1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện mối quan hệ giữa quốc hội và chính phủ trong quy trình lập pháp

67 238 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 465,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thứ ba, trong điều kiện chính trị của nước ta không có sự đối lập chính trị, vì vậy mối quan hệ giữa Quốc hội với Chính phủ trong hoạt động nói chung, hoạt động lập pháp nói riêng không

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Ngô Đức Mạnh

HÀ NỘI – 2010

Trang 2

Cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới người thầy đã giúp đỡ và chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện bản luận văn tốt nghiệp của mình đó là TS Ngô Đức Mạnh – Phó chủ nhiệm Ủy ban đối ngoại Quốc hội

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo đã giảng dạy kiến thức cho tôi trong suốt khóa học, cảm ơn Khoa Sau đại học Trường Đại học Luật Hà Nội cùng các bạn bè và những người thân đã giúp đỡ để tôi hoàn thành bản luận văn thạc sĩ này

Học viên

Đỗ Ngọc Thùy Trang

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU - 1

1 Tính cấp thiết của đề tài - 1

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài - 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn - 3

4 Mục đích nghiên cứu của luận văn - 4

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu - 4

6 Đóng góp mới về khoa học của luận văn - 5

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 5

8 Kết cấu của luận văn - 5

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong quy trình lập pháp - 6

1.1 Một số khái niệm cơ bản - 6

1.1.1 Quy trình lập pháp - 6

1.1.2 Mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong quy trình lập pháp - 9

1.2 Nội dung mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong quy trình lập Pháp 12

1.2.1 Mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong giai đoạn lập chương trình xây dựng luật, pháp lệnh 12

1.2.2 Mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong giai đoạn lập chương trình soạn thảo dự án luật, pháp lệnh 15

1.2.3 Mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong giai đoạn thẩm tra dự án luật, pháp lệnh 16

1.2.4 Mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong giai đoạn chỉnh lý luật, pháp lệnh 17

Trang 4

quy trình lập pháp 20

2.1 Mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong giai đoạn

lập chương trình xây dựng luật, pháp lệnh - 20 2.2 Mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong giai đoạn

soạn thảo dự án luật, pháp lệnh - 33 2.3 Mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong giai đoạn thẩm tra chỉnh

lý dự án luật, pháp lệnh 39

Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong quy trình lập pháp 43 3.1 Những yêu cầu đặt ra đối với việc hoàn thiện mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong quy trình lập pháp - 43

3.1.1 Yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do

dân, vì dân - 43 3.1.2 Yêu cầu xây dựng hệ thống pháp luật Việt Nam hợp

hiến, thống nhất, đồng bộ, công khai, minh bạch - 44 3.1.3 Yêu cầu bảo đảm yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế - 48 3.2 Một số giải pháp hoàn thiện mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong quy trình lập pháp 48 3.2.1 Đổi mới quy trình lập, thẩm tra chương trình xây dựng

luật, pháp lệnh - 48 3.2.2 Tăng cường tính chủ động của Chính phủ trong quá trình

xây dựng luật, pháp lệnh - 50 3.3.3 Tăng cường mối quan hệ giữa hội đồng dân tộc với các

ủy ban của Quốc hội Hội đồng dân tộc với các Ủy ban của

Chính phủ trong giai đoạn thẩm tra dự án luật, pháp lệnh - 50 3.3.4 Phân định rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong quy

trình xây dựng luật, pháp lệnh - 51

Trang 5

Quốc hội, Chính phủ trong quy trình lập pháp - 52 3.3.6 Nâng cao chất lượng hoạt động thông tin phục vụ công

tác xây dựng luật của Quốc hội - 53

KẾT LUẬN 57

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Điều 2 Hiến pháp năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết

số 51/2001/QH10 ngày 25-12-2001 của Quốc hội khoá X quy định: “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất Vì vậy mối quan

hệ giữa Quốc hội và Chính phủ nói trong trong cơ cấu quyền lực nhà nước

đóng một vai trò đặc biệt quan trọng đối với đời sống của nhà nước và xã hội

Trong số ba chức năng cơ bản của Quốc hội, chức năng lập pháp đóng vai trò đặc biệt quan trọng Công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đòi hỏi Nhà nước ta phải nhanh chóng hoàn thiện hệ thống pháp luật, xây dựng một hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ làm cơ sở pháp lý cho mọi hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị kinh tế và công dân Để thực hiện tốt chức năng lập pháp, cùng với hoạt động đổi mới và hoàn thiện tổ chức và hoạt động của chính cơ quan lập pháp (Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội) thì việc nghiên cứu hoàn thiện mối quan hệ giữa Quốc hội với các chủ thể có quyền lập pháp khác như Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên khác là một yêu cầu tất yếu

Trong quy trình lập pháp, giữa Quốc hội và Chính phủ có mối quan hệ mật thiết Là chủ thể có quyền sáng kiến lập pháp, Chính phủ tích cực thực

Trang 7

hiện quyền sáng kiến lập pháp của mình Thực tế cho thấy, số lượng các dự án luật do Chính phủ đệ trình chiếm hơn 80%, thậm chí có nhiệm kỳ chiếm hơn 90% tổng số dự án luật Bên cạnh đó, Chính phủ cũng được giao là cơ quan thậm định tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của tất cả các dự án luật trước khi trình các cơ quan của Quốc hội thẩm tra Như vậy có thể nói rằng chất lượng và hiệu quả của các văn bản luật do Quốc hội thông qua phụ thuộc rất nhiều vào mối quan hệ giữa Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội với Chính phủ, các cơ quan của Chính phủ trong quy trình lập pháp Vì vậy việc đổi mới

và hoàn thiện mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong quá trình lập pháp đóng một vai trò quan trọng đối với công cuộc hoàn thiện hệ thống pháp luật của nước ta hiện nay Chính vì vậy tác giả đã mạnh dạn chọn đề tài

“Hoàn thiện mối quan hệ giữa Quốc hội với Chính phủ trong quy trình lập pháp” làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học với mong muốn được đóng góp một phần nhỏ bé vào việc nghiên cứu cơ sở lý luận và giải pháp đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động lập pháp của Quốc hội

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Xuất phát từ tính chất quan trọng của vấn đề, trong những năm gần

đây, có khá nhiều sự quan tâm nghiên cứu về mối quan hệ giữa Quốc hội với Chính phủ với mục đích nghiên cứu, góc độ và phạm vi tiếp cận khác nhau, trong đó ít nhiều đề cập các vấn đề liên quan vấn đề này

Các chương trình nghiên cứu khoa học cấp nhà nước ”Xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân” – mã số KX-04 do GS VS Nguyễn Duy Quý làm chủ nhiệm Ngoài ra trong một số bài viết của các tác giả khác có nhiều công trình nghiên cứu nhằm hoàn thiện hơn bộ máy Nhà nước Ví dụ như các bài viết: ”Một số yếu tố tác động với hiệu quả hoạt động của Quốc hội” của tác giả Đặng Đình Luyến, ”Trao đổi về quy trình quyết

định những vấn đề quan trọng trong hoạt động của Quốc hội” ThS Nguyễn Quốc Thắng đăng trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 3,6 năm 2002, ”Về

Trang 8

hoàn thiện tổ chức và đổi mới nội dung hoạt động của các cơ quan chuyên môn của Quốc hội” của TS Bùi Ngọc Thanh đăng trên tạp chí Cộng sản số 22 tháng 8 năm 2002 Trên tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 2 năm 1997 có đăng bài viết ”Nhận thức về nguyên tắc tập quyền và khía cạnh trong vấn đề về quan hệ giữa lập pháp và hành pháp ở nước ta hiện nay” của TS Nguyễn Cửu Việt Sau đó ThS luật học Ngô Đức Tuấn tiếp tục nghiên cứu cụ thể hơn mối quan hệ giữa hoạt động lập pháp (Quốc hội) và hành pháp (Chính phủ) ở nước

ta (Bài viết đăng trên tạp chí Đặc san khoa học pháp lý TP HCM số 2 và 3 năm 2000

Đến năm 2007 có luận án tiến sĩ của Lê Thanh Vân về ”Cơ sở lý luận của việc đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội” Các hội thảo về ”Cải tiến quy trình, thủ tục tại kỳ họp Quốc hội” năm 2007, ”Tổ chức điều hành các công việc của Quốc hội”năm 2004do Văn phòng Quốc hội tổ chức Năm

2008 GS.TS Trần Ngọc Đường và TS Ngô Đức Mạnh với "Mô hình tổ chức

và hoạt động của Quốc hội, Chính phủ” trong nhà nước phỏp quyền xó hội chủ nghĩa Việt Nam ( Nhà xuất bản chính trị quốc gia - năm 2008)

Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách

có hệ thống về vấn đề Mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong quá trình lập pháp Các công trình khoa học nói trên đã có những đóng góp quý báu trong việc đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội nói chung, hoạt động lập pháp của Quốc hội nói riêng; đồng thời sẽ là tài liệu tham khảo có giá trị giúp học viên hoàn thành tốt luận văn của mình

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong quy trình lập pháp [cần chú ý trong toàn bộ bản luận án chỗ nào thì dùng chữ in nghiêng và ngược lại] có đối tượng và phạm vi nghiên cứu rất rộng, khó có thể thực hiện

đầy đủ trong điều kiện nghiên cứu đối với một luận văn cao học Vì vậy, luận văn tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận của mối quan hệ giữa Quốc hội và

Trang 9

Chính phủ trong quy trình lập pháp, chủ yếu là mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong khoảng thời gian từ nhiệm kỳ Quốc hội khoá X (1997-2002)

đến nay để qua đó đưa ra phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện mối quan

hệ Quốc hội và Chính phủ trong quy trình lập pháp ở nước ta hiện nay

4 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn mối quan hệ giữa Quốc hội

và Chính phủ trong quy trình lập pháp, luận văn đặt ra nhiệm vụ đề xuất kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện mối quan hệ này, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động lập pháp của Quốc hội trong thời gian tới Để đạt

được mục đích này, luận văn có nhiệm vụ sau:

- Khái quát quy trình lập pháp và phân tích cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong quy trình lập pháp;

- Đánh giá thực trạng mối quan hệ giữa Chính phủ và Quốc hội trong quy trình lập pháp;

- Đề xuất yêu cầu và kiến giải một số giải pháp nhằm hoàn thiện mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong quy trình lập pháp

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành mục đích và những nhiệm vụ được đặt ra, luận văn

được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, về tổ chức bộ máy nhà nước; các quan

điểm, chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước và hệ thống pháp luật Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Đề tài của luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin cả chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; đồng thời sử dụng các phương pháp nghiên cứu của các ngành khoa học khác như: phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp

Trang 10

khái quát hóa; phương pháp quy nạp và diễn dịch; phương pháp của lý thuyết

hệ thống; phương pháp phân tích quy phạm cụ thể, phương pháp của luật so sánh và tham khảo kinh nghiệm nước ngoài

6 Đóng góp mới về khoa học của luận văn

Luận văn là công trình nghiên cứu tương đối có hệ thống về lý luận và thực tiễn mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong quy trình lập pháp; phân tích khái quát thực trạng để chỉ ra những nguyên nhân cơ bản của thành công cũng như những bất cập, hạn chế trong mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong quy trình lập pháp Từ đó, kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện mối quan hệ này góp phần nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp của Quốc hội ở nước ta hiện nay

7 ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Với kết quả đạt được, luận văn sẽ góp phần làm sáng tỏ và hoàn thiện cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý của mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong quy trình lập pháp Đồng thời, luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy vấn đề liên quan đến hoạt động lập pháp của Quốc hội

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương

Chương I: Mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong quy trình lập pháp

Chương II: Thực trạng mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong quy trình lập pháp

Chương III: Phương hướng hoàn thiện mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong quy trình lập pháp

Trang 11

CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ Lí LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA QUỐC HỘI VÀ CHÍNH PHỦ TRONG QUY TRèNH LẬP PHÁP 1.1 Một số khỏi niệm cơ bản

“Quy trình” là một thuật ngữ Hán - Việt được sử dụng khá phổ biến trong sinh hoạt xã hội Trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức, thì “quy trình càng được sử dụng rộng rãi hơn Bởi vậy, cách hiểu về thuật ngữ này khá thống nhất: đó là những thủ tục mà các chủ thể phải tiến hành khi xúc tiến một hoạt động nào đó Theo nghĩa tiếng Hán thì “ quy” có nghĩa là trù tính, dữ liêu; “ trình” có nghĩa là đường đi, cách thức; nghĩa là thứ tự các bước tiến hành trong một quá trình nào đó Theo từ điển tiếng Việt, quy trình là các bước, trình tự phải tuân theo khi tiến hành công việc nào đó.Như vậy khái niệm quy trình không được đặt ra khi chỉ có một hoạt động đơn lẻ, quy trình chỉ được nói đến khi có nhiều hoạt động khác nhau cần phải tiến hành theo một thứ tự nhất định để hoàn thành một công việc nhất định với kết quả cao nhất và chi phái thấp nhất

Lập pháp là một trong ba chức năng của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất được thực hiện liên tục nhằm tạo ra những văn bản quy phạm quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao, làm cơ sở cho cho việc xây dựng và thực hiện cả hệ thống pháp luật Đây là quá trình phức tạp bao gồm rất nhiều

Trang 12

hoạt động cụ thể có liên quan mật thiết với nhau Mỗi hoạt động cụ thể trong

đó được tiến hành bởi các chủ thể khác nhau như cơ quan, tổ chức, cá nhân soạn thảo dự án (gọi chung là cơ quan soạn thảo); cơ quan thẩm định dự án; cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia đóng góp ý kiến cho dự án; cơ quan thẩm tra, cơ quan thông qua dự án Tất cả các hoạt động này đều hướng tới mục

đích chung là tạo ra luật, pháp lệnh có chất lượng cao, nhưng mỗi hoạt động trong đó lại có mục đích cụ thể riêng Những hoạt động này nằm trong một chuỗi hoạt động diễn ra theo thứ tự nhất định, hoạt động sau kế thừa, củng cố kết quả của hoạt động trước Nhu cầu liên kết, phối hợp hoạt động của các chủ thể khác nhau trong một hoạt động chung, thống nhất là một yếu tố khách quan Nếu quá trình xây dựng Luật, pháp lệnh thiếu đi những hoạt động nào

đó hoặc thứ tự các hoạt động thay đổi thì các hoạt động cụ thể sẽ khó thực hiện có kết quả, sự phối hợp giữa các chủ thể tham gia vào quy trình xây dựng luật, pháp lệnh sẽ khó khăn, thời gian xây dựng Luật, pháp lệnh sẽ bị kéo dài, chi phí xây dựng Luật, pháp lệnh lớn, chất lượng của Luật, pháp lệnh sẽ bị ảnh hưởng Để đảm bảo hoạt động lập pháp được tiến hành thống nhất, khoa học, pháp luật quy định những hoạt động bắt buộc phải tuân theo và thứ tự tiến hành các hoạt động trong đó quá trình xây dựng luật, pháp lệnh Toàn bộ nội dung này được gọi là quy trình lập pháp

Quy trình lập pháp được quy định trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật hiện hành Đó là kết quả của quá trình nghiên cứu, đúc rút kinh nghiệm thực tế trong một thời gian dài qua những giai đoạn khác nhau của lịch sử, là một trong các yếu tố quyết định đến chất lượng của hệ thống pháp luật Tuy nhiên, lập pháp là hoạt động không có mục đích tự thân mà là hoạt động đấp ứng nhu cầu điều chỉnh pháp luật của xã hội Một khi tồn tại xã hội có những thay đổi nhất định thì không chỉ các văn bản là sản phẩm của hoạt động lập pháp phải thay đổi mà bản thân bản thân hoạt động lập pháp cũng phải có những thay đổi tương ứng

Trang 13

Như vậy, quy trình lập pháp là toàn bộ các khâu, các bước, các giai

đoạn cần tiến hành theo trình tự nhất định được ấn định trong luật nhằm bảo

đảm cho hoạt động ban hành luật, pháp lệnh của Quốc hội, ủy ban thường vụ Quốc hội đạt được kết quả cao nhất

Với cách hiểu như vậy, quy trình lập pháp có những đặc điểm sau:

Quy trình lập pháp do pháp luật quy định: Như trên đã nói, lập pháp là hoạt động tạo ra các văn bản pháp luật, có hiệu lực pháp lý cao, bất cứ một sai sót nhỏ nào trong hoạt động lập pháp cũng có thể gây ra nhứng hậu quả đáng

kể cho xã hội, nên hoạt động này bao gồm những hoạt động cụ thể nào? Ai thực hiện? thực hiện như thế nào? với thứ tự các hoạt động đó ra sao là vấn đề không thể tuỳ tiện, chủ quan theo cách nhìn nhận của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào mà cần phải được quy định rõ ràng, cụ thể bằng pháp luật, tức là bằng những quy phạm có giá trị bắt buộc đối với mọi cá nhân, tổ chức tham gia quy trình này Mặt khác, lập pháp là hoạt động thể thiện rõ rệt tính quyền lực nhà nước Cũng như mọi hoạt động sử dụng quyền lực nhầ nước, hoạt

động lập pháp phải được pháp luật quy định để giới hạn thẩm quyền, ràng buộc trách nhiệm của các chủ thể có liên quan Đồng thời việc quy định quy trình lập pháp trong pháp luật cũng là chỉ ra con đường rõ rang, cụ thể, tạo

điểu kiện thuận lợi cho các cơ quan, tổ chức, các nhân tham gia hoạt động xây dựng luật, pháp lệnh không phải tự mình tìm kiếm, mày mò cách thức xây dựng các văn bản đó

Quy trình lập pháp là quy trình xây dựng luật, pháp lệnh: Trong hệ thống pháp luật có rất nhiều loại văn bản quy phạm pháp luật khác nhau Mỗi nhóm văn bản có quy trình xây dựng riêng Có thể nhận xét chung rằng các văn bản có hiệu lực pháp lý càng thấp thì quy trình xây dựng càng đơn giản, các văn bản có hiệu lực pháp lý càng cao thì quy trình xây dựng cáng phức tạp Sở dĩ có thực tế đó là việc xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật nói chung, luật, pháp lệnh nói riêng cần phải được thực hiện hết sức cẩn trọng để tránh hậu quả đáng xấu cho toàn xã hội do việc tạo ra các văn bản bất

Trang 14

hợp pháp hoặc bất hợp lý Một quy trình phức tạp, chi tiết có khả năng hạn chế

sự bất cẩn, nóng vội, sơ xuất trong xây dựng pháp luật Ngược lại các văn bản

có hiệu lực pháp lý thấp ít ảnh hưởng đến các văn bản khác trong hệ thống pháp luật nên một quy trình đơn giản cũng có thể đảm bảo chất lượng của các văn bản được tạo ra Quy trình phức tạp trong trường hợp đó chỉ làm mất thời gian, chậm trễ quá trình xây dựng pháp luật một cách không cần thiết Như vậy quy trình lập pháp chỉ được sử dụng để xây dựng luật, pháp lệnh, các văn bản quy phạm pháp luật khác được xây dựng theo các quy trình khác

Quy trình lập pháp có tính ổn định cao: Tính ổn định cao của quy trình lập pháp thể hiện ở chỗ các khâu, các bước, các giai đoạn được định ra trong quá trình xây dựng luật, pháp lệnh, trật tự các hoạt động phải tiến hành vầ quyền tham gia vào các hoạt động đó của cơ quan, tổ chức, cá nhân tương đối

ổn định qua thời gian Sự ổn định này là cần thiết vì nếu quy trình lập pháp thường xuyên thay đổi tất yếu sẽ xáo trộn một trong những hoạt động quan trọng nhất của Nhà nước- hoạt động lập pháp, khó có thể đảm bảo chất lượng của luật, pháp lệnh là sản phẩm trực tiếp của hoạt động này và như vậy đương nhiên sẽ kéo theo nhiều sự thay đổi bất lợi trong cấc hoạt động khác Song cũng không nên tuyệt đối hoá tính ổn định của quy trình lập pháp dẫn đến sự xơ cứng các quy định của pháp luật và hoạt động xây dựng văn bản trên thực

tế Sự thường xuyên nghiên cứu thực tiễn lập pháp của Việt Nam và các nước khác để rút kinh nghiệm là cần thiết, sự thích ứng của hoạt động lập pháp với những biến đổi của thực tiễn quản lý trong điều kiện mới đòi hỏi khách quan Nói cách khác, sự ổn định không có nghĩa là bất biến, nhưng sự thay đổi vẫn phải bảo đảm tính ổn định cao cho quy trình lập pháp

1.1.2 Mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong quy trình lập pháp

Theo từ Điển tiếng Việt “Quan hệ” là sự liên quan giữa 2 đối tượng hay hoặc 2 nhóm đối tượng Trong triết học “Quan hệ” là sự phụ thuộc vào nhau của các yếu tố (phần tử) trong một hệ thống nhất định Như vậy nói đến quan

Trang 15

hệ là nói đến sự liên quan, sự phụ thuộc của 2 hay nhiều chủ thể về một hay những vấn đề nhất định nào đó

Mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong quy trình lập pháp là sự liên quan, phụ thuộc giữa hai chủ thể trong bộ máy nhà nước về vấn đề lập pháp Khác với các mối quan hệ khác, mối quan hệ giưa hai chủ thể trong lĩnh vực lập pháp có những đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, đây là mối quan hệ giữa hai chủ thể trong cơ cấu quyền lực nhà nước Trong đó, Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp, Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất Hoạt động của Chính phủ được thực hiện trên cơ sở những văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội ban hành Cần nhận thấy rằng, tính lệ thuộc của Chính phủ là việc chấp hành các đạo Luật, Nghị quyết do Quốc hội ban hành và về phần mình, là cơ quan hành chính của nhà nước, Chính phủ có toàn quyền để quản lý, chỉ đạo, điều hành các hoạt động hành chính nhà nước Với ý nghĩa này, Chính phủ phải là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của quốc gia.Với vai trò là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất mà Chính phủ

có quyền ban hành các văn bản pháp quy trong trường hợp không có quy phạm cụ thể của lập pháp, hoặc lập pháp còn ở dạng nguyên tắc chung, muốn thực hiện phải có văn bản hướng dẫn thi hành của Chính phủ

Trên thực tế, vai trò của Chính phủ cũng đã thay đổi từ một Chính phủ quản lý thống nhất mọi lĩnh vực của đời sống xã hội đến một Chính phủ làm việc xây dựng thể chế, chuẩn bị và tập trung hơn vào việc chuẩn bị và xây dựng chính sách ở tầm vĩ mô Đây là điểm nổi bật trong hoạt động của Chính phủ hiện nay so với trước đây.Từ năm 1992 đến đầu năm 2000, theo số liệu

đăng ở Công báo, các cơ quan nhà nước ở trung ương đã ban hành được 4.869 văn bản pháp luật các loại thì có đến 651 Nghị định, 838 quyết định và 182 chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ Trong đó số lượng các dự án luật, pháp lệnh

mà Chính phủ thông qua để trình Quốc hội, Uỷ ban thường Vụ Quốc Hội ban hành không ngừng tăng nhanh; năm 1999 là 12 dự án luật (2 luật, 10 pháp

Trang 16

lệnh); năm 2000 là 11 dự án ( 5 luật, 6 pháp lệnh ); năm 2001 là 22 dự án ( 11 luật, 10 pháp lệnh, 1 nghj quyết); năm 2002 là 6 dự án ( 4 luật, 2 pháp lệnh ); năm 2003 là 34 dự án ( 20 luật, 14 pháp lệnh ) và 6 tháng đầu năm 2004 11 dự

án ( 9 luật và 2 pháp lệnh),v.v

Từ đó, điểm thành công nổi bật thể hiện vai trò của Chính phủ là ở chỗ Chính phủ, bằng hoạt động cụ thể của mình, góp phần bảo đảm tính thống nhất, liên tục của hệ thống hành chính và sự phối hợp chặt ché giữa 2 cơ quan hành pháp và lập pháp để tạo thành cơ chế tổng thể thực hti quyền lực và hiệu quả quản lý chung của nhà nước

Thứ hai, là cơ quan lập pháp duy nhất nhưng Quốc hội không trực tiếp soạn thảo nội dung của tất cả các văn bản luật, pháp lệnh Đa số văn bản luật, pháp lệnh do Quốc hội, UBTVQH thông qua đều do Chính phủ soạn thảo Như vậy, quyền lập pháp của Quốc hội được thực hiện trên cơ sở quyền trình

dự án luật, pháp lệnh của Chính phủ Trong những năm gần đây, hoạt động của Chính phủ đã tiến hành đều dặn, mỗi tháng họp 1 lần kéo dài trong khoảng 1 đến 2 ngày Chính phủ có kế hoạch làm việc theo tháng; Thủ tướng

và phó Thủ tướng có kế hoạch làm việc cụ thể theo tuần Về mặt nội dung, Chính phủ, Thủ tướng đã tập trung nhiều hơn vào việc xây dựng thể chế, thảo luận và thông qua các dự án tại các phiên họp của Chính phủ Kết quả là Chính phủ đã ban hành một số lượng lớn các văn bản quy phạm pháp luật với chất lượng ngày càng cao hơn nhằm phục vụ tốt công tác quản lý và chỉ đạo,

điều hành của mình

Thứ ba, trong điều kiện chính trị của nước ta không có sự đối lập chính trị, vì vậy mối quan hệ giữa Quốc hội với Chính phủ trong hoạt động nói chung, hoạt động lập pháp nói riêng không có sự đối lập trong mục đích xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật Luật do Quốc hội ban hành là thể chế hóa đường lối lãnh đạo của Đảng, chính sách của Nhà nước Hiện nay, Nhà nước ta đang phấn đấu thực hiện mục tiêu xây dựng Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân Quốc hội ở nước ta được tổ chức

Trang 17

theo cơ cấu 1 viện nhằm đảm bảo Quốc hội là nơi tập trung, thống nhất ý chí, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân, đảm bảo quyền lực nhà nước là thống nhất, thực quyền, không phân chia và chia cắt ngay trong bản thân Quốc hội Chính phủ có vai trò đảm bảo tôn trọng, chấp hành Hiếp pháp và pháp luật do Quốc hội ban hành, đây là vai trò cực kỳ to lớn của Chính phủ trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt nam Hiến pháp, luật do Quốc hội ban hành

là phương tiện hàng đầu để quản lý nhà nước và quản lý xã hội, phải đi vào cuộc sống và được mọi người tôn trọng và chấp hành Với vị trí là cơ quan

đứng đầu bộ máy nhà nước, Chính phủ phải đảm đương chức năng tổ chức và thực hiện pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc sống, làm cho pháp luật trở thành phương tiện đầy hiệu lực và hiệu quả trong quản lý nhà nước Vì thế Hiến pháp, luật của Quốc hội ban hành chỉ có thể trở thành hiện thực trong đời sống nhà nước và đời sống xã hội khi được Chính phủ tổ chức chỉ đạo trong quá trình thực hiện chức năng quản lý nhà nước bằng hoạt động lập quy (cụ thể hoá đúng đắn và kịp thời luật và nghị quyết của Quốc hội) đồng thời tuyên truyền, phổ biến chúng ý thức pháp luật, văn hoá pháp lý của quần chúng có

được năng cao hay không phụ thuộc phần lớn vào vai trò tổ chức, chỉ đạo thực hiện pháp luật của Chính phủ trên quy mô toàn xã hội

1.2 Nội dung của mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong quy trình lập pháp

1.2.1 Mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong giai đoạn lập chương trình xây dựng luật, pháp lệnh

Lập chương trình xây dựng luật, pháp lệnh là một đặc điểm trong hoạt

động lập pháp của Quốc hội nước ta, xuất phát từ điều kiện và hoàn cảnh thực

tế ở việt nam Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh đặt ra nhiệm vụ, kế hoạch xây dựng luật, pháp lệnh trong từng thời gian cụ thể, có thể là cho cả hai nhiệm kỳ hoặc cho từng năm công tác hoặc kỳ họp Quốc hội

Trang 18

Bản chất của việc lập chương trình xây dựng luật, pháp lệnh là kế hoạch hóa công tác xây dựng luât, pháp lệnh của nhà nước ta, góp phần làm cho trủ chương, đường lối của Đảng, ý chí và nguyện vọng của nhân dân được thể chế hóa thành pháp luật một cách có khoa học và khả thi.Đồng thời việc lập chương trình xây dựng luật, pháp lệnh còn góp phần xác định thứ tự ưu tiên trong công tác chuẩn bị các dự án luật, pháp lệnh qua đó bảo đảm tính chủ

động hơn trong công tác xây dựng pháp luật

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, từ mong muốn chủ quan ban hành nhiềuluật,

và pháp lệnh để điều chỉnh các quan hệ xã hội đa dạng của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa đang còn thay đổi, nên chương trình tuy đã được Quốc hội thông qua vẫn phải điều chỉnh hàng năm và có tính khả thi chưa cao, nhất là chương trình xây dựng luật, pháp lệnh cho cả nhiệm kỳ của Quốc hội.Do đó cần xác định thứ tự ưu tiên của việc ban hành văn bản, đồng thời, chương trình, kế hoạch xây dựng luật, pháp lệnh phải được tính toán căn cứ vào những luận chứng khoa học, có thông tin đầy đủ, khách quan

Hiện nay việc lập chương trình xây dựng luật, pháp lệnh đã được quy

định trong luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo một quy trình nhất

định gồm các bước như: a) đề xuất kiến nghị, b) Lập dự kiến chương trình, c)thẩm tra dự kiến chương trình, d)Lập dự án chương trình xây dựng luật, pháp lệnh,e) quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh ( Điều 22) và cúng chính là nhằm đảm bảo cho hoạt động này hoạt động có hiệu quả và ổn

Trang 19

Bộ Tư pháp có trách nhiệm giúp Chính phủ lập đề nghị về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh trên cơ sở đề xuất của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ

Chính phủ xem xét, thảo luận về đề nghị về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh theo trình tự sau đây:

- Đại diện Bộ Tư pháp trình bày dự thảo đề nghị về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh;

- Đại diện cơ quan, tổ chức được mời tham dự phiên họp phát biểu ý kiến;

- Chính phủ thảo luận;

- Chính phủ biểu quyết thông qua đề nghị về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh Sau đó chương trình này được gửi đến Uỷ ban thường vụ Quốc hội để lập dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm, đồng thời

được gửi đến uỷ ban pháp luật để thẩm tra

Trước khi gửi đề nghị, kiến nghị về luật, pháp lệnh đến Uỷ ban thường

vụ Quốc hội, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội phải gửi đề nghị, kiến nghị của mình đến Chính phủ để Chính phủ phát biểu ý kiến

Uỷ ban pháp luật tập hợp và chủ trì thẩm tra đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội và kiến nghị về luật, pháp lệnh của đại biểu Quốc hội

Nội dung thẩm tra tập trung vào sự cần thiết ban hành, phạm vi, đối tượng điều chỉnh, chính sách cơ bản của văn bản, tính đồng bộ, tính khả thi, thứ tự ưu tiên, điều kiện bảo đảm để xây dựng và thi hành văn bản

Sau khi thẩm tra Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét đề nghị, kiến nghị

về luật, pháp lệnh, Căn cứ vào đề nghị, kiến nghị về luật, pháp lệnh của cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội, ý kiến thẩm tra của Uỷ ban pháp luật, Uỷ ban thường vụ Quốc hội lập dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh trình Quốc hội xem xét, quyết định Trình tự được Quốc hội xem xét, thông

Trang 20

qua dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, sau khi dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh được Quốc hội thảo luận, cho ý kiến, Uỷ ban thường vụ Quốc hội chỉ đạo Uỷ ban pháp luật, Bộ Tư pháp và cơ quan, tổ chức

có liên quan nghiên cứu, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo nghị quyết của Quốc hội về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh và xây dựng báo cáo giải trình tiếp thu, chỉnh lý dự thảo nghị quyết; tiếp đó Uỷ ban thường vụ Quốc hội báo cáo Quốc hội về việc giải trình tiếp thu, chỉnh lý dự thảo nghị quyết của Quốc hội về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh;

Quốc hội biểu quyết thông qua nghị quyết của Quốc hội về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh

Lập chương trình xây dựng luật, pháp lệnh thực chất là xác định những vấn đề nào cần được điều chỉnh bằng luật, pháp lệnh Do đó, trong quá trình này CP và QH phải phối hợp với nhau để xác định các vấn đề cần, thực chất

là những ưu tiên cụ thể, để điều chỉnh bằng luật của QH Do đó, thông thường, nếu có cùng quan điểm, nhận thức như nhau thì dự kiến chương trình của CP trình sẽ được QH thông qua; có những vấn đề mà CP trình thì QH sau khi thảo luận, cân nhắc không nhất trí đưa vào Chương trình hoặc bổ sung thêm những nội dung, vấn đề mới hoặc thay đổi về mặt thời gian của việc ban hành các văn bản đó

1.2.2 Mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong giai đoạn soạn thảo dự thảo luật, pháp lệnh

Theo quy định của luật hiện hành Uỷ ban thường vụ Quốc hội thành lập ban soạn thảo và phân công chủ trì ban soạn thảo, trường hợp dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết do Chính phủ trình thì Chính phủ giao cho một bộ hoặc cơ quan ngang bộ chủ trì soạn thảo; cơ quan được giao chủ trì soạn thảo

có trách nhiệm thành lập Ban soạn thảo.Trong quá trình soạn thảo có sự tham gia của các các quan, tổ chức chủ trì soạn thảo đối với việc tổng kết thi hành pháp luật, đánh giá các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có liên quan

đến dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết, khảo sát, đánh giá thực trạng

Trang 21

quan hệ xã hội liên quan đến nội dung của dự án, dự thảo.Các cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội chỉ đạo ban soạn thảo trong quá trình soạn thảo, xem xét, quyết định việc trình Quốc hội dự án luật

Về thẩm định dự án luật, pháp lệnh dự thảo nghị quyết trước khi trình Chính phủ do Bộ Tư pháp có trách nhiệm Chính phủ thảo luận, xem xét quyết

định việc trình dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết, văn phòng Chính phủ chuẩn bị những nội dung cơ bản, những vấn đề còn có ý nghĩa khác nhau của dự án, dự thảo để báo cáo Chính phủ thảo luận

1.2.3 Mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong giai đoạn thẩm tra dự án luật, pháp lệnh

Tương tự như hoạt động thẩm định, thẩm tra dự án cũng là hoạt động kiểm tra trước văn bản pháp luật Dự án luật, pháp lệnh phải được thẩm tra bởi Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội Trong trường hợp Uỷ ban thường

vụ Quốc hội trình dự án luật thì Quốc hội thành lập cơ quan thẩm tra hoặc thành lập uỷ ban lâm thời để thẩm tra dự án luật đó, đối với dự án luật, pháp lệnh do Hội đồng dân tộc, các uỷ ban của Quốc hội trình thì uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định cơ quan thẩm tra Cơ quan thẩm tra có quyền yêu cầu cơ quan soạn thảo báo cáo những vấn đề thuộc nội dung dự án, có quyền tự mình hoặc cùng cơ quan soạn thảo tổ chức khảo sát thực tế những vấn đề thuộc nội dung dự án

Phạm vi thẩm tra gồm tất cả các khía cạnh khác nhau của dự án luật, pháp lệnh và tập trung vào các vấn đề:

Sự cần thiết ban hành luật, pháp lệnh

Sự phù hợp của nội dung dự án với đường lối, chủ chương, chính sách của Đảng

Tính hợp hiến, hợp pháp của dự án, tính thống nhất của văn bản với hệ thống pháp luật

Việc tuân thủ thủ tục soạn thảo

Tính khả thi của dự án

Trang 22

Dự án luật, pháp lệnh được thẩm tra một lần hoạc nhiều lần Trong đó thẩm tra sơ bộ là thẩm tra trước khi dự án được trình ủy ban thường vụ Quốc hội xin ý kiến, thẩm tra chính thức là thẩm tra trước khi dự án luật được gửi tới Quốc hội, dự án pháp lệnh được gửi tới ủy ban thường vụ Quốc hội để xem xét, thông qua.Khi tiến hành thẩm tra chính thức, cơ quan thẩm tra phải tiến hành họp toàn thể Trường hợp nhiều cơ quan tiến hành phối hợp thẩm tra thì cơ quan chủ trì thẩm tra phải tổ chức phiên họp liên tịch để thẩm tra.Báo cáo thẩm tra phải phản ánh đầy đủ ý kiến của các thành viên cơ quan thẩm tra

Có thể nói, tính chất, phạm vi hoạt động thẩm tra gần giống hoạt động thẩm định Điểm khác nhau căn bản giữa hai hoạt động này là thẩm định được tiến hành bởi Bộ Tư pháp- cơ quan hành chính nhà nước- tác động trực tiếp tới hoạt động xây dựng dự án của cơ quan soạn thảo, cơ quan soạn thảo tiếp thu ý kiến thẩm định, chỉnh lý nhằm hoàn thiện dự án trước khi trình chính phủ; thẩm tra được tiến hành bởi các cơ quan của Quốc hội, tác động của hoạt động thẩm tra không tác động trực tiếp tới cơ quan soạn thảo mà tác động tới uỷ ban thường vụ Quốc hội là cơ quan cho ý kiến về dự án luật, pháp lệnh, cơ quan thông qua pháp lệnh và tác động tới Quốc hội là cơ quan thông qua luật Căn cứ vào ý kiếm thẩm tra của cơ quan thẩm tra mà ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến về dự án luật để quyết định có nên trình dự án luật ra Quốc hội hay không Tại kỳ họp Quốc hội, báo cáo thẩm tra của cơ quan thẩm tra là nguồn thông tin rất quan trọng để các đại biểu Quốc hội căn cứ vào đó

mà có ý kiến đồng tình, không đồng tình, phát biểu phản biện về dự án luật

1.2.4 Mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong giai đoạn chỉnh lý

dự án luật, pháp lệnh

Khi dự án đã được hoàn thiện dần và trải qua các giai đoạn bắt buộc của thủ tục soạn thảo do pháp luật quy định và được các chủ thể có liên quan đánh giá là có chất lượng cao, đã thể hiện đầy đủ các nội dung cần thiết, không còn các ý kiến khác nhau về nội dung của dự án hoặc có ý kiến khác nhau về những vấn đề không cơ bản thì cơ quan soạn thảo sẽ trình dự án luật trước

Trang 23

quốc hội, trình dự án pháp lệnh trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội Các cơ quan này sẽ thảo luận thông qua dự án

Trong giai đoạn này Quốc hội xem xét, thông qua dự án luật, dự thảo nghị quyết tại một hoặc hai kỳ họp Quốc hội

Đối với dự án, dự thảo trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến và dự án, dự thảo trình Quốc hội xem xét, thông qua tại một kỳ họp thì chậm nhất là hai mươi ngày trước ngày khai mạc kỳ họp Quốc hội, hồ sơ dự án, dự thảo phải

được gửi đến đại biểu Quốc hội

Đối với dự án, dự thảo đã được tiếp thu, chỉnh lý theo ý kiến của đại biểu Quốc hội tại kỳ họp trước và được trình Quốc hội xem xét, thông qua tại kỳ họp sau thì chậm nhất là bốn mươi lăm ngày trước ngày khai mạc kỳ họp, Uỷ ban thường vụ Quốc hội có trách nhiệm gửi lấy ý kiến đại biểu Quốc hội,

Đoàn đại biểu Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các ủy ban của Quốc hội

Đoàn đại biểu Quốc hội, Thường trực Hội đồng dân tộc, Thường trực ủy ban của Quốc hội có trách nhiệm tổ chức thảo luận, góp ý kiến bằng văn bản và gửi về Văn phòng Quốc hội chậm nhất là hai mươi ngày trước ngày khai mạc

Trang 24

tiến hành tại một hoặc hai kỳ họp Quốc hộ nhưng với quy trình thông qua luật

đã được cải tiến

Trình tự xem xét, thông qua dự án luật tại một kỳ họp như sau:

Đại diện cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, thuyết trình về dự án

Đại diện cơ quan thẩm tra trình bày báo cáo thẩm tra

Quốc hội thảo luận về phiên họp toàn thể về những nội dung cơ bản và những vấn đề còn có ý kiến khác nhau của dự án.Trước khi thảo luận tại phiên họp toàn thể, dự án luật có thể được thảo luận tại tổ hoặc đoàn đại biểu Quốc hội.Trong quá trình thảo luận, cơ quan, tổ chức, đại biểu quốc hội trình dự án

có quyền trình bày, bổ sung những vấn đề liên quan tới dự án.ủy ban thường

vụ Quốc hội chỉ đạo đoàn thư ký họp tổng hợp ý kiến của Đại biểu Quốc hội.Trong trường hợp cần thiết, Quốc hội biểu quyết một số nội dung của dự

án luật để làm cơ sở cho việc chỉnh lý.Sau đó ủy ban thường vụ Quốc hội chỉ

đạo cơ quan chủ trì thẩm tra, cơ quan trình dự án, ủy ban pháp luật, Bộ Tư pháp và các cơ quan hữu quan căn cứ vào ý kiến của Đại biểu Quốc hội chỉnh

lý dự án ủy ban thường vụ Quốc hội báo cáo Quốc hội về việc tiếp thu, chỉnh

lý dự án Luật, pháp lệnh

Quốc hội nghe đọc dự thảo đã được chỉnh lý, thảo luận, biểu quyết thông qua một

số nội dung còn có ý kiến khác nhau và biểu quyết thông qua dự án luật, pháp lệnh Theo Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật hiện hành thì việc chỉnh lý

dự án luật (xem xét, thông qua tại một hoặc hai kỳ họp) là thuộc trách nhiệm chủ yếu của ủy ban thường vụ Quốc hội, cơ quan chủ trì thẩm tra của QH

QH và CP vẫn có mối quan hệ trong giai đoạn này nhưng chủ yếu CP giải trình thêm, cung cấp thông tin để chỉnh lý dự án luật; phối hợp với các cơ quan của

QH để hoàn thiện dự án

ý kiến của đại biểu QH thảo luận tại kỳ họp là nguồn thông tin cơ bản để chỉnh lý dự án luật Do đó, CP và QH phối hợp với nhau để cùng giải trình về những vấn đề mà các đại biểu nêu

Trang 25

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG MỐI QUAN HỆ GIỮA QUỐC HỘI VÀ CHÍNH PHỦ TRONG QUY TRèNH LẬP PHÁP

2.1 Mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ trong giai đoạn lập

chương trình xây dựng luật, pháp lệnh

Luật, pháp lệnh điều chỉnh những quan hệ xã hội cơ bản, quan trọng có

ý nghĩa quyết định đối với các lĩnh vực xã hội khác nhau.Khi một luật, pháp lệnh được ban hành sẽ tạo ra một trật tự pháp lý cần thiết trong lĩnh vực xã hội tương ứng, kéo theo sự ra đời, thay đổi nhiều văn bản dưới luật khác.Vì vậy, luật, pháp lệnh chỉ ra đời trong những điều kiện chín muồi về tầm quan trọng,

độ ổn định của các quan hệ xã hội mà luât, pháp lệnh điều chỉnh, cũng như các điều kiện kinh tế- xã hội để thực hiện luật, pháp lệnh.Mặt khác hoạt động xây dựng pháp luật nói chung là công việc thường xuyên, liên tục, phải đảm bảo tính thống nhất, thứ bậc, tính thống nhất tồn tại cao nên không thể tuỳ tiện, ngẫu hứng Hoạt động này phải được đặt trong tầm nhìn chiến lược mang tính tổng thể trong mối quan hệ với các công cụ quản lý khác nhằm mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân Đồng thời hoạt động xây dựng luật, pháp lệnh nằm trong rất nhiều hoạt động mà Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội và các cơ quan khác phải thực hiện nên hoạt động này phải tiến hành có sự cân nhắc, tính toán đến các yếu tố chủ quan, khách quan của tất cả các vấn đề có liên quan Chính vì vậy để hoạt động xây dựng luật, pháp lệnh mang tính chủ động, đáp ứng đúng, đủ nhu cầu điều chỉnh pháp luật trên thực tế thì hoạt động này phải được chương trình hoá.Việc xây dựng chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội mang tính tất yếu khách quan

Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội là văn bản mang tính pháp lý trong đó dự kiến nội dung, số lượng, tiến trình xây dựng luật, pháp lệnh trong một khoảng thời gian nhất định

Trang 26

Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh bao gồm chương trình xây dựng luật, pháp lệnh theo nhiệm ký của Quốc hội và chương trình xây dựng luật, pháp lệnh theo nhiệm kỳ hàng năm Chương trình xây dựng luât, pháp lệnh cả nhiệm kỳ được Quốc hội quyết định trong năm đầu tiên của mỗi khoá Quốc hội Trước đây việc xây dựng pháp luật được lên kế hoạch hàng năm làm cho hoạt động của cả Quốc hội, các cơ quan soan thảo, chủ trì, tham gia soạn thảo

đều bị động, nhiều quan hệ kinh tế- xã hội mới pháp sinh cần có pháp luật để

điều chỉnh lại chưa có văn bản để điều chỉnh ngay.Quốc hội khoá X ( 2002) đã có bước tiến đáng kể trong công tác xây dựng chương trình, xây dựng pháp luật Đây là khoá Quốc hội đầu tiên xây dựng chương trình xây dựng luật, pháp lệnh được ban hành trong thời gian qua Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh cho cả nhiệm kỳ, chương trình này được Quốc hội quyết

1997-định tại kỳ họp cuối năm của năm trước

Bản thân chương trình xây dựng luật, pháp lệnh là văn bản định hướng cho hoạt động xây dựng luật, pháp lệnh Việc thực hiện chương trình xây dựng luật, pháp lệnh và việc thực hiện các văn bản được nêu ra trong chương trình liên quan mật thiết tới những điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội, từ đó các quy

định của luật, pháp lệnh được xây dựng nên và sẽ được thực hiện sau này cũng như định hướng phát triển xã hội của Đảng và Nhà Nước.Vì vậy chương trình xây dựng luật, pháp lệnh phải được dựa trên những căn cứ nhất định:

Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh được dựa trên cơ sở đường lối, chính sách của Đảng: Đảng cộng sản Việt nam là Đảng cầm quyền Đảng lãnh

đạo nhà nước, lãnh đạo xã hội bằng việc đưa ra định hướng phát triển mọi mặt

đời sống xã hội Để xã hội phát triển theo đúng định hướng đó, pháp luật phải thể chế hoá đường lối, chính sách của Đảng thành quy phạm pháp luật Mọi sự thay đổi về đường lối, chính sách của Đảng đều được phản ánh trong pháp luật

mà trước hết là trong Hiến pháp, luật, pháp lệnh - các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao Khi xây dựng chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, các chủ thể có thẩm quyền đề xuất xây dựng chương trình phải căn cứ

Trang 27

định hướng phát triển kinh tế-xã hội của Đảng trong những khoảng thời gian dài( 5 năm, 10 năm hoặc thời gian dài hơn) để xác định điều chỉnh nhu cầu

điều chỉnh các quan hệ đó như thế nào Từ đó lựa chọn những nhóm quan hệ xã hội quan trọng cần và có khả năng điều chỉnh bằng luật hay pháp lệnh trong từng khoảng thời gian để đưa vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh thể hiện đúng định hướng chính trị trong điều chỉnh pháp luật

Chương trình xây dựng luật- pháp lệnh được xây dựng trên cơ sở chiến lược phát triển kinh tế- xã hội, quốc phòng, an ninh, yêu cầu quản lý nhà nước trong từng thời kỳ: Pháp luật là phương tiện quan trọng nhất để nhà nước quản

lý xã hội.Nói đến quản lý là sự tác động có mục đích, có định hướng, là hoạt

động chủ động, có kế hoạch.Mọi lĩnh vực xã hội đều được nhà quản lý xác

định cần phải được thay đổi, phát triển theo chiều hướng nào? với tốc độ như thế nào? để từ đó định ra những biện pháp quản lý thích hợp Như vậy giữa pháp luật với tư cách là phương tiện quản lý và chiến lược phát triển mọi mặt

đời sống với tư cách là đối tượng, nội dung quản lý phải phù hợp với nhau Nếu chương trình xây dựng luật, pháp lệnh không phù hợp với chiến lược phát triển mọi mặt đời sống xã hội thì pháp luật không thể đóng vai trò phương tiện quản lý đúng nghĩa, thậm chí pháp luật có thể cản trở sự phát triển xã hội Các quan hệ xã hội nảy sinh và tồn tại trong điều kiện kinh tế- xã hội cụ thể, mỗi nhóm quan hệ có vị trí khác nhau trong đời sống và có nhu cầu điều chỉnh khác nhau.Có những quan hệ cần được điều chỉnh bằng pháp luật, có những quan hệ cần được điều chỉnh bởi các quy phạm xã hội thuần tuý.Chính các quan hệ cần điều chỉnh bởi pháp luật cũng có nhu cầu điều chỉnh ở mức độ khác nhau.chỉ những quan hệ xã hội cơ bản, quan trọng và có ổn định tương

đối cao mới có nhu cầu điều chỉnh bởi các văn bản có hiệu lực pháp lý cao như luật, pháp lệnh.Vì vậy khi xây dựng chương trình xây dựng luật, pháp lệnh cần xác định đúng nhu cầu điều chỉnh pháp luật của các quan hệ xã hội ở mức nào nhằm lựa trọn đúng những vấn đề cần ban hành luật, pháp lệnh điều chỉnh để đưa vào chương trình

Trang 28

Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh cần phải phù hợp với nhu cầu hội nhập quốc tế: Trong điều kiện đa phương hoá, đa dạng hoá các mối quan hệ cũng như xu hướng toàn cầu hoá hiện nay,Việt Nam ngày càng chịu sự giàng buộc của nhiều điều ước quốc tế song phương và đa phương Việc xây dựng pháp luật hiện nay không chỉ đáp ứng nhu cầu điều chỉnh các quan hệ mang tính chất truyền thống giữa các chủ thể cùng mang quốc tịch Việt Nam mà còn phải điều chỉnh nhiều quan hệ xã hội mới nảy sinh với sự tham gia của các chủ thể ngày càng đa dạng Đồng thời trong môi trường giao lưu quốc tế mạnh mẽ và cạnh tranh gay gắt, pháp luật trong nước luôn được đặt trong mối quan hệ, trong sự so sánh pháp luật của các quốc gia khác về những vấn đề tương tự nhau.vì vậy nhu cầu xây dựng luật, pháp lệnh còn xuất phát từ chính nhu cầu hội nhập quốc tế nhằm tạo nên sự hài hoà giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật của các nước trên thế giới và trong khu vực về những vấn đề nhất

định.Thực tế mấy năm qua cho thấy rất nhiều luật, pháp lệnh phải sửa đổi, bổ sung không phải vì những lý do xuất phát trực tiếp từ những thay đổi về kinh tế- xã hội trong nước mà do nhu cầu hội nhập quốc tế

Chương trình xây dựng luật- pháp lệnh cần được xây dựng phù hợp với năng lực xây dựng pháp luật của Quốc hội,Uỷ ban thường vụ Quốc hội: Nhu cầu điều chỉnh pháp luật là yếu tố khách quan trong khi khả năng xây dựng pháp luật thì lại mang nhiều yếu tố chủ quan nếu chương trình xây dựng luật, pháp lệnh chỉ thuần tuý chú ý đến nhu cầu xây dựng luật, pháp lệnh xuất phát

từ thực tiễn quản lý và từ đường lối, chính sách của Đảng thì có thể việc thực hiện chương trình sẽ gặp nhiều khó khăn Đối với Việt nam hiện nay do sự chuyển đổi về kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ keo theo sự thay đổi của các lĩnh vực xã hội khác, đồng thời chịu sự tác động của các yếu tố quốc tế đa dạng, đa chiều nên nhu cầu ban hành văn bản pháp luật mới, sửa đổi, bổ sung văn bản hiện hành rất lớn Tỷ trọng luật, pháp lệnh trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật còn thấp Trong khi đó khả năng xây dựng pháp luật nói chung và xây dựng luật, pháp lệnh nói riêng khá hạn chế trong nhiều năm trước đây( vì

Trang 29

nhiều lý do khác nhau) nên có thể nói nhu cầu xây dựng luật, pháp lệnh hiện nay lớn hơn khả năng xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội xây dựng, Uỷ ban thường vụ Quốc hội Do đó khi xây dựng chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nếu không cân đối giữa nhu cầu xây dựng và khả năng xây dựng luật, pháp lệnh thì chương trình sẽ chữa đựng số lượng dự án lớn hơn khả năng xây dựng Khi đó hoặc là việc xây dựng pháp luật trên thực tế cố gắng đảm bảo số lượng sẽ không đảm bảo được chất lượng văn bản, hoặc sẽ chỉ xây dựng một phần kế hoặch đề ra Như vậy sẽ không đảm bảo được ý nghĩa chủ yếu của việc lập chương trình là tạo nên sự chủ động và xác định được trọng tâm, trọng điểm của hoạt động xây dựng pháp luật

Nội dung chương trình xây dựng luật, pháp lệnh gồm danh mục các dự

án luật, pháp lệnh cần được xây dựng, danh mục các dự án luật, pháp lệnh cần xây dựng, danh mục các dự án luật chuẩn bị trình Quốc hội cho ý kiến, danh mục dự án luật, pháp lệnh chuẩn bị trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua; thời hạn cho ý kiến, thời hạn dự kiến thông qua các dự án luật, pháp luật, trách nhiệm của các cơ quan trong việc soạn thảo, thẩm tra, chỉ đạo, thực hiện chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hợp lý, có giá trị định hướng cho hoạt động xây dựng pháp luật rất cao, trong đó thể hiện trọng tâm, trọng

điểm của hoạt động xây dựng pháp luật nhất là trong điều kiện nhu cầu điều chỉnh pháp luật rất lớn mà khả năng xây dựng pháp luật còn hạn chế hiện nay Trên thực tế trong chương trình xây dựng luật, pháp lệnh Chính phủ soạn thảo dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh về những vấn đề thuộc phạm vi, chức năng quyền hạn của mình và trình trước ủy ban thường vụ quốc hội.Đồng thời Chính phủ sẽ nêu ý kiến của mình về đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của các cơ quan khác, tổ chức, đại biểu Quốc hội, kiến nghị về luật, pháp lệnh của đại biểu Quốc hội.Sau đó ủy ban pháp luật của Quốc hội trủ chì và phối hợp với Hội đồng dân tộc và ủy ban khác của quốc hội trong việc thẩm tra dự kiến của Chính phủ về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh,

Trang 30

đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của các cơ quan, tổ chức, Đại biểu quốc hội, kiến nghị về Luật, pháp lệnh của Đại biểu Quốc hội

Lập chương trình xây dựng luật, pháp lệnh:

Đề xuất chương trình xây dựng luât, pháp lệnh:

Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh được đè xuất bởi nhiều chủ thể khác nhau, gồm:

- Các Bộ, cơ quan ngang bộ thuộc chính phủ;

- Các cơ quan, tổ chức có quyền trình dự án luật được quy định tại Điều

Có thể thấy, quyền đề xuất xây dựng chương trình xây dựng luật, pháp lệnh được quy định cho nhiều chủ thể như vậy nhằm phát hiện nhu cầu ban hành luật, pháp lệnh từ tất cả các góc độ khác nhau, bao gồm: các cơ quan thuộc cơ quan có thẩm quyền ban hành luật, pháp lệnh( Uỷ ban thường vụ Quốc hội,Hội đồng dân tộc, các uỷ ban của Quốc hội) chủ động phát hiện nhu cầu ban hành văn bản; các cơ quan quản lý hành chính nhà nước trong quá trình trực tiếp quản lý mọi mặt đời sống xã hội, trực tiếp tổ chức thực hiện văn bản pháp luật của Quốc hội,Uỷ ban thường vụ Quốc hội phát hiện nhu cầu ban hành mới, sửa đổi, bổ sung văn bản cũ; các cơ quan bảo vệ pháp luật( Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm soát nhân dân tối cao) trong quá trình áp dụng pháp luật có khả năng phát hiện những thiếu xót , khiếm khuyết bất cập của hệ thống pháp luật hiện hành; các đối tượng tác động của pháp luật cũng có thể

Trang 31

phát hiện nhu cầu ban hành văn bản từ góc độ là người trực tiếp phải thực hiện những quy định của pháp luật hay có những quyền, nghĩa vụ, lợi ích cần thực hiện, cần bảo vệ

Việc pháp luật quy định phạm vi đối tượng có quyền đề xuất chương trình xây dựng luật, pháp lệnh rộng như vậy không chỉ bảo đảm tính dân chủ của hoạt động xây dựng pháp luật mà còn tập trung trí tuệ của nhiều người vào hoạt động quan trọng này, đồng thời nhiều chủ thể khác nhau sẽ có khả năng phát hiện nhu cầu điều chỉnh pháp luật ở các góc độ khác nhau giúp cho chương trình có tính hoàn thiện, tránh chủ quan, phiến diện

Thủ tục lập chương trình xây dựng luật- pháp lệnh:

Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh được lập theo các bước sau:

Bước 1: Lập dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh: Đây là hoạt

động do chính phủ thựchiện với vai trò chủ đạo thuộc về Bộ Tư pháp và Văn phòng Chính phủ:

- Tiếp nhận đề nghị, kiến nghị xây dựng luật, pháp lệnh:

+ Đối với đề xuất của các cơ quan thuộc Chính phủ:

Các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ căn cứ đường lối, chính sách của Đảng, chiến lược phát triển và yêu cầu quản lý ngành, lĩnh vực

do mình phụ trách, lập dự kiến xây dựng luật,pháp lệnh trình Chính phủ;

+ Đối với đề xuất của các chủ thể khác:

Bộ tư pháp là cơ quan đầu mối tiếp nhận các đề gnhị, kiến nghị xây dựng luật, pháp lệnh của các chủ thể có quyền để đề xuất xây dựng luật, pháp lệnh:

Đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của các chủ thể có quyền trình dự án luật được quy định tại Điều 87 Hiến Pháp năm 1992( trừ Chính phủ) và kiến nghịi xây dựng luật, pháp lệnh của đại biểu Quốc hội được gửi đến Bộ tư pháp

để trình Chính phủ

Kiến nghị xây dựng luật, pháp lệnh của các tổ chức xã hội, các tổ chức kinh tế và công dân được gửi đến Bộ tư pháp;

Trang 32

Các đề nghị, kiến nghị xây dựng luật, pháp lệnh của các cá nhân, tổ chức phải thuyết minh về sự cần thiết ban hành luật, pháp lệnh, quan điểm chỉ

đạo xây dựng luật, pháp lệnh, phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, những nội dung cơ bản của luật, pháp lệnh; hình thức văn bản, dự báo tác động kinh tế- xã hội của văn bản dưj kiến ban hành; nguồn lực đảm bảo cho việc soạn thảo và tổ chức thi hành văn bản.Những nội dng này được làm rõ, tạo điều kiện cho các cơ quan có thẩm quyền lựa chọn đề nghị, kiến nghị đưa vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh

Lập dự thảo kiến nghị của Chính phủ về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh: Sau khi tiếp nhận các đề xuất xây dựng chương trình xây dựng luât, pháp lệnh do các chủ thể có quyền đề xuất gửi đến.Bộ tư pháp lập dự thảo Dự kiến của Chính phủ về chương trình xây dựng luât, pháp lệnh.Dự thảo này

được thẩm định bởi hội đồng lập dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh do Bộ trưởng Bộ Tư pháp thành lập có sự tham gia của đại diện Văn phòng Quốc hội, văn phòng Chính phủ, Bộ tài chính, Bộ Nội vụ, cơ quan, tổ chức có kiến nghị và các cơ quan, tổ chức có liên quan Hội đồng xem xét theo nguyên tắc tập thể, biểu quyết theo đa số

Thẩm tra dự thảo ý kiến của Chính phủ về chương trinh xây dựng luật, pháp lệnh: Văn phòng Chính phủ thẩm tra dự thảo dự kiến của Chính phủ về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, đồng thời gửi dự thảo và báo cáo thẩm tra đến các thành viên Chính phủ lấy ý kiến.các thành viên của Chính phủ phải gửi ý kiến bằng văn bản đến văn phòng chính phủ tổng hợp, trình thủ tướng chính phủ

Thẩm tra, dự thảo dự kiến của chính phủ về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh:Văn phòng Chính phủ thẩm tra,dự thảo dự kiến của Chính phủ về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, đồng thời gưỉ dự thảo và báo cáo thẩm tra đến các thành viên chính phủ lấy ý kiến.Các thành viên của Chính phủ phải gửi ý kiến bằng văn bản đến văn phòng Chính phủ để văn phòng chính phủ tổng hợp, trình thủ tướng Chính phủ

Trang 33

Chỉnh lý, dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh: Bộ tư pháp chủ trì, phối hợp với văn phòng Chính phủ chỉnh lý, dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh trình Chính phủ Việc chỉnh lý được tiến hành dựa trên các ý kiến đóng góp của các thành viên của Chính phủ và ý kiến của Thủ tướng Chính phủ

Trình dự kiến xây dựng luật, pháp lệnh:

Bộ trưởng Bộ Tư pháp thay mặt Chính phủ trình dự kiến của Chính phủ

về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội

Bước 2: Lập dự án chương trình xây dựng luật, pháp lênh: Uỷ ban thường vụ Quốc hội lập dự án chương trình xây dựng luật, pháp lệnh trình Quốc hội quyết định

Khi xét thấy cần thiết, Quốc hội điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh.Thủ tục điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh được tiến hành như lập chương trình xây dựng luật, pháp lệnh

Với thủ tục lập chương trình xây dựng luật, pháp lệnh như trên, có thể nói các đề nghị, kiến nghị xây dựng chương trình xây dựng luật, pháp lệnh đã

được cân nhắc, xem xét qua nhiều bước, bởi nhiều cơ quan khác nhau, đặc biệt là các cơ quan quản lý hành chính nhà nước- những cơ quan trựctiếp quản

lý mọi mật của đời sống xa hội có khả năng đánh giá tương đối chính xác nhu cầu điều chỉnh pháp luật và khả năng thực hiện pháp luật trên thực tế, khiến cho chương trình lập ra có tính hợp lý cao Tuy nhiên thực tế cho thấy, chất lượng của chương trình xây dựng luật, pháp lệnh vẫn chưa được đảm bảo, cụ thể là: tính ổn định của chương trình không cao, việc điều chỉnh chương trình khá thường xuyên; chương trình thiếu tính khả thi, nhiều dự án được đưa vào chương trình nhưng không thể soạn thảo được, phần lớn các chương trình đều không được hoàn thành đúng thời hạn, số lượng văn bản được ban hành luôn thấp hơn số dự án được đưa vào chương trình, tính dự báo của chương trình còn hạn chế, nhiều dự án phải điều chỉnh quá nhiều ngay trong quá trình soạn thảo hay văn bản mới được ban hành chưa lâu đã phải sửa đổi, bổ sung, thiếu

Ngày đăng: 01/04/2018, 17:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w