Thời hiệu yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự trong những trường hợp pháp luật nội dung không có quy định cụ thể ………… 53 CHƯƠNG III: THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN CÁC QU
Trang 1NÔNG THANH XUYÊN
THỜI HIỆU KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ
VÀ THỜI HIỆU YÊU CẦU GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT DÂN SỰ
MÃ SỐ: 60 38 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS BÙI THỊ HUYỀN
HÀ NỘI - 2010
Trang 2B - NỘI DUNG ……… 6
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỜI HIỆU KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ VÀ THỜI HIỆU YÊU CẦU GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ……… 6
1.1 Khái niệm thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự và thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự ……… 6
1.1.1 Khái niệm vụ việc dân sự, vụ án dân sự, việc dân sự ………… 6
1.1.2 Khái niệm và đặc điểm của thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự……… 8
1.2 Ý nghĩa của việc quy định thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu và hậu quả của việc hết thời hiệu……… 14
1.2.1.Ý nghĩa của việc quy định thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu 14
1.2.2 Hậu quả của việc hết thời hiệu ……… 16
1.3 Cơ sở của việc xác định thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự và thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự ……… 17
1.3.1 Cơ sở lý luận……… 17
1.3.2 Cơ sở thực tiễn ……… 18
1.4 Nguyên tắc áp dụng pháp luật để xác định thời hiệu khởi kiện,
thời hiệu yêu cầu và cách tính thời hiệu……… 19
1.4.1 Nguyên tắc áp dụng pháp luật để xác định thời hiệu khởi kiện,
thời hiệu yêu cầu……… 19
1.4.2 Cách tính thời hiệu……… 22
1.5 Bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu ……… 25
CHƯƠNG 2: THỜI HIỆU KHỞI KIỆN, THỜI HIỆU YÊU CẦU
ĐỐI VỚI MỘT SỐ VỤ VIỆC DÂN SỰ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH……… 26
2.1 Thời hiệu khởi kiện đối với các tranh chấp về dân sự ……… 26
2.1.1 Thời hiệu khởi kiện tranh chấp về hợp đồng dân sự ………… 26
2.1.2 Thời hiệu khởi kiện tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp 30
Trang 3vô hiệu ……… 38
2.2 Thời hiệu khởi kiện đối với các tranh chấp về lao động……… 42
2.3 Thời hiệu khởi kiện đối với các tranh chấp về kinh doanh,
thương mại……… 45
2.4 Thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu đối với những loại vụ việc khác ……… 47
2.4.1 Thời hiệu khởi kiện, yêu cầu về bảo hiểm ……… 47
2.4.2 Thời hiệu khởi kiện về hàng hải……… 49
2.5 Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự và thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự với những vụ việc pháp luật nội dung không có quy định cụ thể ……… 53
2.5.1 Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự với những trường hợp pháp luật nội dung không có quy định cụ thể ……… 53
2.5.2 Thời hiệu yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự trong những trường hợp pháp luật nội dung không có quy định cụ thể ………… 53
CHƯƠNG III: THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THỜI HIỆU KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ VÀ THỜI HIỆU YÊU CẦU GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ……… 55
3.1 Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự và thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự …… 55
3.2 Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự và thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự ……… 62
3.2.1 Đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp ……… 62
3.2.2 Đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường……… 63
3.2.3 Khắc phục bất cập của pháp luật hiện hành ……… 65
3.3 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự ……… 66
3.3.1 Kiến nghị sửa đổi một số quy định của Bộ luật dân sự 2005 66
Trang 5A- LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Cùng với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ, phong phú của các quan
hệ dân sự thì các tranh chấp, yêu cầu về dân sự phát sinh tại Tòa án ngày càng nhiều và đa dạng Điều này đòi hỏi cần có một hệ thống pháp luật đầy
đủ và hoàn thiện hơn để điều chỉnh các quan hệ dân sự mới phát sinh và giải quyết các tranh chấp, yêu cầu của các chủ thể Để đáp ứng nhu cầu này, hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung, pháp luật tố tụng dân sự nói riêng đang ngày càng được chú trọng xây dựng
Sự ra đời của Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 đánh dấu một bước phát triển mới của pháp luật Tố tụng dân sự Việt Nam Đây là văn bản pháp luật quy định đầy đủ và có hệ thống các vấn đề về tố tụng dân sự như: các nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự, trình tự, thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động Bộ luật cũng quy định khá đầy đủ về cơ chế bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể Khi quyền dân sự bị xâm hại, người có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm hại có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình Tuỳ thuộc vào tính chất, mức độ xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp mà các chủ thể có thể khởi kiện hoặc yêu cầu toà án giải quyết Để các chủ thể có thể thực hiện được quyền này cần có những điều kiện nhất định, trong đó yêu cầu, khởi kiện phải còn thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu
Việc xác định thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu là một vấn đề rất quan trọng Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 và Bộ luật Dân sự năm 2005
đã có những quy định khá đầy đủ về vấn đề này Song, để có được cách hiểu thống nhất và áp dụng được một cách hiệu quả nhất những quy định này đòi hỏi sự nỗ lực, phối kết hợp của các cơ quan lập pháp và tư pháp
Trang 6Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện
và thời hiệu yêu cầu còn nhiều vướng mắc, bất cập: Cách xác định bắt đầu thời hiệu chưa chính xác; một số quy định của pháp luật hiện hành chưa hợp
lý như quy định về thời hiệu khởi kiện về thừa kế; quy định của pháp luật về vấn đề thời hiệu còn thiếu hướng dẫn cụ thể như vấn đề thời hiệu yêu cầu…
Bởi vậy, tác giả đã chọn vấn đề: “Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự và thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự ” làm đề tài luận văn thạc sĩ của
mình với mong muốn có thể đóng góp một phần vào quá trình nghiên cứu và hoàn thiện các quy định của pháp luật hiện hành về thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự và thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự và thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự là một vấn đề khá mới mẻ và phức tạp Bởi vậy, số lượng các bài viết, công trình nghiên cứu về vấn đề này còn rất hạn chế Có thể kể
đến một số bài viết về vấn đề này như: “Những vướng mắc về việc không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế” của Nguyễn Công Lực đăng trên
tạp chí Toà án nhân dân số 19 tháng 10/2006 bàn về thời hiệu khởi kiện về
thừa kế; “Bàn về thời hiệu đối với tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất khi phải qua hoà giải” của Nguyễn Thanh Hải đăng trên tạp chí Toà án nhân dân số 21 kỳ I tháng 11/2008; “Về thủ tục giải quyết việc dân sự trong Bộ luật Tố tụng dân sự ” của Tống Công Cường đăng trên tạp chí Nhà nước và pháp luật số 11/2007; “Một số vấn đề về thủ tục giải quyết việc dân sự theo
Bộ luật Tố tụng dân sự 2004” của Vũ Thị Hồng Vân đăng trên tạp chí Toà
án nhân dân số 9 tháng 5/2006; “Thời hiệu khởi kiện các vụ án kinh tế theo
Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 ” của Đoàn Đức Lương đăng trên tạp chí Nhà nước và pháp luật số 10/2005; “Về thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu trong Bộ luật Tố tụng dân sự” của Nguyễn Minh Hằng - giảng viên Học
viện Tư pháp - tuyển tập bài viết hội thảo khoa học cấp trường về việc thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 ngày 30/12/2005…
Trang 7Tuy nhiên, các bài viết mới chỉ đề cập đến thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu đối với những vụ án dân sự, việc dân sự cụ thể mà chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện về thời hiệu khởi kiện và thời hiệu yêu cầu nói chung
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là một số vấn đề lý luận về thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự, pháp luật của Việt Nam và một số nước trên thế giới về thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự; thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự
Về đề tài “Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự và thời hiệu yêu cầu
giải quyết việc dân sự” có rất nhiều vấn đề cần bàn luận, tuy nhiên, trong
phạm vi khuôn khổ một luận văn thạc sĩ, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu một số vấn đề liên quan đến thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu như: khái niệm thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu, các quy định của pháp luật hiện hành về thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu và những bất cập của nó, từ
đó đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp với các phương pháp nghiên cứu khoa học khác như: phân tích, tổng hợp, so sánh, diễn giải …
5 Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu đề tài là làm rõ một số vấn đề lý luận về thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự, nội dung các quy định của pháp luật hiện hành về thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu và thực tiễn áp dụng chúng, từ đó thấy được những vướng mắc, bất cập và đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần bảo vệ quyền khởi kiện,
Trang 8quyền yêu cầu của các chủ thể và hoàn thiện pháp luật Tố tụng dân sự Việt Nam
Với mục đích nghiên cứu như vậy, nhiệm vụ nghiên cứu được đặt ra như sau:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sư như: khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu; sự phát triển của pháp luật Tố tụng dân sự Việt Nam về thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu
- Phân tích, đánh giá những quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2004 và Bộ luật Dân sự năm 2005 về thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu
- Tìm hiểu quy định của pháp luật một số nước trên thế giới đại diện cho hai truyền thống tố tụng điển hình là Tố tụng tranh tụng và Tố tụng xét hỏi như: Nga, Pháp, Nhật Bản, Thái Lan, Anh, Mỹ về thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu nhằm so sánh và tham khảo
- Nêu lên thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu, phân tích, đánh giá để từ đó thấy được những bất cập, vướng mắc, nguyên nhân của thực trạng và đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Tố tụng dân sự Việt Nam về thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu
6 Những điểm mới của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu chuyên khảo đầu tiên có tính hệ thống và toàn diện về thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự và thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự Luận văn có những điểm mới sau đây:
- Phân tích, làm sáng tỏ khái niệm thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự
- Làm rõ được cơ sở của việc quy định thời hiệu khởi kiện vụ án dân
sự, thời hiệu yêu cầu giải quuyết việc dân sự
- Phân tích có hệ thống các quy định của pháp luật liên quan đến thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự và thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự
Trang 9- Đề xuất được một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện và thực hiện những quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu
7 Kết cấu của luận văn
Luận văn được kết cấu thành 3 phần: Lời mở đầu, nội dung và kết luận
Phần nội dung gồm 3 chương:
- Chương I: Một số vấn đề lý luận về thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự
và thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự
- Chương II: Thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu đối với một số vụ việc dân sự cụ thể theo pháp luật Việt Nam hiện hành
- Chương III: Thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự
Kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 10B- NỘI DUNG CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỜI HIỆU KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ VÀ THỜI HIỆU YÊU CẦU GIẢI
QUYẾT VIỆC DÂN SỰ 1.1 Khái niệm thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự và thời hiệu yêu cầu
giải quyết việc dân sự
1.1.1 Khái niệm vụ việc dân sự, vụ án dân sự, việc dân sự
Trong lĩnh vực dân sự, lợi ích của các bên được xem như là tiền đề dẫn đến tranh chấp, yêu cầu về dân sự Tranh chấp pháp lý sẽ không thể xuất hiện, nếu không có yêu cầu, khởi kiện của các bên Khởi kiện là hành vi đầu tiên của các cá nhân, cơ quan, tổ chức tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng dân
sự, là cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng dân sự Khởi kiện, yêu cầu trước hết là quyền dân sự của các chủ thể, là phương thức mà các chủ thể yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền dân sự cho mình, cho nhà nước hoặc người khác Tuy nhiên, quyền khởi kiện của các chủ thể chỉ làm phát sinh nghĩa vụ thụ lý vụ việc của Tòa án khi việc khởi kiện tuân thủ đúng và đủ các điều kiện khởi kiện về nội dung, về hình thức khởi kiện và tạm ứng án phí Việc xem xét, thụ lý yêu cầu, khởi kiện của các cá nhân, cơ quan, tổ chức chính là sự bảo đảm của nhà nước đối với việc thực hiện các quyền dân sự của các chủ thể đã được pháp luật ghi nhận và làm phát sinh tại Tòa án các vụ việc dân sự
Pháp luật của đa số các nước trên thế giới đều quan niệm vụ việc dân
sự là các tranh chấp, yêu cầu phát sinh từ các quan hệ pháp luật dân sự theo nghĩa rộng được Tòa án thụ lý giải quyết (bao gồm: Dân sự, hôn nhân và gia
đình, kinh doanh, thương mại và lao động) Do đó, theo pháp luật của nhiều nước trên thế giới không có sự tách biệt giữa khái niệm vụ án dân sự và việc dân sự như pháp luật Việt Nam hiện hành mà chỉ có khái niệm vụ việc dân
sự
Trang 11Ở Việt Nam, trước năm 2004, theo quy định của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế
và Pháp lệnh Thủ tục giải quyết vụ án lao động tồn tại ba khái niệm: vụ án dân sự, vụ án kinh tế, vụ án lao động Theo đó, vụ án kinh tế bao gồm các tranh chấp về hợp đồng kinh tế giữa pháp nhân với pháp nhân, giữa cá nhân
có đăng ký kinh doanh với pháp nhân, các tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể công ty, tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu và các tranh chấp kinh tế khác theo quy định của pháp luật Vụ án lao động bao gồm các tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động và người sử dụng lao động về quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác, về thực hiện hợp đồng lao động và trong quá trình học nghề, tranh chấp lao động tập thể giữa tập thể người lao động với người sử dụng lao động về thực hiện thỏa ước lao động tập thể, về quyền thành lập, gia nhập, hoạt động công đoàn Vụ
án dân sự bao gồm những tranh chấp và những việc không có tranh chấp về dân sự và hôn nhân gia đình như: tranh chấp về quyền sở hữu, hợp đồng, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng hoặc những tranh chấp khác … Như vậy, trong các Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế và Pháp lệnh Thủ tục giải quyết vụ án lao động không có khái niệm vụ việc dân sự mà chỉ có các khái niệm vụ án dân sự, vụ
án kinh tế, vụ án lao động trong đó bao gồm cả những việc có tranh chấp và những việc không có tranh chấp
Trên cơ sở đường lối đổi mới của Đảng về xây dựng nhà nước pháp quyền, về cải cách tư pháp, tại kỳ họp thứ 5, từ ngày 11 tháng 5 đến ngày 15 tháng 6 năm 2004, Quốc hội khóa XI nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã thông qua Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) (có hiệu lực từ ngày 01/01/2005) BLTTDS là kết quả của sự pháp điển hóa quan trọng và khắc phục được nhiều điểm bất cập, chưa khả thi của các Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ
án dân sự (PLTTGQCVADS), Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (PLTTGQCVAKT), Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động
Trang 12(PLTTGQCTCĐ) Bên cạnh đó, BLTTDS còn tách các quy định về trình tự, thủ tục giải quyết đối với trường hợp các bên có tranh chấp (thủ tục tố tụng thông thường) và trình tự, thủ tục giải quyết đối với trường hợp các bên không có tranh chấp mà chỉ có yêu cầu Tòa án công nhận một sự kiện pháp
lý hoặc một quyền dân sự (thủ tục tố tụng đặc biệt) Do đó, theo các quy định của BLTTDS thì vụ án dân sự là các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ phát sinh từ các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động giữa các bên đương sự được Tòa án thụ lý giải quyết Cụ thể hơn, vụ án dân sự là các tranh chấp quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 BLTTDS mà được Tòa án thụ lý giải quyết theo yêu cầu của các cá nhân, cơ quan, tổ chức
Việc dân sự là các yêu cầu của các cá nhân, cơ quan, tổ chức yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý là căn cứ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của mình hoặc của các cá nhân, cơ quan, tổ chức khác, yêu cầu Tòa án công nhận cho mình quyền về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động được Tòa án thụ lý giải quyết Cụ thể hơn, việc dân sự là các yêu cầu quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 BLTTDS mà được Tòa án thụ lý giải quyết theo yêu cầu của các cá nhân, cơ quan, tổ chức Việc dân sự là trường hợp không có tranh chấp giữa các bên đương sự
Vì vậy, vụ việc dân sự bao gồm vụ án dân sự và việc dân sự
Chính vì có sự phân biệt giữa vụ án dân sự và việc dân sự nên có sự phân biệt giữa thời hạn để các cá nhân, cơ quan, tổ chức yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự và thời hạn yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự Từ đó hình thành nên hai khái niệm thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự và thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự
1.1.2 Khái niệm và đặc điểm của thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự
Trong giao lưu dân sự, các chủ thể tham gia quan hệ được hưởng quyền và phải thực hiện các nghĩa vụ dân sự, việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ của bên này sẽ xâm phạm tới lợi
Trang 13ích của bên kia Khi đó bên có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm có quyền thực hiện các biện pháp để bảo vệ Tuy nhiên, cùng với thời gian việc bảo vệ quyền, lợi ích trở nên khó khăn hơn Vì thế pháp luật quy định một thời hạn nhất định cho sự phát sinh, tồn tại hay chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự, các biện pháp bảo vệ quyền, lợi ích Thời hạn này được gọi là thời hiệu
“ Thời hiệu là thời hạn do pháp luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì chủ thể được hưởng quyền dân sự, miễn trừ nghĩa vụ dân sự hoặc mất quyền khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự ”
Có thể thấy thời hiệu trước tiên là một khoảng thời gian do pháp luật quy định, nó có điểm bắt đầu và điểm kết thúc Tùy thuộc vào tính chất của từng quan hệ cụ thể mà khoảng thời gian này có thể dài hay ngắn, cũng có những trường hợp không áp dụng thời hiệu như: yêu cầu hoàn trả tài sản thuộc hình thức sở hữu Nhà nước, yêu cầu bảo vệ quyền nhân thân … Theo quy định của pháp luật dân sự, có các loại thời hiệu như: Thời hiệu hưởng quyền dân sự, thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự, thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự Đối với các nước không có
sự phân biệt giữa vụ án dân sự và việc dân sự thì thời hạn để các cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự được gọi là thời hiệu khởi kiện
Theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam thì thời hạn để các cá nhân,
cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự được gọi
là thời hiệu khởi kiện Thời hạn để các cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự được gọi là thời hiệu yêu cầu Tuy nhiên, dù là thời hiệu khởi kiện hay thời hiệu yêu cầu thì đều có những đặc điểm sau:
1.1.2.1 Thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu do pháp luật quy định
Khi các chủ thể có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm và thực hiện quyền khởi kiện, quyền yêu cầu của mình thì họ phải tuân thủ các quy định
Trang 14của pháp luật về thời hiệu khởi kiện, yêu cầu Họ chỉ có thể thực hiện được quyền khởi kiện, quyền yêu cầu của mình khi còn thời hiệu Thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu được quy định trong các văn bản pháp luật một cách
cụ thể, trước khi các tranh chấp giữa các chủ thể xảy ra, các chủ thể không thể thỏa thuận về thời hiệu khởi kiện hay thời hiệu yêu cầu Sự tồn tại của thời hiệu khởi kiện hay thời hiệu yêu cầu không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của các chủ thể có quyền, lợi ích liên quan Thời hiệu khởi kiện, yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự không chỉ được quy định tại BLTTDS mà còn được quy định trong các văn bản pháp luật chuyên ngành khác Như vậy, thời hiệu khởi kiện, yêu cầu không chỉ liên quan đến chủ thể khởi kiện, yêu cầu và các chủ thể tham gia vào vụ việc dân sự mà còn ảnh hưởng đến hoạt động của Tòa án bởi vậy nó không thể do các chủ thể tự thỏa thuận, quyết định
Thật vậy, thời hiệu khởi kiện được pháp luật của nhiều nước trên thế giới ghi nhận Chẳng hạn, quy định về thời hiệu trong BLDS Thái Lan có những điểm tương đồng với pháp luật Việt Nam, cụ thể: cũng có quy định về bắt đầu thời hiệu (Điều 169), quy định về bắt đầu lại thời hiệu (Điều 181), quy định về tính pháp định của thời hiệu (Điều 191) … Trong BLDS Nhật Bản, BLDS Pháp cũng có những nét tương đồng với BLDS Việt Nam về vấn
đề thời hiệu
Ở Việt Nam, trong Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989; Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án lao động năm 1996, vấn đề thời hiệu khởi kiện đối với vụ án kinh tế, vụ án lao động và vụ án dân sự cũng đã được đề cập đến Cụ thể: Tại Điều 36 của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự quy định các trường hợp trả lại đơn khởi kiện trong đó có trường hợp hết thời hiệu khởi kiện; tại Điều 32 – Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án lao động quy định về thời hiệu khởi kiện vụ án lao động; tại Điều 31 – Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế quy định về thời hiệu khởi kiện vụ
án kinh tế, tại Điều 32 quy định về các trường hợp trả lại đơn khởi kiện trong
Trang 15đó có trường hợp thời hiệu khởi kiện đã hết Hiện nay, cả trong BLDS và BLTTDS đều có quy định cụ thể về thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự
Như vậy, thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự là do pháp luật quy định Tùy theo pháp luật của mỗi nước
mà chúng được quy định trong các văn bản pháp luật nội dung hoặc pháp luật tố tụng dân sự
1.1.2.2 Thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu là cơ sở thực hiện quyền khởi kiện, quyền yêu cầu của các chủ thể và là điều kiện để Tòa án thụ lý vụ việc dân sự
Một trong những điều kiện để chủ thể thực hiện quyền khởi kiện, yêu cầu của mình là còn thời hiệu khởi kiện, yêu cầu Có thể nói việc còn thời hiệu là điều kiện cần để chủ thể thực hiện được quyền khởi kiện, yêu cầu của mình Khi không còn thời hiệu thì dù thực tế chủ thể đó có quyền, lợi ích hợp pháp cần bảo vệ, chủ thể cung cấp được các tài liệu chứng minh cho yêu cầu của mình là đúng thì Tòa án cũng không có cơ sở pháp lý để giải quyết yêu cầu của chủ thể đó Khi tiếp nhận đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của các chủ thể, vấn đề đầu tiên mà Tòa án quan tâm xét đến là còn thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu hay không Chỉ khi còn thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu thì đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của chủ thể mới được chấp nhận, nhờ
đó quyền, lợi ích của các chủ thể được bảo vệ
1.1.2.3 Thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu mang tính định lượng và tính liên tục, trừ các trường hợp do pháp luật quy định
Thời hiệu khởi kiện, yêu cầu trước tiên là thời hạn, khi nói tới thời hạn tức là nói tới một khoảng thời gian xác định, nó có điểm bắt đầu và điểm kết thúc Thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu thông thường được
tính bằng một đơn vị cụ thể như ngày, tháng, năm và được định lượng bằng con số cụ thể như: thời hiệu khởi kiện là hai năm, thời hiệu yêu cầu là 1 năm
Thông thường thời hiệu khởi kiện, yêu cầu là khoảng thời gian có tính liên tục từ khi bắt đầu tới khi kết thúc Tuy nhiên, trong một số trường hợp
Trang 16nếu có các sự kiện sau thì khoảng thời gian diễn ra các sự kiện đó không được tính vào thời hiệu: sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan; chưa có người đại diện trong trường hợp người có quyền khởi kiện, yêu cầu chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự; chưa có người đại diện thay thế Ngoài ra, trong trường hợp trong khoảng thời hạn của thời hiệu nhưng bên có nghĩa vụ đã thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện hoặc bên có nghĩa
vụ thực hiện xong một phần nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện hoặc các bên đã tự hòa giải với nhau thì thời hiệu phải được tính lại kể từ ngày tiếp theo sau ngày xảy ra các sự kiện trên
1.1.2.4 Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự phụ thuộc vào tính chất của quan hệ pháp luật tranh chấp
Mỗi loại quan hệ có những đặc trưng riêng, vì vậy các tranh chấp diễn
ra trong quan hệ ấy cũng có những đặc thù nhất định Với những quan hệ mang tính chất phức tạp (ví dụ quan hệ thừa kế) thì các tranh chấp xảy ra trong các quan hệ ấy cũng thường khó giải quyết hơn bởi vậy khoảng thời gian để các chủ thể tự giải quyết trước khi đưa tranh chấp tới Tòa án cũng cần dài hơn so với các tranh chấp khác Do đó, thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấp thừa kế thường được quy định dài hơn so với các loại việc khác
Đối với các việc dân sự, do các bên không tranh chấp về quyền và nghĩa vụ dân sự mà các cá nhân, cơ quan, tổ chức chỉ yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý là căn cứ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của mình hoặc của các cá nhân, cơ quan, tổ chức khác, yêu cầu Tòa án công nhận cho mình quyền về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động nên tính chất của việc dân sự thường đơn giản hơn so với vụ án dân sự, Do đó, thời hiệu yêu cầu thường ngắn hơn thời hiệu khởi kiện Hay có thể nói, mức độ phức tạp của tranh chấp tỷ lệ thuận với mức độ phức tạp của quan hệ pháp luật đó Bên cạnh đó, thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu còn phụ thuộc vào sự ảnh hưởng của việc giải quyết nhanh chóng loại việc đó với các chủ thể liên quan nói riêng và xã hội nói chung
Trang 17Chẳng hạn, do tính chất của quan hệ kinh doanh thương mại và lao động nên thời hiệu khởi kiện đối với các tranh chấp này thường ngắn hơn so với thời hiệu khởi kiện đối với các tranh chấp dân sự
1.1.2.5 Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự phụ thuộc vào pháp luật của mỗi nước, cụ thể là phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội của nước đó
Pháp luật là vấn đề thuộc về kiến trúc thượng tầng còn kinh tế xã hội
là vấn đề thuộc về cơ sở hạ tầng Theo triết học Mác – Lênin thì kiến trúc thượng tầng và cơ sở hạ tầng có mối quan hệ mật thiết với nhau, tác động lẫn nhau, để những tác động đó trở thành tác động tích cực thì cần có sự phù hợp giữa kiến trúc thượng tầng và cơ sở hạ tầng Hay nói cách khác là pháp luật phải phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội Thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu là một bộ phận của hệ thống pháp luật do vậy nó cũng phải phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội Ví dụ: Ở Pháp, do điều kiện kinh tế xã hội phát triển, việc sử dụng pháp luật trong đời sống đã trở thành thói quen của người dân nên hầu hết các quan hệ đã được xác lập nếu có tranh chấp xảy ra đều có
cơ sở chứng minh và căn cứ xét xử Do đó, thời hiệu khởi kiện theo pháp luật Pháp là rất dài: 30 năm (Điều 2262 BLDS Pháp) Ở Việt Nam, do điều kiện kinh tế xã hội còn khó khăn và ý thức pháp luật của người dân chưa cao nên sau khi sự việc xảy ra một thời gian dài thì việc xác minh trở nên rất khó khăn Do đó, thời hiệu khởi kiện theo pháp luật Việt Nam là rất ngắn, thường là hai năm
1.1.2.6 Thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu thường được bắt đầu khi có tranh chấp hoặc vi phạm hoặc xuất hiện một sự kiện pháp lý
Khi một bên chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự có sự vi phạm nghĩa vụ của mình thì chủ thể phía bên kia có quyền khởi kiện mà chưa cần biết sự vi phạm đó đã gây ra thiệt hại cho mình hay chưa (ví dụ: thời hiệu khởi kiện về hợp đồng dân sự - Điều 427 BLDS) Có trường hợp ngay khi xảy ra một sự kiện pháp lý, các chủ thể có quyền, lợi ích liên quan đã có thể thực hiện quyền khởi kiện của mình và thời hiệu khởi kiện được tính từ thời
Trang 18điểm sự kiện đó xảy ra (ví dụ: thời hiệu khởi kiện về thừa kế - Điều 645 BLDS)
Như vậy, do có sự phân biệt giữa vụ án dân sự và việc dân sự nên theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam có sự phân biệt giữa thời hiệu khởi kiện
và thời hiệu yêu cầu nhưng về bản chất thời hiệu khởi kiện và thời hiệu yêu cầu đều là khoảng thời gian mà các cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của người khác hoặc lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách Từ các phân tích trên có thể đưa ra khái niệm thời hiệu khởi kiện và thời hiệu yêu cầu như sau:
Thời hiệu khởi kiện là thời hạn do pháp luật quy định mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó hết thì mất quyền khởi kiện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác
Thời hiệu yêu cầu là thời hạn do pháp luật quy định mà chủ thể được quyền yêu cầu Tóa án giải quyết việc dân sự để bảo vệ, công nhận quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền yêu cầu trừ trường hợp pháp luật có quy định khác
1.2 Ý nghĩa của việc quy định thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu và hậu quả của việc hết thời hiệu
1.2.1.Ý nghĩa của việc quy định thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu
Cùng với sự phát triển của hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật
Tố tụng dân sự nói riêng, các quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu ngày càng được chú trọng và quy định đầy đủ, chi tiết hơn Việc quy định thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu có ý nghĩa rất lớn cả về mặt khoa học pháp lý và thực tiễn, nó có tác động không nhỏ đến hoạt động
tố tụng Có thể thấy được ý nghĩa của việc quy định thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu dưới các khía cạnh sau:
* Đối với việc giải quyết vụ việc dân sự:
Trang 19Nếu pháp luật không có quy định về thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu thì số lượng đơn khởi kiện, yêu cầu được gửi đến Tòa án sẽ rất lớn Khi
đó Tòa án sẽ rơi vào tình trạng quá tải, không thể giải quyết được khối lượng công việc khổng lồ, những vụ việc Tòa án tiếp nhận và bắt tay vào giải quyết cũng có thể dẫn đến bế tắc do không thu thập được chứng cứ, không có điều kiện xác minh được những lý lẽ, bằng chứng do các bên cung cấp Nếu vụ việc được đưa tới Tòa án, Tòa án tiếp nhận và giải quyết nhưng lại không thể giải quyết thì sẽ gây ảnh hưởng đến uy tín của Tòa án, làm mất niềm tin của người dân đối với cơ quan công quyền
Quy định của pháp luật về thời hiệu sẽ giúp giảm tải được cho Tòa án những vụ việc đã xảy ra trước đó một khoảng thời gian dài và không còn ảnh hưởng nhiều đến các chủ thể tham gia Lúc này Tòa án sẽ có thời gian tập trung giải quyết những vụ việc mới xảy ra, kịp thời bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể
Có thể nói, với công tác giải quyết vụ việc dân sự thì việc quy định thời hiệu có ý nghĩa hết sức lớn lao Nếu hệ thống cơ quan tư pháp của Việt Nam như một chiếc cổ chai – nó có thể tắc nghẽn khi dồn vào đó quá nhiều một lúc thì quy định về thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu như một chiếc lưới chắn để trước cổ chai đó Nó sẽ giúp sàng lọc bớt những vụ việc xảy ra trước đó một khoảng thời gian dài và không còn nhiều ý nghĩa đối với các bên, giúp cho số lượng vụ việc đi qua cổ chai vừa phải, đúng mực và trôi chảy
* Đối với kinh tế xã hội:
Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, các quan hệ xã hội ngày càng diễn ra đa dạng, giao lưu dân sự ngày càng được đẩy mạnh Tỷ lệ thuận với nó là các tranh chấp dân sự không ngừng tăng lên Khi có tranh chấp, vấn đề đặt ra là phải giải quyết tranh chấp một cách nhanh chóng để kịp thời bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên và thúc đẩy giao lưu dân sự tiếp tục phát triển Việc quy định thời hiệu khởi kiện sẽ là động lực thôi thúc các
Trang 20chủ thể đẩy nhanh tiến độ giải quyết vụ việc, tích cực trong việc thu thập và cung cấp chứng cứ chứng minh cho quyền, lợi ích hợp pháp của mình
Mặt khác, nếu các mâu thuẫn luôn thường trực nhưng lại không có cơ chế đảm bảo quyền lợi thì sẽ khiến các chủ thể dè dặt hơn trong việc tham gia các quan hệ Để các quan hệ dân sự ngày càng gia tăng thì cần tạo cho nó một môi trường lành mạnh, ít tranh chấp và tranh chấp được giải quyết minh bạch, rõ ràng, công bằng và triệt để Việc giải quyết triệt để, nhanh chóng các vụ việc sẽ là chất xúc tác kích thích giao lưu dân sự diễn ra mạnh mẽ Thêm vào đó, môi trường cạnh tranh lành mạnh, ít tranh chấp sẽ là yếu tố hấp dẫn các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài tăng cường đầu tư vào Việt Nam, giúp cho nền kinh tế xã hội ngày càng phát triển Việc quy định thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu nhằm đảm bảo tính ổn định của giao lưu dân sự Có nghĩa là khi thời hiệu khởi kiện hết thì các chủ thể mất quyền khởi kiện, giao dịch dân sự trong đa số các trường hợp là có hiệu lực pháp luật
* Đối với các chủ thể tham gia quan hệ dân sự:
Việc quy định thời hiệu sẽ giúp các bên chủ động hơn, yên tâm hơn trong việc thực hiện các biện pháp nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình Mặt khác, việc quy định thời hiệu cũng giúp nâng cao trách nhiệm của chủ thể có quyền Họ phải cố gắng để thực hiện quyền khởi kiện, quyền yêu cầu của mình trong một khoảng thời gian nhất định nếu không muốn mất quyền khởi kiện, quyền yêu cầu Đối với chủ thể bị kiện (bị đơn), việc quy định thời hiệu khởi kiện cũng tạo cho họ những thuận lợi trong việc đưa ra chứng cứ phản bác lại yêu cầu của người khởi kiện (nguyên đơn)
1.2.2 Hậu quả của việc hết thời hiệu
Thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu vừa có tác dụng làm phát sinh, vừa có tác dụng làm chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các chủ thể Nếu còn thời hiệu thì chủ thể có quyền, lợi ích bị xâm phạm có quyền khởi kiện, yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình Ngược lại, nếu
Trang 21thời hiệu đã hết thì đương nhiên các chủ thể sẽ mất quyền khởi kiện Hậu quả này đã được thể hiện ngay ở khái niệm thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu Có thể nói hậu quả của việc hết thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu
có tính hai mặt
Về mặt tích cực: các chủ thể mất quyền khởi kiện nên Tòa án sẽ không
phải tiếp nhận và xử lý những vụ việc xảy ra trước đó một khoảng thời gian dài, giảm tải được một khối lượng công việc lớn cho Tòa án đồng thời giúp cho giao lưu dân sự nhanh chóng trở lại quỹ đạo và diễn ra thuận lợi
Về mặt tiêu cực: Nếu vấn đề thời hiệu không được quy định một cách
chặt chẽ, hợp lý và không được tuyên truyền tốt thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quyền lợi của các chủ thể, không đảm bảo được quyền khởi kiện của các chủ thể
Thực tế áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu sẽ khiến nhiều chủ thể mất quyền khởi kiện, quyền yêu cầu nhưng cần có hướng giải quyết quyền lợi cho họ một cách thỏa đáng
1.3 Cơ sở của việc xác định thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự và thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự
1.3.1 Cơ sở lý luận
Pháp luật của mỗi nước đều có những quy định về quyền, nghĩa vụ của các chủ thể khi tham gia vào một quan hệ pháp luật, quy định về điều kiện được hưởng các quyền và thực hiện các nghĩa vụ Do đó, pháp luật cần thiết phải quy định cơ chế để đảm bảo cho các quyền, nghĩa vụ ấy được thực hiện, được bảo vệ Quy định về thời hiệu khởi kiện là khâu đầu tiên trong quy trình thực hiện cơ chế ấy Quy định về thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật, đảm bảo tính hợp lý và logic Hơn nữa, trong quan hệ pháp luật dân sự không phải lúc nào các bên cũng thực hiện đúng và đầy đủ các thỏa thuận đã ký kết Bởi vậy giữa các bên xảy
ra tranh chấp về quyền, lợi ích Nếu không thể tự giải quyết thì họ cần đến
Trang 22sự can thiệp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và một trong số các cơ quan nhà nước đó là Tòa án Lúc này đòi hỏi pháp luật phải giới hạn khoảng thời gian họ được quyền thực hiện biện pháp bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình – chính là thời hiệu khởi kiện Hơn nữa, trong các quy định của pháp luật, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể luôn diễn ra song song với nhau, trong thực hiện quyền có nghĩa vụ và trong thực hiện nghĩa vụ có quyền Quyền khởi kiện cũng không phải là một ngoại lệ Pháp luật quy định cho các chủ thể quyền khởi kiện, nhưng cũng buộc chủ thể thực hiện quyền
đó trong một khoảng thời gian nhất định, nếu không tuân theo, chủ thể sẽ mất quyền khởi kiện
1.3.2 Cơ sở thực tiễn
Thực tế giải quyết các vụ việc dân sự của Tòa án gặp phải nhiều khó khăn, trong đó có việc các chủ thể khởi kiện một cách tùy tiện gây mất thời gian cho Tòa án trong việc tiếp nhận đơn và thụ lý giải quyết các vụ việc dân
sự Nếu không đặt ra giới hạn về thời gian mà các chủ thể có quyền khởi kiện, yêu cầu sẽ dẫn đến việc đặt Tòa án vào tình trạng quá tải, việc thu thập chứng cứ và đánh giá chứng cứ của Tòa án gặp khó khăn, phức tạp Để giải quyết tình trạng này cần phải có quy định về thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu qua đó có thể khoanh vùng được các vụ việc Tòa án có thể giải quyết
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, xu thế toàn cầu hóa phát triển mạnh mẽ, sự giao lưu giữa các quốc gia, các tập đoàn kinh tế sẽ ngày càng gia tăng Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung, luật Tố tụng dân sự nói riêng sẽ là mục tiêu, nhiệm vụ quan trọng mà chúng ta phải thực hiện Một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, hiệu quả sẽ là tiêu chí hấp dẫn thu hút các nhà đầu tư vào Việt Nam đồng thời sẽ tạo cho các nhà đầu tư tâm lý yên tâm, tin tưởng vào pháp luật từ đó tập trung đầu tư nhiều hơn nữa, thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển
Trang 23Toàn cầu hóa kéo các nước xích lại gần nhau hơn, các ranh giới dần dần bị xóa nhòa, giao lưu dân sự sẽ ngày càng tăng lên, đồng thời với nó là
sự mâu thuẫn, tranh chấp về quyền, lợi ích Lúc này quy định về thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu sẽ phát huy được tối đa ý nghĩa của nó
1.4 Nguyên tắc áp dụng pháp luật để xác định thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu và cách tính thời hiệu
1.4.1 Nguyên tắc áp dụng pháp luật để xác định thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu
Thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu là những vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với việc thực hiện quyền khởi kiện, quyền yêu cầu của các chủ thể, nó ảnh hưởng trực tiếp tới quyền lợi của các chủ thể Bởi vậy, nó cần được xác định một cách chính xác, theo trình tự các bước sau đây:
- Bước 1: Xác định xem loại vụ việc đó có áp dụng thời hiệu hay
không: Hầu hết các loại vụ việc dân sự đều áp dụng thời hiệu, trừ những trường hợp không áp dụng thời hiệu
Khi quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm thì các chủ thể có quyền thực hiện các biện pháp để bảo vệ, trong đó khởi kiện là một biện pháp được pháp luật công nhận Để đảm bảo hoạt động khởi kiện thực sự đem lại quyền lợi cho chủ thể có quyền khởi kiện, không làm ảnh hưởng đến hoạt động của các chủ thể khác và thuận lợi cho việc giải quyết của cơ quan
có thẩm quyền, pháp luật giới hạn một khoảng thời gian để các chủ thể thực hiện quyền khởi kiện, quyền yêu cầu của mình hay pháp luật quy định thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp quyền, lợi ích bị xâm phạm các chủ thể chỉ có quyền khởi kiện trong một khoảng thời gian nhất định mà vẫn có những ngoại lệ Những ngoại lệ này thông thường bao gồm:
- Yêu cầu hoàn trả tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước
- Yêu cầu bảo vệ quyền nhân thân bị xâm phạm
- Các trường hợp khác do pháp luật quy định
Trang 24Pháp luật Việt Nam cũng có quy định về các trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện giống như trên Sở dĩ pháp luật không giới hạn thời gian thực hiện quyền khởi kiện đối với các trường hợp này vì:
Thứ nhất: Với yêu cầu hoàn trả tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước
Nhà nước Việt Nam là chủ thể đặc biệt, là chủ thể đại diện cho nhân dân, thay mặt nhân dân quản lý xã hội, quản lý các tài sản quốc gia (bao gồm
cả tài sản hữu hình và tài sản vô hình) Bởi vậy, tài sản thuộc sở hữu Nhà nước chính là tài sản của nhân dân, do nhân dân làm ra để phục vụ cho lợi ích của nhân dân, không chủ thể nào được quyền chiếm hữu, sử dụng không nhằm mục đích phục vụ nhân dân, trừ trường hợp được Nhà nước đồng ý Bất kỳ chủ thể nào có hành vi xâm phạm tới tài sản của Nhà nước thì cho dù
sự việc đã xảy ra bao lâu, các cơ quan, tổ được Nhà nước giao nhiệm vụ phụ trách lĩnh vực đó cũng có quyền khởi kiện yêu cầu chủ thể đó hoàn trả Về vấn đề này, trong pháp luật thế giới nổi lên hai quan điểm khác nhau của hai kiểu nhà nước “Đa số các nước tư bản áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu hoàn trả tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước ví dụ: Pháp, Anh,
Mỹ … ngược lại, đa số các nước xã hội chủ nghĩa lại không áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu hoàn trả tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước ví dụ: Việt Nam, Lào …” [29, tr.34]
Thứ hai: Với yêu cầu bảo vệ quyền nhân thân bị xâm phạm
Quyền nhân thân là quyền gắn liền với mỗi cá nhân, nó được pháp luật thừa nhận và bảo vệ Quyền nhân thân là quyền rất quan trọng nó gắn liền với các chủ thể từ khi ra đời đến khi chấm dứt sự tồn tại (chết), nó được các chủ thể khác trong xã hội và nhà nước tôn trọng, bảo vệ Bởi vậy, bất kỳ chủ thể nào có hành vi xâm phạm bất hợp pháp quyền nhân thân của người khác thì người đó có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi của mình mà không bị giới hạn về thời gian Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp quyền khởi kiện yêu cầu bảo vệ quyền nhân thân đều không bị
Trang 25giới hạn về thời gian mà vẫn có những trường hợp ngoại lệ Ví dụ: Quy định
về thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe, danh dự bị xâm hại tại Điều 607 BLDS 2005
Đa số các nước trên thế giới cũng không quy định thời hiệu khởi kiện
về quyền nhân thân như: Thái Lan (Điềi 189 BLDS Thái Lan năm 1925), Nhật Bản (Điều 141 BLDS Nhật Bản)…nhưng cũng có nước thời hiệu khởi kiện về quyền nhân thân vẫn bị giới hạn trong một khoảng thời gian nhất định, ví dụ: trong pháp luật của Pháp thời hiệu khởi kiện về quyền nhân thân được quy định là 30 năm (Điều 2262 BLDS Pháp – trang 1161)
- Bước 2: Nếu loại vụ việc đó áp dụng thời hiệu thì căn cứ vào quy định của pháp luật nội dung
- Về nguyên tắc, khi luật nội dung và luật tố tụng đều có quy định về thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu thì cho dù luật tố tụng có quy định đồng nhất hay không đồng nhất với luật nội dung thì vẫn lựa chọn luật nội dung để áp dụng Tức là khi luật nội dung có quy định về thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu thì nhất thiết phải áp dụng quy định của pháp luật nội dung Pháp luật Việt Nam và pháp luật của đa số các nước trên thế giới như: Pháp (Điều 2264 BLDS Pháp), Thái Lan (Điều 164 BLDS Thái Lan), Nhật Bản (Điều 142 BLDS Nhật Bản)…đều thừa nhận và áp dụng nguyên tắc
mà pháp luật nội dung không có quy định về thời hiệu nên có thể nói là cái chung Về mặt lý luận, khi không có cái riêng để áp dụng thì đương nhiên sẽ
áp dụng theo cái chung để giải quyết vấn đề Bởi vậy, khi pháp luật nội dung
Trang 26không có quy định về thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu đối với loại vụ việc đó nhưng BLTTDS lại có quy định về thời hiệu có thể áp dụng chung cho tất cả các loại vụ việc thì đây sẽ là cơ sở pháp lý được Tòa án sử dụng
để giải quyết vụ việc
Như vậy, để giải quyết các vụ việc một cách chính xác và bảo đảm được quyền lợi của các chủ thể đòi hỏi Tòa án phải nắm rõ, tuân thủ và thực hiện các bước trong nguyên tắc xác định thời hiệu Có những trường hợp Tòa án chỉ cần thực hiện bước đầu tiên trong ba bước nói trên, cũng có trường hợp Tòa án phải thực hiện cả ba bước mới có thể xác định được luật
áp dụng để tính thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu
1.4.2 Cách tính thời hiệu
Khi xem xét một thời hạn ta cần quan tâm tới các yếu tố của thời hạn
đó là điểm bắt đầu, điểm kết thúc và độ dài của thời hạn Thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu là một loại thời hạn bởi vậy nó cũng chứa đựng các yếu tố trên của thời hạn
1.4.2.1 Bắt đầu thời hiệu
Mục đích của việc quy định thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu là
để việc khởi kiện, yêu cầu được thực hiện một cách dễ dàng, chủ động và bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể Bởi vậy, về nguyên tắc, ngay khi quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm thì các chủ thể có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm đã có quyền khởi kiện, yêu cầu Thời điểm quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm đối với mỗi loại vụ việc dân sự là khác nhau ví dụ đối với thời hiệu khởi kiện tranh chấp về hợp đồng dân sự là khi
có sự vi phạm nghĩa vụ của một bên …
Xoay quanh vấn đề xác định ngày “quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm” còn nhiều quan điểm khác nhau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng: phải xác định thời hiệu khởi kiện tức
xác định ngày “quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm” bắt đầu từ khi các bên
có tranh chấp, tức là kể cả có sự vi phạm về nghĩa vụ nhưng giữa các bên
Trang 27không xảy ra tranh chấp thì cũng chưa bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện [31, tr.38]
Quan điểm thứ hai cho rằng: phải xác định ngày “quyền, lợi ích hợp
pháp bị xâm phạm” – thời hiệu khởi kiện ngay từ khi một bên có hành vi vi phạm nghĩa vụ mà không nhất thiết phải có tranh chấp giữa các bên [34]
Theo chúng tôi thì quan điểm thứ nhất có phần bất hợp lý bởi lẽ: có thể sẽ có những vụ việc có sự vi phạm nghĩa vụ từ rất lâu nhưng các bên không hề có tranh chấp mà một thời gian dài sau đó do có mâu thuẫn nên mới tranh chấp, nếu lúc này mới bắt đầu tính thời hiệu sẽ gây ra những khó khăn cho Tòa án trong việc giải quyết vụ việc Hơn nữa, lúc này ý nghĩa của việc quy định thời hiệu khởi kiện sẽ không còn nữa Mặt khác, nếu tính từ thời điểm các bên có tranh chấp thì sẽ căn cứ vào đâu, dựa trên cơ sở nào để xác định thời điểm có tranh chấp? trong trường hợp các bên chủ thể không thống nhất với nhau về thời gian xảy ra tranh chấp thì sẽ chứng minh sự kiện xảy ra tranh chấp bằng cách nào? Chúng tôi đồng tình với quan điểm thứ hai bởi lẽ xác định ngày quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm từ khi một bên có hành vi xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của bên kia là hợp và có cơ sở khoa học Ở Việt Nam và đa số các nước trên thế giới thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu cũng được bắt đầu từ ngày quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm Việc xác định thời điểm bắt đầu thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu
có ý nghĩa rất lớn đối với việc xác định thời điểm kết thúc thời hiệu Nó ảnh hưởng trực tiếp tới việc thực hiện quyền khởi kiện, yêu cầu của các chủ thể Với những cách xác định bắt đầu thời hiệu khác nhau sẽ có kết thúc thời hiệu khác nhau do đó sẽ dẫn đến những hệ quả khác nhau
1.4.2.2 Kết thúc thời hiệu
Trong các yếu tố cấu thành thời hiệu thì giữa bắt đầu thời hiệu và kết thúc thời hiệu có sự tác động và ảnh hưởng mang tính chất quyết định Tuy nhiên, sự tác động này dường như chỉ mang tính chất một chiều, bắt đầu thời hiệu có ý nghĩa quyết định đối với kết thúc thời hiệu Sẽ không thể có kết
Trang 28thúc thời hiệu nếu không có bắt đầu thời hiệu, xác định kết thúc thời hiệu có chính xác hay không là phụ thuộc vào việc xác định bắt đầu thời hiệu Nhưng như thế không có nghĩa là kết thúc thời hiệu không có ý nghĩa quan trọng Tuy không có tính độc lập nhưng kết thúc thời hiệu lại là căn cứ để xác định các chủ thể còn hay không còn quyền khởi kiện, yêu cầu, là mốc đánh dấu ranh giới giữa còn và không còn quyền khởi kiện, yêu cầu Trong pháp luật của Việt Nam và các nước trên thế giới, ý nghĩa này của kết thúc thời hiệu vẫn luôn luôn được thừa nhận
1.4.2.3 Khoảng thời gian không tính vào thời hiệu
Trong thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu, các chủ thể có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm có quyền thực hiện quyền khởi kiện, yêu cầu Tuy nhiên, những biến đổi và tác động của điều kiện kinh tế xã hội, điều kiện tự nhiên có thể làm cho việc thực hiện các quyền đó gặp phải những khó khăn, thậm chí là không thể thực hiện được Để đảm bảo sự công bằng
và tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể, cần quy định thời gian không tính vào thời hiệu Khoảng thời gian này phải là khoảng thời gian xảy ra các sự kiện khách quan chứ không thể là khoảng thời gian xảy ra các sự kiện theo
sự sắp xếp, tính toán của các chủ thể, nó có thể là thời gian xảy ra thiên tai,
lũ lụt, hỏa hoạn … hoặc cũng có thể là thời gian chủ thể có quyền khởi kiện, yêu cầu lâm vào tình trạng không nhận thức, kiểm soát được hành vi nhưng lại không có người thay họ thực hiện các quyền, nghĩa vụ dân sự … Do các
sự kiện trên là khách quan, nó không phụ thuộc vào ý chí và nằm ngoài tầm kiểm soát của chủ thể có quyền nên cho dù khoảng thời gian đó là bao lâu thì nó cũng không thể được tính vào thời hiệu, trừ trường hợp có chứng cứ chứng minh chủ thể có quyền cố tính kéo dài thời gian xảy ra sự kiện Thời gian gián đoạn thời hiệu sẽ được tính bắt đầu từ ngày xảy ra một trong các
sự kiện trên và kết thúc vào ngày các sự kiện đó chấm dứt Về vấn đề gián đoạn thời hiệu, trong pháp luật Việt Nam hiện hành có quy định rất cụ thể tại
Trang 29Khoản 2 Điều 158 BLDS 2005 Pháp luật của các nước trên thế giới như: Nhật Bản (Điều 147 BLDS), Pháp, Nga … cũng có quy định về vấn đề này
1.5 Bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu
Theo quan điểm triết học Mác – Lênin, các sự vật, hiện tượng tồn tại trong thế giới vật chất không phải là bất di bất dịch mà đều luôn luôn vận động, biến đổi Thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu tồn tại trong thế giới vật chất, bởi vậy nó cũng luôn biến đối Với những đặc thù của mình, thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu có những cách thức biến đổi rất riêng và một trong các cách thức ấy là bắt đầu lại Bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện là vấn đề ảnh hưởng trực tiếp tới quyền lợi của các bên chủ thể trong quan hệ Bởi vậy, về nguyên tắc, thời hiệu khởi kiện chỉ có thể được bắt đầu lại khi có
sự thỏa thuận của các bên chủ thể Sự thỏa thuận này có thể được thể hiện dưới các dạng: sự thừa nhận nghĩa vụ, thực hiện một phần nghĩa vụ của bên chủ thể có nghĩa vụ hoặc có sự hòa giải của các bên Như vậy, bắt đầu lại thời hiệu chỉ có thể xảy ra khi có ít nhất hai bên chủ thể tham gia vào quan
hệ cùng chủ động thực hiện một trong các hành vi trên Điều này đồng nghĩa với việc thời hiệu yêu cầu không thể được bắt đầu lại bởi lẽ trong việc dân
sự thông thường chỉ xác định được một bên chủ thể là người yêu cầu
Khi xảy ra các hành vi thừa nhận nghĩa vụ, thực hiện nghĩa vụ hay hòa giải của các bên, thời hiệu khởi kiện được bắt đầu lại vì các hành vi đó
có thể coi là hành vi tiếp theo, hành vi làm mới quan hệ dân sự đã được các bên xác lập trước đó Tức là khoảng thời gian có sự vi phạm nghĩa vụ, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của bên có quyền đã được bỏ qua, các bên đã xác lập với nhau một thỏa thuận mới Trong giao lưu dân sự, sự thỏa thuận không trái pháp luật, đạo đức xã hội của các bên được tôn trọng và có hiệu lực Bởi vậy, khi các bên đã xác lập một giao dịch mới nhằm thay thế cho giao dịch cũ thì đương nhiên giao dịch cũ sẽ chấm dứt hiệu lực
Về vấn đề bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện, một số nước không có quy định tức là thời hiệu không thể được bắt đầu lại mà chỉ có thể được tiếp tục nếu có các sự kiện gây ra gián đoạn về thời hiệu ví dụ: pháp luật Nhật Bản (tại Điều 147 và 157 BLDS) …
Trang 30CHƯƠNG 2: THỜI HIỆU KHỞI KIỆN, THỜI HIỆU YÊU CẦU ĐỐI VỚI MỘT SỐ VỤ VIỆC DÂN SỰ THEO PHÁP LUẬT
VIỆT NAM HIỆN HÀNH 2.1 Thời hiệu khởi kiện đối với các tranh chấp về dân sự
2.1.1 Thời hiệu khởi kiện tranh chấp về hợp đồng dân sự
Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự Trong giao lưu dân sự, hợp đồng dân sự là hình thức thể hiện rõ nét nhất quyền, nghĩa vụ của các bên chủ thể Song, hợp đồng dân sự lại là hình thức giao dịch dân sự phổ biến nhất vì thế tranh chấp hợp đồng dân sự chiếm tỷ lệ lớn trong số các tranh chấp dân sự Xuất phát từ thực tế này, pháp luật Việt Nam hiện hành đã có quy định cụ thể về thời hiệu khởi kiện về hợp đồng dân sự trong BLDS 2005
Theo quy định tại Điều 427 BLDS 2005 thì: “Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự là hai năm kể
từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm”
Như vậy, thời hiệu khởi kiện đối với vụ án về hợp đồng dân sự được bắt đầu từ “ngày quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm” Tuy nhiên, đây là một khái niệm mang tính chất chung chung, đối với mỗi loại vụ việc khác nhau sẽ có ngày quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm khác nhau Bởi vậy,
để dễ dàng hơn trong việc áp dụng pháp luật xác định ngày bắt đầu thời hiệu, Tòa án nhân dân Tối cao đã ra Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/03/2005 hướng dẫn thi hành phần chung của BLTTDS 2004 trong đó có hướng dẫn cụ thể về cách xác định “ngày quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm” Tại tiết a.4, điểm 2.2, tiểu mục 2, mục IV của Nghị quyết có quy định:
“Trong quá trình thực hiện hợp đồng mà có vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng, thì ngày vi phạm nghĩa vụ là ngày xảy ra vi phạm, trừ trường hợp
Trang 31các bên có thỏa thuận khác Nếu một bên đơn phương đình chỉ hợp đồng thì ngày đơn phương đình chỉ hợp đồng là ngày vi phạm”
Theo hướng dẫn này, ngay khi có hành vi vi phạm nghĩa vụ của một bên thì thời hiệu khởi kiện đã bắt đầu được tính mà không cần quan tâm đến việc bên có quyền có biết về sự vi phạm đó hay không, sự vi phạm đó đã gây
ra hậu quả cho bên có quyền hay chưa, giữa bên có quyền và bên vi phạm nghĩa vụ đã xảy ra tranh chấp hay chưa Việc vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng dân sự có thể là vi phạm về thời hạn hợp đồng, cách thức thực hiện hợp đồng hoặc phương thức thanh toán … Trong hợp đồng dân sự, các bên tham gia có quyền thỏa thuận về các điều kiện đơn phương đình chỉ hợp đồng, cách thức thực hiện việc đơn phương đình chỉ hợp đồng Nếu một bên đơn phương đình chỉ mà không tuân thủ theo các điều kiện và cách thức thực hiện việc đơn phương thì cũng được coi là vi phạm nghĩa vụ, trong trường hợp này, ngày vi phạm nghĩa vụ sẽ là ngày đơn phương đình chỉ
Vấn đề xác định ngày bắt đầu thời hiệu khởi kiện vụ án về hợp đồng dân sự hiện nay còn nhiều quan điểm khác nhau Tác giả Lưu Việt Phượng cho rằng “nên xác định ngày bắt đầu thời hiệu là ngày bên có quyền phát hiện ra hành vi vi phạm nghĩa vụ” [36, tr.26] Theo chúng tôi, nếu xác định ngày bắt đầu thời hiệu theo quan điểm này thì thời hiệu sẽ phụ thuộc rất lớn vào ý chí chủ quan của chủ thể có quyền, thiệt thòi cho chủ thể có nghĩa vụ đồng thời cũng gây khó khăn cho Tòa án trong việc xác định thời hiệu, hơn nữa ý nghĩa của việc quy định thời hiệu cũng sẽ không còn Tác giả Đoàn Hữu Chiến lại cho rằng: “nên xác định bắt đầu thời kể từ ngày các bên chủ thể có tranh chấp” [29, tr.34] Tuy nhiên, quan điểm này cũng bất hợp lý và không có cơ sở Bởi lẽ, rất khó để có chứng cứ chứng minh thời điểm xảy ra tranh chấp Hơn nữa, ý kiến của các bên chủ thể về ngày xảy ra tranh chấp cũng sẽ khác nhau Có lẽ xác định thời điểm bắt đầu thời hiệu là từ ngày có
sự vi phạm nghĩa vụ là hợp lý và có cơ sở xác đáng hơn cả
Trang 32Vấn đề kết thúc thời hiệu khởi kiện vụ án về hợp đồng dân sự cũng sẽ được áp dụng theo quy định chung về cách tính kết thúc thời hiệu – là thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hiệu Theo đó đối với tranh chấp về hợp đồng dân sự thời điểm kết thúc thời hiệu sẽ là thời điểm kết thúc 2 năm
kể từ ngày xảy ra hành vi vi phạm nghĩa vụ hoặc thời điểm kết thúc 2 năm
kể từ ngày một bên đơn phương đình chỉ hợp đồng Thời hiệu khởi kiện kết thúc vào thời điểm nào trong hai thời điểm trên là phụ thuộc vào thời điểm bắt đầu thời hiệu, bắt đầu thời hiệu có tính chất quyết định đối với kết thúc thời hiệu, chỉ có thể xác định kết thúc thời hiệu một cách chính xác khi xác định chính xác bắt đầu thời hiệu Thực tế áp dụng pháp luật cho thấy hầu như toàn bộ các trường hợp xác định sai về việc còn hay hết thời hiệu đều là
do xác định sai thời điểm bắt đầu thời hiệu
Hợp đồng dân sự là loại giao dịch dân sự có những đặc thù riêng biệt,
nó là sự thỏa thuận giữa các chủ thể, phụ thuộc vào ý chí chủ quan của các chủ thể nên các thỏa thuận này có thể dễ dàng bị thay đổi, việc các chủ thể gia hạn hợp đồng, thỏa thuận kéo dài thời gian thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng là điều thường xuyên xảy ra Khi có những sự thay đổi ấy thì thời hiệu khởi kiện cũng sẽ bị thay đổi theo chiều hướng là được bắt đầu lại Do đó, có thể nói thời hiệu khởi kiện vụ án về hợp đồng dân sự là loại thời hiệu khởi kiện thường hay được bắt đầu lại
Ví dụ: Ngày 24/4/2006 anh Nguyễn Hữu Việt và anh Nguyễn Hữu Minh ký với nhau một hợp đồng vay tiền Theo đó anh Việt vay của anh Minh một khoản tiền là 200.000.000 đồng, thời hạn trả nợ theo hợp đồng là ngày 24/4/2007 Ngày 28/04/2007 anh Minh đến nhà anh Việt để đòi số tiền trên nhưng anh Việt chưa có nên hai bên đã thống nhất anh Việt sẽ trả cho anh Minh số tiền trên vào ngày 10/05/2007 Đến ngày 10/05/2007 anh Việt vẫn không có tiền trả anh Minh, giữa hai bên có xảy ra xô xát Ngày 05/01/2008 anh Nguyễn Hữu Minh gửi đơn khởi kiện đến TAND Huyện Phú Lương, Tỉnh Thái Nguyên yêu cầu giải quyết tranh chấp [20]
Trang 33Trong ví dụ nêu trên, thời hiệu khởi kiện được bắt đầu từ ngày 25/04/2007 khi anh Nguyễn Hữu Việt không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho anh Nguyễn Hữu Minh theo hợp đồng vay giữa hai bên Tuy nhiên, hai bên lại có một thỏa thuận mới, kéo dài thời hạn của hợp đồng đến ngày 10/05/2007 Do vậy, thời hiệu khởi kiện sẽ được bắt đầu lại và trong trường hợp này được tính từ ngày 11/05/2007
Ngoài trường hợp trên, thời hiệu khởi kiện đối với vụ án về hợp đồng dân sự còn có thể được bắt đầu lại khi bên có nghĩa vụ thực hiện một phần nghĩa vụ với bên có quyền hoặc bên có nghĩa vụ thừa nhận nghĩa vụ của mình với bên có quyền Nhìn chung các quy định của pháp luật Việt Nam về thời hiệu khởi kiện vụ án về hợp đồng dân sự là khá đầy đủ và rõ ràng, điều này tạo ra những thuận lợi nhất định cho việc thực hiện quyền khởi kiện của các chủ thể có quyền đồng thời tạo thuận lợi cho công tác bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể của Tòa án Tuy nhiên, thực tế áp dụng thì với một số loại hợp đồng đặc thù lại gặp phải những khó khăn, bất cập
Ví dụ: Ngày 10/02/2006 Bà Đoàn Thị Vang cho ông Vương Văn Dũng vay số tiền 50.000.000 đồng, theo hợp đồng vay không thời hạn và không có lãi, thời hạn trả nợ là 3 tháng tức ngày 10/05/2006 Hết thời hạn, ông Dũng chưa có tiền trả cho bà Vang, bà Vang cũng không đòi khoản tiền trên, hai bên không có tranh chấp cũng không có thỏa thuận gì thêm Đến tháng 08/2007 do hai bên có mâu thuẫn nên ngày 26/08/2007 bà Vang yêu cầu ông Dũng thanh toán khoản nợ trên Ông Dũng cho rằng mình chỉ còn
nợ bà Vang 10.000.000 đồng vì 40.000.000 đồng đã được ông trả cho Nguyễn Hữu Phần là chồng bà Vang Ngày 10/09/2008 bà Vang khởi kiện ra Tòa, yêu cầu ông Dũng thanh toán cho bà khoản nợ 50.000.000 đồng trên Tòa án nhân dân Huyện Lý Nhân, tỉnh X đã xác định thời hiệu khởi kiện đã hết [21] Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành thì trong trường hợp này, cho dù bà Vang có xuất trình được hợp đồng vay giữa hai bên và các bằng chứng khác chứng minh về nghĩa vụ của ông Dũng đối với bà thì
Trang 34cũng không thể khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi của mình Điều này là hoàn toàn vô lý và gây thiệt hại cho người có quyền, lợi ích hợp pháp
bị xâm phạm Vấn đề đặt ra là cần có sự điều chỉnh như thế nào để đảm bảo được quyền lợi của các bên Theo chúng tôi, nên có quy định riêng về thời hiệu khởi kiện với tranh chấp về hợp đồng vay
2.1.2 Thời hiệu khởi kiện tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng ngoài hợp đồng
Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là vấn đề khá phức tạp bởi lẽ nó thường là mối quan hệ giữa những người mà trước đó họ chưa từng xác lập quan hệ dân sự với nhau, sự việc xảy ra bất ngờ và không chỉ gây thiệt hại
về tài sản mà còn có thể là về sức khỏe, tính mạng Do những đặc thù đó nên việc giải quyết tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thường gặp phải nhiều khó khăn và phức tạp Để góp phần giảm bớt tính phức tạp, tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan tư pháp trong quá trình giải quyết vụ việc đồng thời bảo vệ quyền lợi của các chủ thể kịp thời, đúng lúc, pháp luật
đã quy định thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại được quy định tại Điều 607 BLDS năm
2005 là: “ hai năm kể từ ngày quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm”
Theo quy định này thì thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại được tính từ ngày “quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm” Việc xác định ngày quyền, lợi ích bị xâm phạm đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại đã được hướng dẫn tại tiết a.5, điểm 2.2, tiểu mục 2, mục IV Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/03/2005 như sau:
“Đối với trường hợp đòi bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm tài sản, sức khỏe, tính mạng …, thì ngày xảy ra hành vi xâm phạm tài sản, sức khỏe, tính mạng … là ngày vi phạm”
Như vậy, thời hiệu khởi kiện sẽ được tính kể từ ngày có hành vi xâm phạm mà không quan tâm có thiệt hại xảy ra hay không, có tranh chấp giữa
Trang 35các bên hay không Quy định này của pháp luật Việt Nam là hoàn toàn hợp
lý bởi lẽ: khi một chủ thể nào đó có hành vi xâm phạm đến tài sản, sức khỏe, tính mạng của mình hoặc của người mà mình đại diện thì người đó có quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi Hơn nữa, khi có sự can thiệp của cơ quan
có thẩm quyền thì thiệt hại mới có thể được xác định một cách rõ ràng, cụ thể, mới có thể khẳng định lỗi thuộc về bên nào, từ đó đưa ra phán quyết có
sự bồi thường hay không Về vấn đề xác định bắt đầu thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau Tác giả Đoàn Mạnh Hải cho rằng: “thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại phải được xác định kể từ ngày phát hiện thiệt hại” [30, tr.27] Tác giả Nguyễn Kim Oanh lại cho rằng: “Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại phải được bắt đầu kể từ ngày có thiệt hại xảy ra” [35, tr.25] Có nghĩa là nếu thiệt hại xảy ra sau khi có hành vi xâm phạm một thời gian nhất định thì thời hiệu phải được tính từ ngày xảy ra thiệt hại chứ không phải ngày có hành vi xâm phạm Cách hiểu này vô tình đã làm cho việc xác định thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại vốn đã phức tạp càng trở nên phức tạp hơn và không có căn cứ để xác định Chúng tôi ủng hộ và nhất trí với cách xác định bắt đầu thời hiệu trong hướng dẫn của Nghị quyết 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/03/2005 bởi lẽ về nguyên tắc ngay khi có tài sản, sức khỏe của mình bị xâm phạm thì chủ thể đó đã có quyền yêu cầu Tòa
án bảo vệ quyền lợi chứ không nhất thiết là phải khi có thiệt hại xảy ra Hơn nữa, thiệt hại xảy ra là hệ quả của hành vi xâm phạm của chủ thể, người bị xâm phạm quyền lợi trong trường hợp này khởi kiện là khởi kiện hành vi gây thiệt hại chứ không phải khởi kiện hệ quả thiệt hại Do đó, xác định bắt đầu thời hiệu là từ ngày có hành vi xâm phạm là hợp lý và có cơ sở khoa học Nhưng thực tế áp dụng quy định của pháp luật để xác định ngày bắt đầu thời hiệu lại gặp phải khó khăn Ví dụ: Ngày 20/08/2006 gia đình bà Đoàn Thị Bé khởi công xây dựng nhà 5 tầng (công trình đã có giấy phép xây dựng), đến ngày 27/08/2006 gia đình bà Cao Thị Mến – hàng xóm nhà bà Bé
Trang 36phát hiện tường nhà mình bị nứt, giữa hai bên đã xảy ra tranh chấp Ngày 10/09/2006 UBND phường X đã tiến hành lập biên bản về sự việc và hòa giải nhưng không thành Ngày 27/09/2006 bà Mến khởi kiện tại TAND Quận Hải An, TP Hải Phòng [22] Trong vụ việc này, về mặt lý thuyết thời hiệu phải được xác định bắt đầu từ ngày có hành vi vi phạm là ngày 20/08/2006 nhưng chứng cứ trên hồ sơ lại là ngày 10/09/2006 Vậy thời hiệu khởi kiện phải được tính bắt đầu từ ngày nào? Theo chúng tôi, thời hiệu khởi kiện trong trường hợp này vẫn nên được xác định theo nguyên tắc xác định thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại – tức là ngày 20/08/2006 Ngày xảy ra hành vi xâm phạm mới chỉ là một căn cứ để xác định bắt đầu thời hiệu Thời hiệu còn có thể được bắt đầu từ những mốc thời gian khác tùy theo từng trường hợp Sở dĩ có điều này vì trước khi BLDS 2005 ra đời, trong BLDS 1995 không có quy định về thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại nhưng trong BLTTDS 2004 lại có quy định về thời hiệu khởi kiện với những trường hợp pháp luật nội dung không có quy định Bởi vậy đặt ra vấn đề là với những trường hợp thiệt hại xảy ra trước khi BLTTDS có hiệu lực thì có áp dụng thời hiệu không? Nếu áp dụng thì thời hiệu sẽ được bắt đầu từ thời điểm nào? Giải quyết vấn đề này, Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao đã ra Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 trong đó có hướng dẫn xác định thời hiệu khởi kiện đối với những thiệt hại xảy ra trước ngày 01/01/2005 (ngày BLTTDS có hiệu lực thi hành)
cụ thể như sau:
Đối với những trường hợp bồi thường thiệt hại phát sinh kể từ ngày 01/01/05 (ngày BLTTDS có hiệu lực) thì thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là hai năm kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm Đối với những trường hợp bồi thường thiệt hại phát sinh trước ngày 01/01/2005 thì thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là hai năm kể từ ngày 01/01/2005
Trang 37Như vậy, theo hướng dẫn này thì thời hiệu bắt đầu được tính từ mốc thời gian nào còn phụ thuộc vào việc trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phát sinh vào thời gian nào
Ví dụ : Ngày 20/08/2004 anh Đỗ Quang Khải điều khiển xe máy gây tai nạn đâm phải anh Đinh Văn Hoàng, sau khi bị ngã kiểm tra bằng mắt không thấy có thương tích gì nặng nên anh Hoàng đã để anh Khải đi Một tuần sau va chạm (27/08/2004), anh Hoàng thấy đau đầu và nhức mỏi người nên đã tới bệnh viện kiểm tra Sau khi kiểm tra bác sỹ kết luận do bị va chạm mạnh nên anh Hoàng bị tổn thương phần đầu và phải nhập viện để điều trị Ngày 28/08/2004 gia đình anh Hoàng đã đến tìm anh Khải và yêu cầu anh Khải bồi thường thiệt hại gây ra cho anh Hoàng nhưng anh Khải cho rằng việc anh Hoàng bị chấn thương là do nguyên nhân khác chứ không phải
do va chạm với mình nên không bồi thường Anh Đinh Văn Hoàng đã khởi kiện ra Tòa yêu cầu bồi thường thiệt hại Trong trường hợp này, thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại được Tòa án xác định là bắt đầu từ ngày 01/01/2005– ngày BLTTDS 2004 có hiệu lực mà không phải ngày xảy
ra va chạm – ngày 20/08/2004, cũng không phải ngày phát hiện ra thiệt hại
là ngày 27/08/2004
Như vậy, với những trường hợp sự việc gây thiệt hại xảy ra trước khi BLTTDS 2004 có hiệu lực pháp luật thì sẽ không xác định bắt đầu thời hiệu theo nguyên tắc chung là lấy ngày quyền, lợi ích bị xâm phạm mà lấy mốc thời gian chung là ngày BLTTDS có hiệu lực – ngày 01/01/2005
Về vấn đề kết thúc thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại: cũng giống như kết thúc thời hiệu khởi kiện của các vụ án dân sự khác, nó phụ thuộc vào cách xác định bắt đầu thời hiệu Tuy nhiên, kết thúc thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại cũng mang những nét đặc thù Do tính chất của quan hệ là có sự thiệt hại về sức khỏe, tính mạng xảy ra nên dễ có khoảng thời gian không tính vào thời hiệu đó là khoảng thời gian chủ thể có quyền không thể thực hiện quyền khởi kiện do sức khỏe bị xâm phạm Nên
Trang 38thời hiệu khởi kiện thường kết thúc muộn hơn dự kiến Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa có quy định về mức tối đa đối với khoảng thời gian không tính vào thời hiệu vì vậy có thể hiểu bất kể sự việc gây ra gián đoạn xảy ra trong thời gian bao lâu thì chỉ cần chủ thể có quyền khởi kiện chứng minh được về khoảng thời gian xảy ra các sự kiện ấy là được Theo chúng tôi, nên
có quy định về mức tối đa của khoảng thời gian không tính vào thời hiệu, điều này sẽ là động lực thúc đẩy chủ thể có quyền tích cực hơn trong việc thực hiện quyền khởi kiện của mình từ đó tạo thuận lợi cho công tác giải quyết tranh chấp của Tòa án, đồng thời đảm bảo được ý nghĩa của việc bồi thường thiệt hại đó là kịp thời bù đắp những mất mát, tổn thất của chủ thể có quyền, lợi ích bị xâm phạm
2.1.3 Thời hiệu khởi kiện tranh chấp thừa kế
Quan hệ pháp luật về thừa kế là loại quan hệ pháp luật dân sự rất đặc thù vì nó liên quan đến tài sản của chủ thể không còn tồn tại Pháp luật Việt Nam về thừa kế chia thừa kế thành thừa kế theo pháp luật và thừa kế theo di chúc, với mỗi loại có những khó khăn, phức tạp khác nhau khi phân chia di sản
Điều 645 BLDS 2005 quy định về thời hiệu khởi kiện thừa kế như sau:
“Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa
kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 3 năm kể từ thời điểm mở thừa kế”
Như vậy, liên quan đến vấn đề thừa kế có hai loại thời hiệu cần phải phân biệt rõ là thời hiệu khởi kiện tranh chấp về quyền thừa kế (người thừa
kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác) và thời hiệu tranh chấp về thực hiện nghĩa vụ tài sản
do người chết để lại
Trang 39Theo quy định tại Điều 645 BLDS thì thời điểm bắt đầu thời hiệu khởi kiện là “thời điểm mở thừa kế” Tại khoản 1 Điều 633 BLDS ghi nhận: Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết Như vậy, việc một người chết sẽ làm phát sinh quan hệ pháp luật về thừa kế Về mặt lý thuyết, pháp luật quy định thời hiệu này bắt đầu từ thời điểm mở thừa kế tức thời điểm người có nghĩa vụ chết, tuy nhiên trên thực tế thường ít có trường hợp người có quyền thực hiện ngay quyền khởi kiện của mình mà thường dành cho những người thừa kế một khoảng thời gian để họ trấn tĩnh lại và sắp xếp, giải quyết các công việc
Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành thì việc một người chết ngoài trường hợp chết trong thực tế về mặt sinh học còn có trường hợp chết về mặt pháp lý, tức là bị tuyên bố là đã chết bằng quyết định của Tòa án theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan Trong hai trường hợp này thì ngày một người được xác định là đã chết có sự khác biệt do đó thời điểm bắt đầu thời hiệu cũng khác nhau
Với trường hợp một người chết trong thực tế thì thời điểm mở thừa kế hay thời điểm bắt đầu thời hiệu khởi kiện về thừa kế là khi người đó chết về mặt sinh học Với trường hợp một người được xác định là đã chết bằng quyết định của Tòa án thì thời điểm mở thừa kế được Tòa án xác định cụ thể trong quyết định tuyên bố một người là đã chết Để xác định ngày người đó chết, Tòa án căn cứ vào các thời điểm được quy định tại Khoản 1 Điều 81 BLDS:
- Sau 3 năm kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án
có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống
- Biệt tích trong chiến tranh 5 năm kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống
- Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau một năm kể từ ngày tai nạn, thảm họa, thiên tai đó chấm dứt mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác