nghiệp ở bậc đại học đã đề cập đến vấn đề này, tiêu biểu:“Pháp luật về huy động vốn bằng nhận tiền gửi của các tổ chức tín dụng thực trạng và hướng hoàn thiện” năm 2004 của tác giả Phan
Trang 1HOÀNG TUYẾT MAI
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 50
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Ánh Vân
HÀ NỘI - 2010
Trang 2Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy giáo, cô giáo của Trường Đại học Luật
Hà Nội nói chung và các thầy giáo, cô giáo của Khoa Sau Đại học – Trường Đại học Luật nói riêng đã dạy bảo tôi trong suốt ba năm vừa qua để tôi có được những kiến thức tốt nhất hoàn thiện bản Luận văn của mình
Cuối cùng, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn trước sự động viên to lớn cả về mặt vật chất cũng như tinh thần của gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và Ngân hàng nơi tôi làm việc đã giúp tôi hoàn thành Luận văn này
Trang 3MỤC LỤC 1
LỜI NÓI ĐẦU 6
CHƯƠNG I – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG VỐN VÀ PHÁP LUẬT VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NHTMCP 11
1.1 Tổng quan về huy động vốn của NHTMCP 11
1.1.1 Vốn, cấu trúc vốn của NHTMCP 11
1.1.2 Huy động vốn và các hình thức huy động vốn của NHTMCP 18
1.2 Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động huy động vốn của NHTMCP 22
1.2.1 Xuất phát từ yêu cầu bảo vệ lợi ích của NH nói riêng và của nền kinh tế nói chung 22
1.2.2 Xuất phát từ yêu cầu bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền 23
1.3 Tổng quan pháp luật về huy động vốn của NHTMCP 24
1.3.1 Khái niệm và nội dung pháp luật về huy động vốn của NHTMCP 24
1.3.2 Một số đặc điểm của pháp luật về huy động vốn của NHTMCP 28
CHƯƠNG II – THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HUY ĐỘNG VỐN 31
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN 31
2.1 Thực trạng pháp luật về huy động vốn để tạo lập vốn điều lệ của các NHTMCP 31
2.1.1 Khái niệm về vốn pháp định, vốn điều lệ trong pháp luật thực định của Việt Nam chưa phù hợp với thông lệ quốc tế 33
2.1.2 Quy định về đồng tiền góp vốn, về nguồn gốc tiền góp vốn chưa thống nhất và còn mâu thuẫn giữa các văn bản 34
2.1.3 Quy định về cổ đông sáng lập không phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế cũng như cam kết quốc tế của Việt Nam 35
2.1.4 Quy định về lộ trình tăng vốn điều lệ của các NHTMCP không khả thi và mức vốn pháp định còn thấp so với thông lệ quốc tế 36
Trang 4NHTMCP 36
2.2.1 Quy định về cổ phiếu ưu đãi cổ tức còn chung chung, chưa bảo vệ được
quyền lợi của cổ đông nhỏ trong NHTMCP 38 2.2.2 Quy định về niêm yết cổ phiếu của NHTMCP không còn phù hợp và
không khuyến khích được các NHTMCP thực hiện niêm yết 39 2.2.3 Quy định về giao dịch cổ phiếu của các NHTMCP chưa niêm yết không rõ
ràng, minh bạch và chưa phù hợp với thực tế 40
2.3 Pháp luật về huy động vốn bằng nhận tiền gửi còn nhiều bất cập và chưa phản ánh hết các quan hệ xã hội phát sinh 41
2.3.1 Quy định về đối tượng mở tài khoản và gửi tiền tiết kiệm còn có sự mâu
thuẫn giữa các văn bản, không phù hợp với thực tế 42 2.3.2 Các hình thức nhận tiền gửi còn nghèo nàn và chưa có sự phân biệt rõ
ràng giữa các hình thức gửi tiền 44 2.3.3 Các quy định về bảo hiểm tiền gửi không còn phù hợp và không khuyến
khích các chủ thể có tiền nhàn rỗi gửi tiền vào NH 45
2.4 Pháp luật về huy động vốn thông qua phát hành GTCG còn nhiều bất cập, chưa phản ánh đúng bản chất của quan hệ này 46
2.4.1 Quy định về đồng tiền được sử dụng trong thanh toán trái phiếu chưa
thống nhất giữa các văn bản pháp luật và không phù hợp với thực tế 47 2.4.2 Quy định hiện hành chưa phản ánh đúng bản chất pháp lý của quan hệ
phát hành GTCG của NHTMCP 48
2.5 Quy định về vay vốn giữa các TCTD còn nhiều điểm chưa rõ ràng, chưa phản ánh được nội dung quan hệ này 49 2.6 Quy định về hoạt động tái cấp vốn của NHNN còn nhiều tồn tại, bất cập50 2.7 Cơ sở pháp lý để các NHTMCP huy động trên thị trường vốn quốc tế còn sơ sài 51 2.8 Thực tiễn áp dụng pháp luật về huy động vốn của NHTMCP 52
2.8.1 Những thành tựu trong hoạt động huy động vốn của các NHTMCP 52 2.8.2 Một số vấn đề còn tồn tại trong hoạt động huy động vốn của NHTMCP 56
Trang 5CHƯƠNG III – PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NHTMCP VIỆT NAM 59 3.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về huy động vốn của NHTMCP 59
3.1.1 Xuất phát từ xu hướng phát triển tất yếu của các NHTMCP 59 3.1.2 Xuất phát từ những hạn chế, bất cập của pháp luật hiện hành và yêu cầu
của thực tiễn 59
3.2 Những yêu cầu đặt ra trong việc hoàn thiện pháp luật về huy động vốn của NHTMCP ở Việt Nam 60
3.2.1 Bảo đảm tính thống nhất và sự phù hợp giữa các VBPL 60 3.2.2 Đảm bảo sự tương thích với các nguyên tắc và thông lệ quốc tế, từng
bước thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam 61 3.2.3 Quán triệt đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN 61
3.3 Giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về huy động vốn của NHTMCP 62
3.3.1 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về huy động vốn để tạo lập vốn
điều lệ của NHTMCP 62 3.3.2 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về huy động vốn để tăng vốn điều
lệ của NHTMCP 66 3.3.3 Ban hành văn bản hướng dẫn chung về hoạt động nghiệp vụ huy động vốn
của NHTMCP 71 3.3.4 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về nhận tiền gửi của Khách hàng 72 3.3.5 Sửa đổi, bổ sung các quy định về phát hành GTCG để làm rõ bản chất,
đồng tiền được sử dụng cho quan hệ này và cơ sở pháp lý để thực hiện hoạt động này của các NHTMCP 75 3.3.6 Sửa đổi, bổ sung một số quy định tối nghĩa trong quy định về vay vốn giữa
các TCTD 75 3.3.7 Hoàn thiện quy định về tái cấp vốn của NHNN để phát huy tối đa hiệu quả
của công cụ này đối với hoạt động của các NHTMCP 76
Trang 6NHTMCP 77 KẾT LUẬN 79 TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Trang 7BKS Ban kiểm soát CTCP Công ty cổ phần ĐHĐCĐ Đại hội đồng cổ đông ĐKKD Đăng ký kinh doanh GTCG Giấy tờ có giá HĐQT Hội đồng quản trị
NH Ngân hàng NHNN Ngân hàng Nhà nước NHTM Ngân hàng thương mại NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần NHTMQD Ngân hàng thương mại quốc doanh TCTD Tổ chức tín dụng
TGĐ Tổng Giám đốc VBPL Văn bản pháp luật
Trang 81 Tính cấp thiết của đề tài
NHTM nói chung và NHTMCP nói riêng thực hiện kinh doanh tiền tệ dưới hình thức sử dụng vốn tự có và vốn huy động để cho vay, đầu tư và cung cấp các dịch vụ tiền tệ khác Hoạt động huy động vốn của các NHTMCP theo đó đóng vai trò rất quan trọng, ảnh hưởng tới chất lượng, tiềm lực và khả năng đảm bảo an toàn của các NH; đồng thời, đây sẽ là cầu nối đưa các nguồn vốn đang nhàn rỗi trong dân chúng đến với các dự án đầu tư trong nền kinh tế Với những vai trò đặc biệt đó, hoạt động này đã sớm được pháp luật điều chỉnh thông qua các chế định
cụ thể như chế định về vốn và quản lý vốn, chế định huy động tiền gửi, huy động vốn thông qua hình thức phát hành GTCG v.v… Tuy nhiên, những quy định này còn tản mát, mâu thuẫn, chồng chéo và chưa bao quát hết các quan hệ xã hội đang từng ngày, từng giờ phát sinh trong thực tiễn Điều này ít nhiều ảnh hưởng đến tâm lý của chủ thể có nguồn vốn nhàn rỗi và giảm hiệu quả của hoạt động huy động vốn của các NHTMCP
Bên cạnh đó, bằng việc gia nhập WTO, nước ta đang tiến sâu vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Hoạt động NH gia tăng nhanh chóng và mang tính quốc
tế rõ rệt Pháp luật điều chỉnh hoạt động huy động vốn của NH, vì vậy, cũng cần
có những thay đổi kịp thời, đáp ứng yêu cầu thực tiễn
Hơn nữa, khi tham gia vào thị trường tài chính toàn cầu, các nước buộc phải tuân thủ các nguyên tắc, những chuẩn mực, tập quán chung Pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật tài chính – NH nói riêng (trong đó có pháp luật về huy động vốn) cần nắm bắt kịp thời những nguyên tắc, chuẩn mực, tập quán trên
để có những điều chỉnh phù hợp với yêu cầu của thị trường đó
Từ những lý do trên, việc nghiên cứu nhằm hoàn thiện pháp luật hiện hành
về hoạt động huy động vốn của các NHTMCP là một yêu cầu khách quan, mang tính thời sự, có ý nghĩa cả về mặt khoa học và thực tiễn Bởi vậy, học viên đã chọn
đề tài “Hoàn thiện pháp luật về huy động vốn của Ngân hàng thương mại cổ
phần Việt Nam” làm Luận văn tốt nghiệp Cao học Luật tại trường Đại học Luật
Hà Nội
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trang 9nghiệp ở bậc đại học đã đề cập đến vấn đề này, tiêu biểu:“Pháp luật về huy động vốn bằng nhận tiền gửi của các tổ chức tín dụng thực trạng và hướng hoàn thiện” năm 2004 của tác giả Phan Thị Huyền Trang, Đại học Luật Hà Nội; “Pháp luật về huy động vốn của các tổ chức tín dụng ở Việt Nam” năm 2005 của tác giả Phạm Thị Trang, Đại học Luật Hà Nội, “Pháp luật điều chỉnh hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thương mại ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Vân năm 2006, Đại học Luật Hà Nội, “Pháp luật về hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại” của tác giả Phạm Thị Ban năm 2008, Đại học Luật Hà Nội v.v…
Pháp luật về huy động vốn cũng được đề cập đến trong một số Luận án
Tiến sĩ Luật học với vai trò là một bộ phận có liên quan như “Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” của tác giả Ngô Quốc Kỳ, người hướng
dẫn khoa học là PGS.TS Nguyễn Thị Mơ, TS Dương Đăng Huệ của trường Đại
học Luật Hà Nội năm 2003; “Các giao dịch thương mại chủ yếu của Ngân hàng thương mại trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn
Văn Tuyến, người hướng dẫn khoa học là PGS.TS Trần Đình Hảo, TS Võ Đình Toàn của trường Đại học Luật Hà Nội năm 2004 v.v…
Nhìn chung, nghiên cứu của các tác giả trên đều được thực hiện trong bối cảnh kinh tế, và môi trường pháp lý cũ; đồng thời, chưa đi sâu nghiên cứu phương hướng hoàn thiện pháp luật Các công trình nghiên cứu này cũng chưa đề cập đến hoạt động huy động vốn để tạo lập và tăng vốn điều lệ của các NHTMCP Việt Nam Bên cạnh đó, việc phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành trong tương quan so sánh với pháp luật của một số nước trên thế giới và cam kết quốc tế của Việt Nam cũng chưa triển khai nghiên cứu thỏa đáng
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a) Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề sau:
- Một số vấn đề lý luận về huy động vốn và pháp luật về huy động vốn của NHTMCP
- Thực trạng pháp luật về huy động vốn và thực tiễn áp dụng pháp luật về huy động vốn của NHTMCP Việt Nam
Trang 10nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn của các NHTMCP Việt Nam b) Phạm vi nghiên cứu
Luận văn này không nghiên cứu toàn bộ pháp luật về huy động vốn của tất
cả các tổ chức tín dụng, tất cả các loại hình NHTM mà chỉ tập trung vào các quy định điều chỉnh hoạt động huy động vốn của các NHTMCP Việt Nam thông qua việc phân tích, đánh giá pháp luật thực định và thực tiễn thi hành mảng pháp luật này, từ đó đưa ra đề xuất cần thiết nhằm hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động huy động vốn của các NHTMCP ở Việt Nam
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
Đề tài được nghiên cứu và thực hiện dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khác như phương pháp tổng hợp, so sánh, phân tích, thống kê các số liệu thực tế v.v… để làm sáng tỏ các vấn đề của Luận văn
5 Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Bằng việc nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định của pháp luật về huy động vốn về phương diện lý luận cũng như trong thực tiễn thi hành, Luận văn
sẽ tập trung vào những bất cập, chồng chéo, chưa phù hợp của pháp luật hiện hành
và đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam Để đạt được mục đích
này, đề tài có các nhiệm vụ sau đây:
- Nghiên cứu, làm rõ một số vấn đề lý luận về hoạt động huy động vốn và pháp luật về huy động vốn của các NHTMCP Việt Nam
- Đánh giá thực trạng pháp luật về huy động vốn và thực tiễn áp dụng pháp luật về huy động vốn của NHTMCP Việt Nam
- Tìm hiểu bộ phận pháp luật tương ứng của một số nước trên thế giới và thông lệ quốc tế trong mối tương quan, so sánh với pháp luật Việt Nam về hoạt động huy động vốn của NHTMCP
- Chỉ ra những yêu cầu khách quan của việc hoàn thiện pháp luật về huy động vốn của NHTMCP Việt Nam và đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật điều chỉnh hoạt động này
6 Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn
Trang 11kết quả nghiên cứu mới sau đây:
- Lần đầu tiên nghiên cứu pháp luật về huy động vốn để tạo lập và tăng vốn điều lệ của các NHTMCP Việt Nam
- Nghiên cứu một cách có hệ thống các chế định pháp luật hiện hành về huy động vốn nhằm tìm ra các điểm mâu thuẫn, chồng chéo và không phù hợp trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
- Đưa ra một số đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật huy động vốn trên cơ sở đánh giá thực trạng pháp luật nói trên
- Phân tích các số liệu, đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về huy động vốn của NHTMCP và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động này
- Bình luận về một số nội dung trong dự thảo Luật các TCTD và các dự thảo mới liên quan đến hoạt động huy động vốn của các NHTMCP
7 Cơ cấu của luận văn
Chương 1 nghiên cứu những vấn đề lý luận về huy động vốn và pháp luật
về huy động vốn của NHTMCP Việt Nam, cụ thể là nghiên cứu về: khái niệm vốn, cơ cấu vốn và hoạt động huy động vốn; khái niệm, nội dung điều chỉnh và đặc điểm của pháp luật về huy động vốn của NHTMCP Việt Nam … Từ đó tạo tiền đề lý luận cho việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng pháp luật và hoàn thiện pháp luật về huy động vốn ở Chương 2 và Chương 3
Chương 2 của Luận văn đi vào phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng pháp luật về huy động vốn của các NHTMCP Việt Nam; chủ yếu tập trung vào những bất cập của pháp luật thực định đã dẫn đến những khúc mắc trong thực tiễn thi hành pháp luật của các NHTMCP, và những quy định pháp luật chưa phù hợp với chuẩn mực, thông lệ quốc tế có liên quan
Dựa trên những đánh giá về thực trạng thi hành pháp luật của Chương 2, Chương 3 của Luận văn đưa ra các căn cứ, phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về huy động vốn và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn của các NHTMCP Việt Nam
Trang 12CHƯƠNG I – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG VỐN VÀ
PHÁP LUẬT VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NHTMCP 1.1 Tổng quan về huy động vốn của NHTMCP
NHTMCP thuộc nhóm TCTD cổ phần, được thực hiện toàn bộ hoạt động
NH và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật các TCTD Mặc dù là một loại CTCP nhưng do hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ, sử dụng tiền tệ làm phương tiện kinh doanh, tìm kiếm lợi nhuận nên vốn
và cấu trúc vốn của các NHTMCP có nhiều điểm khác so với các CTCP thông thường
1.1.1 Vốn, cấu trúc vốn của NHTMCP
Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào, không phụ thuộc vào hình thức tổ chức hoạt động, muốn thực hiện hoạt động kinh doanh đều phải có vốn NHTMCP cũng không nằm ngoài quy luật này Vốn của NHTMCP được hiểu là tất cả các giá trị tiền tệ mà NH tạo lập và huy động trong quá trình thành lập và phát triển (1) Với cách hiểu đó, vốn của NHTMCP gồm những bộ phận cấu thành sau:
1.1.1.1 Vốn chủ sở hữu
Vốn chủ sở hữu của NHTMCP là những giá trị tiền tệ do chủ sở hữu đóng góp để thành lập NH hoặc được bổ sung trong quá trình hoạt động hoặc được hình thành từ kết quả kinh doanh Vốn chủ sở hữu bao gồm:
Một là, vốn điều lệ được tạo lập từ sự đóng góp của các cổ đông sáng lập (tổ chức hoặc cá nhân) khi thành lập NH thông qua việc mua cổ phần và/ hoặc được bổ sung thông qua việc phát hành thêm cổ phiếu Đây là đặc điểm riêng có của vốn điều lệ trong các NHTMCP so với vốn điều lệ trong các loại NHTM khác như NHTMQD với vốn điều lệ do Nhà nước cấp, NHTM liên doanh với số vốn điều lệ
do các TCTD Việt Nam và TCTD nước ngoài góp vốn, hoặc khác với mô hình NHTM 100% vốn nước ngoài do TCTD mẹ ở nước ngoài cấp vốn thành lập Tại mọi thời điểm mức vốn điều lệ của NHTMCP không thấp hơn mức vốn pháp định theo quy định của Chính phủ
Hai là, vốn tự tích lũy trong quá trình kinh doanh được hình thành từ việc giữ lại một phần lợi nhuận để tái đầu tư nhằm mở rộng hoạt động kinh doanh và từ các
Trang 13quỹ dự trữ của NHTMCP như quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự phòng tài chính, quỹ đầu tư phát triển, quỹ bảo toàn vốn, quỹ thặng dư,…
Cấu trúc vốn chủ sở hữu như trên được quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị định số 146/2005/NĐ-CP ngày 23/11/2005 của Chính phủ về chế độ tài chính đối với các TCTD (sau đây gọi tắt là Nghị định số 146/2005/NĐ-CP) Cụ thể, vốn chủ
sở hữu được cấu thành từ: (i) vốn điều lệ, (ii) các khoản chênh lệch do đánh giá lại tài sản hoặc chênh lệch tỷ giá, (iii) thặng dư vốn cổ phần, (iv) quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, (v) các quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ, (vi) quỹ dự phòng tài chính và (vii) lợi nhuận được để lại
Về vốn điều lệ, theo Quyết định số 1122/2001/QĐ-NHNN ngày 04/09/2001 của Thống đốc NHNN ban hành Quy định về cổ đông, cổ phần, cổ phiếu và vốn điều lệ của NHTMCP Nhà nước và Nhân dân (sau đây được gọi tắt là Quyết định số 1122/2001/QĐ-NHNN), vốn điều lệ là số vốn do tất cả các cổ đông góp và được ghi vào điều lệ của NHTMCP1 Số vốn này đồng thời không được thấp hơn mức vốn tối thiểu phải có theo quy định của pháp luật để thành lập NHTMCP Hiện nay mức vốn này là 3.000 tỷ đồng theo quy định tại Nghị định số 141/2006/NĐ-CP ngày 20/11/2006 của Chính phủ về vốn pháp định của các TCTD (sau đây gọi tắt là Nghị định số 141/2006/NĐ-CP)
Khác với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh khác, vốn điều lệ của NHTMCP tại thời điểm thành lập được quy định rất chi tiết tại Điều 5 Quy chế cấp giấy phép thành lập và hoạt động NHTMCP ban hành kèm theo Quyết định số 24/2007/QĐ-NHNN ngày 07/06/2007 của Thống đốc NHNN; được sửa đổi,
bổ sung bằng Quyết định số 46/2007/QĐ-NHNN ngày 25/12/2007 (sau đây được gọi chung là Quyết định số 24/2007/QĐ-NHNN) Theo đó, vốn điều lệ chỉ được góp bằng đồng Việt Nam và tối thiểu phải bằng vốn pháp định Các tổ chức, cá nhân không được dùng vốn ủy thác, vốn vay của các tổ chức, cá nhân khác để góp vốn và phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính hợp pháp của nguồn vốn góp Đồng thời, số tiền dự kiến góp vốn thành lập NH trên phải được gửi tại một NHTM Việt
1
Khoản 2 Điều 2 Quy định về cổ đông, cổ phần, cổ phiếu và vốn điều lệ của NHTMCP Nhà nước và Nhân dân ban hành kèm theo Quyết định số 1122/2001/QĐ-NHNN ngày 04/09/2001
Trang 14Nam do Ban trù bị lựa chọn và duy trì số tiền này từ thời điểm NHNN có văn bản chấp thuận nguyên tắc cho đến khi ký Quyết định cấp giấy phép Trong thời gian này, tổ chức, cá nhân không được sử dụng số tiền này dưới mọi hình thức 2
Sau khi thành lập, vốn chủ sở hữu được chuyển hóa thành các loại tài sản hoặc được sử dụng cho hoạt động của NHTMCP Khi đó, vốn chủ sở hữu được xác định theo một tiêu chí khác, vốn tự có, tức là giá trị thực có của vốn điều lệ, các quỹ
dự trữ, một số tài sản "Nợ" khác của TCTD (khoản 13 Điều 20 Luật các TCTD) Cách xác định vốn tự có được thực hiện theo Quyết định số 457/2005/QĐ-NHNN ngày 19/04/2005 của NHNN ban hành Quy định về tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của TCTD; được sửa đổi, bổ sung bằng Quyết định số 03/2007/QĐ-NHNN ngày 19/01/2007 và Quyết định số 34/2008/QĐ-NHNN ngày 05/12/2008 của Thống đốc NHNN Theo đó, vốn tự có của các TCTD nói chung và NHTMCP nói riêng được xác định dựa trên hai cấp:
Vốn cấp I là tập hợp của vốn điều lệ, quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự phòng tài chính, quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ, lợi nhuận không chia Khi xác định nhóm vốn này, NHTMCP phải trừ đi lợi thế thương mại, tức là phần chênh lệch lớn hơn giữa số tiền mua tài sản tài chính và giá trị sổ sách kế toán của tài sản tài chính đó Nhóm vốn này được dùng làm căn cứ để xác định giới hạn mua, đầu tư vào tài sản cố định của TCTD
Vốn cấp II được tạo thành từ 50% giá trị tăng thêm của tài sản cố định, 40% phần giá trị tăng thêm của các loại chứng khoán đầu tư (kể cả cổ phiếu đầu tư, vốn góp) được định giá lại, trái phiếu chuyển đổi hoặc cổ phiếu ưu đãi do tổ chức tín dụng phát hành, các công cụ nợ khác thỏa mãn những điều kiện theo quy định của pháp luật và các khoản dự phòng chung Nhóm vốn này có giá trị tối đa bằng 50% giá trị của nhóm vốn cấp I
Khi xác định vốn tự có, các khoản sau đây sẽ phải được trừ đi: toàn bộ giá trị giảm đi của tài sản cố định, các loại chứng khoán đầu tư (kể cả cổ phiếu đầu tư, vốn góp) do việc đánh giá lại theo quy định của pháp luật, tổng số vốn của TCTD đầu tư
2
Điểm c khoản 2 Điều 5 Quy chế cấp giấy phép thành lập và hoạt động NHTMCP ban hành kèm theo Quyết định số 24/2007/QĐ-NHNN ngày 07 tháng 6 năm 2007 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước
Trang 15vào TCTD khác dưới hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần góp vốn, liên doanh, mua cổ phần của quỹ đầu tư, doanh nghiệp khác vượt mức 15% vốn tự có của TCTD, khoản lỗ kinh doanh, bao gồm cả các khoản lỗ lũy kế
Có thể thấy, vốn tự có của NHTMCP theo Quyết định này thực chất là giá trị thực có của vốn chủ sở hữu và một số khoản “Nợ” của NH, ở đây là trái phiếu và các công cụ nợ của NHTMCP Cách xác định vốn tự có như trên được sử dụng để xác định các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của các NH và không làm ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của NHTMCP
Rõ ràng, pháp luật đã quy định khá đầy đủ và chi tiết về vốn chủ sở hữu của NHTMCP Điều này có thể lý giải bởi vai trò sống còn dưới đây của vốn chủ sở hữu đối với NHTMCP:
Vai trò của vốn chủ sở hữu
Trước hết, vốn chủ sở hữu là điều kiện pháp lý bắt buộc khi thành lập NH
Vì theo quy định của pháp luật, NHNN chỉ cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho các tổ chức có đủ mức vốn pháp định để hoạt động NH Mặt khác, số vốn này được sử dụng để mua sắm trang thiết bị, tài sản cố định ban đầu của NH
Vốn chủ sở hữu quyết định quy mô kinh doanh của các NHTMCP Bởi lẽ, số lượng các Chi nhánh, Phòng Giao dịch mà các NHTMCP được thành lập được xác định trên cơ sở vốn điều lệ và quy mô cơ sở vật chất, tài sản cố định của NHTMCP
…cũng được tạo thành trên cơ sở nguồn vốn của chủ sở hữu
Vốn chủ sở hữu điều chỉnh các hoạt động của NH Dựa trên mức vốn tự có (được xác định dựa trên vốn điều lệ của NHTMCP là chủ yếu), các cơ quan quản lý xác định và điều chỉnh hoạt động NH, ví dụ như các NHTMCP không được cho vay quá 15% vốn tự có của NH hoặc chỉ những NH có mức vốn điều lệ thực có nhất định mới được niêm yết cổ phiếu của mình trên thị trường chứng khoán để huy động vốn v.v…
Cuối cùng, vốn chủ sở hữu có vai trò bảo vệ người gửi tiền và duy trì niềm tin của họ đối với NHTMCP Bởi trong trường hợp giải thể hoặc phá sản, vốn chủ
sở hữu là nguồn cơ bản để người gửi tiền thu hồi các khoản tiền gửi của mình
Vốn chủ sở hữu thường chiếm một tỉ lệ rất nhỏ trong tổng nguồn vốn của NH nhưng lại là điều kiện tiên quyết để NHTMCP thành lập và đi vào hoạt động Tuy
Trang 16nhiên, cũng chính vì quy mô nhỏ bé của mình, vốn chủ sở hữu không được sử dụng nhiều để kinh doanh Trong trường hợp này, các NHTMCP sử dụng vốn huy động
là chủ yếu
1.1.1.2 Vốn huy động
Vốn huy động là những giá trị tiền tệ mà NH huy động được từ các tổ chức,
cá nhân trong xã hội thông qua quá trình thực hiện các nghiệp vụ của NH và được dùng làm vốn kinh doanh chủ đạo của NH
Thành phần cơ bản và chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu vốn huy động của NHTMCP chính là tiền gửi của các cá nhân, tổ chức Tiền gửi của NHTMCP bao gồm tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi không kỳ hạn
Về tiền gửi không kỳ hạn (demand deposit), đây là loại tiền được gửi vào và rút ra bất cứ lúc nào theo yêu cầu của người gửi tiền và được sử dụng để thanh toán (hay còn gọi là tiền gửi thanh toán) thông qua việc sử dụng các phương tiện thanh toán như séc, thẻ, lệnh rút tiền … Tại các nước phát triển, tiền gửi không kỳ hạn bao gồm (1) tài khoản séc (checking account), là dạng tài khoản có thể phát hành séc; (2) tài khoản NOW (negotiable order of withdrawal account – Lệnh rút tiền có thể chuyển nhượng), là loại tài khoản cho phép chủ tài khoản được phát hành séc nhưng được hưởng lãi suất cao hơn tài khoản séc thông thường; (3) Tài khoản ATS (Automatic transfer system account), loại tài khoản cho phép chủ tài khoản phát hành séc và khi số dư trên tài khoản này vượt một hạn mức nhất định theo thỏa thuận với NH thì phần tiền vượt hạn mức sẽ tự động chuyển sang tiền gửi tiết kiệm
để được hưởng lãi suất cao hơn và ngược lại
Về tiền gửi có kỳ hạn (term deposit), đây là loại tiền gửi chỉ được rút ra sau một thời hạn nhất định theo thỏa thuận với NH, thường từ một vài tuần đến vài năm Loại tiền gửi này do các cá nhân, tổ chức gửi vào NH nhằm mục đích gửi giữ
là chủ yếu Thông thường lãi suất của tiền gửi có kỳ hạn cao hơn tiền gửi không kỳ hạn nhưng người gửi tiền lại không được hưởng dịch vụ thanh toán qua NH
Bên cạnh các loại tiền gửi trên, NHTMCP còn huy động vốn dưới hình thức tiền gửi tiết kiệm (savings deposit) Khác với tiền gửi có kỳ hạn (áp dụng cho cả các
tổ chức và cá nhân), tiền gửi tiết kiệm chỉ áp dụng cho các cá nhân Người gửi tiền tiết kiệm thường gửi vào NH với mục đích để hưởng lãi, không vì mục đích gửi giữ
Trang 17như tiền gửi có kỳ hạn hay mục đích thanh toán như tiền gửi không kỳ hạn Vì vậy, mức lãi suất của loại tiền gửi này cao hơn lãi suất của tiền gửi có kỳ hạn Hình thức phổ biến nhất của tiền gửi tiết kiệm là thẻ tiết kiệm do NH cấp cho người gửi tiền ghi nhận số tiền, mức lãi suất, kỳ hạn gửi tiền v.v… Tiền gửi tiết kiệm cũng có hai loại là tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và có kỳ hạn
Phần vốn tiếp theo tạo nên vốn huy động của NHTMCP chính là vốn vay từ NHNN và các TCTD khác Các NHTMCP thường vay NHNN trong trường hợp thiếu hụt dự trữ hay quá thiếu tiền mặt thông qua các hình thức tái cấp vốn (chiết khấu GTCG hoặc cho vay cầm cố GTCG …); vay các TCTD khác trong trường hợp NHTMCP thiếu hụt dữ trự bắt buộc Thời hạn vay trong các trường hợp này, vì vậy, thường rất ngắn
Cuối cùng, vốn huy động của NHTMCP được cấu thành bởi nguồn vốn từ hoạt động phát hành GTCG GTCG dùng để huy động vốn trong NHTMCP thực chất là các giấy nợ của NH trao cho những người mua GTCG để xác nhận quyền đòi nợ của họ đối với NH với một mức lãi suất và ngày hoàn trả nhất định Vốn huy động từ việc phát hành GTCG có tính ổn định cao, và giải quyết những khoản vốn thiếu hụt có tính tình thế do khả năng thu hút bằng nguồn tiết kiệm hạn chế
Cấu trúc vốn huy động như trên cũng được quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định số 146/2005/NĐ-CP Đồng thời, nội dung chi tiết của từng thành phần vốn huy động đã được hướng dẫn cụ thể trong pháp luật thực định
Trước hết về tiền gửi, theo quy định tại khoản 9 Điều 20 Luật các TCTD, tiền gửi là số tiền của khách hàng gửi tại tổ chức tín dụng dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác Tiền gửi được hưởng lãi hoặc không hưởng lãi và phải được hoàn trả cho người gửi tiền Như vậy, đặc điểm cơ bản của tiền gửi nói chung là tính chất hoàn trả
Riêng tiền gửi tiết kiệm được quy định chi tiết tại Quy chế tiền gửi tiết kiệm được ban hành kèm theo Quyết định số 1160/2004/QĐ-NHNN ngày 13/09/2004 của Thống đốc NHNN, được sửa đổi, bổ sung bởi Quyết định số 47/2006/QĐ-NHNN ngày 25/09/2006 (sau đây được gọi tắt là QC TGTK) Theo đó, tiền gửi tiết kiệm được hiểu là khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm, được xác nhận trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi theo quy định của tổ chức nhận
Trang 18tiền gửi tiết kiệm và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi Trong đó, tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền có thể rút tiền theo yêu cầu mà không cần báo trước vào bất kỳ ngày làm việc nào của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là tiền gửi tiết kiệm, trong đó người gửi tiền thỏa thuận với tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm về kỳ hạn gửi nhất định3
Về cơ bản, pháp luật thực định đã ghi nhận đầy đủ các loại tiền gửi của NHTMCP như đã được đề cập ở trên Tuy nhiên, chi tiết về các loại tiền gửi thanh toán như tài khoản NOW, tài khoản ATS v.v… lại chưa được quy định
Đối với các phần vốn khác như vốn vay từ NHNN và các TCTD, vốn huy động từ hoạt động phát hành GTCG cũng được quy định chi tiết về phương thức, hình thức huy động nhưng đều chưa được định nghĩa cụ thể như trường hợp định nghĩa các bộ phận cấu thành của vốn chủ sở hữu
Vai trò của vốn huy động trong cấu trúc vốn của NHTMCP
Nếu vốn chủ sở hữu là một trong những điều kiện pháp lý cần thiết để thành lập NHTMCP thì vốn huy động lại là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của
NH
Đầu tiên, vốn huy động là cơ sở quyết định quy mô hoạt động và quy mô tín dụng của NHTMCP vì nguồn vốn được sử dụng chủ yếu để thực hiện hoạt động tín dụng là vốn huy động Vốn huy động chính là nguồn nhiên liệu quan trọng giúp NHTMCP thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ của mình
Vốn huy động quyết định khả năng thanh toán và đảm bảo uy tín của các NHTMCP Vốn huy động càng lớn, vốn khả dụng của các NHTMCP càng lớn và qua đó, khả năng thanh khoản của các NHTMCP sẽ càng cao, uy tín trên thị trường càng được củng cố
Ngoài ra, quy mô và kết cấu của vốn huy động ảnh hưởng lớn đến sự an toàn của hoạt động NH Tính hợp lý trong cơ cấu vốn huy động sẽ giúp các NHTMCP giảm rủi ro về thanh toán, lãi suất, tỷ giá
1.1.1.3 Đặc điểm của vốn và cấu trúc vốn của NHTMCP
3
Khoản 1, 8, 9 Điều 6 Quy chế tiền gửi tiết kiệm
Trang 19Từ những phân tích trên về vốn, cấu trúc vốn của NHTMCP, có thể thấy, so với doanh nghiệp thông thường và các mô hình TCTD khác, vốn và cấu trúc vốn của NHTMCP có một số điểm khác biệt căn bản sau đây:
Thứ nhất, vốn chủ sở hữu ban đầu, tức là mức vốn tối thiểu phải có để thành lập NHTMCP (hay vốn điều lệ) rất lớn so với vốn điều lệ của các doanh nghiệp khác và được quản lý chặt chẽ trong tài khoản phong tỏa mở tại NHNN trước khi NHTMCP đi vào hoạt động Bởi lẽ, khi mới thành lập, các NHTMCP sử dụng vốn chủ sở hữu là chính để cấp tín dụng Đồng thời, là do hoạt động NH – hoạt động kinh doanh tiền tệ, tiềm ẩn nhiều rủi ro và rủi ro mang tính dây chuyền trong hệ thống NH nói riêng, trong cả nền kinh tế nói chung
Thứ hai, về tỷ trọng các thành phần vốn trong tổng vốn của NHTMCP, vốn huy động chiếm tỷ trọng lớn hơn nhiều so với vốn chủ sở hữu Thông thường, vốn chủ sở hữu chỉ chiếm 20% trong tổng nguồn vốn, còn vốn huy động là 80% Điều này xuất phát từ đặc thù trong hoạt động kinh doanh của NHTMCP là sử dụng tiền
tệ làm phương tiện kinh doanh, là “nhiên liệu” để thực hiện hoạt động NH
Thứ ba, cơ cấu vốn huy động của các NHTMCP đa dạng hơn các doanh nghiệp thông thường, cụ thể các doanh nghiệp sẽ không có các thành phần vốn sau: (i) tiền gửi từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn hoặc có kỳ hạn hoặc tiền gửi tiết kiệm; (ii) vốn vay từ NHNN như một nghiệp vụ hoạt động của mình; (iii) vốn vay thông qua phát hành GTCG dưới hình thức kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi …
Với những đặc điểm riêng có của vốn và cơ cấu vốn như trên, hoạt động huy động vốn của các NHTMCP cũng có nhiều điểm khác biệt so với các mô hình NHTM nói riêng, các doanh nghiệp cổ phần nói chung
1.1.2 Huy động vốn và các hình thức huy động vốn của NHTMCP
1.1.2.1 Khái niệm và các hình thức huy động vốn của NHTMCP
Dưới góc độ kinh tế học, huy động vốn được hiểu là hoạt động tạo nguồn vốn cho NHTMCP Với cấu trúc vốn của NHTMCP như mục 1.1.1 đã phân tích, các NH này huy động vốn với hai mục đích chính:
Một là, huy động vốn để tạo lập và tăng vốn chủ sở hữu (vốn cấp I) Với bản chất là một loại hình công ty cổ phần, hoạt động huy động vốn này của NHTMCP
Trang 20sẽ bao gồm: hoạt động tạo lập vốn điều lệ khi thành lập NH của các sáng lập viên; hoạt động huy động vốn từ các cổ đông hiện hữu và các nhà đầu tư trong nền kinh
tế thông qua việc phát hành thêm cổ phiếu hoặc trái phiếu chuyển đổi Điều này đã được khẳng định tại Điều 77 LDN 2005, cụ thể là CTCP có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn Chứng khoán theo quy định của LCK 2006 được hiểu là: Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ, quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ
số chứng khoán4 Đây là hoạt động huy động vốn riêng có của NHTMCP so với mô hình NHTM khác Các NHTM khác chỉ có thể huy động từ chính các chủ sở hữu,
có thể là Nhà nước, là các TCTD nước ngoài dưới hình thức cấp thêm vốn hoặc góp thêm vốn để tăng vốn điều lệ, tùy theo mô hình NHTM Ngoài ra, các NHTMCP cũng có thể tăng vốn chủ sở hữu bằng việc tăng tỷ lệ các quỹ dự trữ hoặc tỷ lệ lợi nhuận không chia giữ lại
Hai là, huy động thêm vốn để thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh của NHTMCP Tương ứng với mỗi loại vốn huy động sẽ có các hình thức huy động vốn tương ứng, tức là: (i) Huy động vốn từ tiền gửi của cá nhân, tổ chức; (ii) Huy động vốn thông qua hoạt động tín dụng với NHNN và các TCTD khác; (iii) Huy động vốn thông qua việc phát hành GTCG Các hình thức này đã được Luật các TCTD quy định tại Mục 1 Chương II
Đối với hoạt động huy động vốn từ tiền gửi của các cá nhân, tổ chức, theo quy định tại Khoản 1 Điều 45 Luật các TCTD, các NHTMCP được nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân và các TCTD khác Đây cũng là hình thức huy động vốn quan trọng nhất và chỉ có các TCTD trong đó có NHTMCP được thực hiện So với các TCTD khác, phạm vi huy động tiền gửi của các NHTMCP rộng hơn, NHTMCP được huy động tiền gửi dưới mọi hình thức và mọi kỳ hạn
Đối với hoạt động huy động vốn thông qua kênh tín dụng với NHNN, các NHTMCP có thể vay NHNN dưới các hình thức sau:
- Thấu chi và cho vay qua đêm từ NHNN để thực hiện công tác thanh toán giữa các NHTMCP nhằm bù đắp thiếu hụt tạm thời trong thanh toán điện tử
4
Khoản 1 Điều 6 Luật Chứng khoán 2006
Trang 21liên NH Thời hạn vay đối với hình thức này thường rất ngắn, từ cuối ngày làm việc hôm trước đến 8h30 phút ngày làm việc liền kề tiếp theo
- Vay vốn ngắn hạn thông qua hoạt động tái cấp vốn của NHNN bao gồm cho vay lại theo hồ sơ tín dụng, chiết khấu hoặc tái chiết khấu GTCG, cho vay có bảo đảm bằng cầm cố GTCG
Trong hai hình thức trên, chỉ có hình thức vay vốn ngắn hạn thông qua hoạt động tái cấp vốn được quy định tại Điều 48 Luật các TCTD Hoạt động thấu chi và cho vay qua đêm được điều chỉnh bởi hệ thống các văn bản liên quan đến thanh toán điện tử liên NH như Quyết định số 309/2002/QĐ-NHNN ngày 09/04/2002 của Thống đốc NHNN; được sửa đổi, bổ sung bằng Quyết định số 33/2006/QĐ-NHNN ngày 28/07/2006 của Thống đốc NHNN và Quyết định số 04/2007/QĐ-NHNN ngày 22/01/2007
Bên cạnh việc vay vốn từ NHNN, các NHTMCP còn được phép vay các TCTD trong nước và nước ngoài nhằm bù đắp thiếu hụt vốn khả dụng tạm thời của
NH theo quy định tại Điều 47 Mục 1 Chương II Luật các TCTD
Về hoạt động huy động vốn thông qua nghiệp vụ phát hành GTCG, với mỗi loại GTCG, các NHTMCP sẽ có một hình thức huy động vốn trên thị trường tài chính
Thứ nhất, với tư cách một doanh nghiệp, NHTMCP có thể phát hành trái phiếu để huy động vốn trung và dài hạn Trái phiếu là một cam kết xác nhận nghĩa
vụ trả nợ gốc và lãi của NH phát hành đối với người chủ sở hữu trái phiếu Các NHTM chịu sự quản lý của NHNN và cơ quan nhà nước quản lý thị trường chứng khoán khi phát hành trái phiếu ra công chúng
Thứ hai, phát hành tín phiếu, kỳ phiếu Đây là loại giấy tờ có giá ngắn hạn (dưới 1 năm), được sử dụng cho mục đích vay vốn ngắn hạn của NHTMCP và hoạt động phát hành GTCG đặc thù của NHTMCP Tuy nhiên, với thời hạn huy động vốn ngắn, thông thường là 3 tháng hoặc 6 tháng, mức độ rủi ro của các GTCG này thường thấp hơn so với trái phiếu nên các NHTMCP được chủ động phát hành loại GTCG sau khi đã có văn bản thông báo với NHNN
Thứ ba là phát hành chứng chỉ tiền gửi, tức là những giấy tờ xác nhận tiền gửi định kỳ ở một NH Người sở hữu chứng chỉ tiền gửi sẽ được NH thanh toán tiền
Trang 22lãi theo kỳ và nhận đủ vốn khi đến hạn và sau khi phát hành thì chứng chỉ sẽ được lưu thông trên thị trường tiền tệ Đây cũng là hình thức phát hành GTCG đặc thù của NHTMCP so với các doanh nghiệp thông thường
Việc huy động vốn theo hình thức phát hành GTCG đã được quy định tại Luật sửa đổi, bổ sung Luật các TCTD Theo đó, NHTMCP được phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và GTCG khác để huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước theo quy định của NHNN Riêng việc phát hành GTCG trong nước của NHTMCP được thực hiện theo Quyết định số 07/2008/QĐ-NHNN ngày 24/03/2008 của Thống đốc NHNN về ban hành Quy chế phát hành GTCG trong nước của các TCTD, được sửa đổi, bổ sung bằng Thông tư số 16/2009/TT-NHNN ngày 11/08/2009 (sau đây được gọi là QC phát hành GTCG trong nước)
Nhìn chung, hoạt động tạo lập và phát triển vốn huy động của các NHTMCP
và các mô hình NHTM khác là như nhau nhưng lại rộng hơn, đa dạng hơn so với hoạt động đó của các TCTD phi NH khác Các NHTMCP được phát hành GTCG có
kỳ hạn dưới một năm, được nhận tiền gửi dưới một năm (các TCTD phi NH chỉ được phát hành GTCG trên một năm, huy động tiền gửi trên một năm) Điều này được lý giải vì các NHTMCP để được thành lập và đi vào hoạt động phải đáp ứng điều kiện khắt khe hơn so với các TCTD phi NH (mức vốn điều lệ cao hơn, điều kiện đối với cổ đông sáng lập khắt khe hơn, v.v…) Không những thế, các NHTMCP trong quá trình hoạt động được quản lý, kiểm soát chặt chẽ hơn về tỷ lệ
về bảo đảm an toàn, tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro v.v…
1.1.2.2 Vai trò của hoạt động huy động vốn của NHTMCP
Vốn của NHTMCP có vai trò quan trọng bao nhiêu trong hoạt động của NHTMCP thì hoạt động huy động vốn lại có vai trò quan trọng bấy nhiêu
Đầu tiên, hoạt động huy động vốn giúp các sáng lập viên của NHTMCP gọi
đủ số vốn tối thiểu cần phải có để được NHNN xem xét cấp giấy phép hoạt động
Vì lẽ, mức vốn pháp định cần có khi thành lập NHTMCP cao hơn nhiều so với các ngành nghề kinh doanh khác và các sáng lập viên phải có đủ số vốn pháp định này khi thành lập Mặt khác, khi đã đi vào hoạt động, việc huy động vốn để tạo lập đủ và/ hoặc tăng vốn điều lệ sẽ giúp các NHTMCP nâng cao năng lực cạnh tranh trên
Trang 23thị trường do vốn điều lệ tăng, quy mô và khả năng thanh toán của các NHTMCP cũng tăng
Tiếp đó, hoạt động huy động vốn tạo “nguồn nhiên liệu” để vận hành hoạt
động kinh doanh tiền tệ của NHTMCP Khi đã đủ điều kiện đi vào hoạt động, nhờ
nghiệp vụ huy động vốn, các NHTMCP có thêm nguồn tiền để mở rộng các hoạt động kinh doanh của mình như cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ thanh toán khác Điều này thể hiện một nguyên lý rất đặc biệt trong hoạt động NH so với các ngành nghề khác, đó là vốn vừa là đối tượng kinh doanh vừa là phương tiện
kinh doanh của các NH
Cuối cùng, thông qua hoạt động huy động vốn, NHTMCP tập trung nguồn vốn từ chủ thể tạm thời thừa vốn đưa đến các chủ thể tạm thời thiếu vốn Đồng thời, qua hoạt động huy động vốn, các NHTMCP còn mang đến giá trị tích lũy cho những khách hàng đã cung cấp vốn cho NH, tạo nguồn vốn hỗ trợ cho toàn bộ nền kinh tế để thực hiện đầu tư phát triển Vai trò này phản ánh một cách rõ nét nhất tư cách trung gian tài chính của các NHTMCP
1.2 Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động huy động vốn của NHTMCP
1.2.1 Xuất phát từ yêu cầu bảo vệ lợi ích của NH nói riêng và của nền kinh tế nói
Trang 24Để hạn chế rủi ro có thể phát sinh và những ảnh hưởng tiêu cực mang tính dây chuyền nêu trên, nhiều biện pháp có thể được khai thác trong đó có biện pháp điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động NH Theo đó, pháp luật sẽ đưa hoạt động của các NH vào những khuôn khổ, chuẩn mực nhất định và quy định những cơ chế kiểm tra, giám sát đặc biệt đối với các hoạt động này Bên cạnh đó, thông qua việc thể chế hóa các chính sách, Nhà nước có thể điều tiết hoạt động NH theo đúng định hướng của Đảng và Nhà nước
Với mô hình tổ chức của một công ty cổ phần có số lượng cổ đông lớn (tối thiểu là 100 cổ đông), tính gắn kết giữa các cổ đông của NHTMCP không cao và thành phần cổ đông của NHTMCP có thể thay đổi thường xuyên Chính tính lỏng
và linh động này trong cấu trúc cổ đông của NHTMCP khiến việc huy động vốn từ các cổ đông hiện hữu của NHTMCP khi phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn sẽ mất nhiều thời gian, công sức hơn Cơ cấu bộ máy quản lý và thành phần cổ đông sáng lập của NHTMCP đóng vai trò chủ đạo trong việc duy trì hoạt động hàng ngày của NH, đặc biệt là tại thời điểm NH gặp nhiều khó khăn ở giai đoạn đầu, khi mới thành lập Vì vậy, để đảm bảo an toàn và tạo một hành lang pháp lý lành mạnh cho hoạt động thành lập NHTMCP, việc huy động vốn chủ sở hữu tại thời điểm thành lập và huy động thêm vốn trong thời gian đang hoạt động cần phải được điều chỉnh chặt chẽ bằng pháp luật nhằm đảm bảo an toàn cho bản thân các NHTMCP và cũng
là cho cả hệ thống NH
1.2.2 Xuất phát từ yêu cầu bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền
Quan hệ giữa người gửi tiền và NH được thiết lập trên cơ sở niềm tin là chủ yếu Người gửi tiền theo đó sẽ yếu thế hơn nhiều so với NH sau khi đã giao vốn cho
NH sử dụng Vì vậy, để bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền pháp luật thường quy định cụ thể về vốn điều lệ, vốn pháp định và quy mô vốn huy động của các NHTM nói chung và NHTMCP nói riêng Từ đó, củng cố niềm tin cho cộng đồng người gửi tiền, khuyến khích các tổ chức, cá nhân gửi tiền hoặc cho các NH vay và NH nhờ đó có thể huy động vốn cho nền kinh tế, phục vụ nhu cầu phát triển của đất nước Ngược lại, nếu tiền gửi không được bảo vệ thỏa đáng, người gửi tiền có xu hướng rút tiền khỏi thị trường tiền tệ để đầu tư sang thị trường khác như thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản v.v… Nguồn tiền gửi tại các NH nói chung và
Trang 25NHTMCP nói riêng sẽ bị giảm sút nghiêm trọng và hoạt động kinh doanh của các
NH vì thế cũng bị thu hẹp
1.3 Tổng quan pháp luật về huy động vốn của NHTMCP
1.3.1 Khái niệm và nội dung pháp luật về huy động vốn của NHTMCP
Hoạt động huy động vốn của NHTMCP sẽ làm phát sinh các mối quan hệ xã hội giữa NH và Khách hàng, giữa NH với NHNN, giữa các NH với nhau… Để điều chỉnh các quan hệ xã hội nói trên, Nhà nước cần phải ban hành các QPPL, thiết lập một khuôn khổ pháp lý nhất định để hoạt động huy động vốn được thực hiện một cách có hiệu quả và có lợi cho không chỉ người gửi tiền mà còn cho bản thân các
NH và cho nền kinh tế
Vậy, pháp luật điều chỉnh hoạt động huy động vốn của NHTMCP được hiểu
là hệ thống các QPPL do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, điều chỉnh các quan
hệ xã hội phát sinh trong quá trình các NHTMCP huy động vốn từ các cá nhân, tổ chức trong xã hội Căn cứ vào các bộ phận cấu thành của vốn như đã được phân tích
ở trên, pháp luật về huy động vốn của NHTMCP có thể được chia thành hai bộ phận chính như sau:
1.3.1.1 Pháp luật điều chỉnh hoạt động huy động vốn để tạo lập và tăng vốn điều
lệ của NHTMCP
Bộ phận pháp luật này điều chỉnh những quan hệ xã hội hình thành trong quá trình huy động vốn điều lệ để thành lập NHTMCP, đồng thời điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình NH phát hành cổ phiếu để tăng vốn điều lệ của NHTMCP thông qua những quy định về điều kiện phát hành thêm, phương thức phát hành thêm cổ phiếu, quyền và nghĩa vụ của NHTMCP khi phát hành thêm cổ phiếu, quyền và nghĩa vụ của các cổ đông v.v…
Hoạt động tạo lập vốn điều lệ và phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn điều
lệ của NHTMCP được thực hiện theo LDN 2005, LCK 2006, Luật các TCTD, LĐT
2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành Một số văn bản quan trọng gồm: Nghị định số 59/2009/NĐ-CP ngày 16-07-2007 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của NHTM, Nghị định số 146/2005/NĐ-CP ngày 23-11-2005 của Chính phủ về chế
độ tài chính của các TCTD, Quyết định số 1122/2001/QĐ-NHNN ngày 04-09-2001 của NHNN về việc ban hành Quy định về cổ đông, cổ phần, cổ phiếu và vốn điều lệ
Trang 26của NHTMCP của Nhà nước và nhân dân, được sửa đổi, bổ sung bằng Quyết định
số 20/2008/QĐ-NHNN ngày 04-07-2008 của NHNN, Quyết định số NHNN ngày 07-06-2007 của NHNN ban hành Quy chế cấp giấy phép thành lập và hoạt động NHTMCP, được sửa đổi, bổ sung bằng Quyết định số 46/2007/QĐ-NHNN ngày 25-12-2007 của NHNN… Riêng việc chào bán cổ phiếu cho nhà đầu
24/2007/QĐ-tư nước ngoài được thực hiện theo Nghị định số 69/2007/NĐ-CP ngày 20/04/2007 của Chính phủ về việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của NH thương mại Việt Nam và Thông tư số 07/2007/TT-NHNN ngày 29/11/2007 của Thống đốc NHNN
về việc hướng dẫn thi hành một số nội dung của Nghị định số 69/2007/NĐ-CP Ngoài ra, việc phát hành cổ phiếu ra công chúng của NHTMCP được thực hiện theo quy định của LCK 2006 và Quyết định số 787/2004/QĐ-NHNN ngày 24-06-2004 của Thống đốc NHNN ban hành Quy định tạm thời về việc NHTMCP đăng ký niêm yết và phát hành cổ phiếu ra công chúng
Trong nhiều công trình nghiên cứu đã được công bố trước đây, các nhà nghiên cứu thường không đề cập đến bộ phận pháp luật này Điều này xuất phát từ quan niệm về hoạt động huy động vốn của NH chỉ bao gồm các hoạt động nghiệp
vụ của NHTM như nhận tiền gửi, phát hành GTCG Tuy nhiên, việc xem xét độc lập hoạt động huy động vốn mang tính nghiệp vụ này sẽ không đánh giá được sự tác động qua lại giữa vốn chủ sở hữu và vốn huy động Bởi lẽ, mặc dù mỗi thành phần vốn có một vai trò riêng, không thể thay thế trong hoạt động của NHTMCP nhưng chúng cũng có mối quan hệ rất chặt chẽ, khăng khít với nhau Vốn chủ sở hữu là nền tảng, là thực lực tài chính của NHTMCP trước khi vào thương trường Nguồn này thể thiện uy tín tài chính của mỗi NH, hứa hẹn một sự đảm bảo cho những nguồn vốn NH huy động trong tương lai Ngược lại, vốn huy động càng lớn, lợi nhuận mà các NHTMCP tạo ra càng cao, từ đó góp phần củng cố và phát triển vốn chủ sở hữu của NH Vì vậy, khi xem xét hoạt động huy động vốn của các NHTMCP nói chung cần đặt chúng trong một thể thống nhất, tức là việc huy động vốn cần được hiểu theo nghĩa rộng hơn bao gồm cả huy động vốn để tạo lập, phát triển vốn chủ sở hữu và huy động vốn như một hoạt động nghiệp vụ trong quá trình kinh doanh của NHTMCP Nói cách khác, pháp luật về huy động vốn của NHTMCP để tạo lập và tăng vốn chủ sở hữu sẽ trở thành một bộ phận không thể tách rời của
Trang 27pháp luật về huy động vốn của NHTMCP nói chung Với cách hiểu đó, làm cho những nghiên cứu, đánh giá pháp luật về huy động vốn của NHTMCP sẽ được thực hiện một cách toàn diện hơn, đồng bộ hơn và những giải pháp được đề xuất sẽ hiệu quả, thiết thực hơn
Trong quá khứ, các nhà làm luật ở các nước thường quan niệm mỗi loại NH
có một mức vốn điều lệ và nhu cầu huy động vốn ở những mức độ khác nhau tùy vào uy tín, vị thế của NH Pháp luật, vì vậy, không đặt ra yêu cầu về vốn pháp định cũng như cách thức huy động vốn đối với loại vốn này Tuy nhiên, những gì diễn ra trên thực tế của thị trường tài chính nói chung và thị trường tiền tệ nói riêng đã làm các nhà làm luật ở các nước thay đổi quan điểm và vì vậy, các quy định pháp luật khắt khe đã được đưa ra đối với việc huy động nguồn vốn này Hoa Kỳ là một ví dụ:
Trước những năm 30 của Thế kỷ XX, Hoa Kỳ không quy định mức vốn tối thiểu cần có để thành lập NH mà đưa ra các tiêu chí cụ thể như năng lực quản trị, chất lượng danh mục cho vay của NH; và tỷ lệ giảm sút vốn sở hữu chủ trong quá trình hoạt động Các tiêu chí này, tuy nhiên, chỉ có thể xác định được khi các NH đã
đi vào hoạt động, còn tại thời điểm thành lập NH thì không có cơ sở để đánh giá, đặc biệt là hai tiêu chí: chất lượng các danh mục cho vay của NH và tỷ lệ giảm sút vốn sở hữu chủ trong quá trình hoạt động Do vậy, trong những năm 30 và 40 của thế kỷ XX, Hoa Kỳ đã đưa ra những tiêu chí cụ thể hơn, mang tính định lượng bằng việc xác định tỷ lệ vốn điều lệ trên tổng số tiền gửi tại NH và tỷ lệ vốn điều lệ trên tổng tài sản có thể dùng để trả nợ của NH Các chỉ số này sau đó cũng bị loại bỏ vì chưa thực sự phản ánh được năng lực tài chính của các NH và cũng không dự báo được khả năng trả nợ của các NH trong tương lai
Đến những năm 50 của thế kỷ XX, một số nhà khoa học ở Hoa Kỳ đã nghiên cứu về cách xác định dự phòng rủi ro và cố gắng thiết lập tỷ lệ vốn trên quỹ dự phòng rủi ro của các NH để đảm bảo khả năng trả nợ tại mọi thời điểm Tuy nhiên, không có công trình nghiên cứu nào được thừa nhận rộng rãi
Từ những năm 80 của thế kỷ XX đến nay, Hoa Kỳ bắt đầu đặt ra yêu cầu về mức vốn tối thiểu phải có khi thành lập NH và buộc các NH phải duy trì vốn điều lệ
ở mức này hoặc ở mức lớn hơn trong suốt quá trình hoạt động; đồng thời họ còn
Trang 28thiết lập những yêu cầu thống nhất về vốn cho hoạt động kinh doanh NH ở tầm quốc tế
Rõ ràng, thực tế đã chứng minh, vốn chủ sở hữu và các phương thức huy động vốn chủ sở hữu cần được nghiên cứu, xem xét như một phần không thể tách rời trong pháp luật về huy động vốn của NHTMCP
Tuy nhiên, bản Luận văn này sẽ không đề cập sâu đến việc tăng vốn chủ sở hữu trên cơ sơ chênh lệch giá do định giá lại tài sản của NH hoặc việc tạo lập và duy trì các quỹ dự trữ của NHTMCP Bởi lẽ, các hoạt động này thuộc trách nhiệm tài chính theo chu kỳ kinh doanh của bất kỳ doanh nghiệp nào đang hoạt động, không phụ thuộc hoàn toàn vào ý chí chủ quan, sự năng động của các NHTMCP trong quá trình hoạt động cũng như không chịu sự tác động mạnh mẽ của pháp luật thực định trong quá trình áp dụng trên thực tế Vì vậy, trong phần nghiên cứu về pháp luật điều chỉnh hoạt động huy động vốn để tạo lập và tăng vốn chủ sở hữu, bản Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu và đánh giá việc tạo lập và tăng vốn chủ sở hữu thông qua phát hành cổ phiếu
1.3.1.2 Pháp luật điều chỉnh hoạt động nghiệp vụ huy động vốn của NHTMCP
Theo Luật các TCTD năm 1997 (được sửa đổi, bổ sung năm 20045), hoạt động huy động vốn của NHTMCP gồm: (i) Nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác; (ii) Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước theo quy định của NHNN; (iii) Vay vốn của TCTD trong nước và nước ngoài; (iv) Vay vốn ngắn hạn của NHNN dưới hình thức tái cấp vốn (Điều 3 Nghị định số 49/2000/NĐ-CP)
Tương ứng với mỗi hình thức huy động vốn trên sẽ là một hoạt động nghiệp
vụ của các NHTMCP và là một chế định cụ thể trong pháp luật về huy động vốn của NHTMCP Cụ thể, nội dung của mảng pháp luật này bao gồm:
- Pháp luật điều chỉnh hoạt động huy động vốn bằng nhận tiền gửi: quy định
cụ thể về chủ thể gửi tiền, các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, hình thức gửi tiền, …
5
Xem Mục 1 Chương III về hoạt động của các TCTD - Luật các TCTD
Trang 29- Pháp luật điều chỉnh hoạt động phát hành GTCG, với nội dung chính quy định về các loại GTCG mà các NHTMCP được phát hành, điều kiện, trình
tự, thủ tục thực hiện phát hành của các NHTMCP …
- Pháp luật điều chỉnh hoạt động vay vốn giữa NHTMCP và các TCTD khác: quy định về điều kiện, thời hạn, các nguyên tắc vay vốn, quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ tín dụng này
- Pháp luật điều chỉnh hoạt động vay vốn từ NHNN thông qua nghiệp vụ tái cấp vốn: quy định về các hình thức tái cấp vốn, điều kiện, giới hạn, lãi suất tái cấp vốn, quyền và nghĩa vụ của NHTMCP và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quan hệ tái cấp vốn v.v…
Văn bản đầu tiên tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động huy động vốn của các TCTD là Pháp lệnh NH, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính ngày 23/05/1990 Khoản 1 Điều 18 Pháp lệnh quy định: “NHTM được huy động vốn ngắn hạn, dài hạn để cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn” Các quy định trong Pháp lệnh mặc
dù chỉ mang tính nguyên tắc về quyền huy động vốn của các NHTM, trong đó có NHTMCP nhưng cũng đã đặt nền móng cho một chế định pháp luật hình thành và
đi vào thực tiễn
Sau đó, Luật các TCTD năm 1997 đã ra đời thay thế Pháp lệnh trên với nhiều quy định cụ thể và tiến bộ hơn xuất phát từ nhận thức sâu sắc hơn về vai trò và tầm quan trọng của nghiệp vụ huy động vốn Hệ thống văn bản điều chỉnh hoạt động nghiệp vụ này nằm rải rác trong nhiều văn bản khác nhau như Nghị định số 59/2009/NĐ-CP ngày 16-07-2009 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của NHTM, Quyết định số 1160/2004/QĐ-NHNN ngày 13-09-2004 của NHNN ban hành Quy chế tiền gửi tiết kiệm, Quyết định số 1284/2002/QĐ-NHNN ngày 21-11-
2002 của NHNN ban hành Quy chế mở và sử dụng tài khoản tại NHNN và TCTD v.v…
1.3.2 Một số đặc điểm của pháp luật về huy động vốn của NHTMCP
Qua việc nghiên cứu hệ thống các văn bản QPPL liên quan đến hoạt động huy động vốn của các NHTMCP, có thể thấy, so với chế định về huy động vốn của các TCTD phi NH và các NHTM khác, pháp luật về huy động vốn của các NHTMCP có một số khác biệt sau đây:
Trang 30Một là, nội dung và phạm vi điều chỉnh của pháp luật về huy động vốn của NHTMCP rộng hơn pháp luật điều chỉnh cùng vấn đề đó đối với các TCTD phi NH
và các NHTM khác do hoạt động huy động vốn các NHTMCP có phạm vi rộng hơn, cụ thể:
So với các TCTD phi NH, các NHTMCP không bị giới hạn về loại tiền gửi được nhận, về loại GTCG được phát hành NHTMCP nhận tiền gửi các loại như tiền gửi thanh toán có kỳ hạn hoặc không kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm với nhiều kỳ hạn khác nhau như ngắn hạn, trung hạn, dài hạn; đồng thời NHTMCP được phát hành GTCG dưới nhiều hình thức khác nhau như trái phiếu, tín phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi và với đầy đủ các kỳ hạn từ ngắn hạn đến dài hạn Trong khi đó, các TCTD phi NH chỉ được nhận tiền gửi từ một năm trở lên, phát hành GTCG với các kỳ hạn là trung hạn và dài hạn, và không được nhận tiền gửi thanh toán
So với các NHTM thông thường, NHTMCP còn được huy động vốn dưới hình thức phát hành cổ phiếu, trái phiếu chuyển đổi do NHTMCP thuộc loại hình công ty cổ phần
Cũng chính vì phạm vi huy động vốn của NHTMCP rộng hơn nên pháp luật
về huy động vốn của các NHTMCP có những chế định đặc thù mà pháp luật điều chỉnh các TCTD phi NH không có như chế định về tiền gửi tiết kiệm, về mở và sử dụng tài khoản tiền gửi thanh toán…; tương tự như vậy, pháp luật về huy động vốn của các NHTMCP rộng hơn pháp luật về huy động vốn của các NHTM vì có thêm các quy định về phát hành cổ phiếu, trái phiếu chuyển đổi, và những quy định về niêm yết cổ phiếu, trái phiếu v.v…
Hai là, yêu cầu về mức vốn pháp định mà các NHTMCP phải thoả mãn cũng cao hơn so với mức vốn mà các TCTD phi NH phải đáp ứng do phạm vi các hoạt động nghiệp vụ mà các NHTMCP được thực hiện rộng hơn phạm vi các hoạt động nghiệp vụ mà các TCTD phi NH được thực hiện Ví dụ: mức vốn pháp định của công ty tài chính là 500 tỷ đồng, công ty cho thuê tài chính là 150 tỷ đồng từ năm
2010, trong khi đó mức vốn pháp định mà các NHTMCP phải thỏa mãn là 3.000 tỷ đồng
Ba là, quy định về vốn điều lệ và phương thức huy động vốn điều lệ của của NHTMCP, so với quy định tương ứng của các TCTD phi NH được thành lập dưới
Trang 31hình thức công ty cổ phần cũng chi tiết và chặt chẽ hơn Theo đó, một mặt, vốn điều
lệ của các NHTMCP chỉ được góp bằng đồng Việt Nam; trước khi đi vào hoạt động các NHTMCP phải có đủ vốn điều lệ (số vốn này phải lớn hơn hoặc bằng vốn pháp định) thay vì phải có đủ vốn pháp định như các công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính; mặt khác, NHTMCP phải có từ 100 cổ đông trở lên tham gia góp vốn thành lập NH (trong khi đó, các TCTD phi NH thành lập dưới hình thức công ty cổ phần và các doanh nghiệp thông thường chỉ cần ba cổ đông sáng) v.v…
Tóm lại, pháp luật về huy động vốn của các NHTMCP có những nét đặc thù
và là một bộ phận quan trọng của pháp luật NH Việc nghiên cứu thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về huy động vốn của các NHTMCP, vì vậy cũng đóng một vai trò quan trọng, nhằm hoàn thiện pháp luật NH, góp phần nâng cao hiệu quả huy động vốn, đáp ứng nhu cầu phát triển và hội nhập của nền kinh tế nói chung, và của hệ thống NH nói riêng
Trang 32CHƯƠNG II – THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HUY ĐỘNG VỐN
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN 2.1 Thực trạng pháp luật về huy động vốn để tạo lập vốn điều lệ của các NHTMCP
Theo Quyết định số 24/2007/QĐ-NHNN, các tổ chức được thành lập theo pháp luật Việt Nam, cá nhân mang quốc tịch Việt Nam thỏa mãn điều kiện theo quy định của pháp luật, không thuộc những đối tượng bị cấm theo quy định tại Khoản 2 Điều 13 Luật Doanh nghiệp đều có thể tham gia góp vốn thành lập NH6 So với doanh nghiệp thông thường, vốn điều lệ và việc huy động vốn điều lệ để thành lập NHTMCP có một số khác biệt sau:
Thứ nhất, vốn của NHTMCP chỉ được góp bằng đồng Việt Nam Phạm vi tài sản được góp vốn như vậy rất hẹp so với các doanh nghiệp hoạt động theo LDN
20057 Các doanh nghiệp này có thể góp vốn bằng tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ,
bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong Điều lệ công ty do thành viên góp để tạo thành vốn của công ty Thiết nghĩ, quy định này xuất phát từ thực tế là NH kinh doanh trong lĩnh vực đặc thù mà ở đó hàng hóa và dịch vụ là đối tượng của hoạt động kinh doanh đều là tiền tệ hoặc gắn liền với tiền tệ
Thứ hai, yêu cầu về vốn góp của các tổ chức, cá nhân khắt khe hơn so với các doanh nghiệp thông thường Theo đó, cổ đông sáng lập không được dùng vốn
ủy thác, vốn vay của các tổ chức, cá nhân khác để góp vốn Trong khi đó, điều kiện này không được đặt ra cho các doanh nghiệp thông thường Quy định này nhằm đảm bảo tính ổn định, lành mạnh cho nguồn vốn của NHTMCP khi mới đi vào hoạt động
Thứ ba, 50% vốn điều lệ của NHTMCP phải được các cổ đông sáng lập cùng nhau nắm giữ khi xin cấp giấy phép thành lập NH (tỷ lệ này là 20% đối với CTCP thông thường) Đồng thời, các cổ đông sáng lập là tổ chức của NHTMCP phải cùng nhau sở hữu tối thiểu 50% tổng số cổ phần của các cổ đông sáng lập Yêu cầu này
Trang 33không được đặt ra cho các CTCP hoạt động trong các lĩnh vực kinh doanh khác Mục đích của nhà làm luật trong trường hợp này là nhằm ràng buộc và tăng cường trách nhiệm của các cổ đông sáng lập đối với NHTMCP; qua đó giúp NHTMCP tránh được những rủi ro do sự biến động về mặt cấu trúc cổ đông cũng như tăng tính bền vững của nguồn vốn ban đầu
Tiếp đó, vốn để thành lập NHTMCP do tối thiểu 100 cổ đông là tổ chức và
cá nhân nắm giữ, trong đó có tối thiểu 03 cổ đông sáng lập là tổ chức có tư cách pháp nhân đáp ứng đủ điều kiện quy định tại Quyết định số 24/2007/QĐ-NHNN Trong khi đó, con số này chỉ là 03 cổ đông đối với CTCP thông thường8 Như vậy, theo quy định tại khoản 12 Điều 6 và Điều 24 LCK 2006, các NHTMCP sẽ đương nhiên trở thành công ty đại chúng ngay khi thành lập Với quy định này, NHNN và các cổ đông có thể kiểm soát tốt hơn hoạt động của các NHTMCP do các NH này buộc phải công khai thông tin theo quy định về công bố thông tin áp dụng cho các công ty đại chúng
Thứ năm, số vốn điều lệ phải được huy động đủ và gửi vào tài khoản phong tỏa tại NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố nơi NH đặt trụ sở chính trước khi khai trương hoạt động tối thiểu 30 ngày Điều này khác so với quy định tương tự áp dụng cho TCTD phi NH có mô hình công ty cổ phần cũng như các CTCP thông thường
Cụ thể: (i) đối với các TCTD phi NH có mô hình cổ phần, các cổ đông sáng lập chỉ phải huy động đủ số vốn pháp định để gửi vào NHNN trước khi hoạt động9; (ii) đối với các CTCP, các cổ đông sáng lập phải góp đủ số vốn đã cam kết trong vòng chín mươi ngày, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận ĐKKD theo quy định của LDN 200510 và không phải gửi vào tài khoản phong tỏa mở tại NHNN Yêu cầu này được đặt ra vì khi mới thành lập, các NHTMCP chủ yếu sử dụng số vốn này để kinh doanh, nguồn vốn huy động từ tiền gửi chưa nhiều do chưa có uy tín trên thị trường
10
Xem khoản 1 Điều 80 LDN 2005
Trang 34Thứ sáu, các NHTMCP chỉ có thể huy động vốn từ các cổ đông là tổ chức được thành lập theo pháp luật Việt Nam, cá nhân mang quốc tịch Việt Nam để tạo lập vốn điều lệ khi thành lập Các quy định này không áp dụng cho các cổ đông sáng lập của CTCP thông thường cũng như các cổ đông sáng lập của các TCTD phi
NH khác, tức là các tổ chức này có thể huy động vốn từ cá nhân, tổ chức nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam hoặc ở nước ngoài Điều này có thể được lý giải vì việc kiểm tra, thẩm định và theo dõi các cổ đông nước ngoài không dễ dàng
Hệ lụy là các NHTMCP có thể gặp rủi ro do thông tin bất đối xứng, làm ảnh hưởng đến hoạt động, tính ổn định của NHTMCP
Cuối cùng, giới hạn sở hữu cổ phần của một cá nhân, tổ chức khi tham gia góp vốn thành lập NHTMCP được quy định chi tiết hơn so với giới hạn áp dụng đối với các nhà đầu tư góp vốn vào các doanh nghiệp thông thường, cụ thể: (i) một cá nhân được sở hữu tối đa 10% vốn điều lệ của một NH; (ii) một tổ chức được sở hữu tối đa 20% vốn điều lệ của một NH; (iii) cổ đông và những người có liên quan của
cổ đông đó được sở hữu tối đa 20% vốn điều lệ của một NH; (iv) trường hợp sở hữu
cổ phần vượt tỷ lệ nêu trên phải được Thống đốc NHNN phê duyệt trên cơ sở lợi ích quốc gia
Có thể thấy, vốn điều lệ và phương thức huy động vốn điều lệ khi thành lập NHTMCP có nhiều điểm khác so với CTCP thông thường và các NHTM khác Đây
là lần đầu tiên pháp luật thực định quy định chi tiết về vấn đề này trong Quyết định
số 24/2007/QĐ-NHNN và Nghị định số 59/2006/NĐ-CP Điều này xuất phát từ nhu cầu đảm bảo chất lượng nguồn vốn ban đầu của các NHTMCP và cải cách thủ tục hành chính liên quan đến việc góp vốn, cấp phép thành lập NH
Tuy đã được quy định chi tiết hơn và có nhiều tiến bộ so với trước đây nhưng quy định về huy động vốn để tạo lập vốn điều lệ của NHTMCP vẫn còn một
số tồn tại nhất định, cụ thể là:
2.1.1 Khái niệm về vốn pháp định, vốn điều lệ trong pháp luật thực định của Việt
Nam chưa phù hợp với thông lệ quốc tế
Như đã trình bày ở mục 1.1.1, vốn điều lệ của NHTMCP được hiểu là số vốn
do tất cả các cổ đông góp và được ghi vào điều lệ của NHTMCP và vốn pháp định
là mức vốn tối thiểu phải có theo quy định của pháp luật để thành lập NHTMCP
Trang 35Trong khi đó, theo thông lệ quốc tế, số vốn ban đầu của một công ty do các
cổ đông sáng lập đăng ký khi thành lập công ty được gọi là vốn pháp định (legal capital)11 và cũng chính là vốn điều lệ (stated capital) vì được ghi vào điều lệ công
ty Đối với một số công ty kinh doanh trong lĩnh vực đặc thù, ví dụ NH, công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm…, số vốn này phải thoả mãn (tức phải lớn hơn hoặc bằng) mức vốn tối thiểu mà một công ty kinh doanh trong lĩnh vực đặc thù đó phải
có theo quy định pháp luật và thường được gọi là “vốn tối thiểu theo yêu cầu pháp
luật” (minimum requirement capital)12 Ở Việt Nam mức vốn tối thiểu theo yêu cầu pháp luật mà các NH phải có đủ khi thành lập thường được các nhà làm luật gọi là
“vốn pháp định”
Cách sử dụng các thuật ngữ pháp lý trong lĩnh vực tài chính doanh nghiệp của các nhà làm luật Việt Nam như trên sẽ khiến nhiều nhà nghiên cứu và nhà đầu
tư nước ngoài khó xác định và có thể hiểu sai về hai nguồn vốn này
2.1.2 Quy định về đồng tiền góp vốn, về nguồn gốc tiền góp vốn chưa thống nhất
và còn mâu thuẫn giữa các văn bản
Quy định về đồng tiền góp vốn chỉ được thực hiện bằng đồng Việt Nam như Quyết định số 24/2007/QĐ-NHNN và Nghị định số 59/2009/NĐ-CP là do chính sách quản lý về ngoại hối của Việt Nam không cho phép các giao dịch thanh toán trên lãnh thổ Việt Nam thực hiện bằng ngoại tệ, nhằm hạn chế tình trạng đô la hóa trong nền kinh tế Tuy nhiên, cũng cần phải nhìn nhận lại rằng, việc góp vốn bằng ngoại tệ để thành lập NHTMCP sẽ không làm gia tăng tình trạng đô la hóa vì số vốn này sẽ được phong tỏa và sử dụng cho hoạt động kinh doanh của NHTMCP ngay sau đó
Xét trên khía cạnh chi phí, quy định này sẽ khiến chi phí huy động vốn của các NHTMCP gia tăng do các cá nhân, tổ chức có ngoại tệ một cách hợp pháp sẽ phải chuyển đổi sang đồng Việt Nam để góp vốn và sau đó để cung cấp các dịch vụ ngoại hối, các NHTMCP phải mua lại ngoại tệ từ NHNN hoặc các TCTD khác Điều này cũng đúng trong trường hợp góp vốn bằng các tài sản khác, đặc biệt là
Trang 36quyền sử dụng đất, các cổ đông sẽ tốn nhiều thời gian và chi phí hơn để thực hiện góp vốn Rõ ràng, việc hạn chế loại tài sản góp vốn như hiện nay là không cần thiết
và sẽ khiến việc góp vốn trở nên phức tạp và gây tốn kém hơn cho các nhà đầu tư
Tình trạng tương tự cũng có thể thấy đối với quy định không được sử dụng vốn vay để góp vốn thành lập NHTMCP Theo Điều 472 BLDS 2005, Bên vay trở thành chủ sở hữu tài sản vay kể từ thời điểm nhận tài sản đó13 và Bên vay có toàn quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt số vốn này (Điều 164 BLDS 2005) Do đó, quy định về việc không được sử dụng vốn vay để góp vốn thành lập NHTMCP trong Quyết định số 24/2007/QĐ-NHNN vô hình chung đã bị vô hiệu bởi các quy định của BLDS 2005
2.1.3 Quy định về cổ đông sáng lập không phù hợp với sự phát triển của nền kinh
tế cũng như cam kết quốc tế của Việt Nam
Về điều kiện đối với cổ đông sáng lập là tổ chức, theo quy định hiện hành, các tổ chức Việt Nam được góp vốn thành lập NHTMCP phải có vốn điều lệ từ 500
tỷ trở lên và kinh doanh có lãi trong 03 năm liền kề trước khi góp vốn Với nền kinh
tế đang phát triển, các doanh nghiệp có đủ điều kiện trên không nhiều, đặc biệt là khối doanh nghiệp tư doanh Việc huy động vốn để thành lập NHTMCP bởi vậy sẽ không dễ dàng Mặc dù quy định này xuất phát từ nhu cầu đảm bảo tính ổn định cho nguồn vốn của các NHTMCP trong giai đoạn mới đi vào hoạt động nhưng có phần
không phù hợp với trình độ phát triển của nền kinh tế
Trong biểu cam kết dịch vụ tài chính, phần B – Dịch vụ NH của Việt Nam khi gia nhập WTO có quy định: các tổ chức và cá nhân nước ngoài được mua cổ phần tại các NHTMCP Việt Nam tối đa bằng 30% vốn điều lệ của NH đó Việc mua
cổ phần có thể là tại thời điểm thành lập hoặc tại thời điểm đã đi vào hoạt động Tuy nhiên, Quyết định 24/2007/QĐ-NHNN và Nghị định số 69/2007/NĐ-CP ngày 20/04/2007 của Chính phủ đều không đề cập đến trường hợp trường hợp mua cổ phần tại thời điểm thành lập NH của nhà đầu tư nước ngoài Rõ ràng, quy định hiện hành không phù hợp với cam kết quốc tế nói trên của Việt Nam
13
Điều 472 BLDS 2005
Trang 372.1.4 Quy định về lộ trình tăng vốn điều lệ của các NHTMCP không khả thi và
mức vốn pháp định còn thấp so với thông lệ quốc tế
Theo quy định, đến tháng 12/2010, tất cả các NHTMCP phải có vốn điều lệ
là 3.000 tỷ đồng Lộ trình này chưa hợp lý ở những điểm sau:
Các NHTMCP ở Việt Nam thường có quy mô nhỏ, năng lực quản trị, điều hành còn yếu, quy định phải tăng vốn điều lệ sẽ trở thành một sức ép quá lớn đối với các NH này và có thể dẫn đến tác dụng trái chiều do việc tăng vốn điều lệ sẽ tạo
áp lực đối với sử dụng vốn và khả năng sinh lời từ số vốn tăng thêm
Huy động vốn thông qua việc phát hành cổ phiếu và tìm cổ đông chiến lược nước ngoài hiện nay không dễ dàng do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính và sự sụt giảm của thị trường chứng khoán Việt Nam Trong giai đoạn khủng hoảng này, quy mô vốn của các NHTMCP không phải là yếu tố then chốt mà là chất lượng quản trị Đơn cử, đầu năm 2009, Sacombank đã họp ĐHĐCĐ với dự kiến thông qua
kế hoạch tăng vốn điều lệ lên 6.700 tỷ đồng, nhưng cổ đông chiến lược nước ngoài
là NH ANZ không đồng ý với lý do đây là thời điểm các NH lớn trên thế giới cũng chọn giải pháp an toàn thay vì đẩy mạnh kinh doanh14 Rõ ràng, việc tăng vốn điều
lệ là cần thiết đối với các NH nhưng trong điều kiện hiện nay, yêu cầu tăng vốn chưa thực sự khả thi cả về mặt chủ quan lẫn khách quan
Tuy nhiên, nếu nhìn xa hơn, một thực tế khác được đặt ra là mức vốn pháp định hiện nay còn thấp để tạo ra một hệ thống NHTMCP có đủ năng lực cạnh tranh trên thị trường tài chính quốc tế Ở Mỹ, có khoảng 8.000 NHTM, trong đó khoảng
10 NHTM với số vốn tự có trên 10 tỉ USD (tương đương gần 200 nghìn tỷ đồng),
62 NH trên 1 tỉ USD (tương đương gần 20 nghìn tỷ đồng) và 215 NH trên 150 triệu USD (xấp xỉ 3.000 tỷ đồng)15 Trong khi đó, ở Việt Nam chỉ cần gần 150 triệu USD
đã có thể thành lập NH và NH có mức vốn điều lệ lớn nhất là Vietcombank cũng chỉ tương đương gần 1 tỷ USD
2.2 Thực trạng pháp luật về phát hành cổ phiếu để tăng vốn điều lệ của các NHTMCP
Trang 38Cổ phần, cổ phiếu và các vấn đề liên quan đến cổ đông của NHTMCP được điều chỉnh bởi Nghị định số 59/2009/NĐ-CP và Quyết định số 24/2007/QĐ-NHNN, Nghị định số 67/2007/NĐ-CP, Thông tư số 07/2007/TT-NHNN So với quy định trước đây tại Nghị định số 49/2000/NĐ-CP, Quyết định số 1122/2001/QĐ-NHNN, Quyết định số 228/QĐ-NH5 ngày 02-12-1993, các quy định này có một số điểm mới nổi bật sau đây:
Thứ nhất, lần đầu tiên pháp luật thực định ghi nhận và quy định chi tiết về cổ phần ưu đãi cổ tức của NHTMCP16 (trước đây chỉ quy định về cổ phần ưu đãi biểu quyết) Loại cổ phần này của NHTMCP có tính chất tương tự cổ phần ưu đãi cổ tức của CTCP thông thường17 Tuy nhiên, để hạn chế tình trạng phát hành cổ phần ưu đãi cổ tức vì lợi ích của một nhóm cổ đông hoặc/ và các cổ đông lớn của NHTMCP, Nghị định số 59/2009/NĐ-CP đã quy định cụ thể hơn về tỷ lệ cổ phần ưu đãi cổ tức trong tổng vốn điều lệ và các đối tượng không được mua cổ phần ưu đãi cổ tức trong NHTMCP
Thứ hai, NHNN tăng cường kiểm soát việc chuyển nhượng cổ phần của các
cổ đông NH thông qua quy định các cổ đông sở hữu 5% vốn điều lệ của NHTMCP (trước đây là 10%) khi chuyển nhượng cổ phần phải được sự chấp thuận của Thống đốc NHNN Quy định này sẽ giúp NHNN kiểm soát tốt hơn các biến động cổ đông của các NHTMCP để có những biện pháp kiểm soát rủi ro thích hợp
Thứ ba, quy định về vốn góp cho nhà đầu tư nước ngoài có nhiều điểm mới, phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam Cụ thể như sau:
- Mở rộng diện các tổ chức nước ngoài được mua cổ phần trong NHTMCP Việt Nam theo hướng cho phép tất cả các loại hình tổ chức được thành lập và hoạt động hợp pháp mua cổ phần, thay vì chỉ có các công ty đầu tư, xí nghiệp, tập đoàn kinh tế nước ngoài được mua như Quyết định 282/QĐ-NH5 trước đây Sự mở rộng đối tượng được mua cổ phần của NHTMCP trên phù hợp chủ trương thu hút vốn đầu tư nước ngoài của Chính phủ và các cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO
Trang 39- Quy định bổ sung về việc nhà đầu tư chiến lược nước ngoài và việc mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các NHTMQD thực hiện cổ phần hóa Đây là một quy định mới, tiến bộ và mang lại nhiều lợi ích cho các NHTMCP Bởi lẽ, với việc tìm được một đối tác chiến lược nước ngoài, các NHTMCP có thể tận dụng được nguồn lực tài chính, kinh nghiệm và hệ thống sản phẩm, dịch vụ của đối tác chiến lược để hoàn thiện mình Đồng thời, việc tìm kiếm đối tác nước ngoài sẽ giúp các NHTMCP giải bài toán về vốn trong điều kiện nền kinh tế của Việt Nam còn kém phát triển
- Quy định bổ sung về việc chuyển nhượng cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài, điều kiện đối với các TCTD nước ngoài được mua cổ phần tại Việt Nam và điều kiện đối với các NHTMCP được gọi vốn từ nhà đầu tư nước ngoài Quy định này giúp các NHTMCP có được những đối tác chiến lược có
uy tín, thương hiệu và tình hình tài chính lành mạnh
Như vậy, quy định về phát hành và chào bán cổ phiếu của các NHTMCP hiện nay đã chi tiết, cụ thể hơn và phù hợp hơn với nhu cầu của thực tế Tuy nhiên, đánh giá một cách tổng thể và trong mối tương quan với hệ thống các văn bản pháp luật liên quan, các quy định này vẫn còn một số hạn chế nhất định
2.2.1 Quy định về cổ phiếu ưu đãi cổ tức còn chung chung, chưa bảo vệ được
quyền lợi của cổ đông nhỏ trong NHTMCP
Các quy định về cổ phiếu ưu đãi cổ tức trong Nghị định số 59/2009/NĐ-CP chỉ dừng lại ở việc nêu khái niệm cổ phần ưu đãi cổ tức, tỷ lệ cổ phần ưu đãi cổ tức
mà NHTMCP được phát hành trong tổng số vốn điều lệ của NHTMCP Các khái niệm về cổ tức cố định, cố tức thưởng, và các vấn đề về trình tự, thủ tục, điều kiện phát hành các loại cổ phần ưu đãi cổ tức này v.v… hiện vẫn chưa được quy định hoặc hướng dẫn cụ thể Vì vậy, dù đã được pháp luật quy định nhưng các NHTMCP khó có thể triển khai trong thực tế
Hơn nữa, hiện còn thiếu các quy định về cách thức chi trả cổ tức trong trường hợp vì một lý do nào đó NH không thể trả cổ tức cho cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi cổ tức trong năm tài chính trước Trong sự vắng bóng quy định này, trong năm tài chính tiếp theo, những cổ đông ưu đãi cổ tức sẽ được chi trả cổ tức
Trang 40như thế nào; được hưởng cổ tức cộng dồn hay chỉ được hưởng cổ tức của năm tiếp theo v.v…?
Nói tóm lại, quy định về cổ phần ưu đãi cổ tức mặc dù đã được các nhà làm luật đưa ra nhưng còn quá chung chung, chưa tạo ra nền tảng pháp lý cần thiết để các NHTMCP thực thi trong quá trình loại cổ phiếu này lưu hành Vì vậy, quyền lợi của các cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi cổ tức không được bảo vệ thoả đáng
2.2.2 Quy định về niêm yết cổ phiếu của NHTMCP không còn phù hợp và không
khuyến khích được các NHTMCP thực hiện niêm yết
Việc niêm yết cổ phiếu NH trên thị trường chứng khoán không chỉ làm tăng tính thanh khoản, tính hấp dẫn của các loại cổ phiếu này mà còn buộc các NHTMCP minh bạch hóa thông tin kinh doanh theo yêu cầu của LCK 2006 Với những lợi ích cho nhà nước và cho cả nhà đầu tư từ sự minh bạch hoá thông tin nói trên, việc niêm yết cổ phiếu của NHTMCP cần được khuyến khích mạnh mẽ Tuy nhiên, quy định tại Quyết định số 787/2004/QĐ-NHNN ngày 24/06/2004 ban hành Quy định tạm thời về việc NHTMCP đăng ký niêm yết và phát hành cổ phiếu ra công chúng (sau đây được gọi tắt là Quyết định số 787/2004/QĐ-NHNN) và Công văn số 7430/NHNN-TTGSNH ngày 24/09/2009 của NHNN đang làm chậm tiến độ niêm yết cổ phiếu của các NHTMCP
Thứ nhất, quy định buộc các NHTMCP phải được NHNN chấp thuận bằng văn bản trước khi nộp hồ sơ đăng ký niêm yết cho Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK) hay Trung tâm giao dịch chứng khoán (TTGDCK) không phù hợp với quy định về hồ sơ đăng ký niêm yết trong LCK 2006 và Nghị định số140/2007/NĐ-
CP vì theo các quy định này, hồ sơ đăng ký niêm yết không cần được sự chấp thuận của cơ quan quản lý chuyên ngành Nói cách khác, việc kiểm soát của NHNN trước khi đăng ký niêm yết là không cần thiết trong quá trình SGDCK/TTGDCK xem xét, chấp thuận hoặc từ chối đăng ký niêm yết đối với các NHTMCP Đồng thời, quy định này không còn phù hợp với chủ trương cải cách và đơn giản hoá thủ tục hành chính mà Đảng và Chính phủ đã và đang yêu cầu thực hiện trong những năm gần đây
Không những thế, Quyết định số 787/2004/QĐ-NHNN ngày 24/06/2004 đã được ban hành cách đây gần 06 năm Cở sở pháp lý để ban hành văn bản này là