Xã hội loài người đã và đang trải qua những hình thái kinh tế – xã hội khác nhau. Ở mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử xã hội loài người đều có những hiểu biết và cách giải thích các hiện tượng kinh tế – xã hội nhất định. Việc giải thích các hiện tượng kinh tế – xã hội ngày càng trở nên hết sức cần thiết đối với đời sống kinh tế của xã hội loài người. Lúc đầu nó chỉ xuất hiện dưới những hình thức tư tưởng kinh tế, về sau mới trở thành những quan niệm, quan điểm kinh tế có tính hệ thống của các giai cấp khác nhau, đáp ứng cho nhu cầu lý luận và bảo vệ các lợi ích của các giai cấp đó. Mặt khác, các trường phái lý luận qua các giai đoạn lịch sử khác nhau mang tính kế thừa, phát triển, cũng như phê phán có tính lịch sử của các trường phái kinh tế học. Trường phái kinh tế chính trị học tư sản đầu tiên là chủ nghĩa Trọng thương. Nó ra đời trong thời kỳ tích luỹ nguyên thuỷ tư bản. Đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị học lúc này là lĩnh vực lưu thông và đánh giá cao vai trò tiền tệ trong việc tích luỹ của cải. Con đường làm tăng của cải là thương nghiệp, là ngoại thương. Họ đòi hỏi sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế để tạo điều kiện cho chủ nghĩa tư bản ra đơì. Theo đà thâm nhập của tư bản vào lĩnh vực sản xuất, những vấn đề kinh tế của sản xuất nảy sinh vượt quá khả năng lý giải của chủ nghĩa Trọng thương; Đòi hỏi phải có những lý thuyết mới – Kinh tế chính trị học tư sản cổ điển xuất hiện. Kinh tế chính trị học tư sản cổ điển lần đầu tiên chuyển đối tượng nghiên cứu từ lĩnh vực lưu thông sang lĩnh vực sản xuất. Các đại biểu xuất sẵc của trường phái cổ điển là W.Petty, F.Quesnay, A.Smith, D.Ricacdo. Các ông nghiên cứu những vấn đề cơ bản của lý luận kinh tế chính trị học như thuyết giá trị lao động, tiền lương, lợi nhuận, lợi túc, tư bản, tích luỹ, tái sản xuất. Từ đó xây dựng nên hệ thống các phạm trù, quy luật kinh tế. Trường phái này ủng hộ tư tưởng tự do kinh tế, dưới sự chi phối của bàn tay vô hình, Nhà nước không can thiệp vào kinh tế. Song thực tế đã bác bỏ tư tưởng tự do kinh tế của trường phái cổ điển. Đồng thời thể hiện sự bất lực của kinh tế chính trị học tư sản cổ điển trước những hiện thực kinh tế mới. Trước bố cảnh đó, nhiều trào lưu kinh tế chính trị học nổi lên mà cơ bản là 2 trào lưu: Một là những nhà kinh tế tiếp tục thuyết tư sản cổ điển đã đổi mới và phát triển, Trường phái Keynes, tự do mới, chính hiện đại. Hai là kinh tế chính trị học Marx – Lenin. Trong hệ thống các các lý luận cơ bản của từng trường phái cũng như của cả quá trình lịch sử phát triển, lý luận giá trị lao động đóng vai trò hạt nhân, là cơ sở của các lý luận khác; Nó cũng bắt đầu sơ khai từ những tư tưởng kinh tế và được phát triển thành những quan niệm, khái niệm và đến Marx đã khái quát hoá thành những phạm trù, những hệ thống lý luận hoàn chỉnh mà nhờ đó giải thích được các hiện tượng kinh tế trong xã hội. Với những kiến thức tiếp cận được qua các bài giảng của Thầy giáo, qua một số tài liệu nghiên cứu hiện hành, trong phạm vi bản tiểu luận này, trên lập trường tư tưởng của chủ nghĩa Marx – Lenin, em xin chọn đề tài "Phân tích học thuyết giá trị lao động trong các học thuyết kinh tế"
Trang 1Mở đầu
Xã hội loài ngời đã và đang trải qua những hình thái kinh tế – xã hội khác nhau ở mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử xã hội loài ngời đều có những hiểu biết và cách giải thích các hiện tợng kinh tế – xã hội nhất định Việc giải thích các hiện tợng kinh tế – xã hội ngày càng trở nên hết sức cần thiết đối với đời sống kinh tế của xã hội loài ngời Lúc đầu nó chỉ xuất hiện dới những hình thức t tởng kinh tế, về sau mới trở thành những quan niệm, quan điểm kinh tế có tính hệ thống của các giai cấp khác nhau, đáp ứng cho nhu cầu lý luận và bảo vệ các lợi ích của các giai cấp đó Mặt khác, các tr-ờng phái lý luận qua các giai đoạn lịch sử khác nhau mang tính kế thừa, phát triển, cũng nh phê phán có tính lịch sử của các trờng phái kinh tế học
Trờng phái kinh tế chính trị học t sản đầu tiên là chủ nghĩa Trọng
th-ơng Nó ra đời trong thời kỳ tích luỹ nguyên thuỷ t bản Đối tợng nghiên cứu của kinh tế chính trị học lúc này là lĩnh vực lu thông và đánh giá cao vai trò tiền tệ trong việc tích luỹ của cải Con đờng làm tăng của cải là thơng nghiệp, là ngoại thơng Họ đòi hỏi sự can thiệp của Nhà nớc vào nền kinh tế
để tạo điều kiện cho chủ nghĩa t bản ra đơì
Theo đà thâm nhập của t bản vào lĩnh vực sản xuất, những vấn đề kinh
tế của sản xuất nảy sinh vợt quá khả năng lý giải của chủ nghĩa Trọng thơng;
Đòi hỏi phải có những lý thuyết mới – Kinh tế chính trị học t sản cổ điển xuất hiện
Kinh tế chính trị học t sản cổ điển lần đầu tiên chuyển đối tợng nghiên cứu từ lĩnh vực lu thông sang lĩnh vực sản xuất Các đại biểu xuất sẵc của tr-ờng phái cổ điển là W.Petty, F.Quesnay, A.Smith, D.Ricacdo Các ông nghiên cứu những vấn đề cơ bản của lý luận kinh tế chính trị học nh thuyết giá trị lao động, tiền lơng, lợi nhuận, lợi túc, t bản, tích luỹ, tái sản xuất Từ
đó xây dựng nên hệ thống các phạm trù, quy luật kinh tế Trờng phái này
Trang 2ủng hộ t tởng tự do kinh tế, dới sự chi phối của bàn tay vô hình, Nhà nớc không can thiệp vào kinh tế
Song thực tế đã bác bỏ t tởng tự do kinh tế của trờng phái cổ điển Đồng thời thể hiện sự bất lực của kinh tế chính trị học t sản cổ điển trớc những hiện thực kinh tế mới Trớc bố cảnh đó, nhiều trào lu kinh tế chính trị học nổi lên mà cơ bản là 2 trào lu:
Một là những nhà kinh tế tiếp tục thuyết t sản cổ điển đã đổi mới và phát triển, Trờng phái Keynes, tự do mới, chính hiện đại
Hai là kinh tế chính trị học Marx – Lenin
Trong hệ thống các các lý luận cơ bản của từng trờng phái cũng nh của cả quá trình lịch sử phát triển, lý luận giá trị lao động đóng vai trò hạt nhân,
là cơ sở của các lý luận khác; Nó cũng bắt đầu sơ khai từ những t tởng kinh
tế và đợc phát triển thành những quan niệm, khái niệm và đến Marx đã khái quát hoá thành những phạm trù, những hệ thống lý luận hoàn chỉnh mà nhờ
đó giải thích đợc các hiện tợng kinh tế trong xã hội
Với những kiến thức tiếp cận đợc qua các bài giảng của Thầy giáo, qua một
số tài liệu nghiên cứu hiện hành, trong phạm vi bản tiểu luận này, trên lập
tr-ờng t tởng của chủ nghĩa Marx – Lenin, em xin chọn đề tài "Phân tích học
thuyết giá trị lao động trong các học thuyết kinh tế"
Trang 3Nội dung
I-/ Sự ra đời các học thuyết kinh tế cổ điển
Vào cuối thế kỷ XVIII, ở nớc Anh và Pháp học thuyết kinh tế cổ điển xuất hiện Vào thời kỳ này, sau khi tích luỹ đợc khối lợng tiền tệ lớn, giai cấp t sản tập trung phát triển lĩnh vực sản xuất Vì vậy, các công trờng thủ công trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp và nông nghiệp phát triển mạnh
mẽ Diễn ra việc tớc đoạt ruộng đất của nông dân, hình thành giai cấp vô sản
và chủ chiếm hữu ruộng đất Sự tồn tại của chế độ phong kiến không chỉ kìm hãm sự phát triển của chủ nghĩa t bản mà còn làm sâu sắc hơn mâu thuẫn trong giai cấp quý tộc Trong giai cấp này cũng dần bị t sản hoá Nếu trong thời kỳ chủ nghĩa trọng thơng sự hoạt động của t bản chủ yếu là trong lĩnh vực lu thông thì do kết quả sự phát triển của công trờng thủ công, t bản đã chuyển sang lĩnh vực sản xuất Nhiều vấn đề kinh tế của sản xuất đợc đặt ra vợt quá khả năng giải thích của học thuyết chủ nghĩa KTTT Điều đó đòi hỏi phải có học thuyết kinh tế mới soi đờng Học thuyết kinh tế cổ điển xuất hiện
Học thuyết kinh tế cổ điển là xu hớng của t tởng kinh tế t sản phát sinh trong thời kỳ hình thành phơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa Các nhà kinh
tế học của trờng phái này lần đầu tiên chuyển đối tợng nghiên cứu từ lĩnh vực lu thông sang lĩnh vực sản xuất, nghiên cứu các vấn đề kinh tế của nền sản xuất t bản chủ nghĩa đặt ra Lần đầu tiên họ xây dựng một hệ thống các phạm trù và các quy luật của nền kinh tế thị trờng, nh phạm trù giá trị, giá cả, lợi nhuận, tiền lơng, địa tô, các quy luật giá trị cung cầu, lu thông tiền tệ Lần đầu tiên họ áp dụng phơng pháp trừu tợng hoá nghiên cứu mối liên
hệ nhân quả để vạch ra bản chất và các quy luật vận động của quan hệ sản xuất TBCN Họ ủng hộ t tởng tự do kinh tế, chống lại sự can thiệp của Nhà nớc vào kinh tế Tuy vậy những kết luận của họ còn mang tính lịch sử, lẫn lộn giữa yếu tố khoa học và yếu tố tầm thờng
Trang 4ở nớc Anh học thuyết kinh tế cổ điển bắt đầu từ William Petty và kết thúc ở D Ricardor
III-/ lý luận giá trị trong các học thuyết kinh tế chính trị t sản cổ điển Anh:
Chủ nghĩa Trọng thơng đã trở thành lỗi thời và bắt đầu tan rã ngay từ thế kỷ XVII, trớc hết là Anh, một nớc phát triển nhất về mặt kinh tế Tiền đề của việc đó đợc tạo ra chủ yếu là do sự phát triển các công trờng thủ công ở Anh, đặc biệt là trong nhành dệt, sau đó là công nghiệp khai thác Giai cấp t
sản đã nhận thức đợc rằng: “muốn làm giàu phải bóc lột lao động, lao động làm thuê của những ngời nghèo là nguồn gốc làm giàu vô tận cho những
ng-ời giàu ”
Tất cả những điều kiện kinh tế, xã hội khoa học của cuối thế kỷ XVII
đã chứng tỏ thời kỳ tích luỹ ban đầu của t bản đã kết thúc và thời kỳ sản xuất
t bản chủ nghĩa bắt đầu Tính chất phiến diện của học thuyết trọng thơng trở nên quá rõ ràng, đòi hỏi phải có lý luận mới để đáp ứng với sự vận động và phát triển của sản xuất t bản chủ nghĩa Trên cơ sở đó, kinh tế chính trị học
cổ điển Anh ra đời
Theo Marx, kinh tế chính trị học cổ điển Anh bắt đầu từ William Petty
và kết thúc ở David Ricacdo
1-/ William Petty – Ng ời đầu tiên đa ra nguyên lý lao động quyết
định giá trị trong kinh tế chính trị học t sản:
William Petty (1623-1687) là một trong những ngời sáng lập ra học thuyết kinh tế cổ điển ở Anh Ông sinh ra trong một gia đình thợ thủ công,
có trinh độ tiến sĩ vật lý, là nhạc trởng, là ngời phát minh ra máy chữ Ông là ngời áp dụng phơng pháp mới trong nghiên cứu khoa học, đợc gọi là phơng pháp khoa học tự nhiên
Trong tác phẩm “Bàn về thuế khoá và lệ phí”., 1662 W.Petty nghiên cứu
về giá cả, chia giá cả thành hai loại: Giá cả tự nhiên và giá cả chính trị Theo
ông giá cả chính trị (giá cả thị trờng) phụ thuộc vào nhiều yếu tố ngẫu nhiên,
nó thay đổi phụ thuộc vào giá cả tự nhiên và quan hệ cung cầu hàng hoá trên
Trang 5thị trờng, do đó khó xác định; Còn giá cả tự nhiên (tức giá trị) là do thời gian lao động hao phí quyết định và năng suất lao động có ảnh hởng đến mức hao phí đó Nh vậy, Petty là ngời đầu tiên đã tìm thấy cơ sở giá cả tự nhiên là lao
động, thấy đợc quan hệ giữa lợng giá trị và năng suất lao động Ông kết luận rằng: số lợng lao động bằng nhau bỏ vào sản xuất là cơ sở để so sánh giá trị hàng hoá Giá cả tự nhiên (giá trị) tỷ lệ nghịch với năng suất lao động khai thác vàng và bạc Ông có ý định đặt vấn đề lao động phức tạp và lao động giản đơn nhng không thành
Nh vậy, W.Petty chính là ngời đầu tiên trong lịch sử đặt nền móng cho
lý thuyết giá trị lao động Tuy lý thuyết giá trị - lao động của ông còn có những hạn chế cha phân biệt đợc các phạm trù giá trị, giá trị trao đổi với giá cả Ông tập trung nghiên cứu về giá cả một bên là hàng hoá, một bên là tiền, tức là ông mới chú ý nghiên cứu về mặt lợng Ông nhận thức đợc rằng giá trị của tiền tệ cũng là do lợng lao động quyết định, từ đó khắc phục đợc các kiến giải không những không thể trừu tợng hoá đợc giá trị từ giá trị trao đổi,
mà còn không trừu tợng hoá đợc giá trị trao đổi từ giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị, mà ông đã lẫn lộn hai cái đó Ông cũng chia lao động ra làm hai loại: một loại lao động sản xuất ra vàng và bạc, một loại khác là lao động sản xuất ra những hàng hoá bình thờng Ông cho rằng chỉ có lao động khai thác vàng và bạc mới có giá trị trao đổi, còn các lao động khác thì chỉ khi trao đổi hàng và tiền mới này sinh giá trị trao đổi Theo ông, giá trị hàng hoá chính là sự phản ánh giá trị tiền tệ cũng nh ánh sáng của mặt trăng là sự phản chiếu ánh sáng mặt trời vậy Đó là ảnh hởng t tởng chủ nghĩa Trọng
th-ơng rất nặng ở ông
Petty đã lẫn lộn lao động với t cách là nguồn gốc của giá trị với lao
động với t cách là nguồn gốc của giá trị sử dụng, nghĩa là ông đã đồng nhất lao động trừu tợng với lao động cụ thể Từ đó Petty có ý định đo giá trị bằng
hai đơn vị lao động và đất đai Ông nêu ra câu nói nổi tiếng: “Lao động là cha, còn đất là mẹ của của cải ” Về phơng diện của cải nói nh vậy là đúng, chỉ rõ nguồn gốc giá trị sử dụng Nhng cái mà ông muốn nói đến là giá trị,
ông nói: việc xem xét giá trị của tất cả mọi hàng hoá đều phải xuất phát từ hai yếu tố tự nhiên, tức là đất đai và lao động Nói nh vậy ông đã đi ngợc lại
Trang 6kết luận đúng đắn của chính mình là giá trị đợc quyết định bởi thời gian lao
động hao phí trong quá trình sản xuất hàng hoá
2-/ Adam Smith – Ng ời đầu tiên trình bày một cách có hệ thống lý luận giá trị lao động và những yếu tố tầm thờng còn tồn tại trong lý luận của ông:
Adam Smith (1723-1790) là nhà kinh tế chính trị cổ điển nổi tiếng ở Anh và trên thế giới Ông là nhà t tởng tiên tiến của giai cấp t sản, ông muốn thủ tiêu tàn tích phong kiến, mở đờng cho chủ nghĩa t bản phát triển, kêu gọi tích luỹ và phát triển lực lợng sản xuất theo ý nghĩa t bản, xem chế độ t bản chủ nghĩa là hợp lý duy nhất Marx coi A.Smith là nhà kinh tế học tổng hợp của công trờng thủ công
A.Smith đã phân biệt rõ ràng giá trị sử dụng với giá trị trao đổi Ông
nói: “Giá trị có hai nghĩa khác nhau, có lúc nó biểu thị hiệu quả sử dụng nh
là một vật phẩm đặc biệt, có lúc biểu thị sức mua do chỗ chiếm hữu một vật nào đó mà có đợc đối với vật khác Cái trớc gọi là giá trị sử dụng, và cái sau gọi là giá trị trao đổi ” Ông còn chứng minh rõ quan hệ giữa giá trị sử dụng
và giá trị trao đổi Những thứ có giá trị sử dụng rất lớn thờng có giá trị trao
đổi cực nhỏ, thậm chí còn không có Ví dụ: Không có gì hữu ích bằng n“ ớc, nhng với nó thì không thể mua đợc gì” Ngợc lại, những thứ có giá trị trao
đổi rất lớn, thờng có giá trị sử dụng cực nhỏ, thậm chí không có Việc phân biệt rõ ràng hai khái niệm giá trị sử dụng và giá trị trao đổi này đồng thời giải thích rõ là giá trị trao đổi lớn hay nhỏ không liên quan gì đến giá trị sử dụng, đó là công lao của A.Smith Nhng ông cho rằng những thứ không có giá trị sử dụng có thể có giá trị trao đổi thì lại sai lầm
Theo A.Smith giá trị trao đổi là do lao động quyết định, giá trị trao đổi
là do hao phí lao động để sản xuất ra hàng hoá quyết định Đó là khái niệm
đúng đắn về giá trị Lao động là thớc đo thật sự để xác định giá trị trao đổi của mọi thứ hàng hoá Việc xác nhận lao động quyết định giá trị hàng hoá là công lao và thành tích khoa học của ông Nhng ông không hiểu đợc tính chất xã hội của loại lao động này Vì thế, khi đi sâu tìm hiểu thêm xem lao động gì quyết định giá trị của hàng hoá , lao động xác định giá trị hàng hoá nh thế
Trang 7nào thì ông rơi vào hỗn loạn Một mặt ông cho rằng lao động quyết định giá trị hàng hoá là lao động tiêu hao để sản xuất ra hàng hoá Lợng giá trị của hàng hoá tỷ lệ thuận với lợng thời gian lao động hao phí trong sản xuất
Đồng thời ông còn nghiên cứu sự phân biệt giữa lao động giản đơn và lao
động phức tạp, ông cho rằng trong cùng một thời gian, lao động phức tạp tạo
ra giá trị nhiều hơn là lao động đơn giản Nhng đồng thời ông lại cho rằng giá trị một hàng hóa bằng số lợng lao động mà ngời ta có thể mua đợc nhờ hàng hoá đó Đây là điều luẩn quẩn và sai lầm của A.Smith, dùng giá trị quyết định giá trị Ông đã lẫn lộn vấn đề giá trị đã đợc quyết định nh thế nào trong sản xuất và giá trị đã biểu hiện nh thế nào trong trao đổi
Về cấu thành giá trị của hàng hoá Theo A.Smith trong sản xuất t bản chủ nghĩa, tiền lơng, lợi nhuận và địa tô là ba nguồn gốc đầu tiên của mọi thu nhập, cũng nh mọi giá trị trao đổi A.Smith coi tiền lơng, lợi nhuận và
địa tô là ba nguồn gốc đầu tiên của mọi thu nhập, đó là quan điểm đúng đắn Song ông lại tầm thờng ở chỗ coi các khoản thu nhập là nguồn gốc đầu tiên của mọi giá trị trao đổi Ông đã lẫn lộn hai vấn đề hình thành giá trị và phân phối giá trị, giá trị của hàng hoá với giá trị mới sáng tạo ra của lao động; Hơn nữa, ông cũng đã xem thờng t bản bất biến, coi giá trị hàng hoá chỉ có (V+m)
A.Smith nghiên cứu quy luật giá trị và tác dụng của nó Ông đã phân biệt giá cả tự nhiên với giá cả thị trờng Ông khẳng định hàng hoá đợc bán theo giá cả tự nhiên, nếu giá cả đó ngang với mức cần thiết để trả cho tiền
l-ơng, lợi nhuận và địa tô Theo ông, giá cả tự nhiên là trung tâm Giá cả thị tr-ờng là giá bán thực tế của hàng hoá, giá cả này nhất trí với giá cả tự nhiên khi hàng hoá đợc đa ra thị trờng với số lợng đủ “thoả mãn lợng cầu thực tế” Nhng do sự biến động của cung cầu là cho giá cả thị trờng chênh lệch với giá cả tự nhiên Bản thân giá cả tự nhiên cũng thay đổi cùng với tỷ suất tự nhiên của mỗi bộ phận cấu thành nó Ông đã nhận thấy giá cả trong chủ nghĩa t bản đợc đặt ra khác với trớc đây Nhng ông không thấy đợc trong chủ nghĩa t bản quá trình thực hiện giá trị gắn liền với việc phân phối lại giá trị dới hình thái lợi nhuận, địa tô và lợi tức Ông đã vấp vào vấn đề giá cả sản xuất Có thể thấy rằng, không những ông coi giá cả dao động xung quanh giá trị là một hiện tợng có tính quy luật, mà còn chứng minh rã tác dụng điều
Trang 8tiết của quy luật giá trị đối với sản xuất hàng hoá Nhng do chỗ không hiểu
đợc mối liên hệ nối tại giữa giá trị và giá cả, ông không giải thích đợc sự xa rời giá cả khỏi giá trị chính là hình thức tác động của quy luật giá trị
Công lao chủ yếu của A.Smith về lý luận giá trị là đã phân biệt đợc giá
trị sử dụng và giá trị trao đổi, hơn nữa, ông đã cho rằng lao động là th “ ớc đo thực tế của giá trị” Nhng do hạn chế về lập trờng, quan điểm và phơng pháp
nên lý luận giá trị của ông vừa có yếu tố khoa học lại vừa có yếu tố tầm th-ờng
3-/ Lý luận về giá trị lao động của David Ricacdo đã đạt tới đỉnh cao của kinh tế chính trị học cổ điển của giai cấp t sản:
David Ricacdo (1772-1823) sinh trong một gia đình giàu có làm nghề chứng khoán, một nhà t bản có địa vị trong số các gia đình giàu có ở châu
Âu Ông hoạt động trong thời kỳ cuộc cách mạng công nghiệp đã hoàn thành; Phơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa đã xác lập địa vị thống trị hoàn toàn và phát triển trên cơ sở chính nó, với hai giai cấp cơ bản: giai cấp t sản
và giai cấp vô sản đối lập nhau Mâu thuẫn giữa hai giai cấp bọc lộ rõ ràng hơn Ông cũng nhìn nhận đợc mâu thuẫn giai cấp trong xã hội t bản chủ nghĩa, ông đã vạch ra đợc những cơ sở kinh tế của các mâu thuẫn đó Ông công khai bảo vệ lợi ích cho giai cấp t sản công nghiệp với ý thức để thúc
đẩy sự phát triển của nớc Anh T tởng kinh tế của ông có nhiều điểm tiến bộ, vì nó hình thành trong thời kỳ giai cấp t sản đang lên (giai cấp tiến bộ chống lại chế độ phong kiến, cha lộ rõ mặt phản động của nó), còn giai cấp vô sản cha đủ mạnh, và sự giác ngộ về sứ mệnh lịch sử của mình cha đầy đủ
Lý luận giá trị chiếm vị trí quan trọng trong hệ thống quan điểm của
Ricacdo Ông định nghĩa giá trị hàng hoá nh sau: Giá trị của hàng hoá hay“
số lợng của một hàng hoá nào khác mà hàng hoá đó trao đổi, là do số lợng lao động tơng đối, cần thiết để sản xuất ra hàng hoá đó quyết định, chứ không phải do khoản thởng lớn hay nhỏ trả cho lao động đó quyết định ” Cũng nh A.Smith, Ricacdo đã phân biệt rõ hai thuộc tính của hàng hoá
là giá trị sử dụng và giá trị trao đổi Ông bác bỏ lý luận giá trị sử dụng quyết
định giá trị hàng hoá, ông đã chứng minh rằng các nhân tố tự nhiên giúp con
Trang 9ngời tạo nên giá trị sử dụng, nhng không thêm một phân tử gì vào giá trị
hàng hoá cả Ông có ý kiến kiệt xuất rằng: “Tính hữu ích không phải là thớc
đo giá trị trao đổi, mặc dù hàng hoá rất cần thiết giá trị này Giá trị khác” “
xa với của cải, giá trị không phụ thuộc vào việc có nhiều hay ít của cải, mà tuỳ thuộc vào điều kiện sản xuất khó khăn hay thuận lợi ” Theo ông sở dĩ có
nhiều lầm lẫn trong khoa học kinh tế chính trị là do ngời ta coi “sự tăng của cải và tăng giá trị là một”., là do ngời ta quên rằng thớc đo giá trị cha phải là
thớc đo của cải vì của cải không phụ thuộc vào giá trị Theo ông giá trị trao
đổi hàng hoá đợc quy định bởi lợng lao động chứa đựng trong hàng hoá,
l-ợng lao động đó tỷ lệ thuận với lao động tạo ra hàng hoá Tính hữu ích“
không tăng cùng nhịp độ với tăng giá trị , tính hữu ích là cần thiết vì vật” “
không có ích, nó không có đợc giá trị trao đổi ”
Ricacdo cho rằng hàng hoá hữu ích sở dĩ có giá trị trao đổi là do hai nguyên nhân:
- Tính chất khan hiếm
- Lợng lao động cần thiết để sản xuất ra chúng
Nh vậy là ông đã nhận thức đợc giá trị trao đổi đợc quyết định bởi lợng lao động đồng nhất của con ngời, chứ không phải là lợng lao động hao phí cá biệt Về điểm này ông là ngời đầu tiên đã phân biệt đợc lao động cá biệt và lao động xã hội Nhng lầm lẫn của ông là cho rằng giá trị hàng hoá đợc điều tiết bởi lợng lao động lớn nhất hao phí trong những điều kiện xấu (Về điểm này thì Marx xác định trong điều kiện trung bình)
Ricacdo phân biệt giá cả tự nhiên và giá cả thị trờng Ông cho rằng, không một hàng hoá nào mà giá cả không bị ảnh hởng của biến động ngẫn nhiên hay tạm thời Nhng nguyện vọng của các nhà t bản luôn có xu hớng muốn rút số vốn của mình ra khỏi một công việc kinh doanh ít lãi và đầu t vào một công việc kinh doanh có lãi hơn, nguyện vọng đó không cho phép giá cả thị trờng của các hàng hoá dừng lâu ở một mức nào đó cao hơn nhiều hay thấp hơn nhiều so với giá cả tự nhiên của chúng
Trang 10Đề cập vấn đề tăng giá cả, Ricacdo viết rằng, việc tăng giá cả lên có thể
là một nhân tố điều tiết một lợng cung không đủ so với một lợng cầu đang phát triển, điều tiết việc tiền tệ sụt giá, việc đánh thuế vào những vật phẩm thiết yếu, ông đã cố gắng tìm hiểu sự vận động của giá cả Theo ông giá cả không phải do cung cầu quyết định, quyết định mức giá ở trong tay những
ngời sản xuất, cung cầu chỉ ảnh hởng đến giá cả Ông viết: “Cái có tính chất
điều tiết giá trị là hao phí lao động sản xuất, không phải quan hệ cung cầu
và tâm trạng ngời mua ” Ông viết rõ hơn chỉ khi nào không có cạnh tranh thì
tỷ lệ trao đổi có thể do nhu cầu của ng“ ời ta và do sự đánh giá tơng đối của ngời ta đối với hàng hoá” quyết định Còn trong điều kiện cạnh tranh thì giá cả rốt cuộc sẽ do cạnh tranh giữa những ng“ ời bán điều tiết ”
Ricacdo chứng minh một cách tài tình rằng, giá trị hàng hoá giảm khi năng suất lao động tăng lên – Dự đoán thiên tài của Petty đợc ông luận chứng Ông gạt bỏ sai lầm của A.Smith cho rằng lao động trong nông nghiệp
có năng suất cao hơn và cho rằng sự tăng lên của của caỉ đi kèm với giá trị của nó giảm
Ricacdo đã trình bày lý luận giá trị của mình từ việc phê phán A.Smith
Ông đã gạt bỏ tính không triệt để, không nhất quán về cách xác định giá trị của A.Smith: Giá trị = Lao động mua đợc Ricacdo kiên định với quan điểm: lao động là nguồn gốc của giá trị, công lao to lớn của ông là đã đứng trên quan điểm đó để xây dựng lý luận khoa học của mình Đồng thời ông cũng phê phán A.Smith cho rằng giá trị là do các nguồn gốc thu nhập hợp thành Theo ông giá trị hàng hoá không phải do các nguồn gốc thu nhập hợp thành,
mà ngợc lại đợc phân thành các nguồn thu nhập
Về cơ cấu giá trị hàng hoá, ông cũng có ý kiến khác với sai lầm giáo
điều của A.Smith bỏ C ra ngoài giá trị hàng hoá Ricacdo cho rằng: giá trị hàng hoá không chỉ do lao động trực tiếp tạo ra, mà còn là lao động cần thiết trớc đó nữa nh máy móc, nhà xởng – Tức ông chỉ biết có C1, chỉ có đến Marx mới hoàn chỉnh đợc công thức giá trị hàng hoá = C+V+m
Mặt hạn chế trong lý luận giá trị của Ricacdo là ở chỗ ông cha vợt qua
đợc các cửa ải là không nhận đợc tính hai mặt của lao động sản xuất hàng