Để xây dựng được một hệ thống pháp luật thực sự của dân, do dân, vì dân; góp phần có hiệu quả vào việc thực hiện quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân; đảm bảo tính ổn định, phúc đáp các
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
PHÍ THỊ THANH TUYỀN
PHÁP ĐIỂN HÓA – NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Lý luận Nhà nước và pháp luật
Mã số: 60 38 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Vương Long
HÀ NỘI - 2010
Trang 2MỤC LỤC
Trang
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ Lí LUẬN VỀ PHÁP ĐIỂN HểA
VÀ PHÁP ĐIỂN HểA VIỆT NAM
9
1.1 Một số quan điểm cơ bản trên thế giới về pháp điển
hoá
9
1.1.1 Pháp điển hoá ở các nước thuộc hệ thống pháp luật
châu Âu lục địa
9
1.1.2 Pháp điển hoá ở các nước thuộc hệ thống pháp luật
Ănglô Sắc xông
14
1.1.3 Pháp điển hoá ở Liên xô (cũ) và các nước xã hội chủ nghĩa 18
1.2.1 Pháp điển hoá có vai trò hỗ trợ đối với quá trình
1.2.3 Pháp điển hoá góp phần nâng cao hiệu quả, hiệu
lực và giá trị điều chỉnh của pháp luật, hỗ trợ các chủ thể trong quá trình áp dụng pháp luật
21
1.2.4 Pháp điển hoá giúp cho người dân có điều kiện tốt
hơn để tiếp cận, chủ động sử dụng pháp luật
22
1.3 Lý luận pháp điển hoá ở Việt Nam hiện nay 23
1.3.1 Khái niệm, đặc điểm của pháp điển hoá 23
1.3.3 Các nguyên tắc cơ bản của pháp điển hoá 43 Chương 2 Thực trạng và giải phỏp nõng cao hiệu quả của 47
Trang 3phỏp điển húa Việt Nam hiện nay
2.1 Thực trạng pháp điển hoá ở Việt Nam hiện nay 47
2.1.3 Nguyên nhân của những hạn chế đối với pháp điển
hoá ở nước ta hiện nay
61
2.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả của pháp điển hoá ở
Việt Nam hiện nay
phẩm pháp điển hoá
71
2.2.6 Thời hạn và các điều kiện để bảo đảm cho pháp điển
hoá được thực hiện hiệu quả
72
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn thiện bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất, đồng bộ và phù hợp với thực tiễn là một trong những chủ trương quan trọng của Đảng và Nhà nước ta trong công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay Trong đó, việc rà soát, hệ thống hoá pháp luật đặc biệt hoạt động pháp điển hoá là một trong những khâu then chốt trong quy trình hoàn thiện hệ thống pháp luật, giúp phát hiện ra những “kẽ h”, “lỗ hổng”, những vấn đề chưa được pháp luật điều chỉnh nhằm đưa ra những giải pháp “lấp đầy” hệ thống pháp luật khắc phục tình trạng “lách luật” vẫn còn tồn tại trong xã hội hiện nay
Điều 12 Hiến pháp năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung quy định: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa” Như vậy, pháp luật đã tr thành công cụ hữu hiệu để Nhà nước
thực hiện chức năng pháp lý của mình Với những yêu cầu của việc xây dựng
và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam nhằm phục vụ cho mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền và chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 là nhiệm vụ hoàn thiện các chính sách pháp luật đặc biệt là chính sách pháp luật hình sự, dân sự và pháp luật tố tụng Để xây dựng được một hệ thống pháp luật thực sự của dân, do dân, vì dân; góp phần có hiệu quả vào việc thực hiện quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân; đảm bảo tính ổn định, phúc đáp các yêu cầu phát triển của xã hội; đảm bảo sự điều chỉnh hài hoà của hệ thống pháp luật với các quy phạm xã hội; xây dựng một hệ thống pháp luật có tính đồng bộ, cân đối; có khả năng tiếp nhận có chọn lọc những giá trị, nguyên tắc của pháp luật, của nền văn minh pháp lý nhân loại; thực hiện được những định hướng cơ bản của quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật thì hoạt động pháp điển hoá là một vấn đề hết sức quan trọng và cần thiết
Trang 5Trong thời gian qua công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luậtcủa nước ta đã có bước chuyển biến cơ bản ví như số lượng văn bản ban hành hàng năm nhiều hơn, các văn bản được ban hành đã bước đầu điều chỉnh được các quan hệ xã hội mới phát sinh trong đời sống Có thể nói nước ta đã ban hành ra một khối lượng rất lớn các văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội trong các lĩnh vực của đời sống Tuy nhiên, cũng chính tình trạng ban hành các văn bản quy phạm pháp luật một cách ồ
ạt, nhanh chóng như vậy đã gây không ít những hạn chế như công tác thẩm định văn bản còn yếu, một số văn bản ban hành còn nhiều sai sót, công tác kiểm tra và tự kiểm tra văn bản chưa được thực hiện một cách nghiêm túc, công tác rà soát và hệ thống hoá pháp luật thực hiện chưa đạt kết quả cao trong đó đặc biệt là hoạt động pháp điển hoá thực hiện còn chưa tốt, hiệu quả chưa cao …Chính những tồn tại nêu trên đã gây nhiều khó khăn cho nước ta trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền Hơn thế nữa, trong xu thế hội nhập quốc tế, tình hình kinh tế - xã hội của đất nước luôn có sự biến đổi kéo theo sự thay đổi của các quan hệ xã hội, đòi hỏi hệ thống pháp luật cũng cần phải có sự thay đổi, điều chỉnh cho phù hợp, việc hoàn thiện pháp luật ngày càng tr nên cần thiết và yêu cầu rà soát, pháp điển hoá ngày càng tr nên cấp bách
Pháp điển hoá là một trong những hoạt động đặc biệt quan trọng của công tác hệ thống hoá pháp luật S dĩ pháp điển hoá được coi là một hoạt động đặc biệt, cấp bách trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật là bi một số lý do sau đây: 1- Pháp điển hoá không đơn thuần chỉ là sự rà soát, tập hợp các văn bản pháp luật, mà thông qua quá trình rà soát, tập hợp để phát hiện ra sự mâu thuẫn, chồng chéo của các văn bản pháp luật để kịp thời sửa đổi, bổ sung cho phù hợp; 2- Thông qua hoạt động pháp điển hoá sẽ giúp quá trình áp dụng pháp luật được thống nhất trong phạm vi cả nước, khắc phục tình trạng mỗi nơi, mỗi địa phương hiểu và áp dụng một cách khác nhau; 3- Hoạt động pháp điển hoá pháp luật một cách có hiệu quả còn có một vai trò
Trang 6đặc biệt quan trọng, nú tạo ra những tiền đề phỏp lý cần thiết cho nước ta khi tiến hành hội nhập kinh tế quốc tế, xõy dựng nhà nước phỏp quyền xó hội chủ nghĩa
Việt Nam hiện nay, pháp điển hoá cũng thu hút sự quan tâm của khá nhiều các nhà nghiên cứu và hiện đang là vấn đề quan tâm hàng đầu đối với quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật Do là một vấn đề phức tạp nên xung quanh những vấn đề lý luận pháp điển hoá còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau của các nhà nghiên cứu như pháp điển hoá là gì? hay quy trình pháp điển hoá ra sao? Sản phẩm cuối cùng của pháp điển hoá là gì? Từ những hạn chế
về mặt lý luận đã dẫn đến việc thực hiện pháp điển hoá trên thực tế hiệu quả chưa cao Một trong những biểu hiện rất rừ đú chớnh là hoạt động ban hành, sửa đổi, bổ sung một số cỏc bộ luật, luật, văn bản dưới luật nước ta cũn nhiều yếu kộm, tỡnh trạng cỏc văn bản luật quy định trựng lặp, chồng chộo thậm chớ cỏc văn bản luật mõu thuẫn nhau vẫn cũn tồn tại khỏ nhiều Chớnh thực trạng nờu trờn đó gõy cho nước ta khụng ớt khú khăn trong quỏ trỡnh hội nhập kinh
tế - quốc tế, xõy dựng nhà nước phỏp quyền xó hội chủ nghĩa Bi vậy một trong những yờu cầu hết sức bức thiết đặt ra cho nước ta hiện nay là cần phải đẩy nhanh hoạt động phỏp điển hoỏ một cỏch cú hiệu quả
Nhận thức rừ tầm quan trọng cũng như ý nghĩa hoạt động phỏp điển hoỏ Việt Nam hiện nay nờn tụi đó chọn vấn đề “Phỏp điển hoỏ – những vấn
đề lý luận và thực tiễn Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ
2 Tỡnh hỡnh nghiờn cứu hiện nay
Cho đến nay trong phạm vi cả nước đã cú cỏc cụng trỡnh nghiờn cứu một số vấn đề của phỏp điển hoỏ Cú thể kể tới một số cụng trỡnh nghiờn cứu
như: “Lý luận phỏp điển hoỏ phỏp luật và vấn đề của Việt Nam” của TS
Nguyễn Am Hiểu, Tạp chớ Nhà nước và Phỏp luật, số 6/2006; Luận văn thạc
sĩ luật học của Đào Trọng Giỏp “Cụng tỏc hệ thống hoỏ phỏp luật của cỏc cấp chớnh quyền tỉnh Gia Lai – thực trạng và giải phỏp”; “Một cỏch tiếp cận
về hệ thống hoỏ phỏp luật” của TS Nguyễn Thị Hồi, Tạp chớ Dõn chủ và
Trang 7Phỏp luật số 9/2008; một phần bài giảng trong cuốn nội dung cơ bản của mụn học Lý luận nhà nước và phỏp luật của TS Nguyễn Thị Hồi và TS Lờ Vương Long đồng chủ biờn; một phần bài giảng trong cuốn giỏo trỡnh Lý luận nhà nước và phỏp luật, nxb Tư phỏp Hà Nội 2007; Tuy nhiờn,hầu như cỏc cụng trỡnh nghiờn cứu trờn mới chỉ dừng lại việc nghiờn cứu phỏp điển hoỏ một cỏch rất chung chung, nghiờn cứu hoạt động phỏp điển hoỏ trong hoạt động hệ thống hoỏ phỏp luật mà chưa cú sự nghiờn cứu một cỏch cụ thể và tỏch biệt
Bi vậy cú thể núi đõy là cụng trỡnh đầu tiờn nghiờn cứu một cỏch hệ thống, khoa học và cụ thể về vấn đề phỏp điển hoỏ tại Việt Nam hiện nay
3 Phạm vi nghiờn cứu đề tài
Hoạt động phỏp điển hoỏ cú thể núi đó được thực hiện nước ta trong một thời gian dài, đặc biệt trong một vài năm gần đõy hoạt động này đó được Đảng và Nhà nước ta chỳ trọng nhiều hơn tuy nhiờn hiệu quả mang lại vẫn chưa cao Nghĩa là việc tập hợp, phỏt hiện và xử lý cỏc quy định mõu thuẫn, chồng chộo khụng cũn phự hợp với cỏc quy định phỏp luật hiện hành chưa mang lại hiệu quả cao Trong khi đú mục đớch của hoạt động phỏp điển hoỏ là nhằm tạo ra một hệ thống văn bản quy phạm phỏp luật đồng bộ, thống nhất,
“tinh gọn” và chất lượng
Chớnh vỡ lý do trờn, về nội dung đề tài đi sõu nghiờn cứu từ những vấn
đề lý luận cơ bản như: khỏi niệm và cỏc đặc điểm của phỏp điển hoỏ; quy trình pháp điển hoá; các nguyên tắc cơ bản của pháp điển hoá; vai trò của pháp điển hoá; cho đến phõn tớch thực trạng của hoạt động phỏp điển hoỏ trong những năm gần đõy thụng qua đú đỏnh giỏ thực trạng; đề xuất phương hướng nhằm đẩy mạnh hiệu quả của hoạt động phỏp điển hoỏ trong điều kiện hiện nay Về giới hạn hành chớnh, đề tài này được thực hiện trờn quy mụ cả nước, nghĩa là được nghiờn cứu tất cả cỏc tỉnh thành trong cả nước Về hỡnh thức văn bản, đề tài được thực hiện trong phạm vi tất cả cỏc văn bản quy
Trang 8phạm pháp luật do các cơ quan có thẩm quyền ban hành theo Luật ban hành văn bản quy ph¹m ph¸p luật n¨m 2008
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
Đề tài được nghiên cứu trên cơ s lý luận duy vật biện chứng Mác – Lênin
và duy vật lịch sử, tư tưng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam về nhà nước và pháp luật Trong quá trình nghiên cứu luận văn có sử dụng các phương pháp: phân tích, so sánh, lịch sử và tổng hợp để làm rõ vấn
đề Pháp điển hoá pháp luật Việt Nam trong điều kiện hiện nay
chương 1, chóng t«i chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích và lịch sử
để làm rõ các vấn đề về khái niệm, nguyên tắc cũng như các yếu tố ảnh hưng tới hoạt động pháp điển hoá nói chung
Sang chương 2, phương pháp so sánh và tổng hợp là 2 phương pháp sử dụng chủ đạo để làm sáng tỏ vấn đề thực trạng và giải pháp pháp điển hoá Việt Nam hiện nay Ngoài ra luận văn còn phối kết hợp với các phương pháp khác để cho vấn đề mang tính cụ thể và sinh động hơn
5 Mục đích nghiên cứu
Mục đích tổng quát của luận văn là nghiên cứu để làm sáng tỏ từ góc
độ lý luận đến thực tiễn một số vấn đề về Pháp điển hoá pháp luật Việt Nam trong điều kiện hiện nay Cụ thể:
Về mặt lí luận, góp phần làm rõ các khái niệm cũng như các đặc điểm
và tầm quan trọng của hoạt động pháp điển hoá
Về thực tiễn, đánh giá thực trạng hiệu quả của hoạt động pháp điển hoá trong điều kiện hiện nay thông qua đó đề xuất một số phương hướng, giải pháp cơ bản
6 Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn
Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện dưới góc độ lý luận nhà nước và pháp luật về hoạt động pháp điển hoá
Trang 9Việt Nam trong điều kiện hiện nay Từ những phõn tớch về mặt lý luận cũng như thực tiễn sẽ giỳp chỳng ta cú một cỏi nhỡn chớnh xỏc, tổng quỏt hơn về phỏp điển hoỏ Thụng qua đú luận văn cũng đưa ra một số phương hướng cũng như những giải phỏp đỳng đắn và sỏt hợp với thực tế hiện nay tại Việt Nam nhằm làm cho hoạt động phỏp điển hoỏ mang lại hiệu quả cao hơn trong thực tiễn gúp phần hoàn thiện hệ thống phỏp luật Việt Nam
7 Cơ cấu của luận văn
Cơ cấu của luận văn gồm: danh mục từ viết tắt, mục lục, lời núi đầu, nội dung luận văn, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo Nội dung cơ bản gồm cú hai chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về phỏp điển hoỏ và phỏp điển hoỏ Việt
Nam
1.1 Một số quan điểm cơ bản trên thế giới về pháp điển hoá
1.2 Vai trò của pháp điển hoá
1.3 Lý luận về pháp điển hoá ở Việt Nam hiện nay
Chương 2: Thực trạng và giải phỏp nõng cao hiệu quả của phỏp điển hoỏ
Việt Nam hiện nay 2.1 Thực trạng phỏp điển hoỏ Việt Nam hiện nay
2.2 Giải phỏp nõng cao hiệu quả của phỏp điển hoỏ Việt Nam hiện nay 2.3 Một số kiến nghị đối với pháp điển hoá ở Việt Nam hiện nay
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 10Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ Lí LUẬN VỀ PHÁP ĐIỂN HểA VÀ
PHÁP ĐIỂN HểA VIỆT NAM
Trong những thập kỉ gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của kinh
tế, chính trị, văn hoá xã hội, trong đời sống quốc gia cũng như quốc tế, vai trò của pháp luật ngày càng mở rộng, số lượng các văn bản quy phạm pháp luật ngày càng gia tăng nhanh chóng và yêu cầu khách quan được đặt ra là phải có những mô hình xây dựng, thực hiện và kiểm soát pháp luật hợp lý và hiệu quả Một trong những yếu điểm được quan tâm nhiều trong các hướng tìm kiếm ở nhiều nước, trong đó có Việt Nam là pháp điển hoá Tuy nhiên, cần quan niệm
về pháp điển hoá như thế nào và việc áp dụng pháp điển hoá cần phải thực hiện ra sao cho hợp lí, hiệu quả thì vẫn là một câu chuyện có tính thời sự và hiện chưa có lời giải đáp thật sự thuyết phục
Nghiên cứu về cơ sở lý luận của pháp điển hoá có nhiều cách tiếp cận
và nhiều quan điểm khác nhau Tuy nhiên, xuất phát từ tính đặc thù của hệ thống pháp luật, truyền thống pháp lý mà các quan điểm đó đã tìm thấy những
điểm hợp lý nhất định khi giải quyết những vấn đề đặt ra như khái niệm, đặc
điểm, nguyên tắc, vai trò của pháp điển hoá
1.1 Một số quan điểm cơ bản trên thế giới về pháp điển hoá
Pháp điển hoá là vấn đề phức tạp, vì vậy, cho đến nay, trong khoa học pháp lý trên thế giới cũng như ở nước ta còn có nhiều ý kiến, quan điểm và phương thức thực hiện khác nhau trên thực tế
1.1.1 Pháp điển hoá ở các nước thuộc hệ thống pháp luật châu Âu lục địa
các nước thuộc hệ thống luật châu Âu lục địa (hệ thống pháp luật Continental hay còn gọi là hệ thống luật Rôma – Giécmanh), ý tưởng pháp
điển hoá có từ rất lâu đời Về đại thể, các luật gia châu Âu lục địa coi pháp
điển hoá là bước tiếp theo của hệ thống hoá pháp luật và bản chất của nó là chuyển hoá các đạo luật và văn bản quy phạm pháp luật (theo từng lĩnh vực
Trang 11lớn) vào một cuốn sách duy nhất gọi là Bộ pháp điển Công việc pháp điển hoá
có quy mô và tầm mức cao hơn hệ thống hoá nhưng không phải nhằm mục
đích thông qua những văn bản mới Pháp điển hoá nhằm tập hợp những văn bản hiện hành nhưng nói đúng hơn là hợp nhất những quy định pháp luật Từ quan niệm này, một số nước thuộc hệ thống pháp luật này đã tiến hành công tác pháp điển hoá pháp luật của mình mang tính đặc thù riêng biệt, chẳng hạn như cách tiến hành pháp điển hoá ở nhà nước Pháp:
“ở Pháp, người ta không muốn dừng lại ở đó (tập hợp những văn bản hiện hành theo từng lĩnh vực vào một cuốn sách để mọi người tra cứu) mà muốn tiến xa hơn, có nghĩa là hợp nhất các văn bản luật và văn bản dưới luật vào một cuốn sách duy nhất, bao gồm toàn bộ những nguyên tắc pháp luật được áp dụng Đây chính là công việc pháp điển hoá Thực chất của việc pháp điển hoá là chuyển hoá các đạo luật
và nghị định vào một cuốn sách duy nhất gọi là Bộ pháp điển” [27, tr6]
Tuy vậy, cũng có nước thể hiện quan điểm trên bằng cách đăng luật của mình không chỉ theo trật tự ngày tháng năm ban hành luật mà còn trong một tập hợp lớn và các nhà lập pháp đưa thêm vào đó các văn bản luật mới Thay vì “pháp điển hoá”, một số nước gọi quá trình này bằng thuật ngữ “tập hợp”, chẳng hạn XriLanca, sử dụng chữ “tập hợp” này để chỉ quá trình đưa vào đạo luật gốc những sửa đổi sau đó của nó, mà thường nằm rải rác tại các tập văn bản luật thường niên trong một giai đoạn dài
Như vậy, theo quan điểm thứ nhất, một trong những đặc trưng cơ bản của pháp điển hoá là không làm thay đổi nội dung văn bản được pháp điển hoá Vì vậy, từ hơn 50 năm nay, nước Pháp chỉ pháp điển hoá các văn bản pháp luật hiện hành với mục đích sắp xếp, trình bày lại những văn bản đó chứ không được làm thay đổi nội dung văn bản Kết quả cuối cùng của hoạt động pháp điển hoá không nhất thiết là một Bộ luật, mà chủ yếu là Bộ Pháp điển
Họ cho rằng nguyên tắc không làm thay đổi nội dung của văn bản là đặc trưng của công tác pháp điển hoá, nhằm phân biệt với công tác lập pháp, lập quy
Trang 12Với cách quan niệm về pháp điển hoá như trên, chúng ta có thể thấy một số đặc trưng trong hoạt động pháp điển hoá ở các nước này (mà tiêu biểu
là ở Pháp) như sau:
a/ Về chủ thể của hoạt động pháp điển hoá
Chủ thể của hoạt động pháp điển hoá ở các nước theo hệ thống pháp luật châu Âu lục địa là tương đối rộng, trong đó có thể chia thành hai loại chủ thể chính đó là chủ thể tiến hành pháp điển hoá (chủ thể chính thức) và chủ thể tham gia vào quá trình pháp điển hoá ở đây, chỉ có chủ thể tiến hành pháp
điển hoá mới có thẩm quyền tạo ra sản phẩm cuối cùng của hoạt động pháp
điển hoá và bảo đảm hiệu lực cuối cùng của kết quả đó Còn lại những chủ thể khác tham gia vào quá trình pháp điển hoá với những hoạt động hỗ trợ cho chủ thể chính thức
Như vậy, tại các nước theo quan niệm thứ nhất này thì chủ thể tiến hành pháp điển hoá phải là các cơ quan có thẩm quyền là Quốc hội, Nghị Viện hay một cơ quan chuyên môn đảm trách hoạt động này Còn chủ thể tham gia vào hoạt động pháp điển hoá thì tương đối rộng đó là luật sư, nhà in, nhà xuất bản hay bất cứ một người dân nào có hiểu biết về pháp điển hoá thì đều có thể tham gia (nếu được trưng dụng) Một trong những nước điển hình theo quan niệm này là Pháp Tại Pháp chủ thể có thẩm quyền tiến hành pháp điển hoá chính là hai cơ quan đó là Chính phủ và Nghị Viện Hiện tại, ở Pháp có Uỷ ban cấp cao về pháp điển hoá được thành lập năm 1989 dưới sự điều hành của Thủ tướng là cơ quan trực tiếp giúp Chính phủ trong việc thực hiện chức năng
đơn giản hoá và minh bạch hoá pháp luật Cơ quan này được hình thành với các thành viên là đại diện của Thượng viện, Hạ viện, Hội đồng nhà nước, Toà phá án, Toà kiểm toán, Văn phòng chính phủ và đại điện của các cơ quan chuyên môn khác thuộc Chính phủ Loại chủ thể thứ hai ở Pháp có thể là các luật sư, các nhà in, thậm chí là nhà xuất bản hay những người hiểu biết sâu về pháp điển hoá đều có thể tham gia vào hoạt động pháp điển hoá ở Pháp
Trang 13b/ Về quy trình pháp điển hoá
Các nước tiến hành pháp điển hoá theo những quy trình hay cách thức khác nhau phù hợp với đặc điểm của quốc gia mình Tuy nhiên, nhìn tổng thể chúng ta có thể thấy các nước theo quan niệm thứ nhất mà tiêu biểu là Pháp tiến hành pháp điển hoá theo quy trình sau: pháp điển hoá các văn bản luật và văn bản dưới luật do hai cơ quan là Chính phủ và Nghi viện song song thực hiện sau đó tổng hợp kết quả của hai cơ quan đó lại trong một văn bản pháp
điển duy nhất Với quy trình pháp điển hoá như trên thì cần trải qua các công
đoạn sau: đầu tiên là quyết định xây dựng một bộ pháp điển; tiếp theo là có chương trình pháp điển hoá do cơ quan có thẩm quyền ban hành; tiếp đến là xác định phạm vi tiến hành pháp điển; soạn thảo dự thảo bộ pháp điển, nghĩa
là xây dựng bố cục và soạn thảo nội dung bộ pháp điển; cuối cùng là thông qua bộ pháp điển Với các công đoạn trên thì công việc pháp điển hoá có thể chia thành 5 giai đoạn chính đó là: 1- Thống kê văn bản quy phạm pháp luật; 2- Tập hợp văn bản quy phạm pháp luật; 3- Hợp nhất quy định của pháp luật; 4- Căn chỉnh, làm sạch các văn bản quy phạm pháp luật; 5- Soạn thảo bộ pháp
điển trên cơ sở thống nhất và tổ chức lại các quy định pháp luật
Tại Pháp có một thời gian dài đã mắc sai lầm trong quy trình tiến hành pháp điển hoá đó là lần pháp điển hoá được khởi xướng vào năm 1948 Vào thời điểm đó cách thức tiến hành là pháp điển hoá bằng Nghị định để đảm bảo công việc nhanh và hiệu quả Tinh thần được xác định là pháp điển hoá không làm thay đổi nội dung quy định pháp luật: pháp điển hoá chỉ tập hợp trong các tuyển tập các quy định hiện hành trong một lĩnh vực nhất định Như vậy ngay cả khi quy định được tập hợp có giá trị lập pháp cũng không cần Nghị viện phải tham gia Đây chính là nhược điểm của phương pháp này Khi mà Nghị viện đứng ngoài cuộc thì Chính phủ đảm nhiệm toàn bộ công việc Nhưng Chính phủ lại không thể huỷ bỏ quy định cũ vì theo nguyên tắc cơ quan nào ban hành văn bản thì mới có quyền huỷ bỏ văn bản đó (luật là do Nghị viện thông qua) nên các văn bản luật gốc và các quy định của các văn bản này được tập hợp và tổ chức lại trong các bộ luật cùng song song tồn tại Việc chồng
Trang 14chéo quy định như thế thực sự gây khó khăn cho người tiếp cận pháp luật Chính quy trình pháp điển hoá không hợp lý đó đã làm hạn chế vai trò của pháp điển hoá Khắc phục nhược điểm trên, vào năm 1989 Pháp đã thực hiện theo quy trình là hai cơ quan là Chính phủ và Nghị viện cùng tiến hành pháp
điển hoá song song với nhau, Chính phủ pháp điển hoá những văn bản dưới luật còn Nghị viện pháp điển hoá đối với những văn bản luật Cuối cùng thì tổng hợp kết quả của hai cơ quan đó lại để cho ra đời sản phẩm pháp điển hoá cuối cùng Như vậy, sẽ giảm bớt được thời gian, tránh được tình trạng mâu thuẫn, trùng lặp và còn mang lại hiệu quả cao Hiện nay, Pháp đang tiến hành pháp điển hoá theo quy trình này Đây có lẽ là cách làm rất hay mà Việt Nam nên học hỏi và tham khảo kinh nghiệm pháp điển hoá của Pháp !
c/ Về kết quả (sản phẩm) của hoạt động pháp điển hoá
Kết quả cuối cùng của hoạt động pháp điển hoá ở các nước theo quan
điểm trên chính là Bộ luật hoặc Bộ pháp điển Vậy Bộ luật và Bộ pháp điển có gì khác nhau? Phải chăng, Bộ luật là có sự tạo ra các quy định mới còn trong
Bộ pháp điển thì không có quy định mới, đó chỉ là sự sắp xếp, tổ chức các quy phạm pháp luật theo một cơ cấu hợp lý ! Bộ pháp điển chính là minh chứng rõ nhất về kết quả cho nguyên tắc không làm thay đổi nội dung quy phạm trong quá trình pháp điển hoá của các nước theo quan điểm này
Có lẽ, trên thực tế quan điểm trên còn tồn tại nhiều điểm hạn chế, vì thông thường cơ quan pháp điển hoá thường đứng trước một khối lượng lớn các văn bản luật và văn bản dưới luật, những văn bản này không đồng nhất về khái niệm, thời điểm ban hành, về chủ thể ban hành, đối tượng điều chỉnh Bởi vậy, nếu tuân theo nguyên tắc không làm thay đổi nội dung của văn bản thì mục đích của công tác pháp điển hoá là tạo ra những điều kiện tốt nhất cho người sử dụng đã không đạt được Về bản chất, quan điểm trên về pháp điển hoá gần giống như quan điểm về tập hợp hoá, nhưng ở mức độ cao hơn và phạm vi lớn hơn Theo đó, hệ thống hoá pháp luật của các nước trên mà điển hình là nước Pháp là quá trình bao gồm hai giai đoạn đó là tập hợp, rà soát và
Trang 15pháp điển hoá, trong đó pháp điển hoá là hình thức cơ bản ở cấp độ cao hơn nhưng chưa đạt được mục đích đã đặt ra cho pháp điển hoá
Từ cách tiếp cận trên có thể hiểu pháp điển hoá là hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm hợp nhất những quy định của pháp luật; loại bỏ những mâu thuẫn, trùng lặp, chồng chéo và bổ sung những quy định pháp luật mới nhằm tạo ra văn bản quy phạm pháp luật mới có giá trị cao hơn
có thể là Bộ luật hoặc Bộ pháp điển
1.1.2 Pháp điển hoá ở các nước thuộc hệ thống pháp luật Ănglô Sắc xông
Các nước thuộc hệ thống luật Ănglô Sắc xông, hay còn gọi là hệ thống thông luật – common law, nơi mà ý nghĩa quan trọng hàng đầu thuộc về tố tụng chứ không phải là pháp luật vật chất Việc xây dựng hệ thống pháp luật theo tinh thần và tư tưởng pháp điển hoá kiểu châu Âu lục địa không được đặt
ra (mối liên hệ giữa luật vật chất và luật tố tụng ở đây được diễn tả cô đọng trong câu ngạn ngữ của người Anh “Các hình thức tố tụng đi trước pháp luật”) Thực chất của công việc pháp điển hoá là cho ra đời, bổ sung, cập nhật thường xuyên các tập án lệ, những tình huống, vụ việc pháp lý cụ thể đã có tiền lệ theo từng lĩnh vực của đời sống
Với việc đưa ra các tuyển tập về án lệ dưới hình thức các Bộ tuyển tập
án lệ, các nhà pháp điển ở các nước thuộc hệ thống pháp luật Anh – Mỹ đã thực sự tham gia vào công tác lập pháp và được coi là hoạt động pháp điển hoá Công việc này được chú trọng tiến hành thường xuyên Chủ thể thực hiện pháp điển hoá là ngành Toà án và những cơ quan trực tiếp thực thi pháp luật
Hoa Kỳ cũng là một nước tiêu biểu có hệ thống pháp luật rất phát triển
Do đặc điểm của một quốc gia theo truyền thống án lệ nên Hoa Kỳ có hai nguồn luật chính thức là các án lệ và các văn bản quy phạm pháp luật Vì vậy, việc pháp điển hoá cũng được thực hiện trên cả hai nguồn này của pháp luật Với án lệ, Hoa Kỳ thực hiện pháp điển hoá theo phương thức trên, còn với văn bản quy phạm pháp luật, từ cách xây dựng các bộ luật, có thể nhận định rằng
Trang 16hoạt động pháp điển hoá ở Hoa Kỳ dường như không phải là hoạt động lập pháp mà chỉ là việc rà soát, sắp xếp lại các quy định pháp luật đã ban hành Theo phân tích của GS TSKH Đào Trí úc:
“Hiện nay, ở Hoa Kỳ vẫn có hai quan điểm về pháp điển hoá trong giới luật học Quan điểm thứ nhất cho rằng cần có những văn bản pháp điển hoá Thực chất quan điểm này đã hình thành từ thế kỉ XIX nhằm mục đích thông qua pháp điển hoá mà tước bớt quyền của quan toà Tuy nhiên, quan điểm thứ hai của các luật gia Mỹ bao giờ cũng nổi trội hơn Đó là quan điểm chỉ dừng lại ở mức độ hệ thống hoá các văn bản ở cấp liên bang và từng bang Theo các luật gia Mỹ, luật của Mỹ bao gồm một khối lượng khổng lồ các án lệ, các tục
lệ và các văn bản, do đó sẽ không bao giờ đạt được một sự ổn định lý tưởng để làm ra các bộ luật” [38, tr36-37]
Như vậy, cũng giống như nước Pháp, nguyên tắc không làm thay đổi nội dung của văn bản trong việc pháp điển hoá đối với văn bản quy phạm pháp luật vẫn được coi là nguyên tắc cơ bản Có thể nói quan điểm này đã coi pháp
điển hoá nằm bên ngoài hoạt động hệ thống hoá pháp luật Do đó, không thể coi pháp điển hoá là một hình thức của hệ thống hoá pháp luật
Từ quan niệm cũng như các cách tiến hành pháp điển hoá của một số nước nêu trên, có thể thấy một số đặc trưng cơ bản sau:
a/ Về chủ thể của hoạt động pháp điển hoá
Chủ thể pháp điển hoá ở đây sẽ bao gồm 2 loại (mỗi loại có vai trò, vị trí khác nhau) chủ thể chính, đó là chủ thể có thẩm quyền tiến hành và chủ thể tham gia pháp điển hoá
Chủ thể có thẩm quyền tiến hành pháp điển hoá là những cơ quan có thẩm quyền, đó có thể là Nghị viện, Quốc hội, Chính phủ hay là một cơ quan chuyên môn
về pháp điển hoá được lập ra Chẳng hạn như ở Hoa Kỳ đó là sự hoạt động của Hội
đồng sửa đổi luật (Law Revision Council - LRC) và Ban pháp điển hoá ở Anh, một
Uỷ ban pháp luật được thành lập năm 1965, Uỷ ban này chịu trách nhiệm xử lý nhiều
dự án pháp điển hoá như dự án Bộ luật gia đình, Bộ luật Hợp đồng và Bộ luật Hình sự
Trang 17Chủ thể tham gia hoạt động pháp điển hoá có thể là những luật sư, người thi hành pháp luật, những người am hiểu về pháp điển hoá và ngay cả nhà in cũng có thể tham gia vào hoạt động pháp điển hoá (nếu được trưng dụng)
b/ Về quy trình pháp điển hoá
Có thể thấy, ở những nước theo quan điểm thứ hai pháp điển hoá chỉ đơn thuần là việc cho ra đời, bổ sung, cập nhật thường xuyên các tập án lệ, những tình huống, vụ việc pháp lý cụ thể đã có tiền lệ theo từng lĩnh vực của đời sống; hoặc chỉ là việc rà soát, sắp xếp lại các quy định pháp luật đã ban hành
Tại Anh, việc pháp điển hoá chủ yếu đối với án lệ Quy trình pháp điển hoá được tiến hành như sau: cơ quan Toà án (thẩm phán) cùng với những người có trách nhiệm thi hành pháp luật tiến hành thống kê, tập hợp các án lệ
đã có; trên cơ sở đó sẽ phân tích để loại bỏ một số án lệ trong trường hợp thấy không cần thiết và tập hợp lại thành một Bộ tuyển tập án lệ Bộ tuyển tập án lệ
đó sẽ được coi là cơ sở pháp lý cho các thẩm phán khi xét xử các vụ việc xảy
ra trên thực tế Bên cạnh việc pháp điển hoá các án lệ thì tại Anh còn có việc pháp điển hoá các văn bản pháp luật và công việc này được giao cho Uỷ ban pháp luật ở Anh được thành lập vào năm 1965 thực hiện
Tại Hoa Kỳ, do tính đặc biệt về mặt cấu trúc nhà nước nên quá trình pháp điển hoá của Hoa Kỳ cũng có nhiều điểm khác biệt Do hệ thống pháp luật có sự tồn tại song song 2 nguồn luật chính là các án lệ và các văn bản pháp luật nên quy trình pháp điển hoá ở từng bang cũng như ở toàn liên bang cũng diễn ra trên cả 2 nguồn luật này Quy trình pháp điển hoá án lệ của Hoa
Kỳ cũng diễn ra tương tự như ở Anh Còn đối với việc pháp điển hoá văn bản pháp luật thì tại Hoa Kỳ diễn ra lại có sự khác biệt đó là sự tồn tại hai sản phẩm pháp điển hoá văn bản luật và sản phẩm pháp điển hoá văn bản dưới luật Trong lúc đó ở Pháp sản phẩm cuối cùng của pháp điển hoá là Bộ pháp
điển hoặc Bộ luật tại đó bao gồm 2 phần chính là phần pháp điển văn bản luật
và phần pháp điển văn bản dưới luật
Như vậy, nếu như những nước theo quan điểm thứ nhất chỉ tồn tại một quy trình pháp điển hoá duy nhất là đối với văn bản pháp luật, thì những nước
Trang 18theo quan điểm thứ hai lại có sự khác biệt nhất định Do tại những nước theo quan điểm thứ hai tồn tại 2 hệ thống nguồn của pháp luật đó là các án lệ và các văn bản pháp luật bởi vậy mà quy trình pháp điển hoá cũng sẽ là hai quy trình, quy trình pháp điển hoá các án lệ và quy trình pháp điển hoá các văn bản pháp luật Với sự khác nhau về quy trình như vậy, chắc chắn sản phẩm của hoạt động pháp điển hoá ở các nước theo quan điểm thứ hai này cũng có
sự khác biệt nhất định
c/ Về kết quả (sản phẩm) của hoạt động pháp điển hoá
Kết quả của pháp điển hoá ở những nước theo quan điểm thứ hai này chính là các Bộ luật, Bộ pháp điển và Bộ tuyển tập án lệ Tuy nhiên, do đặc thù của các nước không giống nhau nên sản phẩm cũng có sự đa dạng nhất
định Tại Hoa Kỳ, sản phẩm của hoạt động pháp điển hoá cũng là Bộ luật, Bộ pháp điển và Bộ tuyển tập án lệ nhưng với một quốc gia liên bang thì sản phẩm đa dạng hơn Nói đến pháp điển hoá ở Hoa Kỳ thì điều đầu tiên người ta nhắc tới Bộ pháp điển các luật liên bang (United State Code – U.S.Code) và
Bộ pháp điển các quy định của cơ quan hành chính liên bang (Code of Federal Regulations – C.F.R) Ngoài ra, còn có sản phẩm là các Bộ tuyển tập án lệ là kết quả của hoạt động pháp điển hoá các án lệ
Thiết nghĩ, quan điểm trên còn có điểm chưa hợp lý, bởi thực chất công tác pháp điển hoá ở các nước theo hệ thống pháp luật Anh – Mỹ mới chỉ dừng lại ở mức độ tập hợp hoá mà thôi Việc coi pháp điển hoá nằm bên ngoài hoạt động hệ thống hoá và là hai loại hoạt động riêng biệt, tách rời nhau, có lẽ chưa thực sự đúng bởi hai hoạt động này luôn gắn bó và tương trợ cho nhau, pháp điển hoá muốn có hiệu quả cao thì phải dựa vào công tác tập hợp hoá và
Trang 191.1.3 Pháp điển hoá ở Liên xô (cũ) và các nước xã hội chủ nghĩa
Những nước theo quan điểm thứ ba này cho rằng pháp điển hoá và tập hợp hoá chính là hai hình thức của hệ thống hoá pháp luật, chúng có mối quan
hệ khăng khít với nhau, hỗ trợ nhau cùng phát triển Tiêu biểu cho quan điểm này phải kể đến các nước như Trung Quốc, Liên Xô cũ và ở Việt Nam phổ biến cũng đồng tình với quan điểm này
Trung Quốc hiện nay trong việc điều chỉnh pháp lý phục vụ phát triển kinh tế nói riêng và phục vụ đổi mới, cải cách nói chung, có xu hướng thiên về ban hành các văn bản cấp Chính phủ và coi đó là một giải pháp lâu dài (khoảng
10 năm) Chỉ sau khi các quan hệ trên được điểu chỉnh đã phát triển ổn định, các văn bản cấp Chính phủ đã được kiểm nghiệm trong thực tế, chứng minh tính hợp lý và tính khả thi thì mới được “nâng cấp” lên thành các đạo luật
Liên Xô cũ về mặt lý thuyết, người ta cho rằng việc pháp điển hoá pháp luật được thể hiện ở 2 cấp độ là tập hợp hoá và pháp điển hoá như ở các nước thuộc hệ thống châu Âu lục địa Tuy nhiên, trên thực tế, ở Liên xô cũ, việc pháp điển hoá pháp luật chưa thực hiện một cách thực sự quy củ và khoa học Công tác này không phải do một cơ quan chuyên trách thực hiện mà chủ yếu
do các bộ, ngành tự tiến hành Điều này dẫn đến việc mỗi bộ, ngành thực hiện công tác pháp điển hoá theo từng cách thức riêng của mình; điều đó làm giảm giá trị khoa học cũng như vai trò thực tiễn của các Bộ pháp điển của Liên xô
cũ thường không cao Với quan niệm trên, có thể rút ra một số đặc trưng sau:
a/ Về chủ thể của hoạt động pháp điển hoá
Hoạt động pháp điển hoá ở các nước theo quan điểm thứ ba này cũng
được tiến hành bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền là Quốc hội, Nghị viện hay là Chính phủ ở những nước này dường như chưa có sự tham gia của loại chủ thể thứ hai vào hoạt động pháp điển hoá Chính điểm hạn chế này dẫn
đến hiệu quả mà hoạt động pháp điển hoá mang lại là chưa cao !
b/ Về quy trình pháp điển hoá
Trang 20Do ở hầu hết các nước theo quan điểm này chưa thành lập được một cơ quan chuyên trách về pháp điển hoá nên quy trình thực hiện hoạt động này cũng chưa được quy định rõ ràng và cụ thể như ở những nước theo hai quan niệm trên Chẳng hạn, như ở Liên Xô cũ, do không có cơ quan chuyên trách phụ trách về pháp điển hoá do vậy nên công tác này chủ yếu do các bộ, ngành
tự tiến hành Điều đó dẫn đến tình trạng mỗi bộ, ngành thực hiện theo cách riêng của mình Từ thực trạng đó đã làm cho hoạt động pháp điển hoá hiệu quả kém
c/ Về kết quả (sản phẩm) của hoạt động pháp điển hoá
Kết quả của hoạt động pháp điển hoá ở các nước này chính là các Bộ pháp điển
Từ cách tiếp cận trên có thể hiểu: Pháp điển hoá là một hình thức của hệ thống hoá pháp luật, theo đó các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành tập hợp, sắp xếp các quy định của pháp luật; loại bỏ các quy định pháp luật mâu thuẫn, chồng chéo, trùng lặp đồng thời bổ sung những quy định pháp luật mới nhằm ban hành ra các Bộ pháp điển hoặc Bộ luật
Như vậy, so với những nước theo quan điểm trước đó thì ở đây sự khác biệt nhất định trong quan niệm về pháp điển hoá Pháp điển hoá theo quan
điểm của những nước này chính là một hình thức của hệ thống hoá pháp luật
và có thể nói đây là hình thức cao nhất của hệ thống hoá pháp luật Cũng cần thấy ở những nước này có nhiều cách tiếp cận nghiên cứu về pháp điển hoá khác nhau trong khi lại chưa có một quy trình pháp điển hoá rõ ràng hay một thiết chế riêng được thành lập để đảm nhiệm công tác này
Việt Nam là một nước điển hình theo quan điểm này do vậy chúng ta cũng không nằm ngoài hạn chế trên Tại Việt Nam do chưa có những quy định
cụ thể về pháp điển hoá và cũng chưa thành lập được một cơ quan chuyên đảm trách về hoạt động này nên trên thực tế khi tiến hành pháp điển hoá còn lúng túng, chưa thống nhất
Trang 211.2 Vai trò của pháp điển hoá
1.2.1 Pháp điển hoá có vai trò hỗ trợ đối với quá trình xây dựng pháp luật
Sở dĩ nói pháp điển hoá có vai trò quan trọng đối với quá trình xây dựng pháp luật là bởi:
- Thông qua quá trình pháp điển hoá sẽ giúp cho các nhà làm luật phát hiện ra nhiều chỗ mâu thuẫn, chồng chéo, trùng lặp giữa những quy phạm pháp luật từ đó xuất hiện nhu cầu cần sửa đổi, bổ sung, thay thế bởi các quy phạm pháp luật mới (trong trường hợp cần)
- Từ hoạt động pháp điển hoá cũng giúp cho các nhà làm luật biết được những lĩnh vực nào trên thực tế cần sự điều chỉnh của pháp luật nhưng lại chưa
có quy phạm pháp luật điều chỉnh Qua đó cần phải ban hành các quy phạm pháp luật mới để kịp thời điều chỉnh các lĩnh vực của đời sống xã hội
Như vậy, dù với ý nghĩa là một phương pháp kiện toàn hệ thống pháp luật hay với ý nghĩa là phương pháp sáng tạo pháp luật thì pháp điển hoá bao giờ cũng là một phương diện hoạt động quan trọng của Nhà nước Đây là cách thức tích cực tạo
điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện pháp luật, cho việc nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật, nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật và ý thức pháp luật của nhân dân
1.2.2 Pháp điển hoá góp phần bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật
Tính thống nhất và đồng bộ của pháp luật là một điều kiện thiết yếu
đảm bảo cho quá trình phát triển kinh tế – xã hội và phát triển cá nhân con người Thông qua hoạt động pháp điển hoá, những quy phạm lỗi thời, lạc hậu, mâu thuẫn, chồng chéo sẽ bị loại bỏ và thay vào đó là những quy định mới, góp phần làm cho hệ thống pháp luật được thống nhất, đồng bộ và mang lại hiệu quả cao
Đối với hệ thống pháp luật của nước ta, hiện tại vẫn còn thiếu, chưa đồng
bộ, chưa thống nhất, còn có sự mâu thuẫn, chia cắt, chồng chéo giữa các văn bản; tính minh bạch trong hệ thống pháp luật chưa cao Sẽ rất khó để nhận biết
được trong một lĩnh vực thì văn bản của Quốc hội kiểm soát đến đâu, văn bản
Trang 22của Chính phủ, của các Bộ tiếp tục như thế nào? Do đó, nếu không làm pháp
điển hoá, chúng ta sẽ không biết được văn bản nào thực sự đang điều chỉnh hoạt
động xã hội (Luật hay Thông tư) Như vậy, về góc độ thẩm quyền, thứ bậc văn bản, hệ thống pháp luật của chúng ta có vấn đề Vậy, việc đặt ra ở đây là phải
xử lý các vấn đề để cho hệ thống pháp luật đó có thứ bậc theo một chỉnh thể thống nhất theo quy định của Hiến pháp Đây cũng là cái đích của pháp điển hoá Tức là cần làm rõ văn bản nào được ban hành không đúng thẩm quyền, trái với Hiến pháp, luật, pháp lệnh, nghị định (kể cả văn bản của cấp thấp nhất là cấp phường, xã) Pháp điển hoá là công việc để bảo đảm trật tự của hệ thống pháp luật, giúp cho hệ thống pháp luật được thống nhất và đồng bộ
1.2.3 Pháp điển hoá góp phần nâng cao hiệu quả, hiệu lực và giá trị điều chỉnh của pháp luật, hỗ trợ các chủ thể trong quá trình áp dụng pháp luật
Có thể khẳng định rằng ở mỗi quốc gia cách hiểu và tiến hành pháp điển hoá theo hình thức riêng phù hợp với đặc điểm của mình Mặc dù xuất phát điểm hay cách thức tiến hành có khác nhau nhưng cũng đều đi đến mục tiêu cuối cùng
là giúp cho việc tìm kiếm, tra cứu và áp dụng pháp luật được dễ dàng, thuận tiện
Mục đích của pháp điển hoá pháp luật, nếu nhìn nhận từ lợi ích của cơ quan nhà nước thì việc hiểu biết và tiếp cận với văn bản quy phạm pháp luật sau khi được pháp điển hoá là rất quan trọng, vì các cơ quan nhà nước phải biết một cách hệ thống những văn bản nào cần áp dụng trong khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình Nếu nhìn nhận từ phía công dân thì công tác pháp điển hoá cũng rất cần thiết, vì nó giúp công dân biết được văn bản được
áp dụng trong những tình huống cụ thể mà công dân gặp phải Điều đó giúp công dân tự bảo vệ mình tốt hơn nếu không hài lòng với cách xử lý của cơ quan quản lý nhà nước Công dân cũng sẽ bảo vệ mình tốt hơn trước Toà án, nếu có trong tay tất những văn bản pháp luật được pháp điển trong một bộ luật hoặc một đạo luật, từ đó dễ dàng nhận biết được văn bản được áp dụng trong trường hợp của họ Việc loại bỏ những mâu thuẫn, trái ngược cũng là một trong những mục tiêu của công tác pháp điển hoá Và cuối cùng, kết quả của
Trang 23mỗi hình thức pháp điển hoá là Bộ luật hoặc Bộ pháp điển Như vậy, mặc dù pháp điển hoá có vai trò rất quan trọng, tuy nhiên ở mỗi quốc gia khác nhau thì vai trò của pháp điển hoá cũng có sự biểu hiện và bộc lộ khác nhau
1.2.4 Pháp điển hoá giúp cho người dân có điều kiện tốt hơn để tiếp cận, chủ động sử dụng pháp luật
Ưu điểm đầu tiên của công tác pháp điển hoá là nhằm đấu tranh chống lại hiện tượng có nhiều kẻ lợi dụng sự rườm rà của pháp luật để trục lợi (đó là những người hiểu biết sâu, rộng về pháp luật; chính từ sự hiểu biết đó mà họ tìm mọi kẽ hở của pháp luật để luồn, lách, ) Pháp luật phải là công cụ của mọi người, mọi chủ thể: các cơ quan hành chính, các cơ quan tư pháp, các chủ thể kinh tế và mọi cá nhân trong xã hội Từ đó cho thấy pháp điển hoá là một công cụ để tuyên truyền và phổ biến pháp luật một cách hiệu quả
Sở dĩ, pháp điển hoá giúp người dân có điều kiện tốt hơn để thoát khỏi tình trạng thiếu pháp luật là bởi:
- Thông qua giai đoạn căn chỉnh, làm sạch các văn bản pháp luật – một giai đoạn của quy trình pháp điển hoá, các quy phạm pháp luật sẽ trở nên
rõ ràng hơn, sát hợp với đời sống xã hội, không còn tình trạng mâu thuẫn, trùng lặp hay chồng chéo giữa các quy định pháp luật Như vậy sẽ giúp người dân dễ tiếp cận hơn với pháp luật;
- Qua quá trình pháp điển hoá nhiều lĩnh vực của đời sống chưa được các quy định pháp luật điều chỉnh sẽ được điều chỉnh bởi các quy định pháp luật mới Thông qua đó sẽ hạn chế tình trạng thiếu pháp luật
- Sản phẩm cuối cùng của hoạt động pháp điển hoá đó là văn bản pháp luật có tính tổng hợp và bao quát rộng (có thể là Bộ luật, Bộ pháp điển hay các sản phẩm tương tự như pháp điển) Như vậy, chỉ cần tra cứu trong những văn bản này người dân cũng có thể biết phải làm như thế nào cho phù hợp với quy
định của pháp luật thay vì phải đi tìm trong nhiều văn bản với những quy định nhiều khi mâu thuẫn nhau
Trang 24Thông qua việc tìm hiểu một số vai trò cơ bản của pháp điển hoá trong một số lĩnh vực, có thể khẳng định rằng pháp điển hoá là một hoạt động có vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia nói chung cũng như của Việt Nam nói riêng
1.3 Lý luận về pháp điển hoá ở Việt Nam hiện nay
1.3.1 Khái niệm, đặc điểm của pháp điển hoá
1.3.1.1 Khái niệm pháp điển hoá
Việt Nam, thuật ngữ pháp điển hoá cũng được nhiều nhà nghiên cứu lý giải theo nhiều cách thức khác nhau Theo GS TS Lê Minh Tâm coi pháp điển hoá, cùng với tập hợp hoá, là hai hình thức của hoạt động hệ thống hoá pháp luật Theo đó:
“Hình thức pháp điển hoá là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong đó không những tập hợp các văn bản đã có theo một trình tự nhất
định, loại bỏ những quy phạm lỗi thời, mà còn xây dựng những quy phạm mới
để thay thế cho các quy phạm đã bị loại bỏ và khắc phục những chỗ trống được phát hiện trong quá trình tập hợp văn bản, sửa đổi các quy phạm hiện hành, nâng cao hiệu lực pháp lý của chúng, v.v Kết quả của công việc pháp điển hoá
là một văn bản quy phạm pháp luật mới ra đời Đó là một bộ luật ứng với một ngành luật nhất định hay một bản điều lệ tập hợp các quy phạm cho một lĩnh vực nhất định, trong đó các quy phạm pháp luật được sắp xếp một cách lôgic, chặt chẽ và nhất quán Nói chung kết quả của nó là một văn bản pháp luật mới, hoặc có hiệu lực pháp lý cao hơn, hoặc rộng hơn, tổng quát hơn về phạm vi điều chỉnh, hoàn chỉnh hơn về kỹ thuật lập pháp, hoặc đồng thời đạt được tất cả các yếu tố đó Như vậy, hoạt động pháp điển hoá rất gần với khái niệm sáng tạo pháp luật (hay hoạt động xây dựng pháp luật)” [32, Tr 408-409]
Từ điển Luật học do nhà xuất bản Từ điển bách khoa xuất bản năm
1999 có giải thích:
“Pháp điển hoá là làm thành một pháp điển (bộ luật), tức là tập hợp, hệ thống hoá các văn bản pháp luật hiện hành, xem xét nội dung loại bỏ những
Trang 25điều kiện không còn phù hợp, mâu thuẫn, chồng chéo, bổ sung những điều còn thiếu, những điều cần dự liệu đáp ứng yêu cầu phát triển các quan hệ xã hội để ban hành thành bộ luật Pháp điển hoá là hoạt động lập pháp khác với hệ thống hoá pháp luật là một hoạt động có tính chất chuyên môn hành chính”
Trong khi đó Từ điển Bách khoa Việt Nam lại đưa ra khái niệm:
“Pháp điển hoá là xây dựng bộ luật, đạo luật trên có sở tập hợp, hệ thống hoá các văn bản pháp luật hiện hành, loại bỏ các quy định không phù hợp, bổ sung, dữ liệu những quy định đáp ứng sự điều chỉnh pháp luật đối với những quan hệ xã hội đang phát triển”[Tr419]
Còn theo PGS.TS Thái Vĩnh Thắng trong cuốn Từ điển thuật ngữ Lý luận nhà nước và pháp luật năm 2008 thì:
“Pháp điển hoá là hình thức hệ thống hoá pháp luật trong đó, cơ quan nhà nước có thẩm quyền tập hợp, sắp xếp các quy phạm pháp luật, các chế
định luật, các văn bản quy phạm pháp luật trong ngành luật theo trình tự nhất
định, loại bỏ những mâu thuẫn chồng chéo, các quy định lỗi thời và bổ sung những quy định mới
Kết quả của pháp điển hoá là văn bản quy phạm pháp luật mới trên cơ sở kế thừa và phát triển các quy phạm pháp luật cũ mà điển hình là bộ luật” [34, Tr203-204]
Như vậy, theo hầu hết các nhà nghiên cứu ở Việt Nam thì pháp điển hoá
được hiểu là một hoạt động lập pháp và kết quả cuối cùng của nó là các văn bản có mức độ tổng hợp cao, thường là các Bộ luật hoặc các Đạo luật có phạm
vi quy định tương đối rộng (như Bộ luật Lao động)
Từ những phân tích trên, chúng ta có thể đi đến khái niệm về pháp điển hoá như sau: Pháp điển hoá là hình thức cao nhất của hệ thống hoá pháp luật theo đó các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành tập hợp, sắp xếp những văn bản đã có theo một trình tự nhất định; đồng thời loại bỏ những quy định pháp luật lỗi thời, lạc hậu, chồng chéo, xây dựng những quy định pháp luật mới; khắc phục những chỗ trống đã được phát hiện trong quá trình tập hợp văn bản, sửa đổi các quy phạm pháp luật hiện hành nhằm nâng cao hiệu lực pháp
lý của chúng Do vậy, kết quả của công tác pháp điển hoá thông thường là Bộ
Trang 26luật, mà trong đó thể hiện một cách cơ bản nội dung của vấn đề mà pháp luật cần điều chỉnh Nhờ đó, sau khi pháp điển hoá chúng ta có một văn bản không những lớn về phạm vi điều chỉnh mà còn có cơ cấu bên trong hợp lý và khoa học Việc pháp điển hoá pháp luật sẽ tạo ra một hệ thống pháp luật toàn diện,
đồng bộ và thống nhất Do đó, mục đích cuối cùng của pháp điển hoá là nhằm trật tự hoá sâu sắc pháp luật, là hoạt động thống nhất pháp luật
1.3.1.2 Đặc điểm của pháp điển hoá
Dựa trên khái niệm về pháp điển hoá có thể thấy hoạt động pháp điển hoá ở Việt Nam có một số đặc điểm đặc thù sau:
a/ Chủ thể pháp điển hoá là cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Tại khoản 2 Điều 93 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 có quy định:
“Việc pháp điển hoá hệ thống quy phạm pháp luật do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định”[22, Tr19]
Như vậy, Uỷ ban thường vụ Quốc hội chính là cơ quan có thẩm quyền quy định về hoạt động pháp điển hoá Quy định này còn chung chung và trên thực tế có một vấn đề nảy sinh là ở Việt Nam chủ thể nào có thẩm quyền tiến hành pháp điển hoá? Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì là cơ quan nào? Chính tình trạng mập mờ đó đã gây không ít khó khăn cho hoạt động pháp
điển hoá ở nước ta
Trên thực tế, ở Việt Nam với pháp điển hoá có một chủ thể rất dễ nhận diện và đều được đông đảo các nhà nghiên cứu pháp điển hoá đồng tình đó chính là Quốc hội Quốc hội chính là chủ thể có thẩm quyền tiến hành pháp
điển hoá với kết quả tạo ra chính là Bộ luật Ngoài sản phẩm là Bộ luật thì kết quả của hoạt động pháp điển hoá cũng có thể là Bộ pháp điển Với sản phẩm
là Bộ Pháp điển thì theo kinh nghiệm của các nước đã tiến hành hoạt động này, chủ thể có thể là một cơ quan chuyên trách pháp điển hoá có thẩm quyền thực hiện ở nước ta hiện nay hiện chưa có quy định cụ thể về loại chủ thể này Đây cũng chính là một điểm hạn chế về mặt chủ thể trong hoạt động
Trang 27pháp điển hoá ở Việt Nam Để công tác này đạt hiệu quả cao hơn cần phải
mở rộng phạm vi chủ thể pháp điển hoá (từ kinh nghiệm của các nước đã làm pháp điển hoá tiêu biểu như Pháp) !
b/ Đối tượng của pháp điển hoá phải là các văn bản quy phạm pháp luật
đang còn hiệu lực pháp lý và được tập hợp
Với nội dung trên, có thể thấy rằng để trở thành đối tượng của hoạt
động pháp điển hoá thì cần thoả mãn 3 điều kiện sau:
Thứ nhất, đối tượng của hoạt động này phải là văn bản quy phạm pháp luật Như vậy, không phải mọi văn bản pháp luật ở Việt Nam đều là đối tượng của hoạt động pháp điển hoá mà chỉ những văn bản thoả mãn điều kiện quy
định tại khoản 1 Điều 1 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm
2008 mới có thể trở thành đối tượng của hoạt động này Đây cũng là một điểm khác biệt giữa hoạt động pháp điển hoá ở Việt Nam với một số nước khác Chẳng hạn, ở Anh tất cả văn bản pháp luật đều có thể trở thành đối tượng của pháp điển hoá (pháp điển hoá đối với án lệ – văn bản áp dụng pháp luật) Những văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành không
đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 hoặc Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân hay những văn bản
áp dụng pháp luật đều không là đối tượng của pháp điển hoá ở nước ta hiện nay
Thứ hai, những văn bản quy phạm pháp luật đó phải đang còn hiệu lực pháp lý Điều này cũng dễ hiểu, bởi chỉ có những văn bản quy phạm pháp luật
đang còn hiệu lực pháp lý mới có giá trị điều chỉnh các mối quan hệ trong xã hội Như vậy, pháp điển hoá cũng chính là phương thức giúp cho pháp luật mang lại hiệu quả cao trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội
Thứ ba, văn bản quy phạm pháp luật phải được tập hợp lại để làm tiền
đề cho việc pháp điển Đây là yếu tố thuộc quy trình của việc pháp điển, tập hợp có thể coi là một trong các khâu, các giai đoạn quan trọng của quy trình pháp điển Như vậy, những văn bản quy phạm pháp luật không được tập hợp thì cũng không trở thành đối tượng của hoạt động pháp điển hoá
Trang 28c/ Nội dung của hoạt động pháp điển hoá ở Việt Nam
- Việc pháp điển hoá có thể làm thay đổi nội dung, hình thức của các quy phạm pháp luật và các văn bản pháp luật được thu thập; cũng có thể làm xuất hiện thêm các quy phạm pháp luật mới, các chế định pháp luật hoặc các khái niệm pháp lý mới
Thông qua hoạt động pháp điển hoá các văn bản pháp luật được thống
kê, tập hợp và sắp xếp theo một trình tự nhất định Trong quá trình đó các quy phạm pháp luật hoàn toàn có thể thay đổi nội dung, cũng có thể thay đổi hình thức trong trường hợp nội dung cũ cũng như hình thức cũ không còn phù hợp với đời sống hiện tại; thậm chí các quy phạm pháp luật cũ có thể bị bãi bỏ và thay vào quy định pháp luật mới nếu thấy đó là cần thiết Một dẫn chứng có thể thấy rất rõ đó là sự thay thế Bộ luật Hình sự năm 1985 bằng Bộ luật Hình
sự năm 1999 Trong Bộ luật Hình sự năm 1999 một số quy định về tội phạm trong các lĩnh vực kinh tế liên quan đến cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp
đã bị loại bỏ và thay vào đó là các quy định liên quan đến lĩnh vực môi trường, lĩnh vực công nghệ thông tin, Sự thay thế của Bộ luật Hình sự năm 1985 bằng Bộ luật Hình sự năm 1999 chính là sản phẩm của hoạt động pháp điển hoá trong lĩnh vực pháp luật hình sự
- Pháp điển hoá có nội dung góp phần chỉnh đốn một cách sâu sắc và toàn diện hơn đối với hệ thống pháp luật hiện hành Trên cơ sở đó xây dựng một văn bản quy phạm pháp luật mới nhằm đưa ra những thay đổi cơ bản trong việc điều chỉnh pháp luật đối với quan hệ xã hội
Nhờ đặc điểm này mà pháp điển hoá đã cho chúng ta khả năng để không những loại bỏ ra khỏi pháp luật hiện hành những quy phạm pháp luât, lạc hậu, mâu thuẫn, chồng chéo, trùng lặp mà còn tạo ra được một sự phát triển mới trong xây dựng pháp luật, nâng pháp luật lên một tầm phát triển cao hơn về nội dung cũng như hình thức
Đây là một nội dung hết sức cơ bản của hoạt động pháp điển hoá, nhờ
có nội dung này mà pháp điển hoá đã trở thành một hoạt động có vai trò đặc biệt quan trọng và được hầu hết các quốc gia trên thế giới chú trọng thực hiện
Trang 29Cũng chính thông qua nội dung này mà chúng ta có thể dễ dàng phân biệt hoạt
động pháp điển hoá với các hoạt động tương tự khác như tập hợp hoá hay chỉnh lý văn bản pháp luật
d/ Kết quả (sản phẩm) cuối cùng của hoạt động pháp điển hoá
Việc pháp điển hoá sẽ cho ra đời những văn bản quy phạm pháp luật
điều chỉnh một lĩnh vực quan hệ xã hội quan trọng và rộng lớn Nhờ đặc điểm này mà sau khi có pháp điển hoá, chúng ta có được một văn bản không những lớn về phạm vi điều chỉnh mà còn có cơ cấu bên trong hợp lý và khoa học
Đây là đặc điểm giúp chúng ta phân biệt được pháp điển hoá với hoạt động xây dựng pháp luật, là hoạt động mà kết quả của nó bao giờ cũng chỉ là những văn bản có tính chất tạm thời, cục bộ, giải quyết những vấn đề riêng biệt
Theo quy định tại khoản 2 Điều 93 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008:
“ Quy phạm pháp luật phải được rà soát, tập hợp, sắp xếp thành bộ pháp điển theo từng chủ đề.”[22, Tr19]
Như vậy, sản phẩm của pháp điển hoá ở Việt Nam chính là các Bộ pháp
điển Tuy nhiên, trên thực tế thì ở nước ta chưa có một sản phẩm nào của pháp
điển hoá với tên gọi là Bộ pháp điển Hầu hết các nhà nghiên cứu đã cho rằng nước ta đã từng tiến hành pháp điển hoá hoặc tương tự như pháp điển hoá, tuy nhiên sản phẩm có tên gọi là Bộ pháp điển thì chưa hề có trên thực tế
Hơn nữa, tại Điều 2 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 quy định thì hệ thống văn bản pháp luật ở nước ta hoàn toàn không
có văn bản với tên gọi là “Bộ luật” Với cách hiểu này, Bộ luật không phải là sản phẩm của quá trình xây dựng pháp luật (xây dựng pháp luật hiểu theo nghĩa hẹp là sáng tạo pháp luật) Bộ luật chính là sản phẩm của hoạt động pháp điển hoá Quan niệm này cũng được các nhà nghiên cứu về pháp điển ở nước ta đồng tình khẳng định
Để hiểu một cách sâu sắc pháp điển hoá cũng như bản chất của hoạt động này, cần phân biệt pháp điển hoá với một số hoạt động có nội hàm tương tự
Thứ nhất, sự khác biệt giữa xây dựng pháp luật với pháp điển hoá
Trang 30Như chúng ta đã phân tích ở trên một trong những đặc điểm quan trọng của hoạt động pháp điển hoá là phải được tiến hành bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền Theo Hiến pháp nước ta chỉ có Quốc hội mới có chức năng ban hành luật, chức năng quan trọng gắn liền với pháp điển hoá pháp luật Mặc dù xuất phát từ thẩm quyền ban hành luật của Quốc hội nhưng hoạt động xây dựng pháp luật và hoạt động pháp điển hoá không đồng nhất với nhau Một
điểm chung dễ nhận thấy, đó là pháp điển hoá tách bạch với hoạt động xây dựng pháp luật, mặc dù kết quả của pháp điển hoá có thể được thể hiện dưới hình thức Bộ Pháp điển như nước Mỹ, Pháp Trong những trường hợp đó, pháp
điển hoá chính là việc tập hợp các văn bản hiện hành, sắp xếp chúng lại theo các tiêu chí, chế định rõ ràng, cụ thể Do đó, cần phân biệt khái niệm pháp
điển hoá với khái niệm xây dựng pháp luật Đây là hai thuật ngữ pháp lý được
sử dụng để chỉ hai loại hoạt động riêng biệt
Xây dựng pháp luật là một hoạt động phức hợp, bao gồm một phạm vi rộng lớn các hành vi kế tiếp nhau, quan hệ chặt chẽ với nhau, do nhiều chủ thể
có vị trí, chức năng, quyền hạn khác nhau tiến hành nhằm chuyển hoá ý chí của giai cấp cầm quyền thành những quy tắc pháp lý, thể hiện chúng dưới những hình thức pháp luật
Xây dựng pháp luật được diễn ra theo một quá trình nhất định Nội dung xây dựng pháp luật thể hiện ở quy trình xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, bao gồm việc tìm hiểu nhu cầu điều chỉnh pháp luật từ các quan hệ xã hội, soạn thảo các văn bản, thảo luận dự thảo văn bản, thông qua văn bản, công bố văn bản, hiệu lực của văn bản và đưa các văn bản đó vào đời sống Nội dung của những giai đoạn đó thể hiện ở việc đưa ý chí của nhân dân lên thành luật và các văn bản quy phạm pháp luật khác, ở việc hình thành chính thức và ghi nhận ý chí đó trong các văn bản nói trên
Xét về nội hàm khái niệm, xây dựng pháp luật rộng hơn pháp điển hoá Pháp điển hoá là quá trình hoàn thiện ở mức độ cao về pháp luật điều chỉnh quan hệ xã hội đó Còn xây dựng pháp luật mặc dù cũng có nhiều cách hiểu khác nhau, nhưng tựu chung lại là hoạt động ban hành pháp luật để điều chỉnh
Trang 31những quan hệ xã hội nói chung, những quan hệ xã hội này có thể đã được
điều chỉnh hoặc chưa được điều chỉnh Đây là điểm khác nhau rất cơ bản của khái niệm xây dựng pháp luật và khái niệm pháp điển hoá
Thứ hai, sự khác biệt giữa tập hợp hoá với pháp điển hoá
Tập hợp hoá là hình thức hệ thống hoá pháp luật bằng cách sắp xếp các văn bản quy phạm pháp luật theo một trật tự nhất định Còn pháp điển hoá là hình thức cho phép loại bỏ những văn bản, điều khoản lỗi thời, mâu thuẫn và cao hơn nữa được phép sửa đổi cho phù hợp, bổ sung cái mới để điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh và thực hiện sự sắp xếp để thể hiện mối liên kết giữa các quy phạm lại theo một trật tự nhất quán chặt chẽ Kết quả của hoạt động pháp điển hoá là đưa ra được một văn bản quy phạm pháp luật mới
có hiệu lực cao hơn, hoàn thiện hơn cả về phạm vi, phương pháp điều chỉnh và chất lượng kỹ thuật văn bản đó chính là Bộ luật
Nếu như tập hợp hoá có thể được tiến hành bởi bất kỳ một chủ thể nào trong xã hội thì pháp điển hoá văn bản quy phạm pháp luật chỉ được tiến hành bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền Cơ quan nhà nước có thẩm quyền pháp
điển có thể là Quốc hội hoặc là Nghị viện
Mặc dù cả tập hợp hoá và pháp điển hoá đều có ý nghĩa và tính chất độc lập với nhau nhưng đồng thời chúng cũng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Tập hợp hoá là sự chuẩn bị những cơ sở cần thiết cho pháp điển hoá nên nó là
“một tiền đề cần thiết và một biện pháp trù bị để tiến hành công tác pháp điển hoá” Còn pháp điển hoá là bước cao hơn, hoàn chỉnh hơn của hoạt động hệ thống hoá pháp luật, trên cơ sở những kết quả của hoạt động tập hợp hoá, pháp
điển hoá sửa chữa, bổ sung các quy định trong văn bản quy phạm pháp luật để hoàn thiện hơn các văn bản quy phạm pháp luật
Thứ ba, sự khác biệt giữa pháp điển hoá với chỉnh lý văn bản
Hoạt động chỉnh lý văn bản có cả dưới góc độ nội dung, kỹ thuật và phương thức điều chỉnh Xét theo nghĩa nào đó chỉnh lý văn bản có thể là một phần trong hoạt động pháp điển hoá Như vậy, không phải mọi chủ thể có thẩm quyền chỉnh lý văn bản đều có thẩm quyền pháp điển hoá nhưng hoạt
Trang 32động pháp điển hoá (với sản phẩm là Bộ pháp điển) thì luôn có mặt hoạt động chỉnh lý văn bản Chỉnh lý văn bản quy phạm pháp luật chính là một khâu trong quy trình ban hành ra Bộ pháp điển
1.3.2 Quy trình pháp điển hoá
Pháp điển hoá là hoạt động có vai trò quan trọng đối với hệ thống pháp luật của quốc gia Vậy pháp điển hoá được tiến hành theo quy trình như thế nào? Để trả lời được câu hỏi đó, đầu tiên cần phải giải thích được khái niệm quy trình Quy trình được hiểu ngắn gọn là những quy định về trình tự, thủ tục tiến hành một công việc nào đó Do đó, quy trình pháp điển hoá chính là những quy định về trình tự, thủ tục tiến hành pháp điển hoá
Với cách hiểu và thực tế ở Việt Nam, pháp điển hoá được tiến hành theo từng chủ đề và từng lĩnh vực nhất định Xây dựng quy trình pháp điển hoá phù hợp với thực tiễn nước ta hiện nay là một yêu cầu tất yếu, quy trình ấy phải bao gồm: Quy trình thường xuyên pháp điển; quy trình định kỳ pháp điển hoá; quy trình tổng rà soát, pháp điển hoá văn bản quy phạm pháp luật Các quy trình này
sẽ có những điểm chung nhưng cũng có những nguyên tắc, đối tượng pháp điển và
đặc biệt là kết quả pháp điển hoá văn bản quy phạm pháp luật sẽ khác nhau
Với những kết quả của pháp điển hoá là khác nhau thì quy trình tiến hành hoạt động này cũng phải có những đặc thù riêng biệt Theo quy định tại
Điều 93 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 thì sản phẩm của pháp điển hoá chính là Bộ pháp điển Tuy nhiên, trên thực tế theo hầu hết các nhà nghiên cứu thì nước ta chưa từng có sản phẩm với tên gọi là
Bộ pháp điển Sản phẩm của hoạt động pháp điển trên thực tế chính là Bộ luật hoặc các sản phẩm tương tự như vậy Tổng hợp lại có thể thấy kết quả của pháp điển hoá ở nước ta là Bộ luật, Bộ pháp điển; ngoài ra còn có các sản phẩm tương tự pháp điển Dưới đây, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu từng quy trình
để dẫn đến các sản phẩm của pháp điển hoá như trên
1.3.2.1 Quy trình pháp điển hoá với kết quả là Bộ luật
Trang 33Bộ luật là sản phẩm của hoạt động pháp điển hoá trên thực tế ở Việt Nam hiện nay Việc ban hành, xây dựng Bộ luật thuộc thẩm quyền của Quốc hội Quy trình xây dựng Bộ luật sẽ bao gồm các giai đoạn chính sau:
- Nêu sáng kiến xây dựng Bộ luật
- Soạn thảo Bộ luật dự thảo
- Thảo luận và chỉnh lý Bộ luật dự thảo
- Thông qua Bộ luật dự thảo
- Công bố Bộ luật đã được thông qua
a/ Nêu sáng kiến xây dựng Bộ luật
ở giai đoạn này, các chủ thể có thẩm quyền căn cứ vào nhu cầu của thực tiễn, thực trạng khách quan của đất nước để nêu lên sáng kiến xây dựng
Bộ luật
b/ Soạn thảo Bộ luật
Sau khi sáng kiến xây dựng Bộ luật được chấp thuận, cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản sẽ ra quyết định thành lập Ban soạn thảo Bộ luật dự thảo và giao cho Ban soạn thảo xây dựng Bộ luật dự thảo Ban soạn thảo có trách nhiệm huy động các chuyên gia pháp lý, các chuyên gia trong các lĩnh vực liên quan tới đối tượng điều chỉnh của văn bản và các tổ chức, cá nhân có liên quan khác để xây dựng một Bộ luật dự thảo toàn văn với phần, chương, mục, điều khoản cần thiết
c/ Thảo luận và chỉnh lý Bộ luật dự thảo
Việc thảo luận để lấy ý kiến đóng góp cho Bộ luật có thể được tiến hành nhiều lần dưới nhiều hình thức khác nhau và được thực hiện bởi nhiều chủ thể khác nhau Có thể thảo luận trong nội bộ Quốc hội – cơ quan có thẩm quyền ban hành Bộ luật, thảo luận để lấy ý kiến của các chủ thể có liên quan đến đối tượng điều chỉnh của Bộ luật, thảo luận để lấy ý kiến của toàn dân Sau mỗi lần thảo luận, Ban soạn thảo đều phải chỉnh lý Bộ luật trên cơ sở tiếp thu các ý kiến đóng góp hợp tình, hợp lý thu được trong quá trình thảo luận
d/ Thông qua Bộ luật dự thảo
Trang 34Thông qua Bộ luật dự thảo là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản – Quốc hội và được thực hiện bằng cách biểu quyết tán thành Thông thường dự thảo Bộ luật được coi là thông qua khi
được quá nửa tổng số đại biểu biểu quyết tán thành
e/ Công bố Bộ luật đã được thông qua
Việc công bố Bộ luật đã được thông qua là sự công khai hoá, chính thức hoá về mặt nhà nước văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành để tạo điều kiện cho văn bản phát sinh hiệu lực và các chủ thể có liên quan biết được nội dung các quy định của văn bản mà thực hiện Việc công bố Bộ luật được thực hiện giống như Luật Theo quy định của pháp luật việc công bố Luật sẽ được thực hiện bằng hình thức văn bản là Lệnh của Chủ tịch nước
Có thể thấy quy trình xây dựng Bộ luật cũng giống như quy trình xây dựng Luật của Quốc hội Có lẽ, đây cũng chính là lý do khiến cho nhiều người
đã đồng nhất giữa hoạt động xây dựng pháp luật (hiểu theo nghĩa hẹp) với hoạt động pháp điển hoá ! Tuy nhiên, cần phải hiểu rằng đây là hai hoạt động khác nhau (đã phân biệt ở phần trên) Để thấy rõ hơn sự khác nhau giữa hoạt
động xây dựng pháp luật với pháp điển hoá chúng ta cùng đi tìm hiểu quy trình pháp điển hoá với sản phẩm đặc trưng là Bộ pháp điển – sản phẩm chỉ
có trong hoạt động pháp điển hoá
1.3.2.2 Quy trình pháp điển hoá với kết quả là Bộ Pháp điển
Bộ Pháp điển là sản phẩm chưa từng có trong hầu hết các lần pháp điển tại Việt Nam Do vậy, việc xây dựng quy trình pháp điển hoá với sản phẩm là
Bộ Pháp điển cần dựa trên kinh nghiệm của các nước trên thế giới đã tiến hành (dựa trên kinh nghiệm của Pháp, của Hoa kỳ) Trên cơ sở kinh nghiệm của các nước đó kết hợp với tình hình thực tế tại Việt Nam, việc pháp điển hoá với sản phẩm là Bộ Pháp điển cần tiến hành theo quy trình với tuần tự các bước sau:
- Thống kê văn bản quy phạm pháp luật
- Tập hợp, phân loại văn bản quy phạm pháp luật
- Hợp nhất quy định pháp luật
Trang 35ta sẽ tiến hành thống kê các văn bản quy phạm pháp luật để từ đó làm cơ sở cho giai đoạn tiếp theo của quy trình pháp điển hoá
Việc thống kê văn bản quy phạm pháp luật ở nước ta có thể do Uỷ ban thường vụ Quốc hội giao cho các cơ quan chuyên trách khác đảm nhiệm (ví như Cục kiểm tra văn bản thuộc Bộ Tư pháp đảm nhiệm) dựa trên phạm vi pháp điển hoá Các cơ quan này sẽ tiến hành thống kê tất cả các văn bản thuộc
đối tượng của hoạt động này
Chẳng hạn, như đầu năm 2009 nước ta chủ trương tiến hành pháp điển hoá thí điểm các quy phạm pháp luật về tổ chức và hoạt động của Quốc hội Với phạm vi và nội dung đó Uỷ ban thường vụ Quốc hội có thể tự mình hoặc giao cho một cơ quan chuyên môn khác tiến hành thống kê tất cả các quy phạm pháp luật về lĩnh vực trên
b/ Tập hợp, phân loại văn bản quy phạm pháp luật
Sau khi văn bản quy phạm pháp luật được thống kê ở giai đoạn 1, các nhà pháp điển hoá sẽ tiến hành tập hợp các văn bản quy phạm pháp luật trên cơ sở phân loại, sắp xếp vào trong cùng một văn bản
Việc tập hợp văn bản quy phạm pháp luật phải đảm bảo một số yêu cầu sau:
- Tập hợp đúng những văn bản quy phạm pháp luật cần pháp điển hoá;
Trang 36- Không để sót văn bản hoặc để sót quy phạm pháp luật trong từng văn bản;
- Tập hợp các văn bản, các quy phạm pháp luật theo từng tiêu chí hay từng lĩnh vực đã xác định;
Việc phân loại văn bản quy phạm pháp luật cần được tiến hành dựa trên các tiêu chí sau:
- Theo lĩnh vực (ngành) văn bản mà pháp luật điều chỉnh (còn gọi là phân loại theo chuyên đề);
- Theo thứ bậc hiệu lực của văn bản;
- Theo trình tự thời gian ban hành văn bản;
- Theo thứ tự Alfabet (A, B, C, ) trong bảng chữ cái tiếng Việt Chủ thể tiến hành tập hợp, phân loại văn bản quy phạm pháp luật sẽ do
Uỷ ban thường vụ Quốc hội giao cho cơ quan chuyên môn đảm nhiệm Uỷ ban thường vụ Quốc hội có thể giao cho Cục kiểm tra văn bản thuộc Bộ Tư pháp tiến hành tập hợp tất cả văn bản thuộc đối tượng của pháp điển hoá Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng tuỳ thuộc vào phạm vi pháp điển hoá mà Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định giao cho một cơ quan nào đó chứ không phải trong mọi trường hợp đều giao cho Cục kiểm tra văn bản đảm nhiệm Ví dụ như việc pháp điển hoá văn bản pháp luật của một ngành, một bộ nhất định có thể giao cho chính ngành, bộ đó đảm nhiệm công việc tập hợp, phân loại văn bản pháp luật
c/ Hợp nhất quy định pháp luật
Hợp nhất quy định được coi là một giai đoạn của pháp điển hoá, tuy nhiên không phải lúc nào hoạt động này cũng được thực hiện Đây là một vấn
đề mang tính kỹ thuật và là một phần của pháp điển hoá Kinh nghiệm là “ở Pháp khi ban hành một văn bản luật hay một nghị định để bổ sung, sửa đổi một văn bản luật hay một nghị định khác, thường không viết lại toàn bộ luật hay nghị định cần sửa đổi, bổ sung mà thường viết đại loại như: “tại điều 1, từ doanh nghiệp được thay thế bằng từ công ty” hay “thêm vào khoản 3 điều 2 cụm từ trừ những thiết bị điện có công suất dưới 300W” Như vậy, đây là việc hiệu chỉnh, thêm, bớt, sửa đổi từng điểm một “Hợp nhất quy định là việc viết
Trang 37lại các văn bản bằng cách đưa vào trong các câu văn của văn bản gốc các quy định mới Các nhà xuất bản tư nhân thường làm việc này trên cơ sở cho ra đời các tuyển tập văn bản pháp luật được cập nhật các điểm sửa đổi, bổ sung”[27, Tr15]
Hợp nhất các quy định pháp luật là cách thống nhất các quy định đã
được sửa đổi với quy định được sửa đổi Hợp nhất quy định là việc viết lại các văn bản bằng cách đưa vào trong các câu văn của văn bản gốc các quy định mới Kết quả của giai đoạn này thường là sự ra đời của các tuyển tập văn bản pháp luật được cập nhật các điểm sửa đổi, bổ sung ở Việt Nam, hoạt động hợp nhất quy định của pháp luật có thể nói cũng khá phổ biến Theo Điều 92 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 thì: “Việc hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định”[22, Tr 18] Như vậy, Uỷ ban thường vụ Quốc hội là cơ quan có thẩm quyền quy
định những vấn đề về trình tự, thủ tục hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật Thực tế ở nước ta hàng năm Quốc hội tiến hành họp để sửa đổi về nội dung,
kỹ thuật, phương thức thể hiện đối với các văn bản Luật là rất phổ biến, kết quả chính là việc cho ra đời các Luật với tên gọi là Luật sửa đổi, bổ sung Chẳng hạn, sự ra đời của Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm
2009 Bằng việc ban hành văn bản sửa đổi, bổ sung đó một số chủ thể tiến hành hợp nhất giữa văn bản sửa đổi, bổ sung với văn bản gốc để cho ra đời một văn bản mới là sự tổng hợp của hai văn bản trên để tiện cho quá trình tra cứu và áp dụng
d/ Căn chỉnh, làm sạch các văn bản quy phạm pháp luật
Việc căn chỉnh, làm sạch các văn bản quy phạm pháp luật phải do các cơ quan có thẩm quyền thực hiện Trải qua ba giai đoạn trên, đến giai đoạn này có thể phát hiện ra những điểm không hợp lý, thậm chí những quy định mâu thuẫn, chồng chéo với nhau Nhiệm vụ đặt ra là cần phải căn chỉnh, làm sạch bằng nhiều cách khác nhau có thể chỉ là việc sửa đổi câu chữ, thuật ngữ cho phù hợp với ngôn ngữ hiện đại; song cũng có thể là việc loại bỏ những mâu thuẫn, chồng chéo và thay vào đó là các quy định mới Như vậy, việc loại
bỏ những quy định mâu thuẫn, chồng chéo cần phải được thực hiện theo
Trang 38nguyên tắc quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật Đó là:
“Văn bản quy phạm pháp luật chỉ được sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ
bỏ hoặc bãi bỏ bằng văn bản quy phạm pháp luật của chính cơ quan nhà nước
đã ban hành văn bản đó hoặc bị đình chỉ việc thi hành, huỷ bỏ hoặc bãi bỏ bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.” [22, Tr2]
Quy định trên có nghĩa là chỉ những cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản nào thì cơ quan đó mới có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ
bỏ hoặc bãi bỏ văn bản đó Không chỉ vậy, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cao hơn có thể ban hành một văn bản cá biệt để đình chỉ hoặc huỷ bỏ văn bản quy phạm pháp luật của cấp dưới Đây chính là nội dung của chỉnh lý văn bản, một khâu trong quy trình pháp điển hoá
Để thực hiện việc căn chỉnh, làm sạch các văn bản quy phạm pháp luật
đạt hiệu quả cao cần phải thông qua nhiều thao tác nghiệp vụ khác nhau Đó
có thể là các thao tác nghiệp vụ như:
- Đối chiếu, so sánh văn bản quy phạm pháp luật;
- Nhận biết các dạng khiếm khuyết của văn bản quy phạm pháp luật;
- Lập danh mục văn bản quy phạm pháp luật để xử lý;
- Xử lý văn bản quy phạm pháp luật có khiếm khuyết
* Đối chiếu, so sánh văn bản quy phạm pháp luật
Về hình thức văn bản, cần so sánh, đối chiếu văn bản đang xem xét với các điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, các Luật
về tổ chức bộ máy nhà nước và các văn bản hướng dẫn thi hành, để xem văn bản đó có phù hợp về tên gọi pháp lý, về thẩm quyền ban hành hay không
Về nội dung văn bản, đây là điểm quan trọng nhất và cũng là khó nhất trong cả quá trình pháp điển hoá Bởi vì, yêu cầu đặt ra là cần phát hiện được những điểm khiếm khuyết như: văn bản có trái pháp luật, chồng chéo, mâu thuẫn, sơ hở không Muốn vậy, phải tiến hành phân tích một cách tỉ mỉ, so sánh, đối chiếu từng quy phạm, từng văn bản với những quy định mới nhất, chuẩn mực nhất để xem xét tính hiệu lực của chúng Cụ thể:
Trang 39- Xem xét tính hợp hiến, hợp pháp: theo quy định tại Điều 3 Nghị định 135/2003/NĐ-CP ngày 14/11/2003 của Chính phủ về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật việc xem xét tính hợp hiến, hợp pháp gồm: căn cứ pháp lý ban hành; thẩm quyền ban hành; sự phù hợp của nội dung văn bản với quy định của pháp luật; thể thức và kỹ thuật trình bày; trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành, niêm yết, đưa tin văn bản
- Xem xét tình thống nhất, đồng bộ của văn bản: cần xem xét toàn diện văn bản đó theo mối quan hệ dọc (mối quan hệ với các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên quy định về lĩnh vực đó) và quan hệ ngang (mối quan hệ với các văn bản do chính quyền cấp huyện, cấp xã ban hành cùng quy định về vấn
đề đó hoặc liên quan đến lĩnh vực đó) trong hệ thống văn bản điều chỉnh lĩnh vực đó; xem xét hiệu lực của văn bản để phát hiện những chỗ không thống nhất
- Xem xét tính phù hợp với thực tiễn: chính là sự xem xét sự phù hợp của các quy định trong văn bản với trình độ phát triển kinh tế – xã hội của
đất nước (nếu quy định cao hơn so với thực tiễn thì sẽ rất khó thực hiện, ngược lại nếu quy định thấp hơn thì sẽ là một lực cản cho sự phát triển của lĩnh vực
đó)
- Ngoài ra, qua quá trình rà soát thường xuyên, cụ thể từng văn bản cần phải phát hiện được những mối quan hệ xã hội cần thiết được điều chỉnh bằng pháp luật, nhưng trong hệ thống văn bản chưa quy định, tức là phát hiện những “kẽ hở”, “lỗ hổng” trong hệ thống pháp luật để đề nghị cơ quan tổ chức
có thẩm quyền sớm ban hành những quy định mới điều chỉnh lĩnh vực xã hội đó
* Nhận biết các dạng khiếm khuyết của văn bản quy phạm pháp luật
Để pháp điển hoá đạt hiệu quả cao nhất, trong quá trình tiến hành pháp
điển các nhà pháp điển cần phải nhận biết được các dạng khiếm khuyết của văn bản Đó là các dạng khiếm khuyết sau:
- Văn bản trái pháp luật là các văn bản vi phạm một trong những nội dung quy định tại Điều 3 Nghị định 135/2003/NĐ-CP ngày 14/11/2003 của Chính phủ về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật
Trang 40- Văn bản mâu thuẫn, chồng chéo tức là các văn bản của cùng một cơ quan ban hành quy định khác nhau về cùng một vấn đề hoặc một nhóm vấn
đề, hoặc một quy định được nhắc đi nhắc lại ở nhiều văn bản
- Văn bản có quy định “sơ hở” là các văn bản ban hành đúng pháp luật, nhưng giải quyết vấn đề không triệt để, nửa vời, có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau hoặc lạc hậu dẫn đến hiểu và áp dụng không thống nhất, dễ bị lợi dụng để làm trái pháp luật
- Các vấn đề thực tiễn đòi hỏi phải có pháp luật điều chỉnh nhưng chưa
có văn bản nào điều chỉnh
- Văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành tuy không đúng thủ tục nhưng nội dung lại hợp hiến, hợp pháp
Lưu ý: Để pháp điển hoá đạt hiệu quả cao, đồng thời giảm thiểu chi phí
về tiền của và thời gian có thể sử dụng kết quả của hoạt động rà soát văn bản thường xuyên và định kỳ trong quá trình tiến hành pháp điển hoá
* Lập danh mục văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện xử lý
Khi lập danh mục văn bản quy phạm pháp luật cần sắp xếp theo các tiêu chí phân loại văn bản ở giai đoạn trên đặc biệt là tiêu chí phân loại văn bản theo lĩnh vực (chuyên đề)
- Danh mục chung: bao gồm toàn bộ các văn bản quy phạm pháp luật
được thống kê, tập hợp và sắp xếp theo các tiêu chí ở trên trong đó tiêu chí phân loại theo chuyên đề là cơ bản nhất
- Danh mục văn bản hết hiệu lực: khi lập danh mục này cần kiểm tra kỹ kết quả đánh giá, xếp loại văn bản ở các bước trên đây Trong danh mục này cần áp dụng Điều 81 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008:
“Văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực toàn bộ hoặc một phần trong các trường hợp sau đây:
- Hết thời hạn có hiệu lực đã được quy định trong văn bản;
- Được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế bằng văn bản mới của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó;