1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của hội đồng dân tộc và các uỷ ban thường trực của quốc hội việt nam trong giai đoạn hiện nay

78 196 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 605,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

* Nhiệm vụ: Để thực hiện được mục đích trên, luận văn có các nhiệm vụ sau: - Nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển của hệ thống Ủy ban thường trực của Quốc hội Việt Nam, làm rõ va

Trang 1

ĐOÀN THU HUYỀN

HOÀN THIỆN TỔ CHỨC VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG DÂN TỘC VÀ CÁC ỦY BAN THƯỜNG TRỰC CỦA

QUỐC HỘI VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp

Mã số: 60 38 10

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Tô Văn Hòa

HÀ NỘI - 2010

Trang 2

Luận văn này đã được hoàn thành với sự hướng dẫn tận tình của Thầy giáo - Tiến sĩ Tô Văn Hòa, giảng viên trường Đại học Luật, Hà Nội Vì thế trước tiên, luận văn này là món quà bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của tác giả đối với người Thầy của mình

Đồng thời, để hoàn thành luận văn này, tôi xin trân trọng cảm ơn quý Thầy Cô giáo lớp Cao học Luật khóa XV, Trường Đại học Luật, Hà Nội -những người đã truyền đạt, vun đắp kiến thức cho tôi trong suốt những năm học tại trường

Tôi cũng xin gửi lời cám ơn đến gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã nhiệt tình giúp đỡ, đóng góp ý kiến, cung cấp tài liệu và tạo mọi điều kiện cần thiết để tôi hoàn thành tốt luận văn

Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng chắc hẳn luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, có những vấn đề lý luận và thực tiễn đang và sẽ nảy sinh mà tôi chưa cập nhật được Rất mong sự đóng góp ý kiến của quý Thầy

Cô và toàn thể bạn đọc để luận văn đạt kết quả cao hơn

Hà Nội, ngày 20 tháng 1 năm 2010

Tác giả luận văn

Đoàn Thu Huyền

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Chương 1: VAI TRÒ CỦA HỘI ĐỒNG DÂN TỘC VÀ CÁC ỦY BAN

THƯỜNG TRỰC CỦA QUỐC HỘI VIỆT NAM VÀ NGHỊ VIỆN CÁC NƯỚC

8

1.1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của hệ thống Ủy

ban thường trực của Quốc hội Việt Nam

9

1.2 Vị trí của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban thường trực của Quốc

hội Việt Nam

12

1.3 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng dân tộc và các

Ủy ban thường trực của Quốc hội Việt Nam

16

1.4 Cơ cấu tổ chức của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban thường

trực của Quốc hội Việt Nam

Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN TỔ

CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG DÂN TỘC VÀ CÁC ỦY BAN THƯỜNG TRỰC CỦA QUỐC HỘI VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

40

2.1 Thực trạng tổ chức và hoạt động của Hội đồng dân tộc và các

Ủy ban thường trực của Quốc hội Việt Nam

40

2.2 Đổi mới Hội đồng dân tộc và các Ủy ban thường trực của

Quốc hội Việt Nam trước yêu cầu xây dựng nhà nước pháp

quyền

50

2.3 Quan điểm và nguyên tắc cơ bản tiếp tục đổi mới tổ chức và 54

Trang 4

hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban thường trực

của Quốc hội Việt Nam

2.4 Phương hướng, giải pháp hoàn thiện tổ chức và hoạt động của

Hội đồng dân tộc và các Ủy ban thường trực của Quốc hội Việt

Nam trong giai đoạn hiện nay

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền, đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội là công việc luôn được Đảng quan tâm và coi trọng Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba ban chấp hành trung ương Đảng Khoá VIII năm

1997 đã nêu chủ trương “Nghiên cứu thành lập thêm một số Ủy ban của Quốc hội” Tiếp tục tinh thần của chủ trương này, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X Đảng cộng sản Việt Nam nhấn mạnh “đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội Tổ chức lại một số Ủy ban của Quốc hội; nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội” [5, tr.126] là một trong số các nhiệm vụ hàng đầu của việc phát huy dân chủ, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Chiến lược xây dựng hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010 định hướng đến năm 2020 cũng nhấn mạnh đến mục tiêu đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội đặc biệt là nhấn mạnh về quy trình thủ tục hoạt động của Quốc hội

và các cơ quan của Quốc hội như một biện pháp hữu hiệu để nâng cao chất lượng của hệ thống pháp luật Sau Đại hội Đảng X, Quốc hội khoá XI đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức Quốc hội và tăng thêm số Ủy ban thường trực của Quốc hội với mục đích chính là thể chế hoá quan điểm này của Đảng Điều đó cũng cho thấy về mặt chủ trương đổi mới và hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban thường trực của Quốc hội có tác động to lớn đến việc đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội, góp phần xây dựng hiệu quả bộ máy nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Vì lý do đó mà trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ, tác giả đã lựa chọn

nghiên cứu đề tài: "Hoàn thiện tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của

Trang 6

Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban thường trực của Quốc hội Việt Nam trong giai đoạn hiện nay"

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Việc nghiên cứu tổ chức và hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban thường trực của Quốc hội Việt Nam đã được nhiều công trình khoa học nghiên cứu, như:

- Hội thảo khoa học cải cách bộ máy nhà nước góp phần thưc hiện mục

tiêu hiện đại hoá, công nghiệp hoá đất nước (ngày 17 tháng 3 năm 2001), của

Bộ Tư pháp;

- Đổi mới, hoàn thiện bộ máy Nhà nước trong giai đoạn hiện nay, của

PGS TS Bùi Xuân Đức, Nhà xuất bản Tư pháp, 2004

- Quốc hội Việt Nam trong nhà nước pháp quyền, của PGS TS Nguyễn

Đăng Dung, Nhà xuất bản đại học quốc gia Hà Nội, 2007

- Một số vấn đề về đổi mới tổ chức, hoạt động của Quốc hội, của TS Lê

Thanh Vân, Nhà xuất bản Tư pháp, 2007

- Một số giải pháp tăng cường hiệu quả hoạt động của Hội đồng dân

tộc, các Ủy ban của Quốc hội, của Đặng Đình Luyến, tạp chí Nghiên cứu lập

pháp, (2006)

- Luận văn thạc sỹ luật học: Các ủy ban của Quốc hội theo quy định của

pháp luật Việt Nam và cộng hòa Pháp, của Nguyễn Thị Phương Thảo, hướng

dẫn khoa học TS Phan Trung Lý, GS Serge.Sur, 2004

Những công trình, tài liệu này là nguồn tư liệu nghiên cứu, tham khảo có giá trị, mang tính lý luận và thực tiễn cao về vấn đề xây dựng và hoàn thiện tổ chức bộ máy nhà nước, tổ chức và hoạt động Quốc hội Tuy nhiên chưa có công trình nào đề cập đến hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Hội đồng dân

Trang 7

tộc và các Ủy ban thường trực của Quốc hội Việt Nam trong giai đoạn hiện nay ở phạm vi rộng hơn như luận văn đã đề cập

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

* Mục đích:

Nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn đề cơ bản có tính lý luận về vai trò của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban thường trực của Quốc hội Việt Nam; phân tích đánh giá thực trạng, chức năng nhiệm vụ của các cơ quan này Trên

cơ sở các kết quả nghiên cứu, luận văn cũng kiến nghị các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban thường trực của Quốc hội Việt Nam

* Nhiệm vụ:

Để thực hiện được mục đích trên, luận văn có các nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển của hệ thống Ủy ban thường trực của Quốc hội Việt Nam, làm rõ vai trò, tổ chức và hoạt động Hội đồng dân tộc và các Ủy ban thường trực của Quốc hội; tham khảo những kinh nghiệm tổ chức và hoạt động của Ủy ban của nghị viện một số nước

- Đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động của Hội đồng dân tộc và các

Ủy ban thường trực của Quốc hội để đưa ra các quan điểm, giải pháp hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban thường trực của Quốc hội Việt Nam hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đổi mới tổ chức và hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban thường trực của Quốc hội có thể đề cập ở nhiều góc độ, mức độ khác nhau, tuy nhiên, luận văn chỉ đề cập vào những nội dung cơ bản về tổ chức và hoạt

Trang 8

động của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban thường trực của Quốc hội Việt Nam và không nghiên cứu các Ủy ban lâm thời của Quốc hội

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về tổ chức bộ máy nhà nước, về việc tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp cụ thể: phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, lịch sử, so sánh, tổng kết thực tiễn

6 Đóng góp mới về khoa học của luận văn

- Luận văn khái quát được quá trình hình thành và phát triển và làm sáng

tỏ vấn đề lý luận cơ bản về vai trò, tổ chức và hoạt động của Hội đồng dân tộc

và các Ủy ban thường trực của Quốc hội

- Trên cơ sở đánh giá được thực trạng tổ chức và hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban thường trực của Quốc hội và kinh nghiệm nước ngoài, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục, nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan này trong giai đoạn hiện nay

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 2 chương, 9 tiết

Trang 9

Chương 1

VAI TRÒ CỦA HỘI ĐỒNG DÂN TỘC VÀ CÁC ỦY BAN THƯỜNG TRỰC

CỦA QUỐC HỘI VIỆT NAM VÀ NGHỊ VIỆN CÁC NƯỚC

Để có cơ sở đưa ra các đề xuất hoàn thiện hệ thống Hội đồng dân tộc và các Ủy ban thường trực của Quốc hội Việt Nam, chương này tập trung nghiên cứu hai vấn đề lớn: vai trò của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban thường trực của Quốc hội Việt Nam theo pháp luật hiện hành và một số đặc điểm chính trong vai trò của các Ủy ban của nghị viện các nước trên thế giới

Trước tiên, về mặt khái niệm, ủy ban theo nghĩa chung và phổ biến nhất

là “một nhóm người được một tập thể lớn hơn trao cho những quyền hạn nhất định để thực hiện một nhiệm vụ hoặc một chức năng cụ thể nào đó” [36, tr.10] Trong cơ cấu tổ chức của cơ quan lập pháp nói chung, các ủy ban của nghị viện được hiểu là “tập hợp các nghị sĩ được phân công làm một số công việc cụ thể của nghị viện” [36,tr.10] Các ủy ban mà nghị viện thành lập ra có thể là các ủy ban tồn tại và hoạt động thường xuyên trong một lĩnh vực nào đó (hay còn gọi là “ủy ban thường trực”) và ủy ban được thành lập để thực hiện một công việc cụ thể trong một khoảng thời gian cụ thể (hay còn gọi là “ủy ban lâm thời”)

Các Ủy ban này, theo điều 21, Luật Tổ chức Quốc hội Việt Nam hiện hành, đã được định nghĩa là những cơ quan của Quốc hội, gồm các đại biểu quốc hội, hoạt động chuyên trách, thường xuyên theo nhiệm kỳ, làm việc theo chế độ tập thể và quyết định theo đa số, thực hiện nhiệm vụ thẩm tra, giám sát, kiến nghị theo quy định của Luật này Theo quy định của pháp luật hiện hành, Hội đồng dân tộc của Quốc hội có địa vị pháp lý như các Ủy ban, là một cơ quan thường trực hoạt động thường xuyên của Quốc hội Tuy nhiên,

để nhấn mạnh tầm quan trọng của chính sách dân tộc thì Chủ tịch Hội đồng

Trang 10

dân tộc được tham dự các phiên họp của Ủy ban thường vụ Quốc hội; được tham dự các phiên họp của Chính phủ bàn về chính sách dân tộc mà Chủ tịch

Ủy ban không có quyền này [24, đ24] Vì vậy Hội đồng dân tộc cũng được đề cập như một Ủy ban thường trực của Quốc hội

Trong khuôn khổ luận văn này sẽ chỉ đề cập tới Hội đồng dân tộc và các

Ủy ban thường trực của Quốc hội Việt Nam hay Ủy ban thường trực của nghị viện các nước Và thuật ngữ “Ủy ban”, nếu không có chỉ dẫn khác, sẽ được hiểu là các Ủy ban thường trực của Quốc hội

1.1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của hệ thống Ủy ban thường trực của Quốc hội Việt Nam

Lịch sử phát triển của hệ thống các Ủy ban thường trực của Quốc hội nước ta cho thấy hệ thống các cơ quan này đã trải qua một quá trình phát triển liên tục, lâu dài gắn liền với hoạt động của Quốc hội qua các thời kỳ Ngay ở khoá Quốc hội thứ nhất (1946-1960), khi chưa có Luật tổ chức Quốc hội và Hiến pháp năm 1946 cũng không quy định về việc thành lập và hoạt động của các Uỷ ban của Nghị viện nhưng Ban thường vụ Nghị viện - cơ quan thường trực của Nghị viện - đã thành lập ba tiểu ban chuyên môn giúp việc, gồm Tiểu ban Pháp chế, Tiểu ban Tài chính- Kinh tế và Tiểu ban Kiến nghị, có nhiệm

vụ giúp Ban thường vụ Nghị viện nghiên cứu xem xét các báo cáo của Chính phủ, dự án sắc luật Sau ngày miền Bắc được giải phóng năm 1954, Ban thường vụ Nghị viện đã thành lập mười hai tiểu ban chuyên môn giúp cơ quan này thẩm tra các dự án luật, dự án sắc lệnh, các báo cáo của Chính phủ

đệ trình Nghị viện, kiến nghị với Nghị viện những vấn đề thuộc lĩnh vực mà tiểu ban phụ trách Về bản chất, đây là các tiểu ban có chức năng giúp việc cho Ban thường trực Quốc hội, nên không được xem như các Ủy ban thường trực đầu tiên của Quốc hội Tuy nhiên, các tiểu ban này có thể được coi là

Trang 11

mầm mống của các Ủy ban thường trực sau này vì nhiệm vụ của các tiểu ban

và các Ủy ban sau này có nét tương đồng

Từ năm 1960, theo Hiến pháp 1959, Quốc hội đã thành lập những Ủy ban thường trực đầu tiên là Uỷ ban dự án pháp luật, Ủy ban kế hoạch và ngân sách và những Ủy ban khác mà Quốc hội có thể thành lập nếu xét thấy cần thiết [18, đ57,58], [19, đ33] Trên thực tế Quốc hội khoá II (1960-1964) lúc đầu chỉ thành lập hai Ủy ban là Ủy ban dự án pháp luật và Ủy ban kế hoạch

và ngân sách Đây chính là tiền thân của Ủy ban pháp luật và Ủy ban tài chính, ngân sách hiện thời Năm 1961, Quốc hội thành lập thêm Ủy ban dân tộc theo Nghị quyết tại kỳ họp ngày 20 tháng 4 năm 1961 và đến năm 1963 thành lập thêm Ủy ban thống nhất theo Nghị quyết ngày 30 tháng 4 năm 1963 [42, tr26]

Quốc hội khoá III ( 1964-1971), có năm Ủy ban của Quốc hội trong đó

có bốn Ủy ban đã được thành lập trong nhiệm kỳ Quốc hội khoá II và có thêm một Ủy ban mới là Ủy ban văn hoá, xã hội theo Nghị quyết của Quốc hội ngày 3/7/1964

Quốc hội khoá IV( 1971-1975) có thêm Ủy ban đối ngoại theo Nghị quyết của Quốc hội ngày 9 tháng 2 năm 1974 và mô hình gồm sáu Ủy ban này được tồn tại cho đến Quốc hội khoá V ( 1975-1976) [42, tr126]

Trong nhiệm kỳ Quốc hội khoá VI (1976-1981), nước nhà thống nhất,

Ủy ban thống nhất hoàn thành nhiệm vụ Ủy ban văn hoá, xã hội đã được tách thành hai Ủy ban là Ủy ban văn hoá và giáo dục và Ủy ban y tế và xã hội [42, tr133]

Trong hai nhiệm kỳ khoá VII ( 1981-1987) và khoá VIII (1987-1992),

Quốc hội hoạt động theo Luật tổ chức Quốc hội và Hội đồng Nhà nước năm

Trang 12

1981, lần đầu tiên Quốc hội thành lập các hội đồng là Hội đồng quốc phòng

và Hội đồng dân tộc Luật tổ chức Quốc hội và Hội đồng Nhà nước năm 1981 quy định Quốc hội có bảy Ủy ban gồm: Ủy ban pháp luật, Ủy ban kinh tế, kế hoạch và ngân sách, Ủy ban văn hoá và giáo dục, Ủy ban khoa học và kỹ thuật, Ủy ban y tế và xã hội, Ủy ban thanh niên, thiếu niên và nhi đồng và Ủy ban đối ngoại Ngoài ra, Quốc hội có thể thành lập các Ủy ban thường trực khác khi xét thấy cần thiết

Trong giai đoạn hiến pháp của thời kỳ đổi mới từ năm 1992 đến 2007 có

ba nhiệm kỳ của Quốc hội gồm Quốc hội khoá IX (1992-1997), khoá X (1997-2002) và khoá XI (2002-2007) Trong đó Quốc hội khóa XI có tám cơ quan chuyên môn gồm Hội đồng dân tộc và bảy Ủy ban: Ủy ban pháp luật,

Ủy ban kinh tế và ngân sách, Ủy ban các vấn đề xã hội, Uỷ ban khoa học, công nghệ và môi trường, Uỷ ban văn hoá và giáo dục, thanh niên, thiếu niên

và nhi đồng, Uỷ ban quốc phòng và an ninh và Ủy ban đối ngoại [24, đ22] Đến năm 2007, do “cơ cấu tổ chức của các cơ quan của Quốc hội vẫn chưa hoàn thiện, số lượng đại biểu quốc hội chuyên trách còn hạn chế, trong khi khối lượng công việc tăng lên gấp bội, tình trạng quá tải công việc đã xuất hiện trong nhiều năm” [41] cùng với mục tiêu gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới vào những năm 2005, 2006, Quốc hội khoá XI quyết định tách Ủy ban pháp luật thành Ủy ban tư pháp và Ủy ban pháp luật; Ủy ban kinh tế và ngân sách thành Ủy ban kinh tế và Ủy ban tài chính và ngân sách Như vậy, hiện nay Quốc hội có Hội đồng dân tộc và chín Ủy ban của Quốc hội, bao gồm: Ủy ban pháp luật; Ủy ban tư pháp; Ủy ban kinh tế; Ủy ban tài chính, ngân sách; Ủy ban quốc phòng và an ninh; Ủy ban văn hoá, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng; Ủy ban các vấn đề xã hội; Ủy ban khoa học, công nghệ và môi trường; Ủy ban đối ngoại [25, đ1]

Trang 13

Khung pháp luật tổng thể hiện hành về vị trí, nhiệm vụ quyền hạn cụ thể của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội bao gồm Hiến pháp năm

1992 (sửa đổi bổ sung năm 2001), Luật tổ chức Quốc hội năm 2001, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật tổ chức Quốc hội năm 2007, Luật về hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003, Quy chế hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội năm 2004 và các văn bản khác như Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, Quy chế hoạt động của Ủy ban thường vụ Quốc hội năm 2004, Quy chế làm việc của từng Ủy ban và Nội quy

kỳ họp Quốc hội năm 2003

Nhìn tổng thể lịch sử hình thành và phát triển của Quốc hội Việt Nam, có thể thấy ở thời kỳ đầu của lịch sử lập hiến, với việc mới giành được chính quyền lại phải đương đầu với việc giữ chính quyền non trẻ, vai trò của Ủy ban chưa được nhìn nhận rõ Từ sau Hiến pháp 1959, khi Việt Nam đã giành được chủ quyền nhất định đối với lãnh thổ, vai trò của Ủy ban ngày càng được nâng cao, biểu hiện ở chỗ số lượng và mức độ chuyên môn hóa giữa các Ủy ban ngày càng tăng Điều này được giải thích là do nhu cầu thực tiễn của công cuộc xây dựng đất nước, do sự phát triển của kinh tế cùng với sự phát triển và

áp dụng thành tựu của khoa học công nghệ làm nảy sinh nhiều vấn đề trong những lĩnh vực mới, đòi hỏi Quốc hội phải giải quyết Vì lẽ đó, Quốc hội phải thành lập các Ủy ban trong từng lĩnh vực và ngày càng có xu hướng tương ứng với từng lĩnh vực của các bộ của Chính phủ, thể hiện sự chuyên môn hoá ngày càng cao của Ủy ban của Quốc hội

1.2 Vị trí của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban thường trực của Quốc hội Việt Nam

Với vị trí là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, Quốc hội ngày càng

có vị trí quan trọng trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền và trong tiến trình hội nhập kinh tế thế giới Tuy nhiên, trong thời kỳ mới, Quốc hội

Trang 14

Việt Nam đang đứng trước một số thách thức và vấn đề lớn đòi hỏi phải giải quyết là:

Thứ nhất là sự phân công lao động Quốc hội Việt Nam là diễn đàn quá lớn mà tại phiên toàn thể, với thời gian ngắn người ta không thể tiến hành tất

cả khối lượng lớn các công việc đòi hỏi sự chi tiết, kỹ thuật và những vấn đề

có tính chuyên môn cao Một giải pháp được đưa ra là chia nhỏ các công việc của Quốc hội và phân công cho những nhóm người nhất định có trình độ chuyên môn tiến hành nghiên cứu và trình lên phiên thảo luận toàn thể Phương án này giúp tiết kiệm tối đa chi phí và thời gian của Quốc hội

Thứ hai là nhu cầu cung cấp thông tin Để quyết định một vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền của Quốc hội, các đại biểu cần phải được cung cấp thông tin chuyên môn, đôi khi là thông tin mang tính chuyên ngành hẹp Các

Ủy ban thường trực gồm các đại biểu có năng lực chuyên sâu là giải pháp tối

ưu giúp thu thập thông tin từ các nguồn thông tin khác nhau, xử lý và cung cấp cho Quốc hội cũng như các đại biểu quốc hội

Thứ ba là đòi hỏi về tính chuyên nghiệp Trong xu thế toàn cầu hóa và đời sống kinh tế, văn hóa – xã hội ngày càng phát triển, hoạt động của Quốc hội ngày càng đòi hỏi tính chuyên nghiệp cao Tuy nhiên, Quốc hội Việt Nam hoạt động không thường xuyên, đa số đại biểu quốc hội làm việc kiêm nhiệm

Vì vậy, Quốc hội cần phải thành lập ra cơ quan giúp việc thường trực, hoạt động thường xuyên và chuyên trách giúp Quốc hội thực hiện tốt chức năng của mình

Thứ tư là tính kịp thời trong các quyết định của Quốc hội Trong nhiều tình huống các quyết định của Quốc hội vừa đòi hỏi sự cấp thiết, vừa đòi hỏi

sự chính xác Các Ủy ban với cơ cấu gọn nhẹ, thành phần gồm các chuyên gia

Trang 15

tinh thông về nghiệp vụ, am hiểu về những lĩnh vực chuyên môn sẽ giúp Quốc hội đưa ra được các quyết định một cách kịp thời và sáng suốt nhất Với những lý do nêu trên, có thể thấy, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban thường trực là những cơ quan giúp việc không thể thiếu trong tổ chức của Quốc hội, đóng vai trò quyết định tới hiệu quả hoạt động của Quốc hội Vị trí này của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban thường trực của Quốc hội đã được khẳng định một cách rõ ràng trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành Theo đó, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội là những cơ quan thường trực của Quốc hội, làm việc theo chế độ tập thể và quyết định theo đa

số Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp thì báo cáo công tác trước Ủy ban thường vụ Quốc hội [24, đ21]

Các thành viên của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội do Quốc hội quyết định số lượng thành viên và bầu trong số các đại biểu Quốc hội Quốc hội cũng có quyền miễn nhiệm, bãi nhiệm đối với các thành viên của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội [24, đ24- đ25]

Từ góc độ pháp lý, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội hoạt động thường xuyên, liên tục trong suốt nhiệm kỳ của mình và đóng vai trò là các cơ quan chuyên môn, tư vấn và giúp việc cho Quốc hội trong các lĩnh vực thuộc chức năng của Quốc hội Các cơ quan trong bộ máy hành pháp và tư pháp đều phải chịu sự giám sát của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội Các dự án luật, các báo cáo của cơ quan nhà nước khác trước khi trình Quốc hội đều phải được Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội thẩm tra Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn được giao có quyền kiến nghị về các vấn đề liên quan đến việc

Trang 16

hoàn thiện tổ chức, hoạt động của các cơ quan nhà nước và các chính sách biện pháp giải quyết các vấn đề kinh tế – xã hội của đất nước

Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội đều là cơ quan của Quốc hội Tuy nhiên, trong khi các Ủy ban thường trực được coi là các cơ quan tư vấn, giúp việc, xem xét các vấn đề cụ thể thì Ủy ban thường vụ Quốc hội có vai trò chỉ đạo, điều hoà, phối hợp hoạt động của các Ủy ban thường trực, [24, đ7], [21, đ91] phân công cơ quan thẩm tra các

dự án luật, dự án pháp lệnh và cho ý kiến về các dự án này trước khi trình ra Quốc hội [24, đ9] Cơ quan này cũng được giao một số quyền hạn nhất định như: ban hành pháp lệnh về những vấn đề được Quốc hội giao, giải thích Hiến

pháp, luật, pháp lệnh [24, đ6- đ7], thực hiện quan hệ đối ngoại của Quốc hội

Đây cũng là cơ quan khá đặc thù trong cơ cấu, tổ chức của Quốc hội Việt Nam so với hầu hết nghị viện các nước

Vị trí, vai trò tư vấn, giúp việc của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban được thể hiện rõ trong quy trình tiến hành các kỳ họp của Quốc hội Quốc hội họp thường lệ mỗi năm hai kỳ, trừ trường hợp họp bất thường theo yêu cầu của Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ hoặc ít nhất một phần ba tổng số đại biểu yêu cầu hoặc theo quyết định của Uỷ ban thường vụ Quốc hội [24, đ62] Các vấn đề trong chương trình kỳ họp sẽ được thảo luận và quyết định tại phiên toàn thể, tuy nhiên khi cần thiết Quốc hội quyết định thảo luận tại Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội [24, đ68] Tại kỳ họp, Chủ tịch Quốc hội có thể mời Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội và thành viên khác có liên quan trao đổi những vấn đề cần thiết để trình Quốc hội xem xét, quyết định [22, đ13] Tại kỳ họp, Quốc hội cũng nghe Ủy ban trình bày báo cáo công tác, báo cáo thẩm tra về dự án luật, các dự án, công trình quan trọng quốc gia trước khi biểu quyết [24, đ73-đ75]

Trang 17

Tóm lại, với vị trí là cơ quan thường trực do Quốc hội thành lập, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban giữ vai trò như một cơ quan giúp việc, thư ký cho Quốc hội, giữ vai trò là đầu mối liên hệ giữa Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội và cơ quan nhà nước khác trong việc giải quyết công việc của Quốc hội

1.3 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban thường trực của Quốc hội Việt Nam

“Chức năng của một cơ quan là những phương diện, loại hoạt động cơ bản để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình” [3,tr168] Theo pháp luật hiện hành, Quốc hội có ba chức năng là: (1) lập hiến và lập pháp; (2) quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức

và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội, hoạt động của công dân; và (3) giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước Với vị trí là cơ quan giúp việc thường trực của Quốc hội, chức năng của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban thường trực của Quốc hội luôn bám sát và phục vụ việc thực hiện các chức năng của Quốc hội Trên cơ sở đó, pháp luật hiện hành quy định Hội đồng dân tộc và các Ủy ban thường trực của Quốc hội có các chức năng thẩm tra, giám sát và đưa ra kiến nghị Trong đó có thể thấy thẩm tra và giám sát là hai phương diện hoạt động chính của các Ủy ban thường trực còn chức năng kiến nghị được coi là một chức năng phái sinh từ hai chức năng trên Kết quả thu được từ việc thực hiện chức năng thẩm tra và giám sát

sẽ được Ủy ban của Quốc hội đưa ra các kiến nghị giúp Quốc hội thực hiện tốt nhiệm vụ, quyền hạn của mình Trong hoạt động lập pháp của Quốc hội, Hội đồng và Ủy ban có chức năng thẩm tra các dự án luật Để giúp Quốc hội quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, Hội đồng và Ủy ban tiến hành thẩm tra các báo cáo, các đề án và kiến nghị với Quốc hội những vấn đề

Trang 18

trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình.Trong hoạt động giám sát, Ủy ban có chức năng thẩm tra các báo cáo phục vụ hoạt động giám sát tối cao, tự mình giám sát và thực hiện quyền kiến nghị Như vậy, rõ ràng là các chức năng của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban đều có mục đích và gắn liền với việc việc thực hiện tốt chức năng của Quốc hội

Để thực hiện các chức năng của mình, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban được pháp luật trao cho những nhiệm vụ, quyền hạn nhất định Các nhiệm vụ, quyền hạn này cũng như quy trình, thủ tục cụ thể thực hiện chúng sẽ được phân tích dưới đây

1.3.1 Các nhiệm vụ, quyền hạn thực hiện chức năng thẩm tra của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban thường trực của Quốc hội Việt Nam

Thẩm tra có nghĩa là “xem xét có đúng không” [3, tr764] Thẩm tra của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội Việt Nam là việc xem xét các vấn đề trước khi trình ra Quốc hội về tính hợp hiến, hợp pháp, khả thi của vấn

đề đó

Để thực hiện chức năng thẩm tra, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban có nhiệm vụ và cũng là quyền hạn thẩm tra dự án luật, kiến nghị về luật, dự án pháp lệnh và các dự án khác; thẩm tra những báo cáo được Quốc hội hoặc Ủy ban thường vụ Quốc hội giao; trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội ý kiến về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh [24, đ21]

Các vấn đề được thẩm tra (đối tượng thẩm tra)

Đối tượng thẩm tra của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban là các dự án luật,

pháp lệnh, kiến nghị về luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết, các báo cáo, dự

án khác thuộc lĩnh vực Hội đồng, Ủy ban phụ trách hoặc theo sự phân công của Ủy ban thường vụ Quốc hội [24, đ72], [23, đ41] Khi tiến hành thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban sẽ tập trung vào

Trang 19

các nội dung như phạm vi, đối tượng điều chỉnh, tính khả thi của những nội dung dự thảo và những vấn đề còn có ý kiến khác nhau, sự phù hợp và tính thống nhất của nội dung dự thảo với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Hiến pháp và hệ thống pháp luật

Ngoài các đối tượng thẩm tra được quy định chung như trên, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội còn có quyền thẩm tra hoặc chủ trì thẩm tra các vấn đề thuộc lĩnh vực chuyên trách của mình, cụ thể:

- Uỷ ban pháp luật thẩm tra đề án về thành lập, bãi bỏ các bộ, cơ quan ngang bộ; thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; thành lập hoặc giải thể đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt; báo cáo của Chính phủ về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân [25, đ1];

- Ủy ban tư pháp thẩm tra báo cáo của Chính phủ về công tác phòng, chống tham nhũng, công tác phòng ngừa và chống vi phạm pháp luật, tội phạm, công tác thi hành án; báo cáo công tác của Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao [25, đ1];

- Ủy ban kinh tế thẩm tra chương trình, dự án, kế hoạch nhà nước về phát triển kinh tế- xã hội; báo cáo của Chính phủ về việc thực hiện nhiệm vụ, kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội [25, đ1];

- Ủy ban tài chính, ngân sách thẩm tra dự toán ngân sách nhà nước, phương án phân bổ ngân sách trung ương và tổng quyết toán ngân sách nhà nước [25, đ1];

Một điểm mới trong nhiệm vụ quyền hạn của Hội đồng dân tộc và các

Ủy ban thường trực sau khi Luật tổ chức Quốc hội được sửa đổi năm 2007 là các cơ quan này trong phạm vi, nhiệm vụ quyền hạn của mình có trách nhiệm tham gia thẩm tra với Ủy ban kinh tế, Ủy ban tài chính, ngân sách, Ủy ban

Trang 20

pháp luật trong các lĩnh vực chuyên trách kể trên của từng Ủy ban; tham gia thẩm tra với Ủy ban tư pháp thẩm tra báo cáo của Chính phủ về công tác phòng, chống tham nhũng [25, đ1] Ngoài ra, Ủy ban pháp luật tham gia thẩm tra để bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết với hệ thống pháp luật; Ủy ban về các vấn đề

xã hội tham gia thẩm tra để bảo đảm bình đẳng giới khi dự án, dự thảo đó có nội dung liên quan đến bình đẳng giới [25, đ1]

Quy trình và phương thức thẩm tra

Quy trình và phương thức tiến hành thẩm tra của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban thường trực của Quốc hội được pháp luật hiện hành quy định khá

rõ ràng, bao gồm một số bước chính sau

Bước 1: Chuẩn bị thẩm tra Để chuẩn bị cho việc thẩm tra, Thường trực

Hội đồng dân tộc, Thường trực Ủy ban của Quốc hội giao cho Tiểu ban hoặc thành viên Hội đồng, Ủy ban nghiên cứu, chuẩn bị ý kiến; yêu cầu cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo báo cáo những vấn đề liên quan;

tổ chức lấy ý kiến chuyên gia; tổ chức hoặc phối hợp với cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo tổ chức hội thảo, khảo sát thực tế [27,21]

Bước 2: Tiến hành các hoạt động thẩm tra

Hoạt động thẩm tra được thực hiện tại các phiên họp toàn thể của cơ quan chủ trì thẩm tra Trường hợp thẩm tra các dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội trình Ủy ban thường vụ Quốc hội cho ý kiến thì có thể tổ chức phiên họp Thường trực Hội đồng, Thường trực Ủy ban để thẩm tra sơ bộ [23, đ44]

Thành phần tham gia cuộc họp thẩm tra gồm: cơ quan chủ trì thẩm tra, đại diện cơ quan tham gia thẩm tra hoặc thường trực cơ quan tham gia thẩm tra, đại diện cơ quan, tổ chức có liên quan, các chuyên gia, nhà khoa học và

Trang 21

đại diện các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản được cơ quan chủ trì mời nếu cần thiết [23, đ41- đ44]

Phiên họp thẩm tra diễn ra theo trình tự sau:

- Đại diện cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo, báo cáo trình bày về dự án, dự thảo, báo cáo

- Đại biểu tham dự phiên họp nêu câu hỏi và đại diện cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án trình bày bổ sung để làm rõ vấn đề mà Hội đồng, Ủy ban, đại biểu tham dự phiên họp thẩm tra nêu ra hoặc yêu cầu;

- Đại diện Thường trực Hội đồng dân tộc, Thường trực Ủy ban phát biểu

ý kiến; đại diện Thường trực Hội đồng dân tộc, Thường trực Ủy ban tham gia thẩm tra và đại diện cơ quan, tổ chức hữu quan tham dự phiên họp phát biểu ý kiến;

- Thành viên Hội đồng, Ủy ban thảo luận;

- Chủ tọa phiên họp kết luận; đối với những vấn đề quan trọng và cần thiết thì chủ tọa phiên họp lấy biểu quyết [27, đ11]

Bước 3: Báo cáo thẩm tra

Sau phiên họp thẩm tra, Thường trực Hội đồng dân tộc, Thường trực Ủy ban xây dựng báo cáo thẩm tra trình Quốc hội hoặc Ủy ban thường vụ Quốc hội Báo cáo thẩm tra phải thể hiện rõ quan điểm của cơ quan thẩm tra về những vấn đề thuộc nội dung thẩm tra, đề xuất những nội dung cần sửa đổi, phản ánh đầy đủ ý kiến của thành viên cơ quan chủ trì thẩm tra và của các cơ

quan tham gia thẩm tra [27, đ24], [23, đ45]

Sau khi được lập, báo cáo thẩm tra dự thảo luật, pháp lệnh được trình cho

Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét cho ý kiến, và khi đó, đại diện của Ủy

Trang 22

ban chủ trì thẩm định sẽ phải có mặt để trình bày về báo cáo thẩm tra và kiến nghị những nội dung đề nghị đưa ra Quốc hội thảo luận [23, đ49]

Khi hồ sơ dự án luật, pháp lệnh đã được chuẩn bị sẵn sàng để chuyển sang Quốc hội hay Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua, vai trò là cơ quan thẩm tra, giúp việc của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban thường trực càng thể hiện rõ hơn Nếu dự án luật, pháp lệnh được thảo luận và thông qua tại một kỳ họp của Quốc hội hay phiên họp của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc hay các Ủy ban thường trực của Quốc hội với tư cách cơ quan chủ trì thẩm tra hoặc thẩm tra dự thảo văn bản sẽ có trách nhiệm trình bày báo cáo thẩm tra và đề xuất các nội dung cụ thể để Quốc hội hay Ủy ban thường vụ Quốc hội thảo luận trước khi thông qua Nếu dự án luật, pháp lệnh cần phải được thông qua trong hai kỳ họp hoặc phiên họp, vai trò của Hội đồng và Ủy ban thường trực ngoài việc trình bày báo cáo thẩm tra và đề xuất các nội dung thảo luận sẽ còn là cơ quan trực tiếp chủ trì chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo giữa hai lần họp để phục vụ cho việc Quốc hội hay Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua vào kỳ họp hay phiên họp sau [23, đ52-54] Riêng Thường trực của

Ủy ban pháp luật còn có trách nhiệm rà soát, hoàn thiện về mặt kỹ thuật văn bản, đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của dự án, dự thảo với hệ thống pháp luật [23, đ52-54]

Như vậy là theo quy định của pháp luật hiện hành, nhiệm vụ quyền hạn của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban thường trực của Quốc hội thể hiện rất rõ vai trò thẩm tra, thư ký và hỗ trợ của các cơ quan này đối với việc thực hiện các chức năng tương ứng của Quốc hội, đặc biệt là chức năng lập hiến, lập pháp và hoạt động ban hành pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội

Trang 23

1.3.2 Các nhiệm vụ, quyền hạn thực hiện chức năng giám sát của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban thường trực của Quốc hội Việt Nam

“Giám sát” được hiểu là “theo dõi việc thực hiện những điều đã cam kết, quy định” [3, tr327] Theo quy định của pháp luật hiện hành thì “Giám sát là việc Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, đoàn đại biểu Quốc hội xem xét đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội” [26, đ2]

Khác với đối tượng chịu sự giám sát của Quốc hội là toàn bộ bộ máy nhà nước trong đó tập trung nhất là những cơ quan nhà nước cao nhất, đối tượng chịu sự giám sát của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội là Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang bộ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao [26, đ3]

Căn cứ vào từng lĩnh vực được giao mà Hội đồng dân tộc và Ủy ban của Quốc hội tiến hành giám sát đối với các nội dung sau:

(1) việc thực hiện luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; giám sát hoạt động của Chính phủ, các bộ,

cơ quan ngang bộ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao; (2) các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng, Bộ trưởng, Thủ thưởng cơ quan ngang bộ, văn bản quy phạm pháp luật liên tịch giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở trung ương hoặc giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội; và

(3) việc thực hiện ngân sách nhà nước, công tác phòng ngừa tham nhũng

và việc phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng [25, đ1]

Trang 24

Trong lĩnh vực này, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban có nhiệm vụ và quyền hạn thực hiện quyền giám sát; kiến nghị với Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh và những vấn đề trong phạm

vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình Hội đồng dân tộc và các Ủy ban cũng có quyền kiến nghị với Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét trình Quốc hội việc

bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn [24, đ21]

Phương thức giám sát:

Hội đồng và các Ủy ban thực hiện các phương thức giám sát sau:

- Thẩm tra báo cáo công tác của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao thuộc lĩnh vực Hội đồng, Uỷ ban phụ trách hoặc theo sự phân công của Ủy ban thường vụ Quốc hội

- Xem xét văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội thuộc lĩnh vực mình phụ trách;

- Yêu cầu chủ thể bị giám sát báo cáo về hoạt động thuộc lĩnh vực Hội đồng, Ủy ban phụ trách

- Tổ chức đoàn nghiên cứu đi khảo sát thực tế;

- Cử thành viên của mình đến cơ quan, tổ chức hữu quan để xem xét, xác minh về vấn đề mà Hội đồng, Ủy ban quan tâm;

- Nghiên cứu, xử lý và xem xét việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân thuộc lĩnh vực mình phụ trách;

Hậu quả pháp lý của hoạt động giám sát của Hội đồng dân tộc và các

Ủy ban của Quốc hội

Trang 25

Hậu quả pháp lý của hoạt động giám sát của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội được thể hiện chủ yếu dưới hình thức kiến nghị, bao gồm:

- Kiến nghị yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân là chủ thể chịu sự giám sát hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, đình chỉ việc thi hành, bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật mới;

- Kiến nghị với Thủ tướng Chính phủ, các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao,Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương về những vấn đề thuộc lĩnh vực Hội đồng, Ủy ban phụ trách Trong trường hợp những chủ thể này không trả lời kiến nghị trong vòng mười lăm ngày hoặc Hội đồng dân tộc và các Ủy ban không tán thành với nội dung đó thì Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội có quyền kiến nghị với Chủ tịch Quốc hội yêu cầu người nhận được kiến nghị trả lời tại phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc tại kỳ họp gần nhất của Quốc hội; đối với Chủ tịch

Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì đề nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét

- Khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền áp dụng các biện pháp để kịp thời chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật, xem xét trách nhiệm, xử lý người vi phạm, khôi phục lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân bị vi phạm

- Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội kiến nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét trình Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức

vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn có hành vi vi phạm pháp luật hoặc không

Trang 26

thực hiện đúng và đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn được giao, gây thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân

Cơ quan, tổ chức nhận được kiến nghị, yêu cầu trên phải có trách nhiệm xem xét trả lời Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội [26, đ34- đ35]

1.3.3 Các nhiệm vụ, quyền hạn thực hiện chức năng kiến nghị của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban thường trực của Quốc hội Việt Nam

Như đã đề cập trên đây, chức năng kiến nghị là một chức năng bổ trợ cho hai chức năng chính là thẩm tra và giám sát của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban thường trực của Quốc hội Chức năng này được hiểu

là việc các cơ quan này “nêu ý kiến đề nghị về một việc chung để cơ quan có thẩm quyền xét” [3, tr505] Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội Việt Nam thực hiện chức năng kiến nghị có nghĩa là Hội đồng dân tộc và các Ủy ban đề xuất với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền

để giải quyết về một vấn đề cụ thể thuộc thẩm quyền quyết định của mình Kết quả của việc thực hiện hoạt động giám sát và thẩm tra thường sẽ là những kiến nghị cụ thể nào đó phù hợp với lĩnh vực chức năng của cơ quan kiến nghị Kết thúc hoạt động thẩm tra dự án luật, pháp lệnh, các Ủy ban đánh giá chất lượng về dự án, kiến nghị những điều khoản cần sửa đổi, huỷ bỏ Kết thúc hoạt động giám sát, các Ủy ban đưa ra những kiến nghị về các giải pháp để các đối tượng bị giám sát sửa chữa, xử lý; kiến nghị Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét hoạt động của các đối tượng bị giám sát, đề ra các giải pháp để Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét quyết định

Với tư cách là cơ quan chuyên môn của Quốc hội phụ trách về một hoặc một số lĩnh vực nhất định thì chức năng kiến nghị của Hội đồng

Trang 27

dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội cũng có thể được thực hiện như một chức năng độc lập Để thực hiện chức năng này, Hội đồng dân tộc

và các Ủy ban của Quốc hội có nhiệm vụ kiến nghị những vấn đề thuộc lĩnh vực mình phụ trách, ví dụ Hội đồng dân tộc kiến nghị các vấn đề

về chính sách dân tộc [24, đ26]; Ủy ban pháp luật kiến nghị các biện pháp hoàn thiện bộ máy nhà nước và hệ thống pháp luật [25, đ1]; Ủy ban tư pháp kiến nghị các vấn đề về hình sự, tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, thi hành án, bổ trợ tư pháp, tổ chức bộ máy của các cơ quan tư pháp [25, đ1]; Uỷ ban kinh tế kiến nghị các vấn đề

về quản lý kinh tế, tiền tệ, ngân hàng, hoạt động kinh doanh [25, đ1];

Ủy ban tài chính, ngân sách kiến nghị các vấn đề về tài chính, ngân sách [25, đ1]; Ủy ban quốc phòng và an ninh kiến nghị các vấn đề về chính sách quốc phòng và an ninh, những biện pháp cần thiết nhằm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội trong lĩnh vực quốc phòng và an ninh [24, đ29]; Uỷ ban văn hoá, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng kiến nghị các vấn đề

về phát triển văn hoá, giáo dục, thông tin, thể thao của đất nước, chính sách đối với thanh niên, thiếu niên và nhi đồng [24, đ30]; Ủy ban các vấn đề xã hội kiến nghị các vấn đề về chính sách đầu tư phát triển khoa học, công nghệ và bảo vệ môi trường sinh thái [24, đ31]; Uỷ ban đối ngoại kiến nghị các vấn đề về chính sách đối ngoại của Nhà nước, về quan hệ với Quốc hội các nước, với các tổ chức nghị viện thế giới và khu vực, với các tổ chức quốc tế khác, về chính sách đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài [24, đ33]

Trang 28

1.4 Cơ cấu tổ chức của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban thường trực của Quốc hội Việt Nam

Như đã đề cập trên đây, hiện nay Quốc hội có Hội đồng dân tộc và chín

Ủy ban chuyên trách hoạt động thường xuyên Theo luật tổ chức Quốc hội hiện hành, cơ cấu mỗi cơ quan này đều có một người đứng đầu (chủ tịch Hội đồng dân tộc hoặc Chủ nhiệm Ủy ban), một số cấp phó (Phó chủ tịch Hội đồng dân tộc hoặc Phó chủ nhiệm Ủy ban), và một số ủy viên Số lượng ủy viên của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban do Quốc hội quyết định tùy theo từng thời kỳ và có thể không giống nhau giữa khóa trước và khóa sau Tất cả các thành viên của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban (kể cả người đứng đầu và cấp phó) đều do Quốc hội bầu theo sự giới thiệu của Chủ tịch Quốc hội Trong số các thành viên đó có một số lượng nhất định làm việc theo chế độ chuyên trách theo sự phân công của Ủy ban thường vụ Quốc hội [24, đ24, đ25-đ82] Hiện nay, số lượng thành viên chuyên trách chiếm tỷ lệ khoảng 30% tổng số thành viên của hội đồng và Ủy ban (Phụ lục 1) Các thành viên của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội không thể đồng thời là các thành viên Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hay Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao [27, đ6]

Về tổ chức, Hội đồng dân tộc có Thường trực Hội đồng dân tộc bao gồm Chủ tịch Hội đồng dân tộc, các Phó chủ tịch Hội đồng dân tộc và một số thành viên chuyên trách Các Ủy ban của Quốc hội cũng có Thường trực Ủy ban bao gồm Chủ nhiệm, các Phó chủ nhiệm và một số thành viên của Ủy ban Thường trực của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban đều do Ủy ban thường

vụ Quốc hội thành lập theo đề nghị của người đứng đầu Hội đồng dân tộc và các Ủy ban [27, đ7- đ8]

Trong cơ cấu tổ chức của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban, người đứng

đầu và bộ phận thường trực đóng một vai trò hết sức quan trọng Thường trực

Trang 29

Hội đồng dân tộc, Thường trực Ủy ban của Quốc hội được thành lập, gồm Chủ tịch Hội đồng dân tộc hoặc Chủ nhiệm Ủy ban, Phó chủ tịch Hội đồng dân tộc hoặc Phó chủ nhiệm Ủy ban và Ủy viên thường trực là các thành viên chuyên trách có nhiệm vụ đề xuất và tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch

hoạt động của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban [27, đ7] Chủ tịch Hội đồng dân

tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội có nhiệm vụ thay mặt Hội đồng và Ủy ban trong mối quan hệ công tác, điều hành công việc của Hội đồng, Ủy ban, Thường trực Hội đồng và Thường trực Ủy ban, phân công nhiệm vụ và giữ mối liên hệ thường xuyên giữa các thành viên Hội đồng, Ủy ban Các Ủy viên Hội đồng và Ủy viên Ủy ban thực hiện nhiêm vụ của các Ủy viên và nhiệm

vụ khác theo sự phân công của Chủ tịch Hội đồng, Chủ tịch Ủy ban [27,

đ8-đ9]

Để phục vụ công tác của mình, pháp luật hiện hành cũng cho phép Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội thành lập các tiểu ban để nghiên cứu, chuẩn bị các vấn đề thuộc lĩnh vực hoạt động của Hội đồng, Ủy ban Trưởng tiểu ban phải là thành viên của Hội đồng, Uỷ ban, các thành viên khác

có thể không phải là thành viên của Hội đồng, Uỷ ban hoặc không phải là đại biểu Quốc hội Số thành viên và chế độ làm việc của tiểu ban do Hội đồng,

Uỷ ban quyết định theo đề nghị của Thường trực Hội đồng, Thường trực Uỷ ban [27, đ11] Các tiểu ban này không phải thành phần cứng nằm trong Ủy ban thường trực mà là các bộ phận lâm thời có chuyên môn sâu, được các Ủy ban thành lập nhằm cung cấp kiến thức, thông tin chuyên sâu về một lĩnh vực

nào đó để giúp Ủy ban giải quyết một công việc cụ thể của mình

Trang 30

1.5 Vai trò, tổ chức và hoạt động của ủy ban thường trực của nghị viện một số nước

Từ việc xem xét tổ chức và hoạt động Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội Việt Nam nảy sinh một nhu cầu tất yếu là cần phải có sự so sánh với một số mô hình tổ chức và hoạt động của ủy ban nghị viện một số nước nhằm tìm ra những hạt nhân hợp lý để áp dụng cho Ủy ban của Quốc hội Việt Nam

Có thể thấy rất ít nghị viện không thành lập các ủy ban thường trực Năm

1986, Liên minh nghị viện thế giới đã tiến hành khảo sát và kết quả là chỉ có quốc hội 2 nước trong số 83 nước được điều tra là không thành lập ủy ban thường trực [36,tr11] Báo cáo của Viện Dân chủ Quốc Gia Hoa Kỳ cũng đã nhận xét: “Hầu hết các nghị diện dân chủ trên thế giới đều dựa vào hệ thống các ủy ban để tiến hành các hoạt động của mình” [36, tr12] Các quyết định ở

ủy ban có ảnh hưởng rất lớn đến các quyết định của Quốc hội W.Wilson, tổng thống thứ hai mươi tám của nước Mỹ đã từng nói rằng: “Quốc hội phiên toàn thể là phiên trình diễn, Quốc hội trong ủy ban là Quốc hội làm việc” [43,

tr 56]

Vai trò của ủy ban có thể được xem xét dưới hoạt động lập pháp và hoạt động giám sát như sau:

1.5.1 Vai trò của uỷ ban trong hoạt động lập pháp:

Giai đoạn ủy ban trình các sáng kiến lập pháp:

Ủy ban của nghị viện một số nước còn được trao quyền trình các dự án luật ra trước nghị viện xem xét Theo thống kê của Liên minh nghị viện thế giới thì có khoảng 15 trên tổng số 241 nước trao cho ủy ban quyền này, trong

đó có Brasil, Trung Quốc, Hungari… [15, tr162] Nhiều nước tuy công nhận quyền sáng quyền lập pháp của uỷ ban, nhưng có ngoại trừ một số lĩnh vực

Trang 31

Ví dụ ở Philippines quyền trình dự án luật liên quan đến tăng hoặc giảm thu chi ngân sách quốc gia chỉ thuộc về Chính phủ [15, tr163] Có những nước chỉ trao quyền này cho các ủy ban phụ trách những vấn đề chuyên môn đặc biệt, như vấn đề tài chính, (Ủy ban Tài chính và Ngân hàng ở Phần Lan), hoặc các vấn đề pháp lý cơ bản (Ủy ban xử lý các luật cơ bản ở Israel) Có những nước cho rằng ủy ban chỉ là cơ quan giúp việc cho nghị viện nên chỉ có thẩm quyền xem xét, kiến nghị sửa đổi mà không có thẩm quyền đưa ra những kiến nghị xây dựng luật mới

Giai đoạn tiếp nhận và xem xét dự luật tại ủy ban:

Một dự luật có nội dung thuộc phạm vi thẩm quyền của uỷ ban nào sẽ do

ủy ban đó tiếp nhận và xem xét Trường hợp dự luật có nội dung liên quan đến các lĩnh vực của nhiều ủy ban, thông thường các nước có ba cách giải quyết là thành lập ủy ban liên hợp giữa các ủy ban hoặc gửi dự luật đến xem xét ở hai hoặc nhiều ủy ban Cách thứ ba là các ủy ban liên quan sẽ gửi ý kiến

về dự luật cho ủy ban chủ trì xem xét dự luật đó Ví dụ như Hoa kỳ lựa chọn cách gửi thứ hai [15, tr 172- tr173]

Nghị viện Anh xem xét dự luật theo cách thứ nhất Nếu dự luật liên quan đến ngân sách quốc gia thì xem xét theo trình tự đặc biệt ở các ủy ban, trước hết xem xét ở ủy ban thường trực có thẩm quyền sau đó sẽ xem xét ở cuộc họp của Uỷ ban toàn viện [15, tr173]

Ở giai đoạn này, có thể phân chia ủy ban các nước theo hai mô hình là

mô hình xem xét dự án luật trước phiên họp toàn thể và mô hình xem xét dự luật sau phiên toàn thể của nghị viện, như sau:

Thứ nhất, mô hình ủy ban xem xét dự luật sau phiên toàn thể: “Giai đoạn

ủy ban được tiến hành sau phiên toàn thể của nghị viện là một truyền thống của nghị viện theo mô hình Westminster như Anh, Canađa, Australia…” [8,

Trang 32

tr82] Quy trình xem xét luật của nghị viện được chia làm ba lần Lần thứ nhất

là nghị viện được giới thiệu về dự án luật Trước giai đoạn này, ủy ban không

có quyền xem xét Ủy ban được xem xét dự luật giữa lần thứ hai- nghị viện họp phiên toàn thể cho ý kiến về những vấn đề mang tính nguyên tắc của dự luật và lần cuối cùng - nghị viện họp phiên toàn thể để xem xét, thông qua dự

án luật Trước phiên toàn thể nghị viện cho ý kiến về nguyên tắc các chính sách của dự luật thì uỷ ban không có quyền có tiếng nói của mình về dự luật

đó Quốc hội quyết định những chính sách của dự luật dựa vào thuyết phục của cơ quan trình dự luật, thường là của cơ quan hành pháp Ủy ban chỉ sửa chữa chỉnh lý về mặt kỹ thuật soạn thảo mà không quyết định một chính sách

có được ra đời hay không Nhưng xét cho cùng đa số thành viên trong ủy ban của nghị viện là người ủng hộ chính sách của chính phủ, vì vậy vai trò của ủy ban được đề cao trong việc giải quyết những vấn đề phức tạp của kỹ thuật lập pháp

Thứ hai, mô hình ủy ban xem xét dự án luật trước khi trình ra phiên toàn thể của nghị viện: Đây được coi là mô hình mà ở đó quyền lực của uỷ ban mạnh mẽ hơn Đối với các nước này, các quyết định của ủy ban giữ vai trò quyết định việc sống còn của một dự luật “Các nước theo xu hướng này bao gồm Hoa kỳ và một số nước Châu Âu lục địa như Pháp, Italia” [8, tr82] Trong mô hình này lại có các mức độ ảnh hưởng của Ủy ban đối với dự luật

Trang 33

ủy ban sẽ có tiếng nói độc lập với cơ quan hành pháp về những chính sách mà

dự án luật đưa ra Tính độc lập quá cao của ủy ban cũng có hạn chế là khi một

dự luật nếu không được ủy ban thông qua thì đương nhiên không được thông qua tại nghị viện Trong trường hợp này, một dự luật có tác động đến đời sống toàn dân lại không được xem xét tại nghị viện, mà được quyết định bởi

ủy ban, nhóm người thiểu số Hiến pháp 1958 của Pháp đã khắc phục tình trạng này, các ủy ban có quyền xem trước dự luật nhưng không có quyền độc lập đưa ra sửa đổi cơ bản, mà chỉ được phép tập trung vào những gì chính phủ

đệ trình

- Ủy ban thậm chí có thể thay thế nghị viện thông qua dự án luật: mô

hình này tồn tại ở một số nước như Banlan, Đức, Nga Itali, Tây Ban Nha vì thành viên của các ủy ban của nghị viện được thành lập trên cơ sở tỉ lệ với số ghế của đại biểu của các đảng chính trị trong nghị viện Tỉ lệ biểu quyết ở các

ủy ban thường tương đương với tỉ lệ biểu quyết ở phiên họp toàn thể của nghị viện

Một số nước có quy định hạn chế một số vấn đề không được giao cho các ủy ban quyết định Chẳng hạn theo khoản 3, điều 75 Hiến pháp Tây Ban Nha, thì các vấn đề về cải cách Hiến pháp, về quan hệ đối ngoại, về ngân sách nhà nước, và các vấn đề liên quan đến tổ chức bộ máy nhà nước thì không được giao cho các ủy ban của nghị viện quyết định [8, tr175]

Tuy nhiên, nghị viện cũng có thể yêu cầu thảo luận lại và thông qua các

dự án luật hoặc các kiến nghị luật đã được ủy quyền trước đó cho ủy ban

- Ủy ban không có quyền quyết định đưa hay không đưa vấn đề ra trước phiên toàn thể Ví dụ, “tại Chi lê, Chính phủ có thể gia một thời hạn để ủy ban

buộc phải báo cáo về dự luật trước nghị viện” [8, tr174]

Trang 34

Giai đoạn ủy ban thông qua báo cáo về dự luật trình lên nghị viện:

Đây là công đoạn cuối cùng trong quy trình làm luật tại ủy ban Nội dung của báo cáo thường nêu bình luận của đa số thành viên của ủy ban về dự luật, trình bày quá trình xem xét dự luật của ủy ban, các đề nghị sửa đổi bổ sung, bác bỏ, tán thành của ủy ban Đa số các nước, ý kiến của thiểu số trong

ủy ban được bảo lưu và gửi kèm theo báo cáo của ủy ban Nghị viện có thể thảo luận về ý kiến thiểu số đó trong phiên đọc lần sau Báo cáo về dự luật của ủy ban sẽ là cơ sở để nghị viện xem xét thông qua luật, ngoại trừ “một số nước như Cuba, Đan Mạch, Ấn độ các dự thảo ban đầu lại được xem là cơ

sở thảo luận chính còn các báo cáo của ủy ban chỉ là các kiến nghị về các vấn

Một ví dụ điển hình là ở Nghị viện Canađa, từ tháng 10 năm 2004 đến tháng 11 năm 2005, các ủy ban của nghị viện Canađa đã tổ chức 1.655 phiên họp với tổng số thời gian là 2.801 giờ làm việc và nghe ý kiến của 2.801

Trang 35

chuyên gia và người có quyền lợi ích liên quan Trong khi đó nghị viện chỉ tổ chức 159 phiên họp toàn thể với 1.242 giờ làm việc [36,tr11]

1.5.2 Vai trò của uỷ ban trong hoạt động giám sát:

Thông thường do chi phối bởi tư tưởng phân quyền nên ủy ban chỉ giám sát cơ quan hành pháp trong việc thi hành pháp luật, xem xét phẩm chất và kết quả hoạt động của các thành viên Chính phủ Kết luận của ủy ban không có vai trò quyết định trực tiếp đối với sự việc mà mình điều tra Nghị viện mới là người quyết định cuối cùng trên cơ sở ý kiến của ủy ban

Nghị viện ở các nước có chính thể cộng hoà tổng thống, như Mỹ thường thành lập các ủy ban điều tra nhằm thu thập thông tin Sau khi đạo luật về cải

tổ quyền lập pháp năm 1946 được ban hành thì các ủy ban của nghị viện Hoa

kỳ có quyền theo dõi quá trình cơ quan hành pháp thực thi các đạo luật Hình thức này ít được áp dụng tại các nước có chính thể cộng hoà đại nghị, vì chính phủ thuộc về đảng có đa số ghế trong nghị viện Tuy nhiên, Hạ viện Anh lại thành lập ủy ban thường trực nhằm giám sát cơ quan hành pháp, đặc biệt là trong lĩnh vực tài chính, ví dụ “Uỷ ban Tài chính công luôn do lãnh đạo phe đối lập làm chủ tịch” [38, tr5]

1.5.3 Phiên họp và phiên điều trần là hình thức hoạt động hiệu quả của ủy ban:

Các phiên họp của ủy ban được tổ chức công khai nhằm tăng tính minh bạch trong hoạt động của thành viên ủy ban và ủy ban Tuy nhiên, nhiều trường hợp công khai làm cho thành viên ủy ban không dám phát biểu những điều họ suy nghĩ vì lo sợ ảnh hưởng đến uy tín và việc tái cử của họ vào nghị viện Vì thế, phiên họp được ủy ban được tổ chức kết hợp cả hai hình thức, công khai hoặc họp kín

Trang 36

Trong hoạt động thẩm tra và giám sát, ủy ban thường sử dụng một công

cụ rất hiệu quả để đưa ra được quyết định đúng đắn của mình Đó là các phiên điều trần Điều trần là công đoạn không thể thiếu trong quy trình lập pháp một

số nước, ví dụ như Mỹ, Úc, Braxin, Thụy điển… “Nếu một dự luật quan trọng

mà không được thông qua điều trần tại ủy ban của nghị viện Mỹ thì coi như

dự luật đó sẽ không được ra đời hoặc sẽ bị công kích kịch liệt Tại Mỹ có khoảng 20% dự luật của chính phủ , 80% dự luật do nghị sĩ trình bị “chết yểu tại ủy ban” ” [9, tr17] Qua phiên điều trần ủy ban sẽ có cơ sở, bác bỏ hay ủng

hộ một dự luật để đi đến quyết định có đưa ra phiên toàn thể nghị viện hay không Để hoạt động giám sát có hiệu quả, nhiều nước lại sử dụng phiên điều trần trong hoạt động giám sát để tìm ra các chứng cứ làm cơ sở cho các kết luận giám sát

Về thành phần tham dự phiên điều trần bao gồm đại diện những nhóm lợi ích trong xã hội, những người vận động hành lang, thành viên ủy ban, và các chuyên viên giúp việc Thành viên của Ủy ban nghị viện Mỹ tham dự thường

ít hơn chuyên viên giúp việc Lý do là một nghị sỹ là thành viên của nhiều ủy ban “Hàng tháng các Ủy ban của Hạ viện Mỹ thường có 500 cuộc họp” Họ thường gửi lại các câu hỏi cho chuyên viên giúp việc để họ chuyển cho chủ tọa phiên họp Thông thường thành viên của ủy ban vội vàng đến, đưa cho chuyên viên giúp việc những ghi chép của mình, hỏi vài câu, lúng túng vài lời xin lỗi rồi vội vàng rời phiên họp” [9, tr14] Các nhân chứng tham dự điều trần được bảo vệ, có đặc quyền như đặc quyền của nghị sĩ “Ví dụ, ở Úc, các nhân chứng có thể thoải mái cung cấp chứng cứ cho phiên điều trần mà không

sợ bị kiện vì tội vu khống; không được sử dụng thông tin mà họ cung cấp cho

ủy ban điều trần để chống lại họ trong kiện tụng sau này nếu xảy ra kiện tụng; đặc quyền của nhân chứng cũng được bảo vệ họ trước mọi sự hăm dọa hay ý

đồ khác nhằm ngăn cản việc cung cấp chứng cứ” [9, tr14]

Trang 37

Một phiên điều trần có thể kéo dài từ vài đồng hồ đến hàng tháng, tuỳ tính chất phức tạp của vấn đề Bắt đầu phiên điều trần tại Ủy ban của nghị viện Mỹ, đại diện Chính phủ sẽ trình bày dự án, sau đó các đại diện các nhóm lợi ích thể hiện quan điểm ủng hộ hay phản đối hoặc có thể trình một dự luật mới thay thế Sau đó là chủ tọa và các thành viên Ủy ban hỏi, “mỗi người được hỏi trong vòng 10 phút Một phiên điều trần kéo dài từ vài giờ đồng hồ cho đến hằng tháng” “Phần lớn biên bản điều trần và tài liệu khác sử dụng trong phiên điều trần được xuất bản sau đó 6 tháng đến 1 năm Một số tài liệu điều trần không được xuất bản rộng rãi trong vòng 20 đến 30 năm Ở nghị viện Mỹ, biên bản và hầu hết các phiên điều trần được in và phát hành rộng rãi hoặc được đăng tải trên Internet ” [9,tr15]

Một phiên điều trần công khai như vậy sẽ loại bớt những dự luật chưa được chuẩn bị kỹ càng, cung cấp cho nghị viện những kinh nghiệm và thông tin thực tế; tạo ra sự minh bạch trong quyết định của nghị viện, tuyên truyền

và gây lòng tin cho dân chúng; là diễn đàn lớn và dân chủ để trao đổi nhằm

xoa dịu sự căng thẳng của dân chúng và giảm áp lực đối với nghị viện

1.5.4 Tổ chức của ủy ban

Nhìn chung, cơ cấu tổ chức của các ủy ban của nghị viện các nước có một số đặc điểm chung như sau:

Thứ nhất, số lượng các ủy ban thường trực thường tương ứng với cấu trúc của cơ quan hành pháp Nói chung, hoạt động của nghị viện bất kỳ nước nào cũng có mối liên hệ tác động qua lại khăng khít nhất là với cơ quan hành pháp Vì vậy, cơ cấu và số lượng các ủy ban của nghị viện tương ứng với các

bộ trong tổ chức của cơ quan hành pháp là một điều được xem là tất yếu Theo báo cáo năm 1986 của Liên minh Nghị viện thế giới thì trong tổng số 83

Trang 38

nước được điều tra, có khoảng 50 nước (chiếm 60,24%) có cơ cấu tổ chức hệ thống ủy ban tương ứng với cơ cấu của cơ quan hành pháp [44, tr 626]

Thứ hai, thành viên của uỷ ban được đề cử căn cứ vào trình độ chuyên môn hoặc theo đề nghị của các đảng Thành viên của ủy ban gồm chủ tịch, các phó chủ tịch và các thành viên khác, là các nghị sĩ được lựa chọn căn cứ vào trình độ chuyên môn hoặc theo sự giới thiệu của các đảng Thực tế rất ít trường hợp thành viên của một ủy ban là đồng thời thành viên của trên hai ủy ban khác nhằm đảm bảo tính chuyên môn của ủy ban Ở Na Uy, thành viên nghị viện chỉ được quyền là thành viên của một ủy ban duy nhất, nghị viện này có 165 nghị sĩ thì chia cho 165 ghế trong 12 ủy ban thường trực của nghị viện [13, tr60]

Số lượng thành viên ủy ban thường trong khoảng từ 7 thành viên (nghị viện Ireland) đến 145 thành viên [38, tr6] “Ở Hạ viện cộng hòa Pháp, mỗi ủy ban có đến 145 thành viên Điều này đã biến các Ủy ban thành các Quốc hội con, theo đó các phiên họp của Ủy ban không khác gì lắm so với các phiên họp toàn thể của Nghị viện.” [40, tr18]

Bởi lẽ các ủy ban là cơ quan giúp việc về chuyên môn cho các nghị viện nên tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn thường đóng vai trò quan trọng trong việc lựa chọn thành viên của ủy ban Nhìn chung số lượng thành viên của ủy ban càng ít thì tính chuyên môn càng cao

Thứ ba, sự góp mặt của các tiểu ban trong cơ cấu của ủy ban là điều cần thiết Đa số ủy ban nghị viện các nước đều thành lập tiểu ban hoặc chia thành viên ủy ban theo từng nhóm nhỏ nhằm thực hiện công việc nhất định của ủy ban Với quy mô nhỏ như vậy, các tiểu ban xem xét công việc một cách kỹ lưỡng hơn với chi phí thấp nhất

Trang 39

Thứ tư, bộ máy giúp việc của các ủy ban thường được quy định khá chi tiết và đầy đủ Bộ máy giúp việc của ủy ban ở các nước có tên gọi khác nhau như: Ban thư ký các Ủy ban, Vụ các Ủy ban, Vụ phục vụ các Ủy ban [15, tr286]…, thường được tổ chức tương đương cấp vụ (Trung Quốc, Hàn Quốc, Pháp, Thái Lan, Ôxtrâylia…) chịu sự lãnh đạo của các ủy ban và chịu sự quản

lý của Chủ nhiệm Văn phòng Nghị viện Mỗi ủy ban có một bộ phận giúp việc riêng, trừ ngoại lệ như Đan Mạch chỉ có duy nhất một bộ máy giúp việc

đó là Vụ các Ủy ban, trong đó mỗi chuyên viên trong vụ này sẽ đươc giao phục vụ cho từng ủy ban cụ thể [15, tr286] (Tại Việt Nam trước Hiến pháp

92 đã tồn tại mô hình như Đan Mạch, đó là Vụ phục vụ Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban) Bộ phận này gồm các chuyên viên giỏi giúp ủy ban về công tác hành chính tổ chức các hoạt động của ủy ban, hỗ trợ việc nghiên cứu, xem xét các vấn đề thuộc thẩm quyền của các ủy ban

Ngày đăng: 01/04/2018, 17:20

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w