái để hỏi, mặc dù câu hỏi không để hỏi mà hỏi để lại dấu
chấm than trong lòng người đọc, một xúc cảm dâng đầy cho những ai cảm thông với nỗikhổ của tác giả cũng đều thấu hiểu được cái thực trạng, sự nhố nhăng phức tạp của xã hộilúc bấy giờ Nhưng bên cạnh đó Nguyễn Khuyến còn sử dụng từ biểu thị cảm xúc chủ
quan vào thơ văn
Trong “Nguyên đán ngẫu vịnh”, ông đã thể hiện cảm xúc của mình khi con ông
dựng được nhà thì mục đích của nhà thơ rõ ràng hơn không quanh co, không thách đố, thểhiện tình cảm thiết tha, chân thành hơn khác hẳn với những đối tượng là tay sai, thầy tu,thầy đồ hay gái điếm nhà thơ đã dùng cách bày tỏ thái độ hàm chứa ngụ ý sâu xa khác.Bên cạnh sự mỉa mai châm biếm hay sự thách thức chống đối thì chính ông cũng mâuthuẫn với bản thân ông Ông đã tự cười mình, tự mỉa mai vào chính tước vị mà mình đã
có Bài thơ “Tự trào” là minh chứng cho sự bất đắc chí ở chính mình.
“Nghĩ mình lại gớm cho mình nhỉ.
Thế cũng bia xanh cũng bảng vàng”.
Dựa trên cách viết cách dùng từ thì khen ông đấy nhưng lại nhằm mỉa mai tự trách
Chính ông đã tự bất mãn về mình, từ “nhỉ” ở bài thơ này cũng mang ý nghĩa như những
bài thơ trên chỉ khác về đối tượng Đối tượng trong thơ văn Nguyễn Khuyến rất phong
phú, những từ biểu lộ cảm xúc ông vận dụng rất tự nhiên đôi khi làm người đọc bất ngờ,mang lại hiệu quả trào phúng rất cao
Sự thông hiểu đối với thời cuộc đã làm mất cân bằng ở một xã hội phong kiến
đồng thời cũng làm mất đi cân bằng trong văn thơ tạo nên nhiều mâu thuẫn Nhà thơ
muốn thốt lên một cách trực tiếp để tố cáo bọn người đáng cười đáng phê phán bởi chính