1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những vấn đề lý luận và thực tiễn về hợp đồng mua bán điện theo pháp luật việt nam

83 587 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 685,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, đề tài đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu sau đây: - Làm rõ bản chất và các đặc trưng pháp lý của hợp đồng mua bán đi

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

PHẠM THỊ THU HÀ

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HỢP ĐỒNG

MUA BÁN ĐIỆN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật Kinh tế

Mã số : 60 38 50

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học : TS Phan Chí Hiếu

HÀ NỘI - 2010

Trang 2

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Học viên

Phạm Thị Thu Hà

Trang 3

Công ty mua bán điện EPTC (Electricity power trading

Xây dựng – chuyển giao – kinh doanh BTO (Build – Transfer – Operation) Xây dựng – kinh doanh – chuyển giao BOT (Build – Operation – Transfer)

Trang 4

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ Lí LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN ĐIỆN VÀ PHÁP

LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN ĐIỆN 5

1.1 Khỏi quỏt về hợp đồng mua bỏn điện 5

1.1.1 Lịch sử hỡnh thành và phỏt triển của hợp đồng mua bỏn điện ở Việt Nam 5

1.1.2 Khỏi niệm và đặc điểm của hợp đồng mua bỏn điện 6

1.1.2.1 Khỏi niệm hợp đồng mua bỏn điện 6

1.1.2.2 Đặc điểm của Hợp đồng mua bán điện 8

1.1.3 Phõn loại hợp đồng mua bỏn điện 12

1.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc ký kết và thực hiện hợp đồng mua bỏn điện 13 1.2.1 Những đặc thự của điện năng - một loại hàng húa đặc biệt 13

1.2.2 Chớnh sỏch quản lý và phỏt triển năng lượng điện ở Việt Nam 14

1.2.2.1 Nhà nước quản lý về quy hoạch, chiến lược phỏt triển ngành cụng nghiệp điện năng 14

1.2.2.2 Nhà nước quản lý về điều kiện kinh doanh cỏc hoạt động điện lực 16

1.2.2.3 Khuyến khớch, tăng cường hợp tỏc quốc tế trong phỏt triển điện lực 16

1.2.2.4 Từng bước xõy dựng thị trường điện cạnh tranh ở Việt Nam, thực hiện giỏ điện theo cơ chế thị trường, khuyến khớch cỏc thành phần kinh tế cựng tham gia đầu tư vào lĩnh vực điện năng 17

1.2.2.5 Khuyến khớch phỏt triển cỏc nguồn năng lượng sạch 17

1.3 Phỏp luật về hợp đồng mua bỏn điện 18

1.3.1 Nguồn luật điều chỉnh hợp đồng mua bỏn điện 18

1.3.2 Những nội dung cơ bản của phỏp luật về hợp đồng mua bỏn điện 20

1.4 Phỏp luật về hợp đồng mua bỏn điện ở một số nước trờn thế giới 21

1.4.1 Indonesia 21

1.4.2 Vương quốc Campuchia 22

1.4.3 Bungari 24

1.4.4 Hungary 27

1.4.5 Singapo 28

Chương 2 PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN ĐIỆN Ở VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG 30

2.1 Giao kết hợp đồng mua bỏn điện 30

2.1.1 Chuẩn bị giao kết hợp đồng mua bỏn điện 30

2.1.2 Thủ tục ký kết hợp đồng mua bỏn điện 31

2.1.2.1 Thủ tục giao kết hợp đồng mua bỏn điện trong nước 31

2.1.2.2 Thủ tục phê duyệt chủ trương mua bán điện, phê duyệt hợp đồng mua bán điện 35

2.1.3 Đại diện kớ kết hợp đồng mua bỏn điện 38

2.1.4 Nội dung cơ bản của HĐMBĐ 39

2.1.4.1 Cỏc điều khoản thương mại 39

2.1.4.2 Cỏc điều khoản kỹ thuật 40

2.1.4.3 Cỏc điều khoản phỏp lý 41

2.2 Cỏc quy định về thực hiện hợp đồng mua bỏn điện 42

2.2.1 Những yờu cầu đối với việc thực hiện hợp đồng mua bỏn điện 42

2.2.2 Trỏch nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bỏn điện 43

2.2.3 Sửa đổi, bổ sung, chấm dứt hợp đồng mua bỏn điện 50

Trang 5

2.3 Các quy định về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán điện 52

2.3.1 Các tranh chấp thường gặp trong quá trình thực hiện hợp đồng mua bán điện 52

2.3.2 Các phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán điện 53

2.3.2.1 Giải quyết tranh chấp về HĐMBĐ tại Quyết định 31/2006/QĐ-BCN 54

2.3.2.2 Giải quyết tranh chấp tại Cục Điều tiết Điện lực (ERAV) 55

Chương 3 HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN ĐIỆN 59

3.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán điện 59

3.1.1 Nhu cầu bảo vệ tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia hợp đồng mua bán điện 59

3.1.2 Nhu cầu xây dựng thị trường phát điện cạnh tranh, hướng tới thị trường điện cạnh tranh hoàn chỉnh 59

3.1.3 Khuyến khích các chủ thể tham gia đầu tư phát triển điện lực, đảm bảo cung cấp nguồn điện ổn định cho phát triển kinh tế-xã hội 60

3.2 Một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán điện và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định này 61

3.2.1 Một số kiến nghị nhằm xây dựng và hoàn thiện pháp luật về thị trường điện cạnh tranh tại Việt Nam 61

3.2.1.1 Xây dựng mẫu HĐMBĐ cho từng loại hình nhà máy điện 61

3.2.1.2 Kiến nghị đối với các quy định về giải quyết tranh chấp HĐMBĐ 62

3.2.2 Một số giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về hợp đồng mua bán điện 63

3.2.2.1 Hoàn thiện quy định về HĐMBĐ tại Luật Điện lực 63

3.2.2.2.Quy định về chấp thuận mua điện của EVN tại Quy định về quản lý đầu tư xây dựng các dự án điện độc lập 65

3.2.2.3 Tỷ lệ vốn vay và vốn chủ sở hữu trong tổng vốn đầu tư dự án 66

3.2.2.4.Hoàn thiện các quy định trong Luật Doanh nghiệp về kiểm soát giao dịch giữa công ty với các thành viên công ty 67

3.2.2.5 Hoàn thiện các quy định về trình tự mua bán điện với nước ngoài 68

theo quy định tại Thông tư 11/2008/TT-BCT 68

3.2.2.6 Hoàn thiện quy định về thẩm quyền phê duyệt HĐMBĐ của ERAV 70

3.2.2.7 Quy định về giải quyết tranh chấp HĐMBĐ tại Quyết định 31/2006/QĐ-BCN 71

3.2.3 Một số giải pháp nhằm áp dụng hiệu quả các quy định pháp luật trong việc đàm phán, ký kết hợp đồng mua bán điện của Tập đoàn Điện lực Việt Nam 72

KẾT LUẬN 75

TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Năng lượng nói chung, điện năng nói riêng luôn giữ vai trò quan trọng

trong đời sống kinh tế- xã hội, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay khi mà hầu

hết các thiết bị hiện đại phục vụ đời sống con người và sản xuất đều sử dụng điện Điện năng được coi là một phần quan trọng của cơ sở hạ tầng, luôn phải

đi trước một bước để tạo tiền đề, điều kiện thuận lợi cho các ngành kinh tế khác phát triển Có thể nói phải có điện mới có công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Vì vậy, phát triển điện năng là yêu cầu cấp thiết để phát triển kinh tế

xã hội của đất nước

Trước khi có Tổng công ty Điện lực Việt Nam (tiền thân của Tập đoàn Điện lực Việt Nam), vai trò của hợp đồng mua bán điện hết sức mờ nhạt, các nhà máy điện, các công ty truyền tải hay phân phối điện đều thuộc Bộ Năng lượng và quan hệ với nhau chủ yếu là mệnh lệnh hành chính mà không ký kết, thực hiện hợp đồng Khi Tổng Công ty Điện lực Việt Nam ra đời, cùng với quá trình tái cơ cấu ngành điện, hợp đồng mua bán điện ngày càng phát triển và giữ vai trò quan trọng, là công cụ chủ yếu để điều tiết mối quan hệ của các bên tham gia mua bán điện

So với các hợp đồng mua bán hàng hóa thông thường khác, hợp đồng mua bán điện có nhiều đặc thù về đối tượng, chủ thể, nội dung cũng như phương thức thực hiện Thực tiễn ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán điện cũng đã bộc lộ nhiều hạn chế bất cập, chưa đầy đủ trong các quy định của pháp luật gây không ít khó khăn cho các bên tham gia hợp đồng Mặc dù vậy, cho đến thời điểm hiện nay loại hợp đồng này vẫn chưa được nghiên cứu sâu về mặt lý luận Pháp luật Việt Nam cũng đã có nhiều quy định chung về hợp đồng trong

Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại Tuy nhiên, các văn bản này chỉ quy định những nguyên tắc về hợp đồng, chưa phản ảnh những đặc thù riêng có của hợp đồng mua bán điện Trong khi đó, pháp luật về điện lực quy định về HĐMBĐ còn sơ sài, có nhiều bất cập, do đó thực tiễn ký kết và thực hiện loại hợp đồng này đang gặp nhiều vướng mắc, nhất là trong bối cảnh cơ cấu lại ngành điện, từng bước xây dựng thị trường điện cạnh tranh hoạt động lành mạnh, hiệu quả

Vì những lý do trên em mạnh dạn lựa chọn đề tài “Những vấn đề lý luận

và thực tiễn về hợp đồng mua bán điện ở Việt Nam” làm luận văn tốt nghiệp thạc sỹ luật học với mong muốn góp phần hoàn thiện lý luận hợp đồng mua

Trang 7

bán điện, tăng cường hiệu quả của hoạt động soạn thảo, đàm phán, ký kết và thực hiện các hợp đồng mua bán điện, nhất là để phục vụ cho nhu cầu công tác của bản thân

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong khoa học pháp lý, hợp đồng nói chung và hợp đồng mua bán hàng hoá nói riêng đã được đề cập trong nhiều công trình nghiên cứu khác nhau, ở các cấp độ khác nhau, từ các đề tài nghiên cứu khoa học, khoá luận tốt nghiệp của sinh viên, đến các luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ hay các bài báo chuyên khảo Tuy nhiên, nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện về một loại hợp đồng mua bán cụ thể với loại hàng hoá đặc biệt là điện năng thì luận văn là công trình đầu tiên

3 Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu đề tài

3.1 Mục đích

Luận văn có mục đích nghiên cứu làm rõ những khía cạnh pháp lý của hợp đồng mua bán điện, đánh giá thực trạng áp dụng các quy định pháp luật về loại hợp đồng này, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về hợp đồng mua bán điện, đồng thời đề xuất các biện pháp tăng cường hiệu quả cho hoạt động đàm phán, ký kết, thực hiện các hợp đồng mua bán điện

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, đề tài đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu sau đây:

- Làm rõ bản chất và các đặc trưng pháp lý của hợp đồng mua bán điện

so với hợp đồng mua bán thông thường khác, nhất là trong bối cảnh thực hiện chính sách quản lý năng lượng và tái cấu trúc ngành Điện của Việt Nam hiện nay;

- Nghiên cứu những bài học kinh nghiệm và các quy định của pháp luật nước ngoài để vận dụng linh hoạt vào tình hình thực tiễn Việt Nam hiện nay;

- Đánh giá thực trạng áp dụng các quy định pháp luật liên quan đến hợp đồng mua bán điện trong việc đàm phán, ký kết, thực hiện hợp đồng mua bán điện ở Việt Nam trong thời gian qua, nhất là từ khi thực hiện chính sách tái cơ cấu ngành điện, xã hội hoá các hoạt động điện lực, Tập đoàn Điện lực Việt Nam không còn là đơn vị độc quyền trong lĩnh vực điện lực;

- Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, các biện pháp tăng cường hiệu quả của hoạt động soạn thảo, đàm phán, ký kết và thực

Trang 8

hiện các hợp đồng mua bán điện, góp phần xây dựng thị trường năng lượng lành mạnh ở Việt Nam

3.3 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Hợp đồng mua bán điện có nhiều loại như: hợp đồng mua điện giữa Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) với các chủ đầu tư các dự án điện độc lập (Independent Power Producer, IPP); hợp đồng bán điện giữa Tập đoàn Điện lực Việt Nam với các công ty kinh doanh điện lực; hợp đồng bán điện của các công

ty kinh doanh điện lực với khách hàng… Nhưng trong khuôn khổ luận văn tốt nghiệp thạc sỹ luật học, đề tài này chỉ nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về hợp đồng mua bán điện, giữa chủ đầu tư các dự án điện độc lập và EVN/các công ty điện lực, giữa EVN với các công ty điện lực và hợp đồng mua điện của các nhà máy điện nước ngoài áp dụng theo pháp luật Việt Nam Hợp đồng mua bán điện giữa các công ty điện lực và khách hàng sử dụng điện phục vụ sinh hoạt, hợp đồng mua bán điện các dự án điện đầu tư theo hình thức xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (Build - Operation - Transfer - BOT) nước ngoài áp dụng luật nước ngoài không thuộc phạm vi nghiên cứu của Luận văn

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài

Để thực hiện đề tài, Luận văn sẽ vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, những quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, chính sách hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới, chính sách phát triển thị trường điện của Việt Nam

Để giải quyết các vấn đề cụ thể mà đề tài đặt ra, luận văn sử dụng phối hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau, trong đó phổ biến là phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh luật học, đối chiếu, khảo sát thực tiễn

5 Những kết quả mới của luận văn

Luận văn đạt được những kết quả mới sau đây:

- Tiếp tục góp phần làm sáng tỏ bản chất pháp lý của hợp đồng mua bán điện tại Việt Nam hiện nay, đánh giá những tác động của điều kiện kinh tế - xã hội, chính sách quản lý năng lượng nói chung, chính sách phát triển điện năng nói riêng của Nhà nước ta tới hợp đồng mua bán điện

Trang 9

- Chỉ ra những bất cập trong các quy định pháp luật về loại hợp đồng này, cũng như những khó khăn, vướng mắc mà EVN gặp phải trong thực tiễn đàm phán, soạn thảo, ký kết, thực hiện hợp đồng mua bán điện với các đối tác

- Đề xuất những kiến nghị góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật cũng như cơ chế áp dụng pháp luật về hợp đồng mua bán điện và các quy định nội bộ của EVN về loại hợp đồng này

6 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương, cụ thể như sau:

- Chương 1: Những vấn đề lý luận về hợp đồng mua bán điện và pháp luật về hợp đồng mua bán điện;

- Chương 2: Pháp luật về hợp đồng mua bán điện ở Việt Nam và thực tiễn áp dụng;

- Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán điện

Trang 10

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN ĐIỆN

VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN ĐIỆN

1.1 Khái quát về hợp đồng mua bán điện

1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của hợp đồng mua bán điện ở Việt

Nam

Trước kia, đa số các nước việc phát triển điện lực chủ yếu do Nhà nước đảm nhiệm Tuy nhiên cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế, đặc biệt là ở các nước đang phát triển do nhu cầu sử dụng điện tăng cao làm cho Nhà nước không còn đủ tiềm lực tài chính để đầu tư đủ các nhà máy điện đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế Việc thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài đầu tư vào phát triển điện lực vừa giúp đáp ứng nhu cầu sử dụng điện của nền kinh tế vừa không làm tăng nợ công của Nhà nước Ở các nước châu Âu vào thập kỉ cuối cùng của thế kỉ 20, HĐMBĐ (Power Purchase Agreement- PPA) với thời hạn dài (long-term PPA) được sử dụng rộng rãi, đặc biệt ở các nước còn duy trì cấu trúc thị trường người mua duy nhất (single buyer), ví dụ như ở Hungary, Bungary, Ba Lan, Cộng hòa Séc Đặc biệt theo số liệu thống kê năm 2004 thì

ở Ba Lan khoảng 2/3 lượng điện tiêu thụ được đảm bảo từ các PPA1

Ở Việt Nam, PPA chỉ thực sự xuất hiện vào cuối thập niên 90 của Thế kỉ

20 cùng với sự ra đời của Tổng Công ty Điện lực Việt Nam (nay là Tập đoàn Điện lực Việt Nam) và quá trình mở cửa ngành Điện, khuyến khích các nguồn đầu tư ngoài Nhà nước để phát triển ngành Điện Theo các số liệu thống kê hiện nay của Công ty Mua bán điện (Electric Power Trading Company- EPTC) thì HĐMBĐ đầu tiên được kí kết giữa Tổng Công ty Điện lực Việt Nam với các chủ đầu tư các dự án điện độc lập là HĐMBĐ dự án Nhà máy thủy điện BOT Cần Đơn, công suất 72 MW với Tổng Công ty Sông Đà kí vào ngày 05/10/1999, thời hạn hợp đồng là 25 năm từ ngày nhà máy vận hành thương mại Tiếp theo, vào năm 2001 Tổng Công ty Điện lực Việt Nam tiếp tục kí kết các HĐMBĐ dự án Nhiệt điện khí BOT Phú Mỹ 3, công suất 715MW, thời hạn

20 năm; HĐMBĐ dự án Nhiệt điện khí BOT Phú Mỹ 2 giai đoạn 2, tiếp đến là

1

theo báo cáo tại cuộc họp lần thứ 4 của Energy Regulators Regional Association ( tổ chức tự nguyện của các cơ quan quản lý năng lượng độc lập từ các nước Trung Âu, có liên kết với các nước Trung Đông và Hoa Kỳ (4th meeting ERRA từ trang web chính thức của ERRA http://www.erranet.org)

Trang 11

các HĐMBĐ các dự án điện độc lập2 Formosa, Hiệp Phước, Na Dương vào năm 2001 Tính đến thời điểm tháng 6/2010 Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã kí kết hàng trăm HĐMBĐ với các chủ đầu tư các dự án điện độc lập Theo Quy chế phân cấp, ủy quyền thỏa thuận giá điện, ký kết hợp đồng mua bán điện giữa Tập đoàn Điện lực Việt Nam và các chủ đầu tư các dự án điện độc lập thì các Công ty Điện lực thành viên của Tập đoàn sẽ kí kết các HĐMBĐ với các chủ đầu tư dự án điện độc lập (IPP) với các dự án có công suất dưới 30 MW, hiện nay chưa có số liệu thống kê cụ thể số lượng các hợp đồng này nhưng số lượng cũng tương đối lớn

Cùng với quá trình tái cơ cấu ngành điện và từng bước xây dựng thị trường điện tại Việt Nam, EVN đã tiến hành cổ phần hoá hoặc chuyển đổi hình thức pháp lý của các nhà máy điện từ hạch toán phụ thuộc sang các công ty cổ phần hoặc trách nhiệm hữu hạn Các đơn vị thành viên này của EVN là các thực thể pháp lý độc lập, có tư cách pháp nhân Vì vậy, quan hệ giữa EVN và các đơn vị này, theo quy định của pháp luật, phải thực hiện thông qua các HĐMBĐ

Về các hợp đồng bán buôn điện: Từ khi thực hiện theo cơ chế mới, các Công ty Điện lực thành viên trong Tập đoàn là các đơn vị hạch toán độc lập, EVN đã tiến hành kí kết các hợp đồng mua bán điện với các Công ty Điện lực (hiện nay bao gồm 11 Công ty Điện lực, Thủ tướng đã chấp thuận phương án nhóm 11 công ty này thành 5 Tổng Công ty phân phối điện, vì vậy trong tương lai gần các HĐMBĐ loại này sẽ được kí kết lại với các Tổng Công ty mới được thành lập)

1.1.2 Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng mua bán điện

1.1.2.1 Khái niệm hợp đồng mua bán điện

Trong một dự án điện sẽ có nhiều hợp đồng khác nhau như hợp đồng mua bán điện kí kết giữa chủ đầu tư và bên mua điện, các hợp đồng liên quan trong quá trình xây dựng nhà máy (hợp đồng tổng thầu, EPC…), hợp đồng vay vốn, thuê đất, thuê vận hành và bảo dưỡng, hợp đồng cung cấp nhiên liệu (ở các dự

án nhiệt điện), cấp nước xây dựng và nước vận hành….Tuy nhiên hợp đồng mua bán điện luôn được coi là hợp đồng quan trọng, là trung tâm của các dự án

2

Điều 2 Quy định về quản lý đầu tư xây dựng các dự án điện độc lập ban hành kèm theo Quyết định 30/2006/QĐ-BCN: Dự án điện độc lập (IPP) là dự án đầu tư xây dựng nguồn điện không sử dụng vốn ngân sách nhà nước để đầu tư, khai thác và bán điện theo quy định của pháp luật về điện lực, được đầu tư theo hình thức BOT hoặc BOO hoặc các hình thức khác theo quy định của pháp luật

Trang 12

điện đầu tư theo các hình thức xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (Build - Operation- Transfer, BOT), xây dựng - chuyển giao - kinh doanh (Build - Transfer - Operation, BTO), xây dựng - chuyển giao (Build - Transfer, BT) hay xây dựng - sở hữu - kinh doanh (Build - Own - Operation, BOO) (gọi chung là các nhà máy điện/dự án điện độc lập IPP- Independent Power Plant) Sở dĩ hợp đồng mua bán điện luôn có vai trò quan trọng như vậy vì nó quy định đầu ra cho sản phẩm mà các dự án điện độc lập này sản xuất ra Nếu như các nhà máy sản xuất khác thường có nhiều hợp đồng để bán sản phẩm của mình thì các dự

án điện độc lập thường chỉ kí một hợp đồng với một chủ thể để bán sản phẩm của họ, trong HĐMBĐ cũng thường có điều khoản bên bán điện không được bán điện cho bên thứ 3, trừ khi có sự đồng ý của bên mua điện Đặc điểm này lại càng làm cho các HĐMBĐ trở nên quan trọng đối với mỗi dự án điện độc lập

Trong thực tế ngành điện, có nhiều cách hiểu khác nhau về hợp đồng mua bán điện Thông thường trên thế giới thuật ngữ Hợp đồng mua bán điện được dùng theo nghĩa hẹp là Power Purchase Agreement (PPA) hoặc Energy Purchase Agreement hay Energy Service Agreement thường chỉ bao gồm hợp đồng giữa các công ty phát điện độc lập (independent power producer - IPP) và các đơn vị điện lực (electric utility/power utility) mà thôi Hiện nay PPA được

sử dụng rộng rãi cho các dự án sử dụng năng lượng tái tạo (renewable resources) như năng lượng mặt trời, gió hay địa nhiệt tại Mỹ, Canada, các nước châu Âu Tại Glossary Legal Term (ERRA Issue Paper 2004) do ERRA Legal Regulation Working Group3 biên soạn thì hợp đồng mua bán điện được hiểu là

“hợp đồng được kí giữa một bên phát điện độc lập và đơn vị điện lực Hợp đồng mua bán điện quy định các điều khoản và điều kiện mà theo đó điện năng

sẽ được sản xuất và bán ra Hợp đồng mua bán điện yêu cầu bên phát điện độc lập cung cấp điện với giá xác định trong thời hạn hợp đồng Nội dung chính của hợp đồng mua bán điện bao gồm: xác định quy mô và các thông số vận hành nhà máy; các mốc chính cung cấp điện, các điều khoản hợp đồng; cơ chế giá, các dịch vụ và quy định thực hiện các nghĩa vụ; quyền điều độ; điều kiện chấm dứt hợp đồng và vi phạm hợp đồng”

3

Nguồn http://www.erranet.org/Library ERRA (Energy Regulations Regional Association) là tổ chức tự nguyện của các cơ quan quản lý năng lượng độc lập từ các nước Trung Âu, có liên kết với các nước Trung Đông và Hoa Kỳ

Trang 13

Trong khi đó theo Glossary of Project Finance Terms and Acronyms trên cổng thông tin điện tử Project Finance Portal (trang web cung cấp các chỉ dẫn cho các luật sư, nhà nghiên cứu, sinh viên tìm hiểu thông tin về tài trợ dự án, tài chính cho cơ sở hạ tầng và cơ chế hợp tác giữa nhà nước và tư nhân (public-private partnerships, PPP) thuộc Trường Kinh doanh Harvard (Harvard

Business School) thì “HĐMBĐ (Power Purchase Agreement) là hợp đồng áp dụng đối với khách hàng lớn để mua điện từ một dự án điện Đây thường là hợp đồng quan trọng nhất trong suốt quá trình xây dựng và vận hành dự án điện” 4

Ở Việt Nam khái niệm hợp đồng mua bán điện (và trong trường hợp sử dụng tiếng Anh vẫn dùng thuật ngữ Power Purchase Agreement) thường được hiểu với nghĩa rộng hơn, không chỉ bao gồm các hợp đồng mua bán điện được

kí kết với các chủ đầu tư dự án điện độc lập mà còn dùng cho cả trường hợp bán buôn điện, bán lẻ điện, xuất nhập khẩu điện như trình bày ở phần dưới đây

về các loại hợp đồng mua bán điện

Như vậy, HĐMBĐ có thể hiểu là sự hợp đồng được ký kết giữa bên bán

và bên mua, bao gồm các điều khoản và điều kiện mà theo đó việc mua bán điện được thực hiện Nội dung chính của hợp đồng mua bán điện bao gồm: xác định các mốc chính cung cấp điện, các điều khoản hợp đồng; cơ chế giá, các dịch vụ và quy định thực hiện các nghĩa vụ; quyền điều độ; điều kiện chấm dứt hợp đồng và vi phạm hợp đồng

1.1.2.2 Đặc điểm hợp đồng mua bán điện

HĐMBĐ là một loại hợp đồng mua bán hàng hóa, vì vậy nó mang đầy đủ các đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa thông thường Cụ thể là về chủ thể chủ yếu được ký kết giữa các thương nhân; về đối tượng HĐMBĐ có đối tượng là hàng hóa; về nội dung HĐMBĐ cũng thể hiện quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ mua bán như bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu, bên mua có nghĩa vụ thanh toán, nhận quyền sở hữu…Bên cạnh

đó, do đặc thù của đối tượng của HĐMBĐ là loại hàng hóa đặc biệt- điện năng nên loại hợp đồng này mang một số đặc điểm riêng biệt như sau:

+ Chủ thể HĐMBĐ

Cho đến thời điểm hiện nay ở Việt Nam, chủ thể của HĐMBĐ khá đặc biệt và có số lượng tương đối hạn chế nếu so sánh với các hợp đồng mua bán

4

Nguồn http://www.people.hbs.edu/besty/projfinportal/glossary.htm#P

Trang 14

hàng hóa thông thường khác Chủ thể của HĐMBĐ bao gồm bên bán điện và bên mua điện

Đối với HĐMBĐ từ các đơn vị phát điện thì bên bán là chủ đầu tư các nhà máy điện, bên mua là EVN hoặc các đơn vị thành viên tùy theo phân cấp của EVN Theo Quy chế phân cấp, ủy quyền thỏa thuận giá điện, ký kết hợp đồng mua bán điện giữa Tập đoàn Điện lực Việt Nam và các chủ đầu tư các dự án điện độc lập hiện hành của EVN thì các HĐMBĐ ở các nhà máy điện có công suất dưới 30MW với chủ đầu tư các dự án điện độc lập EVN phân cấp cho các đơn vị thành viên là các công ty điện lực (hiện nay là các Tổng Công ty điện lực) đàm phán, ký kết và thực hiện hợp đồng Đối với các nhà máy điện có công suất trên 30MW, các dự án năng lượng mới, các dự án xuất khẩu, nhập khẩu điện thuộc thẩm quyền của EVN Đối với các hợp đồng bán buôn điện thì bên bán điện là EVN, bên mua điện là các tổng công ty điện lực thành viên Điện lực là lĩnh vực kinh doanh có điều kiện, vì vậy các bên khi tham gia vào hoạt động sản xuất, truyền tải, phân phối điện đều phải có giấy phép hoạt động điện lực phù hợp với từng lĩnh vực hoạt động như phát điện, phân phối điện, truyền tải điện theo quy định của pháp luật Theo quy định tại Quyết định

số 32/2006/QĐ-BCN ngày 06 tháng 9 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công Thương) về việc ban hành Quy định điều kiện, trình tự

và thủ tục cấp, sửa đổi, bổ sung, thu hồi và quản lý sử dụng giấy phép hoạt động điện lực và Quyết định số 15/2008/QĐ-BCT ngày 1/7/2008 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định điều kiện, trình tự, thủ tục cấp, sửa đổi,

bổ sung, thu hồi và quản lý sử dụng giấy phép hoạt động điện lực ban hành kèm theo quyết định số 32/2006/QĐ- BCN ngày 06/9/2006 thì để được bán điện chủ đầu

tư các dự án điện phải có giấy phép phát điện, bên mua điện phải có giấy phép bán buôn/bán lẻ điện

Cùng với quá trình xây dựng thị trường điện tại Việt Nam thì chủ thể HĐMBĐ sẽ có thay đổi phù hợp với các cấp độ phát triển của thị trường và cấu trúc thị trường được phê duyệt Cụ thể là ở thị trường phát điện cạnh tranh sẽ vẫn duy trì chế độ một người mua, tức là chỉ có một chủ thể trong thị trường chịu trách nhiệm mua điện từ nhà máy và bán lại cho các đơn vị phân phối điện Đến giai đoạn thị trường bán buôn điện cạnh tranh sẽ có nhiều chủ thể cùng cạnh tranh mua buôn điện, các đơn vị phát điện (bên bán điện) có thể lựa chọn nhiều đối tác mua điện của mình

Trang 15

Như vậy, chủ thể HĐMBĐ trước hết bị giới hạn bởi yêu cầu về giấy phép hoạt động điện lực Bất cứ chủ thể nào muốn tham gia vào hoạt động mua bán điện đều phải có giấy phép hoạt động điện lực phù hợp Do điều kiện thực tế ở Việt Nam hiện nay mà chủ thể này còn đặc biệt ở chỗ một bên của hợp đồng luôn là EVN và/hoặc các đơn vị thành viên của EVN Tuy nhiên giới hạn này

sẽ nhanh chóng được thay đổi cùng với quá trình xây dựng thị trường điện cạnh tranh ở Việt Nam

+ Tính phức tạp của HĐMBĐ: Hợp đồng mua bán điện là một trong những loại hợp đồng phức tạp nhất cả về mặt nội dung cũng như thủ tục đàm phán, kí kết và thực hiện hợp đồng Thực tế không chỉ ở Việt Nam mà ở cả các nước khác trên thế giới quá trình đàm phán thường kéo dài 1-2 năm hoặc lâu hơn, ở nhiều nước sau khi kí kết hợp đồng mua bán điện, các bên còn phải trình, báo cáo các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt trước khi thực hiện

+ Đối tượng của HĐMBĐ là điện năng, một loại hàng hóa đặc biệt, ở nhiều loại nguồn điện như thủy điện, năng lượng gió, năng lượng mặt trời… việc sản xuất phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện thời tiết vì vậy không phải lúc nào cũng có thể đảm bảo sản xuất ổn định, luôn phải kết hợp các loại nguồn điện khác nhau để đảm bảo lượng điện năng ổn định cung cấp cho nền kinh tế-

xã hội Ngoài ra do điện năng là loại hàng hóa không thể dự trữ, quá trình sản xuất và sử dụng phải diễn ra đồng thời nên cần phối hợp nhịp nhàng giữa sản xuất và tiêu dùng, giữa bán điện và mua điện Do tính đặc thù của đối tượng mà HĐMBĐ phải bao gồm nhiều điều khoản khác nhau như pháp lý, thương mại

và kỹ thuật để bao quát được tất cả các khía cạnh của quan hệ mua bán điện; ngoài phần chính của hợp đồng, mỗi hợp đồng mua bán điện thường bao gồm khoảng trên dưới 10 phụ lục kèm theo quy định chi tiết về các tiêu chuẩn kĩ thuật, chất lượng điện năng, đo đếm lượng điện năng giao nhận, tính toán tiền điện, điều độ Đối với những hợp đồng mua bán điện từ các IPP, để đảm bảo khả năng sẵn sàng cung cấp điện, chất lượng điện năng, các hợp đồng này luôn

có phần Phụ lục về các thông số kĩ thuật, thử nghiệm, nghiệm thu nhà máy

Trang 16

+ Thời hạn HĐMBĐ

Thông thường thời hạn hợp đồng mua bán điện tương đối dài, nhất là đối với các HĐMBĐ từ các IPP Bằng việc xác định thời hạn mua bán điện, chủ đầu tư có thể nhìn nhận được nguồn tiền thu được từ nhà máy, xác định lợi nhuận mà mình có thể đạt được, bởi vậy thời hạn này thường phải đảm bảo đủ dài để các chủ đầu tư thu hồi được vốn đã bỏ ra và người mua điện có giá điện hợp lý Nếu thời hạn hợp đồng ngắn, giá điện sẽ cao hơn thời hạn dài bởi chủ đầu tư phải thu hồi vốn nhanh hơn Ở Việt Nam hiện nay thường kí HĐMBĐ với thời hạn từ 20-25 năm Riêng đối với các đơn vị phát điện thuộc EVN đang tiến hành cổ phần hóa và hợp đồng bán buôn điện được kí hàng năm

+ HĐMBĐ thường bị quản lý về giá

Ở Việt Nam hiện nay các HĐMBĐ ở Việt Nam có hai cơ chế giá: giá một thành phần và giá hai thành phần

Giá một thành phần thường được áp dụng đối với các nhà máy thủy điện

và nhiệt điện 100% vốn của EVN (ở các trường hợp này giá điện được Hội đồng Quản trị EVN phê duyệt theo từng năm dựa trên các chỉ tiêu kinh tế-kĩ thuật của nhà máy) hoặc các hợp đồng bán buôn điện giữa EVN và các công ty điện lực

Giá điện hai thành phần chủ yếu được áp dụng cho các nhà máy nhiệt điện Hai thành phần của giá điện bao gồm: phí công suất (Capacity Charge) và phí năng lượng (Energy Charge) Phí công suất thông thường bao gồm các thành phần chi phí cố định đảm bảo để bên bán duy trì việc vận hành nhà máy

và trả lãi vay Phí năng lượng bao gồm các chi phí biến đổi và dựa trên sản lượng điện thực tế cung cấp Chi phí nhiên liệu thường được thu từ phí năng lượng (vì vậy đối với các dự án hầu như không phải trả chi phí nhiên liệu như các dự án thủy điện, giá điện là giá toàn phần)

Tại Việt Nam hiện nay pháp luật quy định HĐMBĐ phải thực hiện theo biểu giá hoặc khung giá do nhà nước ban hành Khi thị trường phát điện đi vào vận hành phần điện năng mua bán trên thị trường sẽ thực hiện theo cơ chế xác định giá phát điện, giá bán buôn điện theo quy định của thị trường, phần điện năng mua bán theo hợp đồng có thời hạn vẫn phải tuân thủ về khung giá, biểu giá do cơ quan có thẩm quyền ban hành

Trang 17

1.1.3 Phân loại hợp đồng mua bán điện

HĐMBĐ rất phong phú, đa dạng trong thực tế Về mặt khoa học, người ta

có thể phân chia HĐ thành những loại khác nhau, dựa trên những tiêu chí khác nhau như:

- Dựa trên yếu tố lãnh thổ có thể phân loại Hợp đồng mua bán điện thành hai loại là Hợp đồng mua bán điện trong nước và Hợp đồng mua bán điện với nước ngoài Do đặc thù của điện năng là quá trình sản xuất và tiêu thụ diễn ra đồng thời và luôn cần có hệ thống đường dây truyền tải, phân phối đến bên mua, người tiêu dùng, vì vậy các hợp đồng mua bán điện với nước ngoài thường được kí kết với các nước lân cận mà đối với Việt Nam chủ yếu là mua bán điện với Trung Quốc, Lào và Campuchia

Hiện nay cùng với quá trình hợp tác phát triển ngành điện trong khu vực Đông Nam Á, ngành điện các nước ASEAN, trong khuôn khổ hợp tác HAPUA (Heads of ASEAN Power Utilities/Authorities) đang tiến hành xây dựng mẫu Hợp đồng đấu nối song phương (Bilateral Interconnection Arrangement Model) để thuận tiện cho các bên trong quá trình mua bán điện qua biên giới HAPUA đang cố gắng xây dựng mẫu cho cả hai phương thức mua bán điện thời hạn dài (long term model) và mẫu cho phương thức mua bán ngày tới (day-ahead model) Điểm khác biệt lớn nhất giữa hai mẫu này là với long-term model sẽ xác định rõ bên bán và bên mua điện trong suốt thời hạn hợp đồng còn đối với day-ahead model thì bên bán điện và bên mua điện có thể thay đổi từng ngày, cụ thể là bên nào có nhu cầu mua điện/bán điện sẽ gửi thông báo cho bên kia theo một chương trình xác định để các bên cùng thỏa thuận thống nhất về sản lượng điện mua bán Day-ahead model là dạng hợp đồng hết sức linh hoạt, tạo điều kiện tối đa cho các bên trong hợp tác mua bán điện và trợ giúp lẫn nhau nhất là khi xảy ra sự cố của hệ thống cần có nguồn điện bổ sung kịp thời5

- Dựa trên các khâu trong quá trình sản xuất và tiêu thụ điện năng, có thể phân loại hợp đồng mua bán điện thành:

+ Hợp đồng mua điện từ các đơn vị phát điện (Power Purchase Agreement- PPA) Loại hợp đồng này được kí kết giữa đơn vị phát điện và Tập đoàn Điện lực Việt Nam hoặc các đơn vị phân phối điện trong EVN (tuỳ theo

5

HAPUA Group No5 Project No6 Report on Model Bilateral Interconnection Arrangement, Hanoi, 02-04 Nov 2009

Trang 18

mức công suất và nguồn nhiên liệu theo phân cấp giữa Tập đoàn và các đơn vị)

+ Hợp đồng bán buôn điện: được kí kết giữa EVN và các đơn vị phân phối điện (bao gồm 11 công ty điện lực hạch toán độc lập là thành viên của Tập đoàn Điện lực Quốc gia Việt Nam Hiện nay Thủ tướng Chính phủ đã chấp thuận phương án tái cơ cấu các công ty phân phối này để hình thành 5 Tổng Công ty phân phối điện Khi các Tổng Công ty này được thành lập thì các hợp đồng bán buôn điện sẽ được chuyển giao cho các Tổng Công ty này thực hiện) + Hợp đồng mua bán điện đối với các khách hàng trực tiếp sử dụng điện được kí kết giữa các công ty phân phối điện và khách hàng sử dụng điện (bao gồm cả khách hàng dùng điện để sản xuất và sinh hoạt)

- Dựa trên luật áp dụng hiện nay ở Việt Nam có hai loại hợp đồng mua bán điện là hợp đồng mua bán điện áp dụng pháp luật Việt Nam và hợp đồng mua bán điện áp dụng pháp luật nước ngoài Hợp đồng mua bán điện kí kết với các đối tác nước ngoài hoặc đối với các dự án điện được đầu tư theo hình thức BOT mà nhà đầu tư nước ngoài thông thường áp dụng pháp luật nước ngoài, chủ yếu là luật Singapore hoặc luật Anh

- Theo phương án tính tiền điện có hai loại là hợp đồng giá toàn phần và giá hai thành phần (bao gồm phí điện năng và phí công suất) Sự khác nhau giữa giá điện toàn phần và hai thành phần sẽ được phân tích kỹ ở phần dưới

giá điện

Trong phạm vi luận văn thạc sĩ của chuyên ngành Luật Kinh tế, luận văn này chỉ tập trung nghiên cứu hợp đồng mua bán điện từ các đơn vị phát điện và hợp đồng bán buôn điện áp dụng pháp luật Việt Nam

1.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán điện

1.2.1 Những đặc thù của điện năng - một loại hàng hóa đặc biệt

Điện năng ngày càng đóng vai trò quan trọng trong xã hội hiện đại, không chỉ trong đời sống hàng ngày mà cả trong sản xuất kinh doanh Điện cùng với các yếu tố khác trong cơ sở hạ tầng thường phải được đầu tư phát triển trước một bước để tạo điều kiện cho các ngành kinh tế khác phát triển Tuy nhiên do đặc thù của điện năng nên việc sản xuất, truyền tải, phân phối, mua bán hay sử dụng điện đều rất khác biệt so với các loại hàng hóa thông thường khác Điểm

Trang 19

tạo nên sự khác biệt của điện năng, như đã được nhắc đến ở phần trên, chính là đặc điểm điện năng hầu như không dự trữ được, quá trình sản xuất và tiêu dùng phải diễn ra đồng thời, do đó cần có hệ thống đường dây truyền tải và phân phối thống nhất từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ Cũng vì đặc điểm này mà quy hoạch phát triển điện lực rất quan trọng, việc xây dựng các nhà máy mới không những cần khai thác triệt để lợi thế tự nhiên mà còn phải phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội tại các vùng lân cận Việc sản xuất của các nhà máy

và tiêu thụ điện của các khách hàng cần được điều phối nhịp nhàng và thống nhất, vì vậy cần có cơ quan điều hành việc đưa điện lên lưới và sử dụng điện- trong ngôn ngữ ngành điện gọi là điều độ hệ thống điện Bởi vậy trong HĐMBĐ luôn phải có các điều khoản về điều độ vận hành để đảm bảo nhà máy tuân thủ mệnh lệnh điều độ của Trung tâm điều độ đưa ra Theo một lộ trình xác định theo thỏa thuận trong hợp đồng, bên bán điện và bên mua điện phải công bố sản lượng điện có thể bán và có thể mua để Trung tâm điều độ có

cơ sở vận hành, điều độ toàn bộ hệ thống điện

Một đặc điểm nữa của điện năng cũng cần được nhắc đến là tuy điện năng rất quan trọng trong đời sống nhưng cũng nguy hiểm đối với sức khỏe con người hoặc các loài vật khi tiếp xúc Bởi thế sử dụng điện an toàn luôn được ưu tiên, và vì thế trong HĐMBĐ các bên cần thỏa thuận về cách thức xác định tình trạng khẩn cấp, hành động kịp thời khi tình trạng khẩn cấp xảy ra và hậu quả của tình trạng này Đồng thời, bên bán là các nhà máy điện luôn phải cam kết vận hành và bảo dưỡng nhà máy theo quy định của pháp luật và thông lệ ứng dụng cẩn trọng ngành điện (Prudent Utilities Practices)

1.2.2 Chính sách quản lý và phát triển năng lượng điện ở Việt Nam

Chính sách quản lý và phát triển điện năng ở Việt Nam thể hiện qua một

số điểm chính như: quy hoạch, chiến lược phát triển điện lực; quy định các điều kiện kinh doanh các hoạt động điện lực; khuyến khích việc hợp tác phát triển điện lực với nước ngoài; yêu cầu phát triển nguồn điện, lưới điện phải đảm bảo bền vững, tăng cường sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo, thân thiện với môi trường, khuyến khích phát triển điện năng đi đôi với thủy lợi, chống úng, chống hạn, bảo đảm mục tiêu phát triển nông nghiệp

1.2.2.1 Nhà nước quản lý về quy hoạch, chiến lược phát triển ngành công nghiệp điện năng

Trang 20

Theo quy định tại Điều 9 Luật Điện lực thì Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công Thương) tổ chức lập quy hoạch phát triển điện lực quốc gia trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức lập quy hoạch phát triển điện lực địa phương trình HĐND cùng cấp thông qua trước khi trình

Bộ trưởng Bộ Công Thương phê duyệt và phê duyệt quy hoạch phát triển điện lực huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh Đến nay Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt 5 quy hoạch phát triển điện lực quốc gia, đến lần thứ 6 năm

2004 sử dụng tên gọi Chiến lược phát triển điện lực, mỗi văn bản quy định về quy hoạch, chiến lược phát triển ngành điện trong 5 năm, có định hướng cho 10 năm tiếp theo, chuẩn bị hai phương án: phụ tải cao và phụ tải cơ sở Hiện nay ngành điện đang thực hiện theo Chiến lược phát triển ngành điện Việt Nam giai đoạn 2004-2010, định hướng đến 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt bằng Quyết định số 176/2004/QĐ-TTg ngày 05/10/2004 (Quy hoạch điện VI) Khoản 1 Điều 11 Luật Điện lực và Điều 3 Quy định quản lý đầu tư xây dựng các dự án điện độc lập ban hành kèm theo Quyết định 30/2006/QĐ-BCN (sau đây gọi tắt là Quyết định 30/2006/QĐ-BCN) thì việc đầu tư xây dựng các dự

án điện phải phù hợp với quy hoạch phát triển điện lực được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt Đối với các dự án không có trong quy hoạch phải được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch đồng ý trước khi chuẩn bị đầu tư Trên cơ sở Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia hoặc quy hoạch phát triển điện lực địa phương được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và công

bố, nhà đầu tư đăng kí tham gia đầu tư các dự án điện Nhà đầu tư muốn đầu tư

dự án ngoài danh mục phải xin phép cơ quan có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch phát triển điện lực trước khi thực hiện

Tại các quy hoạch phát triển điện lực ngoài việc công bố danh mục các dự

án nguồn điện, lưới điện đầu tư xây dựng trong thời hạn 5 năm, định hướng cho

10 năm tiếp theo còn quy định về mục tiêu, định hướng phát triển nguồn điện, lưới điện, cơ khí điện lực, tư vấn chuyên ngành điện…thể hiện rõ quan điểm phát triển, chính sách của nhà nước đối với công nghiệp điện cấp dịch vụ điện đảm bảo chất lượng, liên tục, an toàn, hiệu quả

Trang 21

1.2.2.2 Nhà nước quản lý về điều kiện kinh doanh các hoạt động điện lực

Pháp luật Việt Nam, từ Nghị định số 45/2001/NĐ-CP ngày 02/08/2001 của Chính phủ về hoạt động điện lực và sử dụng điện đến Luật Điện lực năm

2004 và các văn khác đều quy định điện năng là lĩnh vực kinh doanh có điều kiện Các chủ thể tham gia kinh doanh các khâu trong quá trình sản xuất, truyền tải và phân phối điện đều phải có Giấy phép hoạt động điện lực phù hợp Một số trường hợp đặc biệt do phát điện hoặc mua bán điện với các nước láng giềng với quy mô nhỏ theo quy định của Bộ Công Thương, đầu tư xây dựng cơ sở phát điện tự sử dụng mà không bán cho tổ chức, cá nhân khác; kinh doanh điện vùng nông thôn, miền núi, hải đảo với công suất dưới 50kVA từ lưới điện phân phối để bán điện trực tiếp cho khách hàng sử dụng thì được miễn giấy phép hoạt động điện lực

Để có được giấy phép hoạt động điện lực, các tổ chức, cá nhân cần đáp ứng các yêu cầu cụ thể về nhân lực, kinh nghiệm…tùy thuộc vào hoạt động điện lực mà các chủ thể này đăng kí thực hiện Hiện nay quy định cụ thể về trình tự thủ tục, điều kiện cấp, sửa đổi, thu hồi giấy phép hoạt động điện lực được quy định tại Quyết định số 32/2006/QĐ-BCN ngày 06 tháng 9 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp về việc ban hành Quy định điều kiện, trình tự

và thủ tục cấp, sửa đổi, bổ sung, thu hồi và quản lý sử dụng giấy phép hoạt động điện lực và Quyết định số 15/ 2008/QĐ-BCT ngày 01/07/2008 của Bộ trưởng Bộ Công Thương về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của quy định điều kiện, trình tự và thủ tục cấp, sửa đổi, bổ sung, thu hồi và quản lý sử dụng giấy phép hoạt động điện lực ban hành kèm theo quyết định số 32/2006/QĐ-BCN

1.2.2.3 Khuyến khích, tăng cường hợp tác quốc tế trong phát triển điện lực

Điều 5 Luật Điện lực quy định rõ:

“Mở rộng hợp tác quốc tế và hội nhập kinh tế quốc tế về hoạt động điện lực trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền quốc gia và các bên cùng có lợi Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia hoạt động điện lực tại Việt Nam; tổ chức, cá nhân ở trong nước hợp tác với tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế trong hoạt động điện lực”

Mục 2 trong phần Giải pháp đầu tư phát triển tại Quyết định số 110/2007/QĐ-TTg ngày 18/10/2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy

Trang 22

hoạch phát triển điện lực Quốc gia giai đoạn 2006-2015 có xét đến năm 2025 (Quy hoạch điện VI) cũng nhắc đến việc hợp tác quốc tế trong phát triển điện

năng, cụ thể là “Tính toán xây dựng phương án nhập khẩu điện của các nước Lào, Campuchia và Trung Quốc hợp lý”

Như vậy, việc mở rộng hợp tác quốc tế trong hoạt động điện lực không chỉ đơn thuần là khuyến khích đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực điện lực mà còn cả việc tăng cường quan hệ xuất khẩu, nhập khẩu với các nước láng giềng trên cơ

sở đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia

1.2.2.4 Từng bước xây dựng thị trường điện cạnh tranh ở Việt Nam, thực hiện giá điện theo cơ chế thị trường, khuyến khích các thành phần kinh tế cùng tham gia đầu tư vào lĩnh vực điện năng

Để khuyến khích được các thành phần kinh tế đầu tư vào lĩnh vực điện lực thì cần có cơ chế giá phù hợp, đảm bảo nhà đầu tư thu được lợi nhuận hợp lý, Quy hoạch điện VI đã chỉ rõ: “Tiếp tục thực hiện cải cách giá điện theo lộ trình

đã được duyệt và nghiên cứu điều chỉnh biểu giá điện theo hướng giảm bù chéo quá lớn giữa các nhóm khách hàng Cho phép Tổng công ty Điện lực Việt Nam (nay là Tập đoàn Điện lực Việt Nam) thực hiện hạch toán riêng phần dịch vụ mang tính công ích”

Thủ tướng Chính phủ cũng đã phê duyệt lộ trình, các điều kiện hình thành

và phát triển các cấp độ thị trường điện lực tại Việt Nam tại Quyết định số 26/2006/QĐ-TTg ngày 26/01/2006 theo đó các đơn vị liên quan đang tích cực thực hiện các nhiệm vụ được đề ra để hoàn thiện các điều kiện tiên quyết phục

vụ cho việc xây dựng và vận hành thị trường điện tại Việt Nam

1.2.2.5 Khuyến khích phát triển các nguồn năng lượng sạch

Do mỗi loại nguồn điện đều có ưu nhược điểm riêng, ví dụ như các nguồn năng lượng tái tạo (năng lượng mặt trời, năng lượng gió, thủy triều hay địa nhiệt ) tuy ít gây ô nhiễm môi trường nhưng lại phụ thuộc nhiều vào thời tiết và giá thành tương đối cao; nhiệt điện tuy ổn định hơn nhưng lại phụ thuộc vào giá cả nhiên liệu, nguồn nhiên liệu này ngày càng khan hiếm và không tái tạo được, gây ô nhiễm môi trường Bởi vậy trong xây dựng cơ cấu nguồn điện cần phải cân đối các loại nguồn để vừa đảm bảo nguồn điện phát triển ổn định cho nền kinh tế-xã hội vừa phải tính toán đến vấn đề bảo vệ môi trường và giá thành điện năng Do đó trong các quy hoạch phát triển điện lực đa số đều nêu

rõ quan điểm phát triển của Việt Nam là khuyến khích phát triển các nguồn

Trang 23

năng lượng sạch như thuỷ điện đa mục tiêu, tiếp tục nghiên cứu phát triển các nguồn năng lượng mới như hạt nhân, gió, năng lượng mặt trời , phát triển hợp

lý nhiệt điện trên với tỷ lệ thích hợp, phù hợp với khả năng cung cấp và phân

bố của các nguồn nhiên liệu

1.3 Pháp luật về hợp đồng mua bán điện

1.3.1 Nguồn luật điều chỉnh hợp đồng mua bán điện

Nguồn luật điều chỉnh HĐMBĐ là những văn bản pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong loại hợp đồng này HĐMBĐ đồng thời chịu sự điều chỉnh của các quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau bao gồm pháp luật chuyên ngành

là các văn bản pháp luật điện lực, pháp luật chung như các quy định về đầu tư, doanh nghiệp và thương mại

a Loại nguồn luật đầu tiên cần nhắc tới là các văn bản pháp luật trong lĩnh vực điện lực, trực tiếp điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa các chủ thể khi thực hiện các hoạt động điện lực nói chung và trong HĐMBĐ nói riêng Trước năm 2004, lĩnh vực điện lực chưa có luật riêng điều chỉnh mà chỉ có các văn bản dưới luật, chủ yếu ở dạng nghị định điều chỉnh các quan hệ pháp luật trong lĩnh vực này mà thôi Ngày 02/08/2001 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 45/2001/NĐ-CP về hoạt động điện lực và sử dụng điện quy định tương đối toàn diện các mặt của hoạt động điện lực, trong đó có một số điều quy định về HĐMBĐ, tuy nhiên mới chỉ quy định về các HĐMBĐ cho khách hàng sử dụng điện (chia làm 2 loại vì mục đích sinh hoạt và mục đích sản xuất kinh doanh)

mà chưa có các quy định cụ thể về việc mua điện từ các IPP hay bán buôn điện

phối điện

Sau một thời gian thực hiện Nghị định 45/2001/NĐ-CP đã bộc lộ một số nhược điểm, hạn chế Lĩnh vực điện lực là lĩnh vực phức tạp và đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, vì vậy đòi hỏi phải có một văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao, điều chỉnh tổng thể và toàn diện các quan hệ pháp luật phát sinh trong lĩnh vực này Để đáp ứng nhu cầu thực tế, nhằm tạo khung pháp lý cho sự hình thành và phát triển của thị trường điện cạnh tranh tại Việt Nam, ngày 03/12/2004 Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật Điện lực số 28/2004/QH11 điều chỉnh toàn diện các vấn đề thuộc lĩnh vực điện lực

Trang 24

Để Luật Điện lực thực sự đi vào cuộc sống, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Bộ Công Thương đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thi hành mà một số văn bản quan trọng có liên quan đến hoạt động mua bán điện từ các đơn

vị phát điện và hoạt động mua bán buôn điện bao gồm:

- Nghị định số 105/2005/NĐ-CP ngày 17 tháng 8 năm 2005 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Điện lực;

- Quyết định số 30/2006/QĐ-BCN ngày 31 tháng 8 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp về việc ban hành Quy định về quản lý đầu tư xây dựng các dự án điện độc lập;

- Quyết định số 31/2006/QĐ-BCN ngày 06 tháng 9 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp về việc ban hành Quy định Kiểm tra hoạt động điện lực và sử dụng điện, giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán điện và được sửa đổi bổ sung bằng Quyết định số 12/2007/QĐ-BCN ngày 6 tháng 3 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp;

- Quyết định số 32/2006/QĐ-BCN ngày 06 tháng 9 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp về việc ban hành Quy định điều kiện, trình tự và thủ tục cấp, sửa đổi, bổ sung, thu hồi và quản lý sử dụng giấy phép hoạt động điện lực- đã được sửa đổi bổ sung bằng Quyết định số Quyết định số 15/2008/QĐ-BCT ngày 1/7/2008 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định điều kiện, trình tự, thủ tục cấp, sửa đổi, bổ sung, thu hồi và quản lý sử dụng giấy phép hoạt động điện lực ban hành kèm theo quyết định số 32/2006/QĐ- BCN ngày 06/9/2006

- Quyết định số 37/2006/QĐ-BCN ngày 16 tháng 10 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp về việc ban hành Qui định đấu nối vào hệ thống điện quốc gia;

- Quyết định số 02/2007/QĐ-BCN ngày 09 tháng 01 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp quy định Yêu cầu kỹ thuật trang thiết bị đo đếm điện năng đối với các nhà máy điện;

- Quyết định số 2014/2007/QĐ-BCN ngày 13 tháng 6 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp về việc ban hành quy định tạm thời về nội dụng tính toán, phân tích kinh tế, tài chính đầu tư và khung giá mua bán điện các dự án nguồn điện;

- Thông tư số 07/2006/TT-BCN ngày 27/10/2006 của Bộ Công nghiệp về hướng dẫn mua, bán công suất phản kháng;

Trang 25

- Thông tư số 11/2008/TT-BCT ngày 22 tháng 10 năm 2008 của Bộ Công thương về hướng dẫn trình tự, thủ tục mua bán điện với nước ngoài;

- Quyết định số 26/2006/QĐ-TTg ngày 26/1/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt lộ trình, các điều kiện hình thành và phát triển các cấp

độ thị trường điện lực Việt Nam;

b Nguồn luật chung quy định về hợp đồng như Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại và các văn bản hướng dẫn thi hành

Điều 4 LTM năm 2005 đã quy định nguyên tắc áp dụng phối hợp các văn bản, theo đó: Hoạt động thương mại phải tuân theo LTM và pháp luật có liên quan; hoạt động thương mại đặc thù được quy định trong luật khác thì áp dụng quy định của luật đó; hoạt động thương mại không được quy định trong LTM

và trong các luật khác thì áp dụng quy định của BLDS Theo nguyên tắc này HĐMBĐ trước hết được điều chỉnh bởi các quy định của luật chuyên ngành (pháp luật về điện lực), khi các văn bản pháp luật chuyên biệt cho lĩnh vực điện lực không quy định sẽ dẫn chiếu đến các quy định về thương mại, dân sự để thực hiện

c Các điều ước quốc tế mà Việt Nam kí kết hoặc tham gia về hợp tác phát triển điện năng- là căn cứ để các doanh nghiệp điện lực ở Việt Nam và nước ngoài kí kết các HĐMBĐ như Hiệp định giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Hoàng gia Campuchia về hợp tác trong lĩnh vực điện lực (Agreement between the Government of the Socialist Republic of Vietnam and the Royal Government of Cambodia on the power sector cooperation) kí ngày 10/06/2006 Trên cơ sở các hiệp định này, các đơn vị điện lực thực hiện đàm phán và kí kết HĐMBĐ cụ thể

1.3.2 Những nội dung cơ bản của pháp luật về hợp đồng mua bán điện

Như đã trình bày ở phần trên về các loại nguồn luật điều chỉnh HĐMBĐ, các văn bản pháp luật điều chỉnh quan hệ mua bán điện đa dạng về chủng loại với số lượng tương đối lớn, tuy nhiên nội dung cơ bản của pháp luật về HĐBMĐ tập trung vào một số điểm lớn bao gồm:

- Điều kiện chủ thể kí kết và thực hiện hợp đồng;

- Quy định về giá điện trong hợp đồng;

- Các yêu cầu về mặt kỹ thuật đối với nhà máy (yêu cầu về hệ thống đo đếm, đấu nối vào hệ thống điện quốc gia…;

Trang 26

- Quy định về lập quy hoạch phát triển, lên danh mục dự án điện và thủ tục lựa chọn nhà đầu tư cho các dự án điện;

- Giải quyết tranh chấp hợp đồng

1.4 Pháp luật về hợp đồng mua bán điện ở một số nước trên thế giới

Hầu hết các nước trên thế giới đều ban hành văn bản luật riêng về điện lực (Electricity Law/Act) hoặc gộp chung vào luật về năng lượng (Energy law/act) ví dụ, Luật Điện lực của Vương quốc Campuchia (Electricity Law of the Kingdom of Cambodia) được ban hành ngày 02/02/2001, sửa đổi lần thứ nhất ngày 24/07/2009 Theo quy định của các nước này thì kinh doanh điện đều là ngành nghề có điều kiện, các chủ thể đều phải có giấy phép phù hợp mới được kinh doanh một hay nhiều lĩnh vực thuộc ngành điện lực Đồng thời pháp luật các nước này đều thừa nhận các hợp đồng mua bán điện dài hạn giữa các đơn vị phát điện và bên mua điện (thường là các tổ chức của nhà nước hoặc doanh nghiệp nhà nước hoặc các đơn vị do nhà nước giữ quyền chi phối)

1.4.1 Indonesia

Trước khủng hoảng tài chính châu Á vào cuối thập niên 90 của thế kỉ

XX hầu hết các nguồn điện ở Indonesia đều do Công ty Điện lực Indonesia (PLN) (có vai trò tương tự như EVN ở Việt Nam hiện nay) quản lý, dự án IPP đầu tiên được thực hiện vào năm 1992, sau khủng hoảng Nhà nước Indonesia tiếp tục khuyến khích phát triển IPP, đến năm 2008 tổng công suất phát của các IPP đã lên tới khoảng 6000MW6 PLN thuộc sở hữu hoàn toàn của Nhà nước Indonesia, Bộ Doanh nghiệp Nhà nước (Ministry of State-Owned Enterprises)

là đại diện chủ sở hữu, có vai trò quan trọng trong việc phát triển điện lực tại Indonesia7 Pháp luật Indonesia thừa nhận các HĐMBĐ dài hạn, thông thường thời hạn các hợp đồng này là 25- 30 năm Qua thực tế ở Indonesia, các nhà đầu

tư có xu hướng mong muốn áp dụng cơ chế này bởi khi họ kí HĐMBĐ dài hạn

sẽ nhìn nhận được dòng tiền trong suốt thời hạn dự án, tránh rủi ro trên thị trường Giá mua bán điện dựa trên thoả thuận giữa IPP và PLN thông qua hợp

6

Appendix 1 The Share of IPP Generated Electric Capacity of the National Electricity Supply Growth in

Indonesia between 1995 and 2008 (in megawatts)- The Indonesian Electricity Sector: Institutional

Transition, Regulatory Capacity and Outcomes (Dr Mika M Purra, Research Fellow, Centre on Asia

and Globalization, Lee Kuan Yew School of Public Policy, National University of Singapore), 2009

7

Indonesia Country Report, HAPUA Working Group No5 Project 6, the Second Meeting at Hanoi, 02-04 Nov 2009

Trang 27

đồng kinh doanh (Business to Business agreement between IPP and PLN), tuy nhiên mức giá cụ thể phải được sự đồng ý của Chính phủ8

Ngày 23/09/2009 Tổng thống Indonesia đã ban hành Luật Điện lực số 30/2009 (Electricity Law No.30/2009) thay thế cho Luật Điện lực năm 2002 xoá bỏ vai trò độc quyền của PLN trong cung cấp điện năng9 mà cho phép cả các IPPs tham gia vào quá trình cung cấp điện đến tận tay người tiêu dùng Luật này đồng thời cũng cho phép chính quyền địa phương xác định giá điện tại địa phương mình10

Đối với các hoạt động liên quan đến xuất nhập khẩu điện phải được sự đồng ý của Chính phủ Indonesia và việc kí kết các hợp đồng mua bán điện này phải thoả mãn các yêu cầu sau:

- Yêu cầu đối với việc bán điện với nước ngoài: (i) Nhu cầu điện năng của địa phương và các vùng lân cận đã được đáp ứng; (ii) Giá bán điện không bao gồm các trợ cấp của nhà nước; (iii) Việc bán điện không làm ảnh hưởng đến chất lượng và độ tin cậy của điện năng tại địa phương

- Yêu cầu đối với việc mua điện từ nước ngoài: (i) Nguồn điện cung cấp tại địa phương không đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng; (ii) Việc nhập khẩu điện chỉ với mục đích giúp đỡ cho việc cung cấp điện cho địa phương; (iii) Không làm ảnh hưởng đến an ninh, chủ quyền quốc gia và phát triển kinh tế đất nước; (iv) Nâng cao chất lượng và độ tin cậy của việc cung cấp điện năng tại địa phương; (v) Không làm ảnh hưởng đến khả năng phát triển nguồn điện trong nước11; (vi) Không tạo ra sự phụ thuộc vào nguồn điện năng từ nước ngoài

1.4.2 Vương quốc Campuchia

Tại Campuchia, Tổng Công ty Điện lực Campuchia (Electricite Du Cambodge) có vai trò tương tự như Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) ở Việt Nam hiện nay EDC là một công ty trách nhiệm hữu hạn thuộc sở hữu hoàn toàn của Nhà nước Campuchia, có trách nhiệm phát triển, sản xuất, truyền tải

và phân phối điện ở Campuchia EDC mua điện từ các dự án điện độc lập để

The Indonesian Electricity Sector: Institutional Transition, Regulatory Capacity and Outcomes (Dr Mika

M Purra, Research Fellow, Centre on Asia and Globalization, Lee Kuan Yew School of Public Policy, National University of Singapore), 2009 (page 24)

11

Indonesia Country Report, HAPUA Working Group No5 Project 6, the Second Meeting at Hanoi, 02-04 Nov 2009

Trang 28

cung cấp cho khách hàng trên toàn lãnh thổ Campuchia thông qua các hợp đồng mua bán điện, trừ một số vùng xa xôi hẻo lánh các dự án điện độc lập sẽ trực tiếp cung cấp điện cho khách hàng EDC cũng là chủ thể tham gia các hợp đồng nhập khẩu điện từ Việt Nam và Thái Lan

Luật Điện lực Campuchia ban hành ngày 02/02/2001 bằng Royal Decree No.NS/RKM/0201/03 Luật Điện lực 2001 được sửa đổi lần 1 vào ngày 24/07/2007 Như các nước khác, Campuchia cũng quản lý các hoạt động điện lực và hợp đồng mua bán điện khá chặt chẽ và có thể phân chia thành một số lĩnh vực cụ thể như:

- Cơ quan quản lý hoạt động điện lực và các vấn đề liên quan đến hợp đồng mua bán điện Theo quy định tại Điều 3 Luật Điện lực Campuchia thì Bộ Công nghiệp, Mỏ và Năng lượng Campuchia (the Ministry of Industry, Mines and Energy) là cơ quan có trách nhiệm đặt ra và quản lý chính sách, chiến lược

và kế hoạch trong lĩnh vực điện lực Cơ quan có chức năng trực tiếp thực hiện quản lý nhà nước về lĩnh vực điện lực là Cơ quan Điện lực Campuchia (the Electricity Authority of Cambodia) Điều 6 quy định cụ thể hơn về tư cách pháp lý của Cơ quan này, đây là thực thể pháp lý công, được Chính phủ Hoàng gia Campuchia trao quyền như là một cơ quan độc lập để quản lý các dịch vụ điện lực (electricity services: bao gồm phát điện, truyền tải, phân phối điện năng và các dịch vụ khác liên quan đến các dịch vụ kể trên- điều 1 Luật Điện lực Campuchia) và điều chỉnh mối quan hệ trong cung cấp, nhận điện và sử dụng điện ở Campuchia

- Giấy phép hoạt động điện lực: để tham gia vào các dịch vụ điện lực, (electrical power energy services) và trở thành một bên của các hợp đồng mua bán điện trong các dịch vụ tương ứng, các chủ thể cần phải có giấy phép phù

hợp Điều 5 Luật Điện lực Campuchia quy định: “Mỗi nhà cung cấp dịch vụ điện lực được yêu cầu phải có một giấy phép cấp bởi Cơ quan Điện lực Campuchia và sẽ duy trì bằng các điều kiện của luật này, các điều kiện ghi trong giấy phép, quy định và thủ tục của Cơ quan Điện lực Campuchia và các yêu cầu của pháp luật Campuchia”

- Phê duyệt giá điện và các điều kiện cung cấp các dịch vụ điện lực

Trang 29

Khoản b Điều 7 Luật Điện lực Campuchia quy định the Electricity

Authority of Cambodia có thẩm quyền “phê duyệt giá điện, các chi phí, thời hạn và điều kiện của các dịch vụ điện lực của những chủ thể được cấp phép, trừ khi Cơ quan này cho rằng giá điện và các chi phí, thời hạn cũng như điều kiện này được xác lập dựa trên quy trình thị trường và cạnh tranh (yếu tố cạnh tranh và thị trường)

- Giải quyết khiếu nại, tranh chấp Khoản f Điều 7 quy định Cơ quan có thẩm quyền giải quyết các khiếu nại của khách hàng, các tranh chấp hợp đồng liên quan đến những chủ thể được cấp phép nếu các khiếu nại, tranh chấp này liên quan tới việc vi phạm các điều kiện cấp phép quy định trong giấy phép hoạt động dịch vụ điện lực tương ứng Đối với các tranh chấp hợp đồng khác sẽ được giải quyết theo phương thức thỏa thuận trong hợp đồng

Luật Điện lực Campuchia chỉ quy định chung về các vấn đề liên quan trong lĩnh vực điện lực, quy mô của luật này không lớn, bao gồm 13 chương,

79 điều nhưng chỉ dày khoảng 10 trang A4 Luật này cũng không có các quy định riêng rẽ và rõ ràng về hợp đồng mua bán điện nhưng cũng đã thể hiện tương đối rõ quan điểm quản lý của Nhà nước Campuchia về loại hợp đồng này

về điều kiện chủ thể, giá điện, giải quyết tranh chấp cũng như phê chuẩn một

số điều kiện khác của hợp đồng

1.4.3 Bungari

Ở Bungari không có Luật Điện lực riêng mà các quy định về lĩnh vực điện lực được quy định chung trong Luật Năng lượng (Energy Law) Ngày 26/11/2006, Quốc hội Bungari thông qua Luật Năng lượng, ngày 12/12/2006 luật này có hiệu lực, thay thế Luật Năng lượng và Sử dụng năng lượng hiệu quả (Energy and Energy Efficiency Law) năm 1999 Điều 1 Luật Năng lượng năm

2006 điều chỉnh toàn diện các vấn đề về sản xuất, xuất nhập khẩu, truyền tải, phân phối, thương mại về điện năng, nhiệt năng (heat energy) và khí tự nhiên cũng như thẩm quyền của các cơ quan nhà nước trong việc xây dựng chính sách năng lượng, chức năng kiểm soát và quy định của các cơ quan nhà nước liên quan

Cơ quan có thẩm quyền quản lý các hoạt động điện lực, thực hiện chức năng quản lý nhà nước liên quan đến hợp đồng mua bán điện là một cơ quan chuyên môn độc lập của Chính phủ có tên Ủy ban Điều tiết năng lượng nhà

Trang 30

nước (the State Energy Regulation Commission) (Ủy ban) Thẩm quyền của Ủy ban này trong quản lý hợp đồng mua bán điện có thể được chia thành các lĩnh vực như sau:

- Về Giấy phép hoạt động điện lực

Cũng giống như đa số các nước trên thế giới, để được tham gia các hoạt động điện lực và kí kết hợp đồng mua bán điện, Điều 39 Luật Năng lượng Bungari yêu cầu phải có giấy phép phù hợp Các hoạt động điện lực cần có giấy phép bao gồm: phát điện, truyền tải, phân phối mua bán điện và tổ chức thị trường điện

Khoản 1 Điều 21 Luật Năng lượng quy định Ủy ban có thẩm quyền cấp, thay thế, sửa đổi, dừng, chấm dứt và rút giấy phép theo quy định của luật này

- Giá mua bán điện theo hợp đồng

Tại Mục 5 Quan hệ thương mại và các bên trong giao dịch về điện năng thuộc Chương Chín Lĩnh vực điện lực (Electricity Industry) quy định 2 loại giao dịch về điện lực: loại chịu quy định của Ủy ban và loại được tự do thỏa thuận giá mua bán điện Điều 97 Luật Năng lượng năm 2006 quy định các loại giao dịch phải tuân thủ quy định về giá của Ủy ban bao gồm: i) giao dịch giữa bên sản xuất điện và nhà cung cấp điện công, hoặc giữa bên sản xuất điện với public suppliers;ii) giữa nhà cung cấp điện công với public suppliers; iii) giữa nhà cung cấp điện công với khách hàng thông quan hệ thống truyền tải điện; iv) giữa public suppliers với khách hàng thông qua hệ thống phân phối điện; v) giữa các suppliers với nhau; vi) giữa nhà cung cấp điện công và công ty truyền tải điện hoặc với công ty phân phối điện tương ứng cho lượng điện năng cần thiết để bù đắp tổn thất do nguyên nhân kĩ thuật của quá trình truyền tải điện trên hệ thống điện tương ứng12

Điều 100 quy định các giao dịch được phép tự do thỏa thuận giá điện là giao dịch giữa nhà sản xuất điện, kinh doanh điện và khách hàng lớn Ngoài ra khoản 3 điều này cũng quy định ngoại lệ cho các giao dịch quy định tại điều

97, khi lượng điện thỏa thuận trong các giao dịch được quy định tại điểm 1,2 khoản 1 Điều 97 không đủ để cung cấp cho khách hàng có đấu nối với hệ thống truyền tải điện hoặc hệ thống phân phối điện thì các nhà cung cấp điện công có thể mua điện từ các nhà kinh doanh điện với giá tự do thỏa thuận theo sự cho phép của Ủy ban

12

Public provider có vai trò tương tự EVN ở Việt Nam, public suppliers có vai trò tương tự các công ty phân phối điện tại Việt Nam

Trang 31

Qua việc nghiên cứu các quy định của Điều 97 và Điều 100 có thể thấy Nhà nước Bungari kiểm soát tương đối chặt chẽ giá điện tại các giao dịch, không chỉ là giá bán điện cho khách hàng sử dụng (end-user) mà cả các giao dịch giữa các chủ thể khác tham gia vào quá trình sản xuất, truyền tải và phân phối điện

Để đảm bảo tính khách quan, công bằng trong việc quy định giá điện cũng như các loại năng lượng khác ở Bungari, đồng thời khuyến khích phát triển công nghiệp năng lượng, Luật Năng lượng Bungari cũng đưa ra các nguyên tắc chung cho việc xác định giá năng lượng tại Điều 31, cụ thể là giá năng lượng không được phân biệt đối xử, dựa trên các tiêu chuẩn của năng lượng và được xác định bằng phương thức rõ ràng; giá năng lượng áp dụng cho các công ty năng lượng phải đảm bảo cho các công ty này lấy lại được các chi phí hoạt động một cách kinh tế và hợp lý, ví dụ như: chi phí cho việc quản lý, vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa nhà máy; chi phí cung cấp và dự trữ nhiên liệu, đảm bảo thu hồi vốn đã đầu tư

- Phê duyệt các điều khoản chung/cơ bản của hợp đồng

Khoản 4 Điều 21 quy định Ủy ban có thẩm quyền phê duyệt các điều khoản chung của hợp đồng theo quy định của Luật Năng lượng Điều 98 quy định cụ thể hơn về các hợp đồng cần được phê duyệt bởi Ủy ban, cụ thể là trong trường hợp public supplier (tương tự như các công ty phân phối điện ở Việt Nam) cung cấp điện cho các khách hàng Những public providers này phải xây dựng các điều khoản chung của hợp đồng trình Ủy ban xem xét phê duyệt Khoản 3 Điều 98 quy định các điều khoản chung bao gồm: Chất lượng điện; Các thông tin cung cấp từ công ty; Thời hạn hợp đồng; Điều kiện chấm dứt, dừng cấp điện; Trách nhiệm của bên cấp điện trong trường hợp dừng cấp điện không theo quy định hoặc chất lượng điện cung cấp không đảm bảo

- Giải quyết các khiếu nại, tranh chấp giữa các bên được cấp giấy phép

liên quan đến việc thực hiện các hoạt động được cấp phép

Khoản 1 Điều 22 Luật Năng lượng quy định: “Ủy ban xem xét các khiếu nại của khách hàng đối với những chủ thể được cấp giấy phép hoặc giữa các chủ thể được cấp giấy phép với nhau liên quan đến việc thực hiện hoạt động được cấp phép”

Khi nhận được các khiếu nại kể trên, Chủ tịch Ủy ban sẽ yêu cầu điều tra theo trình tự được quy định tại Chương Tám Quản lý trong lĩnh vực năng

Trang 32

lượng Trong quá trình giải quyết khiếu nại, tranh chấp Ủy ban có thể giúp đỡ các bên thỏa thuận việc giải quyết tranh chấp và nếu đạt được thỏa thuận mà một bên không thực hiện thì bên kia có thể kiện ra tòa Trong trường hợp các bên có thỏa thuận về phương thức giải quyết tranh chấp trong hợp đồng thì áp dụng phương thức đó

Đối với hợp đồng mua bán điện từ các nhà máy phát điện: Nếu các HĐMBĐ dài hạn được kí kết trên cơ sở lựa chọn nhà đầu tư các dự án điện mới bằng hình thức đấu thầu cạnh tranh thì không cần Ủy ban cho phép trước khi kí kết Đối với các trường hợp khác, HĐMBĐ đều cần có được sự cho phép của

Ủy ban trước khi kí kết và thực hiện Trên thực tế, thủ tục chấp thuận của Ủy ban cho các hợp đồng mua bán điện từ các dự án điện độc lập tương đối phức tạp, thông thường mất khoảng một năm Ủy ban chỉ cho phép kí kết các hợp đồng mua bán điện từ các dự án điện độc lập có thời hạn trên 1 năm khi chắc chắn rằng hợp đồng đó không ảnh hưởng đến việc cung cấp điện năng do các khoản nợ của public provider

Như vậy Nhà nước Bungari quản lý khá chặt chẽ lĩnh vực điện lực nói chung và hợp đồng, giao dịch trong lĩnh vực này nói riêng trên nhiều phương diện khác nhau như quy định về giấy phép, giá, phê chuẩn hợp đồng…

1.4.4 Hungary

Ngày 02/07/2007 Quốc hội Hungary ban hành Luật số LXXXVI 2007

về Năng lượng điện (Act LXXXVI of 2007 on Electricity Energy) có hiệu lực

từ ngày 01/01/2008 thay thế cho Luật Năng lượng điện năm 2001 Về cơ bản Chính phủ Hungary cũng quản lý hợp đồng mua bán điện trên cơ sở các quy định về giấy phép, giá và phê chuẩn các điều kiện cơ bản của một số loại hợp đồng tương tự Campuchia hay Bungari được trình bày ở trên Điểm khác biệt lớn nhất ở Hungary là Luật Năng lượng điện quy định thành lập một cơ quan riêng để giải quyết các tranh chấp liên quan đến các quan hệ pháp luật được điều chỉnh bởi luật này Điều 169 Luật Năng lượng điện Hungary quy định Cơ quan Năng lượng Hungary (Hungarian Energy Office)- là một cơ quan nhà nước độc lập thuộc sự quản lý của Chính phủ Hungary và giám sát của Bộ Kinh tế và Giao thông vận tải Cơ quan này sẽ thành lập Hội đồng Trọng tài Năng lượng (Arbitration Tribunal for Energy) Khoản 3 Điều 169 quy định Hội đồng Trọng tài Năng lượng có thẩm quyền giải quyết tranh chấp giữa các chủ thể được Cơ quan Năng lượng Hungary cho phép để thực hiện các hoạt động

Trang 33

theo quy định của Luật Năng lượng điện hoặc tranh chấp hợp đồng giữa các bên nếu các bên có thoả thuận lựa chọn Hội đồng Trọng tài này

Như vậy nhìn chung luật điện lực các nước trên thế giới đều thừa nhận

sự tồn tại của HĐMBĐ dài hạn và đều quản lý chặt chẽ loại hợp đồng đặc biệt này hơn rất nhiều so với các hợp đồng mua bán hàng hóa thông thường khác Việc quản lý của nhà nước thông qua các quy định của pháp luật mà chủ yếu nhất vẫn là Luật Điện lực hoặc Luật Năng lượng thông qua việc quy định về giấy phép hoạt động, xác định khung giá hoặc biểu giá Tất cả các chủ thể muốn tham gia vào quan hệ này đều phải có giấy phép hoạt động điện lực phù hợp với lĩnh vực cụ thể họ tham gia Đa số các nước kiểm soát giá bán lẻ điện chặt chẽ hơn giá phát điện hay giá bán buôn điện, cụ thể hầu hết các nước chỉ quyết định giá bán lẻ điện, về giá bán buôn điện, giá bán điện của các đơn vị phát điện thông thường được quy định trong hợp đồng, nhà nước không trực tiếp quyết định nhưng Nhà nước sẽ xây dựng khung giá hoặc phê duyệt giá trước khi thực hiện

Đối với các hợp đồng xuất nhập khẩu điện bao giờ Chính phủ cũng quản

lý chặt chẽ, pháp luật các nước thường quy định các hợp đồng này cần phải xin phép về chủ trương hoặc Chính phủ/Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nội dung Pháp luật các nước cũng quy định chi tiết các điều kiện để được xuất khẩu điện

Trang 34

ra nước ngoài, trong đó điều kiện quan trọng nhất là việc xuất khẩu điện không làm ảnh hưởng đến an ninh năng lượng trong nước, các đơn vị điện lực phải đảm bảo cho nhu cầu trong nước trước khi xuất khẩu ra nước ngoài

Trang 35

Chương 2 PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN ĐIỆN

Ở VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG

Trên cơ sở các nội dung cơ bản cấu thành pháp luật về HĐMBĐ ở Việt Nam đã được xác định trong Chương 1, Chương 2 của Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu pháp luật thực định ở Việt Nam về HĐMBĐ đồng thời phân tích những ưu điểm, hạn chế của các quy định này, nghiên cứu thực tế áp dụng pháp luật về HĐMBĐ trong hoạt động mua bán điện của EVN làm cơ sở, tiền

đề cho các kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn nữa pháp luật về HĐMBĐ sẽ được trình bày cụ thể tại Chương 3

2.1 Giao kết hợp đồng mua bán điện

2.1.1 Chuẩn bị giao kết hợp đồng mua bán điện

Trước khi tiến hành giao kết HĐMBĐ, Chủ đầu tư dự án điện độc lập cần chuẩn bị các hồ sơ tài liệu cần thiết cho quá trình đàm phán Các công việc cần chuẩn bị chủ yếu là:

- Chuẩn bị các tài liệu liên quan đến tư cách pháp lý, năng lực thực hiện

dự án, kinh nghiệm quản lý dự án (số lượng dự án đã thực hiện, nguồn nhân lực

đã hoặc sẽ có để thực hiện dự án), tài liệu chứng minh năng lực tài chính (báo cáo tài chính…)

- Nghiên cứu về dự án: địa điểm xây dựng nhà máy, dự kiến quy mô, công nghệ áp dụng, dự kiến tổng vốn đầu tư, tiến độ thực hiện dự án, sự phù hợp với quy hoạch đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt…

- Chuẩn bị nguồn vốn thực hiện dự án: chủ đầu tư phải có phương án huy động vốn để thực hiện dự án, tính toán mức lợi nhuận mà dự án có thể đạt được để quyết định có đầu tư dự án hay không và giải trình với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được phép đầu tư

Trên cơ sở những chuẩn bị này chủ đầu tư lập Hồ sơ đề nghị bán điện gửi EVN để nhận được chấp thuận mua điện và đăng kí dự án với cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Trang 36

2.1.2 Thủ tục ký kết hợp đồng mua bán điện

2.1.2.1 Thủ tục giao kết hợp đồng mua bán điện trong nước

Việc giao kết HĐMBĐ cũng tuân thủ các nguyên tắc giao kết hợp đồng dân sự được quy định tại Bộ luật Dân sự như đảm bảo tự do giao kết hợp đồng,

tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, trung thực, hợp tác giữa các bên tham gia HĐMBĐ Để bắt đầu việc giao kết hợp đồng, trong lĩnh vực điện lực cũng cần

có đề nghị giao kết HĐMBĐ của bên bán điện và thông thường bên mua điện

sẽ trả lời bằng văn bản chấp thuận mua điện từ dự án, thể hiện sự đồng ý về mặt nguyên tắc mua điện sản xuất ra từ nhà máy với các điều kiện và điều khoản cụ thể sẽ được quy định trong hợp đồng Pháp luật Việt Nam về lĩnh vực điện lực hiện nay không quy định cụ thể các thủ tục cần thực hiện để ký kết được HĐMBĐ mà chỉ quy định về một số trình tự thủ tục đặc biệt, Nhà nước cần thiết phải quản lý (như quy định phải có Chấp thuận mua điện của EVN/đơn vị bán buôn điện mới được đăng kí thực hiện dự án hoặc xin phê duyệt chủ trương mua bán điện với nước ngoài…)

Tuy nhiên, do tính phức tạp, nội dung hợp đồng lại bao gồm nhiều thỏa thuận trong các lĩnh vực khác nhau như đo đếm, đấu nối, vận hành nhà máy…, các thỏa thuận này lại được đàm phán và kí kết trong khoảng thời gian tương đối dài nên EVN đã có các quy định cụ thể về trình tự thủ tục đàm phán HĐMBĐ với chủ đầu tư các dự án điện độc lập Việc quy định rõ trình tự thủ tục đàm phán, kí kết HĐMBĐ không những phân định trách nhiệm, quyền hạn của các bộ phận trong EVN mà còn tạo cơ chế giao kết hợp đồng một cách minh bạch, thuận lợi hơn cho các chủ đầu tư HĐMBĐ ở các dự án điện độc lập được chia làm hai loại hợp đồng do EVN (công ty mẹ trong tập đoàn) kí kết, thực hiện hợp đồng và do các công ty điện lực thành viên của tập đoàn kí kết, thực hiện hợp đồng trên cơ sở phân cấp của Tập đoàn Theo Quy chế phân cấp, ủy quyền thỏa thuận giá điện, kí hợp đồng mua bán điện giữa Tập đoàn Điện lực Việt Nam và chủ đầu tư các dự án điện độc lập thì Tập đoàn Điện lực Việt Nam- công ty mẹ sẽ kí kết và thực hiện các HĐMBĐ các dự án điện có công suất trên 30MW, các dự án sử dụng năng lượng mới, các nguồn phát điện diesel tại các huyện đảo không phân biệt công suất, các dự án liên quan đến xuất nhập khẩu điện không phân biệt mức công suất Hội đồng Quản trị Công

ty mẹ phân cấp cho các đơn vị thành viên là các công ty điện lực đàm phán, thỏa thuận giá điện, kí kết HĐMBĐ đối với các dự án có công suất đến 30MW,

Trang 37

trừ các dự án thuộc thẩm quyền của Công ty mẹ Về cơ bản thủ tục đàm phán

và kí kết các hợp đồng đối với 2 loại dự án này không có nhiều khác biệt mà khác biệt lớn nhất là chủ thể có thẩm quyền đàm phán và thực hiện hợp đồng với chủ đầu tư các dự án điện độc lập- vấn đề này sẽ được trình bày kĩ ở phần đại diện kí kết hợp đồng mua bán điện

Thủ tục kí kết HĐMBĐ bao gồm các bước cơ bản và thực hiện theo thứ

tự như sau:

- Chấp thuận mua điện;

- Đăng kí tham gia đầu tư dự án;

- Thỏa thuận đấu nối giữa EVN/các công ty điện lực và chủ đầu tư;

- Thỏa thuận thiết kế hệ thống điều khiển và ghép nối SCADA/EMS giữa EVN/các công ty điện lực với chủ đầu tư (hệ thống thu thập và giám sát số liệu vận hành hiện tại của nhà máy và truyền về các trung tâm điều độ);

- Thỏa thuận thiết kế hệ thống đo đếm giữa bên mua và bên bán;

- Đàm phán và kí kết HĐMBĐ giữa EVN và chủ đầu tư

Sau đây Luận văn sẽ trình bày nội dung cụ thể các bước thỏa thuận trong trình tự thủ tục ký kết HĐMBĐ:

i) Chấp thuận mua điện

Đây là văn bản đầu tiên về việc mua bán điện giữa các bên, liên quan chặt chẽ đến định hướng phát triển nguồn điện, cân bằng cung cầu điện năng nên EVN trực tiếp đàm phán và ra văn bản Chấp thuận mua điện nếu dự án phù hợp với quy hoạch phát triển điện lực được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, chủ đầu tư có đủ năng lực thực hiện dự án Văn bản chấp thuận mua điện chỉ ghi nhận một cách tổng quát và mang tính nguyên tắc, các điều kiện cụ thể về mua bán điện sẽ được đàm phán và thống nhất ở các giai đoạn sau Tuy nhiên hiện nay pháp luật và cả các quy định của EVN đều chưa rõ ràng về các điều kiện, căn cứ cụ thể để EVN chấp thuận mua điện hay không mua điện

ii) Đăng kí tham gia đầu tư dự án

Điều 4 Quyết định 30/2006/QĐ-BCN quy định việc lựa chọn chủ đầu tư cho các dự án điện độc lập được tiến hành thông qua đấu thầu Tổ chức, cá nhân mong muốn đầu tư dự án điện độc lập lập Báo cáo đầu tư đối với các dự

án thuộc Nhóm A, Báo cáo xin phép đầu tư đối với dự án thuộc Nhóm B, Nhóm C trình cơ quan có thẩm quyền xem xét Nội dung Báo cáo đầu tư, Báo cáo xin phép đầu tư được quy định tại khoản 2 Điều 5 Quyết định 30/2006/QĐ-

Trang 38

BCN, bao gồm các thông tin về chủ đầu tư (các tài liệu về tư cách pháp lý, kinh nghiệm thực hiện dự án, năng lực kỹ thuật, năng lực tài chính ), thông tin về

dự án (dự kiến địa điểm thực hiện, quy mô, công suất, công nghệ dự kiến áp dụng, thời gian dự kiến đưa nhà máy vào vận hành…), phương án thực hiện dự

án (vốn của chủ đầu tư, phương án huy động vốn…), văn bản thỏa thuận của UBND cấp tỉnh nơi dự kiến đặt nhà máy (nếu dự án không do tỉnh xem xét giải quyết) và văn bản chấp thuận mua điện của EVN hoặc các đơn vị bán lẻ điện, bán buôn điện

Khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ từ chủ đầu tư, cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét thẩm định hồ sơ và trả lời chủ đầu tư trong thời hạn 30 ngày đối với dự án Nhóm A, 20 ngày đối với dự án Nhóm B và Nhóm C

Sau khi nhận cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép đầu tư, chủ đầu

tư các dự án điện độc lập mới được tiến hành công tác lập dự án đầu tư và thực hiện đàm phán, thỏa thuận các nội dung tiếp theo của HĐMBĐ với EVN Điều 5 Quy định về quản lý đầu tư xây dựng các dự án điện độc lập ban hành kèm theo Quyết định 30/2006/QĐ-BCN thì tổ chức, cá nhân đăng kí tham gia đầu tư dự án đối với dự án nhóm A thực hiện theo quy định của pháp luật

về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình, đối với các dự án khác (ngoài nhóm A) phải có Báo cáo đầu tư, báo cáo xin phép đầu tư trình cơ quan cho phép đầu tư theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 5 Quyết định này Báo cáo xin phép đầu tư bao gồm công văn đề nghị của chủ đầu tư; các thông tin cơ bản

về dự án và chủ đầu tư; nguồn vốn huy động đề đầu tư nhà máy; và văn bản

chấp thuận mua điện của EVN hoặc đơn vị bán buôn, bán lẻ điện

Như vậy các tổ chức, cá nhân khi đăng kí tham gia đầu tư dự án đều phải

có văn bản chấp thuận mua điện của Tập đoàn Điện lực Việt Nam hoặc đơn vị bán lẻ điện, bán buôn điện (khi có thị trường điện) Trong khi đó tại khoản 1

Điều 4 Quyết định 30 cũng quy định rõ: “Để đảm bảo tính hiệu quả và bền vững của dự án, việc lựa chọn chủ đầu tư thực hiện dự án điện độc lập được tiến hành thông qua đấu thầu” Theo các quy định này thì tất cả các nhà thầu

của một dự án điện đều phải có chấp thuận mua điện của EVN hay nói cách khác, đối với một dự án điện độc lập EVN phải phát hành nhiều văn bản chấp thuận mua điện? Các văn bản chấp thuận mua điện phát hành cho các nhà thầu khác nhau ở cùng một dự án có phải giống nhau về nội dung không? Đây là

Trang 39

điểm chưa rõ ràng, chưa phù hợp của Quyết định 30, có thể gây nhiều khó khăn cho EVN và các nhà đầu tư trong quá trình đầu tư dự án điện

iii) Thỏa thuận đấu nối

Đơn vị có chức năng quản lý lưới điện có trách nhiệm làm việc, đàm phán thỏa thuận đấu nối với Chủ đầu tư Hiện nay Tổng Công ty Truyền tải điện Quốc gia (NPT) quản lý hệ thống lưới điện cấp điện áp từ 220kV trở lên chịu trách nhiệm thỏa thuận đấu nối với Chủ đầu tư các nhà máy đấu nối vào lưới điện 220kV trở lên, các Công ty Điện lực quản lý lưới điện cấp điện áp từ 110kV trở xuống chịu trách nhiệm thỏa thuận đấu nối với Chủ đầu tư có nhà máy đấu nối vào lưới điện từ 110kV trở xuống Chủ đầu tư chuẩn bị Hồ sơ đề nghị đấu nối theo quy định tại Phụ lục 1 Quy định đấu nối vào hệ thống điện quốc gia ban hành kèm theo Quyết định 37/2006/QĐ-BCN ngày 16/10/2006 của Bộ trưởng Bộ Công Nghiệp (nay là Bộ Công Thương)

iv) Thỏa thuận ghép nối hệ thống SCADA/EMS

Đơn vị điều hành hệ thống điện (Trung tâm Điều độ Hệ thống điện Quốc gia- Ao) chịu trách nhiệm đàm phán và thỏa thuận về ghép nối hệ thống SCADA/EMS giữa nhà máy điện và trung tâm điều độ theo quy định tại Quyết định 37/2006/QĐ-BCN tiến hành thẩm định và thỏa thuận với chủ đầu tư về thiết kế hệ thống SCADA/EMS

v) Thỏa thuận đo đếm, thỏa thuận giá điện và đàm phán HĐMBĐ

EPTC được giao nhiệm vụ thỏa thuận thiết kế hệ thống đo đếm phục vụ việc đo đếm lượng điện năng nhà máy cung cấp cho hệ thống điện, tính toán tiền điện đồng thời chủ trì đàm phán giá điện và các điều khoản trong HĐMBĐ

Sau khi EPTC và chủ đầu tư thống nhất nội dung HĐMBĐ, EPTC có nghĩa vụ trình EVN xem xét thẩm định và phê duyệt các HĐMBĐ làm cơ sở để EPTC ký kết với các Chủ đầu tư

Đối với HĐMBĐ các dự án điện độc lập có công suất dưới 30MW, do EVN đã phân cấp cho các đơn vị (cụ thể là các công ty điện lực) trực tiếp đàm phán, ký kết và thực hiện với Chủ đầu tư như phân tích tại phần trên

Đối với các hợp đồng bán buôn điện giữa EVN và các công ty điện lực hiện nay không có các quy định về trình tự thủ tục cụ thể Việc kí kết hợp đồng chủ yếu dựa trên đề xuất của các công ty điện lực và phân bổ điện năng mua bán của Tập đoàn cho các đơn vị thành viên

Trang 40

2.1.2.2.Thủ tục phê duyệt chủ trương mua bán điện, phê duỵệt dự thảo HĐMBĐ

+ Phê duyệt chủ trương mua bán điện với nước ngoài

Việc mua bán điện với nước ngoài được pháp luật quy định chặt chẽ và

cụ thể hơn để mỗi dự án mua bán điện với nước ngoài đảm bảo các điều kiện được quy định tại khoản 2 Điều 28 Luật Điện lực như không làm ảnh hưởng đến độ an toàn, tin cậy và tính ổn định trong vận hành hệ thống điện, không làm tổn hại đến lợi ích của khách hàng sử dụng điện trong nước và an ninh năng lượng quốc gia, đáp ứng các yêu cầu về mặt kĩ thuật…

Điều 28 Luật Điện lực quy định việc mua bán điện với nước ngoài phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép và được ghi trong giấy phép hoạt động điện lực Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định 105/2005/NĐ-CP ngày 17/08/2005 về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Điện lực, Điều 15 Nghị định này quy định cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép mua bán điện với nước ngoài là Thủ tướng Chính phủ

Trình tự thủ tục xin phê duyệt của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định tại Thông tư 11/2008/TT-BCT ngày 22/10/2010 của Bộ Công Thương về việc hướng dẫn trình tự thủ tục mua bán điện với nước ngoài Việc mua bán điện với nước ngoài cần được phê duyệt về chủ trương trước khi các đơn vị điện lực kí kết hợp đồng với đối tác nước ngoài Các đơn vị điện lực phải xin chủ trương đối với từng dự án xuất nhập khẩu điện cụ thể Đối với việc mua điện trực tiếp với nước ngoài ở cấp điện áp 0,4kV không qua hệ thống điện quốc gia và sử dụng cho mục đích sinh hoạt hoặc sản xuất kinh doanh với quy mô dưới 50kVA không phải thực hiện trình tự thủ tục quy định tại Thông tư 18/2008/TT-BCT Trình tự thủ tục mua bán điện với nước ngoài được quy định khác nhau đối với từng cấp điện áp dưới 35kV và trên 110kV Khi có nhu cầu kí kết hợp đồng xuất nhập khẩu điện, các đơn vị điện lực phải chuẩn bị Hồ sơ đề nghị phê duyệt phương án mua bán điện gửi Cục Điều tiết Điện lực (ERAV) theo quy định tại Mục 2 Nội dung hồ sơ đề nghị phê duyệt mua bán điện với nước ngoài, bao gồm tờ trình phê duyệt chủ trương mua bán điện với nước ngoài; văn bản đề nghị mua điện hoặc chấp thuận bán điện của phía nước ngoài; phương án mua bán điện với nước ngoài (phân tích hiện trạng lưới điện khu vực, nhu cầu công suất, biểu đồ phụ tải năm…); dự kiến phương

Ngày đăng: 01/04/2018, 17:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Giáo sư Michel Fromont (2006), Các hệ thống pháp luật cơ bản trên thế giới, NXB Tư Pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các hệ thống pháp luật cơ bản trên thế giới
Tác giả: Giáo sư Michel Fromont
Nhà XB: NXB Tư Pháp
Năm: 2006
13. Trường Đại học Luật Hà Nội (2006), Giáo trình Luật Thương mại (tập 2), NXB Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Thương mại (tập 2)
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 2006
14. Trường Đại học Luật Hà Nội (2005), Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam (tập 1,2), NXB Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: iáo trình Luật Dân sự Việt Nam (tập 1,2)
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 2005
16. TS. Bùi Ngọc Cường (2001), Xây dựng và hoàn thiện pháp luật kinh tế nhằm bảo đảm quyền tự do kinh doanh, Luận án Tiến sĩ luật học, trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và hoàn thiện pháp luật kinh tế nhằm bảo đảm quyền tự do kinh doanh
Tác giả: TS. Bùi Ngọc Cường
Năm: 2001
17. TS.Đỗ Văn Đại - Khoa luật Trường ĐH Aix-Marseille III (TT Aix-en- Provence) – CH Pháp (2004), “Vấn đề huỷ bỏ, đình chỉ hợp đồng do bị vi phạm trong BLDS Việt Nam”, Tạp chí Khoa học pháp lý số 3/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề huỷ bỏ, đình chỉ hợp đồng do bị vi phạm trong BLDS Việt Nam”
Tác giả: TS.Đỗ Văn Đại - Khoa luật Trường ĐH Aix-Marseille III (TT Aix-en- Provence) – CH Pháp
Năm: 2004
18. Th.S Đinh Thị Mai Phương (2005), Thống nhất luật hợp đồng ở Việt Nam, NXB Tư Pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống nhất luật hợp đồng ở Việt Nam
Tác giả: Th.S Đinh Thị Mai Phương
Nhà XB: NXB Tư Pháp
Năm: 2005
19. PGS.TS Nguyễn Như Phát (2002), Luật Kinh tế Việt nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Kinh tế Việt nam
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Như Phát
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2002
20. ThS. Nguyễn Thị Khế (2007), Luật thương mại và giải quyết tranh chấp thương mại, NXB Tài Chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật thương mại và giải quyết tranh chấp thương mại
Tác giả: ThS. Nguyễn Thị Khế
Nhà XB: NXB Tài Chính
Năm: 2007
23. TS.Phạm Duy Nghĩa (2004), Chuyên khảo Luật Kinh tế, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên khảo Luật Kinh tế
Tác giả: TS.Phạm Duy Nghĩa
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
24. TS.Vũ Thị Lan Anh (2008), “Hợp đồng thương mại và pháp luật về hợp đồng thương mại của một số nước trên thế giới”, Tạp chí Luật học, số 11/2008, trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp đồng thương mại và pháp luật về hợp đồng thương mại của một số nước trên thế giới”, "Tạp chí Luật học
Tác giả: TS.Vũ Thị Lan Anh
Năm: 2008
4. Nghị định số 105/2005/NĐ-CP ngày 17 tháng 8 năm 2005 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Điện lực Khác
5. Nghị định số 108/2009/NĐ-CP ngày 27/11/2009 về đầu tư theo hình thức xây dựng- kinh doanh- chuyển giao; xây dựng- chuyển giao- kinh doanh, xây dựng- chuyển giao Khác
6. Quyết định số 30/2006/QĐ-BCN ngày 31 tháng 8 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp về việc ban hành Quy định về quản lý đầu tư xây dựng các dự án điện độc lập Khác
7. Quyết định số 31/2006/QĐ-BCN ngày 06 tháng 9 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp về việc ban hành Quy định Kiểm tra hoạt động điện lực và sử dụng điện, giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán điện Khác
8. Quyết định số 12 /2007/QĐ-BCN ngày 6 tháng 3 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định Kiểm tra hoạt động điện lực và sử sụng điện, giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán điện Khác
9. Quyết định số 26/2006/QĐ-TTg ngày 26/1/2006 của Thủ tướng Chính Phủ về việc phê duyệt lộ trình, các điều kiện hình thành và phát triển các cấp độ thị trường điện lực Việt Nam Khác
10. Quyết định số 153/2008/QĐ- TTg ngày 28/11/2008 của Thủ tướng Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Cục Điều tiết Điện lực thuộc Bộ Công Thương Khác
11. Thông tư số 11/2008/TT-BCT ngày 22 tháng 10 năm 2008 của Bộ Công thương về hướng dẫn trình tự, thủ tục mua bán điện với nước ngoài Khác
15. Tuyển tập các văn bản pháp luật cơ bản về thương mại của Cộng hoà Pháp (2005),NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w