Nghị quyết số 48 – NQ/TW ngày 24 tháng 5 năm 2005 của Bộ Chính trị đã nhấn mạnh việc tiếp tục ký kết, gia nhập các tổ chức quốc tế đặc biệt là các công ước quốc tế về chống khủng bố, tội
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
PHẠM BÁ QUYỀN
MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ TÒA ÁN HÌNH SỰ QUỐC TẾ VÀ VIỆC GIA NHẬP CỦA VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT QUỐC TẾ
Trang 2Cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới người thầy đã giúp đỡ và chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành bản luận văn tốt nghiệp của mình đó là PGS.TS Hoàng Phước Hiệp,
Vụ trưởng Vụ pháp luật quốc tế – Bộ Tư pháp
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo đã giảng dạy kiến thức cho tôi trong suốt khóa học, cảm ơn Khoa Sau Đại học – Trường Đại học Luật
Hà Nội cùng các bạn bè và những người thân đã giúp đỡ để tôi hoàn thành bản luận văn thạc sỹ luật học này
Phạm Bá Quyền
Trang 301 BIAs - Các hiệp định theo điều 98 quy chế Roma
02 BLHS - bộ luật hình sự
03 BLTTHS - Bộ luật tố tụng hình sự
04 EU - Liên minh Châu Âu
05 HĐBA - Hội đồng bảo an
06 ICC - Tòa án hình sự quốc tế
07 ICJ - Tòa án quốc tế của liên hợp quốc
08 ICTR - Tòa án hình sự quốc tế truy tố các cá nhân phạm
tội diệt chủng và vi phạm luật nhân đạo quốc tế trên lãnh thổ rwanda năm 1994
09 ICTY - Tòa án hình sự quốc tế truy tố các cá nhân vi
phạm nghiêm trọng luật nhân đạo quốc tế trên lãnh thổ nam tƣ cũ từ năm 1991
10 LHQ - Liên hợp quốc
Trang 4MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU - 1
1 Tính cấp thiết của đề tài - 1
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài - 2
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu - 3
3.1 Mục đích nghiên cứu - 3
3.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - 4
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu - 4
5 Cơ cấu của Luận văn - 5
CHƯƠNG 1: TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TÒA ÁN HÌNH SỰ QUỐC TẾ - 6
1.1 Quá trình hình thành và phát triển của ICC - 6
1.1.1 Giai đoạn trước Hội nghị ngoại giao 1998 thành lập ICC - 6
1.1.2 Giai đoạn từ Hội nghị ngoại giao 1998 thành lập ICC đến nay…… 8
1.1.3 Một số vấn đề mới trong quy chế thành viên ICC - 12
1.2 Cơ cấu tổ chức của ICC - 14
1.2.1 Đoàn Chủ tịch (The Presidency) - 14
1.2.2 Các Tòa của ICC (Chambers) - 14
1.2.3 Văn phòng Công tố (The office of the prosecutor) - 16
1.2.4 Văn phòng Lục sự (The Registry) - 17
1.2.5 Thẩm phán - 18
1.3 Nguyên tắc hoạt động của ICC - 19
1.4 Quyền ưu đãi và miễn trừ - 24
1.4.1 Quyền ưu đãi và miễn trừ của ICC - 24
1.4.2 Quyền ưu đãi và miễn trừ cho các công chức của ICC - 25
1.5 Thực tiễn hoạt động của ICC trong những năm gần đây - 25
CHƯƠNG 2: TÒA ÁN HÌNH SỰ QUỐC TẾ – CHỦ THỂ ĐẶC BIỆT CỦA LUẬT QUỐC TẾ - 29
2.1 Bản chất pháp lý của Văn kiện thành lập ICC - 29
Trang 52.3 Thẩm quyền quốc tế của ICC - 34
2.4 Quan hệ pháp lý giữa ICC với Hội đồng bảo an và Tòa án quốc tế của Liên hợp quốc - 40
2.4.1 Về văn bản thỏa thuận giữa ICC và Hội đồng bảo an trong việc thực hiện quyền tài phán về vấn đề tội phạm chống loài người - - 40
2.4.2 Về vấn đề phối hợp hoạt động điều tra, truy tố của ICC và Hội đồng bảo an - 42
2.4.3 Về vấn đề xây dựng các quy phạm mới và giải thích pháp luật của ICC, Tòa án quốc tế và Hội đồng bảo an - 43
2.5 Quan hệ pháp lý giữa ICC với các quốc gia thành viên - 46
CHƯƠNG 3: THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN ĐỐI VỚI VIỆT NAM KHI GIA NHẬP QUY CHẾ ROMA VỀ TÒA ÁN HÌNH SỰ QUỐC TẾ - 49
3.1 Đánh giá tổng quan về khả năng Việt Nam gia nhập ICC - 49
3.1.1 Các lập luận khác nhau trong nước về việc gia nhập ICC -49
3.1.2 Những yếu tố từ ngoài nước ảnh hưởng tới vấn đề Việt Nam gia nhập ICC - 51
3.2 Thuận lợi và khó khăn đối với Việt Nam khi gia nhập ICC - 54
3.2.1 Thuận lợi - 54
3.2.2 Khó khăn - 58
3.3 Những vấn đề chính Việt Nam cần giải quyết khi gia nhập ICC - 76
KẾT LUẬN - 82
PHỤ LỤC - 84
PHỤ LỤC 1 - 85
PHỤ LỤC 2……… 86
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử thế giới ít có một giai đoạn nào mà nhân loại phải giải quyết nhiều vấn đề mang tính toàn cầu như thế kỷ vừa qua Việc thành lập LHQ sau Chiến tranh thế giới thứ hai có một trong những nhiệm vụ quan trọng là giữ gìn hòa bình, an ninh quốc tế luôn được đi kèm với việc tổ chức các tòa án quốc tế để xét xử tội ác trong các cuộc chiến tranh Từ những tòa
án Nuremberg và Tokyo sau Thế chiến lần thứ hai do các quốc gia thắng trận
lập lên, cũng như Tòa án ad hoc dành cho Nam Tư cũ và Rwanda do HĐBA
LHQ thành lập đều cho thấy quyết tâm của cộng đồng quốc tế đưa thủ phạm gây những tội ác nói trên ra trước công lý
Năm 1998, Quy chế Roma được ký kết thành lập Tòa án hình sự quốc tế (ICC) để xét xử những cá nhân phạm các tội ác nghiêm trọng nhất đối với cộng đồng quốc tế: Tội diệt chủng, tội ác chống nhân loại, tội ác chiến tranh
và tội xâm lược Lần đầu tiên trong lịch sử, một tòa án hình sự quốc tế thường trực được các quốc gia thành lập bằng một điều ước quốc tế, với vai trò bổ sung cho hệ thống tư pháp quốc gia
Việc nghiên cứu các vấn đề pháp luật quốc tế trong điều kiện hiện nay nói chung, Quy chế Roma nói riêng đã được đề cập trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước ta Nghị quyết số 48 – NQ/TW ngày 24 tháng 5 năm 2005 của Bộ Chính trị đã nhấn mạnh việc tiếp tục ký kết, gia nhập các tổ chức quốc
tế đặc biệt là các công ước quốc tế về chống khủng bố, tội phạm chống loài người và các hiệp định tương trợ tư pháp, đồng thời đẩy mạnh việc rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các văn bản pháp luật để phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên
Mặt khác, việc gia nhập Quy chế Roma của Việt Nam cũng đặt ra hàng loạt vấn đề pháp luật cần nghiên cứu Có thể nhận thấy một số vấn đề như:
Trang 7Thứ nhất, Quy chế Roma là một bộ văn bản pháp lý đa phương phức tạp, có
nhiều nội dung liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau của pháp luật quốc gia, đặc biệt là các quy định của pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự Do vậy việc thực hiện Quy chế Roma đòi hỏi phải có sự nghiên cứu và phối hợp
điều chỉnh cần thiết của các cơ quan tư pháp trong nước Thứ hai, các quy
định về tội phạm, độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, quy tắc xét xử ở Việt Nam, quy định về dẫn độ người Việt Nam cho Tòa án quốc tế xét xử và các quy định khác nhau trong từng lĩnh vực hoạt động tư pháp có sự khác biệt khá lớn so với Quy chế Roma Do đó, nếu gia nhập Quy chế Roma thì cần thiết phải nghiên cứu để có những điều chỉnh cần thiết các quy định của pháp luật
Việt Nam mới có thể thực thi hiệu quả nghĩa vụ thành viên của ICC Thứ ba,
Chính phủ Hoa Kỳ có thực tiễn vận động nhiều quốc gia trên thế giới ký BIAs (Hiệp định theo Điều 98) và cũng gây sức ép đối với các nước tham gia ICC Việc Việt Nam gia nhập ICC có thể sẽ ảnh hưởng tới sự phát triển quan hệ nhiều mặt Việt Nam – Hoa Kỳ
Ngoài các lý do cần thiết nghiên cứu Quy chế Roma như đã nêu trên, hiện nay thông tin và kiến thức về ICC của nhân dân Việt Nam nói chung, cán
bộ pháp luật nói riêng còn hạn chế Do đó, việc tìm hiểu các quy định pháp lý
về ICC và việc gia nhập của Việt Nam vào ICC là một vấn đề cấp thiết Thông qua làm sáng tỏ các quy định về tổ chức và hoạt động, những vấn đề pháp lý cơ bản, những lợi ích và hạn chế của việc gia nhập ICC, tác giả mong muốn góp phần làm rõ thêm một số vấn đề pháp lý và việc gia nhập ICC của Việt Nam trong tương lai
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Trong phạm vi quốc tế, đã có nhiều công trình, đề tài khoa học nghiên cứu về vấn đề này, mỗi công trình, đề tài đều có một cách tiếp cận ở các góc
độ khác nhau Có thể kể tên một số công trình khoa học như: Douglass Casel
Trang 8“Tại sao chúng ta lại cần Tòa án hình sự quốc tế - Tòa án Liên hợp quốc xét
xử tội ác chống lại loài người”; Anna Rosen và Veronica Jormeus Gruner
“Các hiệp định theo Điều 98 - Hợp pháp hay không hợp pháp”; Ruth Wedgwood “Các vấn đề đặt ra từ Hội nghị Roma”; Michael P Scharf
“Quyền tài phán của Tòa án hình sự quốc tế đối với công dân của quốc gia không phải là thành viên – Phê bình quan điểm của Hoa Kỳ” và nhiều công
trình nghiên cứu khác
Trong phạm vi Việt Nam, việc nghiên cứu về Tòa án hình sự quốc tế mới được tiến hành trong giới nghiên cứu pháp luật, trong thời gian gần đây với sự tài trợ của các chuyên gia ICC và theo các dự án tài trợ quốc tế, một số Hội thảo khoa học về vấn đề này đã được tiến hành Bên cạnh đó, một số tài liệu, bài viết tạp chí đề cập đến các khía cạnh pháp lý, tổ chức và hoạt động, những thuận lợi và thách thức khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của ICC
đã được đăng phát Đáng chú ý nhất là công trình nghiên cứu “Những mâu thuẫn xung quanh việc thành lập và hoạt động của Tòa án hình sự quốc tế”
của Bộ Ngoại giao năm 2001 Cho đến nay ở Việt Nam chưa có Luận án Tiến
sỹ hoặc Luận văn cao học luật nào lựa chọn đề tài này
3 Mục đích, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn nhằm đạt được các mục đích sau:
+ Làm rõ những vấn đề pháp lý cơ bản của ICC như: Tổ chức và hoạt động, nguyên tắc hoạt động, bản chất pháp lý của Văn kiện thành lập, quyền năng chủ thể và quan hệ với HĐBA và Tòa án quốc tế của LHQ
+ Đánh giá sự cần thiết gia nhập ICC của Việt Nam trong tình hình hiện nay và hệ thống pháp luật hiện hành của Việt Nam có liên quan, đặc biệt là vấn đề đảm bảo yêu cầu tuân thủ Quy chế Roma
Trang 9+ Đề xuất phương hướng để hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực pháp luật liên quan cho phù hợp với các quy định của ICC và đường lối đối ngoại với Hoa Kỳ nếu Việt Nam gia nhập ICC
3.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là những vấn đề pháp lý cơ bản về ICC và việc gia nhập ICC của Việt Nam
Luận văn không có tham vọng và không thể nghiên cứu làm rõ tất cả các vấn đề pháp lý về ICC mà chỉ tập trung nghiên cứu làm rõ cơ cấu tổ chức và hoạt động của ICC dựa trên các quy định của phần thứ I, II, III và IV của Quy chế Roma; cố gắng thiết lập quan hệ so sánh chúng với các quy định liên quan của pháp luật Việt Nam hiện hành; qua đó đưa ra những vấn đề mà pháp luật Việt Nam cần điều chỉnh để thực thi có hiệu quả nghĩa vụ thành viên ICC nếu Việt Nam tham gia Quy chế Roma Luận văn cũng cố gắng phân tích và làm
rõ mối quan hệ giữa ICC và HĐBA, Tòa án quốc tế của LHQ trong giải quyết cùng một vấn đề thuộc lĩnh vực trừng trị những cá nhân gây tội ác đối với hòa bình, chống nhân loại Luận văn không đặt ra và không thể nghiên cứu các vấn đề khác liên quan trực tiếp đến hoạt động tác nghiệp của ICC Các quan điểm và thái độ cụ thể của các nước thuộc EU và các nước ủng hộ Hoa Kỳ sẽ được đề cập trong một mức độ cần thiết để hiểu rõ hơn nội dung của vấn đề chính trong Luận văn này
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận thực hiện đề tài Luận văn là phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Tác giả của Luận văn dựa vào đó để tìm ra mối liên
hệ biện chứng giữa các hiện tượng của pháp luật quốc tế hiện đại, đánh giá các vấn đề thuộc nội dung nghiên cứu của đề tài Luận văn
Bên cạnh đó, để có được kết quả cụ thể và chính xác trong từng nội dung
cụ thể của Luận văn, các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phân tích, tổng
Trang 10hợp và so sánh được áp dụng Một trong những mục tiêu của Luận văn là tìm hiểu, phân tích làm rõ những vấn đề pháp lý cơ bản về ICC và so sánh chúng với các quy định trong các văn bản pháp luật có liên quan của Việt Nam Do vậy, phương pháp so sánh sẽ được chú ý áp dụng nhằm tìm ra những điểm giống nhau và khác nhau, phù hợp hay không phù hợp, hỗ trợ cho việc bình luận khoa học những vấn đề mà pháp luật Việt Nam cần phải cân nhắc sửa đổi, bổ sung nếu Việt Nam gia nhập ICC Ngoài ra, phương pháp này cũng được ưu tiên áp dụng để có một cách nhìn nhận lo - gic về vấn đề pháp lý của ICC thông qua phân tích, so sánh quá trình tổ chức và hoạt động, bản chất pháp lý, quyền năng chủ thể trong mối quan hệ giữa ICC với HĐBA LHQ Phương pháp diễn giải và tổng hợp được ưu tiên sử dụng để làm rõ mức độ ảnh hưởng của các quy định của ICC đối với thực tiễn và đưa ra các giải pháp nhằm điều chỉnh pháp luật Việt Nam có liên quan để đáp ứng việc thực thi các nghĩa vụ thành viên của ICC nếu Việt Nam gia nhập ICC
5 Cơ cấu của Luận văn
Luận văn được kết cấu thành các phần như sau:
LỜI NÓI ĐẦU
CHƯƠNG 1: TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TOÀ ÁN HÌNH SỰ QUỐC TẾ
CHƯƠNG 2: TÒA ÁN HÌNH SỰ QUỐC TẾ - CHỦ THỂ ĐẶC BIỆT CỦA LUẬT QUỐC TẾ
CHƯƠNG 3: THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN ĐỐI VỚI VIỆT NAM KHI GIA NHẬP QUY CHẾ ROMA VỀ TÒA ÁN HÌNH SỰ QUỐC TẾ
KẾT LUẬN
PHỤ LỤC
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 11CHƯƠNG 1
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TÒA ÁN HÌNH SỰ QUỐC TẾ 1.1 Quá trình hình thành và phát triển của ICC
1.1.1 Giai đoạn trước Hội nghị ngoại giao 1998 thành lập ICC
Khi Chiến tranh thế giới hai kết thúc, năm 1945 “Thỏa thuận London” thiết lập Tòa án quốc tế dưới tên gọi Tòa án Nuremberg nhằm xét xử các thành viên của Đức Quốc xã và đến năm 1946 quân đồng minh phê chuẩn Hiến chương thiết lập Tòa án Tokyo xét xử tội phạm chiến tranh quốc tế cho vùng Viễn Đông nhằm truy tố tội phạm chiến tranh người Nhật [69], sự phát triển của ý tưởng thành lập tòa án quốc tế để giải quyết vấn đề tội ác chống lại con người đã được thúc đẩy xuất phát từ những hành động mà Đức Quốc xã
và Nhật Bản đã gây ra Những tòa án đó chứng tỏ rằng cấu trúc pháp luật quốc tế đang tồn tại lúc đó không có cơ quan thường trực theo đúng nghĩa hay không có cơ quan tòa án có thẩm quyền để xét xử loại tội phạm này [15, tr 83]
Năm 1947, Hiệp định của Đại hội đồng LHQ về ngăn ngừa và trừng trị tội phạm diệt chủng đã được thông qua Trong một Nghị quyết tương tự, Đại hội đồng LHQ yêu cầu Hội đồng Luật gia quốc tế “nghiên cứu nguyện vọng
và khả năng thành lập một cơ quan tòa án để xét xử những cá nhân liên quan đến tội diệt chủng” [69] Năm 1949 – 1954, ủy ban Pháp luật quốc tế (ILC – International Law Commission) đã chuẩn bị một số dự thảo quy chế cho ICC theo yêu cầu của Đại hội đồng LHQ, nhưng sự khác biệt về ý kiến đã ngăn không cho dự án này tiến xa hơn [15, tr 84]
Năm 1989, nhằm đáp lại yêu cầu của Trinidad and Tobago, Đại hội đồng LHQ đã yêu cầu ủy ban Pháp luật quốc tế tiếp tục việc thiết lập Tòa án quốc
tế đồng thời có thẩm quyền xét xử tội phạm buôn bán ma túy [69]
Trang 12Năm 1993, HĐBA LHQ đã thiết lập Tòa án quốc tế đặc biệt dành cho cựu nhân viên của Chính quyền Nam Tư cũ, nhằm luận tội các cá nhân có liên quan đến các hành động tàn bạo đã thực hiện được biết đến như là một phần của cuộc “thanh lọc sắc tộc” [69]
Năm 1994, Đại hội đồng LHQ quyết định theo đuổi việc thành lập một tòa án hình sự quốc tế và lấy dự thảo quy chế Tòa án hình sự quốc tế của ủy ban Pháp luật quốc tế làm tài liệu cơ sở [32] Đại hội đồng LHQ đã quyết định
thành lập ủy ban ad hoc (ad hoc Committee) để xem xét các vấn đề liên quan đến ICC [22, tr 12-13] Các cuộc thảo luận tại ủy ban ad hoc về dự thảo Quy
chế ICC cho thấy những khác biệt sâu sắc trong quan điểm của các quốc gia
về mô hình tòa án tương lai Dự thảo của ủy ban Pháp luật quốc tế đã dựng
lên một tòa án gần giống với các Tòa án hình sự ad hoc ICTY và ICTR
Trong khuôn khổ thảo luận của ủy ban ad hoc, một khái niệm mới Nguyên
tắc bổ sung được đưa ra, theo đó ICC chỉ có quyền tài phán khi các tòa án
quốc gia không muốn, hoặc không thể truy tố kẻ phạm tội [45] ủy ban ad hoc
cũng khẳng định các quyền tài phán của ICC cần phải được định nghĩa chi tiết, chứ không chỉ nêu tên như trong dự thảo của ủy ban Pháp luật quốc tế
[45] ủy ban ad hoc không muốn để nội dung dự thảo Quy chế của ICC lệ
thuộc vào kết quả của ủy ban Pháp luật quốc tế, do đó đã cố gắng đưa vào dự thảo Quy chế ICC những quy định chi tiết về các tội phạm, cũng như các
nguyên tắc chung của pháp luật và các nội dung thực chất khác ủy ban ad hoc đã kết luận rằng tòa án mới cần tuân theo những nguyên tắc và quy định
có thể đảm bảo những chuẩn mực công lý cao nhất và những vấn đề này cần
được thể hiện đầy đủ trong Quy chế [42, page 7]
Năm 1995, Đại hội đồng LHQ thành lập một ủy ban trù bị (Preparatory Committee) với sự tham gia của các quốc gia thành viên LHQ, các tổ chức quốc tế và các tổ chức phi chính phủ Nhiệm vụ của ủy ban trù bị này là xây
Trang 13dựng một văn bản pháp lý hoàn chỉnh, được chấp nhận rộng rãi, chuẩn bị cho Hội nghị ngoại giao thông qua Quy chế ICC [22, tr 14] ủy ban trù bị đã họp hai phiên trong năm 1996 đưa ra một báo cáo dày với những đề xuất sửa đổi
dự thảo của ủy ban Pháp luật quốc tế [47] ủy ban trù bị cũng họp ba phiên nữa trong năm 1997 và nhiều phiên họp không chính thức giữa các kỳ khác, quan trọng nhất là phiên họp Zutphen tại Hà Lan vào tháng 01 năm 1998 Dự thảo Quy chế ICC được thông qua tại Zutphen đã kết hợp được các ý kiến khác nhau vào một văn bản tương đối hoàn chỉnh [46] Dự thảo này sau đó đã được chỉnh sửa tại phiên họp cuối cùng của ủy ban trù bị để trình lên Hội nghị ngoại giao các Đại diện toàn quyền của các quốc gia [47] Hầu hết các điều khoản trong bản dự thảo cuối cùng đều có nhiều phương án lựa chọn khác nhau, thể hiện kết quả của một quá trình đàm phán căng thẳng với nhiều ý kiến bất đồng [25, page 379] Một số vấn đề quan trọng như nguyên tắc bổ sung đã được giải quyết gần xong trong các cuộc thảo luận của ủy ban trù bị Thách thức đặt ra cho các đại biểu Hội nghị ngoại giao là phải làm sao ghi nhận được kết quả này Những vấn đề khác, chẳng hạn như hình phạt tử hình
đã được các quốc gia cố tình né tránh trong các phiên thảo luận của ủy ban trù
bị và đã đi đến bế tắc trong các cuộc đàm phán cuối cùng
1.1.2 Giai đoạn từ Hội nghị ngoại giao 1998 thành lập ICC đến nay
Ngày 15 tháng 6 năm 1998, Hội nghị ngoại giao về thành lập Tòa án hình sự quốc tế (ICC - International Criminal Court) đã được khai mạc tại Roma (Italy) Hơn 160 quốc gia đã cử đại biểu tham gia Hội nghị, cùng với sự
có mặt của đại diện nhiều tổ chức quốc tế và hơn 100 tổ chức phi chính phủ Tất cả các đoàn đại biểu đều bày tỏ sự ủng hộ việc thành lập một tòa án hình
sự quốc tế thường trực, chuyên xét xử và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các cá nhân phạm các tội ác nghiêm trọng theo pháp luật quốc tế [56, tr 15]
Trang 14Hội nghị ngoại giao năm 1998 nhằm hoàn chỉnh thông qua dự thảo Quy chế ICC Các nhóm làm việc chịu trách nhiệm về từng cụm vấn đề nội dung trong dự thảo Quy chế được thành lập Lần lượt các quy định của Quy chế được các nhóm làm việc thông qua với sự nhất trí chung Tuy nhiên, các quốc gia hầu như không tìm được tiếng nói chung về những vấn đề quan trọng thuộc trách nhiệm của ủy ban toàn thể, như quyền tài phán của ICC đối với công dân của quốc gia không thành viên, cơ chế khởi kiện, danh mục tội phạm Điều đó khiến cho dự thảo Quy chế dường như khó có thể đạt được sự ủng hộ của 2/3 các quốc gia tham dự Hội nghị trong trường hợp phải biểu quyết [56, page 15]
Ngày 17 tháng 7 năm 1998 là ngày cuối cùng của Hội nghị, ủy ban toàn
thể đưa ra một bản dự thảo như là một “Thỏa hiệp cả gói” (Package deal)
Nhiều nước đã bày tỏ sự ủng hộ đối với dự thảo cả gói này và phản đối bất kỳ
cố gắng nào nhằm thay đổi hoặc điều chỉnh nó, vì quan ngại rằng điều đó có thể làm hỏng toàn bộ kết quả thỏa hiệp [56, page 15] Phái đoàn Hoa Kỳ đã
cố gắng tập hợp các nước có cùng quan điểm phản đối việc thông qua bản dự thảo cả gói này, nhưng đã không thành công Cuối cùng, dự thảo được thông qua với 120 phiếu thuận, 21 phiếu trắng và 07 phiếu chống [59] Hoa Kỳ, Israen và Trung Quốc đã bày tỏ quan điểm phản đối [58]
Ngoài việc thông qua Quy chế Roma, Hội nghị ngoại giao cũng thông qua Văn kiện cuối cùng quyết định thành lập một ủy ban trù bị để soạn thảo các văn bản phụ trợ phục vụ cho việc thành lập và hoạt động của Tòa án [49] Cho đến nay, những văn bản này đều đã được thông qua, gồm Quy tắc và thủ tục chứng cứ (Rules of Procedure and Evidence), Các yếu tố cấu thành tội phạm (Elements of Crimes), Hiệp định ưu đãi miễn trừ của ICC (Agreement
on the Priviledges and Immunities of the International Criminal Court) [40]
Trang 15Quy chế Roma cần có 60 quốc gia phê chuẩn để có hiệu lực Thời điểm
có hiệu lực sẽ rất quan trọng vì ICC không thể truy tố những tội phạm xảy ra trước thời điểm đó Đây là thời điểm để tiến hành các bước cụ thể cho việc thành lập Tòa án, như bầu các Thẩm phán và Trưởng Công tố [22, tr 16] Sau khi Quy chế Roma được thông qua, EU và các tổ chức phi chính phủ
đã ráo riết vận động các nước sớm ký và phê chuẩn Quy chế này Đến cuối năm 2000, đã có 139 quốc gia ký Quy chế [34] Ngay cả các quốc gia đã bỏ phiếu chống tại Hội nghị Roma, như Hoa Kỳ và Israen, cuối cùng cũng ký Quy chế Roma Trong số các nước ASEAN, Thái Lan, Lào, Cambodia và Philippin đã ký Quy chế Những quốc gia chưa ký Quy chế này trước thời hạn
31 tháng 12 năm 2000 cũng được vận động gia nhập Quy chế
Senegal là quốc gia đầu tiên phê chuẩn Quy chế Roma vào ngày 02 tháng 02 năm 1999, tiếp đó là Trinidat and Tobago Trong vòng hai năm kể từ khi thông qua, Quy chế đã có 14 quốc gia phê chuẩn, tính đến ngày 31 tháng
12 năm 2000 là thời điểm hết thời hạn ký, Quy chế Roma đã có 27 quốc gia thành viên Năm 2001, con số này lên đến 37 [72] Thời hạn từ lúc ký Quy chế Roma đến lúc phê chuẩn ở mỗi quốc gia đều khá dài Lý do chủ yếu liên quan đến thực tế sau khi ký, các quốc gia đều phải sửa đổi hoặc ban hành nội luật để có thể thực hiện các nghĩa vụ được quy định trong Quy chế Roma Ngoài ra, do ICC chỉ thực hiện quyền tài phán theo nguyên tắc bổ sung, nên các quốc gia cần đưa vào pháp luật của mình những quy định để thực hiện trách nhiệm truy tố những người bị tình nghi phạm tội có mặt trên lãnh thổ nước mình, ban hành định nghĩa về các tội diệt chủng, tội ác chống nhân loại, tội ác chiến tranh như được quy định trong Quy chế Roma để hướng dẫn các tòa án quốc gia thực hiện quyền tài phán đối với những tội này [57, page 157] Tính đến ngày 21 tháng 7 năm 2009, Quy chế Roma đã có 110 quốc gia thành viên (Mexico nộp Văn kiện phê chuẩn vào ngày 28 tháng 10 năm 2005, trở thành quốc gia thành viên thứ 100 của Quy chế Roma) [72]
Trang 16Tháng 8 năm 2002 cuộc họp đầu tiên của Hội đồng quốc gia thành viên thông qua ngân sách 30 triệu Euro cho giai đoạn đầu của ICC và thông qua một loạt các Văn kiện bao gồm “Luật về thủ tục chứng cứ” và “Yếu tố cấu thành tội phạm” Ngoài ra, Giám đốc phụ trách đơn vị Common Servies được chỉ định trở thành quan chức đầu tiên của ICC chịu trách nhiệm về các vấn đề pháp lý cho ICC hoạt động, đồng thời chính thức tiếp quản nhiệm vụ của nhóm chuyên gia Ngày 03 - 07 tháng 10 năm 2002 là giai đoạn bỏ phiếu bầu
18 Thẩm phán [69]
Ngày 11 tháng 4 năm 2003 chính thức thành lập ICC tại Hague và các Thẩm phán tuyên thệ trước sự hiện diện của Chủ tịch Hội đồng quốc gia thành viên Tham dự buổi lễ có Nữ Hoàng Beatrix của Vương quốc Hà Lan với vai trò là người đứng đầu nước chủ nhà và Tổng thư ký LHQ Kofi Annan [69]
Ngày 21 - 23 tháng 4 năm 2003, giai đoạn II của Hội đồng quốc gia thành viên Ông Luis Moreno – Ocampo người Argentina được bầu làm ủy viên Công tố Ngày 24 tháng 6 năm 2003, ông Bruno Cathala người Pháp được bầu làm Thư ký đầu tiên của ICC với đa số phiếu của các Thẩm phán trong phiên họp toàn thể Ngày 01 tháng 7 năm 2003, ICC kỷ niệm một năm thi hành Đạo luật Roma Ngày 03 tháng 7 năm 2003, ông Serge Brammertz người Belgium đã tuyên thệ nhậm chức Phó ủy viên Công tố [69]
Ngày 20 - 22 tháng 4 năm 2004, buổi họp đầu tiên của Hội đồng quản trị qũy Trust fund for Victims tại ICC Ngày 25 tháng 6 năm 2004, thành lập ủy ban tiền xét xử của ICC Ngày 01 tháng 11 năm 2004, bà Fatou Bensouda người Gambia tuyên thệ nhậm chức Phó ủy viên Công tố của ICC [69]
Ngày 10 tháng 3 năm 2006, 6 Thẩm phán tuyên thệ nhậm chức trong một phiên họp mở rộng Ngày 17 tháng 01 năm 2008, 3 Thẩm phán mới được bầu bởi Hội đồng quốc gia thành viên vào cuối năm 2007 đã tuyên thệ nhậm chức là Judge Daniel David Ntanda Nsereko người Uganda, Judge Fumiko
Trang 17Saiga người Nhật Bản và Judge Bruno Cotte người Pháp Ngày 29 tháng 02 năm 2008, các Thẩm phán gặp nhau trong buổi họp toàn thể và bầu bà Silvana Arbia người Italy là Thư ký của ICC trong nhiệm kỳ 5 năm Ngày 17 tháng 4 năm 2008, bà Silvana Arbia tuyên thệ nhậm chức Thư ký ICC Ngày 09 tháng
9 năm 2008, các Thẩm phán của ICC họp phiên họp toàn thể đã bầu bà Didier Preira người Senegal làm Phó Reigistrar cho nhiệm kỳ 5 năm [69]
Ngày 19 tháng 01 năm 2009, diễn ra kỳ họp thứ VII của Hội đồng quốc gia thành viên, Hội đồng bầu 6 Thẩm phán mới thay thế nhiệm kỳ của người tiền nhiệm Ngày 26 tháng 01 năm 2009, ICC mở phiên xét xử đầu tiên, vụ Thomas Lubanga Dyilo Ngày 11 tháng 3 năm 2009, Hội đồng quốc gia thành viên bầu 5 trong 6 Thẩm phán của ICC trong tháng 01 năm 2009 cho nhiệm
kỳ 9 năm và nhậm chức trong buổi lễ trọng thể tại ICC Bao gồm: Judge Fumiko Saiga người Nhật Bản, Judge Joyce Aluoch người Kenya, Judge Sanji Mmasenono Monageng người Botswana, Judge Christine van den Wyngaert người Belgium và Judge Cuno Tarfusser người Italy Ông Mohamed Shahabuddeen người Guyana được bầu tháng 01 năm 2009 đã từ chức vào ngày 16 tháng 02 năm 2009 Ngày 16 tháng 3 năm 2009, các Thẩm phán ICC bầu Chủ tịch Judge mới là ông Sang – Hyun Song người Hàn Quốc Ông Judge Fatoumata Dembele Diarra người Mali và ông Hans – Peter Kaul người Germany lần lượt là Phó Chủ tịch thứ nhất và Phó Chủ tịch thứ hai [69]
1.1.3 Một số vấn đề mới trong quy chế thành viên ICC
Về cơ bản, ICC là sự kế thừa và phát triển của các tòa án quốc tế trước
đó Nó tiếp nhận những nguyên tắc pháp lý cơ bản được áp dụng trong các tòa
án trước, bộ máy tổ chức được xây dựng dựa vào khuôn mẫu của những cơ quan tư pháp đó So với 5 Tòa án quốc tế trước đó, trong đó có 4 Tòa án hình
sự, ICC có nét khác biệt cả về nội dung lẫn hình thức
Trang 18- Thứ nhất, so với ICJ Về quyền tài phán, ICJ có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp pháp lý giữa các quốc gia, hoặc đưa ra những ý kiến tư vấn về các vấn đề pháp lý mà Đại hội đồng, HĐBA cũng như các cơ quan khác của LHQ yêu cầu ICC có thẩm quyền truy tố, xét xử các cá nhân phạm các tội ác quốc tế nghiêm trọng nhất (tội diệt chủng, tội chống nhân loại, tội ác chiến tranh và tội xâm lược) Về hình thức tổ chức, ICJ là cơ quan trực thuộc LHQ
và các thành viên LHQ đương nhiên là thành viên Quy chế này Trong khi đó, ICC không phải là cơ quan của LHQ Nó có mối quan hệ độc lập tương đối với LHQ Để trở thành thành viên của Quy chế Roma, các quốc gia phải ký, phê chuẩn hoặc gia nhập
- Thứ hai, so với 4 tòa án hình sự quốc tế trước đó là Tòa án Nurember, Tokyo, ICTY và ICTR, ICC có tính đại diện rộng rãi hơn và là một cơ quan
tư pháp quốc tế thường trực, hoạt động độc lập Tính đại diện rộng rãi thể hiện ở thực tế 110 quốc gia là thành viên của ICC, trong khi hai Tòa án Nuremberg và Tokyo do các nước đồng minh thắng trận trong Chiến tranh thế giới hai thiết lập, hai Tòa án ICTY và ICTR do HĐBA LHQ thành lập
- Thứ ba, tính thường trực và khả năng hoạt động độc lập của ICC theo quy định của một điều ước quốc tế được các quốc gia thành viên cam kết tôn trọng ICC cũng độc lập với các thể chế quốc tế đa phương hiện hành (như LHQ và các tổ chức liên chính phủ khác), không như các Tòa án Nuremberg
và Tokyo bị coi là “Công lý của kẻ thắng trận” và hai Tòa án ICTY và ICTR trực thuộc HĐBA LHQ ICC có đội ngũ Thẩm phán, Công tố, nhân viên chuyên nghiệp và thường trực do Hội đồng quốc gia thành viên bầu ra, làm việc theo các điều kiện và quy định chi tiết của ICC Điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các thủ tục tố tụng được tiến hành đúng hạn, theo những trình tự nhất quán và các phán quyết của ICC sẽ có tính pháp lý khách quan hơn
- Thứ tư, theo Quy chế của ICTY và ICTR, các Tòa án này có thẩm quyền ưu tiên hơn tòa án quốc gia [19 - 20] ICC không phải là cơ quan tư
Trang 19pháp quốc tế đứng trên các cơ quan tư pháp quốc gia Nguyên tắc hoạt động
cơ bản của ICC là chỉ đóng vai trò bổ sung, hỗ trợ cho tòa án quốc gia ICC chỉ thực hiện thẩm quyền của mình khi các tòa án quốc gia thành viên không muốn, hoặc không thể điều tra truy tố tội phạm một cách thật sự
Ngoài ra, Quy chế Roma phát triển hơn các quy chế của các tòa án hình
sự quốc tế trước đó, liên quan đến quy định về tội phạm, nguyên tắc của luật hình sự được áp dụng, cơ cấu tổ chức, trách nhiệm quyền hạn của Công tố viên, vai trò của HĐBA LHQ và vấn đề hợp tác trong hoạt động của ICC Điều này phản ánh sự phát triển của pháp luật hình sự quốc tế cũng như kết quả pháp điển hóa trong lĩnh vực Luật quốc tế về nhân đạo và quyền con người
1.2 Cơ cấu tổ chức của ICC
Theo quy định tại Điều 34 Quy chế Roma, ICC gồm các cơ quan sau: Đoàn Chủ tịch, các Tòa của ICC, Văn phòng Công tố và Văn phòng Lục sự
1.2.1 Đoàn Chủ tịch (The Presidency)
Đoàn Chủ tịch gồm Chánh án, Phó Chánh án thứ nhất và Phó Chánh án thứ hai, do 18 Thẩm phán bầu bằng đa số tuyệt đối và nhiệm kỳ của Đoàn Chủ tịch là 3 năm hoặc cho đến khi kết thúc nhiệm kỳ Thẩm phán của mình trong trường hợp nhiệm kỳ này kết thúc sớm hơn và họ có thể được tái bầu một nhiệm kỳ nữa Phó Chánh án thứ nhất sẽ thay Chánh án trong trường hợp Chánh án vắng mặt hoặc không đủ tư cách Phó Chánh án thứ hai sẽ thay Chánh án trong trường hợp cả Chánh án và Phó Chánh án thứ nhất vắng mặt hoặc không đủ tư cách Đoàn Chủ tịch chịu trách nhiệm quản lý ICC trừ Văn phòng Công tố Tuy nhiên, Đoàn Chủ tịch sẽ phối hợp và thống nhất ý kiến với Văn phòng Công tố về những vấn đề mà cả hai bên cùng quan tâm
1.2.2 Các Tòa của ICC (Chambers)
Ngay sau khi bầu Thẩm phán, Tòa án sẽ lập các Tòa Dự thẩm, Tòa Sơ thẩm và Tòa Phúc thẩm cũng như các bộ phận tương ứng trong từng Tòa Chức năng tư pháp cụ thể của ICC sẽ do các Tòa này đảm nhiệm Tòa Dự
Trang 20thẩm gồm Phó Chánh án thứ nhất và 6 Thẩm phán khác, Tòa Sơ thẩm gồm Phó Chánh án thứ hai và 5 Thẩm phán khác, Tòa Phúc thẩm gồm Chánh án và
4 Thẩm phán khác Việc bổ nhiệm Thẩm phán cho các Tòa sẽ căn cứ vào tính chất công việc của mỗi Tòa và phẩm chất cũng như kinh nghiệm của các Thẩm phán
+ Tòa Dự thẩm (Pre – Treal Chamber)
Chức năng chính của Tòa Dự thẩm là xác nhận hoặc từ chối cho phép tiến hành điều tra vụ việc và đưa ra quyết định sơ bộ trong việc xác định vụ việc có thuộc quyền tài phán của ICC hay không Phiên tòa Dự thẩm có thể gồm 1 Thẩm phán hoặc một Hội đồng 3 Thẩm phán trong số các Thẩm phán thuộc Tòa Dự thẩm (Điều 39 2 (b) (iii) Quy chế Roma) Tòa Dự thẩm cũng
có thể xem xét lại quyết định mà không cần Trưởng Công tố tiến hành điều tra vụ việc cho dù việc điều tra đó là do Trưởng Công tố tự đề xuất hay theo
đề nghị của quốc gia đã thông báo vụ việc cho Tòa án theo Điều 14 Quy chế Roma hoặc theo đề nghị của HĐBA LHQ theo Điều 13 (b) của Quy chế Roma Tòa Dự thẩm cũng có thể ban bố lệnh bắt và triệu tập đến Tòa án theo
đề nghị của Trưởng Công tố, ra nghị quyết về quyền lợi của các bên trong vụ kiện nếu cần thiết, quy định việc bảo vệ nạn nhân và nhân chứng, bảo quản chứng cứ, bảo vệ người bị bắt giữ hoặc phải trình diện theo lệnh triệu tập và bảo vệ thông tin liên quan đến an ninh quốc gia
+ Tòa Sơ thẩm (Tr ial Chamber)
Chức năng chính của Tòa Sơ thẩm theo quy định tại Điều 64 Quy chế Roma là thực hiện quyền xét xử công bằng, nhanh chóng, tôn trọng đầy đủ quyền lợi của bị cáo đồng thời bảo vệ được nạn nhân và nhân chứng Các Thẩm phán thuộc Tòa Sơ thẩm sẽ thực hiện việc xét xử Theo Điều 39.2 (b) (ii) Quy chế Roma, phiên tòa xét xử sẽ được tiến hành với Hội đồng xét xử gồm 3 Thẩm phán Tòa Sơ thẩm sẽ quyết định bị cáo có tội hay vô tội và quyết định hình phạt trong trường hợp bị cáo có tội Tòa Sơ thẩm cũng có thể
ra lệnh cho người bị kết án trả tiền bồi thường cho nạn nhân (Điều 75.2)
Trang 21+ Tòa Phúc thẩm (Appeals Chamber)
Chức năng chính của Tòa Phúc thẩm là xem xét lại quyết định, phán quyết hoặc bản án của các Tòa Sơ thẩm và Dự thẩm Phiên tòa Phúc thẩm gồm toàn bộ các Thẩm phán thuộc Tòa Phúc thẩm (Điều 39.2 (b) (i)) Tòa Phúc thẩm có thể quyết định hủy bỏ hay sửa đổi quyết định, phán quyết, bản
án hoặc ra lệnh xét xử lại
+ Hội đồng quốc gia thành viên (The Assembly of States Parties)
Hội đồng quốc gia thành viên là cơ quan giám sát và lập pháp của ICC Hội đồng quốc gia thành viên gồm đại diện của các quốc gia đã phê chuẩn hoặc gia nhập Quy chế Roma Mỗi quốc gia thành viên có một đại diện do người đứng đầu Nhà nước, Chính phủ hoặc Bộ trưởng Bộ Ngoại giao cử Hội đồng quốc gia thành viên có Văn phòng gồm 1 Chủ tịch, 2 Phó Chủ tịch và 18 thành viên được Hội đồng bầu với nhiệm kỳ 3 năm, có tính đến nguyên tắc công bằng về địa lý và đại diện cho đầy đủ các hệ thống pháp luật cơ bản trên thế giới Văn phòng có nhiệm vụ hỗ trợ cho Hội đồng quốc gia thành viên hoàn thành trách nhiệm của mình Hội đồng quốc gia thành viên cũng có thể thành lập các cơ quan bổ trợ bao gồm một cơ chế giám sát độc lập để thanh tra, đánh giá, điều tra giúp các Tòa nhằm nâng cao tính hiệu quả và kinh tế trong hoạt động của Tòa án Tại phiên họp thứ hai vào tháng 9 năm 2003, Hội đồng quốc gia thành viên đã quyết định thành lập Ban Thư ký thường trực Hội đồng quốc gia thành viên chịu trách nhiệm quyết định nhiều vấn đề, bao gồm việc thông qua các văn bản có tính quy phạm, ngân sách, số lượng Thẩm phán, bầu cử Thẩm phán, Trưởng Công tố và các Phó Công tố Hội đồng họp tại trụ sở Tòa án hoặc trụ sở của LHQ 1 lần/ năm và nếu cần thiết có
thể triệu tập các phiên họp đặc biệt
1.2.3 Văn phòng Công tố (The office of the Prosecutor)
Văn phòng Công tố hoạt động độc lập và là một cơ quan tách biệt của ICC Văn phòng Công tố chịu trách nhiệm nhận thông báo và thu thập thông tin về các tội phạm thuộc quyền tài phán của ICC, tiến hành điều tra và truy tố
Trang 22tội phạm (Điều 42) Văn phòng Công tố được đặt dưới sự lãnh đạo của Trưởng Công tố (The Prosecutor) Trưởng Công tố có toàn quyền quản lý các hoạt động của Văn phòng, kể cả nhân sự, thiết bị và các nguồn lực khác, với
sự giúp việc của một hoặc một số Phó Công tố và các cố vấn có kinh nghiệm pháp luật về các vấn đề cụ thể Trưởng Công tố và Phó Công tố làm việc theo chế độ chuyên trách với nhiệm kỳ 9 năm và phải là những người không cùng quốc tịch với nhau (Điều 42.2) Trưởng Công tố được Hội đồng quốc gia thành viên bầu bằng cách bỏ phiếu kín theo đa số tuyệt đối Phó Công tố cũng được bầu theo thể thức tương tự từ danh sách các ứng cử viên do Trưởng Công tố giới thiệu (Điều 42.4)
Theo yêu cầu của Quy chế Roma thì Trưởng Công tố và Phó Công tố phải là người có có phẩm chất đạo đức cao, có năng lực và kinh nghiệm thực tiễn sâu rộng trong lĩnh vực truy tố hoặc xét xử các vụ án hình sự Trưởng Công tố và Phó Công tố phải giỏi và thông thạo ít nhất một ngôn ngữ làm việc của ICC, đồng thời Trưởng Công tố và Phó Công tố đều không được tham gia các hoạt động có thể ảnh hưởng đến chức năng Công tố hoặc ảnh hưởng đến sự tin cậy đối với tính độc lập của họ (Điều 42.5) Họ cũng không được thực hiện bất kỳ hoạt động nghề nghiệp nào khác có tính chất chuyên môn Ngoài ra, Trưởng Công tố cũng như Phó Công tố không được tham dự vào một vụ kiện nếu có căn cứ nghi ngờ tính khách quan của họ Mọi vấn đề liên quan đến bãi nhiệm và miễn nhiệm đối với Trưởng Công tố và Phó Công
tố sẽ do Tòa Phúc thẩm quyết định (Điều 42.8)
1.2.4 Văn phòng Lục sự (The Registry)
Văn phòng Lục sự chịu trách nhiệm về công việc hành chính không mang tính tư pháp của ICC (Điều 4.1) như: Điều hành việc trợ giúp pháp lý, quản lý Tòa án, các vấn đề liên quan đến nạn nhân và nhân chứng, Luật sư bào chữa, bộ phận giam giữ, cung cấp các dịch vụ tài chính, dịch thuật, quản
Trang 23lý xây dựng, mua sắm trang thiết bị và vấn đề nhân sự Ngoài ra, Văn phòng Lục sự cũng là nơi tiếp nhận và cung cấp thông tin, thiết lập các kênh liên lạc với các quốc gia, các tổ chức liên chính phủ và phi chính phủ
Đứng đầu Văn phòng Lục sự là Chánh Lục sự (The Registrar) được các Thẩm phán bầu bằng cách bỏ phiếu kín theo đa số tuyệt đối trên cơ sở khuyến nghị của Hội đồng quốc gia thành viên Nếu cần thiết và trên cơ sở khuyến nghị của Chánh Lục sự, các Thẩm phán sẽ bầu một Phó Lục sự theo thủ tục tương tự Chánh Lục sự làm việc với nhiệm kỳ 5 năm và có thể tái cử một nhiệm kỳ (Điều 13.5)
1.2.5 Thẩm phán
ICC có 18 Thẩm phán làm việc theo chế độ chuyên trách (Full – Time) Theo yêu cầu của Quy chế Roma, họ phải là những người có đạo đức cao, công bằng, chính trực và có đầy đủ những phẩm chất cần thiết để có thể được
đề cử vào những vị trí cao nhất trong ngành tư pháp ở nước họ, ứng cử viên cho vị trí Thẩm phán phải có khả năng trong lĩnh vực Luật hình sự và Luật tố tụng hình sự cũng như kinh nghiệm cần thiết như một Thẩm phán, Công tố viên, Luật sư biện hộ hoặc người có vị trí tương đương trong vụ kiện hình sự hoặc phải có khả năng trong lĩnh vực Luật quốc tế phù hợp như Luật nhân đạo quốc tế, Luật nhân quyền và có kinh nghiệm trong hoạt động pháp lý chuyên môn phù hợp với công tác xét xử của Tòa án Những ứng cử viên này phải có kiến thức giỏi và sử dụng thông thạo ít nhất một ngôn ngữ làm việc của ICC Việc đề cử các ứng cử viên cho chức vụ Thẩm phán do các quốc gia thành viên của ICC tiến hành Mỗi quốc gia thành viên có thể đề cử một ứng
cử viên trong một kỳ bầu cử Thẩm phán (Điều 36.3), ứng cử viên đề cử không nhất thiết phải là công dân của quốc gia đề cử, nhưng phải là công dân của một quốc gia thành viên của Quy chế Roma (Điều 36.4) Việc bầu Thẩm phán phải dựa trên nguyên tắc có sự đại diện của các hệ thống luật cơ bản trên thế giới, các khu vực địa lý và sự cân bằng giới tính giữa tỷ lệ Thẩm phán Không được phép có 2 Thẩm phán đều là công dân của một quốc gia
Trang 24Hội đồng quốc gia thành viên sẽ bầu Thẩm phán bằng phiếu kín Thẩm phán được bầu là người đạt số phiếu cao nhất và phải đủ 2/3 số phiếu của đại diện các quốc gia có mặt và bỏ phiếu Nếu sau lần bỏ phiếu thứ nhất mà vẫn chưa bầu đủ số Thẩm phán thì sẽ tiến hành bỏ phiếu tiếp cho tới khi bầu đủ 1/3 số Thẩm phán trúng cử sẽ làm việc với nhiệm kỳ 3 năm, 1/3 làm việc với nhiệm kỳ 6 năm và số còn lại làm việc với nhiệm kỳ 3 năm có thể tái cử một nhiệm kỳ đầy đủ Số lượng Thẩm phán có thể được tăng lên tùy thuộc vào khối lượng công việc của ICC
1.3 Nguyên tắc hoạt động của ICC
+ Nguyên tắc bình đẳng giữa các quốc gia thành viên
Sự bình đẳng giữa các quốc gia thành viên thể hiện trước hết ở quy định
về lá phiếu Mỗi quốc gia thành viên đều có một lá phiếu, các vấn đề thủ tục được quyết định với đa số thường, các quyết định nội dung được quyết định với đa số 2/3 (Điều 112.7 Quy chế Roma)
Sự bình đẳng giữa các quốc gia thành viên còn được thể hiện ở các quy định về bầu cử Thẩm phán Thẩm phán do Hội đồng quốc gia hành viên bầu, trúng cử sẽ là người có số phiếu cao nhất và có ít nhất 2/3 số thành viên có mặt và bỏ phiếu ủng hộ (Điều 36.6 Quy chế Roma) Trong việc bầu Thẩm phán cũng như khi Hội đồng quốc gia thành viên xem xét và ra quyết định, không thể tránh khỏi những cuộc vận động chính trị, trong đó các nước lớn có nhiều lợi thế hơn trong việc thể hiện lời nói của mình Nhưng Quy chế Roma không dành cho HĐBA khả năng can thiệp vào quá trình bầu cử Thẩm phán
của ICC, như trường hợp liên quan đến các Tòa án hình sự ad hoc Theo Quy
chế ICTY và ICTR, HĐBA dựa trên cơ sở danh sách đề cử của các nước sẽ thiết lập danh sách ứng cử viên (28 đến 42 người đối với ICTY; 22 đến 33
người đối với ICTR) rồi chuyển cho HĐBA LHQ để tiến hành bầu [19 - 20]
Cuối cùng, việc giải quyết tranh chấp liên quan đến giải thích, áp dụng Quy chế Roma, cũng như kết luận về việc quốc gia không hợp tác sẽ được giải quyết chủ yếu tại Hội đồng quốc gia thành viên (Điều 119, 87 Quy chế
Trang 25Roma) Không giống với các Tòa án hình sự ad hoc, ICC sẽ chỉ yêu cầu
HĐBA can thiệp nhằm buộc các quốc gia thành viên hợp tác khi vụ việc do HĐBA đề nghị xét xử HĐBA sẽ không giữ vai trò “bảo trợ” cho hoạt động của ICC Điều này cũng phần nào tránh bất bình đẳng giữa các quốc gia thành viên ICC nói chung và các quốc gia thành viên là ủy viên HĐBA LHQ
+ Nguyên tắc kết hợp hài hòa giữa quyền và nghĩa vụ
Sự kết hợp hài hòa giữa quyền và nghĩa vụ thể hiện ở hầu như toàn bộ Quy chế Roma và là kết quả dung hòa lợi ích giữa nhiều nhóm khác nhau tại Hội nghị Roma Các quyền và nghĩa vụ của các quốc gia thành viên đều không bị tuyệt đối hóa Quốc gia có một số quyền đi kèm với nghĩa vụ, nhưng cũng có cách né tránh thực hiện nghĩa vụ này Ví dụ, quốc gia có quyền ưu tiên giữ vụ việc lại để điều tra, xét xử nhưng có nghĩa vụ điều tra, xét xử công bằng, không bỏ lọt tội phạm Quy chế Roma quy định một số điểm về thủ tục chuyển giao người (ngôn ngữ, cách thức yêu cầu), nhưng các thủ tục liên quan đến chuyển giao người phải tuân thủ luật pháp của quốc gia được yêu cầu (Điều 89.1 Quy chế Roma) Các quốc gia thành viên có nghĩa vụ hợp tác, nhưng cũng có quyền từ chối hợp tác khi việc thực hiện yêu cầu hợp tác ảnh hưởng đến nghĩa vụ đối với bên thứ ba (quốc gia thành viên hoặc không phải
là thành viên của Quy chế Roma)
+ Nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia của nước không phải là thành viên
Quy chế Roma chỉ công nhận một số quyền mà không tạo ra nghĩa vụ cho các quốc gia không phải là thành viên của Quy chế Các quốc gia không
phải là thành viên chỉ có nghĩa vụ hợp tác điều tra khi công nhận ad hoc
quyền tài phán của ICC Nghĩa vụ theo Quy chế Roma, nếu có sẽ không cao hơn nghĩa vụ theo các thỏa thuận quốc tế khác mà các quốc gia không phải là
Trang 26thành viên tham gia, ngay cả khi các thỏa thuận này đã được ký kết sau khi Quy chế Roma có hiệu lực
Tuy nhiên, các quốc gia không phải là thành viên, ở một chừng mực nhất định vẫn chịu ảnh hưởng bởi sự hình thành và hoạt động của ICC, mặc dù về mặt pháp lý, Quy chế Roma hoàn toàn không vi phạm Luật quốc tế và điều ước quốc tế, không tạo ra hoặc thay đổi nghĩa vụ đối với bên không phải là thành viên
+ Nguyên tắc quyền tài phán của ICC là bổ sung cho quyền tài phán quốc gia
ICC sẽ chỉ thực hiện thẩm quyền xét xử khi các quốc gia “không muốn” hoặc “không thể tiến hành điều tra hay truy tố một cách thực sự” Nguyên tắc này chi phối và làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động của ICC và được thể hiện
rõ ở các quy định sau:
- Thứ nhất, ICC sẽ không thụ lý một vụ việc đang được điều tra hoặc truy tố bởi tòa án của một quốc gia có thẩm quyền đối với vụ việc, cũng sẽ không thụ lý một vụ việc đã có phán quyết, đã có quyết định đình chỉ điều tra của một tòa án quốc gia, trừ khi quốc gia đó không muốn hoặc không có khả năng điều tra hoặc truy tố; xét xử nhằm mục đích che giấu người phạm tội; phiên tòa không độc lập hoặc không công bằng Điều này cũng có nghĩa là thông thường, ICC sẽ thừa nhận phán quyết của tòa án quốc gia Vai trò của ICC cũng sẽ được thể hiện trong nguyên tắc không xét xử hai lần đối với cùng một tội phạm (Ne bis in idem) (quy định tại Điều 20 của Quy chế Roma)
- Thứ hai, khi nhận thấy có đủ cơ sở để điều tra, Trưởng Công tố sẽ thông báo cho tất cả các quốc gia thành viên và các quốc gia không phải là thành viên nhưng có thể có thẩm quyền đối với vụ việc Một trong số các quốc gia này có thể thông báo cho Trưởng Công tố về việc đã được mở điều
Trang 27tra về vụ việc đó, và theo đề nghị của quốc gia đó, Trưởng Công tố sẽ chuyển trả vụ việc điều tra
- Thứ ba, ICC có quyền yêu cầu chuyển giao (Transfer) người bị tình nghi Yêu cầu này không được thể hiện dưới hình thức yêu cầu dẫn độ (Extradite) Khi nhận được lệnh bắt hoặc giấy triệu tập, quốc gia nơi người bị tình nghi có mặt phải nhanh chóng bắt giữ người đó và chuyển giao cho ICC Không phải ngẫu nhiên mà Quy chế Roma không sử dụng từ “Dẫn độ” Điều
đó đồng nghĩa với việc quốc gia thành viên sẽ không tiến hành các thủ tục dẫn
độ như trong quan hệ dẫn độ tội phạm từ quốc gia này đến một quốc gia khác,
mà tiến hành thủ tục bắt giữ và chuyển giao như trong hệ thống cơ quan tố tụng của cùng một quốc gia Như vậy cũng có nghĩa là các hạn chế thông thường và các lý do từ chối dẫn độ thường được nêu trong các thỏa thuận về dẫn độ tội phạm như (không dẫn độ người mang quốc tịch nước được yêu cầu dẫn độ đối với các tội phạm chính trị v v…) không được áp dụng trong trường hợp này
- Thứ tư, không có một quy định cụ thể về trật tự ưu tiên trong việc thực hiện yêu cầu hợp tác với ICC (chuyển giao người, hợp tác điều tra…) so với nghĩa vụ đối với một nước khác, hoặc các thủ tục trong nước đang được tiến hành (Ví dụ: Người được yêu cầu chuyển giao đang thi hành hình phạt tù) ICC hầu như không can thiệp vào cách thức, thủ tục tiến hành hợp tác tại quốc gia được yêu cầu Quốc gia được yêu cầu có quyền viện dẫn nghĩa vụ xuất phát từ thỏa thuận quốc tế khác mà quốc gia được yêu cầu là thành viên
để từ chối hợp tác, trong trường hợp việc thực hiện yêu cầu hợp tác của ICC mâu thuẫn với những ưu đãi, miễn trừ theo thỏa thuận này
Về mặt pháp lý, nguyên tắc bổ sung phù hợp với cả hệ thống nhị nguyên (Dualist) – coi luật pháp quốc tế và luật pháp quốc gia là độc lập, luật pháp quốc tế chỉ có hiệu lực trong nước sau khi đã được chuyển hóa vào luật quốc
Trang 28gia, và hệ thống nhất nguyên (Monist) – coi luật pháp quốc tế là một bộ phận của luật quốc gia Nguyên tắc này cho phép ICC hoạt động như một cơ quan
tư pháp bổ sung, hoàn thiện cho hệ thống của các quốc gia, thậm chí dưới một góc độ nào đó trở thành một bộ phận của một hệ thống tư pháp trong nước mà không áp đặt một trật tự trên dưới Nguyên tắc bổ sung có ý nghĩa không chỉ đối với hệ thống tư pháp của các quốc gia thành viên, mà đối với tất cả các quốc gia có thể có thẩm quyền về vụ việc
Tuy vậy, nguyên tắc bổ sung cũng có những mặt hạn chế Nguyên tắc bổ sung dường như cho phép Trưởng Công tố và ICC “giám sát” theo một nghĩa nào đó việc xét xử của tòa án quốc gia đối với những việc mà cả ICC và tòa
án quốc gia cùng quan tâm và vì lý do này, gây ra mối quan ngại về việc ICC xâm phạm đến quyền tư pháp quốc gia “Chế tài” mà ICC có thể đưa ra là tuyên bố quốc gia thiếu trách nhiệm hoặc không có khả năng điều tra hoặc xét
xử, và quyết định điều tra, truy tố, xét xử vụ việc ngay cả khi vụ việc đã hoặc đang được điều tra, xét xử tại tòa án của quốc gia thành viên Theo Điều 18.2 Quy chế Roma, Trưởng Công tố có quyền đề nghị Hội đồng Dự thẩm cho phép tiếp tục điều tra, không trả lại việc điều tra cho quốc gia Ngay cả trong trường hợp trả lại việc điều tra theo đề nghị của quốc gia liên quan, Trưởng Công tố có quyền theo dõi, yêu cầu cung cấp thông tin về quá trình điều tra và xét xử, thậm chí đề nghị lấy lại quyền điều tra 6 tháng sau nếu có cơ sở cho rằng quốc gia thiếu trách nhiệm hoặc không có khả năng điều tra Quốc gia liên quan cũng như Trưởng Công tố có quyền kháng nghị quyết định của Hội đồng Dự thẩm về việc trả lại hay không trả lại việc điều tra cho quốc gia Ngoài ra, Nguyên tắc bổ sung cũng khiến một số quốc gia quan ngại về hiệu quả của nó trong việc đạt được mục tiêu thực thi công lý, tránh bỏ lọt tội phạm, vốn là nền tảng của nguyên tắc này Theo Quy chế Roma, hoạt động điều tra, truy tố của ICC phụ thuộc phần lớn vào sự hợp tác của các quốc gia liên quan, đặc biệt là quốc gia nơi xảy ra tội phạm và quốc gia mà kẻ phạm tội mang quốc tịch Trong trường hợp các quốc gia đó tự mình đã không muốn,
Trang 29hoặc không thể thực hiện việc truy tố, xét xử một cách thực sự do hệ thống tư pháp quốc gia đã sụp đổ hoàn toàn hoặc phần lớn, hoặc do không có hệ thống
tư pháp quốc gia, dẫn đến việc ICC thụ lý vụ việc, thì khó có thể đảm bảo rằng những quốc gia này sẽ sẵn sàng hợp tác, hay có đủ khả năng đáp ứng được các yêu cầu hợp tác của ICC
Do cách quy định về nguyên tắc bổ sung như trên, các quốc gia thành viên có nghĩa vụ gián tiếp là xây dựng năng lực điều tra, xét xử các tội phạm thuộc quyền tài phán của ICC và điều tra, xét xử một cách nghiêm túc những tội phạm này, để tránh việc ICC có thể tuyên bố quốc gia đó không có khả năng điều tra, xét xử Chính vì vậy, các quốc gia thành viên ICC đều đã hoặc đang chuẩn bị, sửa đổi, ban hành luật, bổ sung các cơ chế nhằm hoàn thiện năng lực điều tra, xét xử đối với các tội phạm được nêu trong Quy chế Roma
1.4 Quyền ƣu đãi và miễn trừ
Do ICC được thành lập theo điều ước quốc tế và không phải là cơ quan của LHQ nên ICC và các nhân viên của ICC không thuộc diện được hưởng các ưu đãi, miễn trừ theo Công ước của LHQ năm 1946 về ưu đãi và miễn trừ của LHQ Thông thường, các ưu đãi miễn trừ của các tổ chức quốc tế được xác định trong văn kiện thành lập tổ chức đó và thường được bổ sung bằng những thỏa thuận đặc biệt với các quốc gia thành viên và với nước chủ nhà [44, page 315] Đối với ICC, các ưu đãi, miễn trừ được quy định trong Quy chế Roma, Hiệp định về trụ sở của ICC với nước chủ nhà (Hà Lan) và Hiệp định về ưu đãi và miễn trừ của ICC ký ngày 09 tháng 9 năm 2002
1.4.1 Quyền ƣu đãi và miễn trừ của ICC
Điều 48 Quy chế Roma quy định ICC được hưởng những quyền ưu đãi
và miễn trừ cần thiết trên lãnh thổ mỗi quốc gia thành viên để hoàn thành chức năng, nhiệm vụ của mình Theo Hiệp định ưu đãi và miễn trừ của ICC, trụ sở của Tòa án là bất khả xâm phạm; ICC có quyền treo cờ biểu tượng hoặc dấu hiệu tại trụ sở, phương tiện giao thông được sử dụng cho mục đích chính thức; Tòa án, tài sản, qũy và các bất động sản dù ở đâu và do ai nắm giữ cũng
Trang 30đều được miễn trừ mọi tố tụng pháp lý, trừ khi ICC đã tuyên bố từ bỏ quyền miễn trừ này và miễn bị lục soát, tịch thu, trưng thu, sung công hay bất kỳ hình thức can thiệp nào dù là hành pháp, tư pháp hay lập pháp [7] Hồ sơ, tài liệu của ICC là bất khả xâm phạm Tòa án, bất động sản, thu nhập và các tài sản khác cũng như các hoạt động giao dịch của ICC được miễn mọi loại thuế trực thu
1.4.2 Quyền ƣu đãi và miễn trừ cho các công chức của ICC
Các Thẩm phán, Trưởng Công tố, Phó Công tố, Chánh Lục sự khi thực hiện công việc của ICC hoặc có liên quan đến công việc của ICC, được hưởng các quyền ưu đãi, miễn trừ tương đương với người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao và sau khi hết nhiệm kỳ công tác vẫn tiếp tục được hưởng miễn trừ
về pháp lý đối với lời nói và hành động được thực hiện với tư cách chính thức của họ Tiền lương, tiền trợ cấp, thù lao của các Thẩm phán, Trưởng Công tố,
Phó Công tố và Chánh Lục sự được miễn thuế [14, tr 423-425]
Phó Lục sự, nhân viên của Văn phòng Công tố và nhân viên của Văn phòng Lục sự được hưởng các ưu đãi, miễn trừ và các điều kiện thuận lợi cần thiết cho việc thực hiện nhiệm vụ của họ, phù hợp với Hiệp định về ưu đãi và miễn trừ của ICC Chẳng hạn, họ không bị bắt giữ hoặc giam cầm, hành lý cá nhân không bị tịch thu; được miễn trừ mọi thủ tục pháp lý liên quan đến hành động hoặc lời nói được thực hiện với tư cách chính thức của họ; được miễn mọi loại thuế đối với tiền lương, tiền trợ cấp, thù lao do ICC trả; miễn kiểm tra hành lý cá nhân, trừ khi có lý do chính đáng để tin rằng trong hành lý đó
có những đồ vật bị cấm nhập khẩu hoặc xuất khẩu theo luật của quốc gia
thành viên liên quan [14, tr 423-425]
Ngoài những đối tượng trên, Luật sư, chuyên gia, nhân chứng hoặc bất
kỳ người nào được yêu cầu có mặt tại ICC cũng được hưởng sự đối xử cần thiết cho việc thực hiện đúng chức năng của ICC theo Hiệp định về quyền ưu
đãi và miễn trừ của ICC [14, tr 423-425]
1.5 Thực tiễn hoạt động của ICC trong những năm gần đây
Ngay sau khi Quy chế Roma có hiệu lực vào ngày 01 tháng 7 năm 2002,
để ICC có thể đi vào hoạt động, việc bầu các Thẩm phán và Trưởng Công tố
Trang 31được gấp rút tiến hành [71] Cơ cấu tổ chức, nhân sự và các điều kiện cần thiết cho hoạt động của ICC cũng dần được hoàn chỉnh Tòa án hiện có khoảng 800 nhân viên thường trực đến từ 79 quốc gia và một đội ngũ nhân
viên, tư vấn, thực tập sinh, chuyên gia không thường trực giúp việc [39]
Kể từ khi đi vào hoạt động cho tới đầu năm 2009, ICC đã nhận được thông tin về 10 vụ việc, trong đó có 3 vụ việc được tiến hành điều tra, 2 vụ việc bị loại trừ do không thuộc diện thụ lý và 5 vụ việc đã được xem xét, phân
tích [55] Đáng lưu ý là trong số các vụ việc được Trưởng Công tố giải quyết,
có 3 vụ việc (Cộng hòa dân chủ Congo, Uganda và Cộng hòa Trung Phi) do các quốc gia thành viên thông báo và 1 vụ việc (Darfur thuộc Sudan) là do
HĐBA LHQ thông báo [73] Trưởng Công tố tiến hành điều tra 3 vụ việc ở
Congo, Uganda và Darfur, đồng thời phân tích vụ việc ở Cộng hòa Trung Phi ICC cũng đã tiến hành giai đoạn xét xử và các Tòa Dự thẩm đã tiến hành một
số phiên tòa cũng như đưa ra một số quyết định [39]
- Về Cộng hòa dân chủ Congo (DRC): Trưởng Công tố đã tiến hành điều tra vụ việc xảy ra ở Congo liên quan đến vụ thảm sát và hành quyết hàng nghìn người vào năm 2002, cũng như các hành vi hãm hiếp, tra tấn trên phạm
vi rộng và tuyển mộ trẻ em làm quân lính Tại đó, nhiều khu vực vẫn diễn ra xung đột và mất an ninh mà không hề có sự hiện diện của Chính phủ Nhiều nhóm xung đột có vũ trang bị cáo buộc có liên quan đến tội phạm
Vụ điều tra các vụ phạm tội đã lần lượt được tiến hành với thứ tự ưu tiên cho những vụ việc quan trọng nhất Văn phòng Công tố đã thực hiện hơn 20 chuyến đi khảo sát hiện trường, thu thập hơn 11.000 tài liệu, phỏng vấn hơn
60 người đồng thời thu thập các văn bản, video, ảnh và những chứng cứ khác
[39] Ngày 17 tháng 3 năm 2006, Tòa Dự thẩm I đã ban hành lệnh bắt giữ lãnh tụ của Phong trào quân sự chính trị “Liên minh những nhà ái quốc Congo” Thomas Lubanga Dyilo, thủ lĩnh tiền nhiệm của Hiệp hội những
Trang 32người yêu nước ở Ituri và đồng thời cũng là người đầu tiên bị bắt theo lệnh đã
được ban bởi Tòa án [37] Lubanga đã được chuyển giao cho ICC và Hội
đồng Dự thẩm I đã tiến hành phiên xét xử toàn thể [75]
- Về Uganda: Ngày 29 tháng 7 năm 2004, Trưởng Công tố đã xác định
có cơ sở pháp lý để mở điều tra vụ việc xảy ra ở Bắc Uganda sau khi nhận được thông báo từ Tổng thống Uganda vào tháng 12 năm 2003 Quyết định
mở cuộc điều tra được đưa ra sau khi các thông tin về vụ việc đã được phân tích kỹ lưỡng để đảm bảo rằng các yêu cầu trong Quy chế Roma được đáp ứng đầy đủ Hội đồng Dự thẩm II đã thông báo những lệnh bắt giữ đầu tiên
vào ngày 13 tháng 10 năm 2005 đối với 5 bị can [35] Văn phòng Công tố đã
tiến hành điều tra một loạt vụ bắt cóc trên quy mô rộng lớn với đa số nạn nhân
là trẻ em, giết người, tra tấn và bạo lực tình dục Văn phòng cũng đã ký một thỏa thuận hợp tác với Chính phủ Uganda liên quan đến việc điều tra vụ việc này [76]
- Về Darfur thuộc Sudan: Ngày 31 tháng 3 năm 2005, HĐBA đã thông
qua Nghị quyết số 1593, thông báo về vụ việc Darfur với Trưởng Công tố,
Trưởng Công tố đã nhận hồ sơ tài liệu từ ủy ban điều tra quốc tế của LHQ bao gồm cả danh sách những người bị tình nghi đã phạm tội ác quốc tế tại đây Sau khi xem xét các tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau và phỏng vấn hơn
50 chuyên gia độc lập, Trưởng Công tố đã quyết định có căn cứ xác đáng để khởi tố điều tra vụ Darfur Ngày 06 tháng 6 năm 2005, Trưởng Công tố đã
chính thức mở cuộc điều tra về các tội phạm tại Darfur [77], bao gồm việc
giết hại hàng nghìn dân thường, phá hủy và cướp bóc trên diện rộng nhiều làng mạc, cũng như hãm hiếp, bạo lực tình dục và đe dọa những người làm công tác nhân đạo Văn phòng Công tố đã thu thập hơn 2.500 hiện vật từ ủy ban điều tra quốc tế về Darfur và hơn 3000 tài liệu từ các nguồn khác Văn phòng cũng liên lạc với hơn 100 tổ chức và cá nhân liên quan Trưởng Công
Trang 33tố đã gửi các báo cáo về việc điều tra tại Darfur lên HĐBA LHQ [38] Hội
đồng Dự thẩm I đã xem xét vụ việc này [74]
- Về Cộng hòa Trung Phi: Ngày 07 tháng 01 năm 2005, Trưởng Công tố cho biết đã nhận được thư của Chính phủ Cộng hòa Trung Phi, thông báo về các tội phạm thuộc quyền tài phán của ICC diễn ra trên lãnh thổ Trung Phi từ ngày 01 tháng 7 năm 2002 [36] ICC chính thức tiến hành điều tra tội phạm trên lãnh thổ quốc gia này, Văn phòng Công tố đã tiến hành tích cực xem xét quyết định khởi tố điều tra vụ việc
Theo Thẩm phán Judge Hans – Peter Kaul Chánh Tòa Dự thẩm của ICC,
để có thể đảm đương được vai trò của mình, trong thời gian tới, ICC sẽ tập trung vào củng cố bộ máy hiện nay thành một tổ chức quốc tế chuyên nghiệp
và hiệu quả, tăng cường xây dựng một mạng lưới hợp tác quốc tế và tăng số lượng quốc gia thành viên Bên cạnh đó, các quốc gia thành viên và ICC cần phải phát triển một hệ thống hợp tác thực sự hiệu quả [41]
Cho tới thời điểm hiện nay, ICC đã trở thành một thực thể tư pháp quốc
tế đang hoạt động Có thể nói, các hoạt động tố tụng trong khuôn khổ của ICC đang vận hành ngày càng tốt hơn, tuân thủ nghiêm ngặt các trình tự, thủ tục
và các quy định của Quy chế Roma Việc ICC đã thụ lý 3 trong 4 vụ việc do chính các quốc gia nơi xảy ra tội phạm đưa lên cho thấy mức độ tin tưởng của các quốc gia đối với ICC khá cao Tuy nhiên, trên thực tế ICC đang vấp phải những lời chỉ trích từ phía dư luận quốc tế sau khi ICC phát lệnh bắt giữ Tổng thống Sudan Omar al – Bashir gồm 5 cáo buộc tội ác chống loài người và 2 tội ác chiến tranh, song không có cáo buộc tội diệt chủng tại Dafur Cộng đồng quốc tế quan ngại lệnh bắt giữ đó sẽ tạo ra tiền lệ nguy hiểm trong đời sống chính trị của thế giới
Trang 34CHƯƠNG 2 TÒA ÁN HÌNH SỰ QUỐC TẾ - CHỦ THỂ ĐẶC BIỆT CỦA
LUẬT QUỐC TẾ 2.1 Bản chất pháp lý của Văn kiện thành lập ICC
Xét về mặt bản chất pháp lý, Văn kiện thành lập ICC là Quy chế Roma Quy chế Roma là một điều ước quốc tế đa phương chuyên môn, là thỏa thuận quốc tế được ký kết bằng văn bản giữa các quốc gia và được pháp luật quốc tế điều chỉnh Cũng như những điều ước quốc tế đa phương khác, Quy chế Roma thể hiện được những đặc điểm cơ bản nhất của một điều ước quốc tế theo Công ước Viên 1969 về Luật điều ước quốc tế Đó là:
- Về hình thức, Quy chế Roma có tên gọi là Quy chế Roma về Tòa án hình sự quốc tế, gồm Lời nói đầu nêu rõ lý do ký kết, mục đích ký kết Nội dung chính của Quy chế Roma được chia thành 12 phần và 118 điều Phần cuối cùng, bao gồm các điều từ 119 đến 128 quy định về các vấn đề giải quyết tranh chấp; sửa đổi các quy định về thể chế; ký, phê chuẩn, chấp thuận, phê duyệt hoặc gia nhập; hiệu lực; rút khỏi Quy chế Ngôn ngữ của Quy chế Roma là ngôn ngữ làm việc chính thức của LHQ Theo Điều 128 Quy chế Roma “Bản gốc của Quy chế này được làm bằng tiếng ảrập, tiếng Trung Quốc, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga và tiếng Tây Ban Nha, các văn bản có giá trị như nhau” Như vậy, Quy chế Roma là một điều ước quốc tế mở, có tính phổ cập, phù hợp với các nguyên tắc và quy phạm của Hiến chương LHQ
- Về nội dung, Quy chế Roma đáp ứng các yêu cầu của một điều ước quốc tế theo quy định của Công ước Viên 1969 Các bên tham gia Quy chế Roma là các quốc gia Các tổ chức phi chính phủ không được tham gia Quy chế này, mặc dù các tổ chức phi chính phủ là chủ thể của Luật quốc tế Lời nói đầu của Quy chế Roma đã khẳng định “Lưu ý rằng trách nhiệm của mỗi
Trang 35quốc gia là thực hiện quyền tài phán hình sự của mình đối với những kẻ gây
ra tội ác quốc tế” Điều 125.2 Quy chế Roma quy định “Quy chế này phải được phê chuẩn, chấp thuận hay phê duyệt bởi các quốc gia ký Quy chế Văn kiện phê chuẩn, chấp thuận hay phê duyệt sẽ được nộp lưu chiểu cho Tổng thư ký Liên hợp quốc” Các đặc quyền và miễn trừ của ICC cũng như các nhân viên, Luật sư, chuyên gia, nhân chứng và những người khác có mặt theo yêu cầu của ICC phải được tôn trọng đầy đủ, nội dung này được quy định tại Điều 48 của Quy chế Roma Về mặt nội dung, Quy chế Roma là điều ước quốc tế đa phương có nội dung chuyên môn cao, nhằm mục đích thành lập ICC để xét xử các tội ác quốc tế trên cơ sở tôn trọng chủ quyền quốc gia Quy chế Roma đã tạo lập được các quy phạm mới của pháp luật quốc tế trong lĩnh vực phòng chống tội phạm quốc tế, là nguồn quan trọng của pháp luật quốc tế
để trừng trị kẻ phạm các tội ác quốc tế được Hiến chương LHQ quy định Bên cạnh Quy chế Roma, trong số các văn kiện thành lập ICC còn có các điều ước quốc tế khác
Đối với LHQ và nước đặt trụ sở Tòa án, ICC quan hệ với LHQ trên cơ
sở một thỏa thuận quốc tế được Hội đồng quốc gia thành viên Quy chế Roma thông qua, do Chánh án Tòa án đại diện ký ICC ký kết một thỏa thuận về trụ
sở chính với nước chủ nhà Hà Lan, Thỏa thuận này có sự phê duyệt của Hội đồng quốc gia thành viên của Quy chế và Chánh án Tòa án ký nhân danh ICC Các văn kiện pháp luật quốc tế này có ý nghĩa quan trọng cho việc ra đời ICC Một loạt văn kiện tác nghiệp khác của ICC cũng được thông qua, chúng đều là các điều ước quốc tế chuyên môn trong pháp luật quốc tế Các văn bản này đều quy định việc thành lập một cơ quan tư pháp quốc tế độc lập, bổ sung cho hệ thống tư pháp quốc gia, thực hiện truy tố và xét xử những cá nhân phạm các tội ác quốc tế nghiêm trọng nhất như tội diệt chủng, tội chống nhân loại và tội phạm chiến tranh Chúng tạo lập một tổng thể các văn bản pháp lý
Trang 36quốc tế quan trọng có nội dung liên quan đến sự ra đời, vận hành của một Tòa
án hình sự quốc tế liên quốc gia, thuộc loại các điều ước quốc tế được ký kết nhân danh Nhà nước
2.2 Quyền năng chủ thể pháp luật quốc tế của ICC
ICC là chủ thể đặc biệt của pháp luật quốc tế, có năng lực pháp luật quốc
tế được xác định trên cơ sở các văn kiện thành lập ICC ICC là một tổ chức quốc tế liên quốc gia có quyền năng chủ thể pháp luật quốc tế do chính các quốc gia thành viên ICC thống nhất xác định
Điều 4.1 Quy chế Roma quy định: “Tòa án có địa vị pháp nhân quốc tế Tòa án có năng lực pháp lý cần thiết cho việc thực hiện chức năng và hoàn thành mục tiêu của mình” Quyền năng chủ thể pháp luật quốc tế của ICC được thể hiện ở những nét chính sau đây:
- Thứ nhất, ICC độc lập tham gia vào quan hệ quốc tế với LHQ dựa trên
cơ sở của những thỏa thuận song phương giữa ICC với tổ chức LHQ ICC đặt trụ sở chính tại La – Haye (Hà Lan) trên cơ sở thỏa thuận với Chính phủ Hà Lan và có thể đặt văn phòng ở bất kỳ nơi nào khác nếu thấy cần thiết (Điều 3 Quy chế Roma) ICC cũng độc lập tham gia vào quan hệ quốc tế với các quốc gia, chủ thể khác của pháp luật quốc tế mà trước hết là với các nước thành viên và các tổ chức quốc tế khác Trong quan hệ đó, ICC có quyền độc lập của mình mà không lệ thuộc vào một nước nào Ngôn ngữ làm việc chính thức của Tòa án là tiếng Anh, Pháp, Nga, Tây Ban Nha, Trung Quốc và ảrập Các phán quyết và các quyết định quan trọng trước Tòa án phải được thể hiện bằng ngôn ngữ chính thức (Điều 50 Quy chế Roma)
- Thứ hai, là một Tòa án thường trực (Permanent Court), ICC có những quyền và nghĩa vụ nhất định khác với hai Tòa án quân sự Nuremberg và Tokyo xét xử những tội phạm chiến tranh Đức Quốc xã và Nhật Bản cũng
như Tòa án ad hoc về Nam Tư và Rwanda về thẩm quyền theo địa lý và phạm
Trang 37vi thời gian Hai Tòa ad hoc nói trên do HĐBA LHQ thành lập và được ủy
nhiệm nhằm xét xử chỉ những tội phạm được thực hiện tại những khu vực nói trên theo những khoảng thời gian xác định
- Thứ ba, là một Tòa án hình sự (Criminal Court), ICC có quyền và nghĩa vụ xét xử trực tiếp những tội phạm hình sự căn cứ theo những quy định của Quy chế Roma ICC cũng khác với ICJ có chức năng giải quyết các tranh chấp giữa các quốc gia và đưa ra những ý kiến tư vấn về pháp lý mà HĐBA, cũng như các cơ quan chuyên môn khác của LHQ yêu cầu Nếu xét về hình thức tổ chức thì ICJ là cơ quan trực thuộc LHQ, do các quốc gia thành viên của LHQ thành lập Quy chế của ICJ là một bộ phận cấu thành của Hiến chương LHQ và các nước thành viên của LHQ đương nhiên là thành viên của Quy chế này ICC có cơ cấu tổ chức và hoạt động độc lập, không mô phỏng
cơ cấu tổ chức và hoạt động của ICJ hoặc các tòa án hình sự của các quốc gia Những tội phạm được đưa ra xét xử tại ICC là những tội phạm hình sự quốc
tế nguy hiểm nhất đáp ứng những yếu tố cấu thành tội phạm căn cứ vào Luật hình sự quốc tế (Intrernational Criminal Law), trình tự thủ tục để truy tố và đưa ra xét xử tại ICC căn cứ vào trình tự thủ tục tố tụng hình sự quốc tế (International Criminal Procedure)
- Thứ tư, Điều 48.1 Quy chế Roma quy định “Tòa án sẽ được hưởng các đặc quyền và quyền miễn trừ cần thiết trên lãnh thổ của các quốc gia thành viên để hoàn thành nhiệm vụ của mình” Bên cạnh Điều 48, Hiệp định Đặc quyền và Quyền miễn trừ của ICC do Hội đồng quốc gia thành viên ban hành xác định cụ thể về phạm vi các đặc quyền và quyền miễn trừ của ICC
Để quy định tại Điều 48.1 thực sự có hiệu lực, Tổ chức ân xá quốc tế khuyến nghị các quốc gia thành viên phải dành các đặc quyền và quyền miễn trừ cho Tòa án tương tự như các quốc gia này đã dành cho LHQ Sự bảo vệ này bao gồm quyền miễn trừ tuyệt đối khỏi các quy trình tố tụng pháp lý của
Trang 38quốc gia, sự bất khả xâm phạm đến các trụ sở và tài sản của Tòa án cho dù là
đi thuê hay thuộc sở hữu, sự bất khả xâm phạm đến các tài liệu lưu trữ của Tòa án, được miễn tất cả các loại thuế có liên quan, được sử dụng mã số và nhận gửi các tài liệu theo đường bưu điện hoặc thông qua các túi ngoại giao
và không bị kiểm duyệt [14, tr 423-425]
Đối với các Thẩm phán, Công tố viên, Trợ lý Công tố viên và Đăng ký viên, để đảm bảo tính độc lập và hoạt động hiệu quả của các quan chức cấp cao của ICC, các quốc gia thành viên phải dành cho họ sự bảo vệ tương tự như dành cho quan chức cấp cao của LHQ theo quy định tại Điều 105.1 của Hiến chương LHQ và Điều 5.19 của Công ước về Đặc quyền và Quyền miễn trừ của LHQ Đặc biệt là các quốc gia thành viên phải đảm bảo rằng sự bảo vệ này cũng được áp dụng với các quan chức cấp cao của Tòa án ngay cả trong
trường hợp họ là công dân của quốc gia đó [14, tr 423-425]
Đối với Trợ lý Đăng ký viên, nhân viên của Văn phòng Công tố và Cơ quan lưu trữ, các quốc gia thành viên cần phải đảm bảo tính độc lập và toàn vẹn của nhân viên Tòa án bằng việc dành sự bảo vệ tương tự như dành cho các nhân viên của LHQ theo quy định tại Điều 5 và Điều 7 của Công ước về Đặc quyền và Quyền miễn trừ của LHQ mà giờ đây đã trở thành một bộ phận của tập quán quốc tế Quyền miễn trừ theo chức trách nói trên bao gồm quyền miễn trừ khỏi bị bắt giữ và các cáo buộc tố tụng pháp lý phát sinh từ các hành
vi thực hiện công vụ Quyền miễn trừ này được áp dụng đối với tất cả các nhân viên, không kể đến yếu tố quốc tịch, bao gồm các nhân viên địa phương được tuyển dụng để bảo đảm tính độc lập và hiệu quả của ICC không bị vi
phạm [14, tr 423-425]
Đối với những người bị yêu cầu có mặt tại ICC, theo Điều 48.4 Quy chế Roma thì các Luật sư, các chuyên gia, nhân chứng và những người khác được yêu cầu có mặt tại nơi xét xử của ICC “sẽ được đối xử một cách thích hợp cho
Trang 39việc thực thi chức năng của Tòa án, phù hợp với Hiệp định về các Đặc quyền
và Quyền miễn trừ của Tòa án” Không có lý do gì mà các quốc gia thành viên không dành sự bảo vệ cho những người cần thiết phải có mặt tại ICC, không kể ICC tiến hành xét xử tại La - Haye hay xét xử trên lãnh thổ của các quốc gia thành viên bởi vì điều này rất quan trọng để ICC có thể hoạt động hiệu quả [14, tr 423-425]
- Thứ năm, là một thiết chế quốc tế độc lập, ICC có khả năng độc lập chịu trách nhiệm pháp luật quốc tế đối với các hoạt động của mình Thẩm quyền xét xử của ICC đóng vai trò bổ trợ (Complementarity) đối với thẩm quyền xét xử của các tòa án trong nước khi các cơ quan tư pháp trong nước không thể tiến hành các hoạt động tố tụng hình sự cần thiết vì các lý do khác nhau Do vậy, ICC không phải là một cấp xét xử hay một cơ quan xét xử cao hơn so với các tòa án trong nước hoặc là một Tòa Phúc thẩm (Tòa phá án) đối với các tòa án quốc gia Thẩm quyền xét xử của ICC và hoạt động của ICC không làm ảnh hưởng và chi phối thẩm quyền và hoạt động của các tòa án trong nước Hoạt động của ICC được tiến hành trên cơ sở các điều ước quốc
tế và do đó nếu ICC vi phạm pháp luật quốc tế thì ICC phải chịu trách nhiệm pháp luật quốc tế như các chủ thể khác của pháp luật quốc tế Điều này được thể hiện qua Văn kiện thành lập ICC và được quy định trong các văn bản pháp luật quốc tế của LHQ
2.3 Thẩm quyền quốc tế của ICC
ICC có thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử quốc tế những tội ác nghiêm trọng nhất trong cộng đồng quốc tế, thẩm quyền quốc tế này khẳng định ngay tại Lời nói đầu của Quy chế Roma và được quy định tại Điều 1 của Quy chế Theo Điều 1 Quy chế Roma, ICC có thẩm quyền xét xử đối với những cá nhân phạm những tội hình sự quốc tế nguy hiểm nhất được quy định trong Quy chế Điều 5 Quy chế Roma quy định ICC sẽ xét xử đối với những tội
Trang 40phạm nguy hiểm nhất do các cá nhân thực hiện, đó là tội diệt chủng, tội ác chống loài người, tội ác chiến tranh và tội xâm lược
Mặc dù có nhiều đề xuất ghi nhận cả tội phạm khủng bố và tội phạm ma túy thuộc thẩm quyền của Tòa án, nhưng nhiều quốc gia đã không thể đi đến thống nhất với nhau về một định nghĩa chính thức về khủng bố, thậm chí một
số quốc gia cho rằng việc điều tra về các tội phạm ma túy thì vượt quá khả năng của ICC Cuối cùng, các quốc gia đã đi đến một nhất trí bằng một Nghị quyết có tính chất khuyến nghị rằng các quốc gia thành viên sẽ xem xét tính đến loại tội phạm này tại một Hội nghị trong tương lai [58]
+ Tội diệt chủng (genocide)
Tội diệt chủng bao gồm những hành vi cụ thể bị cấm đoán được liệt kê, được thực hiện với sự cố ý, toàn bộ hoặc một phần nhắm vào một quốc gia, dân tộc, một nhóm sắc tộc hoặc tôn giáo Diệt chủng là một trong số những hành vi có mục đích cố ý tiêu diệt toàn bộ hoặc một phần cộng đồng người hoặc một dân tộc Điều này làm cho tội diệt chủng có thể phân biệt với những loại tội phạm khác chống lại con người Điều 6 Quy chế Roma ghi nhận lại định nghĩa về diệt chủng tại Điều 2 Công ước năm 1948 về ngăn ngừa và trừng trị tội diệt chủng
Năm loại hành vi nghiêm cấm sau đây nhằm cố ý tiêu diệt toàn bộ hoặc một phần của một dân tộc, một chủng tộc hay một nhóm tôn giáo sẽ cấu thành tội ác diệt chủng Đó là giết các thành viên của nhóm người đó; gây tổn hại nghiêm trọng về thể xác hoặc tinh thần cho các thành viên của nhóm người đó; chủ tâm bắt một nhóm người phải chịu đựng những điều kiện sống theo
dự tính trước nhằm dẫn đến sự phá hoại về thể xác của họ; có ý định áp đặt những biện pháp nhằm ngăn chặn sự sinh đẻ của nhóm người đó và cưỡng bức chuyển giao trẻ em của một nhóm người này sang một nhóm người khác