1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH của đảo JEJU

60 1,4K 14

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 2,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Du lịch giúp con người thư giãn, tiếp cận nơi họ muốn đến, khám phá những vùng đất mới v.v…Kể từ đó du lịch đã trở thành một ngành kinh tế quan trọng của nhiều nước trên thế giới.. MỤC T

Trang 1

KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU

LỊCH CỦA ĐẢO JEJU

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

NGÀNH DU LỊCH

 Cần Thơ, tháng 4/2012 

Trang 2

KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU

LỊCH CỦA ĐẢO JEJU

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

NGÀNH DU LỊCH

Giảng viên hướng dẫn

HUỲNH TƯƠNG ÁI

 Cần Thơ, tháng 4/2012 

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1

3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 1

4 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU 2

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2

5.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 2

5.2 Phương pháp thống kê toán học 2

5.3 Phương pháp bản đồ 2

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 4 1.1 KHÁI NIỆM DU LỊCH 4

1.2 TÀI NGUYÊN DU LỊCH 4

1.2.1 Khái niệm tài nguyên du lịch 4

1.2.2 Phân loại tài nguyên du lịch 4

1.2.2.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên 4

1.2.2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn 4

1.3 KẾT CẤU HẠ TẦNG VÀ CƠ SỞ VẬT CHẤT KỸ THUẬT 5

1.3.1 Kết cấu hạ tầng 5

1.3.2 Cơ sở vật chất kỹ thuật 5

Trang 4

1.3.2.1 Khách sạn 5

1.3.2.2 Cơ sở ăn uống 5

1.4 CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH 5

CHƯƠNG 2 KHÁI QUÁT VỀ ĐẤT NƯỚC HÀN QUỐC VÀ ĐẢO JEJU 6 2.1 ĐẤT NƯỚC HÀN QUỐC 6

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 6

2.1.1.1 Vị trí địa lý 6

2.1.1.2 Khí hậu 7

2.1.1.3 Địa hình 7

2.1.2 Kinh tế - Xã hội 7

2.1.2.1 Dân cư 7

2.1.2.2 Xã hội 8

2.1.2.3 Kinh tế 8

2.1.3 Văn hóa 8

2.1.3.1 Trang phục 8

2.1.3.2 Ngôn ngữ và Chữ viết 8

2.1.3.3 Nhà truyền thống 9

2.1.3.4 Ẩm thực 9

2.1.4 Thể chế chính trị 9

2.2 ĐẢO JEJU 11

Trang 5

2.2.1 Tự nhiên Jeju 11

2.2.2 Lịch sử Jeju 12

2.2.3 Kinh tế - Xã hội 12

2.2.4 Đơn vị hành chính 13

2.2.5 Những điều đặc biệt trên đảo Jeju 13

2.2.5.1 Hòn đảo “tam đa” 13

2.2.5.2 Hải nữ (Haenyo) 14

2.2.6 Du lịch Jeju 15

2.2.6.1 Khái quát du lịch Jeju 15

2.2.6.2 Một số điểm nổi bật trong du lịch Jeju 16

CHƯƠNG 3 HIỆN TRẠNG KHAI THÁC TÀI NGUYÊN TRÊN ĐẢO JEJU 17 3.1 TÀI NGUYÊN DU LỊCH CỦA JEJU 18

3.1.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên 18

3.1.1.1 Đỉnh Hallasan 18

3.1.1.2 Thác nước Cheonjiyeon 19

3.1.1.3 Vách đá Jusangjeoli 20

3.1.1.4 Tảng đá hình đầu rồng Youngdam rock 20

3.1.1.5 Đỉnh Seongsan Ilchulbong 20

3.1.1.6 Biển Jeju 21

3.1.2 Tài nguyên du lịch nhân văn 22

Trang 6

3.1.2.1 Làng văn hóa dân tộc Seongeup 22

3.1.2.2 Đền Kwanumsa 23

3.1.2.3 Tượng thần Dol Hareubang 23

3.1.2.4 Các bảo tàng 23

3.1.2.5 Lễ hội 26

3.1.3 Các tài nguyên du lịch khác 27

3.1.3.1 Công viên Hallim: 27

3.1.3.2 Mê cung Gimnyeong 27

3.1.3.3 Vườn thực vật Yeomiji 28

3.1.3.4 Công viên Love Land 28

3.1.3.5 Con đường ma quái 28

3.1.3.6 Phim trường All In House 29

3.2 CƠ SỞ HẠ TẦNG, CƠ SỞ VẬT CHẤT KỸ THUẬT VÀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU DỊCH Ở JEJU 29

3.2.1 Cơ sở hạ tầng 29

3.2.1.1 Giao thông đường hàng không 29

3.2.1.2 Giao thông đường bộ 30

3.2.1.3 Giao thông đường thủy 31

3.2.1.4 Nguồn cung cấp điện 32

3.2.1.5 Nguồn cung cấp nước 32

3.2.1.6 Thông tin liên lạc 33

Trang 7

3.2.2 Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch 33

3.2.2.1 Khách sạn, nhà hàng 33

3.2.2.2 Trung tâm mua sắm 33

3.2.2.3 Cơ sở vật chất kỹ thuật khác 34

3.2.3 Chính sách phát triển du lịch 34

3.3 HIỆN TRẠNG KHAI THÁC DU LỊCH Ở JEJU 35

3.3.1 Khách du lịch 35

3.3.2 Doanh thu du lịch 37

KẾT LUẬN 37 1 KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 38

2 Ý KIẾN ĐỀ XUẤT 38

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Ngày nay, khi thế giới ngày càng hiện đại, mức sống con người ngày một nâng cao thì du lịch đã trở thành nhu cầu không thể thiếu trong đời sống của họ Du lịch giúp con người thư giãn, tiếp cận nơi họ muốn đến, khám phá những vùng đất mới v.v…Kể từ đó du lịch đã trở thành một ngành kinh tế quan trọng của nhiều nước trên thế giới

Từ sau chiến tranh thế giới thứ II, du lịch đã dần trở thành nhu cầu cần thiết của con người, gắn liền với cuộc sống hàng ngày của hàng triệu người trên trái đất Theo đánh giá của Tổ chức du lịch thế giới (WTO – World Tourism Organization), hiện nay hàng năm trên thế giới có ba tỉ lượt người đi du lịch, riêng khách du lịch quốc tế có thể lên đến một tỉ lượt người mỗi năm Rõ ràng rằng du lịch không còn là một hiện tượng

lẻ loi, đặc quyền của cá nhân hay nhóm người nào đó Ngày nay du lịch đã trở thành một hiện tượng phổ biến vói mục tiêu không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của con người, góp phần bảo tồn và tôn tạo cảnh quan thiên nhiên, các di tích lịch

sử, văn hóa, củng cố hòa bình, hữu nghị giữa các dân tộc v.v…

Thông qua đề tài tôi hy vọng sẽ củng cố, tổng kết lại những kiến thức cơ bản mà Thầy Cô đã truyền dạy trên giảng đường Đại học, góp phần nâng cao kiến thức cho bản thân Tôi cũng hy vọng sau khi hoàn thành xong đề tài này có thể giúp bạn đọc có cái nhìn sâu hơn, rộng hơn về đất nước Hàn Quốc, mà tiêu biểu là đảo JeJu – kỳ quan thế giới mới

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu về đề tài “Tiềm năng phát triển du lịch của đảo Jeju – Hàn Quốc”, tôi muốn giúp bạn đọc có cái nhìn sâu hơn, hiểu rõ hơn về hòn đảo xinh đẹp này với nhiều tiềm năng phát triển du lịch và đặc biệt là thấy được cách làm du lịch của người Hàn Quốc Qua đó, đề tài còn giúp tôi mở rộng kiến thức về các điểm du lịch hấp dẫn

ở khu vực Đông bắc Á, mà cụ thể là đảo JeJu, từ đó rút ra bài học, kinh nghiệm bổ ích ứng dụng vào việc khai thác và phát triển ngành du lịch nước nhà

3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Do kiến thức về đề tài thì vô hạn mà kiến thức hiểu biết của bản thân và thời gian thì hữu hạn cũng như điều kiện tiếp xúc, tiếp cận môi trường thực tế còn nhiều khó khăn và hạn chế Nên khi nghiên cứu đề tài tôi chỉ trình bày về vấn đề: “Du lịch ở đảo JeJu”của Hàn Quốc

Về phần nội dung tôi sẽ trình bày một cách sơ lược về hai vấn đề: vấn đề thứ nhất là về tiềm năng, điều kiện phát triển du lịch của đảo JeJu như: kết cấu hạ tầng –

Trang 9

cơ sở vật chất kĩ thuật, cơ chế, chính sách của Nhà Nước – yếu tố chính trị, nhu cầu và thời gian rỗi của du khách Vấn đề thứ hai là hiện trạng phát triển du lịch ở đảo JeJu

Phạm vi nghiên cứu đề tài là lãnh thổ đảo JeJu của Hàn Quốc, tôi nghiên cứu những vấn đề trên trong những năm gần đây, từ năm 2007 đến 2012 Và thời gian tôi bắt đầu nghiên cứu và hoàn thành đề tài là bốn tháng (từ tháng 01/2012 đến tháng 04/2012)

4 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU

Hàn Quốc là một trong những nền kinh tế lớn của châu Á, là một đất nước có nền văn hóa đặc sắc Trong những năm gần đây, làn sóng giải trí Hàn Quốc phủ sóng mạnh mẽ tại khắp châu Á, làm cho đất nước này ngày càng được mến mộ và nhu cầu

du lịch Hàn Quốc cũng tăng cao, chính vì vậy mà có ngày càng nhiều tài liệu viết về

đất nước này Trong đó “tìm hiểu VĂN HÓA HÀN QUỐC” – NXB VĂN HÓA

THÔNG TIN – 2011 do NGUYỄN TRƯỜNG TÂN biên soạn là tài liệu tôi tham

khảo nhiều nhất Cuốn sách này đã cung cấp cho tôi những thông tin cần thiết về đất nước và con người Hàn Quốc, từ điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội cho đến các khía cạnh văn hóa cũng như giới thiệu những địa điểm du lịch nổi tiếng của đất nước này, trong đó có Jeju Đây là nguồn tài liệu quan trọng giúp tôi hoàn thành bài luận văn của mình

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

5.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tôi đã tiềm tòi thu thập những tài liệu có liên quan đến đối tượng từ nhiều nguồn khác nhau, đáng tin cậy như: sách báo, tạp chí, video clip v.v… Đồng thời xử lí tài liệu bằng cách phân tích, chọn lọc những thông tin quan trọng, nổi bật, phù hợp với quan điểm của bản thân, từ đó sắp xếp tài liệu để làm thành một bài nghiên cứu hoàn chỉnh

5.2 Phương pháp thống kê toán học

Từ những nguồn tài liệu đã thu thập được, trong đó những số liệu tôi đã đưa về bảng biểu, biểu đồ để việc xem xét đối tượng sinh động và trở nên có trật tự, dễ so sánh hơn Từ đó có thể rút kinh nghiệm và đề ra phương pháp để tổ chức các hoạt động

du lịch thích hợp hơn

5.3 Phương pháp bản đồ

Đây là phương pháp quan trọng, khi dùng phương pháp này có thể làm tăng tính trực quan và sinh động của đề tài, giúp tôi xác định được vị trí địa lí, vị thế, tiềm năng chính xác của đảo JeJu trong ngành du lịch của Hàn Quốc Nắm bắt được sự phân bố

đa dạng của nguồn tài nguyên du lịch Đồng thời phương pháp này còn cung cấp nhiều

Trang 10

thông tin hữu ích như: tuyến giao thông, sự phân bố các điểm du lịch, cơ sở vui chơi giải trí v.v… Từ đó có thể tổ chức, liên kết những hoạt động du lịch thích hợp

Trang 11

Hội nghị quốc tế về thống kê du lịch tại Canada (1991) đã đưa ra định nghĩa:

“Du lịch là các hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài nơi ở thường xuyên của mình trong một khoảng thời gian ít hơn thời gian được các tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng tới thăm”

Theo Luật Du Lịch Việt Nam (2005): “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”

1.2 TÀI NGUYÊN DU LỊCH

1.2.1 Khái niệm tài nguyên du lịch

Theo pháp lệnh Du lịch Việt Nam (1999): “Tài nguyên du lịch là cảnh quan tự nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo sự hấp dẫn du lịch”

Theo luật Du lịch Việt Nam (2005): “Tài nguyên du lịch là cảnh quan tự nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cấu du lịch, là yếu tố

cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch”

Như vậy có thể hiểu rằng: Tài nguyên du lịch là những yếu tố tự nhiên hoặc nhân tạo có khả năng khai thác và sử dụng để thỏa mãn nhu cầu du lịch

1.2.2 Phân loại tài nguyên du lịch

1.2.2.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên

Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch

1.2.2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn

Tài nguyên du lịch nhân văn bao gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch Ưu thế của phần lớn các tài nguyên du lịch

Trang 12

nhân văn là không có tính mùa vụ (trừ lễ hội), không phụ thuộc nhiều vào các điều kiện khí hậu và các điều kiện tự nhiên khác

Lễ hội: mỗi dân tộc, mỗi quốc gia đều có những lễ hội đặc trưng riêng Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hóa phản ánh đời sống tâm linh của mỗi cộng đồng Lề hội gồm có hai phần liên quan với nhau rất chặt chẽ: phần Lễ mang tính lễ nghi, trang trọng nhằm tưởng niệm hoặc cầu chúc…, phần Hội mang tính sinh hoạt vui chơi của cộng đồng

Bảo tàng: Đây là điểm tham quan du lịch có giá trị giúp cho du khách tìm hiểu

1.3.2 Cơ sở vật chất kỹ thuật

1.3.2.1 Khách sạn

Khách sạn là cơ sở kinh doanh nhằm phục vụ nhu cầu du lịch của du khách trong thời gian ngắn, trong đó có nhu cầu trực tiếp (nghỉ ngơi, ăn uống…) và nhu cầu gián tiếp (giải trí, thể thao…)

1.3.2.2 Cơ sở ăn uống

Cơ sở ăn uống bao gồm các nhà hàng lớn hay nhà hàng trong khu vực khách sạn, các quán ăn bình dân chuyên phục vụ các món ăn đặc trưng và các món ăn khác tại điểm du khách đến

t1.4 CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH

Các cơ chế chính cách của một quốc gia luôn luôn là nhân tố tác động trực tiếp

và mạnh mẽ đến hoạt động du lịch Đường lối chung là những định hướng lớn về mặt kinh tế - xã hội của đất nước Chính sách là các quy định cụ thể của nhà nước và các địa phương về du lịch nói riêng và các quy định khác nhằm làm cho du lịch ở một nơi phát triển

Trang 13

CHƯƠNG 2

KHÁI QUÁT VỀ ĐẤT NƯỚC HÀN QUỐC VÀ ĐẢO JEJU

2.1 ĐẤT NƯỚC HÀN QUỐC

- Tên chính thức: Đại Hàn Dân Quốc hay Hàn Quốc

- Đơn vị tiền tệ: Won (KRW)

Trang 14

2.1.1.2 Khí hậu

Nằm trên bán đảo Triều Tiên nên khí hậu của Hàn Quốc là kiểu khí hậu lục địa gió mùa với bốn mùa được phân biệt rõ rệt

ùa đông ở Hàn Quốc bắt đầu vào tháng 10 kéo dài tối đa là tháng ở miền

ắc của vùng bán đảo, nhưng thường bát đầu vào tháng 12 và chỉ kéo dài khoảng 3 tháng ở vùng trung tâm và phía Nam Nhiệt độ trung bình thường dưới âm độ trong suốt tháng 12, tháng 1 và tháng 2, ngoại trừ vùng biển phía ắc của nước này Tháng 1

là tháng lạnh nhất trong năm tại Hàn Quốc, trời lúc này bắt đầu đổ tuyết và còn đóng băng, trong những thời gian còn lại mùa đông khô và lạnh

ùa xuân ở Hàn Quốc bắt đầu vào tháng 3 và kết thúc tháng 5, thường vào khoảng thời gian hoa anh đào nở rộ bao phủ những đồi núi và đồng bằng Vào mùa Xuân thời tiết ở Hàn Quốc thường ôn hòa và khô ráo ặc dù sương giá thỉnh thoảng xuất hiện vào đầu mùa và những cơn bão bụi màu vàng thường xảy ra trong tháng Tư

và tháng Năm

Không gian thoáng đãng với tiết trời se lạnh Thời tiết trở nên ôn hoà, bầu trời cao và trong vắt, những rừng cây ngập sắc lá vàng rơi đó chính là mùa thu ở Hàn Quốc, bắt đầu tháng 9 và kết thúc tháng 11 Đây là thời gian lý tưởng đến du lịch Hàn Quốc

ùa hè Hàn Quốc nổi tiếng là mưa nhiều và thường diễn ra vào suốt tháng 6 đến tháng 9, nóng và ẩm là đặc điểm của thời tiết Hàn Quốc vào mùa này Trong suốt mùa hè những cơn bão Đông Á sẽ đe doạ hoành hành bất cứ lúc nào gây nhiều thiệt hại nặng nề trên bán đảo Triều Tiên

2.1.1.3 Địa hình

Hàn Quốc có địa hình chủ yếu là đồi núi Địa hình phân hoá thành hai vùng rõ rệt: vùng rừng núi chiếm khoảng 70% diện tích nằm ở phía Đông; vùng đồng bằng duyên hải ở phía Tây và Nam ãi bồi ven biển Saemangeum là bãi nổi ven biển lớn thứ hai thế giới

2.1.2 Kinh tế - Xã hội

2.1.2.1 Dân cư

Theo thống kê năm 2009, dân số Hàn Quốc là 50.0 2.000 người, mật độ trung bình 500 người/km2, là một trong những quốc gia có mật độ dân số cao trên thế giới Dân số Hàn Quốc tập trung chủ yếu tại tỉnh gyeonggy, thủ đô Seoul và thành phố Busan

Tuổi thọ trung bình của người Hàn Quốc là 80,5 tuổi (2009) Hàn quốc đang đối mặt với tình trạng dân số ngày càng già đi khi có đến 11% dân số trên 5 tuổi, làm gia

Trang 15

tăng gánh nặng lên các quỹ trợ cấp và nguồn nhân lực Trong những năm gần đây, tỉ lệ sinh ở Hàn Quốc đã có dấu hiệu tăng trở lại, góp phần cải thiện tình hình

2.1.2.2 Xã hội

(-) Thành phần dân tộc

Trong thành phần dân cư Hàn Quốc thì người Triều Tiên chiếm đại đa số Dân tộc thiểu số duy nhất là một bộ phận nhỏ người gốc Hoa và một số lao đông di cư từ châu Phi và các nước châu Á khác (như Philippines, Ấn Độ) Một bộ phận không nhỏ người Hoa Kỳ cũng đang sống và làm việc tại Hàn Quốc

Ngược lại cũng có rất nhiều người Hàn Quốc sinh sống tại nước ngoài như tại Nhật Bản, Canada, Hoa Kỳ, Trung Quốc và nhiều nước vùng Trung Á Sau đó một số người di cư về nước và họ mang hai quốc tịch

(-) Tôn giáo

Theo thống kê tại hàn quốc, 51% dân số nước này có tín ngưỡng tôn giáo Trong đó 49% là tín đồ của đạo Phật, 49% là tín đồ của Kito giáo (trong đó 39% theo tin lành, 10% theo công giáo), 1% theo Khổng giáo, 1% còn lại theo các tôn giáo khác

Người Hàn Quốc không đặt nặng vấn đề tôn giáo, những người dân không theo đạo vẫn tổ chức những ngày lễ của nhiều tôn giáo khác nhau Tuy các tín đồ của đạo Kổng chỉ chiếm 1% số người có tôn giáo ở Hàn Quốc, nhưng các giá trị của đạo Khổng vẫn ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống hàng ngày của người dân xứ Hàn

2.1.2.3 Kinh tế

Kinh tế Hàn Quốc là nền kinh tế thị trường, trong đó nhà nước đóng vai trò quan trọng cách đây 30 năm, Hàn Quốc là một nền kinh tế kém phát triển khi tổng sản phẩm quốc nội tương đương với các nước nghèo ở châu Phi và châu Á Đến năm 2005, với chính sách phát triển hợp lý, Hàn Quốc đã trở thành nền kinh tế lớn thứ 10 trên thế giới, với GDP danh nghĩa đạt 789 tỉ USD và thu nhập bình quân đầu người đạt 16.270 USD (đứng thứ 33 trên thế giới)

2.1.3 Văn hóa

2.1.3.1 Trang phục

Hanbok là biểu tượng trang phục truyền thống của người Hàn Quốc, đã tồn tại hàng ngàn năm Trước khi xuất hiện Âu phục cách đây khoảng 100 năm, hanbok là trang phục được mặc hàng ngày Ngày nay, hanbok thường được người Hàn Quốc những dịp trọng đại như lễ tết , đám cưới hay ngày Chuseok (ngày lễ tạ ơn)

2.1.3.2 Ngôn ngữ và Chữ viết

Người Hàn Quốc có ngôn ngữ chính là tiếng Hàn Quốc (Hangul) Hangul ban

đầu có tên gọi là Hunmin jeong-eum Hệ thống chữ cái này được xây dựng từ năm

1446 bởi vị vua của triều đại Joseon – vua Sejong Ngôn ngữ Hàn Quốc là ngôn ngữ

Trang 16

đa âm tiết với 19 phụ âm (14 phụ âm đơn và 5 phụ âm kép) và 21 nguyên âm (8 nguyên âm đơn nà 13 nguyên âm kép) Hangeul là một hệ thống chữ viết chuẩn, phù hợp với thời đại giao tiếp ngày nay

2.1.3.3 Nhà truyền thống

Nhà truyền thống của người Hàn Quốc được gọi là Hanok, là sự kết hợp hài hòa giữa thiên nhiên và con người thể hiện qua việc trang trí nội thất và chất liệu xây dựng Điểm độc đáo của ngôi nhà Hàn Quốc là hệ thống sưởi ấm (gọi là Ondol gudeul), hệ thống làm mát (Daecheong) Những hệ thống này đặc biệt được tập trung ở dưới sàn nhà, vì người Hàn Quốc có thói quen làm việc, ngồi hay nằm, tất cả đều trên sàn nhà

2.1.3.4 Ẩm thực

Lương thực chính của người Hàn Quốc là lúa gạo Tuy nhiên, thức ăn đặc trưng của người Hàn Quốc là các món lên men như kim chi (các loại rau lên men), jeotgal (hải sản lên men), doenjang (đậu hủ lên men) hay kibap, mì lạnh naengmyeon…Chính

vì những món ăn đặc trưng này mà Hàn Quốc còn được mệnh danh là “xứ sở kim chi”

Theo cách ăn của người Hàn Quốc tất cả các món ăn đều được dọn lên bàn một lần và người ta thường dùng thìa để ăn

- Kim chi: ón ăn này ra đời khoảng thế kỷ thứ VII, với nguyên liệu là các loại rau, củ, cùng với gia vị: tỏi, hành, ớt, gừng để chờ lên men Ngày nay có hàng trăm loại kim chi khác nhau như kim chi bắp cải, kim chi củ cải, kim chi hành lá…

- Rượu Soju: loại rượu đặc trưng của Hàn Quốc, tương tự như vodka, nhưng nhẹ hơn, rượu này được ủ từ ngũ cốc hay khoai lang

2.1.4 Thể chế chính trị

Hàn Quốc hiện là một nước dân chủ khiếm khuyết và theo chế độ cộng hòa tổng thống Tổng thống Đại Hàn Dân Quốc theo hiến pháp của nước này, là người đứng đầu nhà nước, điều hành chính quyền, và là tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang của đất nước Thủ tướng do Tổng thống chỉ định và lãnh đạo chính phủ Chính phủ có tối thiểu

15 và tối đa là 30 thành viên Thành viên chính phủ do thủ tướng chỉ định Chức vụ thủ tướng cũng như bộ trưởng phải được sự thông qua của quốc hội Hiến pháp và Luật Bầu cử Tổng thống sửa đổi năm 1987 cho phép lựa chọn tổng thống bằng phương pháp đầu phiếu kín, trực tiếp Trước đó suốt 1 năm, tổng thống Hàn Quốc được bầu ra bằng hình thức gián tiếp

Nhiệm kỳ của tổng thống Hàn Quốc là 5 năm và chỉ được phép làm một nhiệm

kỳ Nếu xảy ra tình huống không có tổng thống, sẽ phải tổ chức bầu cử tổng thống ngay trong vòng 0 ngày và trong thời gian đó trách nhiệm của tổng thống sẽ do thủ tướng hoặc một thành viên cao cấp của nội các tạm gánh vác Trong khi đương chức,

Trang 17

tổng thống được miễn truy tố về các trách nhiệm hình sự ngoại trừ việc nổi dậy hoặc phản quốc

Quốc hội Hàn Quốc chỉ có một viện Đại biểu quốc hội được bầu mỗi bốn năm một lần Quốc hội có tất cả 299 đại biểu

Cơ quan quan trọng thứ ba trong hệ thống chính trị Hàn Quốc là Toà án tối cao

Cơ quan này theo dõi hoạt động của chính phủ và ra các phán quyết cuối cùng Toà án gồm có chín thẩm phán tối cao Tổng thống trực tiếp chỉ định ba người trong số này,

ba người được quốc hội bầu ra, tuy nhiên phải được sự chấp thuận của tổng thống Chánh án toà án tối cao là người chỉ định ba thẩm phán còn lại

Tổng thống Hàn Quốc đương nhiệm là ông I yeong-bak (Lý inh ác)

Trang 18

Đảo Jeju là đảo núi lửa hình thành do sự hoạt động của núi lửa cách đây khoảng 2 triệu năm đoạn dài nhất trên đảo là 73 km, đoạn rộng nhất là 41 km Trung tâm của đảo là Hallasan, ngọn núi cao nhất Hàn Quốc và là ngọn núi lửa không hoạt động Núi vươn cao tới 1.950 m trên mực nước biển Tổng cộng có 3 0 núi lửa vệ tinh quanh ngọn núi chính này và là nơi tập trung nhiều ngọn núi lửa đã ngưng hoạt động nhất trên thế giới

Jeju nằm cách đất liền 130 km, khí hậu của đảo chịu ảnh hưởng của khối khí đại dương nên thời tiết trên đảo mát vào mùa hè và ấm vào mùa đông, nhiệt độ cao nhất trong những tháng hè không quá 33 độ C, nhiệt độ thấp nhất trong những tháng mùa đông không dưới 10 độ C

Trang 19

Jeju có phong cảnh thiên nhiên vô cùng hùng vĩ và tươi đẹp, năm 2002, jeju được unesco công nhận là khu vực bảo tồn môi trường sinh học, và trở thành một trong bảy kỳ quan thiên nhiên của thế giới vào năm 2007

2.2.2 Lịch sử Jeju

Jeju xưa là vương quốc Đam La Vương quốc Đam La hay Đam La Quốc là một nhà nước từng tồn tại trên hòn đảo JeJu từ khoảng năm 57 TCN Không có tư liệu nói về việc hình thành hay lịch sử ban đầu của Đam La Quốc Theo truyền thuyết ba người sáng lập thần thánh của đất nước là Ko, Yang và u đã hiện lên từ ba huyệt dưới lòng đất vào thế lỷ 24 TCN Các huyệt này được gọi là Samseonghyeol (Tam tính huyệt), đến nay vẫn được bảo tồn ở thành phố JeJu

Vương quốc này còn được gọi với những tên như Đam âu La Quốc, Thiệp

La, Thác La, Đảm La hay Tế Châu Di Quốc

Các bằng chứng khảo cổ cho thấy người dân Đam La đã có các hoạt động giao thương với nhà Hán tại Trung Quốc và Yayoi Nhật Bản, cũng như bán đảo Triều Tiên vào thế kỷ thứ 1 SCN Tham khảo lịch sử đầu tiên về vương quốc có thể là từ thế kỷ thứ 3 SCN

Năm 47 , Đam La trở thành một nước phiên thuộc của ách Tế (Baekje), vương quốc kiểm soát phần tây nam của bán đảo Triều Tiên và có mối quan hệ thân thiết với Nhật Bản Khi ách Tế suy yếu, Đam La chuyển sang phiên thuộc Tân La (Silla) Vào một số thời điểm trong giai đoạn cuối của thời kỳ Tam Quốc Triều Tiên, Đam La đã chính thức khuất phục trước Tân La Tân La sau đó phong cho ba hoàng tử của Đam La tước hiệu mà họ vẫn còn giữ lại trong lịch sử của vương quốc: Tinh chủ (Seongju), Vương tử (Wangja), và Đô nội (Donae)

Đam La đã có một thời gian ngắn giành lại được độc lập sau sự sụp đổ của Tân

La vào năm 935 Tuy nhiên, hòn đảo sau đó thuộc ách Tế rồi lại bị Cao Ly chinh phục vào năm 938, và chính thức sát nhập năm 1105 Vua Cao Ly đổi tên đảo thành

Tế Châu Tuy nhiên, vương quốc vẫn duy trì quyền tự trị bản địa cho đến năm 1404, khi vua Thái Tông đặt hòn đảo dưới sự kiểm soát của triều đình trung ương và chấm dứt sự tồn tại của tinh chủ Tế Châu, sát nhập Đam La vào Triều Tiên

Năm 1910 Nhật Bản đặt nền đô hộ Jeju cùng toàn thể nước Cao Ly Sau Thế Chiến thứ II thì chủ quyền trao lại chính phủ Đại Hàn Dân Quốc Năm 194 Tế Châu được tách khỏi Jeollanam-do (Toàn La Nam đạo) để lập tỉnh Jeju Năm 200 thì lập tỉnh tự trị Đây là tỉnh tự trị duy nhất của Hàn Quốc

2.2.3 Kinh tế - Xã hội

Theo thống kê năm 2004, đảo jeju có dân số là 5 0.000 người, mật độ trung bình là 303 người/km2 Trước đây jeju là vùng đất nghèo khó nhất ở hàn quốc, do vị

Trang 20

trí cách xa đất liền, hiện nay kinh tế jeju đã có nhiều thay đổi, vào năm 200 , GDP của jeju đạt 8 tỷ usd, thu nhập bình quân đầu người là khoảng 15.000 usd Kinh tế chính trên đảo là nông nghiệp, đánh bắt thủy hải sản và du lịch

2.2.4 Đơn vị hành chính

Tỉnh jeju hay jeju – do (tế châu đạo) là tỉnh tự trị duy nhất và cũng là tỉnh nhỏ nhất ở hàn quốc, trước đây jeju thuộc tỉnh jeollanam, đến năm 194 , jeju được tách thành một tỉnh riêng biệt hiện nay tỉnh jeju được chia ra làm 2 đơn vị hành chính là thành phố jeju và thành phố seogwipo

Thành phố Jeju (Tế Châu) ở phía ắc của đảo và là thủ phủ của tỉnh đảo Jeju

tại Hàn Quốc và cũng là thành phố lớn nhất trên đảo Jeju, tọa độ 33°30′ 12 °31′Đ, diện tích 977,8 km2 Ranh giới kéo dài 19,3 km từ đông sang tây, và 10,2 km từ bắc xuống nam Ở phía bắc, thành phố nhìn ra eo biển Triều Tiên và đối diện với tỉnh Jeolla Nam trong đất liền Ở phía nam, thành phố Jeju giáp với Seogwipo ở đỉnh của ngọn núi Hallasan Jeju được chia thành 19 phường, 4 thị trấn, và 3 xã

Thành phố Seogwipo ở phía Nam, tọa độ 33o15’10” - 126033’40”Đ Seogwipo

là một thành phố ở tỉnh Jeju Hàn Quốc với diện tích 8 9,82 km2 Dân số thời điểm năm 2008 ước khoảng 155.000 người Tháng 7 năm 200 , thành phố được mở rộng bao gồm toàn bộ nửa phía nam của đảo Jeju, bao gồm 12 phường, 3 thị trấn, 2 xã Thành phố này là một trong những địa điểm đăng cai World Cup 2002

2.2.5 Những điều đặc biệt trên đảo Jeju

2.2.5.1 Hòn đảo “tam đa”

Jeju được mệnh danh là hòn đảo “tam đa”, nghĩa là nơi có 3 cái nhiều, là nhiều gió, nhiều đá và nhiều phụ nữ

Nhiều đá bởi Jeju được hình thành do nham thạch của núi lửa phun trào ởi thế, đi trên đảo đâu cũng thấy đá đen, xốp Đá là một phần linh hồn của đảo, đá nằm khắp nơi hai bên đường, đá để xây nhà, đắp thành cổng, xây tường bao quanh nhà, làm cột mốc phân cách giữa các làng, đá nằm dọc các bờ biển, đá được tạc tượng…

Nhiều gió là bởi Jeju nằm trên biển nên quanh năm lộng gió Gió ở JeJu rất dữ dội Đặc biệt, ở những nơi có độ cao như đỉnh Hallasan, đỉnh Seongsan IIchulbong gió càng dữ dội hơn, ngay cả trong thời tiết đã tương đối ấm áp của mùa xuân, du khách đi

bộ trên đảo luôn có cảm giác chông chênh như thể sắp bị thổi bay

Ở Jeju ngày ấy có rất nhiều chàng trai làm nghề đánh cá Trên chiếc thuyền mong manh, vật lộn với sóng to gió lớn, với rét lạnh và rất nhiều người đã ra đi không trở về hay đàn ông bỏ đảo để vào đất liền tìm kiếm những cơ hội làm việc tốt hơn, vì vậy số lượng đàn ông trên đảo chênh lệch rất lớn so với phụ nữ Cũng do sự thiếu hụt này, phụ nữ trên đảo luôn mạnh mẽ và độc lập Họ phải đảm trách rất nhiều công việc

Trang 21

trong cuộc sống như đi làm kiếm tiền, chăm sóc con cái, nội trợ, lặn biển bắt cá… Tượng đá người phụ nữ oằn lưng cõng nước, xuất hiện rất nhiều trên đảo như để ghi nhận sự đảm đang và nhọc nhằn của người phụ nữ

ên cạnh “tam đa”, Ở Jeju có rất nhiều quýt, vườn quýt được trồng dọc bên các con đường, không có người trông nôm nhưng không có ai hái trộm Quýt ở đây trái nhỏ mới ngon và ngọt giá khoảng 2000 won một bịt khoảng 15-10 trái Đây là đặc sản nổi tiếng nhất trên đảo Một điều đặc biệt, không có ăn xin trên đảo jeju, nhà trên đảo không có cửa lớn, không có ăn trộm và đặc biệt có một cái nhất: đó là không khí trong lành nhất

Haenyo - những thợ lặn lành nghề đã lớn tuổi họ đã làm việc từ 7 – 8 tuổi có người khoảng 50, 60 tuổi vẫn đi biển và lặn bình thường Họ được biết đến với khả năng nhịn thở trong 10 phút và lặn sâu đến 20 mét Những thợ lặn còn phải chiến đấu với các mối nguy hiểm khác như sứa và cá mập

Bắt đầu từ cuối thập niên 1970, xuất khẩu hải sản sang Nhật Bản như bào ngư

và ốc xà cừ đã giúp những nữ ngư dân giàu hơn bao giờ hết, cho phép họ sửa chữa nhà, xây mới nhà cửa ở thành phố Jeju và gửi con gái vào đại học Tuy nhiên, Theo số liệu của Tổng cục Du lịch Hàn Quốc Trong khi vào năm 1950, có khoảng 30,000 haenyo trên đảo thì năm 2003, chỉ có 5, 50 phụ nữ đăng ký là thợ lặn, với 85% là trên

50 tuổi, do Haenyo đang ngày càng già đi và không có thế hệ kế cận do phụ nữ trẻ phần đông muốn lên thành phố hoặc muốn làm một công việc bình thường Việc số lượng lớn nữ ngư dân giảm mạnh và sự phát triển của ngành du lịch đã mang đến cho đàn ông Jeju thêm nhiều cơ hội, không rõ điều gì sẽ đến với vai trò của con gái của họ trong cộng đồng và gia đình, mặc dù không chắc rằng chế độ mẫu hệ sẽ tiếp tục tồn tại

Cho đến hôm nay những gì các haenyo mặc lên người vẫn chỉ là những thiết bị lặn cơ bản: bộ đồ lặn biển đen bóng, một lưới đánh cá có gắn phao trắng Trong điều

Trang 22

kiện khắc nghiệt và không hề có sự trợ giúp của các thiết bị thở Trung bình một tháng

họ lặn khoảng 18 ngày, những ngày còn lại nghỉ ngơi, mỗi ngày lặn kéo dài 4 giờ

Đến đây du khách có thể thưởng thức hải sản tươi sống do các haenyo lặn bắt ngay trên bãi biển Tràn ngập ở Jeju là những món đồ lưu niệm, bánh kẹo, băng đĩa hình haenyo, họ được coi là biểu tượng văn hóa của những người dân trên đảo Một điều đặc biệt là, bí quyết sức khỏe của các haenyo được lý giải do họ chăm chỉ cầu nguyện thượng đế vào lúc tia nắng đầu tiên xuất hiện trên đỉnh Seongsan Ilchulbong

2.2.5.3 Linh chi trên đảo

Đảo Jeju là nơi được nhà nước bảo hộ cho sản phẩm đặc trưng nổi tiếng của Hàn Quốc là linh chi Nghĩa là ở các chợ hoặc các nơi khác, tuy ở trên đất Hàn Quốc, nhưng bạn vẫn có thể mua phải linh chi của người Tàu như thường Nhưng ở đây, nhà nước Hàn Quốc bảo hộ các sản phẩm linh chi, có tem bảo hộ của nhà nước được đóng trên các sản phẩm Hơn thế, linh chi ở đây là loại mọc tự nhiên ở trong núi chứ không phải loại được trồng thành trang trại như những nơi khác Nhưng họ chỉ bán cao linh chi chứ không có linh chi tươi ột lọ 800g khoảng 35.000 won ( 30.000 VND) Đây

là mặt hàng thu hút khách du lịch nhất đảo

2.2.6 Du lịch Jeju

2.2.6.1 Khái quát du lịch Jeju

Du lịch hiện đang là ngành kinh tế mũi nhọn của jeju, với tài nguyên du lịch phong phú, cùng với khả năng làm du lịch rất tốt đã làm cho jeju trở thành thiên đường du lịch của hàn quốc,là điểm đến phổ biến của người dân hàn quốc cũng như khách du lịch ở khu vực đông á

Không ồn ào, náo nhiệt,nấp nập người xe như seoul, jeju mang trong mình sự lắng động và êm đềm và lãng mạn phong cảnh thiên nhiên thanh bình, những bãi biển đầy nắng và gió là địa điểm hẹn lý tưởng cho tuần trăng mật của các cặp tình nhân, đôi

vợ chồng trẻ hay những kỳ nghĩ gia đình

Đến du lịch jejo, du khách có cơ hội thưởng lãm rất nhiều danh thắng nổi tiếng như đỉnh hallasan, thác cheonjiyeon, vách đá jusangjeoli, bãi biển hyeopjae, bãi biển ilho,… và các các di tích nổi tiếng như : làng văn hóa dân tộc seongeup, đền kwanumsa,… bảo tang gấu teddy, viện bảo tang thủy tinh jeju, công viên tình yêu,… cũng là những địa điểm hấp dẫm mà du khách khôngh thể bỏ qua khi đến thăm hòn đảo xinh đẹp này

Nếu đến jeju vào tháng 10, du kách sẽ có cơ hội được ngắm các cây phong đỏ rực, cả khu rừng cây ôn đới ngã sang sắc vàng Jeju còn được xem là hòn đảo của lễ hội khi hàng năm có rất nhiều lễ hội đặc sắc diễn ra ở đây Với giá trị du lịch to lớn, lượng du khách đến du lịch jeju ngày càng đông., trong đó có 10% là khách du lịch

Trang 23

nước ngoài Vào năm 2008, jeju được công nhận là kỳ quan thiên nhiên thế giới, đây

là một vinh dự rất lớn và cũng tạo ra bước ngoặc quan trọng nâng du lịch jeju lên một tầm cao mới

2.2.6.2 Một số điểm nổi bật trong du lịch Jeju

Cối đá xay nặng nề, gùi đeo bình lấy nước, lu bằng đất nung, dép bện bằng rơm, nôi mây cho em bé Các vật dụng truyền thống được bảo tồn đầy đủ và rất tốt Jeju lấy được thiện cảm của du khách không chỉ bởi nét hoang sơ, lãng mạn vào bậc nhất nhì trên thế giới, không chỉ bởi các hiện vật xưa cũ còn lưu giữ được, mà còn bằng lòng hiếu khách rất đặc biệt của người dân trên đảo Nụ cười thường trực trên môi, cúi đầu rất thấp, luôn miệng chào: “annyeonghaseyo” và cảm ơn:

“kamsahamnita” vì đã đến với họ

Hàn Quốc làm du lịch luôn chú trọng đến việc bảo tồn thiên nhiên và bảo vệ môi trường Ở Jeju không hề thấy rác ở bất kỳ ngóc ngách nào trên đường phố hay các khu tham quan Lối đi tham quan đều được quy hoạch rất kỹ và khoa học để người đi vào thì đi 1 hướng, người đi ra thì đi lối riêng nhưng vẫn tham quan được hết các hạng mục công trình Nhà vệ sinh ở các điểm công cộng rất sạch sẽ và thuận tiện, hầu hết những điểm dừng chân của du khách đều có hệ thống nhà vệ sinh công cộng được thiết kế rất đẹp mắt, sạch sẽ, ở những điểm lớn thì nhà vệ sinh còn được trang bị các bồn cầu rất hiện đại với chế độ xịt nước thông minh, đặc biệt là nhà vệ sinh ở đây không thu phí, tự do nhưng mọi người ai cũng tuân thủ quy định nghiêm ngặt về vệ sinh

Các dịch vụ hàng ăn ở các điểm du lịch đều không chèo kéo khách mà rất lịch

sự, khách vào là đều chào mừng vui vẻ, thức ăn và đồ uống ở các khu rất ngon và vệ sinh Thức ăn ở Jeju phổ biến theo từng mùa khác nhau, thích hợp cho người đi du lịch

Có một nét “đặc trưng” của Jeju – Hàn Quốc đã khiến khách du lịch quyến luyến nhiều hơn cả trong suốt chuyến đi đó là niềm tự hào về đất nước của họ, nó như thấm sâu trong từng giọt máu của những người nơi đây Những người hướng dẫn viên trên đảo họ như một “sứ giả” tạo nên nhịp cầu nối kết giữa du khách với xứ sở của họ Không chỉ bằng kiến kiến thức, hiểu biết sâu rộng về từng phong tục tập quán, từng thông tin về kinh tế, con người trên đảo và đất nước Hàn Quốc mà còn khiến du khách ngưỡng mộ vì sự tận tụy, tinh thần trách nhiệm, luôn cố gắng bằng mọi cách giúp du khách đặt chân đến Jeju “phải lòng” nơi đây và chắc chắn sẽ có ngày quay lại

Cuộc sống người dân đảo phát triển chủ yếu dựa vào đánh bắt hải sản và du lịch Phụ nữ chính là người làm nên sự giàu có cho đảo Jeju Phụ nữ Jeju có một phẩm

Trang 24

chất và nghị lực phi thường Họ là những người được tự hào nhất trên đảo, hàng năm người ta thường tổ chức ngày hội tôn vinh những người phụ nữ này

Mỗi năm Jeju đó khoảng 8 – 10 triệu khách du lịch Đáng chú ý là khách nội địa rất đông Như vậy, bản thân người Hàn Quốc cũng xem nơi đây là một điểm đến lý tưởng và không phải chỉ đến một lần mà họ thật sự đến nghỉ ngơi, khám phá

Trang 25

CHƯƠNG 3

HIỆN TRẠNG KHAI THÁC CÁC TÀI NGUYÊN TRÊN ĐẢO JEJU

3.1 TÀI NGUYÊN DU LỊCH CỦA JEJU

Bản đồ nguồn tài nguyên du lịch đảo Jeju (Nguồn: http://www.phuot.vn/threads/31621-JeJu-(South-Korea-2011)-–-một-

Trang 26

Hallasan được biết đến với các tên gọi khác như núi Hanla hay núi Halla, trong tiếng Anh nó được gọi là Mount Auckland Tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, Hallasan được viết trong Chosŏn'gŭl là (Hannasan) Trong quá khứ, Hallasan từng được biết đến với nhiều tên gọi khác nhau trong tiếng Triều Tiên như Buag (Phủ Nhạc), Wonsan (Viên Sơn), Jinsan (Trấn Sơn), Hyeolmangbong (Huyệt Vọng Phong)…

Hallasan được hình thành do những đợt phun trào dung nham bazan và trachyte, miệng núi lửa lớn có đường kính trên 400 m Khoảng 360 lỗ ký sinh núi lửa Trên núi có Gwaneumsa, là ngôi chùa Phật giáo cổ nhất trên đảo Chùa nguyên được xây từ thời Cao Ly Gwaneumsa đã bị tàn phá và được dựng lại trong thế kỷ 20 Có một điểm kỉ niệm bên ngoài chùa để tưởng nhớ các nạn nhân của Cuộc nổi dậy Jejudiến ra từ năm

1948 đến 1950

Có năm tuyến đường mòn tại Hallasan: Gwaneumsa - 8,7 km, Eorimok - 4,7 km, Seongpanak - 9,6 km, Yeongsil - 3,7 km, Donnaeko - 9,1 km (hoạt động lại năm 2009) Tuy nhiên, chỉ có hai tuyến Gwaneumsa và Seongpanak có thể lên đến đỉnh Donnaeko, Eorimok và Yeongsil chỉ đi đến Oreum Witse

Khu vực xung quanh ngọn núi là Vườn quốc gia Hallasan (Hallasan Gungnip Gongwon) có hệ sinh thái bán nhiệt đới lẫn ôn đới rất đa dạng Hallasan nổi tiếng với

hồ aengnokdam được hình thành trên đỉnh ngọn núi, cùng với thảm thực vật phong phú hơn 1.800 loài, kết hợp với thảo nguyên rộng lớn tạo nên khung cảnh hùng vĩ tuyệt đẹp, được UNESCO xếp vào danh sách Di sản văn hóa thiên nhiên của thế giới vào năm 2007

3.1.1.2 Thác nước Cheonjiyeon

Là một thác nước đẹp của Hàn Quốc nói chung và đảo Jeju nói riêng Cheonjiyeon có nghĩa là bầu trời chạm mặt đất, nơi đây có truyền thuyết các tiên nữ ngày xưa đã đến tắm khi hạ phàm Đây là một trong số những điểm tham quan thu hút khách của đảo Jeju Cheonjiyeon hùng vĩ với độ cao 22 m và rộng 12 m Nước tại thác chảy quanh năm, trắng xóa Dưới chân thác là một hồ nước nhân tạo, sâu 20 m Điều này càng làm cho thác trở nên huyền ảo hơn về đêm

Để tới được thác nước du khách phải đi qua một con đường dài và nhỏ Thác nước này cũng được biết đến bởi sự đa dạng sinh học Có rất nhiều cây cối mọc tự nhiên cũng như được trồng ở đây Trên đường tới thác nước đi qua một cây cầu nhỏ và những con suối mà ở dưới sông có rất nhiều cá ạn có thể dừng chân để ngắm chúng

và chụp những bức hình kỷ niệm tại đây Ngoài ra, cạnh khu vực thác nước là 3 tảng

Trang 27

đá cổ, mọi người thường đến đây cầu nguyện sức khỏe và sự thịnh vượng Quanh thác nước là một công viên rộng lớn, phong cảnh rất hoành tráng, rất sạch sẽ và rất đẹp

3.1.1.3 Vách đá Jusangjeoli

Vách đá Jusangjeoli hay còn được gọi là “Ghềnh đá dĩa”, nổi tiếng với độ cao 20m nằm bên bờ biển Jungmun Đây là một kiệt tác của thiên nhiên Từ trên cao nhìn xuống, Những hòn đá được xếp lại với nhau như một tổ ong khổng lồ Đá ở đây đều tăm tắp được dựng thành từng cột liền khít nhau Các cột đá có thiết diện hình lục giác, hình vuông hoặc có hình tròn như chiếc đĩa (tương tự ghềnh đá dĩa ở Phú Yên, Việt Nam)

Những viên đá hình tròn và đa giác xếp chồng, khít vào nhau ỗi viên đá có

độ cao chừng 1-2m Có những chỗ đá xếp cao và thẳng khoảng 20m Có những chỗ đá lại xếp trải dài hoặc nghiêng nghiêng, trông như những chiếc đĩa đặt chồng lên nhau một cách cẩu thả

Các phiến đá này được hình thành dưới sức ép dung nham phun trào của núi lửa tác động lên bề mặt làm bị vỡ ra thành các hình trụ Và do cấu tạo tinh thể bên trong của các trụ đá nên nó có dạng hình lục giác, hình tròn hay hình vuông Khi gặp nước thì dung nham bị làm lạnh nhanh, co rút ít nhiều khác nhau nên tạo ra sự so le của mặt phẳng Ghềnh đá dĩa

Ngay tại khu vực tham quan, người ta đã cho lắp đặt 1 cầu dẫn bằng gỗ rất chắc chắn cho du khách đi ra tận phía ngoài của vách đá để chụp ảnh, tạo 1 cảm giác rất an toàn cho người tham quan

Đặc biệt tại Ghềnh đá dĩa có 1 hàng bán đồ sống (bào ngư, hải sâm, ốc) do 1 phụ nữ bán Người phụ nữ này là cũng chính là người lặn xuống biển để bắt các loại hải sản này và bán ngay tại chỗ, mỗi tuần sẽ luân phiên cho 1 người bán Do đó dù lại trời mưa hay nắng, dù có rét mướt đến cỡ nào thì họ vẫn kiên trì bám trụ và vui vẻ với khách hàng để bán được hàng

3.1.1.4 Tảng đá hình đầu rồng Youngdam rock

Tảng đá hình Đầu Rồng nằm ở phía ắc đảo JeJu gắn với truyền thuyết xưa kia một con rồng đã vươn mình lên ở nơi đây, được hình thành trong quá trình phun trào nham thạch

3.1.1.5 Đỉnh Seongsan Ilchulbong

Đỉnh Seongsan Ilchulbong còn gọi là “Sunrise Peak” nằm ở phía đông cuối đảo Jeju, cách thành phố Jeju khoảng 50 km, cao 182 m so với mặt nước biển, vốn là một ngọn núi lửa phun trào cách đây 5.000 năm, được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới tháng năm 2007 Trên đỉnh Seongsan Ilchulbong có một miệng núi lửa với đường kính khoảng 00m và cao 90m Điểm đặc biệt là miệng núi lửa này có

Trang 28

99 tảng đá bao quanh khiến cho nó trông giống như là 1 chiếc vương miện khổng lồ Mặt phía Đông Nam và phía ắc của ngọn núi là những vách đá thẳng đứng, còn phía Tây ắc là một ngọn đồi với những thảm cỏ xanh mát Seongsan còn được gọi là đỉnh Nhật Xuất vì đây là nơi đón tia nắng đầu tiên trên đảo, người ta thường đến đây ngắm cảnh mặt trời mọc từ miệng núi lửa trong yên bình

Để chinh phục đỉnh mặt trời, bạn phải đi bộ men theo con đường lên với hơn

600 bậc thang được xây dựng thuần bằng đá, gỗ với quy hoạch bảo tồn thiên nhiên 1 cách tối đa - trước đây có ý kiến xây dựng cáp treo để lên lòng núi lửa nhưng người dân và chính phủ đã bác bỏ vì không muốn làm ảnh hưởng đến thiên nhiên, con đường này được xây cẩn thận để phục vụ du khách Lên đến độ cao 200 m là đến được đỉnh mặt trời Đây không phải là một độ cao quá lớn nhưng càng lên cao, gió càng nhiều và mạnh Ở giữa biển cả mênh mông, ngọn núi này như hứng hết toàn bộ gió từ biển thổi

về Đường lên đỉnh núi lửa lót đá rộng rãi, sạch sẽ và có độ dốc thoai thoải, vì thế du khách có thời gian vừa đi vừa ngắm cảnh và chụp ảnh lưu niệm

Dưới chân núi lửa mặt trời là 1 thị trấn nhỏ ngay cửa biển và một chiếc đồng

hồ nắng Chiếc kim phút nằm dưới đất, theo hướng Bắc- Nam, còn chiếc kim giờ đứng vuông góc với mặt đất, được tính toán để đến giờ nào thì bóng nắng sẽ chỉ đúng viên

đá của giờ đó

Tại cổng ra vào của ngọn núi có bảng thông tin cho biết cụ thể giờ mặt trời mọc của từng ngày trong năm Ngọn núi này là một trong những thắng cảnh tiêu biểu nhất của đảo Jeju và việc ngắm mặt trời mọc ở đây là hoạt động không thể thiếu của hầu hết du khách khi đến đảo

Trang 29

3.1.2 Tài nguyên du lịch nhân văn

3.1.2.1 Làng văn hóa dân tộc Seongeup

Làng dân tộc Seongeup hay còn gọi là làng dân gian Hàn Quốc, là thủ phủ của

bộ tộc Cheongeui – Hyeon giai đoạn từ 1410 – 1914 dưới triều đại Joseon Chính thức đưa vào hoạt động du lịch ngày 3/10/1974, Seongeup là nơi đang lưu giữ những nét văn hóa, phong tục truyền thống của người nông dân Hàn Quốc nói chung và ngư dân trên đảo Jeju nói riêng từ thế kỷ 19 đang được lưu giữ và bảo tồn để cho các thế hệ tương lai xem và tìm hiểu

Ngay cổng làng là chiếc thuyền đánh cá lớn - biểu tượng nghề nghiệp của dân đảo Đường vào làng cây cỏ xanh tươi rợp bóng, khoe sắc với đủ loại hoa Trong khuôn viên của làng là hàng trăm kiểu nhà truyền thống của các tầng lớp xã hội khác nhau dưới triều đại Joseon: tầng lớp thượng lưu (quan chức nhà nước, trong hoàng tộc…), tầng lớp trung lưu (địa chủ, ngư dân, nông dân…) và tầng lớp dưới (thợ săn, con hát, vũ công, đồ tể…) Xen lẫn là những ngôi nhà cổ, trường học, đền thờ tôn giáo Xung quanh là những công trình phụ trợ: nhà bếp, chuồng nuôi gia súc, gia cầm, vườn rau, chum vại của những nông dân nghèo

Những ngôi nhà ở đây tường xây bằng đá đen sẵn có ở Jeju là những nham thạch từ sự phun trào của núi lửa, mái lợp bằng rơm dầy, khum thành vòm giống như những chiếc nấm khổng lồ, được ràng lại bằng một tấm lưới ở trên để tránh gió Đa số những ngôi nhà ở đây đều không có cổng, rất ít cửa ra vào, ở mỗi nhà thường xây những hàng rào bằng đá Trước cửa chính vào sân mỗi nhà đều có hai cột đá, mỗi cột đục ba lỗ theo hàng dọc để chủ nhà luồn ba cây tre vào đó:

Nếu không có cây tre nào luồn ngang qua nghĩa là chủ nhà mời vào

Nếu cây tre dưới cùng được luồn ngang còn hai cây kia xỏ tạm một đầu, còn một đầu chạm đất thì đó là dấu hiệu có trẻ nhỏ trong nhà nhưng chủ nhà không có nhà, đang loanh quanh đâu đó bên nhà hàng xóm hoặc trong làng và sẽ nhanh chóng trở về

Nếu cây tre thứ hai cũng được luồn ngang thì có nghĩa chủ nhà có việc phải đi đến tối mới về

Nếu cây tre trên cùng cũng được luồn ngang thì có hàm ý chủ nhà bận đi đâu

đó vài ngày, khách có việc gì thì quay lại sau

Làng dân tộc Seongup ngày nay có khoảng 300 ngôi nhà, 8.000 hiện vật, tất cả được xây dựng trên diện tích 4.500 ha, người dân ở đây vẫn sinh sống, hoc hành bình thường và làm những nghề truyền thống, vẫn giữ được nét văn hóa cổ xưa Đa số vẫn

Trang 30

sử dụng chum vại để đựng đồ dùng, hứng nước mưa từ cây bằng những bện rơm vàng, làm mật ong, thuốc viên nén sâm Cao Ly, thuốc cao xương ngựa…

Làng Seongup là nơi được đạo diễn Lee Byung Hoon chọn làm bối cảnh chính của phim Nàng Dae Jang Geung, từ lúc Dae Jang Geum là cung nữ đến khi trở thành ngự y nên trong làng có khá nhiều pano giới thiệu các cảnh trong bộ phim này được dựng trang trọng cạnh lối đi

3.1.2.2 Đền Kwanumsa

Điển đến đầu tiên của đoàn chúng tôi là đền Kwanumsa Đền Kwanumsa được xây dựng trên đảo Jeju từ năm 1908 bởi một ni cô tên là An Pong với kiến trúc vô cùng độc đáo và đươc trùng tu vào năm 194 Trong khuôn viên của đền có vườn tượng đá Lối vào đền với 2 hàng tượng Phật

3.1.2.3 Tượng thần Dol Hareubang

Đảo Jeju nổi tiếng với những bức tượng đá ong đen bán thân có tên gọi là Dol Hareubang Dol Harubang được xem như biểu tượng về văn hóa của Jeju nên có mặt ở nhiều nơi trên đảo Harubang có vai trò như thần làng ở Việt Nam Họ được coi là vị thần che chở, bảo vệ chống lại ma quỷ, ban tặng sức khỏe, hạnh phúc cho người dân trên đảo Người bản xứ tin rằng khi sờ vào mũi của thần Dol Harueubang thì sẽ sinh được con trai

Dol hareubang, còn được gọi là harubangs tol, hareubangs, harubangs Dol hareubang xuất phát từ tiếng Triều Tiên Dol nghĩa là "đá", Hareubang nghĩa là "ông nội" hoặc "tổ phụ" Dol Hareubang đã trở thành tên chính thức vào năm 1971 sau khi được chỉ định là một di sản dân gian địa phương

Dol hareubang được ch/ạm khắc từ đá bazan xốp (đá núi lửa) và trong phạm vi đảo Jeju thần đá có mặt ở mọi nơi với những kích cỡ khác nhau Các bức tượng có đôi mắt lồi, mũi ngắn, to, hai môi khep chặt, bụng lồi ra, tay thường trên bụng, bàn tay trái thường cao hơn bàn tay phải

Ngày nay, dol hareubang tượng tượng trưng cho đảo Jeju và bản sao bức tượng

và móc khóa là một trong những quà lưu niệm phổ biến hơn mà hòn đảo cung cấp

3.1.2.4 Các bảo tàng

(-) Bảo tang nhà cổ Jeju

Nằm ở phía đông nam của đảo Jeju, thuộc ranh giới của thành phố Seogwipo,

Jeju Folk Village Museum nằm cạnh bãi biển Pyoseon Haevichi, cách 30 phút xe buýt

Jeju Folk Village useum là trong hai cái làng cổ mà nằm trên đảo Jeju Hai làng này lưu giữ về cuộc sống của dân Jeju ngày trước

Với tổng số 117 nhà ở và cơ sở vật chất, Bảo tàng nhà cổ dân gian Jeju đã phục hồi bối cảnh của ngôi làng Hàn Quốc những năm 1890 Trong số đó có Làng núi,

Ngày đăng: 02/04/2018, 04:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w