1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dân sự theo pháp luật dân sự việt nam

76 586 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hợp đồng dân sự được thành lập do sự hợp tác của các bên, có nghĩa là giữa các bên đã có một sự thỏa thuận nên mục đích giao kết hợp đồng của các bên luôn được đặt ra và hướng tới trong

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ NGỌC OANH

ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG DÂN SỰ

THEO PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT DÂN SỰ

MÃ SỐ: 60 38 30

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS BÙI ĐĂNG HIẾU

HÀ NỘI - 2010

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên của luận văn thạc sĩ này, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới thầy giáo, tiến sĩ Bùi Đăng Hiếu - Người đã hướng dẫn và giúp đỡ tôi hết sức tận tình từ lúc chọn đề tài cho đến khi hoàn thành luận văn Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo của khoa sau đại học, khoa Pháp luật dân sự cùng toàn thể gia đình, bạn bè đã ủng hộ, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện bài luận văn này./

Nguyễn Thị Ngọc Oanh

Trang 4

MỤC LỤC

Chương,

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐƠN PHƯƠNG CHẦM DỨT THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG DÂN SỰ 7 1.1 Khái niệm đơn phương chấm dứt thực hiện hợp

1.2 Đặc điểm của đơn phương chấm dứt thực hiện hợp

1.3 So sánh đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dân sự với hủy bỏ hợp đồng dân sự 11

1.4 Phân loại đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng

CHƯƠNG 2 ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG

DÂN SỰ KHI CÓ SỰ VI PHẠM CỦA BÊN ĐỐI TÁC 16

2.1

Đặc điểm của đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dân sự dân sự khi có sự vi phạm của bên đối tác

16

2.2 Trình tự đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng

dân sự khi có sự vi phạm của bên đối tác 33 2.3 Hậu quả pháp lý của đơn phương chấm dứt thực hiện

hợp đồng dân sự khi có sự vi phạm của bên đối tác 38

CHƯƠNG 3

ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG DÂN SỰ KHI KHÔNG CÓ SỰ VI PHẠM CỦA BÊN

3.1 Đặc điểm của đơn phương chấm dứt thực hiện hợp

đồng dân sự khi không có sự vi phạm của bên đối tác 40 3.2 Trình tự đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng

dân sự khi không có sự vi phạm của bên đối tác 50 3.3

Hậu quả pháp lý của đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dân sự khi không có sự vi phạm của

4.2 Kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật về

đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dân sự 68

Trang 5

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Trong xã hội mỗi chúng ta ít nhiều đều đã thiết lập và thực hiện các hợp đồng dân sự, ví dụ: hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng dịch vụ, hợp đồng gia công, hợp đồng thuê tài sản…Hợp đồng dân sự vốn đa dạng, đặc biệt trong nền kinh tế phát triển thì các hợp đồng dân sự càng phức tạp bởi đối tượng của hợp đồng, đa dạng về cách thức thực hiện cho nên việc thực hiện hợp đồng đối với các bên không hề dễ dàng Không phải bất cứ hợp đồng nào cũng được chấm dứt khi các bên đã hoàn thành xong nghĩa vụ được thỏa thuận trong hợp đồng hoặc theo sự thỏa thuận các bên…tức là hợp đồng được chấm dứt theo ý chí của các bên giao kết hợp đồng Đôi khi hợp đồng cũng được chấm dứt do xuất phát từ ý chí của một bên trong hợp đồng, đó chính là ĐPCDHĐ

Hợp đồng dân sự được thành lập do sự hợp tác của các bên, có nghĩa là giữa các bên đã có một sự thỏa thuận nên mục đích giao kết hợp đồng của các bên luôn được đặt ra và hướng tới trong quá trình thực hiện hợp đồng, và để đáp ứng được ít nhiều mục đích đó các bên có thể thỏa thuận, dự liệu để một hoặc cả hai bên được quyền ĐPCDHĐ hoặc pháp luật trong một số trường hợp cũng cho phép một bên được đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng Vậy tại sao lại đặt ra vấn đề ĐPCDHĐ? Khi giao kết một hợp đồng dân sự, tức là các bên đã xác lập quyền, nghĩa vụ đối với nhau, nghĩa vụ của người này thì ứng với quyền năng của người kia Để hợp đồng được thực hiện và làm thỏa mãn mục đích của các bên thì cần đề cao trách nhiệm của bên thực hiện nghĩa vụ, hơn thế nữa để bảo vệ quyền lợi của bên có quyền Một khi quyền lợi của một bên bị xâm hại hoặc bị giảm sút thì khi đó các bên có thể thỏa thuận để một hoặc cả hai bên được đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, pháp luật trong một số trường hợp cũng cho phép một bên được đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng Chúng ta thấy rằng hợp đồng dân sự vốn đa dạng và phức tạp, gắn liền với thực tế cuộc sống nên trong quá trình thực hiện cũng rất khó khăn và phức tạp, có thể được chấm dứt khi hợp đồng chưa được hoàn thành Trong thực tế xảy ra rất

Trang 6

nhiều trường hợp hợp đồng bị đơn phương chấm dứt thực hiện, tuy nhiên trong pháp luật dân sự Việt Nam chưa có một văn bản nào quy định một cách rõ ràng, đầy đủ các về điều kiện, trình tự, thủ tục ĐPCDHĐ, chưa xây dựng nên những nguyên tắc cho vấn đề này BLDS 2005mới chỉ có Điều 426 quy định về đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, ngoài ra còn được quy định rải rác trong một số hợp đồng dân sự thông dụng Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên khi giao kết hợp đồng dân sự, đặc biệt là trường hợp các bên không thỏa thuận về đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, pháp luật dân sự Việt Nam nên quy định cụ thể các nguyên tắc, điều kiện, trình tự, thủ tục về vấn đề này Đây

chính là lý do tác giả lựa chọn vấn đề “Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng

theo pháp luật dân sự Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Chế định hợp đồng dân sự nói chung, ĐPCDHĐ nói riêng đã có một số công trình nghiên cứu và bài viết như:

“Pháp luật về hợp đồng’ của Nguyễn Mạnh Bách, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995 đã đề cập đến vấn đề đình chỉ, chấm dứt hợp đồng, trong đó tác giả

đã phân tích sơ lược 02 hình thức của ĐPCDHĐ, đó là: các đương sự thoả thuận với nhau và theo quy định của pháp luật

“Một số ý kiến về chế định hợp đồng dân sự trong dự thảo BLDS” của tác giả Nguyễn Thị Khế đăng trên tạp chí Luật học số 02 năm 1995 đã phân tích khá kỹ lưỡng về huỷ bỏ hợp đồng dân sự, trong đó cũng nói sơ qua về đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng, tuy nhiên tác giả không đi sâu phân tích về vấn đề này

“Vấn đề huỷ bỏ, đình chỉ hợp đồng do bị vi phạm” của tác giả Đỗ Văn Đại đăng trên tạp chí nghiên cứu lập pháp số 9 năm 2004 đã phân tích huỷ bỏ, đình chỉ hợp đồng sau và trước khi hết thời hạn thực hiện hợp đồng thông qua việc phân tích một số hợp đồng dân sự thông dụng và có sự so sánh với pháp luật của một số nước

“Những điểm mới cơ bản về hợp đồng trong BLDS năm 2005” của tác giả Nguyễn Ngọc Khánh đăng trên tạp chí kiểm sát số 01 năm 2006; “Một số

Trang 7

điểm mới về hợp đồng trong BLDS 2005” của tác giả Nguyễn Thị Thục đăng trên tạp chí Nhà nước và pháp luật số 03 năm 2006, các bài viết tuy cũng đề cập tới vấn đề này nhưng chưa có sự phân tích hay bình luận gì

“Trách nhiệm dân sự trong hợp đồng”, luận văn thạc sĩ luật học năm

2006 của ThS Đinh Hồng Ngân, tác giả đã phân tích khá kỹ về hành vi vi phạm hợp đồng, trách nhiệm bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm hợp đồng, tác giả chưa có sự phân tích, dẫn chiếu tới ĐPCDHĐ

“Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hợp đồng dân sự”, luận văn thạc sĩ luật học năm 1997 của ThS Trần Kim Chi, luận văn đã làm sáng tỏ những vấn đề pháp lý về hợp đồng dân sự, trình bày những yêu cầu cơ bản của hợp đồng dân sự trong sự đối chiếu với pháp luật thực định, tuy nhiên các bài viết chưa có sự phân tích về đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đông dân sự Cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách tập trung,

khái quát về vấn đề “Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dân sự”

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vấn đề lý luận chung về đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng; pháp luật dân sự Việt Nam và một số nước về ĐPCDHĐ; thực tiễn về ĐPCDHĐ ở Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu của đề tài bao gồm tất cả các vấn đề liên quan đến ĐPCDHĐ như: khái niệm, đặc điểm, trình tự, hậu quả của ĐPCDHĐ Các quy định về ĐPCDHĐ được quy định tại BLDS năm 2005, bên cạnh đó tác giả còn

có sự tham khảo pháp luật của một số nước có quy định về đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, trên cơ sở đó có dự so sánh, đề xuất và hoàn thiện các quy định của pháp luật về đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng Đồng thời tác giả cũng nghiên cứu và đưa ra một số tình huống thực tế về ĐPCDHĐ

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được hoàn thành dựa trên cơ sở các phương pháp nghiên cứu khoa học như: phân tích, tổng hợp, so sánh, diễn giải, suy diễn lô gíc…

5 Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài

Trang 8

Mục đích nghiên cứu đề tài là làm rõ những vấn đề lý luận về ĐPCDHĐ, nội dung các quy định hiện hành của pháp luật về ĐPCDHĐ và thực tiễn áp dụng, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về ĐPCDHĐ

Với mục đích nghiên cứu như vậy, nhiệm vụ nghiên cứu được xác định trên những khía cạnh sau:

- Làm rõ một số vấn đề lý luận về ĐPCDHĐ như khái niệm, đặc điểm, hậu quả của ĐPCDHĐ

- Phân tích, đánh giá những quy định của BLDS 2005về ĐPCDHĐ

- Tìm hiểu những quy định của pháp luật hợp đồng dân sự một số nước trên thế giới về ĐPCDHĐ

- Nhận thức đúng về việc áp dụng các quy định của pháp luật cũng như việc thỏa thuận của các bên trong thực tế về ĐPCDHĐ

- Đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện và thực hiện pháp luật dân

sự về ĐPCDHĐ

6 Những điểm mới của luận văn

Luận văn là công trình nghiên cứu có tính hệ thống những vấn đề liên quan đến ĐPCDHĐ Trong luận văn có những điểm mới sau đây:

- Xây dựng khái niệm ĐPCDHĐ

- Phân tích một cách khoa học, lôgic và có hệ thống các trình tự, thủ tục, hậu quả của ĐPCDHĐ

7 Cơ cấu của luận văn

Luận văn được kết cấu thành 3 phần: Mở đầu, nội dung và kết luận Phần nội dung gồm 04 chương:

Chương 1: Khái quát chung về ĐPCDHĐ dân sự

Chương 2: ĐPCDHĐ khi có sự vi phạm của bên đối tác

Chương 3: ĐPCDHĐ khi không có sự vi phạm của bên đối tác

Chương 4: Thực tiễn áp dụng pháp luật và kiến nghị hoàn thiện các

quy định của pháp luật về ĐPCDHĐ

Trang 9

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐƠN PHƯƠNG CHẦM DỨT THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG DÂN SỰ

1.1 Khái niệm đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dân sự

Nằm trong quy luật vận động của các sự vật và hiện tượng nói chung, hợp đồng dân sự cũng trải qua các giai đoạn phát sinh, phát triển và chấm dứt Tuy nhiên, khác với các sự vật, hiện tượng khác, hợp đồng dân sự bao giờ cũng được phát sinh từ những hành vi có ý thức của các chủ thể Vì vậy, các

sự kiện làm chấm dứt một hợp đồng dân sự không phải là các sự biến sinh ra

do sự vận động của tự nhiên mà đó là những sự kiện được xuất hiện từ hành

vi có ý thức của các chủ thể hoặc do pháp luật quy định Xuất phát từ sự thoả thuận của các bên chủ thể hoặc do pháp luật quy định mà một trong các bên

có quyền chấm dứt hợp đồng trước thời hạn, gọi là ĐPCDHĐ hay còn gọi là quyền ĐPCDHĐ Như vây quyền đơn phương đã hình thành một văn kiện pháp lý đặc biệt cho sự hình thành (thành lập, sửa đổi, chấm dứt hợp) của các mối quan hệ pháp lý trong luật dân sự Khi giao kết hợp đồng dân sự các bên đều hướng tới một lợi ích nhất định và thường đưa ra một thời hạn để thực hiện Nhưng nhiều khi lợi ích hợp pháp của một trong các bên không đạt được

vì hợp đồng không được thực hiện như dự tính Trước hoàn cảnh này, bên không được thực hiện có thể yêu cầu bên kia BTTH và chấm dứt thực hiện hợp đồng dân sự hay không? Vậy hợp đồng được chấm dứt xuất phát từ ý chí của một bên chủ thể hay ĐPCDHĐ là gì?

Theo từ điển bách khoa toàn thư thì “đơn phương” là sự thể hiện ý chí của riêng một bên, không có sự thỏa thuận hoặc sự tham gia của bên kia; phân biệt với đa phương hoặc song phương(1) Do đó, ĐPCDHĐ có thể được hiểu là hợp đồng được chấm dứt do ý chí của một bên và một hoặc các bên kia phải chấp nhận Việc chấp nhận ở đây là do sự thỏa thuận của các bên hoặc do pháp luật quy định, nghĩa là sự đồng ý của bên kia là không cần thiết, mọi thỏa thuận trong hợp đồng đều không còn ràng buộc, các bên không phải tiếp

(1) Theo từ điển điện tử wikipedia.org

Trang 10

tục thực hiện hợp đồng Nhìn chung ĐPCDHĐ cũng xuất phát từ sự tự do ý chí của các bên tham gia hợp đồng Quan điểm xuyên suốt của BLDS Việt Nam năm 2005 là “tăng cường quyền tự do hợp đồng thông qua việc các bên được quyết định đối tác tham gia ký kết hợp đồng, hình thức, nội dung của hợp đồng, trách nhiệm của các bên đối tác khi có sự vi phạm, chấm dứt hợp đồng”(2) Theo Điều 388 BLDS 2005 quy định “hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Hợp đồng dân sự là một loại giao ước mà đặc điểm chung của chúng

là sự thống nhất ý chí Vậy ý chí có vai trò quan trọng đối với hợp đồng bởi

nó là yếu tố cơ bản, không thể thiếu được để hình thành hợp đồng, từ đó làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các nghĩa vụ pháp lý Ở bất kỳ hệ thống pháp luật nào người ta cũng đều thừa nhận nền tảng của luật hợp đồng là tự

do ý chí, có nghĩa tự do ý chí là vấn đề trọng yếu của hợp đồng Học thuyết tự

do đã phát triển mạnh mẽ ở Pháp vào thế kỷ XVIII, theo đó cá nhân chỉ có thể

bị ràng buộc bởi ý chí của chính mình được tuyên bố một cách trực tiếp thông qua các hợp đồng hay gián tiếp thông qua pháp luật Học thuyết này cho rằng, pháp luật thể hiện ý chí chung của các cá nhân trong xã hội, nên các qui định của pháp luật có giá trị bắt buộc chung mà các cá nhân đã gián tiếp ưng thuận Học thuyết này nhằm tới mục đích công bằng giữa các cá nhân thông qua tự

do thương thuyết, và phát triển kinh tế thông qua tự do cạnh tranh (laisser faire)(3), có nghĩa là “để cho muốn làm gì thì làm” Tư tưởng này ngày nay được hiểu rằng, chủ nghĩa tự do kinh tế thời đó là một chế độ tự do không giới hạn mà sự công bằng là kết quả tự nhiên có được từ luật nghĩa vụ thích hợp được xây dựng trên nền tảng đặc biệt của sự bình đẳng thích hợp

Thuyết tự do ý chí được coi là nguyên nhân, nền tảng của việc ĐPCDHĐ, xuất phát từ sự thỏa thuận, lựa chọn của các bên về điều kiện

Trang 11

chấm dứt hợp đồng dẫn đến việc một bên được thể hiện ý chí trong việc quyết định hợp đồng được chấm dứt khi quyền và lợi ích hợp pháp của họ không

được bảo đảm BLDS 2005sử dụng thuật ngữ “ĐPCDHĐ”, còn BLDS năm

1995 lại sử dụng thuật ngữ “đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng”, xét về bản chất việc sử dụng từ ngữ của BLDS 2005 và BLDS 1995 đều nói về sự chấm dứt nửa chừng việc thực hiện quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng mà các bên đã giao kết Nghĩa là phần hợp đồng được thực hiện trước khi nó bị tuyên

bố là chấm dứt thì vẫn có hiệu lực với các bên, các bên phải thanh toán cho nhau phần hợp đồng đã được thực hiện Từ sự phân tích trên, tác giả đưa ra

khái niệm về ĐPCDHĐ như sau: “ĐPCDHĐ là sự thể hiện ý chí của bên

chủ thể có quyền và lợi ích hợp pháp không được thực hiện hoặc không được đảm bảo thực hiện về việc chấm dứt hợp đồng”

1.2 Đặc điểm của đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dân sự 1.2.1 Hợp đồng dân sự được chấm dứt theo sự thể hiện ý chí của một bên chủ thể

Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó việc chấm dứt hợp đồng cũng phải thể hiện ý chí của các bên chủ thể, cụ thể là các bên đều

có quyền ngang nhau trong vấn đề này, tuy nhiên trong một số hợp đồng các bên có thể thỏa thuận hoặc pháp luật quy định chỉ một bên có quyền quyết định về chấm dứt hợp đồng Khác với trường hợp chấm dứt hợp đồng như

“hợp đồng đã được hoàn thành; hợp đồng được chấm dứt theo sự thỏa thuận của các bên”, hợp đồng chấm dứt theo ý chí của các bên chủ thể, nghĩa là có

sự đồng ý, nhất trí, thống nhất về việc chấm dứt hợp đồng

Về bản chất, sự khác biệt nằm ở việc hợp đồng cho phép một bên được thể hiện ý chí về việc chấm dứt hợp đồng trong điều kiện nhất định Trong trường hợp quyền ĐPCDHĐ được thực hiện, sự đồng ý của bên kia là không cần thiết, thỏa thuận này không còn ràng buộc, và các bên không có nghĩa vụ hơn nữa để thực hiện

Trang 12

1.2.2 Thường được áp dụng đối với những hợp đồng có thời hạn thực hiện nhất định

Thời hạn là một khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác Thời hạn là khoảng thời gian làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong những trường hợp do pháp luật quy định hoặc các bên thỏa thuận Thời hạn thực hiện hợp đồng là khoảng thời gian mà bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn

đã thỏa thuận Thời gian thực hiện hợp đồng là điều kiện cho phép một bên được ĐPCDHĐ khi bên kia không thực hiện hợp đồng trong khoảng thời gian quy định Đối với những hợp đồng được các bên thực hiện ngay sau khi hợp đồng có hiệu lực thì coi như hợp đồng đã được hoàn thành và chấm dứt Do

đó, chỉ với những hợp đồng có thời hạn thực hiện nhất định thì vấn đề ĐPCDHĐ mới được đặt ra Sau khi hết thời hạn thực hiện hợp đồng mà quyền và lợi ích hợp pháp của các bên không đạt được vì hợp đồng không được thực hiện như dự tính hoặc trước khi hết thời hạn thực hiện hợp đồng khi thấy rõ một bên sẽ vi phạm hợp đồng hoặc có thể dự báo thiệt hại xảy ra trong tương lai nếu tiếp tục thực hiện hợp đồng

1.2.3 Hợp đồng chấm dứt thường chưa đáp ứng được trọn vẹn mục đích, nguyện vọng ban đầu của một hoặc các bên

Khi giao kết hợp đồng, các bên đều hướng tới một lợi ích nhất định, lợi ích đó chỉ đạt được khi hợp đồng được thực hiện đúng như dự kiến ban đầu của các bên (thực hiện đầy đủ về nghĩa vụ, thời gian…) nhưng nhiều khi có sự vi phạm hợp đồng như vi phạm về thực hiện nghĩa vụ với nhau, nghĩa vụ với nhà nước…hoặc có thể dự báo một thiệt hại có thể xảy ra trong tương lai nếu tiếp thục thực hiện hợp đồng nên để đảm bảo lợi ích của mình mà một bên chủ thể có thể đưa ra yêu cầu chấm dứt hợp đồng và bên kia không được phép từ chối Với ĐPCDHĐ mặc dù lợi ích của các bên ít nhiều được bảo đảm nhưng bao giờ cũng thấp hơn so với trường hợp chấm dứt hợp đồng khi hợp đồng đã được hoàn thành là do các bên chưa thực hiện xong các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng

Trang 13

1.2.4 Mục đích là bảo vệ quyền lợi cho bên có quyền đƣợc ĐPCDHĐ

Mỗi một chủ thể trong xã hội để tồn tại và phát triển thì phải tham gia nhiều mối quan hệ xã hội khác nhau Trong đó việc các bên thiết lập với nhau những quan hệ, để qua đó chuyển giao cho nhau các lợi ích vật chất nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng, đóng một vai trò quan trọng, là một tất yếu đối với mọi đời sống Hợp đồng dân sự ( là sự biểu hiện và thống nhất ý chí giữa các bên) được hình thành, nghĩa là được Nhà nước bảo vệ lợi ích cho các bên thông qua các quy định của pháp luật Do đó việc hình thành, thay đổi hay chấm dứt hợp đồng là kết quả của sự thỏa thuận của các bên và đáp ứng quyền lợi của các bên; tuy nhiên với ĐPCDHĐ thì mục đích chính là bảo vệ quyền lợi cho bên có quyền chấm dứt hợp đồng Bởi với ĐPCDHĐ được áp dụng trong hai trường hợp: thứ nhất là có hoặc sẽ có sự vi phạm của bên đối tác, đây được coi như là một chế tài đối với bên vi phạm (nên quyền lợi của họ không được đảm bảo); hai

là nếu không có sự vi phạm của bên đối tác nhưng theo dự báo thì nếu việc tiếp tục thực hiện hợp đồng đẽ gây ra một thiệt hại cho bên một hoặc các bên (chủ yếu là bên có quyền chấm dứt hợp đồng), đây được coi là một biện pháp mang

tính đề phòng, ngăn ngừa rủi ro, hạn chế hậu quá xấu xảy ra trong tương lai 1.3 So sánh ĐPCDHĐ với hủy bỏ hợp đồng dân sự

Theo quy định tại điều 424 của BLDS 2005quy định thì hợp đồng dân

sự chấm dứt trong các trường hợp sau đây:

- Hợp đồng đã được hoàn thành: các bên tham gia hợp đồng đã thực hiện toàn bộ nội dung của nghĩa vụ và do vậy, mỗi bên đều đã đáp ứng được quyền dân sự của mình thì hợp đồng được coi là hoàn thành

- Theo thỏa thuận của các bên: trong trường hợp bên có nghĩa vụ không

có khả năng để thực hiện hợp đồng hoặc nếu hợp đồng được thực hiện sẽ gây tổn thất lớn về vật chất cho một hoặc cả hai bên thì các bên có thể thỏa thuận chấm dứt hợp đồng Hợp đồng đã giao kết được coi là chấm dứt tại thời điểm các bên đạt được sự thỏa thuận nói trên

Trang 14

- Cá nhân giao kết hợp đồng chết, pháp nhân hoặc chủ thể khác chấm dứt mà hợp đồng phải do chính cá nhân, pháp nhân hoặc chủ thể đó thực hiện: đây là những loại hợp đồng bắt buộc người có nghĩa vụ phải tự họ thực hiện, không được chuyển cho người khác

- Hợp đồng không thể thực hiện được do đối tượng của hợp đồng không còn và các bên có thể thỏa thuận thay thế đối tượng khác hoặc BTTH

- Hợp đồng bị hủy bỏ, bị đơn phương chấm dứt thực hiện

- Các trường hợp khác do pháp luật quy định

Trong sáu trường hợp chấm dứt hợp đồng trên thì hủy bỏ hợp đồng và ĐPCDHĐ được xếp vào một nhóm, vậy giữa chúng sẽ có điểm giống và khác nhau

1.3.1 Giống nhau:

Thứ nhất: Đều do một bên có quyền được chấm dứt hợp đồng, tức là

đều thể hiện ý chí của một bên chủ (quyền đơn phương)

Thứ hai: Cả hai trường hợp này quyền ĐPCDHĐ có được đều do sự thỏa

thuận của các bên hoặc do pháp luật quy định Để nâng cao tính kỷ luật của các bên trong việc thực hiện nghĩa vụ thì các bên có thể thỏa thuận hoặc pháp luật quy định một bên có quyền hủy hoặc ĐPCDHĐ nếu bên kia vi phạm hợp đồng

Thứ ba: Để được chấm dứt hợp đồng cả hai trường hợp đều phải thông

báo về việc chấm dứt hợp đồng cho bên kia, nếu không thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường

Thứ tư: Bên có lỗi trong việc hợp đồng bị hủy bỏ hoặc bị đơn phương

chấm dứt phải BTTH Mục đích ban đầu mà các bên đặt ra khi giao kết hợp đồng sẽ đạt được nếu các bên thực hiện đầy đủ nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng nhưng vì một lý do nào đó dẫn đến hợp đồng bị hủy bỏ hay đơn phương chấm dứt, nghĩa là các bên đã không thực hiện toàn bộ nội dung của nghĩa vụ với nhau, do vậy các bên đều không đáp ứng được quyền và lợi ích hợp pháp của mình Bên để xảy ra hợp đồng bị hủy bỏ hay đơn phương chấm dứt thực hiện phải BTTH cho bên còn lại

1.3.2 Khác nhau:

Trang 15

Thứ nhất là vấn đề vi phạm hợp đồng: Với hủy bỏ hợp đồng thì bắt buộc phải có vi phạm hợp đồng của bên đối tác, theo Điều 7.3.1 Bộ “Nguyên tắc Hợp đồng Thương mại Quốc tế” (Principle of International Commercial Contract,

viết tắt là PICC) do UNIDROIT ban hành năm 1994 có quy định “Một bên có

thể huỷ hợp đồng nếu có trường hợp không thực hiện chủ yếu của bên kia”.Còn

với ĐPCDHĐ có thể xảy ra khi không có sự vi phạm hợp đồng của bên đối tác

Thứ hai là về hậu quả của việc hợp đồng bị chấm dứt: với hủy bỏ hợp đồng giải phóng các bên khỏi những nghĩa vụ của mình trong tương lai; theo khoản 3,

điều 425 BLDS quy định “Khi hợp đồng bị hủy bỏ thì hợp đồng không có hiệu lực

từ thời điểm giao kết và các bên phải hoàn trả cho nhau tài sản đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải trả bằng tiền” Xét về bản chất, tại thời điểm

giao kết hợp đồng cũng như sau khi hợp đồng được giao kết, hợp đồng vẫn có hiệu lực nhưng trong quá trình thực hiện hợp đồng có sự vi phạm hợp đồng là điều kiện

để hợp đồng bị hủy bỏ thì coi như hợp đồng không có hiệu lực tại thời điểm giao kết Còn với ĐPCDHĐ thì hợp đồng chấm dứt từ thời điểm bên kia nhận được thông báo chấm dứt Các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán bởi hợp đồng đã thực hiện được một phần, các bên thanh toán cho nhau phần hợp đồng đã được thực hiện, còn phần hợp đồng chưa được thực hiện thì bị chấm dứt, các bên không phải thực hiện tiếp tục hợp đồng nữa Tuy nhiên với hủy bỏ hợp đồng, nếu đã có bên thực hiện nghĩa

vụ giao vật thì bên kia phải hoàn trả lại vật đã nhận, nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải trả bằng tiền; nhưng với nghĩa vụ là thực hiện một công việc thì các bên có hoàn trả lại được như ban đầu không? Trường hợp này thì bên đã thực hiện một công việc có quyền yêu cầu bên hưởng quyền phải thanh toán phần công việc

mà họ đã thực hiện, lúc này phần hợp đồng đã thực hiện vẫn có hiệu lực pháp luật;

do đó theo khoản 3, điều 425 BLDS quy định “Khi hợp đồng bị hủy bỏ thì hợp

đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết” là chưa chính xác Bên cạnh đó theo

khoản 2, điều 7.3.6 của Bộ nguyên tắc PICC của UNIDROIT quy định “nếu việc

thực hiện hợp đồng đã được trải dài trong thời gian và hợp đồng có thể phân chia

Trang 16

được theo phần, thì việc hoàn trả chỉ có thể diễn ra cho giai đoạn sau của việc huỷ hợp đồng”, nghĩa là phần hợp đồng đã được thực hiện vẫn có hiệu lực pháp luật

Thứ ba: vấn đề bồi thường thiệt hại Với hủy bỏ hợp đồng thì bên có lỗi trong việc hợp đồng bị hủy bỏ phải BTTH; còn với ĐPCDHĐ cũng bên có lỗi trong việc hợp đồng bị đơn phương chấm dứt phải BTTH Tuy nhiên với hủy

bỏ hợp đồng thì bên có lỗi trong việc hợp đồng bị hủy bỏ là bên không có quyền hủy bỏ hợp đồng hay bên bị yêu cầu chấm dứt hợp đồng; trong khi ĐPCDHĐ thì bên phải BTTH có thể là bên có quyền ĐPCDHĐ trong trường hợp không có sự vi phạm của bên đối tác

1.4 Phân loại đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dân sự

ĐPCDHĐ là một trong những trường hợp của chấm dứt hợp đồng, các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ với nhau nữa, hợp đồng được chấm dứt dựa trên ý chí của một bên đối tác Trong BLDS 2005có quy định

về ĐPCDHĐ tại Điều 426 và rải rác tại một số điều luật quy định về hợp đồng thuê tài sản, gia công, dịch vụ Tuy nhiên, trong thực tiễn có rất nhiều trường hợp ĐPCDHĐ mà chúng ta thường gặp, ta có thể dựa vào các căn cứ khác nhau để phân loại ĐPCDHĐ như sau:

- Nếu dựa vào ý chí của các bên thì ĐPCDHĐ được chia thành ĐPCDHĐ theo thỏa thuận của các bên và ĐPCDHĐ theo quy định của pháp luật ĐPCDHĐ theo thỏa thuận của các bên là trường hợp trong hợp đồng các bên có thỏa thuận về việc ĐPCDHĐ, cụ thể là điều kiện, trình tự thủ tục ĐPCDHĐ Pháp luật dân sự đã đề cao sự thỏa thuận, tự định đoạt của các bên ĐPCDHĐ theo quy định của pháp luật là trường hợp pháp luật quy định trong điều kiện nhất định thì một bên có quyền ĐPCDHĐ cho dù các bên không thỏa thuận trong hợp đồng về ĐPCDHĐ

- Căn cứ vào sự vi phạm của bên đối tác thì ĐPCDHĐ được phân thành ĐPCDHĐ có sự vi phạm của bên đối tác và ĐPCDHĐ khi không có sự vi phạm của bên đối tác ĐPCDHĐ có sự vi phạm của bên đối tác là trường hợp chấm dứt hợp đồng khi có sự vi phạm hợp đồng với lỗi cố ý của bên đối tác khi không thực

Trang 17

hiện nghĩa vụ theo hợp đồng đã được thỏa thuận; còn trường hợp không có sự vi phạm của bên đối tác, trong quá trình thực hiện hợp đồng nếu như quyền lợi của một trong hai bên không đạt được hoặc gặp các sự kiện bất khả kháng thì có thể ĐPCDHĐ.Vậy ĐPCDHĐ là ý chí của một trong hai bên về việc không tiếp tục duy trì hợp đồng theo các điều khoản đã cam kết vì bên kia có hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc một trong hai bên lâm vào hoàn cảnh không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có lỗi Tuy nhiên, hợp đồng chủ yếu được đơn phương chấm dứt khi có sự vi phạm hợp đồng Một bên có thể ĐPCDHĐ nếu các bên khác vi phạm nghiêm trọng một nghĩa vụ quan trọng theo hợp đồng Việc không thực hiện

là cố ý hoặc không tính đến hậu quả hoặc việc không thực hiện khiến cho bên có quyền tin rằng không thể tin cậy vào việc thực hiện hợp đồng trong tương lai

ĐPCDHĐ khi không có sự vi phạm hợp đồng, bên đối tác vẫn có khả năng tiếp tục thực hiện hợp đồng mà quyền ĐPCDHĐ chủ yếu là căn cứ vào hoàn cảnh khách quan hoặc bản chất của hợp đồng quy định nên

- Căn cứ vào thời điểm ĐPCDHĐ thì ĐPCDHĐ được chia thành ĐPCDHĐ sau khi hết thời hạn thực hiện hợp đồng và ĐPCDHĐ trước khi hết thời hạn thực hiện hợp đồng(4)

ĐPCDHĐ sau khi hết thời hạn thực hiện hợp đồng là trường hợp sau khi hết thời hạn thực hiện hợp đồng mà hợp đồng không được thực hiện hoặc bên không được thực hiện có quyền ĐPCDHĐ ĐPCDHĐ trước khi hết thời hạn thực hiện hợp đồng là trường hợp một bên có quyền ĐPCDHĐ trước khi hết thời hạn thực hiện hợp đồng khi thấy rõ bên kia

sẽ vi phạm hợp đồng

Tóm lại, việc phân chia ĐPCDHĐ thành các loại nói trên vừa dựa vào quy định của BLDS, vừa dựa trên phương diện lý luận Tuy nhiên, trong luận văn này tác giả xin đi sâu vào việc nghiên cứu ĐPCDHĐ dựa trên sự vi phạm hợp đồng của bên đối tác, đó là ĐPCDHĐ khi có sự vi phạm của bên đối tác

và ĐPCDHĐ khi không có sự vi phạm của bên đối tác

(4) TS Đỗ Văn Đại, “Vấn đế hủy bỏ, đình chỉ hợp đồng do bị vi phạm”, tạp chí Khoa học pháp lý,số 3, năm 2004

Trang 18

CHƯƠNG 2 ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG DÂN SỰ KHI CÓ SỰ VI PHẠM CỦA BÊN ĐỐI TÁC

2.1 Đặc điểm của ĐPCDHĐ dân sự khi có sự vi phạm của bên đối tác

Như đã trình bày ở trên, ĐPCDHĐ là sự thể hiện ý chí của một trong hai bên về việc không tiếp tục duy trì hợp đồng theo các điều khoản đã cam kết vì bên kia có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng, do đó nó mang một số đặc điểm sau đây:

2.1.1 Có sự vi phạm nghĩa vụ của bên đối tác

Về bản chất, nghĩa vụ hợp đồng là quan hệ tạm thời, và thậm chí là quan hệ ngắn hạn phải được chấm dứt vào một lúc nào đó Phương thức thông thường nhất để chấm dứt nghĩa vụ hợp đồng là việc thực hiện đúng và đầy đủ hợp đồng Ở nước ta, khi thực hiện hợp đồng, các bên không những chịu sự điều chỉnh trực tiếp của những quy định chung tại mục 7 Chương XVII, BLDS 2005(BLDS 2005) về thực hiện hợp đồng (từ Điều 412 đến Điều 422),

mà còn phải tuân thủ những quy định chung tại mục 2 Chương XVII, BLDS

2005 về thực hiện nghĩa vụ dân sự (từ Điều 283 - Điều 301) và những quy định riêng của BLDS 2005 về thực hiện những hợp đồng thông dụng Khi đánh giá kết quả thực hiện hợp đồng, từ phía người có thẩm quyền bao giờ cũng nảy sinh hai câu hỏi độc lập: người có nghĩa vụ đã thực hiện những hành

vi hai bên cam kết chưa? Nếu có, thì đã thực hiện như thế nào và có đúng không? Trường hợp thứ nhất là nói về việc thực hiện những hành vi (hoặc không được thực hiện những hành vi) thuộc đối tượng của hợp đồng - hay còn gọi là việc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng trên thực tế; trường hợp thứ hai là nói

về “chất lượng” thực hiện nghĩa vụ đến đâu, tức là việc bên có nghĩa vụ có tuân thủ đúng hay không đúng các điều kiện về nghĩa vụ mà hai bên đã thỏa thuận (hoặc pháp luật có quy định), như: điều kiện về đối tượng, điều kiện về địa điểm, điều kiện về thời hạn, điều kiện về phương thức thực hiện … Nếu tuân thủ đúng các điều kiện này, có thể nói rằng, bên có nghĩa vụ đã thực hiện nghĩa vụ và đồng thời thực hiện đúng nghĩa vụ Ngược lại, nếu các điều kiện

Trang 19

về nghĩa vụ không được tuân thủ nghiêm ngặt, bên có nghĩa vụ dù đã thực hiện những hành vi thuộc đối tượng của hợp đồng vẫn sẽ bị coi là thực hiện không đúng nghĩa vụ Dựa trên sự khác biệt giữa hai trường hợp này, pháp luật nhiều nước nhìn chung đều thừa nhận vị trí riêng biệt của việc thực hiện nghĩa vụ và việc thực hiện đúng nghĩa vụ Điều này được thể hiện rất rõ trong thực tiễn xét xử cũng như trong luật thực định các nước như Anh, Nga, Đức

… Trong chế định hợp đồng của những nước này có sự phân biệt trường hợp không thực hiện nghĩa vụ và trường hợp thực hiện không đúng nghĩa vụ Khi một bên không thực hiện nghĩa vụ hoặc tuy có thực hiện, nhưng thực hiện không đúng nghĩa vụ, thì có thể phải chịu những chế tài và hậu quả pháp lý khác nhau Ở nước ta, quan điểm về sự phân biệt giữa không thực hiện nghĩa

vụ và thực hiện không đúng nghĩa vụ cũng đã được BLDS 2005 đặt ra ở một mức độ nhất định (dù chưa được thể hiện một cách hệ thống và rõ ràng) Chẳng hạn, theo quy định tại khoản 1 Điều 302 BLDS 2005, trách nhiệm dân

sự cũng được phân chia thành hai trường hợp, đó là trách nhiệm do không thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm do thực hiện không đúng nghĩa vụ Hoặc theo quy định tại Điều 303 BLDS 2005, các nhà làm luật cũng phân biệt hai tình huống: khi bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ giao vật đặc định (tức là khi không thực hiện nghĩa vụ, người có quyền có thể yêu cầu bên có nghĩa vụ phải giao đúng vật; nếu giao vật bị hư hỏng (tức là khi bên có nghĩa

vụ thực hiện không đúng nghĩa vụ hợp đồng), thì bên có nghĩa vụ phải thanh toán giá trị của vật, và BTTH cho bên có quyền v.v

Nguyên tắc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng trên thực tế, đòi hỏi người có nghĩa vụ (con nợ) tự nguyện thi hành những hành vi (hoặc không được thực hiện những hành vi) thuộc đối tượng của hợp đồng (như chuyển giao vật, chuyển giao quyền, thực hiện một công việc nhất định …) mà không được phép tùy tiện thay thế nghĩa vụ bằng việc trả một khoản tiền tương đương Để bảo đảm cho nguyên tắc thực hiện nghĩa vụ, BLDS nhiều nước theo truyền thống civil law như Đức, Nga, Nhật Bản … đều thiết lập một nguyên tắc

Trang 20

chung, theo đó, việc trả tiền phạt vi phạm và (hoặc) BTTH do thực hiện không đúng nghĩa vụ không đương nhiên miễn trừ việc tiếp tục thi hành nghĩa

vụ trên thực tế đối với con nợ, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác Ví dụ, nếu quá thời hạn mà nghĩa vụ xây nhà vẫn chưa hoàn thành, thì việc thanh toán khoản tiền phạt vi phạm hoặc (và) BTTH cũng không đương nhiên miễn trừ cho bên thực hiện nghĩa vụ xây nhà trách nhiệm phải tiếp tục xây nhà (tất nhiên là trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác)…

Nguyên tắc thực hiện nghĩa vụ mang tính bắt buộc song hết sức linh hoạt, uyển chuyển Điều đó lý giải tại sao đi kèm với nguyên tắc thực hiện nghĩa vụ, BLDS các nước thường sử dụng cụm từ “trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác” Ở đây, cụm từ “pháp luật

có quy định khác” hàm ý: nếu pháp luật không có quy định, bên có quyền có thể yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp cưỡng chế buộc bên kia phải thi hành nghĩa vụ (cho dù có nghĩa vụ đã BTTH); ngược lại, nếu “pháp luật có quy định khác” thì thay vì yêu cầu cưỡng chế thực hiện nghĩa vụ, bên có quyền chỉ có thể tự mình thực hiện thay hoặc giao cho người khác thực hiện thay nghĩa vụ đó, hoặc yêu cầu Tòa án buộc bên phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền phạt vi phạm và (hoặc) BTTH do nghĩa vụ không được con nợ tự nguyện thi hành, hoặc thi hành không đúng, không đầy đủ

Thực hiện nghĩa vụ hợp đồng trên thực tế theo BLDS năm 2005, nguyên tắc nghĩa vụ hợp đồng phải được thi hành trên thực tế ban đầu đã được khẳng định một cách khái quát thông qua một quy định gián tiếp tại khoản 1 Điều 302: “Bên có nghĩa vụ mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự với người có quyền” Bên có quyền có thể yêu cầu bên có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện nghĩa vụ hoặc thanh toán nghĩa vụ chưa thực hiện (nghĩa vụ giao vật đặc định nhưng vật đó

bị hư hỏng), hoặc phạt vi phạm hợp đồng và yêu cầu BTTH…Như theo khoản

1 Điều 305 BLDS 2005, khi nghĩa vụ dân sự chậm được thực hiện thì bên có

Trang 21

quyền có thể gia hạn để bên có nghĩa vụ hoàn thành nghĩa vụ; nếu quá thời hạn này mà nghĩa vụ vẫn chưa được hoàn thành thì theo yêu cầu của bên có quyền, bên có nghĩa vụ vẫn phải thực hiện nghĩa vụ và BTTH (5)

Bên cạnh đó, Điều 420 BLDS năm 1995 đã quy định cụ thể về việc

ĐPCDHĐ “Một bên có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng và

không phải BTTH khi bên kia vi phạm hợp đồng là điều kiện đình chỉ mà các bên đã thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định” Như vậy, khi hợp đồng

không được thực hiện do có sự vi phạm hợp đồng của bên đối tác thì bên không được thực hiện có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng nếu điều đó đã được thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định Tuy nhiên, quy định tại Điều 29 Pháp lệnh hợp đồng dân sự và Điều 426 BLDS 2005về ĐPCDHĐ

đã không quy định cụ thể là chỉ được ĐPCDHĐ khi xảy ra sự vi phạm hợp đồng mà chỉ quy định “Một bên có quyền ĐPCDHĐ nếu các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định” Pháp lệnh hợp đồng dân sự và BLDS 2005

đã quy định rộng hơn về ĐPCDHĐ, do đó một trong các bên có thể ĐPCDHĐ ngay cả khi có hoặc không có sự vi phạm hợp đồng của bên đối tác Trên thực

tế cũng như theo các quy định về một số hợp đồng thông dụng của BLDS

2005 thì ĐPCDHĐ chủ yếu áp dụng với trường hợp là có sự vi phạm hợp đồng của một bên Sự vi phạm ở đây là sự vi phạm các điều khoản quan trọng của hợp đồng, sự vi phạm về thực hiện nghĩa vụ của hợp đồng, bên có nghĩa

vụ đã không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ như:

Thứ nhất: Thực hiện nghĩa vụ không đúng thời hạn do các bên thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật Thời hạn thực hiện nghĩa vụ dân sự

là một thời điểm hay một khoảng thời gian nhất định mà trong thời điểm hoặc khoảng thời gian đó người có nghĩa vụ phải hoàn thành nghĩa vụ của mình nhằm thỏa mãn lợi ích của bên có quyền Tùy thuộc vào tính chất, nội dung của hợp đồng cũng như điều kiện, hoàn cảnh của mình mà các bên có thể thỏa

(5) Nguyễn Ngọc Khánh, “Thực hiện nghĩa vụ hợp đồng trên thực tế”, tạp chí nghiên cứu lập pháp, số 91, tháng 2/2007

Trang 22

thuận về thời hạn thực hiện nghĩa vụ dân sự Khi thời hạn đã được xác định theo thoả thuận thì các bên phải thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn đó Trong một số hợp đồng, BLDS 2005đã quy định nếu bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng thời hạn thì bên có quyền được phép ĐPCDHĐ Tuy nhiên việc vi phạm thời hạn ở đây là phải diễn ra lặp đi lặp lại hoặc có cơ hội về sự gia hạn thực hiện hợp đồng

Vi phạm diễn ra lặp đi lặp lại về thời hạn, bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ trong các thời hạn liên tiếp nhau nhưng đã không thực hiện trong các thời hạn này

Điều 489 về trả tiền thuê tài sản “1 Bên thuê phải trả tiền thuê đúng thời

hạn đã thỏa thuận; nếu không có thỏa thuận về thời hạn trả tiền thuê thì thời hạn trả tiền thuê được xác định theo tập quán nơi trả tiền; nếu không xác định được thời hạn theo tập quán thì bên thuê phải trả tiền khi trả lại tài sản thuê

2 Trong trường hợp các bên thỏa thuận việc trả tiền thuê theo kỳ hạn thì bên cho thuê có quyền ĐPCDHĐ, nếu bên thuê không trả tiền trong ba kỳ liên tiếp, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”

Theo điều này, các bên có thỏa thuận về việc bên thuê phải trả tiền thuê theo kỳ hạn, kỳ hạn có thể là một, hai hoặc sáu tháng, cứ hết kỳ thì bên thuê

có nghĩa vụ trả tiền thuê cho bên cho thuê Nhưng nếu trong ba kỳ liên tiếp

mà bên thuê không trả tiền thì bên cho thuê có quyền ĐPCDHĐ Từ quy định này có thể hiểu nếu bên thuê cứ sau hai kỳ liên tiếp mới trả tiền thuê một lần,

mà kỳ hạn hai bên thỏa thuận là sáu tháng hoặc một năm thì bên cho thuê không đảm bảo được quyền lợi của mình mà lại không được phép ĐPCDHĐ

Bên cạnh đó, điểm a, khoản 1, Điều 498 về ĐPCDHĐ thuê nhà ở “Bên

cho thuê nhà có quyền ĐPCDHĐ thuê nhà khi bên thuê không trả tiền thuê nhà liên tiếp trong ba tháng trở lên mà không có lý do chính đáng” Bên thuê

nhà vi phạm về thời hạn diễn ra lặp đi lặp lại, bên thuê không trả tiền thuê nhà liên tiếp trong ba tháng trở lên thì bên cho thuê có quyền được ĐPCDHĐ Tuy nhiên, quy định này chỉ đúng với việc các bên thỏa thuận về thời hạn trả

Trang 23

tiền thuê nhà theo tháng một, cứ trong thời hạn một tháng thì bên thuê phải trả tiền thuê cho bên kia Nhưng nếu các bên có thỏa thuận trả tiền thuê nhà ba tháng, sáu tháng hoặc một năm một lần thì việc bên thuê nhà phải trả tiền thuê trong cả ba tháng liên tiếp là không thể và không hợp lý nếu bên cho thuê viện

vào quy định tại khoản 1, điều 498 để ĐPCDHĐ Có lẽ nên sửa lại là “bên

cho thuê có quyền ĐPCDHĐ nếu bên thuê không trả tiền thuê nhà trong ba

kỳ liên tiếp” là hợp lý hơn với từng trường hợp các bên thỏa thuận về kỳ hạn

trả tiền thuê nhà Tương tự nghĩa vụ trả tiền trong hợp đồng thuê tài sản và hợp đồng thuê nhà, nghĩa vụ trả tiền lãi trong hợp đồng vay tài sản Trong hợp đồng thuê tài sản thì bên thuê có nghĩa vụ trả tiền thuê theo kỳ hạn mà hai bên thỏa thuận, nếu bên thuê mà không trả tiền thuê trong ba kỳ liên tiếp thì bên cho thuê có quyền ĐPCDHĐ Vậy với hợp đồng vay tài sản mà các bên có thỏa thuận về việc trả lãi theo kỳ hạn, ví dụ bên vay có nghĩa vụ trả tiền lãi là một tháng một lần, nghĩa vụ trả tiền lãi này không khác gì nghĩa vụ trả tiền thuê tài sản theo kỳ hạn Nhưng nếu bên vay tài sản không trả tiền lãi trong ba

kỳ liên tiếp thì bên cho vay có được ĐPCDHĐ không? Theo pháp luật dân sự của Việt Nam thì không có một quy định nào đề cập tới vấn đề không trả lãi của bên vay tài sản khi đã hết thời hạn phải trả và cũng không cho phép bên

cho vay được quyền ĐPCDHĐ Theo tác giả thì nên bổ sung quy định “nếu

các bên có thỏa thuận việc trả lãi theo kỳ hạn, bên vay không trả tiền lãi trong ba kỳ liên tiếp thì bên cho vay có quyền ĐPCDHĐ và yêu cầu bên vay thanh toán nợ gốc, tiền lãi và lãi nợ quá hạn của khoản tiền lãi mà bên vay chưa trả bên cho vay”

Bên vi phạm thời hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng đã cơ cơ hội về sự gia hạn thực hiện nghĩa vụ nhưng sau khi hết thời hạn được gia hạn đó, bên có nghĩa vụ vẫn không hoàn thành nghĩa vụ thì bên có quyền được phép ĐPCDHĐ Xét về bản chất, bên có quyền đã thể hiện sự hợp tác, thiện chí thực hiện hợp đồng nên đã cho bên nghĩa vụ một cơ hội là gia hạn thêm thời hạn thực hiện nghĩa vụ nhưng vì lý do nào đó mà bên có nghĩa vụ vẫn không thực

Trang 24

hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ của mình nên bên có quyền lợi liên quan buộc phải chấm dứt hợp đồng để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Khoản 1, Điều 555 về chậm giao, chậm nhận sản phẩm gia công,

“Trong trường hợp bên nhận gia công chậm giao sản phẩm thì bên đặt gia

công có thể gia hạn; nếu hết thời hạn đó mà bên nhận gia công vẫn chưa hoàn thành công việc thì bên đặt gia công có quyền ĐPCDHĐ và yêu cầu BTTH” Hai bên có thỏa thuận về thời hạn để bên nhận gia công hoàn thành

công việc và giao sản phẩm cho bên đặt gia công, nhưng hết thời hạn đó mà bên nhận gia công vẫn chưa giao sản phẩm thì bên đặt gia công có thể tạo điều kiện để bên đặt gia công hoàn thành công việc của mình bằng cách cho thêm một thời hạn nữa để bên nhận gia công hoàn thành nghĩa vụ và cũng để bên đặt gia công được việc, nhận được sản phẩm gia công, không phải tốn thời gian để tìm hoặc giao kết một hợp đồng gia công khác thay thế Tuy nhiên, nếu hết thời hạn được gia hạn mà bên nhận gia công vẫn chưa hoàn thành công việc thì bên đặt gia công có quyền ĐPCDHĐ và yêu cầu BTTH Theo quy định tại khoản 1, điều 555 này thì bên đặt gia công có thể gia hạn để bên đặt gia công hoàn thành công việc, nếu hết thời hạn được gia hạn mà bên đặt gia công không hoàn thành thì bên nhận gia công có quyền ĐPCDHĐ, nhưng nếu bên đặt gia công không gia hạn cho bên nhận gia công thì hết thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên nhận gia công vẫn chưa giao sản phẩm thì bên đặt gia công có được phép chấm dứt hợp đồng?

Điều 709 về hợp đồng thuê quyền sử dụng đất: “Khi bên thuê chậm trả

tiền thuê quyền sử dụng đất theo thỏa thuận thì bên cho thuê có thể gia hạn; nếu hết thời hạn đó mà bên thuê không thực hiện nghĩa vụ thì bên cho thuê có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, yêu cầu bên thuê trả lại đất Bên cho thuê có quyền yêu cầu bên thuê trả đủ tiền trong thời gian đã thuê kể cả lãi đối với khoản tiền chậm trả theo lãi suất cơ bản do ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán” Bản chất của hợp đồng thuê quyền sử dụng đất thường là những hợp

Trang 25

đồng dài hạn, có thể là mười hoặc hai mươi năm…nên có sự hợp tác lâu dài giữa hai bên Do đó, khi bên thuê chậm trả tiền thuê quyền sử dụng đất theo thỏa thuận thì bên cho thuê có thể gia hạn, nếu hết thời hạn đó mà bên thuê vẫn không thực hiện nghĩa vụ thì bên cho thuê có quyền ĐPCDHĐ, yêu cầu bên thuê trả lại đất

Tất cả các trường hợp nêu trên, thời hạn thực hiện nghĩa vụ là điều kiện

để cho phép một bên được ĐPCDHĐ khi bên kia không thực hiện nghĩa vụ đúng theo thời hạn đã thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật

Thứ hai: Vi phạm về địa điểm thực hiện hợp đồng

Địa điểm thực hiện hợp đồng là nơi các bên thỏa thuận để bên có nghĩa

vụ thực hiện tại đó Địa điểm thực hiện hợp đồng, đặc biệt là địa điểm giao nhận đối tượng của hợp đồng là một nội dung quan trọng trong hợp đồng vì

nó liên quan đến vấn đề chuyển rủi do, liên quan đến chi phí vận chuyển

Theo khoản 2, Điều 534 quy định về ĐPCDHĐ vận chuyển hành

khách: “2 Hành khách có quyền ĐPCDHĐ trong trường hợp bên vận chuyển

vi phạm nghĩa vụ quy định tại các khoản 1, 3 và 4 Điều 529 của Bộ luật này

Điều 529 Nghĩa vụ của bên vận chuyển

Bên vận chuyển có các nghĩa vụ sau đây:

1 Chuyên chở hành khách từ địa điểm xuất phát đến đúng địa điểm, đến đúng giờ, văn minh, lịch sự và bằng phương tiện đã thoả thuận một cách

an toàn, theo lộ trình; bảo đảm đủ chỗ cho khách và không chuyên chở vượt quá trọng tải;

4 Chuyên chở hành lý và trả lại cho hành khách hoặc người có quyền nhận hành lý tại địa điểm thoả thuận theo đúng thời gian, lộ trình;

Bản chất của hợp đồng vận chuyển hành khách là bên vận chuyển chuyên chở hành khách, hành lý từ địa điểm xuất phát đến địa điểm đã định theo thoả thuận Địa điểm là điều khoản quan trọng, không thể thiếu trong hợp đồng vận chuyển hành khách, nó cũng chính là cơ sở để xác định cước phí vận chuyển Theo đó, nếu bên vận chuyển chuyên chở hành khách, hành

Trang 26

lý đến không đúng địa điểm đã thỏa thuận thì hành khách có quyền ĐPCDHĐ

và yêu cầu BTTH bởi mục đích, quyền lợi của hành khách khi tham gia hợp đồng vận chuyển là không đạt được

Tương tự như hợp đồng vận chuyển hành khách, Điều 550 của BLDS

2005quy định quyền của bên đặt gia công: “Bên đặt gia công có các quyền

sau đây: 1.Nhận sản phẩm gia công theo đúng số lượng, chất lượng, phương thức, thời hạn và địa điểm đã thoả thuận;2.ĐPCDHĐ và yêu cầu BTTH khi bên nhận gia công vi phạm nghiêm trọng hợp đồng;…”

Địa điểm giao nhận sản phẩm gia công có ý nghĩa trong việc xác định cước phí vận chuyển Nếu như bên nhận gia công không giao sản phẩm đúng địa điểm thì có thể bên đặt gia công còn mất thêm cả chi phí chờ đợi Do đó nếu bên nhận gia công giao sản phẩm gia công không đúng địa điểm đã thỏa thuận thì bên đặt gia công có quyền ĐPCDHĐ và yêu cầu BTTH

Thứ ba: Vi phạm do không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ phải làm một công việc hoặc không được làm một công việc

Điều 485 Nghĩa vụ bảo đảm giá trị sử dụng của tài sản thuê

1 Bên cho thuê phải bảo đảm tài sản thuê trong tình trạng như đã thoả thuận, phù hợp với mục đích thuê trong suốt thời gian cho thuê; phải sửa chữa những hư hỏng, khuyết tật của tài sản thuê, trừ hư hỏng nhỏ mà theo tập quán bên thuê phải tự sửa chữa

2 Trong trường hợp tài sản thuê bị giảm sút giá trị sử dụng mà không

do lỗi của bên thuê thì bên thuê có quyền yêu cầu bên cho thuê:

c) Đổi tài sản khác hoặc ĐPCDHĐ và yêu cầu BTTH, nếu tài sản thuê không thể sửa chữa được mà do đó mục đích thuê không đạt được hoặc tài sản thuê có khuyết tật mà bên thuê không biết

Bên thuê tài sản sử dụng tài sản thuê với mục đích như: sản xuất, kinh doanh, hoặc vào một công việc nhất định; mục đích đó chỉ đạt được khi tài sản thuê phải có đầy đủ giá trị sử dụng Do đó, khi tài sản bị hư hỏng, khuyết tật, giảm sút giá trị sử dụng mà không thể khắc phục được như tình trạng ban

Trang 27

đầu, mục đích thuê không đạt được thì bên thuê có quyền ĐPCDHĐ và yêu cầu BTTH

Điều 486 Nghĩa vụ bảo đảm quyền sử dụng tài sản cho bên thuê

1 Bên cho thuê phải bảo đảm quyền sử dụng tài sản ổn định cho bên thuê

2 Trong trường hợp có tranh chấp về quyền sở hữu đối với tài sản thuê

mà bên thuê không được sử dụng tài sản ổn định thì bên thuê có quyền ĐPCDHĐ và yêu cầu BTTH

Mục đích thuê tài sản chỉ đạt được khi bên thuê được sử dụng tài sản ổn định, không có sự can thiệp của bất kỳ ai Do đó, nếu bên thuê không được sử dụng tài sản thuê ổn định do có sự tranh chấp về quyền sở hữu đối với tài sản thuê, bên cho thuê đã vi phạm nghĩa vụ bảo đảm quyền sử dụng tài sản cho bên thuê nên pháp luật cho phép bên thuê tài sản để đảm bảo mục đích, quyền lợi của mình có thể ĐPCDHĐ và yêu cầu BTTH

e) Làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến vệ sinh môi trường

2 Bên thuê nhà có quyền ĐPCDHĐ thuê nhà khi bên cho thuê có một trong các hành vi sau đây:

a) Không sửa chữa nhà khi chất lượng nhà giảm sút nghiêm trọng; c) Quyền sử dụng nhà ở bị hạn chế do lợi ích của người thứ ba

Các điểm b, c, d, đ, e của khoản 1, điều 498 đã vi phạm nghĩa vụ của bên thuê là không được làm một công việc nhất định Bên thuê nhà phải sử

Trang 28

dụng nhà đúng mục đích nhưng họ đã sử dụng nhà không đúng mục đích thuê, điều đó ảnh hưởng tới giá trị sử dụng của nhà, an ninh trật tự, môi trường cũng như việc xác định giá thuê nhà…Bên cạnh đó các điểm c, d, đ, e cúng đề cấp về việc bên thuê nhà đã vi phạm nghĩa vụ ảnh hưởng trực tiếp tới quyền lợi của bên cho thuê và cả an ninh trật tự, môi trường xung quanh nhà nên pháp luật quy định bên cho thuê có quyền ĐPCDHĐ khi bên thuê thực hiện một trong các hành vi trên

Ngược lại với quyền của bên cho thuê nhà, theo khoản 2 của điều này bên thuê nhà cũng được phép ĐPCDHĐ khi mục đích thuê không đạt được do chất lượng nhà bị giảm sút nghiêm trọng hoặc quyền sử dụng nhà bị hạn chế

do lợi ích của người thứ ba

Điều 507 Khai thác tài sản thuê khoán

Bên thuê khoán phải khai thác tài sản thuê khoán đúng mục đích đã thoả thuận và báo cho bên thuê khoán theo định kỳ về tình trạng tài sản và tình hình khai thác tài sản; nếu bên cho thuê khoán có yêu cầu hoặc cần báo đột xuất thì bên thuê khoán phải báo kịp thời Khi bên thuê khoán khai thác công dụng tài sản thuê khoán không đúng mục đích thì bên cho thuê khoán có quyền ĐPCDHĐ và yêu cầu BTTH Chúng ta thấy rằng đối tượng của hợp đồng thuê

khoán là đất đai, rừng, mặt nước chưa khai thác, súc vật, cơ sở sản xuất, kinh doanh, tư liệu sản xuất khác cùng trang thiết bị cần thiết để khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức nên việc xác định mục đích sử dụng tài sản thuê khoán là điều khoản quan trọng khi giao kết hợp đồng, nếu bên thuê khoán mà

sử dụng sai mục đích đã thỏa thuận, nó có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới giá trị sử dụng của tài sản thuê khoán Vì vậy bên thuê khoán có quyền ĐPCDHĐ và yêu cầu BTTH để đảm bảo giá trị của tài sản thuê khoán

Tương tự như với hợp đồng thuê nhà và hợp đồng thuê khoán (gọi chung là hợp đồng thuê tài sản) thì bên thuê tài sản phải sử dụng tài sản đúng mục đích đã thỏa thuận, nếu bên thuê tài sản sử dụng tài sản thuê không đúng mục đích thì bên cho thuê có quyền ĐPCDHĐ; với hợp đồng vay tài sản, điều

Trang 29

475 BLDS 2005 quy định về sử dụng tài sản vay: “Các bên có thể thoả thuận

về việc tài sản vay phải được sử dụng đúng mục đích vay; bên cho vay có quyền kiểm tra việc sử dụng tài sản và có quyền đòi lại tài sản vay trước thời hạn, nếu đã nhắc nhở mà bên vay vẫn sử dụng tài sản trái mục đích” Điều này quy định nếu bên vay sử dụng tài sản trái mục đích đã thỏa thuận thì bên cho vay có quyền đòi lại tài sản vay trước thời hạn, thực chất đây chính là một dạng của ĐPCDHĐ, bởi có sự vi phạm nghĩa vụ của bên đối tác và việc chấm dứt hợp đồng này xuất phát từ ý chí của một bên chủ thể, bên cho vay Xét về bản chất thì chấm dứt hợp đồng thuê tài sản và hợp đồng vay tài sản trong trường hợp sử dụng đối tượng của hợp đồng là tài sản sai mục đích so với sự thỏa thuận của các bên là như nhau; tuy nhiên với chế định hợp đồng vay tài sản, BLDS 2005 không quy định về ĐPCDHĐ, theo tác giả thì nên bổ sung quyền ĐPCDHĐ để bảo về quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên

Theo khoản 1, điều 534 quy định về ĐPCDHĐ vận chuyển hành khách:

“1 Bên vận chuyển có quyền ĐPCDHĐ trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 530 của Bộ luật này

(Điểm a, khoản 2, điều 530 quy định bên vận chuyển có quyền từ chối chuyên chở hành khách trường hợp hành khách không chấp hành quy định của bên vận chuyển hoặc có hành vi làm mất trật tự công cộng, cản trở công việc của bên vận chuyển, đe dọa đến tính mạng, sức khoẻ, tài sản của người khác hoặc có những hành vi khác không bảo đảm an toàn trong hành trình; trong trường hợp này, hành khách không được trả lại cước phí vận chuyển và phải chịu phạt vi phạm, nếu điều lệ vận chuyển có quy định;)

Trong trường hợp này hành khách đã vi phạm quy tắc vận chuyển: không chấp hành quy định của bên vận chuyển, có hành vi làm mất trật tự công cộng…đều gây ảnh hưởng đến quá trình vận chuyển, làm mất uy tín, gây tổn hại đến quyền lợi và công việc vận chuyển nên để bảo vệ lợi ích của mình, bên vận chuyển có quyền ĐPCDHĐ

Điều 521 Quyền của bên thuê dịch vụ

Trang 30

Bên thuê dịch vụ có các quyền sau đây:

1 Yêu cầu bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc theo đúng chất

lượng, số lượng, thời hạn, địa điểm và các thoả thuận khác;

2 Trong trường hợp bên cung ứng dịch vụ vi phạm nghiêm trọng nghĩa

vụ thì bên thuê dịch vụ có quyền ĐPCDHĐ và yêu cầu BTTH Theo quy định

tại điều này, bên cung ứng dịch vụ nếu vi phạm nghiêm trọng việc thực hiện

nghĩa vụ như vi phạm về chất lượng, số lượng, thời hạn, địa điểm… thì bên

thuê dịch vụ có quyền ĐPCDHĐ Vậy vi phạm như thế nào được coi là nghiêm

trọng để bên bị vi phạm còn căn cứ vào đó để thực hiện quyền ĐPCDHĐ

Cũng tương tự như điều 521, Điều 550 quy định về quyền của bên đặt

gia công: “Bên đặt gia công có các quyền sau đây:

1 Nhận sản phẩm gia công theo đúng số lượng, chất lượng, phương

thức, thời hạn và địa điểm đã thoả thuận;

2 ĐPCDHĐ và yêu cầu BTTH khi bên nhận gia công vi phạm nghiêm

trọng hợp đồng”; Theo quy định này phải chăng cứ vi phạm về số lượng, chất

lượng, phương thức, thời hạn và địa điểm đã thỏa thuận thì được coi là vi phạm

nghiêm trọng? Trong BLDS 2005chưa đưa ra khái niệm về vi phạm nghiêm

trọng, để từ đó bên bị vi phạm xác định mức độ vi phạm và ĐPCDHĐ Như đã

đề cập trong phần đầu của mục 2.1.1 này, vi phạm nghĩa vụ tức là bên có nghĩa

vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ của

mình Tuy nhiên việc vi phạm gây hậu quả ở mức độ khác nhau, nếu chưa để

xảy ra hậu quả hoặc hậu quả không đáng kể cho bên bị vi phạm thì đây được

coi là vi phạm chưa nghiêm trọng BLDS 2005đã có một số đề cập tới vi phạm

nghiêm trọng như điểm c, khoản 1, điều 498 về hợp đồng thuê nhà ở: “Bên cho

thuê nhà có quyền ĐPCDHĐ thuê nhà và yêu cầu BTTH khi bên thuê cố ý làm

nhà hư hỏng nghiêm trọnghoặc theo điểm a, khoản 2, điều 498 “Bên thuê nhà

có quyền ĐPCDHĐ thuê nhà và yêu cầu BTTH khi bên cho thuê có một trong

các hành vi sau đây: Không sửa chữa nhà khi chất lượng nhà giảm sút nghiêm

trọng” Như vậy theo quy định tại các điều khoản nêu trên, vi phạm được coi là

Trang 31

nghiêm trọng khi tác động tới lợi ích của bên bị vi phạm Vậy vi phạm có tính chất nghiêm trọng làm ảnh hưởng trực tiếp tới lợi ích của bên kia, như là: bên

có quyền không nhận được kết quả thực hiện công việc của bên có nghĩa vụ hoặc bên vi phạm làm giảm sút giá trị tài sản của bên kia…và lợi ích ở đây bao gồm cả lợi ích về vật chất và lợi ích tinh thần

Khoản 2, điều 706 quy định về quyền của bên cho thuê quyền sử dụng

đất “ Yêu cầu bên thuê quyền sử dụng đất chấm dứt ngay việc sử dụng đất

không đúng mục đích, huỷ hoại đất hoặc làm giảm sút giá trị sử dụng của đất; nếu bên thuê không chấm dứt ngay hành vi vi phạm thì bên cho thuê có quyền ĐPCDHĐ, yêu cầu bên thuê trả lại đất đang thuê và BTTH” Bên thuê quyền

sử dụng đất sử dụng đất không đúng mục đích, đặc biệt là hủy hoại đất hoặc làm giảm sút giá trị sử dụng của đất, những vi phạm này không những làm ảnh hưởng trực tiếp tới lợi ích của bên cho thuê, tức bên có quyền sử dụng mà còn làm ảnh hưởng tới quyền sở hữu đất của Nhà nước, do đó đây được coi là những vi phạm đặc biệt nghiêm trọng, bên cho thuê có quyền ĐPCDHĐ

Thứ tư: Vi phạm về giá, phương thức thanh toán

Điểm b, khoản 2, điều 498 quy định về ĐPCDHĐ thuê nhà ở: “Bên

thuê nhà có quyền ĐPCDHĐ thuê nhà khi bên cho thuê có một trong các hành vi sau đây: tăng giá thuê nhà bất hợp lý” Theo quy định này nếu bên

cho thuê mà tăng giá bất hợp lý thì bên thuê có quyền ĐPCDHĐ hoặc có quyền tiếp tục thực hiện hợp đồng thuê nhà ở theo giá cũ, nếu như trong hợp đồng không có quy định về cơ chế thay đổi giá thuê hoặc có quy định về sự thay đổi giá thuê nhưng thay đổi trong một khung giá nhất định và bên cho thuê tăng giá thuê vượt quá khung giá đã được hai bên thỏa thuận trong hợp đồng

Thứ năm: Vi phạm đạo đức xã hội, an ninh trật tự trong quá trình thực hiện hợp đồng

Điều 498 ĐPCDHĐ thuê nhà ở

1 Bên cho thuê nhà có quyền ĐPCDHĐ thuê nhà khi bên thuê có một trong các hành vi sau đây:…

Trang 32

đ) Làm mất trật tự công cộng nhiều lần và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh hoạt bình thường của những người xung quanh;

e) Làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến vệ sinh môi trường

Các bên có quyền tự do giao kết hợp đồng, tuy nhiên sự tự do ý chí phải nằm trong một khuôn khổ nhất định Bên cạnh việc chú ý đến quyền lợi của mình, các bên phải hướng tới việc bảo đảm quyền lợi của những người khác cũng như lợi ích của toàn xã hội Vì vậy tự do của mỗi chủ thể phải không được trái pháp luật, đạo đức xã hội, tôn trọng lợi ích của cộng đồng Trong trường hợp này bên thuê nhà ở đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng, xâm phạm tới trật tự và lợi ích công cộng nên bên cho thuê nhà có quyền ĐPCDHĐ để bảo vệ lợi ích cộng đồng

Thứ sáu: Vi phạm sự thiện chí, hợp tác, trung thực trong quá trình

thực hiện hợp đồng

Điều 573 Nghĩa vụ thông tin của bên mua bảo hiểm

1 Khi giao kết hợp đồng bảo hiểm, theo yêu cầu của bên bảo hiểm, bên mua bảo hiểm phải cung cấp cho bên bảo hiểm đầy đủ thông tin có liên quan đến đối tượng bảo hiểm, trừ thông tin mà bên bảo hiểm đã biết hoặc phải biết

2 Trong trường hợp bên mua bảo hiểm cố ý cung cấp thông tin sai nhằm giao kết hợp đồng để hưởng tiền bảo hiểm thì bên bảo hiểm có quyền ĐPCDHĐ và thu phí bảo hiểm đến thời điểm chất dứt hợp đồng

Bên mua bảo hiểm đã vi phạm nguyên tắc thiện chí, hợp tác và trung thực khi cung cấp thông tin sai lệch liên quan đến đối tượng bảo hiểm trong quá trình giao kết cũng như thực hiện hợp đồng để hưởng tiền bảo hiểm Điều này đã vi phạm các nguyên tắc của luật bảo hiểm, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của bên bảo hiểm, do đo bên bảo hiểm có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng

2.1.2 Bên đối tác có lỗi khi vi phạm nghĩa vụ dân sự

Xem xét yếu tố lỗi của bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng thì lỗi là sự thể hiện thái độ, trạng thái tâm lý của chủ thể với hành vi vi phạm nghĩa vụ của

Trang 33

mình, gây thiệt hại cho chủ thể khác Khi một người có đủ nhận thức và điều kiện lựa chọn cách xử sự để thực hiện nghĩa vụ, tránh thiệt hại cho chủ thể khác nhưng vẫn thực hiện hành vi gây thiệt hại thì người đó bị coi có lỗi

Căn cứ vào nhận thức của người gây thiệt hại đối với hành vi và hậu qảu của hành vi mà họ thực hiện, lỗi được chia thành các hình thức và trạng thái khác nhau như sau:

- Lỗi cố ý: Một người bị coi là có lỗi cố ý nếu họ đã nhận thức rõ hành

vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện hành vi đó Nếu người này mong muốn thiệt hại xảy ra từ việc thực hiện hành vi thì lỗi của họ

là lỗi cố ý trực tiếp Nếu họ không mong muốn thiệt hại xảy ra nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra thì lỗi của họ là lỗi cố ý gián tiếp

- Lỗi vô ý: người có hành vi gây thiệt hại được xác định là có lỗi vô ý nếu họ không thấy trước được hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại mặc dù họ phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra thì lỗi của họ được xác định là lỗi vô ý cẩu thả Nếu họ cho rằng có thể ngăn chặn được thiệt hại thì lỗi của họ là lỗi vô ý vì quá tự tin

Khoản 4, Điều 426 quy định “Bên có lỗi trong việc hợp đồng bị đơn phương chấm dứt phải bồi thường” Trong trường hợp hợp đồng bị đơn phương chấm dứt do có sự vi phạm của bên đối tác thì vấn đề lỗi được xác định cho bên vi phạm hợp đồng

Trong một số hợp đồng chuyên biệt quy định về ĐPCDHĐ không đề cập tới vấn đề lỗi nhưng trong nội hàm của những hợp đồng này đã chứa đựng lỗi của bên vi phạm hợp đồng dẫn đến chấm dứt hợp đồng Do vậy việc

vi phạm với lỗi cố ý hay vô ý không quan trọng để xác định việc ĐPCDHĐ nhưng trong một số trường hợp nhất định, việc xác định hình thức lỗi, trạng thái lỗi của người vi phạm có ý nghĩa trong việc xác lập quyền ĐPCDHĐ của bên kia hay không?

Bên vi phạm nghĩa vụ dẫn đến ĐPCDHĐ thường là vi phạm với lỗi cố

ý Theo Khoản 2, điều 573 “Trong trường hợp bên mua bảo hiểm cố ý cung

Trang 34

cấp thông tin sai nhằm giao kết hợp đồng để hưởng tiền bảo hiểm thì bên bảo hiểm có quyền ĐPCDHĐ và thu phí bảo hiểm đến thời điểm chất dứt hợp đồng” Bên mua bảo hiểm đã vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin của người

mua bảo hiểm, cụ thể là đã cố ý cung cấp thông tin sai nhằm giao kết hợp đồng để hưởng tiền bảo hiểm Bên mua bảo hiểm đã vi phạm hợp đồng với lỗi

cố ý dẫn đến hợp đồng bị đơn phương chấm dứt

Theo điểm c, khoản 1, điều 498 quy định “ Bên cho thuê nhà có quyền

ĐPCDHĐ thuê nhà ở khi bên thuê nhà cố ý làm nhà hư hỏng nghiêm trọng”

Do đó, bên thuê nhà để được tiếp tục thực hiện hợp đồng, họ có nghĩa vụ chứng minh việc làm nhà hư hỏng nghiêm trọng là với lỗi vô ý, nếu không hợp đồng sẽ được chấm dứt do ý chí của bên cho thuê nhà

2.1.3 Có thiệt hại xảy ra trong thực tế

Thiệt hại là sự biến đổi theo chiều hướng xấu đi trong tài sản của một người thể hiện ở những tổn thất thực tế tính được thành tiền mà người đó phải gánh chịu

Trong thực tế thiệt hại xảy ra do một bên vi phạm nghĩa vụ bao gồm: những tài sản bị mất mát hoặc bị hủy hoại hoàn toàn, những hư hỏng, giảm sút giá trị về tài sản, những chi phí mà người bị vi phạm bỏ ra để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục những hậu quả do người vi phạm nghĩa vụ gây ra, những tổn thất do thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút

Về mặt lý luận, người ta chia những thiệt hại nói trên thành hai loại:

- Những thiệt hại trực tiếp: là những thiệt hại đã xảy ra một cách khách quan trong thực tế mà mức thiệt hại dễ dàng xác định được như:

+ Chi phí thực tế và hợp lý: là những khoản tiền hoặc lợi ích vật chất khác mà người bị thiệt hại phải bỏ ra ngoài dự định của mình để khắc phục những tình trạng xấu do hành vi vi phạm nghĩa vụ của bên kia gây ra

+ Tài sản bị hư hỏng, mất mát, hủy hoại: là sự giảm sút giá trị của một tài sản hoặc sự thiếu hụt về tài sản do người có nghĩa vụ gây ra

Trang 35

- Những thiệt hại gián tiếp: là những thiệt hại mà phải dựa trên sự tính toán khoa học mới xác định được mức độ thiệt hại Thiệt hại này còn được gọi là thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút

Theo Khoản 4, Điều 426 quy định: “Bên có lỗi trong việc hợp đồng bị

đơn phương chấm dứt phải BTTH” Trong trường hợp này thì bên có lỗi, bên

gây ra thiệt hại dẫn đến hợp đồng bị chấm dứt và phải BTTH là bên vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng Thông thường khi có sự vi phạm hợp đồng thì đồng nghĩa với việc bên vi phạm đã gây ra một thiệt hại cho bên đối tác, do đó trước khi bên đối tác ra quyết định ĐPCDHĐ thì đã có một thiệt hại xảy ra và xác định Thiệt hại được bồi thường ở đây có thể bao gồm cả các thiệt hại do hành vi vi phạm gây ra cũng như các thiệt hại có liên quan đến quá trình thực hiện quyền ĐPCDHĐ

2.2 Trình tự ĐPCDHĐ khi có sự vi phạm của bên đối tác

Trình tự ĐPCDHĐ là quá trình mà trong đó một bên chủ thể bày tỏ ý chí bằng cách đưa thông tin tới bên kia về việc chấm dứt hợp đồng, do đó nó diễn ra theo các bước sau:

2.2.1 Bên có quyền ĐPCDHĐ thông báo về việc chấm dứt hợp đồng

Thông báo chính là cách thể hiện ý chí của bên có quyền ĐPCDHĐ Thông báo có thể là bình thường (thiết lập một hạn chót) hoặc đột xuất (có hiệu lực ngay lập tức) Trong trường hợp bình thường thông báo, việc chấm dứt hợp đồng chỉ xảy ra sau khi hết thời hạn thông báo (ví dụ, mười lăm ngày; ngày cuối cùng của tháng, …); bất thường thông báo (với một hiệu ứng tức thì) thường có thể được áp dụng chỉ như là một xử phạt vi phạm nghiêm trọng của hợp đồng Thường thông báo là cơ hội điển hình cho chấm dứt hợp đồng

đã ký kết trong một khoảng thời gian vô hạn về thời gian, mà không cần lý

do, tuy nhiên, các hợp đồng ký kết có thời hạn về thời gian có thể thường không được kết thúc với một thông báo bình thường chỉ với một thông báo bất thường, và lý do phải được cung cấp Theo Điều 1.10 của Bộ nguyên tắc PICC của UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế thì “1 Khi được yêu

Trang 36

cầu, một thông báo có thể được thực hiện dưới bất kỳ cách thức phù hợp với hoàn cảnh…3 Một thông báo đến bên nhận khi bên này được thông báo bằng miệng hoặc thông báo được giao đến trụ sở hay địa chỉ thư tín của bên này”

Như vậy thông báo được thể hiện dưới hai hình thức cơ bản là bằng miệng (thông báo trực tiếp) hoặc thông báo được giao đến trụ sở hay địa chỉ thư tín của bên kia (thông báo gián tiếp)

Khi bên có nghĩa vụ có sự chậm trễ trong việc thực hiện nghĩa vụ hoặc không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ, bên có quyền ĐPCDHĐ có bắt buộc phải thông báo cho bên kia về việc vi phạm nghĩa vụ

hay không? Theo khoản 2, điều 426 BLDS 2005quy định “Bên ĐPCDHĐ

phải thông báo ngay cho bên kia biết về việc chấm dứt hợp đồng, nếu không thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường" Theo quy định này thì bên có

quyền ĐPCDHĐ sẽ mất quyền này nếu không thông báo cho bên kia trong một thời hạn hợp lý kể từ khi bên họ đã biết hoặc lẽ ra phải biết về việc chậm trễ, không thực hiện nghĩa vụ hay việc thực hiện không đúng Do đó việc thông báo này được coi như một nghĩa vụ của bên có quyền ĐPCDHĐ Hơn thế nữa, nếu như bên có quyềm này không thông báo về việc chấm dứt hợp đồng mà họ không thực hiện nghĩa vụ của mình với bên kia, dẫn đến việc gây thiệt hại thì họ phải BTTH Bên cạnh đó, tùy từng trường hợp, từng loại hợp đồng mà bên có quyền ngoài việc phải thông báo ngay cho bên kia về việc chấm dứt hợp đồng mà còn phải thông báo trước một thời gian hợp lý Vậy thời hạn hợp lý là bao nhiêu? Ví dụ theo khoản 3, điều 498 BLDS 2005quy

định: “Bên ĐPCDHĐ thuê nhà phải báo cho bên kia biết trước một tháng,

nếu không có thoả thuận khác” Như vậy, nếu như các bên không có thỏa

thuận khác thì bên nào có quyền ĐPCDHĐ phải thông báo cho bên kia biết trước một tháng Quy định này chỉ đúng với trường hợp bên cho thuê nhà ĐPCDHĐ, đưa ra thời hạn thông báo để bên thuê nhà biết và chuẩn bị nơi ở mới; tuy nhiên với trường hợp bên thuê nhà ĐPCDHĐ thì việc đưa ra thời hạn thông báo là không hợp lý, bởi họ được phép chấm dứt hợp đồng khi mục

Trang 37

đích thuê, quyền và lợi ích của họ rõ ràng không được đảm bảo (Bên thuê nhà

có quyền ĐPCDHĐ thuê nhà khi bên cho thuê có một trong các hành vi sau đây: a) Không sửa chữa nhà khi chất lượng nhà giảm sút nghiêm trọng; b) Tăng giá thuê nhà bất hợp lý; c) Quyền sử dụng nhà ở bị hạn chế do lợi ích của người thứ ba) Do đó, bên thuê nhà chỉ cần đưa ra thông báo đột xuất với

hiệu ứng tức thì (có hiệu lực ngay lập tức) như là một xử phạt nghiêm trọng

của hợp đồng Theo Điều 510 BLDS 2005 quy định “Trong trường hợp một

bên ĐPCDHĐ thì phải báo cho bên kia biết trước một thời gian hợp lý; nếu thuê khoán theo thời vụ hoặc theo chu kỳ khai thác thì thời hạn báo trước phải phù hợp với thời vụ hoặc chu kỳ khai thác” Như vậy, trừ trường hợp các

bên thực hiện thuê khoán theo thời vụ hoặc chu kỳ khai thác thì bên ĐPCDHĐ phải báo trước một thời gian hợp lý, vậy thời gian hợp lý trong trường hợp này là như thế nào?

Qua phân tích một số điều luật, có hai vấn đề được đặt ra, thứ nhất

“thời hạn hợp lý” được xác định như thế nào; thứ hai là trong thời hạn thông báo về việc chấm dứt hợp đồng thì các bên có thực hiện tiếp nghĩa vụ không?

Bên ĐPCDHĐ phải thông báo trước một thời gian hợp lý, tức là

đưa ra một hạn chót về việc hợp đồng được chấm dứt Thời hạn hợp lý này có thể được các bên thỏa thuận trong hợp đồng, hoặc theo một quy định pháp lý hoặc có thể áp dụng tiền lệ, tập quán với từng loại hợp đồng cụ thể Xét tới cùng thì việc xác định cơ sở để tính thời hạn hợp lý đều phải dựa vào bản chất

của từng hợp đồng Ví dụ, theo khoản 1, điều 499 BLDS 2005 quy định “Hợp

đồng thuê nhà chấm dứt khi thời hạn thuê đã hết, nếu hợp đồng không xác định thời hạn thuê thì hợp đồng chấm dứt sau sáu tháng, kể từ ngày bên cho thuê báo cho bên thuê biết về việc đòi nhà” Trong trường hợp không có sự vi

phạm hợp đồng của bên thuê nhà thì bên cho thuê nhà chỉ được chấm dứt hợp đồng khi báo trước 6 tháng cho bên thuê nhà Vậy khi có sự vi phạm hợp đồng của bên thuê nhà thì bên cho thuê nhà chỉ phải báo trước một thời gian chắc chắn là nhỏ hơn sáu tháng Xét về bản chất, bên có quyền được

Trang 38

ĐPCDHĐ khi có sự vi phạm của bên đối tác và sự vi phạm này không thể khắc phục nếu tiếp tục thực hiện hợp đồng nên việc đặt ra thời hạn báo trước

là không cần thiết Chỉ trong một số trường hợp đặc biệt mà ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của bên vi phạm thì bên ĐPCDHĐ mới phải báo trước như: hợp đồng thuê nhà, hợp đồng thuê khoán…BLDS 2005cũng không quy định thời hạn báo trước đối với một số loại hợp đồng như: hợp đồng thuê tài sản, hợp đồng thuê dịch vụ với trường hợp bên cung ứng dịch vụ nghiêm trọng nghĩa vụ, hợp đồng vận chuyển hành khách, hợp đồng gia công khai có

sự vi phạm nghĩa vụ của bên nhận gia công, hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng thuê quyền sử dụng đất Trong các trường hợp này, bên có quyền ĐPCDHĐ chỉ phải đưa ra một thông báo bất thường hay còn gọi là thông báo đột xuất, thông báo này có hiệu lực ngay lập tức

Trong thời hạn thông báo chấm dứt hợp đồng thì các bên có thực hiện tiếp nghĩa vụ của hợp đồng? Như đã đề cập trong nội dung trên,

ĐPCDHĐ chỉ xảy ra khi có sự vi phạm hợp đồng của bên đối tác, sự vi phạm này không thể khắc phục và không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng được nữa cho nên bên có quyền và lợi ích liên quan nếu phát hiện ra sự vi phạm nghiêm trọng hợp đồng của bên đối tác thì có quyền yêu cầu chấm dứt ngay hành vi phạm Theo khoản 2, điều 706 BLDS 2005về quyền của bên cho thuê quyền

sử dụng đất quy định “Yêu cầu bên thuê quyền sử dụng đất chấm dứt ngay

việc sử dụng đất không đúng mục đích, huỷ hoại đất hoặc làm giảm sút giá trị

sử dụng của đất; nếu bên thuê không chấm dứt ngay hành vi vi phạm thì bên cho thuê có quyền ĐPCDHĐ, yêu cầu bên thuê trả lại đất đang thuê và BTTH” Bên thuê quyền sử dụng đất nếu vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của

người sử dụng thì bên cho thuê có quyền yêu cầu bên vi phạm chấm dứt ngay hành vi vi phạm, nếu không chấm dứt thì bên cho thuê có quyền ĐPCDHĐ và điều này cũng được tác giả nêu ở phần đặc điểm của chương này, đó là hợp đồng bắt buộc phải được chấm dứt để bảo vệ quyền và lợi ích cho bên có quyền Do đó, với trường hợp có sự vi phạm của bên đối tác, trong thời hạn

Ngày đăng: 01/04/2018, 17:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w