1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực tiễn thi hành pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở việt nam và định hướng hoàn thiện

83 370 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 616,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, Luật thuế TNCN có hiệu lực từ ngày 1/1/2009 qua một thời gian áp dụng trong thực tiễn đã bộc lộ những hạn chế như: Luật thuế TNCN còn có những quy định chưa thật phù hợp về vi

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LA THỊ TUYẾT ANH

THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN

Ở VIỆT NAM VÀ ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 60 38 50

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Văn Tuyến

HÀ NỘI - 2011

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU 1

Chương 1:TỔNG QUAN VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN VÀ LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN Ở VIỆT NAM 6

1.1 TỔNG QUAN VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 6

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân 6

1.1.1.1 Khái niệm thuế thu nhập cá nhân 6

1.1.1.2 Đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân 8

1.1.2 Lược sử hình thành và phát triển của thuế thu nhập cá nhân trên thế giới và ở Việt Nam 9

1.1.2.1 Lược sử hình thành và phát triển của thuế thu nhập cá nhân trên thế giới 9

1.1.2.2 Lược sử hình thành và phát triển của thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam 11

1.2 TỔNG QUAN VỀ LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN Ở VIỆT NAM VÀ CÁC NGUYÊN TẮC ÁP DỤNG 12

1.2.1 Bối cảnh và quá trình soạn thảo, ban hành Luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam 12

1.2.1.1 Bối cảnh ban hành Luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam 12

1.2.1.2 Quá trình soạn thảo và ban hành Luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam 14

1.2.2 Đánh giá tác động của Luật thuế thu nhập cá nhân đối với quyền và lợi ích của các chủ thể có liên quan 15

1.2.2.1 Đối với Nhà nước, cơ quan thuế và công chức ngành thuế 15

1.2.2.2 Đối với người nộp thuế 17

Trang 3

1.2.3.1 Nguyên tắc đảm bảo tính công bằng trong thực hiện Luật thuế thu

nhập cá nhân 18

1.2.3.2 Nguyên tắc đảm bảo sự cân bằng lợi ích giữa Nhà nước và người nộp thuế 18

1.2.3.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả kinh tế trong quá trình áp dụng Luật thuế thu nhập cá nhân 19

Chương 2: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 21

2.1 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN Ở VIỆT NAM 21

2.1.1 Các quy định về chủ thể nộp thuế thu nhập cá nhân và thực tiễn thi hành 21

2.1.2 Các quy định về đối tượng chịu thuế thu nhập cá nhân và thực tiễn thi hành 24

2.1.3 Các quy định về căn cứ tính thuế thu nhập cá nhân và thực tiễn thi hành 32

2.1.3.1 Căn cứ tính thuế đối với chủ thể là cá nhân cư trú 32

2.1.3.2 Căn cứ tính thuế đối với cá nhân không cư trú 44

2.1.4 Các quy định về quản lý thuế thu nhập cá nhân và thực tiễn thi hành 47

2.1.4.1 Thủ tục đăng ký thuế thu nhập cá nhân 48

Nghĩa vụ đăng ký thuế 48

2.1.4.2 Thủ tục kê khai thuế thu nhập cá nhân 49

Trang 4

2.1.4.4 Thủ tục xét giảm thuế, hoàn thuế thu nhập cá nhân 52 2.1.4.5 Xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp thuế thu nhập cá nhân 54

2.1.5 Một số kết luận rút ra từ thực tiễn thi hành pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam 55 2.2 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN Ở VIỆT NAM 58 2.2.1 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam 58

2.2.1.1 Việc hoàn thiện pháp luật thuế thu nhập cá nhân cần đặt trong tiến trình cải cách hệ thống thuế quốc gia và đáp ứng được các yêu cầu cơ bản của cải cách hệ thống pháp lý trong bối cảnh hội nhập 58 2.2.1.2 Ban hành, sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật thuế thu nhập cá nhân cho phù hợp với tình hình thực tế ở Việt Nam và phù hợp với thông lệ quốc tế 61

2.2.2 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam 64

2.2.2.1 Đổi mới nội dung công tác tuyên truyền pháp luật thuế thu nhập cá nhân 64 2.2.2.2 Hoàn thiện các biện pháp tổ chức để bảo đảm thực hiện các quy định của pháp luật về thuế TNCN 65 2.2.2.3 Cải cách hệ thống hành chính thuế thu nhập cá nhân 69 2.2.2.4 Minh bạch hóa thông tin về kết quả thu thuế và thông tin về quản

lý, sử dụng tiền thuế thu nhập cá nhân 71

KẾT LUẬN CHUNG 75

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Thu nhập doanh nghiệp : TNDN

Mã số thuế : MST

Công nghệ thông tin : CNTT

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Thuế thu nhập nói chung và thuế TNCN nói riêng đã được áp dụng từ lâu trên thế giới và có lịch sử hàng trăm năm Thuế thu nhập cá nhân được

áp dụng lần đầu tiên ở Anh năm 1799 dưới hình thức thu tạm thời nhằm mục đích trang trải cho cuộc chiến tranh chống Pháp và được chính thức ban hành vào năm 1842 Sau đó, thuế thu nhập cá nhân được nhanh chóng lan truyền sang các nước công nghiệp khác như: Nhật (năm 1887), Mỹ (năm 1913), Pháp (năm 1914) Các nước Châu Á như Thái Lan bắt đầu áp dụng vào năm 1939, ở Phi-líp-pin năm 1945, Hàn Quốc năm 1948, In-đô-nê-sia năm 1949, Trung Quốc năm 1984 Đến nay, đã có khoảng 180 nước

áp dụng thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập cá nhân đã trở thành một

bộ phận quan trọng trong hệ thống chính sách thuế của nhiều nước Các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển đều coi thuế thu nhập cá nhân

là một trong những sắc thuế có tầm quan trọng đặc biệt trong việc huy động nguồn thu ngân sách, thực hiện phân phối công bằng xã hội và điều tiết vĩ

mô nền kinh tế

Ở Việt Nam, cùng với quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện nền kinh tế mở, sản xuất kinh doanh trong nước và đầu tư nước ngoài đều tăng mạnh, đời sống kinh tế xã hội có những bước chuyển biến đáng kể Tuy nhiên, kèm theo đó là sự phát sinh chênh lệch về mức sống ngày càng rõ rệt, tiền lương, tiền công của người lao động giữa các đơn vị, nhất là khu vực kinh tế quốc doanh và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài có sự khác biệt ngày càng lớn Trong bối cảnh đó, Quốc hội uỷ quyền cho Hội đồng Nhà nước ban hành Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao ngày 27/12/1990 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/04/1991, nhằm động viên sự đóng góp của những cá nhân có thu nhập cao Trong quá trình thực hiện đến nay Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao đã có năm lần sửa đổi, bổ sung vào tháng 6/1994, tháng 2/1997, tháng 7/1999, tháng 5/2001 và tháng 3/2004 Các lần sửa đổi Pháp lệnh thuế TNCN nêu trên đã mở rộng phạm

vi thu thuế thu nhập cá nhân sang các khu vực hưởng lương khác tại các doanh nghiệp trong nước và một số cơ quan của nhà nước, cá nhân có thu nhập cao, tăng cường công tác quản lý thu nộp thuế, nhưng chủ yếu các lần

Trang 7

sửa đổi vẫn là sửa mức khởi điểm tính thuế, thuế suất, giãn cách thu nhập chịu thuế giữa các bậc thuế của biểu thuế Thuế TNCN nước ta có đóng góp ngày càng tăng vào tổng số thu từ thuế cho NSNN

Ngày 21/11/2007, Quốc hội ban hành Luật Thuế thu nhập cá nhân và chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009, thay thế cho Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao trước đây Ngoài việc tăng thu ngân sách thì thuế TNCN là một loại thuế điều hoà thu nhập, thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa người có thu nhập cao và người có thu nhập thấp trong xã hội Mặt khác, chúng ta đang trong quá trình hội nhập với kinh tế thế giới, cần có sự tương đồng với các nước khác về chính sách thuế, những quy định mới của Luật thuế TNCN sẽ đảm bảo công bằng trong điều tiết thu nhập của cá nhân và phù hợp với thông lệ quốc tế

Trong bối cảnh kinh tế xã hội Việt Nam hiện nay, việc ban hành Luật thuế TNCN ở Việt Nam là rất cần thiết, bởi lẽ:

Thứ nhất, ban hành và thực hiện Luật thuế TNCN góp phần tăng

cường công tác kiểm soát, phân phối thu nhập và điều tiết vĩ mô kinh tế - xã hội

Thứ hai, việc ban hành Luật thuế TNCN nhằm hoàn thiện hệ thống

chính sách thuế, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập

kinh tế quốc tế trong thời gian tới

Thứ ba, ban hành Luật thuế TNCN nhằm đảm bảo ổn định nguồn lực

cho ngân sách nhà nước

Như vậy, có thể thấy được việc ban hành Luật thuế TNCN là rất cần

thiết Tuy nhiên, Luật thuế TNCN có hiệu lực từ ngày 1/1/2009 qua một thời gian áp dụng trong thực tiễn đã bộc lộ những hạn chế như: Luật thuế TNCN còn có những quy định chưa thật phù hợp về việc hướng dẫn quyết toán thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công đối với đối tượng là người Việt Nam và với cả đối tượng là người nước ngoài cư trú, làm việc tại Việt Nam; Còn có những quy định gây vướng mắc về việc trừ tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với thu nhập nhận tại nước ngoài của người nước ngoài thuộc đối tượng cư trú theo Luật Bảo hiểm xã hội và bảo hiểm

y tế của nước ngoài Những quy định về giảm trừ gia cảnh, quy định về thuế TNCN khi chuyển nhượng bất động sản, chứng khoán hay việc miễn thuế đối với chuyển nhượng nhà đất, trong trường hợp đối tượng chuyển nhượng

Trang 8

có một nhà đất duy nhất, những quy định xung quanh yêu cầu cá nhân khi thực hiện chuyển nhượng cổ tức bằng cổ phiếu phải có trách nhiệm kê khai lại với cơ quan thuế nơi cư trú để được tính thuế hay một số mẫu tờ khai các chỉ tiêu kê khai còn thiếu hoặc chưa phù hợp… dẫn đến việc cơ quan thuế và người nộp thuế đều khó khăn trong việc thực hiện pháp luật thuế TNCN

Như vậy, qua một thời gian ngắn thi hành luật thuế TNCN chúng ta

đã gặp rất nhiều vướng mắc cần được sửa đổi cho phù hợp hơn với tình hình phát triển kinh tế xã hội Việt Nam Xuất phát từ những lý do đó, tác

giả quyết định chọn nghiên cứu đề tài: “Thực tiễn thi hành pháp luật thuế TNCN ở Việt Nam và định hướng hoàn thiện”

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trước đây, những quy định về thuế TNCN trong Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao được nghiên cứu trong một số luận văn thạc sỹ như luận văn “Một số vấn đề pháp lý về thuế thu nhập cá nhân” của tác giả Vũ Quang Huy (cao học khoá II) Luận văn đã giải quyết khá triệt

để các vấn đề pháp lý về thuế thu nhập cá nhân Tuy nhiên, kể từ khi Luật thuế TNCN được Quốc hội ban hành ngày 21/11/2007 và chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009 thì những nội dung cơ bản của Luật thuế TNCN chưa được nghiên cứu ở cấp độ luận văn thạc sỹ

3 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Chúng tôi xác định phạm vi nghiên cứu đề tài bao gồm các vấn đề chính sau đây:

- Pháp luật về thuế TNCN của một số quốc gia trong khu vực và trên thế giới

- Pháp luật về thuế TNCN của Việt Nam (Luật Quản lý thuế, Luật thuế TNCN, Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao và các văn bản hướng dẫn thi hành)

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu, tác giả sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu trong đó chủ yếu là các phương pháp như: phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp phân tích, phương pháp diễn dịch, phương pháp quy nạp, phương pháp so sánh, khảo sát… Từ đó

Trang 9

rút ra những ưu điểm, nhược điểm trong quy định của pháp luật Việt Nam

về thuế TNCN; xem xét tính phù hợp với quy định của pháp luật quốc tế để hướng tới việc hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam về thuế TNCN

5 Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài

Việc nghiên cứu đề tài nhằm mục đích cung cấp cho người đọc những thông tin cơ bản về Luật thuế TNCN, thực trạng thi hành luật thuế TNCN ở Việt Nam trong thời gian qua Tác giả sẽ phân tích để tìm ra những ưu, khuyết điểm của Luật thuế TNCN trong quá trình áp dụng vào thực tế và từ

đó đưa ra những kiến nghị, đề xuất hoàn thiện Luật thuế TNCN

Để hoàn thành mục tiêu đề ra, tác giả sẽ phải hoàn thành những nhiệm

vụ sau đây:

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về Thuế nói chung và thuế TNCN nói riêng

- Nghiên cứu các quy định của pháp luật về thuế TNCN và thực tiễn

áp dụng thuế TNCN ở Việt Nam trong thời gian qua

- Phân tích tình hình áp dụng pháp luật thuế TNCN để tìm ra những điểm chưa phù hợp của pháp luật thuế TNCN khi áp dụng và thực tế và tìm

ra nguyên nhân của sự chưa phù hợp đó

- Đề xuất những định hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật thuế TNCN

6 Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn

Chúng tôi dự kiến luận văn sẽ có những đóng góp mới về mặt khoa học như sau:

Thứ nhất, luận văn sẽ phân tích và làm rõ những điểm còn hạn chế,

bất cập của pháp luật thuế TNCN hiện hành, đồng thời chỉ rõ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực trạng thi hành luật thuế TNCN ở Việt Nam trong thời gian qua Đặc biệt, luận văn sẽ cung cấp những số liệu mới nhất về thuế TNCN trong hơn một năm áp dụng trên thực tế Đây là cơ

sở thực tiễn để đưa ra những đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam trong thời gian tới

Thứ hai, luận văn sẽ đưa ra một số đề xuất định hướng hoàn thiện

Trang 10

pháp luật thuế TNCN trong thời gian tới

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn

dự kiến được triển khai với các nội dung chính sau đây:

Chương 1: Tổng quan về thuế thu nhập cá nhân và pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam

Chương 2: Thực tiễn thi hành pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam và một số kiến nghị

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN VÀ LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN Ở VIỆT NAM

1.1 TỔNG QUAN VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân

1.1.1.1 Khái niệm thuế thu nhập cá nhân

Thuế vừa là phạm trù kinh tế, vừa là phạm trù lịch sử Lịch sử xã hội loài người đã chứng minh rằng thuế ra đời là một tất yếu khách quan, gắn với sự hình thành và phát triển của nhà nước Để duy trì sự tồn tại đồng thời với việc thực hiện các chức năng của mình, nhà nước cần có nguồn vật chất để thực hiện những chỉ tiêu có tính chất xã hội Bằng quyền lực chính trị, nhà nước “trích thủ” một phần của cải xã hội để có được nguồn vật chất

đó Một trong những phương thức huy động để tạo nên nguồn lực tài chính này cho Nhà nước chính là thuế

Dù trải qua nhiều giai đoạn phát triển và được nhận định từ nhiều giác

độ khác nhau, nhưng hiện nay một số định nghĩa về thuế theo xu hướng cổ điển vẫn còn đang thịnh hành, kể cả trong điều kiện nèn kinh tế kinh tế thị trường

Có thể đưa ra một khái niệm tổng quát về thuế phù hợp với giai đoạn hiện nay như sau:

Thuế là khoản đóng góp bằng tiền mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện theo luật đối với nhà nước; không mang tính chất đối khoản, không hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế và dùng

để trang trải cho các nhu cầu chi tiêu công cộng, [8, tr.17]

Trong thực tiễn, thuế có nhiều loại khác nhau, tùy thuộc vào căn cứ, tiêu chí phân loại

Căn cứ theo đối tượng chịu thuế, thuế được chia thành các loại như: Thuế tài sản (thuế sử dụng đất, thuế tài nguyên, thuế trước bạ ); thuế thu

Trang 12

nhập (thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp…); thuế hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng (thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt…)

Căn cứ theo mục đích điều tiết, thuế được chia thành hai loại là thuế trực thu và thuế gián thu

Thuế trực thu là loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập hoặc tài sản của

người nộp thuế Thuế trực thu có đặc điểm là đối tượng nộp thuế theo luật quy định đồng nhất với người phải chịu thuế Ở đây, theo quy định của luật, thuế thu trực tiếp vào thu nhập của người nộp thuế Ở đây không có hiện tượng chuyển giao gánh nặng thuế cho người khác chịu Thuế trực thu gồm các loại thuế như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế sử dụng đất nông nghiệp… Trong các loại thuế trực thu, thuế thu nhập

cá nhân ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nguồn thu đối với ngân sách nhà nước

Thuế gián thu là loại thuế không điều tiết thu nhập của người nộp thuế

mà điều tiết thu nhập của người tiêu dùng, thông qua việc cấu thành số tiền thuế trong giá cả hàng hoá, dịch vụ chịu thuế Thuế gián thu có đặc điểm là người nộp thuế theo luật và người chịu thuế không đồng nhất với nhau Người nộp thuế là người sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ, còn người chịu thuế là người tiêu dùng các hàng hoá đó, họ mua hàng hoá với giá cả trong đó có cả thuế Thuế gián thu gồm các loại thuế điển hình như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu …

Khái niệm thuế thu nhập cá nhân

Bất kỳ một quốc gia nào có nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường cũng đều coi thuế thu nhập cá nhân là một sắc thuế có tầm quan trọng lớn trong việc huy động nguồn thu cho ngân sách nhà nước và thực hiện công bằng xã hội Ở Việt Nam, thuế thu nhập cá nhân dần được hoàn hiện theo thời gian Từ năm 1991 đến trước năm 2009, để phù hợp hơn với tình hình thực tế, thuế TNCN ở Việt Nam được quy định dưới hình thức thuế thu nhập với người có thu nhập cao Từ 01/01/2009, Luật thuế TNCN chính thức có hiệu lực, đánh dấu bước phát triển quan trọng của sắc thuế

Trang 13

này Theo đó, khái niệm thuế TNCN ở Việt Nam cũng dần được bổ sung đầy đủ hơn như sau:

Thuế TNCN là khoản đóng góp bằng tiền mà cá nhân có đủ điều kiện theo luật định phải nộp cho Nhà nước theo nguyên tắc bắt buộc, không hoàn trả khi phát sinh thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế

Thuế thu nhập cá nhân là một loại thuế trực thu vì nó đánh trực tiếp vào thu nhập của cá nhân Với loại thuế này, cá nhân khó có thể chuyển gánh nặng thuế sang cho chủ thể khác

Thu nhập cá nhân là tổng số tiền, hàng hoá, dịch vụ mà một cá nhân nhận được trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm)

Thu nhập tính thuế của cá nhân trong kỳ tính thuế là thu nhập tính được sau khi đã giảm trừ các khoản chi phí liên quan để tạo ra thu nhập, các khoản giảm trừ mang tính chất xã hội và các khoản giảm trừ khác [9, tr.138]

1.1.1.2 Đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân

Thuế Thu nhập cá nhân có những đặc điểm cơ bản sau đây:

Một là, thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu đánh trực tiếp vào

thu nhập của người nộp thuế Do người nộp thuế đồng thời là người chịu thuế nên khó có thể chuyển gánh nặng thuế sang cho người khác

Hai là, thuế thu nhập cá nhân là loại thuế có độ nhạy cảm cao vì nó

liên quan trực tiếp đến lợi ích cụ thể của người nộp thuế và liên quan đến hầu hết mọi cá nhân trong xã hội Đặc điểm này xuất phát từ tính chất “trực thu” của thuế TNCN

Ba là, thuế thu nhập cá nhân là loại thuế luôn gắn liền với chính sách

xã hội của mỗi quốc gia mặc dù các quốc gia hiện nay vẫn luôn hướng tới một hệ thống chính sách thuế mang tính trung lập Khi tính thuế TNCN có xem xét đến hoàn cảnh cá nhân của người nộp thuế bằng việc quy định một

số khoản được giảm trừ có tính chất xã hội trước khi tính thuế

Trang 14

Bốn là, thuế thu nhập cá nhân thường được tính theo biểu thuế luỹ tiến

từng phần do thuế thu nhập cá nhân được đánh theo nguyên tắc “khả năng nộp thuế” và cũng xuất phát từ vai trò chủ yếu của thuế thu nhập cá nhân là điều tiết mạnh người có thu nhập cao, động viên sự đóng góp của những người có thu nhập thấp, thu nhập trung bình trong xã hội

Năm là, thuế thu nhập cá nhân không bóp méo giá cả hàng hoá, dịch

vụ Thuế thu nhập cá nhân không cấu thành trong giá bán (giá thanh toán) hàng hoá, dịch vụ nên nó không tạo ra sự sai lệch giá cả hàng hoá, dịch vụ khi lưu thông trên thị trường.[9, tr.139-140]

1.1.2 Lược sử hình thành và phát triển của thuế thu nhập cá nhân trên thế giới và ở Việt Nam

1.1.2.1 Lược sử hình thành và phát triển của thuế thu nhập cá nhân trên thế giới

Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế phổ biến trên thế giới và đã có lịch

sử hàng trăm năm Thời kỳ mới ban hành, các nước thường đánh thuế vào đối tượng dễ đo lường được như đánh trên đất đai, tài sản, hàng hoá Cho đến nay đã có 180 nước áp dụng thuế thu nhập cá nhân [9, tr.137]

Thuế thu nhập cá nhân đầu tiên được áp dụng tại Hà Lan vào năm

1797, sau đó là Anh Quốc vào năm 1799 Hoa Kỳ áp dụng loại thuế này muộn hơn nhưng cũng từ năm 1864 Các nước Châu Âu còn lại, các nước như Australia, Niu-Di-lân, Nhật Bản cũng áp dụng thuế thu nhập cá nhân vào nửa cuối thế kỷ 19 Các nước Châu Á như: Thái Lan áp dụng năm

1939, Philippin năm 1945, Hàn Quốc năm 1948, In-đô-nê-xia năm 1949, Trung Quốc năm 1984; Những nước Đông Âu thuộc các nền kinh tế chuyển đổi như Rumani năm 1990, Nga năm 1991, Ba Lan năm 1992 [ 9, tr.137]

Thuế TNCN có diện điều chỉnh rộng, áp dụng đối với hầu hết cá nhân

có thu nhập chịu thuế Thu nhập chịu thuế rất đa dạng, bao gồm: thu nhập

từ tiền lương, tiền công; thu nhập từ kinh doanh; từ đầu tư gián tiếp như cho vay, tham gia mua cổ phần, góp vốn liên doanh; thu nhập từ chuyển

Trang 15

nhượng vốn; chuyển nhượng bất động sản; thu nhập về trúng thưởng, từ tiền bản quyền; thu nhập từ quà biếu, quà tặng, thừa kế Do đặc điểm của thuế TNCN là có tính đến khả năng của người nộp thuế, hướng tới mục tiêu công bằng xã hội nên bên cạnh các loại thu nhập chịu thuế, luật thuế của nhiều nước có quy định cụ thể một số khoản thu nhập không chịu thuế, một

số khoản thu nhập được miễn thuế cùng với quy định về giảm trừ gia cảnh

Về nội dung chính sách thuế, các vấn đề cơ bản mà Luật thuế TNCN của các nước thường đề cập là: (i) Đối tượng nộp thuế; (ii) Thu nhập chịu thuế; (iii) Thu nhập không chịu thuế; (iv) Quy định về giảm trừ gia cảnh; (v) Biểu thuế (trong đó thường thiết kế biểu thuế suất luỹ tiến từng phần đối với thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương tiền công, thuế suất toàn phần đối với đầu tư vốn, chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng bất động sản, tiền bản quyền và một số loại thu nhập chịu thuế khác)

Về quản lý, thu nộp thuế, đại bộ phận thu nhập chịu thuế được các nước áp dụng phương pháp khấu trừ thuế tại nguồn, theo đó người chi trả thu nhập giữ lại tiền thuế để nộp vào ngân sách nhà nước trước khi trả thu nhập cho người nhận

Thuế thu nhập cá nhân đã trở thành một bộ phận quan trọng trong hệ thống chính sách thuế của nhiều nước Các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển đều coi thuế thu nhập cá nhân là một trong những sắc thuế

có tầm quan trọng đặc biệt trong việc huy động nguồn thu ngân sách, thực hiện phân phối công bằng xã hội và điều tiết vĩ mô nền kinh tế Tuy nhiên, đặt ra mức thuế cao hay thấp, đánh vào tổng thu nhập hay đánh vào từng khoản thu nhập khác nhau của các chủ thể thường phụ thuộc vào quan điểm điều tiết thu nhập và mục tiêu đặt ra trong chính sách kinh tế, xã hội của từng nước trong từng thời kỳ nhất định Ở các nước phát triển, thuế thu nhập cá nhân thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số thu từ thuế (Thuế thu nhập cá nhân chiếm tỷ trọng gần 40% trong tổng thu thuế của Ngân sách Liên bang Mỹ, Tây Ban Nha 38%, Anh 35%, Đan Mạch 50%) [9, tr.144] và được xem là một loại thuế rất quan trọng, là công cụ đảm bảo tính công bằng, tính hiệu quả kinh tế và hội nhập Chính vì vai trò và tỷ trọng của

Trang 16

thuế thu nhập cá nhân trong tổng số thu từ thuế của các nước lớn như vậy nên nhiều nước đã gọi thuế thu nhập cá nhân là “Nữ hoàng” hoặc “Vua” của các loại thuế

1.1.2.2 Lược sử hình thành và phát triển của thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam

Ở Việt Nam, cùng với quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện cơ chế kinh tế mở, sản xuất kinh doanh trong nước và đầu tư nước ngoài đều tăng mạnh, đời sống kinh tế xã hội có những bước chuyển biến đáng kể Tuy nhiên, kèm theo đó

là sự phát sinh chênh lệch về mức sống ngày càng rõ rệt, tiền lương, tiền công của người lao động giữa các đơn vị, nhất là khu vực kinh tế quốc doanh và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài có sự khác biệt ngày càng lớn Trong bối cảnh đó, hệ thống chính sách thuế được cải cách bước 1 (năm 1990), bên cạnh Luật Thuế lợi tức áp dụng đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh, Quốc hội uỷ quyền cho Hội đồng Nhà nước ban hành Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao ngày 27/12/1990 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/04/1991, nhằm động viên sự đóng góp của những cá nhân có thu nhập cao Trong quá trình thực hiện đến nay Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao đã có năm lần sửa đổi, bổ sung vào tháng 6/1994, tháng 2/1997, tháng 7/1999, tháng 5/2001 và tháng 3/2004

Các lần sửa đổi Pháp lệnh thuế TNCN nêu trên đã mở rộng phạm vi thu thuế thu nhập cá nhân sang các khu vực hưởng lương khác tại các doanh nghiệp trong nước và một số cơ quan của nhà nước, cá nhân có thu nhập cao, tăng cường công tác quản lý thu nộp thuế, nhưng chủ yếu các lần sửa đổi vẫn là sửa mức khởi điểm tính thuế, thuế suất, giãn cách thu nhập chịu thuế giữa các bậc thuế của biểu thuế

Trang 17

Ngày 21/11/2007, Quốc hội ban hành Luật Thuế thu nhập cá nhân và chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009, thay thế cho “Thuế thu nhập với người có thu nhập cao” trước đây

Luật thuế TNCN quy định người nộp thuế là cá nhân người Việt Nam,

người nước ngoài có thu nhập chịu thuế bao gồm cả cá nhân tự kinh doanh

và chủ hộ gia đình hoặc người đại diện hộ gia đình Việc chuyển cá nhân,

hộ kinh doanh hiện đang nộp thuế thu nhập doanh nghiệp và mở rộng thêm các đối tượng có thu nhập từ đầu tư vốn và tài sản vào nộp thuế thu nhập cá nhân sẽ đảm bảo công bằng trong điều tiết thu nhập của cá nhân và phù hợp với thông lệ quốc tế

1.2 TỔNG QUAN VỀ LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN Ở VIỆT NAM VÀ CÁC NGUYÊN TẮC ÁP DỤNG

1.2.1 Bối cảnh và quá trình soạn thảo, ban hành Luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam

1.2.1.1 Bối cảnh ban hành Luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam

Ở nước ta, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, thu nhập của các tầng lớp dân cư cũng tăng lên, nhưng khoảng cách chênh lệch về thu nhập giữa nhóm người có thu nhập cao và nhóm người có thu nhập thấp cũng có xu hướng ngày càng tăng (trong thời gian từ năm 1993 đến năm 2004, khoảng cách này đã tăng từ 3,7 lần lên đến 13,5 lần) [ 9, tr.139] Như vậy, việc áp dụng thuế thu nhập cá nhân sẽ góp phần đảm bảo tính hợp

lý, công bằng, hiệu quả của hệ thống chính sách thuế và thu hẹp khoảng cách chênh lệch giầu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, đồng thời Nhà nước sẽ nắm được thông tin về thu nhập của cá nhân Thông qua đó, vừa thực hiện động viên nguồn lực vừa góp phần phòng chống tham nhũng, lãng phí

Trước đây, Việt Nam chưa có Luật thuế TNCN hoàn chỉnh để điều tiết thống nhất các khoản thu nhập của cá nhân Thu nhập của cá nhân được điều chỉnh bởi các luật và pháp lệnh thuế khác nhau như: Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp

và Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất Chính sách động viên thuế đối với

Trang 18

thu nhập của cá nhân trong thời gian qua nhìn chung là phù hợp với điều kiện kinh tế, lịch sử cũng như thực hiện được chính sách của Đảng và Nhà nước giao phó

Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển KT-XH và hội nhập kinh tế quốc

tế, các chính sách thuế đối với thu nhập của cá nhân ở nước ta hiện hành còn bộc lộ một số mặt hạn chế như: Mức điều tiết về thuế còn chưa hợp lý, cùng là thu nhập của cá nhân nhưng được điều chỉnh bởi các sắc thuế khác nhau Điều này thể hiện chỗ, mức điều tiết về thuế của cá nhân có thu nhập

từ kinh doanh và cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công còn chưa công bằng Việc áp dụng thuế thu nhập doanh nghiệp đối với cá nhân kinh doanh như đối với pháp nhân là chưa phù hợp với đặc điểm của hộ kinh doanh Mức điều tiết mang tính chất bình quân, chưa xét đến yếu tố hoàn cảnh của người nộp thuế Việc áp dụng ngưỡng khởi điểm chịu thuế chung, không phân biệt người nộp thuế là độc thân hay có gia đình là phù hợp với thực tiễn của nước ta song chưa bảo đảm công bằng giữa cá nhân có cùng thu nhập nhưng có hoàn cảnh gia đình khác nhau: người phải nuôi dưỡng con, cha, mẹ cũng phải nộp thuế như người độc thân

Với xu thế hội nhập toàn cầu thì nhược điểm này cần được khắc phục khi xây dựng Luật thuế TNCN Chính sách thuế đối với thu nhập của cá nhân còn chưa phù hợp với thông lệ quốc tế Chẳng hạn, theo quy định của Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao thì cùng là thu nhập của cá nhân nhưng lại được điều chỉnh bởi các luật thuế khác nhau (thu nhập từ hoạt động kinh doanh của cá nhân phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp nhưng thu nhập của cá nhân không phát sinh từ hoạt động kinh doanh thì lại phải chịu thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao) Trong khi đó hầu hết các nước trên thế giới đều quy định rằng tất cả thu nhập chịu thuế của pháp nhân sẽ điều chỉnh bởi Luật thuế thu nhập doanh nghiệp (hay thuế thu nhập công ty), còn các thu nhập chịu thuế của cá nhân sẽ được điều chỉnh bởi Luật thuế TNCN Ngoài ra, biểu thuế luỹ tiến từng phần áp dụng đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công cũng còn chưa hợp lý, thuế suất còn cao so với các nước trong khu vực

Trang 19

Mặc dù thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao (gọi tắt là thuế TNCN) không phải là hình thức mới mẻ ở nước ta, nhưng để có được một Luật thuế phù hợp với điều kiện ở Việt Nam là rất cần thiết Vì vậy, trước

sự phát triển mạnh mẽ của thị trường và các thành phần kinh tế, yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, thu nhập của các cá nhân sẽ ngày càng đa dạng, việc ban hành Luật thuế TNCN trên cơ sở thống nhất ba sắc thuế nêu trên sẽ góp phần tăng cường công tác kiểm soát, phân phối thu nhập và điều tiết vĩ mô nền KT-XH

Trước bối cảnh kinh tế - xã hội và yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế trong thời gian qua, ngày 21/11/2007, Quốc hội đã ban hành Luật Thuế thu nhập

cá nhân và chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009, thay thế cho Pháp lệnh thuế thu nhập với người có thu nhập cao trước đây

1.2.1.2 Quá trình soạn thảo và ban hành Luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam

Nghị Quyết Đại hội Đảng IX và X đã xác định “Áp dụng thuế thu nhập

cá nhân thống nhất và thuận lợi cho mọi đối tượng chịu thuế, bảo đảm công bằng xã hội và tạo động lực phát triển” và “Hoàn thiện hệ thống pháp luật về thuế theo nguyên tắc công bằng, thống nhất và đồng bộ Điều chỉnh chính sách thuế theo hướng giảm và ổn định thuế suất, mở rộng đối tượng thu, điều tiết hợp lý thu nhập” Cụ thể hoá nghị quyết đại hội Đảng, Bộ Chính trị đã

thông qua Chiến lược cải cách thuế đến năm 2010, trong đó đặt ra yêu cầu:

“Cần sớm xác định các bước đi thích hợp để tăng tỷ trọng các nguồn thu trong nuớc cho phù hợp với tiến trình hội nhập Mở rộng diện thuế trực thu và tăng tỷ lệ thu từ thuế trực thu” Thực hiện các Nghị quyết này, Chính phủ đã

có Quyết định số 201/QĐ-TTg triển khai thực hiện Chiến lược cải cách thuế, trong đó thuế thu nhập cá nhân được xác định ban hành vào năm 2007

Sau hơn ba năm chuẩn bị kỹ lưỡng với hàng trăm cuộc hội thảo và sau gần một năm công bố rộng rãi để lấy ý kiến đóng góp của nhân dân, ngày 20/11/2007, tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội nước Cộng hoà XHCH Việt Nam

Trang 20

khoá XII đã thông qua Luật thuế Thu nhập cá nhân Luật này có hiệu lực thi hành từ 1/1/2009

Mặc dù còn những ý kiến khác nhau về Luật thuế TNCN, song có thể nói, đây là một văn bản luật được soạn thảo công phu nhất từ trước đến nay, phản ánh khá đầy đủ ý chí, nguyện vọng của nhân dân với nhiều điểm mới so với Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao và phù hợp hơn với điều kiện kinh tế - xã hội nước ta hiện nay

1.2.2 Đánh giá tác động của Luật thuế thu nhập cá nhân đối với quyền và lợi ích của các chủ thể có liên quan

1.2.2.1 Đối với Nhà nước, cơ quan thuế và công chức ngành thuế

Đối với Nhà nước, cơ quan thuế và công chức ngành thuế, thuế thu nhập cá nhân có những tác động cơ bản sau đây:

- Thuế thu nhập cá nhân là một công cụ đảm bảo nguồn thu quan trọng và ổn định cho ngân sách nhà nước

Thuế TNCN có diện thu thuế rất rộng, khả năng tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước cao, nhất là ở những quốc gia có nền kinh tế phát triển Bên cạnh đó, Thuế TNCN có độ co giãn theo thu nhập tương đối lớn nên cùng với sự phát triển của nền kinh tế, thu nhập của các tầng lớp dân cư cũng không ngừng tăng lên Nếu có chính sách động viên hợp lý, ổn định thì không cần phải thường xuyên thay đổi mà vẫn thu được một mức thu mong muốn Do sự ổn định trong mức huy động thuế nên đã tạo ra một môi trường phù hợp với mục tiêu đầu tư kinh tế dài hạn của quốc gia, góp phần khuyến khích, thúc đẩy sản xuất kinh doanh có hiệu quả, thu được lợi nhuận nhiều, tạo ra mức thu nhập ngày càng cao từ đó tạo nguồn thu ngày càng tăng trưởng cho ngân sách nhà nước

Kinh tế - xã hội càng phát triển, hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng thì nhu cầu chi tiêu của Nhà nước để giải quyết các vấn đề an ninh, quốc phòng, an sinh xã hội, phát triển sự nghiệp giáo dục, y tế cũng ngày càng gia tăng Thêm vào đó, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế dẫn đến

cơ cấu thu ngân sách cũng thay đổi theo hướng nguồn thu từ tích luỹ trong

Trang 21

nước được tăng dần và chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng thu ngân sách nhà nước Thuế thu nhập cá nhân cũng sẽ góp phần nâng cao tỷ trọng thu nội địa để ổn định thu cho ngân sách nhà nước trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Tỷ trọng thuế thu nhập cá nhân trong tổng số thu ngân sách tại các nước trong khối ASEAN, như: Thái Lan, Ma-lay-xi-a, Phi-lip-pin khoảng 12-16%, các nước đang phát triển khoảng 13 - 14%, các nước phát triển như: Mỹ, Nhật, Anh, Pháp, Đức khoảng 30-40% [ 9, tr.144] Tỷ trọng thuế thu nhập của cá nhân (bao gồm cả 3 sắc thuế như đã nêu ở trên) tại Việt Nam hiện nay khoảng 4,1%, riêng thuế TNCN đã đóng góp nguồn thu và ngân sách nhà nước ngày càng tăng: năm 1991 là 62 tỷ, năm 1992 là

153 tỷ, đến năm 1998 là 1.550 tỷ, năm 2005 là 4.400 tỷ và năm 2006 là 5.100 tỷ, năm 2007 là 7.015 tỷ đồng, năm 2008 khoảng 14.000 tỷ đồng, năm 2009 khoảng 13.300 tỷ đồng [ 9, tr.144]

- Thuế thu nhập cá nhân là công cụ kinh tế vĩ mô được Nhà nước sử dụng điều tiết thu nhập, tiêu dùng và tiết kiệm

Thuế TNCN không chỉ là công cụ huy động nguồn thu ngân sách nhà nước, thực hiện công bằng xã hội, mà còn là một trong những công cụ quan trọng của Nhà nước trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế Thông qua mức thuế TNCN và chế độ miễn giảm thuế có thể khuyến khích đầu tư, tiết kiệm…

Như đã phân tích, Thuế thu nhập cá nhân động viên trực tiếp vào thu nhập của cá nhân, thể hiện rõ nghĩa vụ của công dân đối với đất nước và được căn cứ trên các nguyên tắc “lợi ích”, “công bằng” và “khả năng nộp thuế” Việc áp dụng thuế thu nhập cá nhân sẽ góp phần đảm bảo tính hợp lý, công bằng, hiệu quả của hệ thống chính sách thuế và hạn chế sự gia tăng khoảng cách chênh lệch giầu nghèo giữa các tầng lớp dân cư; đồng thời Nhà nước sẽ nắm được thông tin về thu nhập của cá nhân Thông qua đó, vừa thực hiện động viên nguồn lực vừa góp phần phòng chống tham nhũng, lãng phí

Trang 22

- Thuế thu nhập cá nhân góp phần giúp cơ quan thuế và công chức thuế quản lý thu nhập dân cư

Thông qua việc kiểm tra, xác minh thu nhập tính thuế TNCN, cơ quan thuế cũng như công chức thếu có thể phát hiện những khoản thu nhập hợp pháp, không hợp pháp để có những biện pháp xử lý phù hợp Qua tài liệu,

số liệu về thuế TNCN giúp cho Chính phủ có thêm cơ sở để đánh giá khái quát về tình hình thu nhập xã hội, về cơ cấu thu nhập dân cư để đề ra các chính sách kinh tế-xã hội phù hợp

Qua thời gian thực hiện thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao ở Việt Nam, bước đầu đã tạo cho mọi người dân làm quen với việc kê khai thu nhập và nhận thức được trách nhiệm về đóng thuế thu nhập, một loại thuế phổ biến trên thế giới và cũng là tiền đề trong quá trình hoàn thiện chính sách thuế thu nhập cá nhân ở Việt nam

1.2.2.2 Đối với người nộp thuế

Đối với người nộp thuế, tác động chính của thuế thu nhập cá nhân thể

hiện ở chỗ: Thuế thu nhập cá nhân là công cụ góp phần thực hiện công

bằng xã hội, giảm bớt sự chênh lệch về thu nhập giữa những người có thu nhập cao và những người có thu nhập thấp trong xã hội

Thuế thu nhập cá nhân luôn gắn với chính sách xã hội của một quốc gia Mặc dù về quan điểm hoàn thiện chính sách thuế là cần phải xây dựng một chính sách thuế có tính trung lập, không nhằm nhiều mục tiêu khác nhau, nhưng trong thực tế chưa có quốc gia nào tách rời hẳn chính sách thuế thu nhập cá nhân với một số chính sách xã hội Sự công bằng được biểu thị bởi biểu thuế luỹ tiến từng phần, mức điều tiết về thuế tăng dần đều, người có thu nhập cao phải nộp thuế nhiều Chính sách xã hội thể hiện thông qua cơ chế chiết trừ gia cảnh và một số khoản giảm trừ trước khi tính thuế Như vậy, thuế TNCN đem lại sự công bằng tương đối cho người nộp

thuế

Trang 23

Ngoài ra, với những quy định mới về giảm trừ gia cảnh, Luật thuế TNCN còn giảm gánh nặng về nghĩa vụ thuế cho người nộp thuế

1.2.3 Nguyên tắc áp dụng Luật thuế thu nhập cá nhân

Luật thuế TNCN cũng như các luật thuế khác đều có sự tác động mạnh mẽ và trực tiếp tới quyền lợi của nhà nước và người nộp thuế Vì vậy, nguyên tắc áp dụng luật thuế TNCN cũng như nguyên tắc áp dụng các luật thuế khác là đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước và người nộp thuế, đảm bảo đạt được mục tiêu của nhà nước trong việc thu thuế nhưng vẫn được sự ủng hộ của người dân

1.2.3.1 Nguyên tắc đảm bảo tính công bằng trong thực hiện Luật thuế thu nhập cá nhân

Áp dụng thuế TNCN phải đảm bảo công bằng Nội dung của nguyên tắc này là việc áp dụng thuế TNCN phải đảm bảo mọi đối tượng thuộc diện chịu thuế TNCN đều phải nộp thuế và mọi người có điều kiện liên quan đến thuế TNCN như nhau phải được đối xử về thuế TNCN như nhau Trong trường hợp có sự khác nhau về điều kiện, tính công bằng vẫn được đảm bảo Đó là nếu có điều kiện khác nhau thì những đối tượng khác nhau nhưng cùng loại phải được đối xử với nhau tương xứng [7, tr.118-19] Nguyên tắc này phải được thể hiện xuyên suốt trong hệ thống văn bản pháp luật về thuế TNCN từ luật, nghị định, thông tư hay công văn hướng dẫn thực hiện Nguyên tắc đảm bảo công bằng không chỉ là nguyên tắc xuyên suốt của hệ thống pháp luật thuế TNCN mà còn là nguyên tắc hàng đầu của hệ thống văn bản pháp luật về thuế nói chung vì đây là nguyên tắc hiến định

Nguyên tắc đảm bảo công bằng còn thể hiện ở chỗ những đối tượng thuộc diện ưu đãi, miễn giảm thuế TNCN như nhau thì phải được ưu đãi, miễn giảm số thuế như nhau, tránh tình trạng ưu đãi, miễn giảm thuế không thống nhất và không công bằng gây thất thoát ngân sách nhà nước và gây hiệu ứng không tốt trong dân chúng

1.2.3.2 Nguyên tắc đảm bảo sự cân bằng lợi ích giữa Nhà nước và

Trang 24

người nộp thuế

Áp dụng luật thuế TNCN phải đảm bảo cân bằng lợi ích giữa nhà nước và người nộp thuế TNCN Nội dung của nguyên tắc này là việc áp dụng thuế TNCN phải đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước nhưng không được để cho người nộp thuế lâm vào tình trạng khốn cùng Đây là yêu cầu quan trọng để đảm bảo tính “trung lập” của thuế [ 7, tr.19] Thực hiện nguyên tắc này, nhà nước sẽ không tạo ra những quy định khiến người nộp thuế phải gánh chịu nghĩa vụ thuế một cách nặng nề Điều này xuất phát từ đạo lý là thuế TNCN đánh vào một số lượng không nhỏ người dân

có thu nhập cao trong xã hội, đối tượng nộp thuế TNCN là rất rộng và theo tốc độ phát triển của xã hội thì số lượng người nộp thuế TNCN ngày càng lớn, nếu phải trả số thuế quá lớn sẽ khiến đời sống người dân bị ảnh hưởng, nguy cơ trốn thuế sẽ tăng cao, gây thất thu cho ngân sách nhà nước

Tuy nhiên, việc xác định thế nào là cân bằng giữa lợi ích của nhà nước

và người nộp thuế TNCN là không đơn giản Nguyên tắc này có ý nghĩa pháp lý quan trọng trong việc xác định những nội dung cơ bản của luật thuế TNCN như xác định đối tượng nộp thuế, thu nhập chịu thuế, căn cứ tính thuế và biểu thuế suất Việc ban hành luật thuế TNCN phải dựa trên căn cứ

là việc tính toán số tiền thuế người dân phải trả chứ không chỉ xuất phát từ nhu cầu chi tiêu của Chính phủ

1.2.3.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả kinh tế trong quá trình

áp dụng Luật thuế thu nhập cá nhân

Áp dụng luật thuế TNCN phải đảm bảo tính kinh tế và tính hiệu quả Nguyên tắc này đòi hỏi việc áp dụng luật thuế TNCN phải đơn giản, rõ ràng, dễ hiểu, minh bạch và giảm chi phí cho mọi chủ thể liên quan Nguyên tắc này cũng đòi hỏi các quy định của Luật thuế phải có tính ổn định cao, dễ tiếp cận và dễ hiểu, dễ thực hiện Mặt khác, việc tổ chức bộ máy hành thu phải được tổ chức sao cho chi phí quản lý thu thuế TNCN không cao hơn mức chi phí cho phép trong mục tiêu đề ra Ngoài ra, việc

áp dụng luật thuế TNCN cũng phải tính tới mối tương quan giữa tổng thu

Trang 25

dự tính đạt được và chi phí phải trả cho việc thu và quản lý thuế TNCN

Kết luận chương 1

Việc ban hành luật thuế TNCN là rất cần thiết vì bất kỳ một quốc gia nào có nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường đều coi thuế thu nhập cá nhân là một sắc thuế có tầm quan trọng lớn trong việc huy động nguồn thu cho ngân sách và thực hiện công bằng xã hội Ở Việt Nam, thuế thu nhập

cá nhân dần được hoàn hiện theo thời gian Từ năm 1991 đến trước năm

2009, để phù hợp hơn với tình hình thực tế, thuế TNCN ở Việt Nam được quy định dưới hình thức Thuế thu nhập với người có thu nhập cao Từ 01/01/2009, Luật thuế TNCN chính thức có hiệu lực, đánh dấu bước phát triển quan trọng của sắc thuế này Luật thuế TNCN có vai trò quan trọng đối với nhà nước, cơ quan thuế, công chức thuế và người nộp thuế Thuế TNCN là một công cụ đảm bảo nguồn thu quan trọng và ổn định cho ngân sách nhà nước, là công cụ kinh tế vĩ mô được nhà nước sử dụng để điều tiết thu nhập, tiêu dùng và tiết kiệm, thuế TNCN góp phần giúp cơ quan thuế

và công chức thuế quản lý thu nhập dân cư đồng thời góp phần thực hiện công bằng xã hội, giảm bớt sự chênh lệch về thu nhập giữa những người có thu nhập cao và những người có thu nhập thấp trong xã hội Với vai trò quan trọng như vậy, thuế TNCN ngày càng khẳng định được vị trí quan trọng trong hệ thống thuế của nước ta, số thu của thuế TNCN ngày càng chiếm tỷ trọng lớn hơn trong tổng số thu ngân sách nhà nước

Trang 26

Chương 2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN Ở VIỆT NAM

Kế thừa quy định trước đây của Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người

có thu nhập cao, một trong những điểm mấu chốt của Luật thuế TNCN là việc phân loại người nộp thuế TNCN theo tiêu thức “cá nhân cư trú” và “cá nhân không cư trú” Tiêu thức này được sử dụng làm tiêu thức phân loại xuyên suốt, áp dụng cho các nội dung khác trong Luật thuế

Theo quy định của Luật thuế TNCN, cá nhân cư trú là cá nhân đáp ứng một trong các điều kiện sau:

a) Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam b) Có nơi ở đăng ký thường trú theo quy định của pháp luật về cư trú hoặc có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo hợp đồng thuê nhà mà tổng thời gian của các hợp đồng thuê từ 90 ngày trở lên

Như vậy, khác với quy định trước đây của Pháp lệnh Thuế thu nhập với người có thu nhập cao, tiêu thức xác định cá nhân cư trú có bổ sung thêm điều kiện cá nhân có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam bao gồm có nơi ở đăng ký thường trú theo quy định của Luật Cư trú hoặc có nhà thuê để ở tại Việt Nam

Trang 27

theo hợp đồng thuê nhà mà tổng thời gian của các hợp đồng thuê từ 90 ngày trở lên Đây là điểm mới của Luật thuế TNCN áp dụng trong trường hợp cá nhân không là đối tượng cư trú của nước nào nhưng có hợp đồng thuê nhà tại Việt Nam mà tổng thời gian cư trú trong các hợp đồng từ 90 ngày trở lên sẽ là đối tượng cư trú tại Việt Nam

Đối với quy định nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, Luật thuế TNCN và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn đưa ra quy định nơi ở thường xuyên của cá nhân cư trú phải phù hợp với quy định của Luật cư trú (đối với người VN) và Pháp lệnh Xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam (đối với người nước ngoài)

Luật thuế TNCN cũng quy định đơn giản rằng cá nhân không cư trú là cá nhân không đáp ứng được các điều kiện của cá nhân cư trú

Về phạm vi điều chỉnh đối với người nộp thuế: Bổ sung quy định về người nộp thuế của Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao trước đây, Luật thuế TNCN hiện hành quy định người nộp thuế là cá nhân người Việt Nam, người nước ngoài có thu nhập chịu thuế, bao gồm cả cá nhân tự kinh doanh và hộ kinh doanh hoặc người đại diện hộ kinh doanh (trước đây

những đối tượng này nộp thuế TNDN) Việc chuyển cá nhân, hộ kinh

doanh trước đây nộp thuế TNDN và mở rộng thêm các loại thu nhập từ đầu

tư vốn, chuyển nhượng vốn và từ tài sản vào diện nộp thuế TNCN sẽ đảm bảo công bằng trong điều tiết thu nhập của cá nhân và phù hợp với thông lệ quốc tế

Như vậy, diện nộp thuế theo Luật thuế TNCN hiện hành là rất rộng Tuy nhiên do đặc tính của thuế TNCN là điều tiết dựa trên khả năng thu nhập và yếu tố gia cảnh của người nộp thuế nên theo quy định hiện hành, không phải tất cả cá nhân có thu nhập đều phải nộp thuế Ngoài các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thuộc diện được miễn thuế, chỉ thực hiện điều tiết đối với những cá nhân, hộ gia đình có thu nhập đến mức phải kê khai, nộp thuế

Trang 28

Việc các cá nhân kinh doanh, làm công ăn lương được điều chỉnh bởi

2 sắc thuế khác nhau trước đây (gồm Thuế thu nhập doanh nghiệp và Thuế Thu nhập đối với người có thu nhập cao) đã thể hiện việc động viên chưa bình đẳng về thuế đối với thu nhập của các cá nhân Ví dụ, theo quy định trước đây với mức thu nhập là 10 triệu đồng thì các cá nhân kinh doanh phải nộp số thuế là 2,8 triệu đồng còn các cá nhân làm công ăn lương thì nộp số thuế 0,5 triệu đồng Như vậy sẽ không khuyến khích người dân tự

bỏ vốn kinh doanh, làm lợi cho cá nhân và xã hội

Trong điều kiện kinh tế xã hội ngày càng phát triển, cá nhân không chỉ làm công ăn lương mà còn tham gia các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, hành nghề độc lập như bác sĩ, nha sĩ mở phòng mạch, dược sĩ mở nhà thuốc, luật sư mở văn phòng, giáo viên mở các trung tâm đào tạo, cá nhân cung cấp các dịch vụ tư vấn, tài chính, thiết kế, khảo sát Do mỗi loại thu nhập có một chính sách điều tiết thuế khác nhau, chưa có một chính sách thuế áp dụng chung cho thu nhập từ kinh doanh, hành nghề độc lập, thu nhập từ làm công nên việc thu thuế của các cá nhân này còn chưa đầy

đủ Nhà nước chỉ thu được thuế đối với phần thu nhập từ tiền lương, tiền công và thu nhập của những cá nhân kinh doanh tuân thủ pháp luật, dẫn đến không công bằng giữa các cá nhân nộp thuế

Với yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế, việc ban hành Luật Thuế thu nhập cá nhân để đảm bảo thống nhất, bình đẳng giữa mọi cá nhân có thu nhập là yêu cầu khách quan Theo đó, việc

mở rộng cá nhân thuộc nộp thuế TNCN, đảm bảo mức điều tiết về thuế sẽ góp phần động viên các cá nhân đầu tư vốn, mở rộng sản xuất, kinh doanh để gia tăng của cải cho xã hội, khuyến khích làm giàu chính đáng [9, tr.145-147] Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 2 Luật thuế TNCN về đối tượng nộp thuế, trong đó khoản 3 khẳng định: “3 Cá nhân không cư trú là người không đáp ứng điều kiện quy định tại khoản 2 Điều này” thì có thể nhận thấy quy định về cá nhân không cư trú là chưa rõ ràng, vì cá nhân không cư trú ở Việt Nam một ngày khác với trường hợp ở Việt Nam 182 ngày Cần quy định rõ

Trang 29

hơn về cá nhân không cư trú để việc xác định số thuế TNCN của cá nhân không cư trú chính xác và thuận tiện

2.1.2 Các quy định về đối tượng chịu thuế thu nhập cá nhân và thực tiễn thi hành

Theo Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, thu nhập được phân chia thành thu nhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên Tuy nhiên, Pháp lệnh không định nghĩa rõ thế nào là thu nhập thường xuyên, thế nào là thu nhập không thường xuyên Do vậy, trong thực

tế, việc tính thuế gặp khá nhiều khó khăn Đồng thời, việc tính thuế đối với từng loại thu nhập không hợp lý, không phù hợp với thông lệ quốc tế Luật thuế TNCN đã khắc phục được hạn chế này bằng cách phân loại thu nhập chịu thuế theo nguồn phát sinh thu nhập

Trong thực tế, thu nhập của cá nhân được hình thành từ nhiều nguồn (tiền lương, tiền công, tiền thu lao…) và dưới nhiều hình thức khác nhau (tiền mặt, hiện vật ) Với mục tiêu được quán triệt rõ ràng khi xây dựng Luật thuế TNCN là điều tiết thuế công bằng, bình đẳng, khuyến khích người dân làm giàu hợp pháp, Luật thuế TNCN quy định thuế thu nhập cá nhân được áp dụng thống nhất để điều chỉnh các loại thu nhập của cá nhân thay vì mỗi loại thu nhập được điều chỉnh bởi một sắc thuế như trước đây

So với thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao trước đây, Luật thuế TNCN có nhiều điểm mới trong quy định về đối tượng chịu thuế, cụ thể là:

- Đưa thu nhập từ lợi tức cổ phần, lợi tức từ các hình thức góp vốn kinh doanh, thu nhập từ chuyển nhượng vốn (bao gồm cả mua bán chứng khoán) hiện đang tạm thời chưa thu vào diện chịu thuế Sở dĩ đưa thu nhập này vào thu nhập chịu thuế TNCN vì trong những năm qua, số lượng người đầu tư vào thị trường này chưa nhiều, hiện nay, số các doanh nghiệp cổ phần hoá tăng thêm, số người đầu tư vào lĩnh vưc này cũng không ngừng tăng lên do vậy đưa vào thu thuế để kiểm soát thu nhập của cá nhân đối với

Trang 30

các loại thu nhập này, qua đó động viên một phần vào Ngân sách Nhà nước

- Đưa thu nhập từ lãi nhận được từ các hoạt động cho các tổ chức, doanh nghiệp, hộ gia đình, nhóm cá nhân kinh doanh vay theo hợp đồng vay vào thu nhập chịu thuế

- Đưa thu thuế đối với thu nhập từ thừa kế và quà tặng Chính sách thuế TNCN trước đây chưa thu đối với loại thu nhập này, nhưng qua nghiên cứu kinh nghiệm của các nước thì việc đưa thu nhập này sẽ kiểm soát được việc chuyển dịch tài sản, đảm bảo công bằng xã hội, khuyến khích mọi người lao động tự tạo ra thu nhập, không trông chờ, ỷ lại người khác Để phù hợp với thực tiễn, Luật chỉ đưa vào thu nhập chịu thuế một số loại tài sản phải đăng ký quyền sở hữu như bất động sản, cổ phiếu, các tài sản phải đăng ký quyền sở hữu Riêng đối với thừa kế, quà tặng là bất động sản giữa vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội,

bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị em ruột với nhau thì được miễn thuế

Luật thuế TNCN quy định thu nhập chịu thuế gồm 10 loại thu nhập Mỗi loại thu nhập có phương pháp xác định thu nhập tính thuế và áp dụng biểu thuế phù hợp, cụ thể là:

- Thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh (1): thu nhập từ các hoạt

động sản xuất kinh doanh nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp, công nghiệp, xây dựng, thương mại và dịch vụ của các cá nhân tự kinh doanh và cá nhân là chủ hộ hoặc người đại diện hộ kinh doanh Theo quy định trước đây thì khoản thu nhập này thuộc diện điều chỉnh của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp Luật thuế TNCN đưa loại thu nhập này vào diện điều chỉnh của Luật thuế TNCN nhằm thực hiện điều tiết bình đẳng thu nhập của cá nhân không phân biệt thu nhập từ kinh doanh hay thu nhập

từ tiền lương, tiền công Thu nhập chịu thuế từ kinh doanh được xác định bằng doanh thu trừ các khoản chi phí hợp lý liên quan đến việc tạo ra thu

Trang 31

nhập chịu thuế từ kinh doanh trong kỳ tính thuế Việc xác định doanh thu, chi phí dựa trên cơ sở các định mức, tiêu chuẩn, chế độ và chứng từ, sổ sách kế toán theo qui định của pháp luật

- Thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công (2): là tổng số tiền

lương, tiền công và các khoản thu nhập khác có tính chất tiền lương, tiền công mà người lao động nhận được từ người sử dụng lao động bằng tiền và không bằng tiền Bên cạnh đó, thu nhập từ tiền lương tiền công còn được hiểu là bao gồm các khoản phụ cấp, trợ cấp, các khoản thù lao, thưởng và các khoản lợi ích khác mà người sử dụng lao động trả hoặc trả thay cho người lao động Tuy nhiên, theo quy định hiện hành, cá nhân, người lao động cũng được trừ đi một số khoản trước khi xác định thu nhập chịu thuế

từ tiền lương tiền công, bao gồm: (i) Các khoản phụ cấp, trợ cấp theo quy định của pháp luật về người có công, quốc phòng, an ninh, theo quy định của Bộ Luật lao động, Luật bảo hiểm xã hội ; (ii) Các khoản tiền thưởng, tiền thưởng kèm danh hiệu của Nhà nước hoặc được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công nhận theo quy định

Điểm lưu ý đối với các khoản thu nhập được trừ hoặc không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công là: Các khoản phụ cấp, trợ cấp được trừ khỏi thu nhập, về nguyên tắc, các khoản phụ cấp này phải được tính phù hợp với quy định của Bộ Lao động và các các cơ quan chuyên ngành khác Trường hợp các mức phụ cấp, trợ cấp chưa có quy định cụ thể thì lấy mức phụ cấp, trợ cấp quy định của đối với khu vực Nhà nước làm căn cứ để tính trừ Các trường hợp chi trả các khoản phụ cấp, trợ cấp cao hơn phải tính vào thu nhập chịu thuế Đối với các khoản lợi ích vật chất khác phải tính vào thu nhập chịu thuế: Các khoản chi mà xác định đuợc cá nhân trực tiếp hưởng, ví dụ như thẻ sân gôn, thẻ tennis ghi rõ tên

cá nhân hoặc giao cho một cá nhân sử dụng thì tính vào thu nhập của cá nhân đứng tên hoặc cá nhân sử dụng Trường hợp, không xác định được cụ thể cá nhân sử dụng thì không tính vào thu nhập của người lao động như: đơn vị thuê sân tập cho cán bộ công chức, ai có nhu cầu đến luyện tập

Trang 32

Tương tự như các trường hợp: Sử dụng xe đưa đón công nhân, thuê giáo viên về dạy khiêu vũ, yoga

Đối với thu nhập từ kinh doanh, thu nhập từ tiền lương, tiền công được trừ các khoản đóng góp bắt buộc theo quy định như BHXH, BHYT và giảm trừ gia cảnh trước khi tính thuế

- Thu nhập chịu thuế từ đầu tư vốn bao gồm (3): Tiền lãi cho vay

(không bao gồm lãi tiền gửi từ ngân hàng, tổ chức tín dụng); lợi tức cổ phần; thu nhập từ đầu tư vốn (bằng tiền và không bằng tiền) dưới các hình thức khác, trừ thu nhập từ lãi trái phiếu Chính phủ

- Thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng vốn (4) (bao gồm cả chuyển

nhượng phần vốn góp trong các tổ chức kinh tế và chuyển nhượng chứng khoán): được xác định trên cơ sở giá bán, giá mua và các khoản chi phí hợp

lý liên quan đến việc tạo ra thu nhập từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng chứng khoán

- Thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng bất động sản (5) bao gồm:

chuyển nhượng nhà ở, tài sản gắn với đất và quyền sử dụng đất, quyền thuê đất, thuê mặt nước, được xác định trên cơ sở giá chuyển nhượng bất động sản theo từng lần chuyển nhượng, giá mua bất động sản và các chi phí liên quan; trừ một số trường hợp chuyển nhượng bất động sản không thuộc diện chịu thuế theo quy định

- Thu nhập chịu thuế khác, là phần thu nhập vượt trên 10 triệu

đồng/lần phát sinh đối với từng loại thu nhập, bao gồm:

+ Thu nhập từ trúng thưởng (6): trúng thưởng xổ số, trúng thưởng

khuyến mại, cá cược, casino, trúng thưởng trong các cuộc thi, trò chơi

+ Thu nhập từ tiền bản quyền (7): là thu nhập từ chuyển nhượng,

chuyển giao quyền sử dụng các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ theo Luật Sở hữu trí tuệ, từ chuyển giao công nghệ theo Luật chuyển giao công

nghệ

Trang 33

+ Thu nhập từ nhượng quyền thương mại (8): là thu nhập từ các hợp

đồng nhượng quyền thương mại theo quy định của pháp luật về nhượng quyền thương mại Theo đó, bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự tiến hành các hoạt động mua bán hàng hoá, cung ứng dịch

vụ theo các điều kiện của bên nhượng quyền

+ Thu nhập từ nhận thừa kế (9): tài sản theo di chúc hoặc theo pháp

luật về tài sản thừa kế là bất động sản, phương tiện phải đăng ký quyền sở hữu, sử dụng, phần vốn góp trong các tổ chức kinh tế, chứng khoán

+ Thu nhập từ quà tặng (10): là phần thu nhập nhận được từ các tổ chức trong và ngoài nước đối với các loại tài sản là bất động sản, phương tiện phải đăng ký quyền sở hữu, sử dụng, phần vốn góp trong các tổ chức

kinh tế, chứng khoán [9, tr.147-150]

Việc phân loại thu nhập chịu thuế như trên đây sẽ là cơ sở để đảm bảo việc tính thuế phù hợp với thông lệ quốc tế Hiện nay, theo Luật thuế TNCN, việc áp dụng thuế suất được quy định theo hai hướng: đối với thu nhập từ kinh doanh và tiền lương, tiền công thì áp dụng biểu thuế suất luỹ tiến từng phần; đối với các khoản thu nhập còn lại thì áp dụng biểu thuế luỹ tiến toàn phần Mở rộng diện điều tiết một cách hợp lý trên cơ sở bổ sung một số khoản thu nhập chịu thuế

Liên quan đến thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng, kế thừa, quà tặng, có một quy định đáng chú ý là Luật thuế TNCN quy định miễn thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng, thừa kế, quà tặng giữa vợ với chồng; cha mẹ đẻ; cha mẹ nuôi; mẹ nuôi với con đẻ, con nuôi; cha chồng mẹ chồng với con dâu; cha vợ mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại với cháu nội, cháu ngoại; anh chị em ruột với nhau

Ngoài ra, một số khoản thu nhập khác cũng được coi là thu nhập miễn thuế, bao gồm: thu nhập từ lãi tiền gửi tại các tổ chức tín dụng (ngân hàng, các quỹ tín dụng và các tổ chức tín dụng khác) và lãi từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ được miễn thuế TNCN Việc miễn thuế này nhằm mục đích thu hút khoản tiền nhàn rỗi nhỏ lẻ trong dân cư vào các kênh tín dụng, để từ đó

Trang 34

sử dụng vốn của nền kinh tế vào hoạt động sản xuất kinh doanh, khuyến khích sử dụng có hiệu quả mọi đồn vốn của xã hội Mở rộng diện điều tiết như trên sẽ góp phần điều tiết công bằng thu nhập của các tầng lớp dân cư theo hướng mọi cá nhân có thu nhập (trừ trường hợp thu nhập rất thấp và một số trường hợp đặc biệt) đều phải có nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước Đồng thời, bằng quy định mới này, Luật thuế TNCN sẽ góp phần tăng thu cho ngân sách Nhà nước một cách hợp lí trên cơ sở không bỏ sót nguồn thu của nền kinh tế Sử dụng thuật ngữ “thu nhập được miễn thuế” thay cho

“thu nhập không chịu thuế” và bổ sung một số khoản thu nhập được miễn thuế Trên cơ sở kế thừa các khoản thu nhập không thuộc diện chịu thuế của Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, Luật thuế TNCN đã thay đổi, gọi đúng bản chất là thu nhập được miễn thuế và bổ sung một số khoản thu nhập được miễn thuế khác Cụ thể là bổ sung các khoản thu nhập sau vào diện miễn thuế: thu nhập từ tiền lương làm việc ban đêm, làm thêm giờ được trả cao hơn lương làm việc ban ngày, làm việc trong giờ; lương hưu; Tiền thưởng cho cá nhân về việc phát hiện, khai báo

cơ quan nhà nước có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật; học bổng nhận từ ngân sách Nhà nước và từ các tổ chức trong và ngoài nước theo quy định của Chính phủ; thu nhập từ viện trợ, từ thiện với điều kiện các quỹ từ thiện này phải được Nhà nước cho phép thành lập hoặc công nhận hoạt động vì mục đích nhân đạo không nhằm mục đích thu lợi nhuận; thu nhập từ lãi trái phiếu Chính phủ

Tuy nhiên còn có một số vấn đề về thu nhập được miễn thuế cần phải xem xét lại, bởi chúng không tương thích với pháp luật quốc tế và không phù hợp với thông lệ quốc tế, chẳng hạn như:

- Thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở trong trường hợp người chuyển nhượng chỉ có một nhà ở, đất ở duy nhất thì không phải nộp thuế Quy định như vậy là hợp lý bởi đây không thể được coi là thu nhập Bán nhà đang ở và mua nhà khác để ở chỉ là việc thay đổi chỗ ở Tuy nhiên trên thực tế rất khó có thể kiểm soát việc sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất của người bán trong trường hợp chuyển nhượng có phải

Trang 35

là duy nhất thật sự hay không Việc kiểm soát hiện nay chủ yếu dựa vào sự

tự giác của người dân và việc chuyển nhượng tài sản trong trường hợp này phần lớn mang đến cho người chuyển nhượng một khoản lợi nhuận so với vốn bỏ ra ban đầu Vì vậy, quy định miễn thuế TNCN trong trường hợp này

là dễ gây thất thoát nguồn thu ngân sách nhà nước

- Theo quy định tại khoản 1, Điều 4 Luật thuế TNCN thì thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản giữa vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi với con đẻ, con nuôi; ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại với cháu nội, cháu ngoại; anh chị em ruột với nhau là thu nhập được miễn thuế Quy định này trong một mức độ nào đó tạo ra sự không công bằng giữa các chủ thể trong mối quan hệ với nhà nước Mọi cá nhân có quyền như nhau thì phải có nghĩa vụ với nhà nước như nhau và như vậy quy định này làm cho Luật thuế thu nhập cá nhân không còn là công cụ đảm bảo công bằng trong điều tiết thu nhập một cách có hiệu quả

- Theo quy định tại khoản 4, Điều 4 Luật thuế TNCN thì thu nhập từ nhận thừa kế, quà tặng là bất động sản giữa vợ và chồng; cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi và con đẻ, con nuôi; ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại

và cháu nội, cháu ngoại; anh chị em ruột với nhau không thuộc diện thu nhập chịu thuế Quy định này là hệ quả tư duy từ quy định nói trên Trong pháp luật của hầu hết các nước, các khoản thu nhập nói trên đều phải chịu thuế, tuy nhiên chúng có thể quy định trong các luật khác nhau và có các cách thức tính thuế khác nhau Thông thường mức thuế được xác định tuỳ thuộc vào giá trị của tài sản được thừa kế Pháp luật của hầu hết các nước đều quy định rằng, người được thừa kế chỉ phải nộp thuế thu nhập (hoặc thuế thừa kế di sản) khi giá trị của tài sản thừa kế vượt một mức nào đó và tuỳ thuộc vào việc, đối tượng nộp thuế thuộc hàng thừa kế nào Ví dụ, theo pháp luật của Liên bang Đức (khi đồng ERO chưa lưu hành), vợ chồng, con cái, nếu được thừa kế tài sản trị giá từ 50.000 DM, phải nộp 3% thuế trên giá trị tài sản đó Nếu tài sản lớn hơn 100 triệu DM thì người thừa kế phải nộp 35% giá trị tài sản Nếu người thừa kế là cháu nội, cháu ngoại, cha

mẹ thì số thuế phải nộp tương ứng là 6% và 50% giá trị tài sản thừa kế,

Trang 36

những người thuộc hàng thừa kế khác có thể phải nộp một mức thuế lên đến 70% giá trị tài sản được thừa kế Pháp luật của Liên bang Nga có cách quy định tương tự pháp luật của Liên bang Đức Pháp luật của một số nước lại quy định người thừa kế phải nộp thuế với mức 25% giá trị tài sản thừa

kế không phụ thuộc vào hàng thừa kế (Cộng hoà Nam Phi) [ 16]

Các khoản thu nhập theo quy định tại khoản 1, khoản 4 nên được coi

là thu nhập chịu thuế TNCN vì như vậy sẽ tạo ra sự bình đẳng trong xã hội

Ai có thu nhập thì phải đóng thuế TNCN Mặt khác, quy định như vậy thì Luật thuế thu nhập cá nhân mới trở thành công cụ pháp lý đảm bảo công bằng trong điều tiết thu nhập Ngoài ra, thuế từ các loại thu nhập nói trên là một nguồn thu bổ sung cho ngân sách không phải là nhỏ, bởi vì thực tế cho thấy rằng, ít khi xảy ra trường hợp người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ ba

và thường thì những người là vợ và chồng; cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi và con đẻ, con nuôi; ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại và cháu nội, cháu ngoại; anh chị em ruột mới tặng cho tài sản cho nhau Và trong quá trình thực hiện, những quy định trên cũng dễ gây thất thoát nguồn thu ngân sách nhà nước Ví dụ: Ông A sở hữu một số tài sản bất động sản trong đó

có một căn hộ chung cư và có nhu cầu chuyển nhượng căn hộ đó Ông A là

bố đẻ của chị B, chị C là em chồng của chị B Chị C có nhu cầu mua lại căn

hộ chung cư của ông A Ông A làm thủ tục tặng cho vợ chồng chị B căn hộ

đó Vợ chồng chị B đã làm thủ tục chuyển quyền sở hữu theo đúng luật định Chị B và chồng chuyển nhượng căn hộ cho chị C Như vậy, nếu ông

A trực tiếp chuyển nhượng căn hộ cho chị C thì ông sẽ phải chịu thuế TNCN từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản Nhưng theo quy định trên của Luật thuế TNCN thì thu nhập phát sinh trong cả hai lần chuyển quyền sở hữu căn hộ chung cư trên đều không phải là thu nhập chịu thuế Như vậy, nhà nước đã thất thu một khoản thuế TNCN từ chuyển nhượng bất động sản và trên thực tế thì những trường hợp như vậy là rất nhiều

Trang 37

2.1.3 Các quy định về căn cứ tính thuế thu nhập cá nhân và thực tiễn thi hành

Theo Luật thuế TNCN, căn cứ tính thuế được quy định khác nhau giữa chủ thể là cá nhân cư trú với chủ thể là cá nhân không cư trú

2.1.3.1 Căn cứ tính thuế đối với chủ thể là cá nhân cư trú

Theo nguyên tắc chung, căn cứ tính thuế đối với cá nhân cư trú bao gồm

“thu nhập tính thuế” và “thuế suất” Tuy nhiên, thu nhập tính thuế và thuế suất

áp dụng đối với cá nhân cư trú lại được quy định tương đối khác nhau, tùy thuộc vào loại thu nhập mà cá nhân người nộp thuế được nhận Cụ thể là:

a) Đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công và thu nhập từ kinh doanh

Căn cứ tính thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công và thu nhập từ kinh doanh của cá nhân cư trú bao gồm thu nhập tính thuế và thuế suất

Thu nhập tính thuế từ tiền lương, tiền công và từ kinh doanh được xác

- Khoản giảm trừ gia cảnh (2)

- Khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo (3)

Trong đó:

(1) Các khoản đóng góp bảo hiểm bắt buộc bao gồm: Bảo hiểm xã

hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với một số ngành, nghề phải tham gia bảo hiểm bắt buộc và các khoản bảo hiểm bắt buộc khác theo quy định của pháp luật

(2) Các khoản giảm trừ gia cảnh theo quy định đối với bản thân người

nộp thuế và những người phụ thuộc

(3) Các khoản đóng góp vào các quỹ từ thiện, quỹ nhân đạo, quỹ

khuyến học theo quy định của Chính Phủ

Cần lưu ý rằng, đối với cá nhân vừa có thu nhập chịu thuế từ tiền

Trang 38

lương, tiền công vừa có thu nhập chịu thuế từ kinh doanh thì thu nhập chịu thuế sẽ là tổng thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công cộng với thu nhập chịu thuế từ kinh doanh

Xác định thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công

Thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công được xác định bằng tổng tiền lương, tiền công, tiền thù lao và các khoản thu nhập khác có tính chất

tiền lương, tiền công mà người nộp thuế nhận được trong kỳ tính thuế:

thưởng,

Thời điểm xác định thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công là thời

điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập cho người nộp thuế

Xác định thu nhập chịu thuế từ kinh doanh

Thu nhập chịu thuế từ kinh doanh của cá nhân cư trú được xác định bằng doanh thu trừ các khoản chi phí hợp lý theo quy định và liên quan trực tiếp đến việc tạo ra thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế

Quy định về giảm trừ khi tính thuế thu nhập cá nhân của các nước trên thế giới đã được áp dụng từ lâu Tuy có khác nhau về mức, nhưng cơ bản

về tiêu thức để được giảm trừ không khác nhau nhiều Các nước đều quy định mức giảm trừ đối với bản thân người nộp thuế, cho vợ hoặc chồng không có thu nhập; cho con, bố mẹ, và người tàn tật phải nuôi dưỡng Ngoài ra một số nước còn quy định giảm trừ đối với thu nhập kiếm sống, đóng góp từ thiện, các khoản đóng góp bắt buộc do người lao động hoặc cá

Trang 39

nhân tự kinh doanh đóng góp cho Chính phủ hoặc các quỹ lương hưu được

cấp phép và phí bảo hiểm nhân thọ Các khoản giảm trừ chỉ áp dụng đối với cá nhân cư trú

Qua nghiên cứu cho thấy, tồn tại nhiều quan điểm thu thuế thu nhập cá

nhân: Một là, cá nhân có thu nhập đều có nghĩa vụ nộp thuế; Hai là, cá

nhân phải có thu nhập vượt trên ngưỡng nhất định (giảm trừ gia cảnh) thì mới nộp thuế Việc áp dụng quan điểm thứ nhất là chưa phù hợp với điều kiện nước ta hiện nay Do đó, Luật thuế TNCN quy định, cá nhân được giảm trừ gia cảnh trước khi tính thuế thu nhập cá nhân

Giảm trừ gia cảnh là khoản tiền được trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú Luật thuế TNCN quy định mức giảm trừ gia cảnh gồm

xác định giảm trừ gia cảnh đối với người phụ thuộc Vì vậy, pháp luật đã

quy định nguyên tắc xác định mức giảm trừ gia cảnh đối với người phụ thuộc như sau:

Một là, người phụ thuộc là người mà cá nhân nộp thuế có trách nhiệm

nuôi dưỡng, bao gồm:

- Con chưa thành niên (dưới 18 tuổi tính đủ theo tháng); con bị tàn tật, không có khả năng lao động

- Các cá nhân không có thu nhập hoặc có thu nhập từ tất cả các nguồn tính bình quân tháng trong năm không vượt quá mức 500.000 đồng, thuộc một trong các trường hợp: a) Là con thành niên đang học đại học, cao đẳng,

Trang 40

trung học chuyên nghiệp hoặc học nghề; b) Là vợ hoặc chồng, cha, mẹ (cha

đẻ , mẹ đẻ, cha vợ, mẹ vợ, cha chồng, mẹ chồng) ngoài độ tuổi lao động hoặc trong độ tuổi lao động nhưng bị tàn tật, không có khả năng lao động Các cá nhân khác ngoài độ tuổi lao động hoặc trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật nhưng bị tàn tật, không có khả năng lao động, không nơi nương tựa mà người nộp thuế đang phải trực tiếp nuôi dưỡng, bao gồm: anh, chị, em ruột, ông bà nội, ngoại, cô, dì, chú, bác ruột, cháu ruột và các cá nhân khác mà người nộp thuế phải trực tiếp nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật

Hai là, người nộp thuế phải xuất trình đủ các chứng cứ pháp lý để

chứng minh người phụ thuộc đã đăng ký thoả mãn một trong các quy định trên Chứng cứ pháp lý chứng minh người phụ thuộc là bất cứ giấy tờ pháp

lý nào chứng minh được mối quan hệ giữa người nộp thuế và người phụ thuộc thoả mãn quy định được giảm trừ cho từng trường hợp, như: Giấy khai sinh, Giấy đăng ký kết hôn, Sổ hộ khẩu, xác nhận của UBND cấp xã,

mở rộng hình thức thanh toán không dùng tiền mặt Đồng thời cơ quan thuế phải lên kế hoạch, chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho công tác quản lý thu

và tiếp tục triển khai mở rộng cấp mã số thuế cho các đối tượng nộp thuế, đặc biệt là các cá nhân hành nghề độc lập

Ngày đăng: 01/04/2018, 11:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm