Tình hình nghiên cứu đề tài: Hiện nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về công ty cổ phần, thị trường chứng khoán tại Việt Nam như: Chuyên khảo Luật kinh tế của PGS.TS Phạm Duy Ngh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÙI MINH NGUYỆT
BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA CỔ ĐÔNG TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM – NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ
THỰC TIỄN
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 50
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Bùi Ngọc Cường
HÀ NỘI - 2010
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU………01
Chương 1 KHÁI LUẬN VỀ QUYỀN LỢI CỦA CỔ ĐÔNG VÀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA CỔ ĐÔNG TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN………….06
1.1 QUYỀN LỢI CỦA CỔ ĐÔNG TRONG CÔNG TY CỔ PHẨN…… 06
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của cổ đông……….06
1.1.1.1 Khái niệm cổ đông……… 06
1.1.1.2 Đặc điểm cổ đông………06
1.1.2 Phân loại cổ đông………09
1.1.3 Bản chất quyền lực của cổ đông………10
1.1.4 Các quyền cơ bản của cổ đông……… 11
1.2 BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA CỔ ĐÔNG TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN………13
1.2.1 Mục đích, ý nghĩa của việc bảo vệ quyền lợi của cổ đông………13
1.2.2 Cơ chế bảo vệ quyền lợi của cổ đông……….14
1.2.2.1 Cổ đông tự bảo vệ………… ……… 14
1.2.2.2 Các thiết chế bảo vệ nội bộ……… 14
1.2.2.3 Các thiết chế khác……….18
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA CỔ ĐÔNG TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN TẠI VIỆT NAM……… 21
2.1 CÁC QUYỀN CỦA CỔ ĐÔNG……… 21
2.1.1 Nhóm quyền về tài sản……….21
2.1.1.1 Quyền hưởng cổ tức………21
2.1.1.2 Quyền được mua, bán, chuyển nhượng cổ phần……….22
2.1.1.3 Quyền nhận lại tài sản khi công ty phá sản, giải thể……… …27
2.1.2 Nhóm quyền liên quan đến quản lý của cổ đông … ….28
2.1.2.1 Quyền tham dự Đại hội đồng cổ đông……… … 28
Trang 32.1.2.3 Quyền đề cử thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát………… 35
2.1.3 Các quyền khác………36
2.1.3.1 Quyền tự do tiếp cận thông tin………36
2.1.3.2 Quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường……… 40
2.2 CÁC PHƯƠNG THỨC BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA CỔ ĐÔNG…….41
2.2.1 Tự bảo vệ……… 41
2.2.2 Các thiết chế nội bộ……… 42
2.2.2.1 Đại hội đồng cổ đông……… 42
2.2.2.2 Hội đồng quản trị, Giám đốc(TGĐ)………44
2.2.2.3 Ban kiểm soát……… 47
2.2.3 Các thiết chế khác……… 52
2.2.3.1 Uỷ ban chứng khoán nhà nước………52
2.2.3.2 Toà án và hệ thống cơ quan tư pháp……… 54
2.2.3.3 Kiểm toán độc lập……… …55
2.2.3.4 Xử lý hành vi vi phạm pháp luật liên quan tới quyền và lợi ích của cổ đông……… 56
Chương 3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA CỔ ĐÔNG TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN TẠI VIỆT NAM……….60
3.1 PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA CỔ ĐÔNG……….61
3.1.1 Đảm bảo hài hoà lợi ích của cổ đông với công ty cổ phần………61
3.1.2 Đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ và phù hợp với hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung………61
3.1.3 Đảm bảo sự phù hợp với thông lệ quốc tế……… 62
Trang 4VỆ QUYỀN LỢI CỦA CỔ ĐÔNG TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN TẠI VIỆT NAM
3.2.1 Hoàn thiện các quy định về quyền của cổ đông……….62 3.2.2 Hoàn thiện các quy định về quyền và nghĩa vụ của BKS……….63 3.2.3 Hoàn thiện các quy định về trách nhiệm, nghĩa vụ của HĐQT…… 64 3.2.4 Hoàn thiện các quy định về kiểm toán độc lập……… 65 3.2.5 Nâng cao vai trò của các cơ quan nhà nước trong việc bảo vệ quyền lợi của cổ đông tạo nên cơ chế thực thi phù hợp……… 65 3.2.6 Nâng cao chất lượng xét xử của toà án và các thiết chế bổ trợ tư pháp……….66 3.2.7 Bổ sung và hoàn thiện một số chế tài hành chính và hình sự……… 66 KẾT LUẬN……… …… 68 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 69
Trang 5BKS Ban kiểm soát
CK Chứng khoán ĐHĐCĐ Đại hội đồng cổ đông
GĐ (TGĐ) Giám đốc (Tổng giám đốc) HĐQT Hội đồng quản trị
LDN Luật Doanh nghiệp LCK Luật Chứng khoán UBCKNN Ủy ban chứng khoán nhà nước
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài:
Công ty cổ phần là loại hình công ty có lịch sử phát triển khá “non trẻ” tại Việt Nam, tuy nhiên những thành tựu mà loại hình công ty này mang đến lại không hề nhỏ So với các loại hình công ty khác, công ty cổ phần có nhiều lợi thế hơn hẳn: cổ đông chịu trách nhiệm hữu hạn, việc chuyển nhượng vốn góp được thực hiện một cách tự do, có cấu trúc vốn và tài chính linh hoạt, có cơ chế quản lý tập trung cao…Chính những lợi thế đó đã góp phần thu hút công chúng đầu tư vào loại hình công ty này Trong điều kiện hiện nay của Việt Nam khi chúng ta chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì việc nâng cao năng lực sản xuất của xã hội theo hướng khai thác các tiềm năng sẵn có về vốn, lao động, trình độ quản lý và các nguồn lực vật chất cần thiết khác cho nhu cầu đầu tư và phát triển của đất nước là một nhân tố quan trọng bảo đảm cho việc thực hiện thành công các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội theo Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam Vì thế phát triển loại hình công
ty cổ phần là một chiến lược đúng đắn, góp phần kêu gọi đầu tư dưới những hình thức rất linh hoạt Nhà đầu tư bỏ vốn và hưởng lợi tức theo phần vốn góp
Tuy nhiên, một thực tế dễ nhận thấy là hiện nay, việc đầu tư của công chúng (cổ đông) vào công ty cổ phần lại chịu khá nhiều rủi ro Những rủi ro này có thể bắt nguồn từ chính cổ đông do chủ quan, thiếu thông tin… nhưng phần lớn những rủi ro mà họ phải gánh chịu lại bắt nguồn từ chính công ty mà
họ đầu tư vào Đó có thể là do bộ máy lãnh đạo công ty làm ăn không chính đáng, những sách lược mà họ đưa ra không phù hợp… Và như vậy quyền lợi của cổ đông đã bị ảnh hưởng
Trang 7Trong tiến trình hội nhập hiện nay, nhà nước ta đang mở cửa để thu hút đầu
tư mạnh mẽ Để thu hút đầu tư, ngoài môi trường đầu tư hấp dẫn, chúng ta cần tạo sự yên tâm về mặt pháp luật, đảm bảo cho quyền và lợi ích hợp pháp cho các nhà đầu tư Nhà đầu tư trong công ty cổ phần chính là cổ đông và quyền lợi của họ cần được bảo vệ Tuy nhiên pháp luật về bảo vệ quyền lợi của cổ đông của Việt Nam hiện nay còn có nhiều điểm chưa phù hợp Luật doanh nghiệp chưa tạo ra sự cân bằng giữa cơ chế quản lý và kiểm soát… Điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ tới quyền lợi của cổ đông nói riêng và môi trường thu hút đầu tư của Việt Nam nói chung
Vì thế tác giả đã lựa chọn đề tài: “Bảo vệ quyền lợi của cổ đông trong công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” để làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo vệ cổ đông
trong công ty cổ phần, qua đó đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi của cổ đông trong công
ty cổ phần
2 Tình hình nghiên cứu đề tài:
Hiện nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về công ty cổ phần, thị trường chứng khoán tại Việt Nam như: Chuyên khảo Luật kinh tế của PGS.TS Phạm Duy Nghĩa (2004); Quyền và nghĩa vụ của cổ đông của NXB Chính trị quốc gia (2003); Công ty cổ phần trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam - luận văn thạc sĩ luật học của Đồng Ngọc Ba (2000); Hoàn thiện pháp luật về các loại hình công ty trong nền kinh tế thị trường tại Việt Nam - luận án tiến sĩ luật học của Trần Ngọc Liêm (2002); Bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số theo pháp luật Việt Nam - luận văn thạc sĩ luật học của Trương Thế Côn (2007)… Các công trình khoa học đó đã đề cập đến một số khía cạnh khác nhau về công ty cổ phần, cổ đông, việc bảo vệ quyền lợi của cổ đông trong công ty cổ phần Tuy nhiên các công trình đó đi sâu nghiên cứu về loại hình
Trang 8công ty cổ phần, chỉ nghiên cứu một cách khái quát về cổ đông, chưa đề cập một cách sâu sắc, hệ thống cả về lý luận cũng như thực tiễn cũng như chưa đưa ra cơ chế thực thi vấn đề bảo vệ quyền lợi của cổ đông nói chung trong công ty cổ phần
3 Phạm vi nghiên cứu đề tài:
Trong công ty cổ phần, mọi chiến lược kinh doanh, mục tiêu lợi nhuận của công ty đều có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới quyền và lợi ích của cổ đông Vì thế cổ đông chính là chủ thể trung tâm của loại hình công ty này Tuy nhiên trong phạm vi của một luận văn thạc sĩ, tác giả không đi sâu nghiên cứu mọi vấn đề liên quan đến quyền lợi của cổ đông mà chỉ tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận về cổ đông, từ đó nghiên cứu các quy định về bảo
vệ quyền lợi của cổ đông trong công ty cổ phần tại Việt Nam theo Luật Doanh nghiệp 2005 và Luật chứng khoán 2006 Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng pháp luật bảo vệ quyền lợi của cổ đông trong công ty cổ phần, tác giả đưa ra một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật bảo vệ cổ đông trong công ty cổ phần
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài:
Luận văn được trình bày dựa trên cơ sở vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác – LêNin về nhà nước và pháp luật Đồng thời luận văn đã vận dụng những quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế thị trường trong thời kỳ đổi mới
Để làm rõ các vấn đề cần nghiên cứu đã đặt ra, luận văn kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau như: duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh và đối chiếu…
để giải quyết vấn đề khoa học của luận văn
5 Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài:
Trang 9Lựa chọn nghiên cứu đề tài trên, tác giả muốn làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về cổ đông, bảo vệ quyền lợi của cổ đông trong công ty cổ phần, đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về vấn đề bảo vệ cổ đông, trên cơ sở đó tác giả mạnh dạn đưa ra một số giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật về bảo
vệ cổ đông trong công ty cổ phần tại Việt Nam
Để đạt được mục đích trên, tác giả tập trung giải quyết những nhiệm vụ cơ bản sau:
- Phân tích khái niệm, đặc điểm, phân loại cổ đông; nguồn gốc, bản chất quyền lực của cổ đông, các quyền cơ bản của cổ đông;
- Làm rõ mục đích, ý nghĩa của việc bảo vệ quyền lợi của cổ đông, các cơ chế bảo vệ quyền lợi của cổ đông;
- Phân tích và làm sáng tỏ các quy định về quyền của cổ đông, các thiết chế nội bộ, thiết chế trung gian tham gia vào việc bảo vệ quyền lợi của cổ đông;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi của cổ đông trong công ty cổ phần ở Việt Nam
6 Dự kiến những kết quả nghiên cứu mới của luận văn:
Trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ, luận văn sẽ làm sáng tỏ một cách
có hệ thống những vấn đề lý luận về bảo vệ cổ đông trong công ty cổ phần để làm cơ sở cho việc hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi của cổ đông trong công ty cổ phần Đồng thời luận văn sẽ phân tích, đánh giá thực trạng của pháp luật bảo vệ quyền lợi của cổ đông, chỉ ra những điểm bất cập chưa hợp
lý, qua đó đưa ra những giải pháp, kiến nghị mang tính thống nhất góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi cổ đông trong công ty cổ phần
7 Cơ cấu của luận văn:
Trang 10Ngoài mục lục, lời nói đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được
bố cục gồm 3 chương:
Chương 1: Khái luận về quyền lợi của cổ đông và bảo vệ quyền lợi của cổ
đông trong công ty cổ phần;
Chương 2: Thực trạng pháp luật về bảo vệ quyền lợi của cổ đông trong
công ty cổ phần tại Việt Nam;
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi
của cổ đông trong công ty cổ phần tại Việt Nam
Trang 11Chương 1 KHÁI LUẬN VỀ QUYỀN LỢI CỦA CỔ ĐÔNG VÀ BẢO VỆ QUYỀN
LỢI CỦA CỔ ĐÔNG TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN
1.1 QUYỀN LỢI CỦA CỔ ĐÔNG TRONG CÔNG TY CỔ PHẨN
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của cổ đông
1.1.1.1 Khái niệm cổ đông
Công ty cổ phần là một tổ chức có tư cách pháp nhân, hoàn thiện về vốn, mang tính tổ chức và tính xã hội cao Trong đó điều cơ bản và là đặc trưng là vốn cơ bản (vốn điều lệ) của công ty được chia thành các phần bằng nhau gọi là cổ phần Người sở hữu các cổ phần đó được gọi là cổ đông Theo PGS.TS Phạm Duy Nghĩa, cổ đông là những người mua cổ phần để hùn vốn vào công ty cổ phần [18], còn theo khoản 11 Điều 4 LDN 2005, cổ đông được hiểu là “người sở hữu ít nhất một cổ phần đã phát hành của công ty cổ phần”
Như vậy có thể thấy rằng một cá nhân hay tổ chức muốn trở thành cổ đông của một công ty cổ phần phải thoả mãn 2 điều kiện:
Thứ nhất là yếu tố sở hữu, tức là cá nhân, tổ chức đó phải nắm giữ ít nhất 01 cổ phần trong công ty cổ phần đó Đây cũng là cơ sở để xác định địa
vị pháp lý của cổ đông trong công ty cổ phần
Thứ hai là đối tượng của sở hữu, phải là cổ phần do công ty đó phát hành
Như vậy khái niệm cổ đông ra đời và gắn liền với công ty cổ phần Hay nói cách khác, tư cách cổ đông phụ thuộc vào sự ra đời của công ty cổ phần, chỉ khi công ty cổ phần được thành lập thì nhà đầu tư vào công ty đó mới có
tư cách cổ đông
1.1.1.2 Đặc điểm cổ đông
Trang 12Ngoài đặc điểm chung giống với các nhà đầu tư khi đầu tư vốn vào quá trình kinh doanh là tìm kiếm lợi nhuận thì cổ đông trong công ty cổ phần còn
có
những đặc điểm:
- Về chế độ trách nhiệm: Khi một tổ chức hay cá nhân bỏ vốn đầu tư
vào công ty cổ phần tức là họ đã chuyển dịch vốn của mình theo những phương thức nhất định vào công ty cổ phần và trở thành tài sản thuộc sở hữu của công ty cổ phần, nhưng cổ đông vẫn được hưởng các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ việc góp vốn Với tư cách là một pháp nhân, công ty có năng lực pháp luật độc lập, có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình theo qui định của pháp luật nên các quyền và nghĩa vụ của công ty hoàn toàn tách biệt khỏi các quyền và nghĩa vụ của cổ đông vì công ty là chủ thể của quyền sở hữu công ty Vốn thuộc sở hữu công ty chính là giới hạn sự rủi ro tài chính của các cổ đông trên toàn bộ số vốn đã đầu tư vào công ty, nên trách nhiệm của những cổ đông đối với các nghĩa vụ của công ty được hạn chế trong phạm
vi mà họ đã đầu tư vào cổ phiếu của mình Xét về phương diện sự tách bạch
về tài sản thì các cổ đông không có quyền đối với tài sản của công ty cổ phần nên họ không chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của công ty cổ phần; công ty
cổ phần chịu trách nhiệm bằng chính tài sản của mình Cả công ty cổ phần lẫn chủ nợ của công ty đều không có quyền kiện đòi tài sản của cổ đông trừ trường hợp cổ đông nợ công ty do chưa đóng đủ tiền góp vốn hoặc chưa thanh toán đủ cho công ty cổ phần số tiền mua cổ phiếu phát hành Đây là điểm khác nhau cơ bản về trách nhiệm của các chủ thể kinh doanh, đối với công ty hợp danh hay doanh nghiệp tư nhân (theo pháp luật Việt Nam) và đối với công ty đối nhân hay doanh nghiệp một chủ của hầu hết các nước thì các thành viên hợp danh (hay thành viên nhận vốn) và chủ doanh nghiệp sẽ chịu trách nhiệm
Trang 13cá nhân vô hạn về các nghĩa vụ của công ty hay của doanh nghiệp bằng tài sản của mình, bất kể tài sản đó có liên quan đến hoạt động kinh doanh hay không
Như vậy, xuất phát từ sự tồn tại độc lập của công ty cổ phần so với các
cổ đông nên công ty cổ phần có các quyền và nghĩa vụ về tài sản riêng, do đó các rủi ro của cổ đông khi đầu tư vào công ty cổ phần chỉ giới hạn trong số lượng giá trị cổ phiếu mà cổ đông đó đầu tư Ngược lại, khi đầu tư vào công ty hợp danh hay doanh nghiệp tư nhân thì mức độ rủi ro là vô hạn Tính chất chịu trách nhiệm hữu hạn trên đã thu hút mạnh mẽ các nhà đầu tư đầu tư vào công
ty cổ phần nhiều hơn so với đầu tư vào các loại hình doanh nghiệp khác mà ở
đó họ phải chịu trách nhiệm vô hạn Bất kỳ nhà đầu tư nào cũng hiểu rằng khi mình đầu tư vào công ty cổ phần với tính chất chịu trách nhiệm hữu hạn của
cổ đông thì không bao giờ mình bị mất nhiều hơn so với số vốn đã bỏ ra đầu
tư vào công ty cổ phần nên họ ít sợ rủi ro hơn người đầu tư vốn vào công ty hợp danh hay doanh nghiệp tư nhân, những người này phải thấp thỏm lo âu khi tình hình kinh doanh của doanh nghiệp xấu đi, vì họ có thể mất toàn bộ tài sản bất kỳ khi nào Chính lợi thế này mà các công ty cổ phần có khả năng huy động rất lớn các nguồn vốn đầu tư của xã hội vào hoạt động sản xuất – kinh doanh của mình
- Về việc chuyển nhượng phần vốn góp: Hầu hết pháp luật về công ty
của các nước trên thế giới đều qui định và cho phép chuyển nhượng một cách
dễ dàng và tự do các loại cổ phiếu do công ty cổ phần phát hành từ cổ đông sang chủ sở hữu mới Vì khác với các loại công ty khác, vốn điều lệ của công
ty cổ phần được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Giá trị của mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ phiếu Việc góp vốn vào công ty cổ phần được thực hiện bằng cách mua cổ phiếu nên cổ phiếu được xem là hình thức thể hiện phần vốn góp của các cổ đông Các cổ phiếu do công ty cổ phần phát
Trang 14hành là hàng hóa nên các cổ đông khi sở hữu cổ phiếu có thể tự do chuyển nhượng; hơn thế nữa trách nhiệm của các cổ đông chỉ giới hạn trong phạm vi giá trị các cổ phiếu mà họ sở hữu nên khi họ muốn rút lui khỏi công việc kinh doanh hay muốn bán cổ phiếu của mình cho người khác thì họ thực hiện rất dễ dàng Trong khi đó đối với công ty trách nhiệm hữu hạn theo qui định của pháp luật Việt Nam thì khi chuyển nhượng các phần vốn góp của mình, thành viên đó phải chuyển nhượng trước hết cho các thành viên còn lại trong công ty hoặc chỉ được chuyển nhượng cho người không phải là thành viên công ty trong trường hợp các thành viên còn lại không mua hoặc không mua hết Đó là
lý do giải thích vì sao có rất nhiều người muốn đầu tư vào công ty cổ phần chứ không muốn đầu tư vào các loại hình doanh nghiệp khác Đây cũng là một trong những yếu tố cần thiết cho việc hình thành và phát triển thị trường chứng khoán
1.1.2 Phân loại cổ đông
Hiện nay có rất nhiều tiêu chí để phân loại cổ đông như dựa trên tiêu chí
tư cách chủ thể, số lượng cổ đông, thời điểm tham gia vào công ty cổ phần Nếu căn cứ vào tính chất hưởng quyền trong công ty cổ phần, cổ đông được chia thành 02 loại: cổ đông phổ thông và cổ đông ưu đãi
1.1.2.1 Cổ đông phổ thông
Cổ đông phổ thông là người sở hữu cổ phần phổ thông trong công ty cổ phần, chiếm đa số trong công ty cổ phần Cổ đông phổ thông có đầy đủ các quyền năng cơ bản của chủ sở hữu công ty, trừ một số quyền năng đặc biệt so với cổ đông nắm giữ cổ phần ưu đãi
1.1.2.2 Cổ đông ưu đãi
Cổ đông ưu đãi là người nắm giữ cổ phần ưu đãi trong công ty cổ phần
Cổ đông ưu đãi có thể có những quyền lợi và nghĩa vụ khác và “có lợi” hơn so với cổ đông phổ thông Nhưng ngược lại, cổ đông ưu đãi cũng bị hạn chế một
Trang 15số quyền nhất định Căn cứ vào từng loại ưu đãi mà cổ đông ưu đãi được chia thành cổ đông ưu đãi biểu quyết, cổ đông ưu đãi cổ tức và cổ đông ưu đãi hoàn lại
- Cổ đông ưu đãi biểu quyết: Là cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết, có số phiếu biểu quyết nhiều hơn so với cổ đông phổ thông theo điều lệ của công ty Cổ đông ưu đãi biểu quyết thường là các cổ đông sáng lập công
ty và được gắn với một cá nhân, tổ chức nhất định (cổ phiếu ghi danh)
- Cổ đông ưu đãi cổ tức: Là cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi cổ tức, được trả cổ tức cao hơn so với mức cổ tức mà cổ đông phổ thông được hưởng hoặc được hưởng mức cổ tức ổn định hàng năm đổi lại cổ đông ưu đãi cổ tức sẽ bị hạn chế một số quyền nhất định như không có quyền biểu quyết, không có quyền dự họp ĐHĐCĐ cũng như không có quyền đề cử người vào HĐQT và BKS… Mức cổ tức cụ thể mà cổ đông ưu đãi cổ tức được nhận sẽ được ghi nhận cụ thể trong điều lệ của công ty và trong cổ phiếu ưu đãi cổ tức
- Cổ đông ưu đãi hoàn lại: Là cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi hoàn lại, tức là họ sẽ được công ty cổ phần hoàn lại phần vốn góp bất cứ khi nào theo yêu cầu của người sở hữu hoặc theo những điều kiện nhất định quy định trong điều lệ công ty và ghi nhận trực tiếp tại cổ phiếu hoàn lại Cũng như cổ đông
ưu đãi biểu quyết, cổ đông ưu đãi hoàn lại cũng bị hạn chế một số quyền nhất định: không có quyền dự họp ĐHĐCĐ, không có quyền biểu quyết, không có quyền đề cử người vào HĐQT, BKS…
Ngoài những loại cổ đông ưu đãi kể trên, tuỳ thuộc vào mỗi công ty cổ phần, trong điều lệ của công ty có thể quy định thêm những loại cổ đông ưu đãi khác
1.1.3 Bản chất quyền lực của cổ đông
Bản chất quyền lực của cổ đông xuất phát từ yếu tố cốt lõi là vấn đề quyền sở hữu Bởi khi các các nhân, tổ chức đầu tư tài sản hay quyền tài sản
Trang 16vào công ty cổ phần cũng có nghĩa là khi đó tư cách cổ đông của họ đã được hình thành Tài sản hay quyền tài sản của các nhà đầu tư lúc này sẽ trở thành tài sản riêng của công ty cổ phần Nhà đầu tư sẽ không có quyền gì đối với tài sản đã góp đó mà đổi lại họ sẽ nhận được một loại quyền tài sản đó là quyền được hưởng lợi tức nếu công ty kinh doanh có lãi nhưng cũng có thể gặp rủi ro làm mất đi một phần hoặc toàn bộ tài sản đã góp nếu công ty làm ăn thua lỗ hay phá sản
Có thể nói thực chất của quá trình góp vốn và trở thành cổ đông trong công ty cổ phần là sự đanh đổi “rủi ro tài sản” nhằm mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận Cổ đông góp vốn và đổi lại họ sẽ có được một số quyền nhất định để góp phần bảo vệ khối tài sản mà họ đã đóng góp vào công ty cổ phần khi mà
họ không có quyền trực tiếp đối với khối tài sản đó nữa
Quyền của cổ đông là tổng thể các quy định pháp lý, các quy định của điều lệ, nội quy, quy chế hoạt động của công ty cổ phần quy định cho phép cổ đông được thực hiện các hành vi nhất định nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Các quyền đó nhằm đảm bảo cho họ hạn chế tối đa rủi ro, nhận được lợi nhuận nếu lựa chọn được người quản lý, điều hành công ty có trình độ, có năng lực và trung thực với cổ đông và ngược lại cổ đông sẽ phải gánh chịu những rủi ro
1.1.4 Các quyền cơ bản của cổ đông
Trang 17BKS Đây là một trong những quyền cơ bản giúp cổ đông bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
- Giám sát tình hình hoạt động của công ty:
Cổ đông là một trong những chủ thể đóng vai trò tích cực trong việc giám sát các hoạt động của công ty cổ phần Cùng với cơ quan quản lý nhà nước, BKS… cổ đông có thể tham gia giám sát trực tiếp hay gián tiếp Tuy nhiên, thẩm quyền giám sát của cổ đông thường được giới hạn ở mức độ nhất định và thông qua cơ quan chuyên trách
- Thực hiện quyền chuyển nhượng cổ phần cho người khác:
Như đã phân tích ở trên, tự do chuyển nhượng phần vốn góp là một trong những đặc điểm nổi bật của cổ đông, tạo nêu ưu thế của công ty cổ phần
so với các lại hình doanh nghiệp khác Trong từng trường hợp cụ thể xét thấy quyền và lợi ích của mình không được đảm bảo hay mục tiêu lợi nhuận không đạt được… cổ đông có quyền rút vồn ra khỏi công ty cổ phần bằng cách chào bán hay chuyển nhượng cho các nhà đàu tư khác Điều này sẽ tạo cơ hội cho các cổ đông lớn sẽ thâu tóm quyền điều hành công ty Các nhà quản lý, điều hành công ty cỏ phần không muốn điều này xảy ra thì cần phải làm tốt nhiệm
vụ của mình nếu như không muốn bị thay thế
- Khởi kiện và yêu cầu bồi thường:
Khi quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, cổ đông có quyền trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua người đại diện khởi kiện và yêu cầu toà án hay trọng tài đứng ra bảo vệ quyền lợi cho mình Thực hiện tốt quyền khởi kiện sẽ góp phần trực tiếp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cổ đông
1.2 BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA CỔ ĐÔNG TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN
1.2.1 Mục đích, ý nghĩa của việc bảo vệ quyền lợi của cổ đông
Trang 18Quyền và lợi ích hợp pháp của cổ đông trong công ty cổ phần rất dễ bị xâm phạm bởi các nguy cơ tiềm ẩn từ bên trong và bên ngoài Đó có thể là sự xâm phạm của các cá nhân, tổ chức bên ngoài, độc lập với công ty Các hành
vi này không xâm phạm trực tiếp tới quyền lợi của cổ đông mà trực tiếp xâm phạm tới quyền lợi của công ty cổ phần Việc phòng ngừa và chống đỡ những rủi ro này là trách nhiệm của người đại diện hợp pháp quản lý, điều hành công
ty Còn đối với những xâm phạm từ bên trong, từ nội bộ của công ty như sự xâm phạm từ phía các thành viên của HĐQT, GĐ (TGĐ), hay các chức danh quản lý khác rất khó để nhận biết Bởi lẽ đây thường là các xâm phạm rất tinh
vi và bằng nhiều thủ đoạn mà cổ đông rất khó có thể phát hiện Vì thế cần phải
có những thiết chế và biện pháp phù hợp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cổ đông trong công ty cổ phần
Việc bảo vệ này có ý nghĩa rất quan trọng đối với cổ đông nói riêng và nền kinh tế nói chung Bởi lẽ việc bảo vệ quyền lợi cho cổ đông sẽ giúp cho
cổ đông chống lại các hành vi xâm hại chèn ép từ những người quản lý công
ty, đảm bảo sự công bằng cho các cổ đông trong quá trình đầu tư Từ đó sẽ khuyến khích các nhà đầu tư yên tâm và tin tưởng vào việc bỏ vốn, tài sản đầu
tư vào công ty cổ phần, đầu tư vào nền kinh tế tạo nên sự đa dạng, sự thu hút đầu tư mạnh mẽ cho nền kinh tế nói chung
Bảo vệ tốt quyền lợi của cổ đông cũng có nghĩa sẽ làm tăng khả năng huy động vốn cho các công ty cổ phần Lúc này, công ty cổ phần sẽ dễ dàng thu hút được các nguồn vốn đầu tư khác nhau Điều này thể hiện rõ qua việc công ty thu hút vốn bằng cách phát hành thêm cổ phần mới Với uy tín mà công ty cổ phần đã tạo dựng được trong việc đảm bảo tốt quyền lợi cho cổ đông, việc chào bán cổ phần mới sẽ nhanh chóng và thuận lợi hơn
Trang 19Việc phát hiện, ngăn chặn và xử lý những hành vi xâm phạm tới quyền
và lợi ích của cổ đông trong công ty cổ phần có thể do cổ đông trực tiếp tiến hành hoặc thông qua các thiết chế nội bộ và trung gian khác
1.2.2 Cơ chế bảo vệ quyền lợi của cổ đông
1.2.2.1 Cổ đông tự bảo vệ
Cổ đông nói chung có thể tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thông qua việc tự tiến hành các hoạt động phòng ngừa và ngăn chặn các hành
vi đe doạ xâm hại hoặc xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình
Trước hết cổ đông cần phải hực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình đối với công ty Đây sẽ là cơ sở để cổ đông có thể hưởng quyền lợi và cũng là cơ
sở để tự bảo vệ mình khi quyền lợi bị xâm phạm Cổ đông có thể chất vấn những người quản lý công ty, chủ động đưa ra các yêu cầu buộc công ty không thực hiện hoặc chấm dứt việc thực hiện các hành vi xâm phạm tới quyền lợi của mình Các cổ đông cũng có thể liên kết với nhau để đạt một tỷ lệ
sở hữu vốn tối thiểu để có thể tham gia, quản lý, điều hành công ty, triệu tập ĐHĐCĐ hoặc yêu cầu thực hiện việc điều tra hoạt động của công ty…
1.2.2.2 Các thiết chế bảo vệ nội bộ
- Đại hội đồng cổ đông:
Đại hội đồng cổ đông là cơ quan có thẩm quyền cao nhất trong công ty
cổ phần, có quyền quyết định những vấn đề quan trọng nhất trong công ty Pháp luật về công ty của mỗi quốc gia quy định về thành phần của ĐHĐCĐ
là khác nhau, có thể bao gồm toàn thể các cổ đông trong công ty cổ phần (Luật công ty của Trung Quốc) hay chỉ bao gồm các cổ đông có quyền biểu quyết (LDN của Việt Nam)
Theo pháp luật của nhiều nước như Anh, Mỹ, Trung Quốc hay Việt Nam, ĐHĐCĐ có quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm thành viên HĐQT Đồng thời HĐQT phải chịu trách nhiệm báo cáo và chịu sự giám sát của ĐHĐCĐ
Trang 20ĐHĐCĐ có quyền miễn nhiệm thành viên HĐQT bất kỳ lúc nào nếu nhận thấy HĐQT vi phạm nghĩa vụ cam kết, không hoàn thành nhiệm vụ được giao, xâm phạm tới quyền và lợi ích của cổ đông
Quyền và lợi ích của cổ đông chỉ thực sự được đảm bảo khi công ty kinh doanh có lãi Muốn vậy, đội ngũ lãnh đạo công ty phải là những người thực sự có năng lực, tận tuỵ và tâm huyết với công việc, trung thực và có trách nhiệm với cổ đông ĐHĐCĐ sẽ tiến hành xừ lý các vi phạm của thành viên HĐQT, BKS khi họ gây thiệt hại cho công ty và làm ảnh hưởng tới quyền lợi của cổ đông Căn cứ trên thiệt hại thực tế xảy ra, mức độ trách nhiệm ĐHĐCĐ
sẽ quyết định và xem xét mức bồi thường thiệt hại thực tế cho công ty và cho
cổ đông
- HĐQT, Giám đốc (Tổng giám đốc):
HĐQT là cơ quan quản lý công ty cổ phần, có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định, thực hiện quyền quản lý và điều hành công ty HĐQT thực hiện việc bổ nhiệm, miễn nhiệm và ký kết hợp đồng với GĐ hoặc TGĐ
và những chức danh quản lý quan trọng khác trong công ty Có thể nói HĐQT
là cơ quan hoạch định chiến lược kinh doanh và chiến lược phát triển cho công ty cổ phần Nó có chức năng thẩm định và phê duyệt các phương án sản xuất kinh doanh do GĐ (TGĐ) đề xuất, trực tiếp thực hiện việc giám sát, chỉ đạo GĐ (TGĐ) và những người quản lý khác; thực hiện các biện pháp ngăn chặn, phát hiện và xử lý mọi nguy cơ gây hại hoặc đe doạ gây hại cho công ty
và cổ đông từ phía người điều hành Muốn làm tốt chức năng giám sát và xử
lý vi phạm đối với GĐ (TGĐ), HĐQT phải độc lập với GĐ (TGĐ) Vì thế trong thành phần của HĐQT cần phải có một tỷ lệ nhất định thành viên HĐQT giữ chức năng giám sát hoạt động của ban giám đốc
Trang 21GĐ (TGĐ) là người đại diện hợp pháp của công ty cổ phần, có chức năng bảo vệ quyền lợi cho công ty trong đó có quyền và lợi ích của cổ đông theo điều lệ công ty và theo quy định của pháp luật
- Ban kiểm soát:
Có thể nói BKS là một cơ chế hữu hiệu để giám sát hoạt động của những người quản lý trong công ty cổ phần, đảm bảo những người quản lý thực hiện nhiệm vụ một cách trung thực, cẩn trọng và đúng pháp luật BKS là
tổ chức được ĐHĐCĐ uỷ quyền thực hiện giám sát thường xuyên hoạt động quản lý, điều hành của HĐQT, GĐ (TGĐ)
Hiện nay trên thế giới tồn tại nhiều mô hình BKS khác nhau Theo mô hình Anh - Mỹ, chức nănng kiểm soát thuộc về Uỷ ban Kiểm toán Uỷ ban Kiểm toán trực thuộc HĐQT bao gồm các thành viên HĐQT độc lập Các thành viên này có chức năng giống như các thàh viên HĐQT khác và có nhiệm vụ quan trọng là giám sát GĐ (TGĐ)
Theo mô hình của Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam, BKS do ĐHĐCĐ trực tiếp bầu ra, chịu sự giám sát của ĐHĐCĐ BKS thực hiện chức năng giám sát HĐQT, GĐ (TGĐ)
Tuy nhiên ở Đức, BKS lại giữ địa vị pháp lý đứng trên HĐQT, có quyền bổ nhiệm các thành viên HĐQT, quyết định, chỉ đạo và giám sát hoạt động kinh doanh của HĐQT và HĐQT phải có trách nhiệm báo cáo công tác trước BKS
Thực tế cho thấy rằng, dù tổ chức BKS theo mô hình nào thì để BKS hoạt động có hiệu quả pháp luật cũng như điều lệ công ty cần phải quy định cụ thể về tiêu chuẩn, năng lực, trình độ của BKS, đảm bảo mọi điều kiện tốt nhất
để BKS có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ giám sát của mình BKS phải bao gồm các thành viêncó trình độ về quản lý, tài chính, pháp luật và đặc biệt phải có
Trang 22trình độ chuyên môn về lĩnh vực mà công ty hoạt động Điều đó sẽ đảm bảo chất lượng cũng như hiệu quả hoạt động giám sát của BKS
Bên cạnh việc đảm bảo về chất lượng chuyên môn của thành viên BKS, một yếu tố quan trọng đó là phải đảm bảo tính độc lập của BKS với những đối tượng mà nó giám sát Điều này sẽ đảm bảo tính khách quan trong hoạt động kiểm soát Đồng thời để rằng buộc trách nhiệm, nếu không hoàn thành nhiệm
vụ của mình thì BKS phải chịu trách nhiệm trước ĐHĐCĐ
- Kiểm toán nội bộ:
Theo IIA – tổ chức nghề nghiệp dành cho kiểm toán viên nội bộ thì Kiểm toán nội bộ được định nghĩa “ là hoạt động đánh giá và tư vấn độc lập trong nội bộ tổ chức, được thiết kế nhằm cải tiến và làm tăng giá trị cho các hoạt động của tổ chức đó Giúp tổ chức đạt được các mục tiêu bằng việc đánh giá và cải tiến một cách hệ thống và chuẩn tắc tính hiệu lực của quy trình quản trị, kiểm soát và quản lý rủi ro.”
Mặc dù đã ra đời từ lâu nhưng kiểm toán nội bộ chỉ thực sự phát triển trong khoảng năm 2000 – 2001 từ sau các vụ gian lận tài chính ở công ty Worldcom và Eron (Mỹ) và đặc biệt là khi Luật Sarbanes – Oxley của Mỹ ra đời năm 2002 Luật này quy định các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Mỹ phải báo cáo về hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ công ty
Khác với kiểm toán độc lập giới hạn ở việc kiểm tra báo cáo tài chính (mức độ trung thực và hợp lý), kiểm toán nội bộ không bị giới hạn ở bất kỳ phạm vi nào trong công ty, từ mua hàng, sản xuất, bán hàng đến quản lý tài chính, nhân sự hay công nghệ thông tin Mục đích của kiểm toán nội bộ là phục vụ công tác quản lý doanh nghiệp chứ không phải cho đối tác bên ngoài Kiểm toán nội bộ không chỉ đánh giá các yếu kém của hệ thống quản lý mà còn đánh giá các rủi ro cả trong và ngoài công ty
Trang 23Có thể nói, kiểm toán nội bộ là một công cụ hữu hiệu giúp phát hiện và
xử lý và cải tạo những điểm yếu trong hệ thống của doanh nghiệp nói chung
và của công ty cổ phần nói riêng Như vậy, công ty cổ phần nào mà có bộ phận kiểm toán nội bộ sẽ là yếu tố quan trọng làm gia tăng niềm tin cho cổ đông cũng như công chúng đầu tư
Có nhiều quan điểm khác nhau về vị trí của kiểm toán nội bộ, có thể kể đến hai quan điểm chính: Một là, kiểm toán nội bộ sẽ là một bộ phận thuộc BKS, do ĐHĐCĐ bầu ra, chịu trách nhiệm giám sát cả HĐQT và ban giám đốc Hai là, kiểm toán nội bộ do ban giám đốc bổ nhiệm sau khi được phê chuẩn của HĐQT, có trách nhiệm kiểm toán mọi hoạt động công ty theo chỉ đạo của GĐ (TGĐ) Dù có vị trí như thế nào trong công ty cổ phần thì kiểm toán nộ bộ cũng là một trong những cơ chế kiểm soát hữu hiệu đối với hoạt động quản lý, điều hành của công ty nhằm đảm bảo sự minh bạch trong hoạt động của công ty cổ phần, nâng cao hiệu quả và chất lượng của đội ngũ quản
lý công ty, góp phần bảo vệ quyền lợi cho cổ đông
1.2.2.3 Các thiết chế khác
Bên cạnh các thiết chế nội bộ tham gia trực tiếp trong việc bảo vệ quyền lợi của cổ đông trong công ty cổ phần còn có các thiết chế khác cũng tham gia bảo vệ quyền lợi của cổ đông một cách trực tiếp hay gián tiếp, trong đó phải
kể đến vai trò của Nhà nước
Nhà nước - thiết chế công quyền quan trọng, giữ vai trò quản lý mọi mặt của đời sống xã hội Trong việc bảo vệ quyền lợi của cổ đông trong công
ty cổ phần, Nhà nước tham gia từ việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật ghi nhận các quyền cũng như nghĩa vụ của cổ đông, tạo hành lang pháp lý
để thiết lập cơ chế bảo vệ và xử lý những hành vi trái pháp luật xâm phạm tới quyền và lợi ích của cổ đông
Trang 24Thông qua các cơ quan chuyên môn, các cơ quan chức năng quản lý nhà nước về thị trường chứng khoán, Nhà nước thể hiện vai trò bảo vệ quyền lợi cổ đông trong công ty cổ phần Các cơ quan chuyên môn này sẽ có chức năng giám sát các hoạt động liên quan đến chứng khoán và thị trường chứng khoán nhằm xây dựng một thị trường chứng khoán lành mạnh, công khai, minh bạch, góp phần lớn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của cổ đông
Đồng thời với các cơ quan chuyên môn quản lý về thị trường chứng khoán, Nhà nước còn có các cơ quan thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động kinh doanh của các công ty cổ phần để kịp thời phát hiện và xử lý vi phạm
Vai trò của Nhà nước còn được thể hiện thông qua hệ thống các cơ quan
tư pháp như: cơ quan điều tra, cơ quan xét xử, cơ quan thi hành án…
Bên cạnh Nhà nước và cơ quan nhà nước, cơ quan báo chí cũng là một thiết chế hữu hiệu tham gia vào việc bảo vệ quyền và lợi ích cho cổ đông Ngoài chức năng tuyên truyền, phổ biến kiến thức về chứng khoán, thị trường chứng khoán, cũng như việc truyền tải các thông tin từ các công ty phát hành chứng khoán tới cổ đông và công chứng đầu tư… Cơ quan báo chí còn tham gia phát hiện và tố cáo hành vi xâm phạm tới quyền lợi của cổ đông Trên thực
tế đã có nhiều các vi phạm xảy ra xâm phạm đến quyền lợi của công chúng đầu tư vào công ty cổ phần mà Nhà nước chưa kịp phát hiện nhưng cơ quan báo chí đã phát hiện ra Điều này sẽ giúp cổ đông tự bảo vệ quyền lợi của mình và giúp các cơ quan chức năng kịp thời ngăn chặn và xử lý vi phạm
Ngoài những thiết chế trên còn có nhiều thiết chế khác cũng tham gia vào việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cổ đông như: tổ chức luật sư, các hiệp hội đầu tư chứng khoán…
Nói tóm lại, quyền và lợi ích hợp pháp của cổ đông trong công ty cổ phần rất dễ bị xâm phạm Cổ đông có thể tự bảo vệ quyền lợi của mình bằng nhiều hình thức khác nhau hoặc thông qua các thiết chế bảo vệ khác Tuy
Trang 25nhiên, việc bảo vệ quyền lợi của cổ đông chỉ thực sự hữu hiệu khi pháp luật tạo nên sự gắn kết đồng bộ giữa cổ đông và các thiết chế bảo vệ khác, tạo ra một cơ chế thực thi phù hợp
Trang 26Hưởng cổ tức là quyền cơ bản của tất cả các cổ đông, không phân biệt
cổ đông phổ thông hay cổ đông ưu đãi và là mục đích đầu tiên khi cổ đông quyết định đầu tư vào công ty cổ phần Tuy nhiên, cổ đông chỉ thực hiện được quyền này trên thực tế khi:
- Hoạt động sản xuất, kinh doanh của công ty phải có lợi nhuận Công
ty cổ phần chỉ được trả cổ tức cho cổ đông khi công ty đã hoàn thành nghĩa vụ thuế, các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật
- Công ty cổ phần phải trích lập được các quỹ và bù lỗ theo quy định của pháp luật và điều lệ công ty Như vậy không phải tất cả lợi nhuận của công ty sau khi đã thanh toán đầy đủ các nghĩa vụ tài chính đều được chuyển thành cổ tức Công ty cổ phần phải thực hiện việc bù đắp đủ khoản lỗ của các năm tài chính trước đó và bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác khi đến hạn
- Khoản lợi nhuận phải được cơ quan có thẩm quyền quyết định dùng
để chia cổ tức cho cổ đông Tuỳ thuộc vào pháp luật của mỗi quốc gia hoặc
Trang 27điều lệ của công ty quy định thẩm quyền quyết định thuộc về HĐQT (Luật công ty của Anh) hay ĐHĐCĐ (Luật doanh nghiệp của Trung Quốc, Việt Nam) Cơ quan này sẽ có thẩm quyền quyết định chia cổ tức và mức chia cổ tức cho từng loại cổ phần
Theo quy định tại điều 96, điều 108 LDN, ĐHĐCĐ là cơ quan có thẩm quyền quyết định việc chia cổ tức hàng năm, còn HĐQT có trách nhiệm kiến nghị mức cổ tức được trả Như vậy ĐHĐCĐ sẽ quyết định có chia cổ tức hay không và mức cổ tức dựa trên tính toán và kiến nghị của HĐQT
Tuy nhiên lại có sự khác nhau giữa Luật Doanh nghiệp và Điều lệ mẫu
áp dụng cho các công ty niêm yết Điều lệ mẫu này quy định “mức cổ tức của công ty do HĐQT đề xuất sau khi đã tham khảo ý kiến cổ đông tại ĐHĐCĐ”
Việc quy định như vậy là không rõ ràng trong việc xác định thẩm quyền quyết định việc chia cổ tức Nếu ý kiến của cổ đông tại ĐHĐCĐ chỉ mang tính chất
“tham khảo” thì vai trò của cổ đông và ĐHĐCĐ sẽ như thế nào? HĐQT “đề xuất” vậy ai sẽ là người quyết định?
2.1.1.2 Quyền được mua, bán, chuyển nhượng cổ phần
Mua, bán, chuyển nhượng cổ phần là một trong những nhóm quyền cơ bản, thể hiện sự linh hoạt trong cấu trúc vốn mở của công ty cổ phần
* Quyền chuyển nhượng cổ phần
Một trong những đặc điểm nổi bật của cổ đông trong công ty cổ phần, thể hiện tính ưu việt của loại hình công ty cổ phần đó là cổ đông có quyền tự
do chuyển nhượng cổ phần Công ty cổ phần phải có trách nhiệm đảm bảo điều kiện để cổ đông thực hiện quyền tự do chuyển nhượng này mà không phụ thuộc vào ý chí của công ty cổ phần cho phép hay không cho phép Tuy nhiên LDN cũng đưa ra các trường hợp mà quyền chuyển nhượng cổ phần của cổ đông bị hạn chế:
Trang 28- Đối với cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập (Khoản 5 điều 84 LDN):
“Trong thời hạn ba năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, cổ đông sáng lập có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho cổ đông sáng lập khác, nhưng chỉ được chuyển nhượng cổ phần phổ thông cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của ĐHĐCĐ Trong trường hợp này, cổ đông dự định chuyển nhượng cổ phần không có quyền biểu quyết về việc chuyển nhượng các cổ phần đó và người chuyển nhượng đương nhiên trở thành cổ đông sáng lập của công ty
Sau thời hạn ba năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, các hạn chế đối với cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập đều được bãi bỏ”
- Hạn chế đối với cổ phần ưu đãi biểu quyết (Khoản 3 điều 81 LDN):
“Cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết không được chuyển nhượng
cổ phần đó cho người khác”
Việc quy định các trường hợp hạn chế như trên đối với cổ đông sáng lập
và cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết theo luật định là cần thiết để công ty cổ phần phát triển bước đầu đảm bảo tính ổn định, đúng mục đích
Ngoài hai trường hợp hạn chế theo luật định trên, thực tế tại một số công ty cổ phần, HĐQT không cho phép cổ đông công khai chuyển nhượng cổ phần hoặc chỉ cho phép chuyển nhượng cổ phần trong nội bộ công ty Điều này đã dẫn đến tình trạng chuyển nhượng ngầm Cổ đông thực hiện việc chuyển nhượng cổ phần chỉ thông qua giấy viết tay mà không làm thủ tục chuyển nhượng tại công ty Hay tại một số công ty cổ phần khác, tuy không hạn chế việc chuyển nhượng nhưng lại gây khó khăn cho cổ đông trong việc
Trang 29hoàn tất các thủ tục chuyển nhượng Điều này đã xâm phạm nghiêm trọng tới quyền và lợi ích của cổ đông được pháp luật bảo vệ
Việc đảm bảo quyền tự do chuyển nhượng cổ phần có ý nghĩa rất quan trọng đối với cổ đông và cả nhà đầu tư Bởi lẽ, đối với cổ đông mục đích chính khi đầu tư vào công ty cổ phần là nhằm tìm kiếm lợi nhuận Lợi nhuận
đó có thể có được từ việc hưởng cổ tức hàng năm do công ty chi trả hoặc có được từ việc cổ đông chuyển nhượng cổ phần mà họ nắm giữ Khoản chênh lệch giá chuyển nhượng này thường lớn hơn nhiều so với mức cổ tức được hưởng hàng năm Như vậy quyền tự do chuyển nhượng cổ phần là sự đảm bảo cho mục đích lợi nhuận của cổ đông
Về phía nhà đầu tư, quyền tự do chuyển nhượng cổ phần tạo điều kiện cho nhà đầu tư thực hiện được chiến lược đầu tư trưng mua cổ phần của công
ty nhằm giành quyền khống chế sau đó cải tạo và sắp xếp lại bộ máy quản lý, điều hành của công ty Đây là cơ hội để những công ty làm ăn kém hiệu quả, thậm chí thua lỗ được các nhà đầu tư chiến lược “để ý” tới Vì thế, chính cơ chế này buộc các nhà quản trị công ty phải tìm mọi phương án hữu hiệu để nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nếu không muốn mất quyền quản lý
và để công ty rơi vào tay nhà đầu tư khác
* Quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần
Đây là quyền nhằm đảm bảo cho cổ đông yêu cầu công ty mua lại cổ phần khi không đồng ý với một số quyết sách mới của công ty Điều 90 LDN quy định:
“Cổ đông biểu quyết phản đối quyết định về việc tổ chức lại công ty hoặc thay đổi quyền, nghĩa vụ của cổ đông quy định tại điều lệ công ty có quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần của mình Yêu cầu phải bằng văn bản, trong đó nêu rõ tên, địa chỉ của cổ đông, số lượng cổ phần từng loại, giá dự định bán, lý do yêu cầu công ty mua lại Yêu cầu phải được gửi đến công ty
Trang 30trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày Đại hội đồng cổ đông thông qua quyết định…”
Theo quy định trên thì chỉ có những cổ đông có quyền biểu quyết mới
có quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần Cổ đông ưu đãi cổ tức và cổ đông
ưu đãi hoàn lại không có quyền biểu quyết nên cũng sẽ không có quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần
Theo khoản 1 Điều 92 LDN, yêu cầu công ty mua lại cổ phần chỉ được thực hiện nếu ngay sau khi thanh toán hết số cổ phần được mua lại theo yêu cầu của cổ đông, công ty vẫn bảo đảm khả năng thanh toán đầy đủ các khoản
nợ và nghĩa vụ tài sản khác Như vậy không phải lúc nào quyền yêu cầu công
ty mua lại cổ phần cũng được thực hiện Điều này cũng làm ảnh hưởng tới quyền lợi của cổ đông vì thế LDN cần phải quy định việc bảo lưu quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần đến khi công ty có đủ điều kiện
* Quyền ưu tiên mua cổ phần mới
Ưu tiên mua cổ phần mới là một trong những quyền cơ bản được LDN ghi nhận Theo đó cổ đông trong công ty cổ phần có quyền được ưu tiên mua
cổ phần mới chào bán tương ứng với tỷ lệ cổ phần phổ thông của từng cổ đông trong công ty Đây là quyền bình đẳng giữa các loại cổ đông, không phân biệt cổ đông phổ thông hay cổ đông ưu đãi
Khi công ty phát hành một đợt cổ phiếu mới để tăng vốn, các cổ đông đang nắm giữ cổ phiếu phổ thông có quyền mua trước cổ phiếu mới trước khi đợt phát hành được chào bán ra công chúng trong một thời hạn nhất định Lượng cổ phiếu được phép mua theo quyền này tương ứng với tỷ lệ cổ phiếu đang nắm giữ Như vậy quyền này cho phép cổ đông hiện hữu duy trì tỷ lệ sở hữu của mình trong công ty sau khi công ty tăng thêm vốn
Mỗi cổ phiếu đang nắm giữ mang lại cho cổ đông một quyền mua trước Số lượng quyền cần có để mua một cổ phiếu mới được quy định trong
Trang 31từng đợt chào bán, cùng với giá mua, thời hạn của quỳên mua và ngày phát hành cổ phiếu mới
Ví dụ: Ngày 11/1/2008, Công ty cổ phần Vincom thông báo phát hành thêm cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu, tỷ lệ phân bổ quyền 2:1 (cổ đông sở hữu
2 quyền mua sẽ được mua thêm 1 cổ phiếu)
Hiện nay có rất nhiều công ty cổ phần lựa chọn việc phát hành thêm cổ phiếu mới để tăng vốn đầu tự, nhất là những công ty đã niêm yết Đa số các công ty khi phát hành cổ phiếu mới đều đảm bảo nguyên tắc bình đẳng giữa các cổ đông Tuy nhiên trên thực tế vẫn có nhiều vi phạm xảy ra khi công ty
có sự phân biệt đối xử giữa các cổ đông
Theo phương án phát hành cổ phần của công ty cổ phần vận tải Biển Bắc (NOSCO), số lượng chào bán là 5.056.000 cổ phần với mục đích huy động vốn đầu tư mua tàu chở hàng rời, đầu tư xây dựng toà nhà NOSCO Sài Gòn Đối tượng phát hành gồm cổ đông hiện hữu có tên trong danh sách chốt
và các lao động đặc biệt Tỷ lệ phát hành như sau: đối với cổ đông nhà nước
và cổ đông chiến lược được mua theo tỷ lệ 1: 0.79; cổ đông khác mua theo tỷ lệ: 1: 0.67 Giá chào bán ra công chúng cho cả 2 đối tượng trên là 13.000 đồng/ cổ phiếu, trong khi giá giao dịch cổ phiếu NOSCO trên thị trường tự do khoảng 36.000 đồng/ cổ phiếu Như vậy cổ đông nhà nước và cổ đông chiến lược đã được mua nhiều hơn so với các cổ đông khác
Việc phân biệt đối xử về quyền mua giữa các loại cổ đông của công ty NOSCO như trên là đã vi phạm nguyên tắc tối thượng trong công ty cổ phần: tất cả các cổ đông có quyền bình đẳng như nhau
2.1.1.3 Quyền nhận lại tài sản khi công ty phá sản, giải thể
Khi công ty cổ phần chấm dứt hoạt động do bị phá sản hay giải thể, LDN cũng có ghi nhận cho cổ đông quyền được nhận lại tài sản:
Trang 32“Khi công ty giải thể hoặc phá sản, cổ đông được nhận một phần tài sản còn lại tương ứng với số cổ phần góp vốn vào công ty”(Khoản 1 Điều 79 LDN)
Có thể thấy, quyền nhận lại tài sản khi công ty giải thể hoặc phá sản bắt nguồn từ quyền sở hữu của chủ sở hữu (cổ đông) đối với đối tượng sở hữu (cổ phần) Khi cổ đông góp vốn, tài sản vào công ty cổ phần thì vốn, tài sản đó của cổ đông trở thành tài sản của công ty và cổ đông trở thành chủ sở hữu công ty Khi công ty đang hoạt động, khối tài sản này luôn tách bạch với tài sản của cổ đông Tuy nhiên khi công ty chấm dứt hoạt động do giải thể hoặc phá sản, những tài sản còn lại của công ty sẽ thuộc về những cổ đông của công
- Các khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho các chủ nợ trong danh sách chủ nợ theo nguyên tắc nếu giá trị tài sản đủ để thanh toán các khoản nợ thì mỗi chủ nợ đều được thanh toán đủ số nợ của mình; nếu giá trị tài sản không đủ để thanh toán các khoản nợ thì mỗi chủ nợ chỉ được thanh toán một phần nợ của mình theo tỷ lệ tương ứng
Công ty lâm vào tình trạng phá sản tức là đã mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn Nhìn vào thứ tự của việc phân chia tài sản trên thì có thể thấy việc cổ đông được nhận lại tài sản chỉ là khả năng và khó có thể trở thành hiện thực Bởi khi đã phá sản và chia tài sản sau khi công ty phá sản, đến lượt cổ đông được nhận thì tài sản của công ty liệu có còn?
Trang 332.1.2 Nhóm quyền liên quan đến quản lý của cổ đông
2.1.2.1 Quyền tham dự Đại hội đồng cổ đông
ĐHĐCĐ là cơ quan có thẩm quyền quyết định cao nhất trong công ty cổ phần ĐHĐCĐ có quyền quyết định các vấn đề quan trọng của công ty, là nơi
để cổ đông thể hiện ý chí của mình đối với công ty, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của cổ đông Quyền dự họp ĐHĐCĐ là một quyền quan trọng, là điều kiện để cổ đông trực tiếp thực hiện một số quyền năng cơ bản: quyền biểu quyết, quyền bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên HĐQT, thành viên BKS, quyết định chiến lược phát triển của công ty… đặc biệt là cơ hội để cổ đông nắm bắt thông tin về tình hình hoạt động của công ty
Tuy nhiên không phải tất cả các cổ đông trong công ty cổ phần đều có quyền tham gia ĐHĐCĐ Theo quy định tại khoản 1 điều 96 LDN “Đại hội đồng cổ đông gồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết ”, như vậy chỉ có cổ đông phổ thông và cổ đông ưu đãi biểu quyết mới có quyền năng này, còn cổ đông ưu đãi cổ tức và cổ đông ưu đãi hoàn lại không có quyền dự họp ĐHĐCĐ (Khoản 2 điều 82, khoản 3 điều 83 Luật doanh nghiệp) Có thể thấy quy định này của LDN là chưa phù hợp Việc cho phép cổ đông ưu đãi được
có được một số quyền năng ưu thế hơn so với cổ đông phổ thông và đổi lại sẽ hạn chế một số quyền năng so với cổ đông phổ thông là cần thiết và hợp lý Tuy nhiên việc không cho họ có quyền dự họp ĐHĐCĐ vô hình chung đã tức mất đi của họ quyền tự do được tiếp cận thông tin
Tại Quy chế quản trị công ty niêm yết ban hành kèm theo Quyết định số 12/2007/QĐ-BTP ngày 13 tháng 3 năm 2007 của Bộ tài chính quy định:
“Công ty niêm yết không được hạn chế cổ đông tham dự ĐHĐCĐ, đồng thời phải tạo điều kiện cho cổ đông thực hiện việc uỷ quyền đại diện tham gia ĐHĐCĐ khi cổ đông có yêu cầu”
Trang 34Theo quy định trên thì mọi cổ đông đều có quyền tham dự ĐHĐCĐ kể
cả cổ đông ưu đãi cổ tức và cổ đông ưu đãi hoàn lại Điều này là hợp lý bởi lẽ
cổ đông phổ thông hay cổ đông ưu đãi đều là cổ đông - chủ sở hữu của công
ty cổ phần Tham dự ĐHĐCĐ là cơ hội và điều kiện để cổ đông có thể trực tiếp nắm bắt thông tin và từ đó sẽ có những quyết sách phù hợp để bảo vệ quyền lợi của mình Tuy nhiên, quy định này lại mâu thuẫn với quy định của LDN nên không có hiệu lực pháp lý Như vậy để đảm bảo tính thống nhất, hợp lý và hợp pháp, LDN cần phải sửa đổi nội dung trên cho phù hợp
* Thẩm quyền triệu tập họp ĐHĐCĐ:
Theo quy định tại Điều 97 LDN tuỳ thuộc từng trường hợp cụ thể họp ĐHĐCĐ thường niên hay họp ĐHĐCĐ bất thường, thẩm quyền triệu tập họp ĐHĐCĐ thuộc về HĐQT, BKS hay cổ đông hoặc nhóm cổ đông quy định tại khoản 2 Điều 79 của Luật này
Để đảm bảo ĐHĐCĐ được tổ chức theo đúng thời hạn luật định, LDN
đã quy định những trách nhiệm pháp lý của các chủ thể không thực hiện đúng nghĩa vụ triệu tập ĐHĐCĐ
Trường hợp HĐQT không triệu tập họp ĐHĐCĐ theo quy định thì chủ tịch HĐQT phải chịu trách nhịêm trước pháp luật và phải bồi thường thiệt hại phát sinh đối với công ty (khoản 4 Điều 97)
Trường hợp HĐQT không triệu tập ĐHĐCĐ theo quy định tại khoản 4 Điều 97 thì trong thời hạn 30 ngày tiếp theo, BKS thay thế HĐQT triệu tập ĐHĐCĐ theo quy định của Luật này Nếu BKS không triệu tập ĐHĐCĐ như quy định thì Trưởng BKS phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và phải bồi thường thiệt hại phát sinh đối với công ty (khoản 5 Điều 97)
LDN cũng quy định nếu BKS không triệu tập họp ĐHĐCĐ theo luật định thì cổ đông hoặc nhóm cổ đông quy định tại khoản 2 Điều 79 của Luật
Trang 35này đã yêu cầu có quyền thay thế HĐQT, BKS triệu tập ĐHĐCĐ (khoản 6 Điều 97)
Những quy định trên nhằm xác định trách nhiệm và truy cứu trách nhiệm đối với những người vi phạm nghĩa vụ triệu tập ĐHĐCĐ Tuy nhiên cũng còn có những vấn đề cần làm rõ:
- Chủ tịch HĐQT và Trưởng BKS phải chịu trách nhiệm trước pháp luật
và phải bồi thường thiệt hại phát sinh đối với công ty khi HĐQT hoặc BKS không triệu tập họp ĐHĐCĐ bất thường theo luật định Quy định này là không hợp lý bởi lẽ HĐQT và BKS làm việc theo chế độ tập thể song lại phải chịu trách nhiệm cá nhân
- Nếu xảy ra trường hợp cả HĐQT và BKS đều không thực hiện nghĩa
vụ triệu tập họp ĐHĐCĐ thì việc truy cứu trách nhiệm thuộc về ai là rất khó Việc xác định trách nhiệm lúc này sẽ được thực hiện như thế nào? Trách nhiệm liên đới hay độc lập?
- Trường hợp cổ đông hoặc nhóm cổ đông đứng ra tổ chức ĐHĐCĐ khi HĐQT, BKS không thực hiện nghĩa vụ triệu tập ĐHĐCĐ theo quy định thì cần quy định cụ thể trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu liên quan tới tình hình hoạt động của công ty như thế nào từ phía HĐQT, BKS?
* Điều kiện tiến hành họp ĐHĐCĐ:
Theo quy định của LDN hiện hành, cuộc họp ĐHĐCĐ chỉ được tiến hành khi có số cổ đông dự họp đại diện cho ít nhất 65% tổng số cổ phần có quyền biẻu quyết; tỉ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định Trong trường hợp cuộc họp thứ nhất không đủ điều kiện để tiến hành họp thì được triệu tập cuộc họp lần thứ hai Cuộc họp lần thứ hai được tiến hành khi có số cổ đông dự họp đại diện cho ít nhất 51% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết; tỉ lệ cụ thể do điều lệ công ty quy định Trường hợp cuộc họp lần thứ hai không đủ điều kiện tiến hành thì được triệu tập cuộc họp lần thứ ba, lần này không phụ thuộc vào
Trang 36tỉ lệ số lượng cổ đông dự họp Như vậy so với LDN 1999, điều kiện về tỉ lệ cổ đông tham dự ĐHĐCĐ đã nâng cao hơn Điều này đảm bảo quyền dự ĐHĐCĐ của cổ đông, đảm bảo tính đồng thuận, nhất trí cao khi ĐHĐCĐ biểu quyết thông qua các quyết định thuộc thẩm quyền của ĐHĐCĐ
2.1.2.2 Quyền biểu quyết
Đây là quyền năng chính trị cơ bản của cổ đông Cổ đông có quyền bỏ phiếu tán thành hoặc không tán thành đối với những vấn đề thuộc thẩm quyền quyết định của ĐHĐCĐ Theo LDN ghi nhận, chỉ có cổ đông phổ thông và cổ đông ưu đãi biểu quyết mới có quyền biểu quyết còn các cổ đông ưu đãi khác
sẽ không có quyền này Đây là quy định hợp lý bởi lẽ các cổ đông ưu đãi đã được nhận những ưu tiên nhất định so với cổ đông phổ thông, đổi lại họ sẽ bị hạn chế một số quyền nhất định Sự hạn chế này tạo ra sự công bằng cho các
cổ đông, nhằm bảo vệ quyền lợi của cổ đông nói chung, tạo nên chất lượng của sự biểu quyết
LDN quy định loại cổ phần ưu đãi biểu quyết chỉ dành cho những “tổ chức được Chính phủ uỷ quyền và cổ đông sáng lập” Đối với cổ đông sáng lập, ưu đãi biểu quyết chỉ có hiệu lực trong ba năm kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Sau thời hạn đó, cổ phần ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập được chuyển đổi thành cổ phần phổ thông (khoản 3 Điều 78 LDN) LDN quy định có sự hạn chế là xác định thời hạn việc sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết đối với cổ đông sáng lập tuy nhiên lại không quy định thời hạn này đối với những tổ chức được Chính phủ uỷ quyền Điều này đã tạo ra sự bất bình đẳng giữa các cổ đông Thực chất của quy định này là tạo nên sự can thiệp của cơ quan quản lý hành chính vào sự tự chủ kinh doanh của công ty Điều này cũng khó tránh khỏi trường hợp người đại diện phần vốn góp của nhà nước ở công ty cổ phần “tư lợi”, lợi dụng quyền biểu quyết vì mục đích cá nhân
Trang 37Cổ đông có thể thực hiện quyền biểu quyết của mình một cách trực tiếp tại cuộc họp ĐHĐCD hoặc thông qua hình thức văn bản Tuy nhiên đối với những hợp đồng, giao dịch mà cổ đông có lợi ích liên quan thì cổ đông đó sẽ không có quyền biểu quyết
Khoản 2 Điều 104 LDN quy định rõ các trường hợp phải được thông qua bằng hình thức biểu quyết trực tiếp tại cuộc họp ĐHĐCĐ:
- Sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty;
- Thông qua định hướng phát triển công ty;
- Quyết định loại cổ phần và tổng số cổ phần của từng loại được quyền chào bán;
- Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên HĐQT, BKS;
- Quyết định đầu tư hoặc bán số tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty nếu Điều lệ công ty không quy định một tỷ lệ khác;
- Thông qua báo cáo tài chính hàng năm;
- Tổ chức lại, giải thể công ty
Theo quy định của LDN, Quyết định của ĐHĐCĐ chỉ được thông qua với điều kiện được số cổ đông đại diện ít nhất 65% tổng số cổ phiếu biểu quyết của tất cả các cổ đông dự họp chấp thuận Đối với việc biểu quyết quyết định về loại cổ phiếu và tổng số cổ phiếu của từng loại được quyền chào bán, biểu quyết sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty; tổ chức lại, giải thể công ty; đầu
tư hoặc bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty nếu Điều lệ công ty không có quy định khác thì phải được số cổ đông đại diện ít nhất 75% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp chấp thuận; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công
ty quy định (khoản 3 Điều 104)
Trang 38So sánh với LDN 1999, quyết định của ĐHĐCĐ được thông qua với 51% tổng số cổ phiếu biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp chấp thuận Đối với trường hợp biểu quyết để quyết định về loại cổ phiếu và tổng số cổ phiếu của từng loại được quyền chào bán, biểu quyết sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty… tỷ lệ này là 65% Như vậy LDN 2005 đã nâng cao tỷ lệ trong việc biểu quyết thông qua các quyết định của ĐHĐCĐ Điều này đã hạn chế sự phần nào “lợi thế” của những cổ đông đa số và góp phần bảo vệ quyền cho nhóm cổ đông thiểu số
Một trong những vấn đề quan trọng gắn bó mật thiết đối với quyền biểu quyết của cổ đông, đảm bảo cho cổ đông có những quyết định sáng suốt nhất
đó là quyền chất vấn và thảo luận chưa được quy định rõ trong LDN Có thể thấy các nhà làm luật chưa thực sự chú ý đến tầm quan trọng của vấn đề này Chất vấn cũng là một quyền quan trọng của cổ đông Thông qua cuộc họp ĐHĐCĐ, cổ đông có quyền chất vấn HĐQT, BKS về các vấn đề liên quan tới hoạt động kinh doanh công ty, tới quyền và lợi ích của cổ đông Theo đó HĐQT, BKS phải có trách nhiệm trả lời chất vấn của các cổ đông về tất cả các vấn đề có liên quan tới quyền hạn của mình (trừ trường hợp liên quan đến bí mật kinh doanh hoặc ảnh hưởng đến lợi ích chung của công ty) Chất vấn và thảo luận sẽ giúp cổ đông nắm rõ hơn tình hình hoạt động của công ty cũng như việc quản lý điều hành và giám sát của HĐQT, GĐ(TGĐ), BKS đồng thời làm rõ các vấn đề trước khi biểu quyết Cơ chế này giúp cho cổ đông thực hiện việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình tốt hơn
Bên cạnh hình thức biểu quyết trực tiếp tại cuộc họp ĐHĐCĐ, trường hợp xét thấy cần thiết HĐQT có quyền lấy ý kiến của cổ đông bằng văn bản
để thông qua quyết định của ĐHĐCĐ LDN không quy định cụ thể trường hợp nào cần phải lấy ý kiến biểu quyết bằng văn bản Đây là một quy định mở nhằm tạo điều kiện cho HĐQT có quyền chủ động lựa chọn trường hợp nào