1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật ở lào và việt nam nghiên cứu từ góc độ so sánh

66 204 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 642,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ban hành và xử lí văn bản đó; kết quả giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước; kết quả kiểm tra của các cơ quan hành chính nhà nước; kháng nghị của cấp có thẩm quyền đối với các quyết đị

Trang 1

Bộ Giáo dục và Đào tạo bộ tư pháp

trường đại học luật hà nội

Trang 2

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Phousakhone Meuangwong

Trang 3

Trang

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT KIỂM TRA VÀ

XỬ LÝ VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT 5 1.1 Khái niệm kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật 5

1.2 Pháp luật về kiểm tra và xử lí văn bản quy phạm pháp luật 15

Chương 2: NHỮNG ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT

TRONG PHÁP LUẬT VỀ KIỂM TRA VÀ XỬ LÝ VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT Ở LÀO VÀ

2.1 Những điểm tương đồng và khác biệt trong quy định của pháp

luật về thẩm quyền kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp

2.2 Những điểm tương đồng và khác biệt trong quy định của pháp

luật về quy trình kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp

2.3 Những điểm tương đồng và khác biệt trong quy định của pháp

luật về hình thức xử lý văn bản quy phạm pháp luật ở Lào và

Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ KIỂM TRA VÀ XỬ

LÝ VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT Ở LÀO 42 3.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về kiểm tra và xử lý văn

3.2 Những giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm tra và xử lý

văn bản quy phạm pháp luật ở Lào 50

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Sau khi đất nước được giải phóng ngày 02/12/1975 nhà nước

Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào là nhà nước dân chủ nhân dân, do nhân

dân, vì lợi ích của nhân dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân

dân Trong những năm vừa qua, Đảng và Nhà nước Lào đã quan tâm đến

vấn đề hoàn thiện hệ thống pháp luật, đặc biệt là hệ thống văn bản quy

phạm pháp luật, báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu của Đảng Nhân dân

cách mạng Lào rất nhiều lần đề cập đến vấn đề này

Văn bản quy phạm pháp luật có ý nghĩa trực tiếp trong công tác

nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, quản lý xã hội Sau hơn 20

năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước Lào giành được nhiều

thành tựu quan trọng về kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng, trật tự an

toàn xã hội được đảm bảo, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện

Việc xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường và đảm bảo tính tổ

chức xã hội đòi hỏi cần phải cải cách việc kiểm tra và xử lý văn bản quy

phạm pháp luật

Đất nước Lào đang tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất

nước, mở rộng hợp tác giao lưu quốc tế Quá trình đó thành hay bại phụ

thuộc vào nhiều yếu tố, một trong những yếu tố quan trọng là giải quyết

tốt vấn đề pháp luật Hơn nữa, trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp

quyền, quản lý xã hội bằng pháp luật thì vai trò của pháp luật hơn bao

giờ hết phải được đề cao Do đó, vấn đề nhận thức đầy đủ, đúng đắn vị

trí, vai trò của việc kiểm tra và xử lý các văn bản quy phạm pháp luật có

ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm phát huy vai trò, thế mạnh của loại

Trang 5

phương tiện pháp luật này Thực tiễn pháp luật ở Lào trong những năm

qua cho thấy nhiều vấn đề chưa được lý giải một cách sâu sắc và có hệ

thống đã dẫn đến sự lúng túng trong nhận thức và đánh giá tầm quan

trọng của việc kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật Nhận thức

được thực trạng đó trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước Lào đã ban

hành một số văn bản quy phạm pháp luật, pháp lệnh mới để điều chỉnh

việc kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật Hệ thống các quy

định về kiểm tra và xử lý các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành của

nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào đã góp phần đạt được những kết

quả nhất định trong việc thực hiện tốt nghị quyết của Đảng nhân dân cách

mạng Lào Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc kiểm tra và xử lý văn bản

quy phạm pháp luật còn kém hiệu quả

Với tư cách là một công dân nước Cộng hòa dân chủ nhân dân

Lào, tôi lựa chọn vấn đề "Pháp luật về kiểm tra và xử lý văn bản quy

phạm pháp luật ở Lào và Việt Nam nghiên cứu từ góc độ so sánh" làm

đề tài luận văn thạc sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Hiện nay, ở Lào, các công trình nghiên cứu về kiểm tra và xử lý

văn bản quy phạm pháp luật không nhiều, nội dung chỉ mới dừng lại ở

một vài khía cạnh rất sơ sài Công trình khoa học đáng chú ý ở Lào là:

"Hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Quốc hội về kiểm tra và ban hành

pháp luật và văn bản quy phạm pháp luật trong giai đoạn hiện nay" của

tác giả Chăn Pheng Si Li Văn; bài viết "Cải cách các văn bản quy phạm

pháp luật về thương mại và liên quan đối với nhóm ASEAN" của Khăm

Phết Vông Đa La Các công trình nêu trên chỉ đề cập một cách chung

nhất đến các văn bản quy phạm pháp luật, chưa đi sâu nghiên cứu về

pháp luật kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật Bài viết đó,

Trang 6

cũng chưa chỉ ra được những ưu điểm, nhược điểm, hạn chế trong việc

kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật Qua đó đưa ra những giải

pháp nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu quả của việc này trong xã hội

hiện nay

Ở Việt Nam, đã có một số công trình có liên quan đến vấn đề này

như: "Hoàn thiện cơ chế giám sát văn bản quy phạm pháp luật của chính

quyền địa phương nước Việt Nam hiện nay" - luận văn thạc sĩ của Hoàng

Anh Tuấn, năm 2007; "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng và

ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay" - luận văn

thạc sĩ của Hoàng Văn Hảo, năm 2004; "Tìm hiểu mô hình giám sát tính

hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật ở một số nước trên thế giới" -

luận văn thạc sĩ của Hoàng Tào Thị Quyên, năm 2004

3 Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài

Đề tài tác giả chọn để nghiên cứu nhằm mục đích làm sáng tỏ một

số vấn đề lý luận về pháp luật kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp

luật trên cơ sở đó đánh giá thực trạng pháp luật kiểm tra và xử lý văn bản

quy phạm pháp luật ở Lào trong mối quan hệ so sánh với pháp luật Việt

Nam nhằm đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm tra xử

lý văn bản quy phạm pháp luật ở Lào

Để đạt được mục đích trên, luận văn có các nhiệm vụ sau đây:

- Tìm hiểu một số vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật về kiểm tra

và xử lý văn bản quy phạm pháp luật

- Tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa pháp luật về

kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật

- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật kiểm tra và xử lý

văn bản quy phạm pháp luật ở Lào

Trang 7

4 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu pháp luật về kiểm tra và xử lý

văn bản quy phạm pháp luật của Lào trong mối quan hệ so sánh với pháp

luật Việt Nam nhằm hoàn thiện pháp luật kiểm tra và xử lý văn bản quy

phạm pháp luật của đất nước Lào hiện nay

5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở và các phương pháp

luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí

Minh trong luận văn có sử dụng phương pháp so sánh luật để tìm giải

quyết những nhiệm vụ mà đề tài đặt ra Cũng như các phương pháp phân

tích khác như; tổng hợp, thống kê

6 Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn

Luận văn là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu dưới góc độ

luật học so sánh về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật ở Lào

và Việt Nam

Luận văn góp phần làm phong phú lý luận về pháp luật kiểm tra

và xử lý văn bản quy phạm pháp luật

Làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt giữa pháp luật Việt

Nam vâ pháp luật của Lào về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật

Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp, hoàn thiện về pháp luật về

kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật phù hợp với thực tiễn đổi

mới của đất nước Lào

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội

dung của luận văn gồm có 3 chương, 7 tiết

Trang 8

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT KIỂM TRA

VÀ XỬ LÝ VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

1.1 KHÁI NIỆM KIỂM TRA, XỬ LÝ VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

1.1.1 Khái niệm kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật

Để có thể nhận thức đúng đắn khái niệm kiểm tra và xử lý văn

bản quy phạm pháp luật chúng ta cần có một khái niệm hoàn chỉnh về

văn bản quy phạm pháp luật Hiện nay, khái niệm văn bản quy phạm

pháp luật là một trong những khái niệm đã được luật hóa ở Việt Nam,

trong khi đó, Sắc luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở Lào

không có định nghĩa rõ ràng về văn bản quy phạm pháp luật Khái niệm

văn bản quy phạm pháp luật đã được quy định tại Luật Ban hành văn bản

quy phạm pháp luật ngày 03 tháng 06 năm 2008 của Nhà nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam Theo đó, văn bản quy phạm pháp luật là văn

bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm

quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật, trong đó có

quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được Nhà nước bảo

đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội (khoản 1 Điều 1)

Từ định nghĩa đó, chúng ta có thể thấy rằng, văn bản quy phạm

pháp luật là văn bản có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà

nước có thẩm quyền ban hành Điều này có nghĩa là không phải mọi văn

bản đều được coi là văn bản quy phạm pháp luật mà chỉ những văn bản

được ban hành bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định mới

có thể được coi là văn bản quy phạm pháp luật Các văn bản quy phạm

Trang 9

pháp luật có thể được ban hành bởi một cơ quan của nhà nước có thẩm

quyền cũng có thể được các cơ quan nhà nước phối hợp với nhau hoặc phối

hợp với các cơ quan lãnh đạo của một tổ chức chính trị xã hội ban hành

Thứ hai, văn bản quy phạm pháp luật có chứa đựng các quy tắc xử

sự chung tức là chứa đựng các quy phạm pháp luật Một văn bản do cơ

quan nhà nước có thẩm quyền ban hành chỉ được xem là văn bản quy

phạm pháp luật khi nó có chứa đựng những quy phạm pháp luật

Thứ ba, văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng nhiều lần

trong đời sống khi có sự kiện pháp lý xảy ra

Thứ tư, tên gọi, nội dung và trình tự ban hành các loại văn bản

quy phạm pháp luật được quy định cụ thể trong pháp luật

Việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật cũng như việc thực

hiện chúng là những hoạt động đòi hỏi tính sáng tạo nhưng phải đảm bảo

độ chính xác, nhất quán Để làm được điều này trên thực tế không đơn

giản Do đó, cần phải có hoạt động kiểm tra, giám sát, xử lý đối với văn

bản quy phạm pháp luật

Hiện nay, có ba cách hiểu về khái niệm kiểm tra văn bản quy

phạm pháp luật

Cách hiểu thứ nhất là: kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật là

việc xem xét, đánh giá của toàn xã hội (các cơ quan nhà nước, các tổ

chức xã hội và cá nhân) đối với văn bản quy phạm pháp luật Với cách

hiểu rộng như vậy, ta thấy rằng nguồn để phát hiện những khiếm khuyết

của văn bản quy phạm pháp luật rất rộng Các nguồn đó có thể xuất phát

từ: đề nghị, khiếu nại, kiến nghị của cá nhân đối với văn bản quy phạm

pháp luật; đề nghị của tổ chức, cơ quan nhà nước phát hiện khiếm khuyết

của văn bản quy phạm pháp luật đối với cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Trang 10

ban hành và xử lí văn bản đó; kết quả giám sát của cơ quan quyền lực

nhà nước; kết quả kiểm tra của các cơ quan hành chính nhà nước; kháng

nghị của cấp có thẩm quyền đối với các quyết định, bản án của tòa án

nhân dân…

Cách hiểu thứ hai cho rằng, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật

là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc xem xét

tính hợp pháp, hợp lý của văn bản quy phạm pháp luật nhằm phát hiện

kịp thời những khiếm khuyết làm cơ sở để cấp có thẩm quyền xử lí, hoàn

thiện chúng Theo quan niệm này, hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm

pháp luật bao gồm cả hoạt động giám sát, kiểm tra, kiểm sát của các cơ

quan có thẩm quyền trong bộ máy nhà nước đối với văn bản quy phạm

pháp luật (cả văn bản quy phạm pháp luật, văn bản áp dụng pháp luật và

văn bản hành chính)

Cách hiểu thứ ba xuất phát từ chức năng kiểm tra văn bản của cơ

quan có thẩm quyền đối với các văn bản quy phạm pháp luật Theo đó, kiểm

tra văn bản quy phạm pháp luật được hiểu rất hẹp là hoạt động của cơ quan

hành chính nhà nước trong việc xem xét tính hợp pháp, tính thống nhất

của văn bản quy phạm pháp luật do các bộ, ngành, địa phương ban hành

Trong phạm vi nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến quá

trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của những cơ quan, cá nhân

có thẩm quyền theo quy định của pháp luật, nếu hiểu theo quan điểm thứ

nhất thì quá rộng vì nó không chỉ là hoạt động của cơ quan nhà nước mà

còn là hoạt động của các tổ chức xã hội và công dân Theo quan điểm thứ

ba thì quá hẹp so với phạm vi nghiên cứu Do vậy, hiểu theo quan điểm

thứ hai là phù hợp nhất [1, tr 245-246]

Hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật có ý nghĩa phục

vụ trực tiếp cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật bởi vì,

Trang 11

kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật có mục đích là phát hiện những

khiếm khuyết của văn bản như: nội dung trái pháp luật, được ban hành

trái thẩm quyền, hình thức không đúng, nội dung không phù hợp với thực

tế khách quan… Từ việc phát hiện những khiếm khuyết trên, các cơ quan

nhà nước có thẩm quyền sẽ kịp thời đình chỉ thi hành, hủy bỏ, bãi bỏ, sửa

đổi, bổ sung… các văn bản quy phạm pháp luật khiếm khuyết nhằm đảm

bảo tính hợp pháp, hợp lý và tính thống nhất của hệ thống văn bản quy

phạm pháp luật Đồng thời, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật là cơ chế

hữu hiệu để tìm ra nguyên nhân và điều kiện dẫn đến những khiếm khuyết

của văn bản quy phạm pháp luật, từ đó có giải pháp khắc phục phù hợp và

kịp thời Bên cạnh đó, hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật còn

là cơ chế đảm bảo dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân,

tổ chức, nếu không được phát hiện và kịp thời đình chỉ thi hành, bãi bỏ

hoặc hủy bỏ thì sẽ làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Nhà nước

Mặt khác, hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật góp

phần tích cực, tạo tiền đề quan trọng cho công tác rà soát, tập hợp hóa, hệ

thống hóa và pháp điển hóa pháp luật Ngoài ra, hoạt động kiểm tra văn

bản quy phạm pháp luật còn đảm bảo tính kỷ luật trong công tác xây

dựng văn bản quy phạm pháp luật, đòi hỏi các cơ quan ban hành văn bản

quy phạm pháp luật có trách nhiệm hơn, nghiêm túc hơn trong hoạt động

xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng,

hiệu lực của văn bản đó

Như vậy, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động của

các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc xem xét, đánh giá về tính

hợp pháp, hợp lý của các văn bản quy phạm pháp luật nhằm phát hiện

những khiếm khuyết của văn bản, tạo cơ sở để cấp có thẩm quyền kịp

thời xử lí, hoàn thiện chúng

Trang 12

Xuất phát từ khái niệm này, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật

có những đặc điểm sau:

a Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động mang tính

quyền lực nhà nước

Tính quyền lực trong hoạt động kiểm tra thể hiện ở việc hoạt động

này được thực hiện bởi các chủ thể có thẩm quyền của Nhà nước, có thể

là cơ quan nhà nước cấp trên kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của cơ

quan nhà nước cấp dưới, có thể là do cơ quan nhà nước tự tiến hành kiểm

tra những văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành

Thẩm quyền kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật được quy định

tại nhiều văn bản khác nhau, như: Hiến pháp, các luật về tổ chức bộ máy

nhà nước, các luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật… Ở mỗi

nước khác nhau, tùy thuộc vào cơ cấu tổ chức và hoạt động của Bộ máy

nhà nước mà pháp luật quy định thẩm quyền kiểm tra văn bản quy phạm

pháp luật rất khác nhau Chẳng hạn, ở Việt Nam, theo quy định của pháp

luật, Bộ Tư pháp là cơ quan giúp Chính phủ thống nhất quản lí nhà nước

về công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, giúp Thủ tướng Chính

phủ kiểm tra, xử lí văn bản trái pháp luật của các bộ, cơ quan ngang bộ,

hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung

ương Trong khi đó, ở Lào, Viện kiểm sát nhân dân lại được xem là cơ

quan có vai trò quan trọng trong việc kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm

pháp luật

Đồng thời, tính quyền lực của hoạt động kiểm tra còn thể hiện

trong nội dung của hoạt động đó Trong quá trình kiểm tra, chủ thể có

thẩm quyền thay mặt Nhà nước để xem xét nhiều vấn đề khác nhau, như:

sự phù hợp của văn bản với văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà

nước cấp trên về mặt nội dung; sự phù hợp giữa hình thức với nội dung

Trang 13

của mỗi văn bản quy phạm pháp luật; sự phù hợp của nội dung văn bản

với thẩm quyền của cơ quan ban hành văn bản; sự phù hợp của văn bản

quy phạm pháp luật với điều kiện kinh tế - xã hội, các yếu tố truyền

thống, đạo đức, phong tục tập quán của dân tộc, sự hài hòa giữa văn bản

quy phạm pháp luật quốc gia với điều ước quốc tế mà quốc gia ký kết

hoặc tham gia…

Những nội dung trên đều nhằm mục đích đảm bảo tính hợp pháp,

tính thống nhất và tính hợp lý của văn bản quy phạm pháp luật Trong đó,

tính hợp pháp của văn bản quy phạm pháp luật được đặc biệt coi trọng

trong quá trình các cơ quan nhà nước tiến hành kiểm tra

Bên cạnh đó, tính quyền lực nhà nước của hoạt động kiểm tra còn

thể hiện trong việc chủ thể kiểm tra có quyền đưa ra các yêu cầu đối với

cơ quan đã ban hành văn bản quy phạm pháp luật như đề nghị xem xét

hủy bỏ, bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật sai trái Ví dụ ở Việt Nam,

khi phát hiện thông báo của cục trưởng Cục Kiểm lâm thuộc Bộ Nông

nghiệp và phát triển nông thôn có chứa đựng quy phạm pháp luật thì Cục

trưởng Cục Kiểm tra văn bản thuộc Bộ tư pháp thông báo để Cục trưởng

Cục Kiểm lâm tự kiểm tra và xử lí theo hướng hủy bỏ văn bản đó Trong

thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo, Cục Kiểm lâm phải tổ

chức xử lí và thông báo kết quả xử lí cho Cục Kiểm tra văn bản, nếu Cục

Kiểm lâm không xử lí hoặc Cục Kiểm tra văn bản không nhất trí với kết

quả xử lí thì Cục Kiểm tra văn bản báo cáo để Bộ trưởng Bộ Tư pháp xử

lí theo quy định của pháp luật

b Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động mang tính

phòng ngừa

Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động được các cơ

quan nhà nước tiến hành thường xuyên hoặc định kỳ nhằm kịp thời phát

Trang 14

hiện những khiếm khuyết của văn bản để cấp có thẩm quyền xử lí, từ đó

phòng ngừa, không để xảy ra những hậu quả xấu phát sinh từ những

khiếm khuyết của văn bản Vì vậy, ngay cả khi chưa phát hiện được dấu

hiệu khiếm khuyết của văn bản thì cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm

kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật đã phải tiến hành hoạt động kiểm

tra văn bản quy phạm pháp luật và trong quá trình đó, có thể phát hiện

nhưng cũng có thể không phát hiện được những khiếm khuyết của văn

bản quy phạm pháp luật

c Kiểm tra văn bản là hoạt động mang tính tiền đề cho việc xử

lí văn bản quy phạm pháp luật khiếm khuyết

Việc kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật không chỉ dừng lại ở

việc xem xét, đánh giá mà còn kết luận, xử lí đối với văn bản quy phạm

pháp luật Thông qua việc kiểm tra, cơ quan có thẩm quyền kiểm tra sẽ đề

xuất những kiến nghị để sửa chữa kịp thời, sớm khắc phục hậu quả nhằm

nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lí, tăng cường kỷ cương pháp luật

Thông qua hoạt động kiểm tra, nếu phát hiện thấy những văn bản quy

phạm pháp luật khiếm khuyết thì cấp có thẩm quyền sẽ tiến hành xử lí

kịp thời Có thể so sánh với hoạt động thẩm tra, thẩm định để thấy được

dấu hiệu đặc trưng này của hoạt động kiểm tra sau đối với văn bản quy

phạm pháp luật Mặc dù cả thẩm tra, thẩm định và kiểm tra sau đối với

văn bản quy phạm pháp luật đều có chung mục đích đảm bảo tính hợp

pháp và tính thống nhất của hệ thống pháp luật nhưng hoạt động thẩm

tra, thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật có vai trò hạn chế tối

đa sự mâu thuẫn, chồng chéo, thiếu đồng bộ, thiếu tính khả thi của văn

bản trước khi văn bản được ban hành, còn kiểm tra sau đối với văn bản

quy phạm pháp luật có mục đích loại bỏ và khắc phục những khiếm

khuyết của văn bản sau khi ban hành

Trang 15

Ngoài ra, thẩm tra, thẩm định chỉ có tính chất tư vấn, tham khảo

đối với cơ quan soạn thảo, ban hành văn bản còn quyền quyết định thuộc

về cơ quan ban hành văn bản quy phạm pháp luật đó nhưng với hoạt

động kiểm tra sau đối với văn bản quy phạm pháp luật, trong quá trình

kiểm tra cơ quan kiểm tra có quyền đề nghị áp dụng biện pháp xử lý với

những văn bản quy phạm pháp luật khiếm khuyết như bãi bỏ, hủy bỏ,

đình chỉ thi hành, tạm đình chỉ thi hành, thay thế, sửa đổi, bổ sung văn

bản quy phạm pháp luật Chính vì thế, việc tuyên bố văn bản quy phạm

pháp luật khiếm khuyết phải được căn cứ vào những tiêu chí rõ ràng, xác

đáng để tránh sự tùy tiện khi xử lí văn bản Như vậy, hoạt động xử lí văn

bản quy phạm pháp luật khiếm khuyết được tiến hành dựa trên kết quả

của hoạt động kiểm tra

1.1.2 Khái niệm xử lí văn bản quy phạm pháp luật

Xử lý văn bản quy phạm pháp luật khiếm khuyết là hoạt động của

cơ quan nhà nước và cá nhân có thẩm quyền trong việc ra phán quyết đối

với những văn bản quy phạm pháp luật khiếm khuyết Văn bản khiếm

khuyết được hiểu là văn bản "còn thiếu sót, chưa hoàn chỉnh" không đảm

bảo về chất lượng mà Nhà nước yêu cầu Thông thường, văn bản được

xem là thiếu sót, chưa hoàn chỉnh có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, văn bản quy phạm pháp luật không đáp ứng yêu cầu về

chính trị Cụ thể là những văn bản có nội dung không phù hợp với đường

lối, chính sách của Đảng, không phù hợp với ý chí và lợi ích chính đáng

của nhân dân;

Thứ hai, văn bản quy phạm pháp luật không đáp ứng yêu cầu về

pháp lí Đó là những văn bản quy phạm pháp luật vi phạm thẩm quyền

ban hành; có nội dung trái với quy định của pháp luật: có nội dung không

phù hợp với các điều ước quốc tế mà nhà nước đã ký kết hoặc tham gia;

Trang 16

văn bản quy phạm pháp luật có sự vi phạm các quy định về thể thức và

thủ tục ban hành;

Thứ ba, văn bản quy phạm pháp luật không đáp ứng được yêu cầu

về khoa học, có nội dung không phù hợp với thực trạng và quy luật vận

động của đời sống xã hội

Hoạt động xử lý văn bản quy phạm pháp luật có ý nghĩa phục vụ

trực tiếp cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Bởi vì, sau

khi kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, nếu phát hiện những khiếm

khuyết của văn bản như: nội dung trái pháp luật, được ban hành trái thẩm

quyền, hình thức không đúng, nội dung không phù hợp với thực tế khách

quan…, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ kịp thời đình chỉ thi

hành, hủy bỏ, bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung… các văn bản quy phạm pháp luật

khiếm khuyết nhằm đảo bảo tính hợp pháp, hợp lý và tính thống nhất của

hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Xử lý văn bản khiếm khuyết là

hoạt động bắt buộc phải có sau khi kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật,

để đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật

Bên cạnh đó, hoạt động xử lý văn bản quy phạm pháp luật còn là

một trong những giải pháp đảm bảo dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp

pháp của cá nhân, tổ chức Thông qua việc xử lý văn bản quy phạm pháp

luật trái pháp luật, các quyền và lợi ích chính đáng của công dân sẽ được

bảo đảm, tránh được sự xâm phạm từ phía các cơ quan nhà nước Thêm

vào đó, nếu văn bản quy phạm pháp luật khiếm khuyết không được kịp

thời xử lý sẽ làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Nhà nước

Ngoài ra, hoạt động xử lý văn bản quy phạm pháp luật còn đảm

bảo tính kỷ luật trong công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, đòi

hỏi các cơ quan ban hành văn bản quy phạm pháp luật có trách nhiệm

hơn, nghiêm túc hơn trong hoạt động xây dựng văn bản quy phạm pháp

Trang 17

luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực của văn bản đó Đây là một

ý nghĩa rất quan trọng, bao trùm toàn bộ hoạt động kiểm tra và xử lý văn

bản quy phạm pháp luật Hoạt động kiểm tra và xử lý không chỉ phát hiện

và xử lý những nội dung sai trái của các văn bản quy phạm pháp luật đã

được ban hành mà còn góp phần bảo đảm việc soạn thảo, ban hành văn

bản có chất lượng cao hơn, nhằm xây dựng một hệ thống pháp luật thống

nhất, đồng bộ, minh bạch, đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính khả thi,

phục vụ trực tiếp yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ

nghĩa, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế, mở rộng quan hệ quốc tế,

chủ động hội nhập kinh tế

Từ những phân tích ở trên, có thể đi đến nhận định rằng, xử lý văn

bản quy phạm pháp luật khiếm khuyết là hoạt động được các cơ quan có

thẩm quyền thực hiện sau khi phát hiện ra văn bản quy phạm pháp luật

khiếm khuyết nhằm khắc phục hậu quả, sửa chữa sai lầm của việc ban

hành những văn bản quy phạm pháp luật khiếm khuyết đó

Sau khi kiểm tra phát hiện ra những khiếm khuyết, biện pháp xử

lý đối với các văn bản quy phạm pháp luật cũng rất đa dạng phong phú

Theo đó, văn bản quy phạm pháp luật đã được phát hiện là trái pháp luật

có thể bị hủy bỏ, bãi bỏ toàn phần hoặc một phần, đình chỉ thi hành, thay

thế, bổ sung…

Kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật là hai hoạt động

không thể tách rời nhau, gắn bó chặt chẽ với nhau Kiểm tra là tiền đề, là

cơ sở thực tiễn cho việc xử lý các văn bản quy phạm pháp luật Nếu

không kiểm tra, sẽ không thể phát hiện ra những khiếm khuyết của văn

bản quy phạm pháp luật để có biện pháp xử lý kịp thời Ngược lại, xử lý

văn bản quy phạm pháp luật là kết quả phái sinh của hoạt động kiểm tra

Xử lý mang lại ý nghĩa thực tiễn của hoạt động kiểm tra vì nếu kiểm tra

Trang 18

xong, có phát hiện sai trái mà không xử lý thì việc kiểm tra không có ý

nghĩa gì cả Chính vì vậy, việc xử lý đối với các văn bản quy phạm pháp

luật không thể thực hiện được nếu chưa kiểm tra Kiểm tra và xử lý văn

bản quy phạm pháp luật là hoạt động nhằm đảm bảo sự hợp hiến của các

văn bản quy phạm pháp luật cũng như bảo vệ sự uy nghiêm, đúng đắn

của pháp luật

1.2 PHÁP LUẬT VỀ KIỂM TRA VÀ XỬ LÍ VĂN BẢN QUY PHẠM

PHÁP LUẬT

Pháp luật về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật là hệ

thống các quy phạm pháp luật quy định về thẩm quyền, trình tự và thủ

tục tiến hành kiểm tra và xử lý các văn bản quy phạm pháp luật của các

cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng như xác định trách nhiệm của các

cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản quy phạm pháp luật đó

Ở các nước khác nhau, pháp luật về kiểm tra xử lý văn bản quy

phạm pháp luật được quy định không hoàn toàn giống nhau Một số nước

coi việc xem xét tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật có

tầm quan trọng đặc biệt và theo đó, thành lập ra Hội đồng Hiến pháp

hoặc Tòa án Hiến pháp để xem xét tính hợp hiến của các văn bản quy

phạm pháp luật mà đặc biệt là các văn bản luật do Nghị viện hoặc Quốc

hội ban hành Tuy nhiên, ở một số nước khác, việc xem xét tính hợp hiến

và hợp pháp được xem như là một nội dung của pháp luật về ban hành

văn bản quy phạm pháp luật Vì thế, những vấn đề liên quan đến việc

kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật được ở những nước này

thường được quy định trong pháp luật về ban hành văn bản quy phạm

pháp luật Thêm vào đó, mức độ đầy đủ và chi tiết của hệ thống các quy

phạm pháp luật quy định về việc kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm

pháp luật không hoàn toàn giống nhau

Trang 19

Hệ thống các quy định điều chỉnh các vấn đề liên quan đến việc

kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật được thể hiện dưới các

hình thức rất khác nhau với những thứ bậc hiệu lực pháp lý khác nhau

Các quy định về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật ở các

nước khác nhau có thể được thể hiện trong Hiến pháp, Luật về tổ chức

các cơ quan trong bộ máy nhà nước cũng như các văn bản luật riêng biệt

về Ban hành văn bản quy phạm pháp luật Các quy định về kiểm tra và

xử lý văn bản quy phạm pháp luật cũng có thể nằm trong các văn bản

dưới luật do các cơ quan khác nhau của nhà nước ban hành

Pháp luật về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật bao

gồm nhiều nội dung Trong phạm vi của luận văn này, tác giả chỉ tập trung

vào ba nội dung cơ bản là Thẩm quyền kiểm tra và xử lý văn bản quy

phạm pháp luật; Trình tự, thủ tục kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm

pháp luật và các hình thức xử lý đối với văn bản quy phạm pháp luật

1.2.1 Thẩm quyền kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật

Thẩm quyền kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật của

các cơ quan là một nội dung quan trọng trong pháp luật về kiểm tra và xử

lý văn bản quy phạm pháp luật Theo đó, thẩm quyền kiểm tra và xử lý

văn bản quy phạm pháp luật sẽ tùy thuộc vào cơ cấu tổ chức bộ máy nhà

nước, vị trí, vai trò và chức năng nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước

cũng như thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ

quan nhà nước

Việc quy định rõ ràng về thẩm quyền kiểm tra và xử lí văn bản

quy phạm pháp luật của các cơ quan nhằm hạn chế tối đa sự chồng chéo

thẩm quyền kiểm tra văn bản cũng như việc bỏ sót văn bản quy phạm

pháp luật của các cơ quan hoặc các văn bản về các lĩnh vực cần kiểm tra

và xử lí

Trang 20

Thông thường, thẩm quyền kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm

pháp luật được xác lập dựa trên những nguyên tắc nhất định Trong đó

việc kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật được tiến hành theo ba

nguyên tắc cơ bản, đó là: cơ quan nhà nước cấp trên tiến hành kiểm tra và

xử lý đối với văn bản quy phạm pháp luật do cấp dưới ban hành; các cơ

quan có thẩm quyền ban hành văn bản tự kiểm tra và xử lý văn bản quy

phạm pháp luật do mình ban hành; và cơ quan chuyên trách được giao

nhiệm vụ kiểm tra và xử lý đối với văn bản quy phạm pháp luật theo

chức năng và nhiệm vụ của mình được pháp luật quy định

a Cấp trên có thẩm quyền kiểm tra, xử lý đối với văn bản quy

phạm pháp luật do cấp dưới ban hành

Nguyên tắc này áp dụng cho hầu hết các cơ quan nhà nước, trừ

trường hợp Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, không có

cấp trên Nguyên tắc này được xác lập xuất phát từ nguyên tắc quyền lực

tập trung thống nhất trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước xã

hội chủ nghĩa

Việc kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật của cấp trên đối

với văn bản quy phạm pháp luật của cấp dưới có ý nghĩa quan trọng giúp

cho quá trình ban hành, tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật có

hiệu lực và hiệu quả hơn

b Cơ quan ban hành văn bản quy phạm pháp luật tự kiểm tra,

xử lý các văn bản quy phạm pháp luật do mình

Tự kiểm tra văn bản là hoạt động kiểm tra văn bản của cơ quan

ban hành văn bản đối với chính văn bản do mình ban hành Mục đích của

tự kiểm tra văn bản là nhằm đề cao trách nhiệm của cơ quan ban hành

văn bản, đồng thời tạo cơ hội để cơ quan này phát hiện, xử lý kịp thời

Trang 21

trong trường hợp văn bản có dấu hiệu trái pháp luật, tạo thuận lợi cho quá

trình thực hiện và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước Nguyên tắc này

đòi hỏi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm

pháp luật phải tự kiểm tra văn bản do mình ban hành hoặc phối hợp ban

hành ngay sau khi văn bản được ban hành, khi nhận được thông báo của

cơ quan, người có thẩm quyền kiểm tra văn bản hoặc yêu cầu, kiến nghị

của cơ quan, tổ chức, cá nhân và các phương tiện thông tin đại chúng

Khi thực hiện việc tự kiểm tra văn bản, phát hiện văn bản có dấu hiệu trái

pháp luật thì cơ quan, đơn vị thực hiện việc tự kiểm tra lập hồ sơ kiểm tra

văn bản và báo cáo ngay với cơ quan, người có thẩm quyền đã ban hành

hoặc liên tịch ban hành văn bản đó để xem xét, thực hiện việc tự xử lý

theo quy định

Việc tự kiểm tra văn bản là một trong những cách thức để xem xét

tính đúng, sai trong hoạt động của chính các cơ quan nhà nước có thẩm

quyền Hoạt động này đòi hỏi những cơ quan ban hành cần có cái nhìn

đúng đắn về các vấn đề mà mình đã ban hành đồng thời kịp thời sửa chữa

những thiếu sót, khiếm khuyết của văn bản mà mình đã ban hành, giúp

cho hoạt động ban hành, tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật

có hiệu quả trên thực tế

c Cơ quan chuyên trách được giao nhiệm vụ kiểm tra văn bản

quy phạm pháp luật

Theo nguyên tắc này, việc kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật

được giao cho một cơ quan chuyên trách trong bộ máy nhà nước Ở các

nước khác nhau, thẩm quyền này có thể được giao cho các cơ quan khác

nhau trong bộ máy nhà nước Điều này hoàn toàn tùy thuộc vào cơ cấu tổ

chức nhà nước và việc xác định chức năng và nhiệm vụ của các cơ quan

trong bộ máy nhà nước của các nước đó

Trang 22

1.2.2 Pháp luật về thủ tục kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm

pháp luật

Việc kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật phải tuân thủ

theo các quy định về thủ tục do pháp luật quy định Tùy thuộc vào

phương thức kiểm tra văn bản, thủ tục kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm

pháp luật cũng khác nhau

Đối với phương thức tự kiểm tra, các cơ quan ban hành văn bản

quy phạm pháp luật thường xuyên tổ chức kiểm tra các văn bản do mình

ban hành Đồng thời, các cơ quan ban hành văn bản quy phạm pháp luật

sẽ tiến hành rà soát, kiểm tra văn bản do mình ban hành khi những biến

đổi về kinh tế - xã hội đã thay đổi hoặc khi cơ quan nhà nước cấp trên

ban hành văn bản mới làm cho nội dung văn bản do mình đã ban hành

không còn phù hợp; và khi nhận được yêu cầu, kiến nghị, thông báo của

cơ quan, người có thẩm quyền kiểm tra văn bản hoặc của cơ quan, tổ

chức, cá nhân khác và các phương tiện thông tin đại chúng về văn bản do

mình ban hành có dấu hiệu trái pháp luật hoặc không còn phù hợp

Thông thường, thủ tục tự kiểm tra được chính cơ quan ban hành

văn bản thực hiện theo các quy chế nội bộ của cơ quan ban hành văn bản

quy phạm pháp luật

Đối với phương thức kiểm tra của cơ quan, người có thẩm quyền

kiểm tra văn bản theo nhiệm vụ được phân công khi kiểm tra văn bản do

cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản gửi đến; hoặc khi cơ

quan có thẩm quyền kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật tổ chức đoàn

kiểm tra theo chuyên đề, địa bàn hoặc theo ngành, lĩnh vực Với phương

thức đó, thủ tục kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật có thể được

khái quát như sau:

Trang 23

- Trước hết, cơ quan ban hành văn bản quy phạm pháp luật sau

khi văn bản được người có thẩm quyền ký ban hành phải được gửi đến cơ

quan và người có thẩm quyền kiểm tra văn bản;

- Cơ quan hoặc người có thẩm quyền kiểm tra văn bản kiểm tra,

phát hiện văn bản có dấu hiệu trái pháp luật, sẽ thông báo cho cơ quan,

người có thẩm quyền ban hành văn bản tự kiểm tra, xử lý theo quy định

của pháp luật đồng thời thông báo kết quả xử lý cho cơ quan, người có

thẩm quyền kiểm tra văn bản

Nếu hết thời hạn được pháp luật cho phép để cơ quan, người ban

hành tự kiểm tra và xử lý mà không tổ chức tự kiểm tra và xử lý văn bản

quy phạm pháp luật hoặc cơ quan, người có thẩm quyền kiểm tra, xử lý

văn bản quy phạm pháp luật không nhất trí với kết quả kiểm tra và xử lý

của cơ quan hoặc người ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì cơ

quan này sẽ tiến hành xử lý hoặc kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm

quyền xử lý văn bản quy phạm pháp luật đó;

- Sau khi văn bản đã được xử lý theo đúng trình tự quy định của

pháp luật, kết quả xử lý sẽ được công bố trên Công báo hoặc các phương

tiện thông tin đại chúng Việc công bố kết quả xử lý văn bản trái pháp

luật phải được thực hiện trong thời gian sớm nhất sau khi có quyết định

xử lý của cơ quan, người có thẩm quyền xử lý văn bản trái pháp luật

1.2.3 Hình thức xử lý văn bản quy phạm pháp luật

Tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể, hậu quả pháp lý của việc kiểm

tra và xử lý các văn bản quy phạm pháp luật cũng khác nhau Nhìn chung,

có các hình thức xử lý đối với các văn bản quy phạm pháp luật như sau:

a Hủy bỏ

Hủy bỏ là biện pháp xử lý được áp dụng đối với văn bản quy

phạm pháp luật có dấu hiệu vi phạm pháp luật nghiêm trọng, như: nội

Trang 24

dung của văn bản quy phạm pháp luật bất hợp pháp; ban hành văn bản

trái thẩm quyền nội dung; sai phạm về thủ tục ban hành dẫn đến làm mất

cơ sở pháp lý của việc giải quyết công việc phát sinh Văn bản quy phạm

pháp luật bị hủy bỏ sẽ bị hết hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm văn bản

đó được quy định là có hiệu lực pháp lý Điều đó có nghĩa Nhà nước

hoàn toàn không thừa nhận giá trị pháp lý của văn bản bị hủy ở mọi thời

điểm, cho dù trên thực tiễn, trước khi bị hủy nó đã từng được coi là có

hiệu lực và có thể đã được thi hành

b Bãi bỏ

Bãi bỏ là biện pháp xử lý được hiểu "bỏ đi, không thi hành nữa"

Đối tượng áp dụng biện pháp bãi bỏ là các văn bản quy phạm pháp luật

có một trong các dấu hiệu khiếm khuyết, như: nội dung văn bản quy

phạm pháp luật không phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng; đại

đa số nội dung trong văn bản không phù hợp với quyền lợi chính đáng

của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản; nội dung của văn

bản không phù hợp với văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà

nước cấp trên ban hành; phần lớn nội dung của văn bản quy phạm pháp

luật không phù hợp với thực trạng kinh tế - xã hội là đối tượng mà văn

bản điều chỉnh; phần lớn nội dung của văn bản quy phạm pháp luật

không phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham

gia; văn bản quy phạm pháp luật không còn cần thiết tồn tại trong thực

tiễn nữa

Văn bản quy phạm pháp luật bị bãi bỏ chỉ mất hiệu lực pháp luật

kể từ thời điểm văn bản xử lý nó có hiệu lực pháp luật Do vậy, biện pháp

bãi bỏ không phát sinh trách nhiệm bồi thường, bồi hoàn của chủ thể ban

hành văn bản quy phạm pháp luật sai trái đó

Trang 25

c Đình chỉ thi hành

Đình chỉ thi hành là biện pháp xử lý được áp dụng đối với văn bản

quy phạm pháp luật với tư cách là biện pháp bổ sung được sử dụng kèm

theo việc hủy bỏ, bãi bỏ, thay thế văn bản quy phạm pháp luật; hoặc là

biện pháp độc lập được áp dụng để chấm dứt hiệu lực của văn bản quy

phạm pháp luật hoặc là biện pháp độc lập được áp dụng để tạm dừng hiệu

lực của văn bản quy phạm pháp luật, chờ cấp có thẩm quyền xử lý Văn

bản quy phạm pháp luật bị đình chỉ thi hành thì ngưng hiệu lực cho đến

khi có quyết định xử lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Nếu cấp có

thẩm quyền ra quyết định hủy bỏ thì văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu

lực còn không bị hủy bỏ thì văn bản tiếp tục có hiệu lực Thời điểm

ngưng hiệu lực, tiếp tục hiệu lực của văn bản hoặc hết hiệu lực của văn

bản phải quy định rõ tại quyết định đình chỉ thi hành, quyết định xử lí

của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Trang 26

Chương 2

NHỮNG ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT

TRONG PHÁP LUẬT VỀ KIỂM TRA VÀ XỬ LÝ VĂN BẢN

QUY PHẠM PHÁP LUẬT Ở LÀO VÀ VIỆT NAM

Nội dung của chương này là so sánh pháp luật về kiểm tra và xử

lý văn bản quy phạm pháp luật ở Lào và Việt Nam dựa trên quan điểm

luật so sánh Việc so sánh pháp luật Lào và Việt Nam về kiểm tra và xử

lý văn bản quy phạm pháp luật có nhiều điểm khó khăn cũng như thuận

lợi Điểm thuận lợi là hai nước đều theo thể chế xã hội chủ nghĩa nên có

khá nhiều điểm tương đồng về pháp luật Điểm khó khăn là hệ thống

pháp luật của Lào về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật chưa

hoàn chỉnh, còn rất nhiều thiếu sót về tài liệu, nên rất khó nghiên cứu

Việc kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam thì đã

được luật hóa và có nghị định hướng dẫn thi hành khá cụ thể và chi tiết,

còn hoạt động này của Lào tuy có được quy định trong sắc luật những

việc hướng dẫn cụ thể bằng một nghị định thì chưa được thực hiện, hơn

thế việc kiểm tra và xử lý các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ

quan nhà nước tại Lào được quy định rải rác trong các văn bản khác

nhau, điều này khiến cho việc so sánh luật là khó khăn

Theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật mà Quốc hội

Việt Nam thông qua 2008 thì việc giám sát, kiểm tra, xử lý văn bản quy

phạm pháp luật, hợp nhất văn bản và hoàn thiện hệ thống văn bản quy

phạm pháp luật được quy định tại Chương XI, theo đó, văn bản quy phạm

pháp luật phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giám sát, kiểm tra

theo quy định của pháp luật Việc giám sát, kiểm tra văn bản quy phạm

pháp luật được tiến hành nhằm phát hiện những nội dung sai trái hoặc

Trang 27

không còn phù hợp để kịp thời đình chỉ việc thi hành, sửa đổi, bổ sung,

hủy bỏ hoặc bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản, đồng thời kiến nghị

cơ quan có thẩm quyền xác định trách nhiệm của cơ quan, cá nhân đã ban

hành văn bản sai trái Nội dung giám sát, kiểm tra văn bản quy phạm

pháp luật thường bao gồm các nội dung: Sự phù hợp của văn bản với

Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và văn bản quy phạm pháp luật

của cơ quan nhà nước cấp trên; Sự phù hợp của hình thức văn bản với nội

dung của văn bản đó; Sự phù hợp của nội dung văn bản với thẩm quyền

của cơ quan ban hành văn bản; Sự thống nhất giữa văn bản quy phạm

pháp luật hiện hành với văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành

của cùng một cơ quan Trên cơ sở hoạt động giám sát, kiểm tra, xử lý văn

bản quy phạm pháp luật đó thì văn bản sửa đổi, bổ sung một số điều của

văn bản quy phạm pháp luật được hợp nhất về mặt kỹ thuật với văn bản

được sửa đổi, bổ sung và việc hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật do

Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định Đồng thời, mục đích của hoạt

động này cũng là nhằm rà soát, hệ thống hóa, pháp điển hệ thống quy

phạm pháp luật khiến cho việc ban hành, áp dụng văn bản quy phạm

pháp luật đạt hiệu quả

Tại Lào, trong Sắc luật về việc xây dựng văn bản quy phạm pháp

luật, việc kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật được quy định tại

Chương IV Theo đó, mục đích của việc theo dõi, kiểm tra tính đúng đắn

của việc ban hành một văn bản quy phạm pháp luật là nhằm làm cho

những văn bản quy phạm pháp luật được ban hành phù hợp với hiến

pháp, pháp luật và các văn bản quy phạm pháp luật khác và nhằm tạo ra

sự thống nhất giữa các văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp

luật Trong sắc luật này chưa đề cập đến nội dung của hoạt động kiểm

tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật cũng như các yếu tố khác như

trong pháp luật Việt Nam Điều này là do hiện nay tại Lào chưa có một

Trang 28

văn bản luật nào quy định cụ thể và rõ ràng, riêng biệt cho việc cho hoạt

động kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật

Như vậy tuy đã có sắc luật quy định về việc xây dựng văn bản

quy phạm pháp luật nhưng tại Lào việc quy định về kiểm tra, xử lý văn

bản quy phạm pháp luật mới chỉ dừng ở việc trình bày về mục đích của

việc kiểm tra, chứ chưa chỉ ra được nội dung cụ thể của hoạt động kiểm

tra xử lý văn bản quy phạm pháp luật Điều này cho thấy việc hoàn thiện

pháp luật về kiểm tra xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Lào hiện nay

là hoạt động hết sức có ý nghĩa và cần thiết

2.1 NHỮNG ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT TRONG QUY

ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THẨM QUYỀN KIỂM TRA VÀ XỬ LÝ VĂN

BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT Ở LÀO VÀ VIỆT NAM

2.1.1 Những điểm tương đồng trong quy định về thẩm quyền

kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật ở Lào và Việt Nam

Cùng là đất nước theo thể chế xã hội chủ nghĩa, thẩm quyền kiểm

tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật ở Lào và Việt Nam có nhiều

điểm tương đồng Từ việc nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt

Nam và pháp luật của Lào về kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp

luật, chúng ta có thể thấy được một số điểm tương đồng và khác biệt

trong các quy định của pháp luật về thẩm quyền kiểm tra và xử lý văn

bản quy phạm pháp luật của Lào và Việt Nam như sau:

Thứ nhất, Quốc hội của Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào và Quốc

hội của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với tư cách là cơ quan

quyền lực nhà nước cao nhất ở mỗi nước, trong quá trình thực hiện chức

năng và nhiệm vụ của mình, có thẩm quyền giám sát hoạt động của tổ

chức và cá nhân trong việc tổ chức thực hiện Hiến pháp, pháp luật, các

Trang 29

nghị quyết của các kì họp Quốc hội, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội,

ngân sách nhà nước Quốc hội của hai nước đều có quyền xem xét và bãi

bỏ toàn bộ hoặc một phần các văn bản quy phạm pháp luật của của Chủ

tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính

phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Thẩm phán Tòa án nhân dân tối

cao Điều này được thể hiện rất rõ trong Hiến pháp và Luật Ban hành

văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam cũng như Sắc luật về việc ban

hành văn bản quy phạm pháp luật của Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

Thứ hai, nguyên tắc các cơ quan cấp trên có quyền kiểm tra và xử

lý đối với văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan cấp dưới được xem là

một trong những nguyên tắc quan trọng trong pháp luật về thẩm quyền

kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật Khi tiến hành kiểm tra

văn bản quy phạm pháp luật, nếu cơ quan có thẩm quyền kiểm tra phát

hiện có sự vi phạm hiến pháp, pháp luật hoặc các văn bản của các cơ

quan cấp trên đã ban hành thì có quyền đình chỉ việc tổ chức thực hiện

hoặc bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ các văn bản quy phạm pháp luật đó

Thêm vào đó, trong trường hợp nếu có một cơ quan nào đó thấy rằng các

văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan cùng cấp trái với các văn

bản quy phạm pháp luật của mình thì có quyền đề nghị lên các cơ quan

cấp trên của cơ quan kia để xem xét đình chỉ thi hành hoặc bãi bỏ một

phần hoặc toàn bộ văn bản đó

Chẳng hạn, Nghị định 40/2010/NĐ-CP về kiểm tra, xử lý văn bản

quy phạm pháp luật của Việt Nam quy định: "Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ

quan ngang Bộ kiểm tra các văn bản có quy định liên quan đến lĩnh vực

quản lý nhà nước của Bộ, ngành mình do các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ

quan ngang Bộ khác, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

ban hành" [5]; và Luật Tổ chức chính phủ của Cộng hòa dân chủ nhân

Trang 30

dân Lào quy định: Bộ trưởng và thủ trưởng cơ quan ngang bộ có quyền

đình chỉ, hủy bỏ các quyết định, lệnh, và các văn bản của các cơ quan cấp

dưới trong phạm vi lĩnh vực quản lý của mình, và kiến nghị sửa đổi hoặc

đình chỉ, hủy bỏ các văn bản của các lĩnh vực khác, hoặc các cơ quan

hành chính ở địa phương trái với các quy định, nguyên tắc trong phạm vi

lĩnh vực quản lý hoặc trái với luật và các văn bản của cơ quan cấp trên

(Điều 28 Luật Tổ chức Chính phủ Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào)

Thứ ba, đối với việc kiểm tra và xử lý các văn bản của các cơ

quan nhà nước ở địa phương, thẩm quyền kiểm tra và xử lý văn bản quy

phạm pháp luật ở Việt Nam và Lào cũng có những điểm tương đồng

Theo Điều 14 Nghị định số 40/2010/NĐ-CP về kiểm tra, xử lý văn bản

quy phạm pháp luật của Việt Nam, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ

chức kiểm tra văn bản do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp

huyện ban hành Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện tổ chức kiểm tra

văn bản do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành Trong

khi đó, theo Điều 76 của Hiến pháp Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, ở

Lào cấp tỉnh là Tỉnh trưởng, cấp huyện là Huyện trưởng với tư cách là

người đứng đầu cơ quan nhà nước ở ở địa phương có quyền tổ chức thực

hiện việc kiểm tra các văn bản do cấp dưới lập ra Như vậy thẩm quyền

kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật của cấp tỉnh, huyện theo quy

định của pháp luật hai quốc gia là hoàn toàn giống nhau, điều này là do

chính quyền địa phương ở Việt Nam và Lào cùng được tổ chức theo ba

cấp: tỉnh, huyện và xã, ở mỗi cấp này đều có người đứng đầu như: Chủ

tịch (Việt Nam), hoặc Tỉnh trưởng (Lào)…và cùng chịu trách nhiệm trước

Thủ tướng Chính phủ về quản lý nhà nước trong phạm vi địa phương

Thứ tư, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ở hai nước là cơ quan giúp Thủ

tướng Chính phủ trong việc kiểm xử lý văn bản quy phạm pháp luật Bộ

Trang 31

Tư pháp ở hai nước đều được xem là cơ quan của Chính phủ, thực hiện

chức năng quản lý nhà nước về: công tác xây dựng và thi hành pháp luật;

kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật; phổ biến, giáo dục pháp luật; thi

hành án dân sự; Hành chính tư pháp; bổ trợ tư pháp và các công tác tư

pháp khác trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch vụ công

trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ

Trong việc kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật, pháp luật

Việt Nam và pháp luật Lào đều có quy định việc giao nhiệm vụ cho Bộ

trưởng Bộ Tư pháp trong việc giúp Chính phủ kiểm tra và xử lý văn bản

quy phạm pháp luật Cụ thể là, theo Điều 13 Nghị định số 40/2010/NĐ-CP

về kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam: Bộ trưởng

Bộ Tư pháp trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định: Đình chỉ

việc thi hành, hủy bỏ, bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ nội dung đối với:

Thông tư do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ ban hành, liên tịch

ban hành trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh,

nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ

tịch nước, nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính

phủ, các quy định về ngành, lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ, cơ quan

ngang Bộ khác; Quyết định, chỉ thị do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban

hành trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị

quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch

nước, nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ,

thông tư, thông tư liên tịch của các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang

Bộ và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp Đình chỉ việc thi

hành một phần hoặc toàn bộ nội dung đối với: Nội dung trái pháp luật

thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ, cơ quan ngang Bộ trong thông

tư liên tịch do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ với Chánh án

Trang 32

Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban

hành, đồng thời, yêu cầu các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ

thỏa thuận với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm

sát nhân dân tối cao cùng xử lý văn bản đó; nghị quyết của Hội đồng

nhân dân cấp tỉnh ban hành trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc

hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết

định của Chủ tịch nước, nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ

tướng Chính phủ, thông tư, thông tư liên tịch của các Bộ trưởng, Thủ

trưởng cơ quan ngang Bộ, đồng thời, đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc

hội bãi bỏ [5, Điều 16]

Theo Bản quyết định về vai trò và nhiệm vụ của Bộ Tư pháp Lào:

Bộ trưởng Bộ Tư pháp làm tham mưu cho Thủ tướng chính phủ về mọi

mặt, trình kế hoạch lập ra dự thảo các văn bản pháp luật, các văn bản quy

phạm pháp luật, việc xử lý, chỉnh lý nội dung văn bản pháp luật; Đề nghị

xử lý, chỉnh lý một số điểm, một số điều khoản của văn bản hay sửa đổi

tất cả, xóa bỏ hay ngừng áp dụng văn bản có nội dung trái với Hiến pháp

và pháp luật Bộ Tư pháp Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào cũng được

giao nhiệm vụ kiến nghị Thủ tướng Chính phủ để đình chỉ việc thi hành

một phần hoặc toàn bộ nội dung văn bản trái Hiến pháp và pháp luật do

Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ ban hành và các thông tư đã liên

quan với bộ; kiến nghị Thủ tướng chính phủ đình chỉ nội dung trái pháp

luật thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ, cơ quan ngang Bộ và các thông tư

liên tịch do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ với Chánh án Tòa án

nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành

Thứ năm, cả hai nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và

Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào đều không thành lập cơ quan chuyên

trách riêng để xem xét tính hợp hiến của các văn bản luật Ở hai nước,

Trang 33

Quốc hội đều được xem là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, là cơ

quan có thẩm quyền lập Hiến và lập pháp Quốc hội có quyền giám sát

đối với hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan

nhà nước Theo Điều 10, Luật giám sát của Quốc Hội, khi phát hiện văn

bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án

nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có dấu hiệu trái với

Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội thì Ủy ban Thường vụ Quốc hội

xem xét, đình chỉ việc thi hành và trình Quốc hội xem xét, quyết định

việc bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản đó tại kỳ họp gần nhất

Điều 61 Sắc luật về xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của

Lào quy định Quốc hội là tổ chức có quyền theo dõi, điều tra văn bản quy

phạm pháp luật của các tổ chức nhà nước các cấp Quốc hội có quyền xóa

bỏ toàn bộ hay một phần văn bản quy phạm pháp luật của Ban thường vụ

Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng chính phủ, Chánh án

Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao,

Mặt trận Lào xây dựng Tổ quốc và các tổ chức quần chúng cấp trung

ương khi thấy các văn bản đó trái với Hiến pháp hay luật theo đề nghị

của Ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng

chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát

nhân dân tối cao, Mặt trận Lào xây dựng Tổ quốc và các tổ chức quần

chúng cấp trung ương

Như vậy, về thẩm quyền kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm

pháp luật của Việt Nam và Lào có những điểm tương đồng rất dễ nhận

thấy Những điểm tương đồng trong quy định của pháp luật về thẩm

quyền kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật này là do hai quốc gia

có cùng thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội, cơ cấu tổ chức của

hai nhà nước khá tương đồng

Ngày đăng: 01/04/2018, 17:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w